Kinh Dược Sư
Tên/mã nguyên ngữ: Bhaiṣajyaguru Sūtra
ĐÂY LÀ NGHI THỨC TRỌN BỘ - KHÔNG PHẢI BẢN VIẾT TẮT
Danh sách “Đảnh lễ · Tán dương chi · Chú Đại Bi · Kệ khai kinh...” ở đầu Trang 1 là MỤC LỤC của bản gốc. Hãy cuộn xuống các trang tiếp theo để đọc toàn bộ từng phần.
Bản 13 trang này đã được kiểm tra có nội dung đầy đủ của: Đảnh lễ, Tán dương chi, Chú Đại Bi, Kệ khai kinh, Kinh Dược Sư, Chú Dược Sư Quán Đảnh, Kinh Bát Nhã Ba La Mật, Niệm Phật, Sám Dược Sư, Hồi hướng, Phục nguyện và Tam quy.
Người không thuộc nghi thức có thể mở bản đọc hoặc PDF và tụng theo từ đầu tới cuối.
BẢN VĂN TRONG THƯ VIỆN + PDF
Phần Kinh Dược Sư này được tách nguyên 13 trang từ PDF Nghi Thức Tụng Niệm Hằng Ngày đang có trong Thư viện Diệu An (trang gốc 100-112). PDF nguồn có lớp chữ thật.
Bấm NGHE để đọc từ trang đang nhìn thấy.
Trang 1 / 13 (trang gốc 100)
• Đảnh Lễ
• Tán Dương Chi
• Chú Đại Bi
• Kệ Khai Kinh
• Kinh Dược Sư
• Chú Dược Sư Quán Đảnh
• Kinh Bát Nhã Ba La Mật
• Niệm Phật
• Sám Dược Sư
• Hồi Hướng
• Phục Nguyện
• Tam Quy
DÙNG ĐỂ:
Cầu nguyện cho những người đau liệt giường liệt chiếu, hay những bệnh nan y, thuốc
men không thể chữa trị, nếu gia đình người bệnh thành tâm tụng kinh nầy, và cầu nguyện
Đức Dược Sư, bệnh nhân sẽ được khỏi. Hơn nữa, người hay chiêm bao thấy những cảnh
tượng rùng rợn, hay bị bùa chú ếm đối vân vân, người đó thành tâm tụng Kinh Dược Sư,
Ngài sẽ phò hộ cho. Vì nhiều điều lợi lạc vừa kể trên, nên kinh nầy thường được tụng vào
mỗi đầu năm.
NGHI THỨC
TỤNG KINH DƯỢC SƯ
(Thắp đèn đốt hương, đứng ngay ngắn, chắp tay ngang ngực, chủ lễ mật niệm)
CHÚ TỊNH PHÁP GIỚI
Án lam xoa ha. (3 lần)
CHÚ TỊNH TAM NGHIỆP
Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ, bà phạ truật độ hám. (3 lần)
(Quì ngay thẳng, cầm 3 cây hương dâng ngang trán, chủ lễ niệm bài cúng hương).
CÚNG HƯƠNG
Giới Hương, Định Hương, và Huệ Hương
Giải Thoát, Giải Thoát, Tri Kiến Hương
Sáng ngời, chiếu khắp mười phương
Hiện tiền Tam Bảo, Năm Hương cúng dường.
Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần, 1 tiếng chuông)
CẦU NGUYỆN
Hôm nay, đệ tử chúng con, phụng trì di giáo Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, trì tụng
Dược Sư Kinh chú, xưng tán Hồng Danh, tu hành công đức, ngưỡng nguyện mười
phương Tam Bảo, từ bi gia hộ cho (tên họ…), đương đời phiền não dứt sạch, nghiệp chướng
tiêu trừ, thường được an lành, xa lìa khổ ách, cùng hết thảy chúng sanh, một thời đồng
chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. (1 tiếng chuông, xá 1 xá)
KHEN NGỢI PHẬT
Đấng Pháp Vương vô thượng
Ba cõi chẳng ai bằng
Thầy dạy khắp trời, người
Cha lành chung bốn loại
Quy y tròn một niệm
Dứt sạch nghiệp ba kỳ
Trang 2 / 13 (trang gốc 101)
Xưng dương cùng tán thán
Ức kiếp không cùng tận (1 tiếng chuông xá 1 xá)
QUÁN TƯỞNG PHẬT
Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn
Lưới đế châu ví đạo tràng
Mười phương Phật hiện hào quang sáng ngời
Trước bảo tọa thân con ảnh hiện
Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.
(1 tiếng chuông, đại chúng đồng tụng)
ĐẢNH LỄ
- Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá, hiện, vị lai thập
phương chư Phật, Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo. (1 tiếng chuông,
lạy 1 lạy)
- Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương
Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ
Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. (1 tiếng
chuông, lạy 1 lạy)
- Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà
Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng
Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)
TÁN DƯƠNG CHI
Cành dương nước tịnh nhiệm mầu
Rưới tắt muôn vàn cảnh khổ đau
Chư Thiên mát mẻ, tâm thanh tịnh
Nhân thế vui tươi, cảnh an nhàn
Cam lồ rưới khắp trần gian
Lửa sân dứt sạch, sen vàng nở hoa.
Nam Mô Thanh Lương Địa Bồ Tát. (3 lần, 1 tiếng chuông)
CHÚ ĐẠI BI
Nam mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát. (3 lần, 1 tiếng chuông)
Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da.
Nam mô a rị da, bà lô kiết đế thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma
ha ca lô ni ca da. Án, tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa. Nam mô tất kiết lật đỏa y
mông a rị da, bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì, hê rị ma ha bàn
đa sa mế, tát bà a tha đậu thâu bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà tát đa, na ma bà
dà, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát
đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê rị đà dựng, cu lô cu lô kiết mông, độ lô độ lô
phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ
mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra sá lợi, phạt sa phạt
sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô,
bồ đề dạ bồ đề dạ, bồ đà dạ bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắc ni na, ba dạ ma
na, ta bà ha. Tất đà dạ, ta bà ha. Ma ha tất đà dạ, ta bà ha. Tất đà du nghệ, thất bàn ra dạ,
ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra, ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha.
Ta bà ma ha a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma kiết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra
dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng kiết ra dạ, ta bà ha. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam
Trang 3 / 13 (trang gốc 102)
mô a rị da, bà lô kiết đế, thước bàn ra dạ, ta bà ha. Án tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ, ta
bà ha. (1 tiếng chuông)
KỆ KHAI KINH
Thăm thẳm cao siêu Pháp nhiệm mầu
Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu,
Con nay nghe thấy chuyên trì niệm,
Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (3 lần, 1 tiếng chuông)
PHẬT NÓI
KINH DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG NHƯ LAI BỔN NGUYỆN CÔNG
ĐỨC
Ta nghe như vầy: một thuở nọ, Đức Bạt Già Phạm đi châu du giáo hóa ở các nước, đến
thành Quảng Nghiêm, ở nghỉ dưới cây Nhạc Âm, cùng với tám ngàn vị đại Bí Sô, ba vạn
sáu ngàn vị đại Bồ Tát, các hàng Quốc Vương, Đại Thần, Bà La Môn, các hàng Cư Sĩ,
Thiên Long Bát Bộ, Trời, Người, cả thảy đồng vây quanh Phật, cung kính thỉnh Ngài
thuyết pháp. (1 tiếng chuông)
Lúc bấy giờ, ông Mạn Thù Thất Lợi pháp vương tử nhờ oai thần của Phật, từ chỗ ngồi
đứng dậy, vén áo bên hữu và gối bên mặt quì sát đất, chắp tay hướng về Phật và bạch
rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, cúi mong Ngài nói rõ những danh hiệu, những bổn nguyện
rộng lớn, cùng những công đức thù thắng của chư Phật, để cho những người đang nghe
Pháp, nghiệp chướng tiêu trừ,và để cho chúng hữu tình ở đời tượng pháp được nhiều lợi
lạc về sau.”
Đức Thế Tôn khen Ông Mạn Thù Thất Lợi: “Hay thay, Mạn Thù Thất Lợi! Ngươi lấy
lòng đại bi yêu cầu ta nói danh hiệu và bổn nguyện công đức của chư Phật, vì muốn cho
chúng hữu tình khỏi bị nghiệp chướng ràng buộc, lợi ích an vui trong đời tượng pháp.
Nay ngươi nên lóng nghe và suy nghĩ cho kỹ, ta sẽ vì Ông mà nói.”
Nầy Ông Mạn Thù Thất Lợi: “Ở phương Đông, cách đây hơn mười căn dà sa, có một thế
giới tên là Tịnh Lưu Ly. Đức giáo chủ cõi ấy hiệu là Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai,
Ứng Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Viên Mãn, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ,
Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Bạt Già Phạm.
Nầy Mạn Thù Thất Lợi: “Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, khi còn tu hạnh Bồ Tát
có phát mười hai nguyện lớn, khiến cho chúng hữu tình cầu chi được nấy.” (1 tiếng chuông)
Nguyện thứ nhất: “Ta nguyện đời sau, khi chứng được quả vị Chánh Đẳng Chánh Giác,
thân ta có hào quang sáng chói, chiếu khắp vô số thế giới, khiến cho chúng hữu tình đều
có đủ ba mươi hai tướng tốt và tám mươi tướng phụ như thân của Ta vậy.”
Nguyện thứ hai: “Ta nguyện đời sau, khi đặng Đạo Bồ Đề, thân ta như ngọc lưu ly, trong
ngoài sáng suốt, tinh sạch hoàn toàn, không có chút nhơ bợn, ánh quang minh chói lọi
khắp nơi, công đức cao vòi vọi và an trú giữa từng lưới dệt bằng tia sáng, tỏ hơn vừng
nhật nguyệt. Chúng sanh trong cõi U minh đều nhờ ánh sáng ấy, tâm trí được mở mang,
muốn đi đến chỗ nào để làm nên sự nghiệp, sẽ được như ý.”
Nguyện thứ ba: “Ta nguyện đời sau, khi đặng Đạo Bồ Đề, dùng trí huệ, và phương tiện
vô lượng vô biên, độ cho chúng hữu tình, khiến mọi người có đủ các vật dụng, không ai
phải chịu sự thiếu thốn.”
Nguyện thứ tư: “Ta nguyện đời sau, khi đặng Đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình tu theo
tà đạo, ta khiến họ quay về an trụ trong Đạo Bồ Đề. Hoặc có những người tu theo hạnh
Thinh Văn, Độc Giác, dùng giáo lý Đại Thừa, ta giảng dạy cho họ.”
Trang 4 / 13 (trang gốc 103)
Nguyện thứ năm: “Ta nguyện đời sau, khi đặng Đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình, tu
hạnh thanh tịnh, theo giáo pháp của Ta, Ta sẽ giúp họ giữ được giới pháp hoàn toàn đầy
đủ. Nếu có người bị tội hủy phạm giới pháp, nghe được danh hiệu Ta, người đó sẽ được
thanh tịnh, khỏi sa vào đường ác.”
Nguyện thứ sáu: “Ta nguyện đời sau, khi chứng Đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nào
thân hình hèn hạ, các căn không đủ, xấu xa, khờ khạo, tai điếc, mắt đui, nói năng ngọng
liệu, tay chân tật nguyền, lát hủi, điên cuồng, chịu những bịnh khổ ấy, nếu nghe danh
hiệu Ta, liền được thân hình đoan chánh, tâm tánh khôn ngoan, các căn đầy đủ, không
còn những bịnh khổ ấy nữa.”
Nguyện thứ bảy: “Ta nguyện đời sau, khi chứng Đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nào
bị những chứng bệnh hiểm nghèo không ai cứu chữa, không ai để nương nhờ, không gặp
thầy, không gặp thuốc, không bà con, không nhà cửa, chịu nhiều nỗi nghèo hèn khốn
khổ, nếu nghe danh hiệu Ta một lần, tất cả những bịnh hoạn khổ não đều tiêu trừ, thân
tâm an lạc, gia quyến sum vầy, của cải sung túc, cho đến chứng được đạo quả vô thượng
Bồ Đề.”
Nguyện thứ tám: “Ta nguyện đời sau, khi chứng Đạo Bồ Đề, nếu có phụ nữ nào bị trăm
điều hèn hạ khổ sở, buồn rầu, bực tức, sanh tâm nhàm chán, muốn bỏ thân ấy, nếu nghe
danh hiệu Ta, được chuyển thân gái thành thân trai, có đủ hình tướng trượng phu, cho đến
chứng được đạo quả vô thượng Bồ Đề.”
Nguyện thứ chín: “Ta nguyện đời sau, khi chứng Đạo Bồ Đề, dẫn dắt chúng hữu tình ra
khỏi vòng lưới ma nghiệp, được giải thoát tất cả sự ràng buộc của ngoại đạo. Nếu có
những kẻ sa vào rừng ác kiến, Ta dẫn họ trở về với chánh kiến, và dần dần dạy họ tu tập
theo các hạnh Bồ Tát đặng mau chứng Đạo Bồ Đề.”
Nguyện thứ mười: “Ta nguyện đời sau, khi chứng Đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nào
bị nhà vua xiềng xích, đánh đập, hoặc bị lao tù, hoặc bị chém giết, hoặc bị nhiều tai nạn
nhục nhã, thân tâm chịu những nỗi khổ, buồn rầu, bứt rứt, nếu nghe danh hiệu Ta, nhờ
sức oai thần phước đức của Ta, đều được giải thoát tất cả những nỗi ưu khổ ấy.”
Nguyện thứ mười một: “Ta nguyện đời sau, khi chứng Đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình
nào bị sự đói khát hoành hành, vì tìm miếng ăn phải tạo các nghiệp dữ, nếu nghe danh
hiệu Ta, chuyên niệm thọ trì, trước hết Ta dùng các món ăn ngon ban bố cho họ được no
đủ, và sau ta đem giáo pháp nhiệm mầu kiến lập cho họ cảnh giới an lạc hoàn toàn.”
Nguyện thứ mười hai: “Ta nguyện đời sau, khi chứng Đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình
nào nghèo đến nỗi không có áo che thân, bị muỗi mòng cắn đốt, nóng lạnh giãi dầu, ngày
đêm khổ bức, nếu nghe và trì niệm danh hiệu Ta, Ta sẽ giúp cho người đó được như ý
muốn: các thứ y phục tốt đẹp, bảo vật trang nghiêm, tràng hoa, phấn sáp thơm ngát, trống
nhạc ca múa, muốn thưởng thức thứ nào cũng được thỏa mãn cả.” (1 tiếng chuông)
Nầy Mạn Thù Thất Lợi, đó là mười hai lời nguyện nhiệm mầu của Đức Dược Sư Lưu Ly
Quang Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác phát ra trong khi tu hạnh Bồ Tát.
Lại nữa, Mạn Thù Thất Lợi, Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai khi còn tu hạnh Bồ
Tát phát những lời nguyện rộng lớn và những công đức trang nghiêm ở cõi Ngài, dầu Ta
nói mãn một kiếp cũng không thể hết được. Nhưng ta có thể nói ngay rằng – cõi Phật kia
một bề thanh tịnh, không có đàn bà, cũng không có đường dữ, và đến tiếng khổ cũng
không.
Ở cõi ấy đất toàn bằng chất lưu ly, đường đi có dây bằng vàng giăng làm ranh giới, thành
quách cung điện, mái hiên cửa sổ cho đến các lớp lưới bao phủ cũng toàn bằng đồ thất
bảo làm ra, chẳng khác gì những công đức trang nghiêm ở cõi Tây Phương Cực Lạc vậy.
Trang 5 / 13 (trang gốc 104)
Cõi Phật ấy, có hai vị đại Bồ Tát là Nhật Quang Biến Chiếu và Nguyệt Quang Biến
Chiếu, là hai bực thượng thủ trong vô lượng, vô số Bồ Tát, và lại là nhũung bậc sắp bổ xứ
làm Phật. Hai vị nầy đều giữ kho báu chánh pháp của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như
Lai. Mạn Thù Thất Lợi, vì thế những kẻ thiện nam tín nữ nào có lòng tin vững chắc thì
nên nguyện sanh về thế giới của Ngài.
Lúc ấy, Đức Thế Tôn lại bảo Đồng Tử Mạn Thù Thất Lợi rằng: “Có những chúng sanh
không biết điều lành dữ, cứ ôm lòng bỏn xẻn, không biết bố thí và cũng không biết quả
báo của sự bố thí là gì, ngu si vô trí, thiếu hẳn đức tin, lại ham chứa chất của cải cho
nhiều, đêm ngày bo bo gìn giữ, thấy ai đến xin, lòng đã không muốn, nhưng nếu cực
chẳng đã phải đưa của ra thì đau đớn mến tiếc, dường như lắt thịt cho người vậy. Lại có
chúng hữu tình tham lam, chỉ lo tích trữ của cải cho nhiều mà tự mình không dám ăn tiêu,
còn nói chi đến sự đem của ấy thí cho cha mẹ, vợ con, tôi tớ và những kẻ nghèo hèn đến
xin. Những kẻ tham lam ấy, khi chết bị đọa vào đường ngạ quỉ hay bàng sinh. Mặc dù ở
trong ác thú, nhưng nhờ đời trước, sống trong cõi nhơn gian đã từng nghe qua danh hiệu
của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, nay lại còn nhớ niệm danh hiệu của Ngài, liền
từ cõi ấy thoát sanh trở lại làm người. Khi đã được làm người lại nhớ đến kiếp sống trong
đường ngạ quỉ súc sanh, biết sợ sự đau khổ, nên người đó không ưa đắm dục lạc, muốn tự
mình làm việc bố thí, không tham tiếc món gì, có thể đem cả đầu, mắt, tay, chơn hay máu
thịt của thân mình, bố thí cho những kẻ đến xin.
Lại nữa, Mạn Thù Thất Lợi, trong chúng hữu tình có người thọ giới của Phật để tu học
mà lại phá giới hoặc có kẻ không phá giới mà lại phá phép tắc, hoặc có kẻ tuy chẳng phá
giới và phép tắc mà lại hủy hoại chánh kiến, hoặc có kẻ tuy không hủy hoại chánh kiến
mà lại bỏ sự đa văn, nên không hiểu được nghĩa lý sâu xa trong kinh Phật nói, hoặc có kẻ
tuy đa văn mà có thói tăng thượng mạn, do thói tăng thượng mạn ấy che lấp tâm tánh, cố
chấp cho mình là phải, người khác là quấy, chê bai chánh pháp, tự mình đã theo tà kiến,
khiến cho người khác cũng sa vào hố nguy hiểm. Những chúng hữu tình ấy, bị trôi lăng
trong các đường địa ngục, ngạ quỉ, bàng sanh không khi nào cùng. Nếu nghe được danh
hiệu Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, họ liền bỏ những hạnh dữ, tu theo các pháp
lành, khỏi bị đọa vào ác thú nữa. Giả sử có người không thể bỏ những hạnh dữ và không
tu theo những pháp lành mà phải bị đọa vào ác thú thì cũng nhờ oai lực và bổn nguyện
của Đức Dược Sư, liền từ nơi ác thú đó được sanh vào cõi người, tinh tấn tu hành chân
chánh, khéo điều hòa tâm ý, xuất gia tu học giáo pháp của Như Lai, hiểu rõ nghĩa lý sâu
sa, lìa được thói tăng thượng mạn, không chê bai chánh pháp, không bè bạn với ma, dần
dần tu theo hạnh Bồ Tát, sẽ chứng được đạo quả Bồ Đề.
Lại nữa, Mạn Thù Thất Lợi, nếu chúng hữu tình có tánh tham lam tật đố, hay khen mình
chê người, sẽ bị đọa vào ba đường dữ, địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, chịu nhiều sự đau đớn
khổ sở, trải qua không biết mấy nghìn năm mới hết. Khi đã hết sự đau khổ đó, liền sanh
lại cõi người phải làm thân trâu, ngựa, lừa, lạc đà, thường bị người hành hạ, đánh đập và
bị đói khát dày vò, đường xa chở nặng, cực nhọc muôn phần; may đặng làm thân người,
lại bị sanh vào hạng hạ tiện, làm tôi tớ cho kẻ khác, mãi bị sai sử, không khi nào được
chút tự do. Nếu những người ấy đời trước đã từng nghe danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu
Ly Quang Như Lai, do nhân lành ấy, ngày nay nhớ lại, chí tâm quy y Ngài, nhờ thần lực
của Ngài gia hộ, được thoát khỏi mọi khổ não, các căn thông lợi, trí huệ sáng suốt, lại
thêm đa văn, hằng cầu thắng pháp, thường gặp bạn lành, đời đời dứt hẳn lưới ma, đập nát
vỏ vô minh, tát cạn sông phiền não, được thoát khỏi sanh, lão, bịnh, tử, và những nỗi đau
khổ lo buồn.
Trang 6 / 13 (trang gốc 105)
Lại, nữa, Mạn Thù Thất Lợi, nếu chúng hữu tình có tánh ưa sự ngang trái chia lìa, tranh
đấu, kiện cáo lẫn nhau, làm não loạn cho mình và người, đem thân, khẩu, ý tạo thêm ác
nghiệp, xoay qua trở lại, thường làm những việc không nhiêu ích để mưu hại lẫn nhau,
hoặc cáo triệu thần núi, thần cây, thần sông, vân vân, để hại người, hoặc giết chúng sanh
lấy huyết thịt cúng tế quỉ Dược Xoa và quỉ La Sát để cậy quỉ hại người, hoặc biên tên họ
hay làm hình tượng của người cừu oán, dùng phép chú thuật tà ác trù ẻo cho chết, hoặc
theo lối ếm đối hay dùng những đồ độc, chú pháp hại người, người nào bị những tai nạn
ấy, nếu nghe danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, các thứ tà ác kia
không thể hại được. Nếu những kẻ ác tâm đó khởi lòng từ bi làm việc lợi ích an vui cho
kẻ khác, không còn ý tổn não và hiềm giận, người đó sẽ được an vui.
Lại nữa, Mạn Thù Thất Lợi, nếu trong hàng tứ chúng: Bí Sô, Bí Sô Ni, Ô Ba Sách Ca, Ô
Ba Tư Ca và những thiện nam, tín nữ đều thọ trì tám giới cấm, hoặc trong một năm, hoặc
mỗi năm ba tháng, vâng giữ giới pháp làm nơi y chỉ tu học, đem căn lành nầy nguyện
sanh về cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà, để nghe chánh pháp, nhưng nếu chưa quyết
định, hễ nghe danh hiệu Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, khi mạng chung, sẽ có
tám vị đại Bồ Tát như Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát, Đắc Đại Thế Bồ
Tát, Vô Tận Ý Bồ Tát, Bảo Đàn Hoa Bồ Tát, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát,
Di Lặc Bồ Tát từ trên không trung đi đến đưa đường chỉ lối, người đó liền được sanh
trong những hoa báu đủ màu. Hoặc nếu có kẻ, nhờ nguyện lực của Đức Dược Sư, được
sanh lên cõi trời, và lại nhờ căn lành sẵn có, không còn sanh lại những đường ác nữa. Khi
tuổi thọ ở cõi trời đã mãn, người đó lại sanh trong chốn nhân gian, hoặc làm bậc Luân
Vương, thống nhiếp cả bốn châu thiên hạ, oai đức tự tại, giáo hóa cho vô lượng trăm
ngàn chúng hữu tình theo đường thập thiện, hoặc sanh vào dòng Sát Đế Ly, Bà La Môn
hay cư sĩ đại cô, của tiền dư dật, kho đụn tràn đầy, tướng mạo đoan trang, quyến thuộc
sum vầy, lại được thông minh trí huệ, dõng mãnh oai hùng như người đại lực sĩ. Còn nếu
có người phụ nữ nào nghe danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, hết lòng
thọ trì danh hiệu ấy, đời sau sẽ không làm thân gái nữa.
Này Mạn Thù Thất Lợi! Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai khi đã chứng đạo Bồ Đề,
do sức Bổn nguyện mà Ngài quan sát biết chúng hữu tình gặp phải các thứ bịnh khổ như
da vàng, gầy ốm, cảm nhiệt, thương hàn, hoặc trúng phải những thứ ếm đối, đồ độc, hoặc
bị hoạnh tử, hoặc bị chết non. Muốn những chứng bệnh ấy được tiêu trừ và lòng mong
cầu của chúng hữu tình được mãn nguyện, Ngài liền nhập định để: “diệt trừ tất cả khổ
não của chúng sanh.” Khi Ngài nhập định, từ trong nhục kế phóng ra luồng ánh sáng lớn,
trong luồng ánh sáng ấy nói đại đà la ni: (1 tiếng chuông)
Nam Mô bạt già phạt đế, bệ sát xã lu lô tích lưu ly, bát lặt bà hát ra xà dã, đát tha yết đa
da, a ra hát đế, tam miệu tam bột đà da, đát điệt tha. Án, bệ sát thệ, bệ sát thệ, bệ sát xã,
tam một yết đế xoa hoa.
Lúc đó, luồng ánh sáng diễn chú nầy rồi, cả đại địa rúng động, phóng ra ánh đại quang
minh làm cho tất cả chúng sanh, dứt hết bịnh khổ, hưởng được an vui.
Nầy Mạn Thù Thất Lợi! Nếu thấy người nào đang mắc bịnh, khuyên họ tắm gội sạch sẽ,
và vì họ nhứt tâm tụng chú nầy một trăm lẻ tám biến, chú nguyện trong thức ăn, trong
thuốc uống, hay trong nước không vi trùng, cho họ uống, những bệnh khổ ấy đều dứt hết.
Nếu có người mong cầu việc gì, chỉ nhất tâm tụng chú nầy, đều được như ý muốn, đã
không bệnh lại được sống lâu, sau khi mạng chung, người đó được sanh về thế giới Tịnh
Lưu Ly, không còn thối chuyển, rồi dần dần chứng quả Bồ Đề.
Trang 7 / 13 (trang gốc 106)
Vậy nên, Mạn Thù Thất Lợi! Chúng hữu tình hết lòng ân cần tôn trọng, cung kính cúng
dường Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, và thường trì tụng chú nầy đừng lãng quên.
Lại nữa, nếu có thiện nam tín nữ nào được thấy hình tượng Đức Dược Sư Lưu Ly Quang
Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, mỗi sớm mai, súc miệng, đánh răng, tắm gội sạch sẽ,
xong lại thắp hương, rải dầu thơm, các món kỹ nhạc để cúng dường hình tượng; với kinh
nầy, nên dạy người khác hay tự mình biên chép ra, một lòng thọ trì để thấu rõ nghĩa lý;
với vị pháp sư giảng nói kinh pháp, nên cúng dường tất cả những vật dụng cần thiết, hễ
hết lòng như vậy, chư Phật sẽ phò hộ người đó được mãn nguyện mọi sự mong cầu.
Lúc bấy giờ, Mạn Thù Thất Lợi đồng tử bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, qua thời kỳ
tượng pháp, tôi sẽ dùng đủ chước phương tiện, khiến cho những thiện nam tín nữ có lòng
tin trong sạch, được nghe danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, cả đến
trong giấc ngủ của họ, tôi cũng dùng danh hiệu của Đức Phật nầy, thức tỉnh nơi tai cho họ
rõ biết.”
“Bạch Đức Thế Tôn, nếu ai thọ trì đọc tụng kinh này, hoặc đem giảng nói, bày tỏ cho
người khác, hoặc tự mình hay dạy người biên chép kinh nầy, hết lòng cung kính tôn
trọng, dùng bông thơm, dầu thơm, các thứ hương đốt, tràng hoa, anh lạc, phướng lọng,
cùng âm nhạc hát múa để cúng dường, hoặc dùng hàng ngũ sắc làm đãy đựng kinh này,
quét dọn một nơi sạch sẽ, thiết lập một cái đài cao để lên, liền có bốn vị Thiên Vương
quyến thuộc, và vô lượng trăm ngàn thiên chúng ở các cõi Trời khác đều đến đó cúng
dường và thủ hộ.”
“Bạch Đức Thế Tôn, nếu kinh nầy lưu hành đến chỗ nào có người thọ trì và nghe được
danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, nhờ công đức bổn nguyện của
Ngài, chỗ ấy không bị bịnh hoạnh tử, cũng không bị những ác quỉ, ác thần đoạt lấy tinh
khí, dầu có bị đoạt lấy, cũng được hoàn lại, thân tâm khỏe mạnh như thường.” (1 tiếng
chuông)
Phật bảo Mạn Thù Thất Lợi: thật đúng như lời ngươi nói - nếu có thiện nam tín nữ nào
muốn cúng dường Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, trước phải tạo lập hình tượng
Ngài, để trên tòa cao sạch sẽ, rải bông, đốt các thứ hương, dùng các thứ tràng phan trang
nghiêm, thờ như thế trong bảy ngày bảy đêm. Người đó phải thọ tám giới, ăn đồ thanh
tịnh, tắm gội sạch sẽ, y phục chỉnh tề, giữ lòng thanh tịnh, không giận dữ, không sát hại,
đối với tất cả loài hữu tình phải khởi tâm bình đẳng, đủ cả tâm Từ, Bi, Hỉ, Xả, làm cho họ
được lợi ích an vui, đánh nhạc ca hát ngợi khen, đi nhiễu quanh tượng Phật, nghĩ nhớ
công đức bổn nguyện đọc tụng kinh nầy, suy nghiệm nghĩa lý, khai thị cho người khác
biết. Làm như vậy, người đó được toại ý việc mong cầu – như cầu sống lâu, được sống
lâu, cầu giàu sang, được giàu sang, cầu quan vị, được quan vị, cầu sanh con trai, con gái,
thì được sanh con trai, con gái.
Nếu có người nào trong giấc ngủ thấy những điềm chiêm bao dữ, khi thức thấy những ác
tướng, như chim đậu gần nhà, hoặc chỗ ở hiện ra trăm điều quái dị, người ấy nên dùng
của báu cúng dường Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, những ác mộng, ác tướng và
những điềm xấu ấy thảy đều ẩn hết, không còn phải lo sợ.
Nếu người nào gặp tai nạn nguy hiểm như nạn nước, lửa, gươm, đao, thuốc độc và các
cầm thú dữ gây sự sợ hãi như: voi, sư tử, cọp, sói, gấu, rắn độc, bò cạp, rít, sên, lằn muỗi,
hết lòng nhớ niệm và cung kính cúng dường Đức Dược Sư, người đó được thoát khỏi
những sự sợ hãi ấy; hoặc nếu bị các nước khác xâm lăng, nhiễu hại, trộm cướp rối loạn,
nhớ niệm và cung kính Đức Dược Sư, người đó cũng được thoát khỏi những nạn ấy.
Lại nữa, Mạn Thù Thất Lợi, nếu có thiện nam tín nữ nào từ khi phát tâm thọ giới cho đến
ngày chết, không thờ những vị Trời nào, chỉ một lòng nương theo Phật, Pháp, Tăng, giữ
Trang 8 / 13 (trang gốc 107)
gìn năm giới, mười giới, Bồ Tát mười giới trọng, bốn mươi tám giới khinh, Tỳ kheo Tăng
hai trăm năm mươi giới, Tỳ kheo Ni ba trăm bốn mươi tám giới, nếu có hủy phạm những
giới pháp đã thọ, sợ đọa vào ác thú, nếu chuyên niệm và cung kính cúng dường Đức
Dược Sư, người đó quyết định không thọ sanh trong ba đường ác.
Lại nếu có người nữ nào đương lúc sanh sản phải chịu sự cực khổ đau đớn, xưng danh
hiệu, lễ bái và hết lòng cung kính cúng dường Đức Dược Sư, người đó sẽ khỏi những sự
đau khổ ấy, khi sanh con ra được vuông tròn, tướng mạo đoan nghiêm, lợi căn thông
minh, an ổn ít bịnh hoạn, ai thấy cũng vui mừng và không bị quỉ cướp đoạt tinh khí. (1
tiếng chuông)
Lúc ấy, Đức Thích Ca bảo A Nan: “Như Ta đã khen ngợi công hạnh của Đức Dược Sư
Lưu Ly Quang Như Lai, đó là công hạnh rất sâu xa của chư Phật, khó hiểu thấu được,
vậy ngươi có tin chăng?” A Nan bạch Phật: “Bạch Đức Thế Tôn, đối với Khế Kinh của
Như Lai nói, không bao giờ tôi sanh tâm nghi hoặc. Tại sao? Vì những nghiệp thân, khẩu,
ý của Như Lai đều thanh tịnh. Bạch Đức Thế Tôn, mặt trời, mặt trăng có thể rơi xuống,
núi Diệu Cao có thể lay động, nhưng những lời của chư Phật nói ra không bao giờ sai
được. Bạch Đức Thế Tôn nếu có chúng sanh nào tín căn không đầy đủ, nghe nói đến
những công hạnh sâu xa của chư Phật, thì nghĩ rằng: “Làm sao chỉ niệm danh hiệu của
một đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai mà được nhiều công đức thắng lợi ngần ấy?”
Vì sự không tin đó, trở sanh lòng hủy báng, nên họ phải mất nhiều điều lợi ích, mãi ở
trong cảnh đêm dài tăm tối, lại còn bị đọa lạc trong các đường ác thú, lưu chuyển không
cùng.”
Phật lại bảo A Nan: “Những chúng hữu tình ấy nếu nghe danh hiệu Đức Dược Sư Lưu Ly
Quang Như Lai, chí tâm thọ trì, không sanh lòng nghi hoặc, mà đọa vào ác thú, thì thật
vô lý vậy.”
“Này A Nan, đó là công hạnh rất mầu nhiệm của chư Phật, khó tin, khó hiểu, nay ngươi
lãnh thọ được, đó là nhờ oai lực của Như Lai vậy.” (1 tiếng chuông)
“Này A Nan, tất cả các hàng Thinh Văn, Độc Giác và các bậc Bồ Tát chưa lên đến bậc Sơ
Địa đều không thể tin đúng như thật, chỉ trừ những bậc Nhất Sanh Sở Hệ Bồ Tát mới tin
hiểu được mà thôi.”
“Này A Nan, thân người khó đặng, nhưng hết lòng tin kính tôn trọng ngôi Tam Bảo còn
khó hơn, huống chi nghe được danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai lại
còn khó hơn nữa.”
“Này A Nan, Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai tu không biết bao nhiêu hạnh Bồ Tát,
dùng không biết bao nhiêu phương tiện khéo léo, phát không biết bao nhiêu nguyện rộng
lớn, nếu ta nói ra trong một kiếp hay hơn một kiếp, thì kiếp số đó có thể mau hết, chớ
những hạnh nguyện và những phương tiện khéo léo của Đức Dược Sư, không khi nào nói
cho hết được.” (1 tiếng chuông)
Lúc bây giờ trong chúng hội có một vị Đại Bồ Tát tên là Cứu Thoát Bồ Tát liền từ chỗ
ngồi đứng dậy, trịch vai áo bên hữu, gối bên mặt quì sát đất, cúi đầu chắp tay bạch Phật
rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, đến thời kỳ Tượng Pháp có những chúng sanh bị nhiều hoạn
nạn, khốn khổ, tật bịnh luôn luôn, thân hình gầy ốm, ăn uống không được, môi cổ khô
ran, mắt thấy đen tối, tướng chết hiện ra, cha mẹ, bà con, bạn bè quen biết, vây quanh
khóc lóc. Thân bịnh nằm đó, đã thấy quỉ sứ đến dẫn thần thức, đem lại trước vua Diêm
Ma. Liền khi ấy, thần Cu Sanh ghi tội phước của người đó, dâng lên vua Diêm Ma.” Lúc
bấy giờ, vua phán hỏi và kê tính những tội phước của người kia đã làm mà xử đoán. Nếu
trong lúc đó, bà con quen biết, vì người bịnh ấy, quy y với Đức Dược Sư Lưu Ly Quang
Như Lai và thỉnh chúng tăng đọc tụng kinh nầy, đốt đèn bảy từng, treo thần phang tục
Trang 9 / 13 (trang gốc 108)
mạng năm sắc, hoặc liền trong lúc ấy, hoặc trải qua bảy ngày, hai mươi mốt ngày, ba
mươi lăm ngày, bốn mươi chín ngày, thần thức người kia được trở lại như vừa tỉnh giấc
chiêm bao, tự mình nhớ biết những nghiệp lành, nghiệp dữ và quả báo đã thọ. Chính đã
thấy rõ những nghiệp báo như vậy, dầu có gặp phải những tai nạn nguy hiểm đến tánh
mạng, người đó cũng không dám tạo những nghiệp ác nữa. Vậy nên, những thiện nam tín
nữ phải một lòng trì niệm danh hiệu Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai.”
Lúc bấy giờ, A Nan hỏi Cứu Thoát Bồ Tát rằng: “Nên cung kính cúng dường Đức Dược
Sư Lưu Ly như thế nào, còn đèn và phang tục mạng phải làm sao?” (1 tiếng chuông)
Cứu Thoát Bồ Tát nói: “Nếu có người bịnh nào, muốn khỏi bịnh khổ, bà con của họ phải
thọ trì tám phần trai giới trong bảy ngày, bảy đêm, tùy theo sức mình sắm sửa thức ăn
uống và các thứ cần dùng để cúng dường chư Tăng, ngày đêm sáu thời, kính lễ Đức
Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, đọc tụng Kinh nầy bốn mươi chín biến và thắp bốn
mươi chín ngọn đèn, lại tạo bảy hình tượng Đức Dược Sư, trước mỗi hình tượng để bảy
ngọn đèn, mỗi ngọn lớn như bánh xe, đốt luôn trong bốn mươi chín ngày đêm đừng cho
tắt; thần phang được làm bằng hàng ngũ sắc, bề dài bốn mươi chín gang tay, phải phóng
sinh bốn mươi chín loài vật khác nhau, người bịnh ấy sẽ qua khỏi ách nạn, không còn bị
hoạnh tử và các loài quỉ nhiễu hại.”
“Lại nữa A Nan, nếu trong giòng Sát Đế Lỵ có những vị quốc vương đã làm lễ quán đảnh
mà gặp lúc có nạn, nhân dân bị bịnh dịch, bị nước khác xâm lăng, bị nội loạn, hay bị nạn
tinh tú biến ra nhiều điềm quái dị: như nhựt thực, nguyệt thực, mưa gió trái mùa, hạn hán,
động đất vân vân, khi đó, các vị quốc vương phải đem lòng từ bi, thương xót tất cả nhân
dân, ân xá cho tội nhơn bị giam cầm, cúng dường Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai,
nhờ không còn tự chủ, phân biệt chánh tà, bói khoa chú thuật, gây thêm tội lỗi, giết hại
sanh linh, tấu với thần minh, vái van vọng lượng, để xin ban phước, mong được sống lâu,
nhưng không thể được. Bởi si mê lầm lạc, tin theo tà kiến, điên đảo quỉ mị, nên bị hoạnh
tử, đọa vào địa ngục, đời đời không ra khỏi. Hai là bị phép vua tru lục. Ba là chơi bời trụy
lạc, săn bắn, đam mê tửu sắc, buông lung vô độ, bị loài quỉ đoạt mất tinh khí. Bốn là bị
chết thiêu. Năm là bị chết đắm. Sáu là bị các thú dữ ăn thịt. Bảy là bị sa từ trên cao
xuống. Tám là bị chết vì thuốc độc, ếm đối, chửi rủa, trù ẻo và bị quỉ Tử Thi làm hại.
Chín là bị chết vì đói khát khốn khổ. Đó là chín hoạnh tử, Như Lai nói ra. Còn những
hoạnh tử khác, nhiều vô lượng, không thể nói hết được.” (1 tiếng chuông)
“Lại nữa A Nan, vua Diêm Ma kia là thủ lãnh ghi chép sổ bộ, tên tuổi, tội phước trong
thế gian. Nếu có người nào ăn ở bất hiếu, ngũ nghịch, hủy nhục Ngôi Tam Bảo, phá hoại
phép vua tôi, tội nặng nhẹ mà hành phạt. Vì thế Ta khuyên mọi người nên thắp đèn làm
phang, phóng sanh, tu phước để khỏi các khổ ách, chỉ gặp những điều vui.”
Lúc bấy giờ, trong chúng hội có mười hai vị Dược Xoa đại tướng:
Cung Tì La đại tướng,
Phạt Chiếc La đại tướng,
Mê Súy La đại tướng,
An Để La đại tướng,
Át Nể La đại tướng,
San Để La đại tướng,
Nhơn Đạt La đại tướng,
Bi Da La đại tướng,
Ma Hổ La đại tướng,
Chơn Đạt La đại tướng,
Trang 10 / 13 (trang gốc 109)
Chiêu Đỗ La đại tướng,
Tỳ Yết La đại tướng. (1 tiếng chuông)
mười hai vị đại tướng này, mỗi vị đều có bảy ngàn quyến thuộc Dược Xoa đồng cất tiếng
bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, hôm nay, chúng tôi nhờ oai lực của Phật, được nghe
danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, không còn sợ sệt các đường ác thú
nữa. Chúng tôi đồng một lòng trọn đời quy y Phật, Pháp, Tăng, thề sẽ gánh vác cho
chúng hữu tình, làm việc nghĩa lợi đưa đến sự nhiêu ích an vui. Trong làng xóm, thành,
nước, hoặc trong rừng cây vắng vè, nếu có kinh nầy lưu bố đến, hay có có người thọ trì
danh hiệu Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai và cung kính cúng dường Ngài, chúng
tôi cùng quyến thuộc đồng hộ vệ người ấy thoát khỏi tất cả ách nạn và khiến họ cầu việc
chi cũng được thỏa mãn. Nếu có ai bị bịnh hoạn khổ ách, muốn cầu cho khỏi, nên đọc
tụng kinh nầy và lấy chỉ ngũ sắc gút danh tự chúng tôi, khi đã được như lòng mong cầu
thì mới mở gút ra.”
Lúc ấy, Đức Thích Ca khen các vị Dược Xoa đại tướng rằng: “Hay thay! Hay thay! Đại
Tướng Dược Xoa, các ngươi muốn báo đáp công hạnh của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang
Như Lai nên phát nguyện làm những việc lợi ích an vui cho tất cả chúng hữu tình như
vậy.”
Đồng thời, A Nan bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, pháp môn nầy gọi tên là gì? Và
chúng tôi phải phụng trì như thế nào?” (1 tiếng chuông)
Phật bảo A Nan: “Pháp môn nầy gọi là Bổn Nguyện và Công Hạnh của Đức Dược Sư
Lưu Ly Quang Như Lai, cũng gọi là Kiết Nguyện Thần Chú của mười hai Thần Tướng,
và cũng gọi là Con Đường Dứt Trừ Tất Cả Nghiệp Chướng. Nên đúng như vậy mà thọ
trì.”
Khi Phật nói lời ấy rồi, các hàng Đại Bồ Tát, Thinh Văn, Quốc Vương, Đại Thần, Bà La
Môn, Cư Sĩ, Thiên, Long, Dược Xoa, Kiền Thát Bà, A Tố Lạc, Yết Lộ Trà, Khẫn Nại
Lạc, Mạc Hô Lạc Dà, Người cùng các loài quỉ thần, tất cả đại chúng đều hết sức vui
mừng và đồng tin giữ vâng làm. (1 tiếng chuông)
CHÚ DƯỢC SƯ QUÁN ĐẢNH
Nam Mô bạt dà phạt đế, bệ sát xã lu lô tích lưu ly, bát lặc bà hát ra xà dã, đát tha yết đa
da, a ra hát đế, tam miệu tam bột đà da, đát điệt tha. Án, bệ sát thệ, bệ sát thệ, bệ sát xã,
tam một yết đế xoa ha. (3 lần, 1 tiếng chuông)
Giải kiết, giải kiết, giải oan kiết,
Nghiệp chướng bao đời đều giải hết,
Rửa sạch lòng trần, phát tâm thành kính,
Đối trước Phật đài, cầu xin giải kiết,
Dược Sư Phật, Dược Sư Phật,
Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Phật,
Tùy Tâm Mãn Nguyện Dược Sư Phật,
Tùy Tâm Mãn Nguyện Dược Sư Phật.
Nam Mô Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Phật. (3 lần, 1 tiếng chuông)
KINH BÁT NHÃ BA LA MẬT
Khi Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát thực hành sâu xa Pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa, Ngài soi
thấy năm uẩn đều không, qua hết thảy khổ ách.
”Này Ông Xá Lợi Phất, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không,
không tức là sắc. Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng đều như thế.”
Trang 11 / 13 (trang gốc 110)
”Này Ông Xá Lợi Phất, ”tướng không của mọi pháp” không sanh, không diệt, không dơ,
không sạch, không thêm, không bớt, nên trong ”chân không”, không có sắc, không có
thọ, tưởng, hành, thức, không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, không có sắc, thinh, hương,
vị, xúc, pháp, không có nhãn giới, cho đến không có ý thức giới, không có vô minh, cũng
không có cái hết vô minh, cho đến không có già chết, cũng không có cái hết già chết,
không có khổ, tập, diệt, dạo, không có trí huệ, cũng không có chứng đắc. Vì không có
chỗ chứng đắc, nên Bồ Tát y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, tâm không ngăn ngại. Vì
không ngăn ngại, nên không sợ hãi, xa hẳn điên đảo, mộng tưởng, đạt tới cứu cánh Niết
Bàn. Chư Phật trong ba đời cũng y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, được đạo quả vô thượng
chánh đẳng chánh giác. Nên biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là Đại Thần Chú, là Đại Minh
Chú, là Vô Thượng Chú, là Vô Đẳng Đẳng Chú, trừ được hết thảy khổ, chân thật không
hư.”
Vì vậy, liền nói Chú Bát Nhã Ba La Mật Đa: ”Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết
đế, bồ đề tát bà ha.” (1 tiếng chuông)
NIỆM PHẬT
A Di Đà Phật thân sắc vàng,
Tướng tốt rực rỡ, hào quang sáng ngời,
Mày trắng tỏa, Tu Di uyển chuyển,
Mắt trong ngần, bốn biển long lanh,
Ánh hào quang hóa vô số Phật,
Vô số Bồ Tát hiện ở trong,
Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh,
Chín phẩm sen vàng lên giải thoát,
Qui mạng lễ A Di Đà Phật,
Ở phương Tây thế giới an lành
Con nay xin phát nguyện vãng sanh,
Cúi xin Đức Từ Bi nhiếp thọ. (1 tiếng chuông)
Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật.
Nam Mô A Di Đà Phật. (mỗi câu 3 lần, 1 tiếng chuông)
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát.
Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát.
Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.
Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát.
SÁM DƯỢC SƯ
Cúi đầu trước mười phương chư Phật
Chúng con nguyền chân thật kính tin
Phát lời thệ nguyện độ sinh
Y theo Giáo Pháp, Luật, Kinh chỉ bày:
Ngày nào cũng lắm thay công việc
Vì ngu mê mãi miết ân cần
Ngày đêm lo tảo bán tần
Trăm mưu ngàn kế, vô ngần thảm thương.
Lạc một bước sa đường xuống hố
Bị vô minh lắm độ truân chuyên
Vào ra sáu cõi triền miên
Mang thân tứ đại thảm phiền biết bao!
Trang 12 / 13 (trang gốc 111)
Vậy nhân thế hãy mau xét kỹ
Kiếp phù sinh chớ nghĩ lẳng lơ
Khuyên đừng đem dạ tưởng mơ
Trăm năm cuộc thế như cờ bị vây.
Rút gươm huệ dứt dây tham ái
Kíp tìm thầy thọ phái quy y
Giữ gìn ngũ giới tam quy
Mở lòng từ mẫn, sân si quyết chừa.
Rèn lòng kinh kệ sớm trưa
Nguyện con ra khỏi nắng mưa cõi trần.
Ngưỡng cầu chư Phật thi ân
Đệ tử phát nguyện ân cần thiết tha:
Một là: Nguyện Đức Di Đà (1 tiếng chuông)
Cầu xin bá tánh trẻ già khắp nơi
Làm lành lánh dữ kịp thời
Nhà nhà an lạc, nơi nơi thái hòa.
Hai là: Nguyện Đức Thích Ca
Trở đời ly loạn hóa ra thái bình
Mở mang vận hội văn minh
Tâm thần thơ thới, nhơn tình trung lương.
Ba là: Nguyện Chuẩn Đề Vương
Thần thông dẹp hết bốn phương chiến trường
Độ người ngỗ nghịch bạo cường
Bỏ tà quy chánh, theo đường thiện tâm.
Bốn là: Nguyện Đức Quán Âm
Độ người thù oán cừu thâm thuận hòa
Giúp bao tai nạn xảy ra
Cùng người tật bịnh đều hòa an thuyên.
Năm là: Nguyện Đức Phổ Hiền
Độ người chân chánh, giữ qưyền an dân
Bốn phương tương ái tương thân
Đồng tuân pháp nước, nhân dân kính nhường.
Sáu là: Nguyện Địa Tạng Vương
Độ người xiêu lạc bốn phương được về
Cùng là người chết thảm thê
Hồn linh độ hết đưa về Tây Phương.
Kìa, Cực Lạc là nơi an dưỡng (1 tiếng chuông)
Đất lưu ly vô lượng khiết tinh
Có Ao Thất Bảo quang minh
Có Sen Chín Phẩm như hình bánh xe.
Ao Thất Bảo ngỏa nguê đẹp đẽ
Nước Bát Công sạch sẽ tinh vi
Bảy hàng cây báu lưu ly
Lan can bảy lớp ma ni sáng ngời.
Chim nói Pháp hôm mai êm dịu
Hoa trên không lểu nhểu cúng dường.
Trang 13 / 13 (trang gốc 112)
Bồ Đề nảy búp ngát hương
Cúi xin chư Phật, đoái thương cứu độ. (1 tiếng chuông)
HỒI HƯỚNG
Cầu an công đức, hạnh nhiệm mầu
Thắng phước bao nhiêu con nguyện cầu
Tất cả chúng sinh trong pháp giới
Hướng về Phật pháp tỏ Đạo Mầu.
Nguyện cho ba chướng tiêu tan
Phiền não dứt sạch, huệ căn sáng ngời
Cầu cho con được đời đời
Hành Bồ Tát Đạo, cứu đời lầm than.
Nguyện đem công đức lành
Đệ tử hướng tâm thành
Cầu cho khắp chúng sanh
Đều chứng thành Phật quả.
(1 tiếng chuông, chỉ chủ lễ phục nguyện)
PHỤC NGUYỆN
Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật tác đại chứng minh. (1 tiếng chuông)
Hôm nay, chúng con một dạ chí thành, trì tụng Dược Sư Kinh, Chú, niệm Phật công đức,
cầu nguyện cho Phật tử (tên họ:..., Pháp danh: ...), đương đời phiền não dứt sạch, nghiệp
chướng tiêu tan, tật bịnh bình an, thân tâm thường lạc, gia đình thịnh đạt, hưởng cảnh an
nhàn, thiên thượng nhân gian, đều trọn thành Phật quả. (1 tiếng chuông, đồng niệm)
Nam Mô A Di Đà Phật.
TAM QUY
Con nương theo Phật, cầu cho chúng sanh
Tin chắc Đạo cả, phát lòng vô thượng.
(1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)
Con nương theo Pháp, cầu cho chúng sanh
Thấu rõ Kinh Tạng, trí huệ như biển.
(1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)
Con nương theo Tăng, cầu cho chúng sanh
Kính tín hòa hợp, tất cả không ngại.
(1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)
NGHI THỨC
TỤNG KINH KIM CANG
(Vajracchedikà – Pràjnàpàramità – Sùtra)
GỒM CÓ:
• Chú Tịnh Pháp Giới, và Tịnh Tam Nghiệp
• Cúng Hương
• Cầu Nguyện
• Khen Ngợi Phật
• Quán Tưởng Phật
• Đảnh Lễ
• Tán Hương Cúng Phật
• Chú Tịnh Khẩu Nghiệp và Tịnh Tam Nghiệp
• Chú An Thổ Địa, và Phổ Cúng Dường
• Phụng Thỉnh Tám Vị Thần Kim Cang
Giới thiệu bằng tiếng Việt
Kinh Dược Sư hiện đã có bản văn và PDF TRONG THƯ VIỆN thật được tách từ tài liệu của chính Thư viện Diệu An.