TOÀN VĂN TRONG THƯ VIỆN · KHÔNG VIẾT TẮT
11. Đệ Tam Thời Pháp Sự – Phẩm Phổ Môn
Nguồn nội bộ: Nhật Tụng Chùa Địa Tạng – Tỳ-kheo-ni Thích Nữ Diệu An
Chuẩn Diệu An: Pháp sự được tách từ đúng phần trong Nhật Tụng; giữ toàn bộ bản văn tụng đọc.
PHẦN XI
ĐỆ TAM THỜI PHÁP SỰ
NGHI THỨC TRÌ TỤNG KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA
Đại chúng chỉnh y, chắp tay trang nghiêm, nhất tâm hướng về Tam Bảo.
TÁN LƯ HƯƠNG
Lư hương sạ nhiệt,
Pháp giới mông huân,
Chư Phật hải hội tất diêu văn,
Tùy xứ kết tường vân,
Thành ý phương ân,
Chư Phật hiện toàn thân.
Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần)
TỊNH PHÁP GIỚI CHÂN NGÔN
Án lam tóa ha. (3 lần)
123
TỊNH KHẨU NGHIỆP CHÂN NGÔN
Tu rị tu rị, ma ha tu rị, tu tu rị, ta bà ha. (3 lần)
TỊNH TAM NGHIỆP CHÂN NGÔN
Án ta phạ bà phạ, thuật đà ta phạ, đạt ma ta phạ, bà phạ thuật độ hám. (3 lần)
PHỔ CÚNG DƯỜNG CHÂN NGÔN
Án nga nga nẵng tam bà phạ, phiệt nhật ra hồng. (3 lần)
VĂN PHÁT NGUYỆN
Đệ tử chúng con chí tâm đảnh lễ mười phương thường trụ Tam Bảo, Đức Bổn Sư Thích Ca
Mâu Ni Phật, chư Phật, chư Đại Bồ Tát và Thánh chúng trong hội Pháp Hoa.
Hôm nay, chúng con nhất tâm trì tụng Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Phẩm Quán Thế Âm Bồ
Tát Phổ Môn. Nguyện nhờ công đức đọc tụng, thân tâm thanh tịnh, nghiệp chướng tiêu trừ,
căn lành tăng trưởng, trí tuệ khai sáng; người hiện tiền được an ổn, người quá vãng được
nương Phật lực siêu sanh về cõi lành.
Nguyện cho tất cả chúng sinh nghe danh hiệu Đức Quán Thế Âm Bồ Tát đều phát tâm từ bi,
xa lìa sợ hãi, vượt qua khổ nạn, tin sâu Tam Bảo và đồng thành Phật đạo.
KHAI KINH KỆ
Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp,
Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ,
Ngã kim kiến văn đắc thọ trì,
Nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa.
KỆ KHEN NGỢI KINH
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, giáo Bồ Tát pháp, Phật sở hộ niệm. (3 lần)
DIỆU PHÁP LIÊN HOA KINH
QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT PHỔ MÔN PHẨM - PHẨM THỨ HAI MƯƠI LĂM
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. (3 lần)
Lúc bấy giờ, Bồ Tát Vô Tận Ý từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo bày vai bên hữu, chắp tay
hướng về Đức Phật mà bạch rằng: “Bạch Thế Tôn! Bồ Tát Quán Thế Âm do nhân duyên gì
mà có danh hiệu Quán Thế Âm?”
Đức Phật bảo Bồ Tát Vô Tận Ý: “Thiện nam tử! Nếu có vô lượng trăm nghìn muôn ức
chúng sinh chịu các khổ não, nghe danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, một lòng xưng danh, Bồ
Tát liền quán xét tiếng kêu ấy, khiến tất cả đều được giải thoát.”
Nếu có người trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, dầu vào lửa lớn, lửa không thể đốt; nếu bị
nước lớn cuốn trôi, xưng danh hiệu Ngài liền được đến chỗ cạn. Nếu có trăm nghìn muôn ức
124
chúng sinh vào biển tìm châu báu, gặp gió dữ thổi thuyền vào nước quỷ La-sát, trong số ấy
chỉ cần một người xưng danh Quán Thế Âm Bồ Tát thì tất cả đều được thoát nạn.
Nếu người sắp bị hại mà xưng danh Quán Thế Âm Bồ Tát thì dao gậy của kẻ ác liền gãy
từng đoạn. Nếu khắp cõi tam thiên đại thiên đầy quỷ Dạ-xoa, La-sát muốn đến hại người,
nghe người ấy xưng danh Quán Thế Âm Bồ Tát thì các quỷ dữ không thể dùng mắt ác nhìn,
huống chi làm hại.
Nếu có người có tội hoặc không tội, bị gông cùm xiềng xích, xưng danh hiệu Quán Thế Âm
Bồ Tát thì gông xiềng đều đứt rã, liền được giải thoát. Nếu có đoàn thương nhân mang nhiều
của báu đi qua đường hiểm, gặp oán tặc, một người khuyên mọi người đồng niệm “Nam mô
Quán Thế Âm Bồ Tát”, nhờ oai lực của Ngài, tất cả đều thoát nạn.
Quán Thế Âm Bồ Tát có sức oai thần lớn như thế. Người nhiều tham dục, thường cung kính
niệm Ngài thì lìa tham dục; người nhiều sân hận thì lìa sân hận; người nhiều ngu si thì lìa
ngu si. Vì vậy, chúng sinh thường nên tâm niệm và cung kính lễ bái Quán Thế Âm Bồ Tát.
Nếu có người nữ muốn cầu con trai, lễ bái cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát, liền sinh con
trai có phước đức trí tuệ; nếu muốn cầu con gái, liền sinh con gái đoan chính, trước đã trồng
cội đức, được mọi người kính mến. Phước đức của việc thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ
Tát rất lớn, không thể nghĩ bàn.
Bồ Tát Vô Tận Ý lại bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Quán Thế Âm Bồ Tát dạo đi trong thế giới
Sa-bà như thế nào? Thuyết pháp cho chúng sinh như thế nào? Sức phương tiện của Ngài ra
sao?”
Phật dạy: “Trong quốc độ nào, chúng sinh đáng dùng thân Phật để được độ thoát, Quán Thế
Âm Bồ Tát liền hiện thân Phật mà thuyết pháp; đáng dùng thân Bích-chi Phật, Thanh văn,
Phạm vương, Đế Thích, Tự Tại Thiên, Đại Tự Tại Thiên, Thiên Đại Tướng Quân, Tỳ-sa-
môn, Tiểu vương, Trưởng giả, Cư sĩ, Tể quan, Bà-la-môn, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc,
Ưu-bà-di, phụ nữ, đồng nam, đồng nữ, Trời, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la,
Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, người và chẳng phải người để được độ thoát, Ngài liền hiện thân
ấy mà thuyết pháp.”
Quán Thế Âm Bồ Tát thành tựu công đức như thế, dùng nhiều thân hình dạo khắp các quốc
độ để độ thoát chúng sinh. Vì vậy, đại chúng nên một lòng cúng dường Ngài. Trong lúc kinh
hãi, cấp nạn, Ngài có thể ban cho sự không sợ hãi, nên cõi Sa-bà gọi Ngài là bậc Thí Vô Úy.
Bấy giờ, Bồ Tát Vô Tận Ý dâng chuỗi ngọc quý cúng dường. Quán Thế Âm Bồ Tát vì
thương xót tứ chúng, Trời, Rồng, người và chẳng phải người nên nhận chuỗi ngọc, chia làm
hai phần: một phần dâng Đức Thích Ca Mâu Ni Phật, một phần dâng tháp Phật Đa Bảo.
KỆ TỤNG
Thế Tôn đủ tướng tốt,
Con nay lại hỏi Ngài:
Phật tử nhân duyên gì,
Tên là Quán Thế Âm?
Đấng đầy đủ tướng tốt,
125
Kệ đáp Vô Tận Ý:
Ông nghe hạnh Quán Âm,
Khéo ứng hiện mọi nơi.
Nguyện rộng sâu như biển,
Nhiều kiếp chẳng nghĩ bàn,
Hầu nhiều nghìn ức Phật,
Phát nguyện lớn thanh tịnh.
Ta vì ông lược nói:
Nghe danh cùng thấy thân,
Tâm niệm chẳng luống qua,
Hay diệt khổ các cõi.
Giả sử người muốn hại,
Xô rớt hầm lửa lớn,
Do sức niệm Quán Âm,
Hầm lửa biến thành ao.
Hoặc trôi dạt biển lớn,
Nạn rồng, cá và quỷ,
Do sức niệm Quán Âm,
Sóng nước không nhận chìm.
Hoặc ở chóp Tu-di,
Bị người xô rơi xuống,
Do sức niệm Quán Âm,
Như mặt trời giữa không.
Hoặc bị người dữ đuổi,
Rơi xuống núi Kim Cang,
Do sức niệm Quán Âm,
Chẳng tổn một mảy lông.
Hoặc gặp oán tặc vây,
Đều cầm dao muốn hại,
Do sức niệm Quán Âm,
Thảy khởi lòng thương xót.
Hoặc mắc nạn vua quan,
Sắp chịu hình mất mạng,
Do sức niệm Quán Âm,
Dao liền gãy từng đoạn.
Hoặc giam cầm xiềng xích,
Tay chân bị cùm khóa,
126
Do sức niệm Quán Âm,
Thong thả được giải thoát.
Nguyền rủa cùng thuốc độc,
Muốn làm hại thân người,
Do sức niệm Quán Âm,
Trở lại nơi người gây.
Hoặc gặp La-sát dữ,
Rồng độc và các quỷ,
Do sức niệm Quán Âm,
Chúng không dám làm hại.
Hoặc thú dữ vây quanh,
Nanh vuốt thật đáng sợ,
Do sức niệm Quán Âm,
Vội vàng chạy mất dạng.
Rắn độc cùng bò cạp,
Hơi độc khói lửa bừng,
Do sức niệm Quán Âm,
Theo tiếng tự lui đi.
Mây sấm, chớp sét động,
Mưa đá tuôn xối xả,
Do sức niệm Quán Âm,
Tức thời đều tiêu tán.
Chúng sinh bị khốn ách,
Vô lượng khổ bức thân,
Sức diệu trí Quán Âm,
Hay cứu khổ thế gian.
Đầy đủ sức thần thông,
Rộng tu phương tiện trí,
Khắp quốc độ mười phương,
Không cõi nào chẳng hiện.
Các đường dữ địa ngục,
Ngạ quỷ và súc sinh,
Khổ sinh, già, bệnh, chết,
Dần dần đều dứt sạch.
Chân quán, thanh tịnh quán,
Trí tuệ quán rộng lớn,
Bi quán và từ quán,
127
Thường nguyện, thường chiêm ngưỡng.
Ánh sáng thanh tịnh không nhơ,
Mặt trời trí phá tối tăm,
Hay dẹp tai nạn gió lửa,
Chiếu sáng khắp cả thế gian.
Lòng bi như sấm động,
Ý từ như mây lành,
Rưới pháp vũ cam lộ,
Dập tắt lửa phiền não.
Cãi kiện qua cửa quan,
Trong quân trận sợ hãi,
Do sức niệm Quán Âm,
Oán thù đều lui tan.
Diệu âm, Quán Thế Âm,
Phạm âm, Hải Triều Âm,
Tiếng hơn tất cả thế gian,
Nên thường niệm không nghi.
Quán Thế Âm tịnh thánh,
Trong khổ não, nạn chết,
Có thể làm nơi nương,
Đủ tất cả công đức.
Mắt từ nhìn chúng sinh,
Biển phước lớn không lường,
Vì vậy nên cúi lễ,
Đức Quán Thế Âm.
Bấy giờ, Bồ Tát Trì Địa từ chỗ ngồi đứng dậy, bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Nếu có
chúng sinh nghe phẩm Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn, biết sức thần thông và nghiệp tự tại
thị hiện khắp nơi của Bồ Tát, thì công đức người ấy không ít.”
Khi Đức Phật nói phẩm Phổ Môn này, trong chúng có tám vạn bốn nghìn chúng sinh đều
phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
KỆ TÁN QUÁN THẾ ÂM
Quán Âm Đại Sĩ,
Tất hiệu viên thông,
Thập nhị đại nguyện thệ hoằng thâm,
Khổ hải độ mê tân,
Cứu khổ tầm thanh,
128
Vô sát bất hiện thân.
Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần)
Đại chúng chí thành đảnh lễ Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, nguyện học hạnh lắng nghe tiếng
khổ, mở rộng lòng từ và đem sự an lành đến khắp muôn loài.
MA-HA BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT-ĐA TÂM KINH
Quán Tự Tại Bồ Tát, hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không,
độ nhất thiết khổ ách.
Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ,
tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.
Xá Lợi Tử! Thị chư pháp không tướng: bất sinh, bất diệt; bất cấu, bất tịnh; bất tăng, bất
giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý;
vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới; vô vô minh, diệc vô
vô minh tận; nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí, diệc vô đắc, dĩ
vô sở đắc cố.
Bồ-đề-tát-đỏa y Bát-nhã Ba-la-mật-đa cố, tâm vô quái ngại; vô quái ngại cố, vô hữu khủng
bố; viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết-bàn. Tam thế chư Phật y Bát-nhã Ba-la-mật-
đa cố, đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.
Cố tri Bát-nhã Ba-la-mật-đa thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô
đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư. Cố thuyết Bát-nhã Ba-la-mật-đa
chú, tức thuyết chú viết:
Yết đế, yết đế, ba-la yết đế, ba-la-tăng yết đế, Bồ-đề tát-bà-ha.
Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật-đa.
VÃNG SINH QUYẾT ĐỊNH CHÂN NGÔN
Nam mô a di đa bà dạ, đa tha dà đa dạ, đa địa dạ tha. A di rị đô bà tỳ, a di rị đa tất đam bà tỳ,
a di rị đa tỳ ca lan đế, a di rị đa tỳ ca lan đa, dà di nị, dà dà na, chỉ đa ca lệ, ta bà ha.
(3 lần)
KỆ PHÁT NGUYỆN VÃNG SANH
Khể thủ Tây Phương An Lạc quốc,
Tiếp dẫn chúng sanh Đại Đạo Sư,
Ngã kim phát nguyện nguyện vãng sanh,
Duy nguyện từ bi ai nhiếp thọ.
TÁN PHẬT KỆ
A Di Đà Phật thân kim sắc,
Tướng hảo quang minh vô đẳng luân,
Bạch hào uyển chuyển ngũ Tu-di,
129
Hám mục trừng thanh tứ đại hải,
Quang trung hóa Phật vô số ức,
Hóa Bồ Tát chúng diệc vô biên,
Tứ thập bát nguyện độ chúng sanh,
Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn.
Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật. (3
lần)
Nam mô A Di Đà Phật.
Tùy thời khóa niệm Phật.
HỒI HƯỚNG
Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não,
Nguyện đắc trí huệ chân minh liễu,
Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ,
Thế thế thường hành Bồ Tát đạo.
Nguyện sanh Tây Phương Tịnh Độ trung,
Cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu,
Hoa khai kiến Phật ngộ Vô sanh,
Bất thối Bồ Tát vi bạn lữ.
—
Nguyện đem công đức này,
Trang nghiêm Phật Tịnh Độ,
Trên đền bốn ơn nặng,
Dưới cứu khổ ba đường,
Nếu có ai thấy nghe,
Đều phát lòng Bồ-đề,
Hết một báo thân này,
Đồng sanh cõi Cực Lạc.
LỜI NGUYỆN KẾT KINH
Nguyện A Di Đà Phật thượng lai hộ trì, linh ngã thiện căn hiện tiền tăng tấn, bất thất tịnh
nhân. Lâm mạng chung thời, thân vô bệnh khổ, tâm bất tham luyến, ý bất điên đảo, như nhập
thiền định. Phật cập Thánh chúng, thủ chấp kim đài, lai nghinh tiếp dẫn; ư nhất niệm
khoảnh, sanh Cực Lạc quốc; hoa khai kiến Phật, tức văn Phật thừa, đốn khai Phật tuệ, quảng
độ chúng sanh, mãn Bồ-đề nguyện.
130
PHỔ NGUYỆN KẾT THỜI KINH
Nguyện nhờ công đức trì tụng Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Phẩm Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ
Môn, khiến chánh pháp lâu dài, đạo tràng thanh tịnh, người hiện tiền tăng trưởng phước huệ,
người quá vãng nương Phật lực siêu sinh.
Nguyện cho tất cả chúng sinh đang gặp tai nạn, bệnh khổ, sợ hãi, oan kết và nghịch duyên
đều nghe danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, khởi lòng tin chân chánh, lìa khổ được vui, phát
tâm Bồ-đề và đồng hướng về con đường giác ngộ.
Nguyện A Di Đà Phật thượng lai hộ trì, linh ngã thiện căn hiện tiền tăng tấn, bất thất tịnh
nhân. Lâm mạng chung thời, thân vô bệnh khổ, tâm bất tham luyến, ý bất điên đảo, như nhập
thiền định. Phật cập Thánh chúng, thủ chấp kim đài, lai nghinh tiếp dẫn; ư nhất niệm
khoảnh, sanh Cực Lạc quốc; hoa khai kiến Phật, tức văn Phật thừa, đốn khai Phật tuệ, quảng
độ chúng sanh, mãn Bồ-đề nguyện.
Nguyện đem công đức này hồi hướng pháp giới chúng sinh, âm siêu dương thái, oán kết tiêu
trừ, quốc gia an lạc, thế giới hòa bình; người thấy người nghe đều phát tâm lành, hết một báo
thân này đồng sinh cõi Cực Lạc.
TAM TỰ QUY Y
Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sanh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm. (1 lạy)
Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sanh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải. (1 lạy)
Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, nhất thiết vô ngại. (1 lạy)
Hòa nam Thánh chúng.