Khuyến tu – bản văn phụ đính · TOÀN VĂN

Khuyến Tu

Nguồn bản văn: Nghi Thức Tụng Niệm Hằng Ngày – soạn và dịch: Sa môn Thích Thiện Thành, Phật lịch 2540–1997.

Phân loại: Đây là phần phụ đính/tư liệu nghi lễ của sách. Thư viện không tự gắn nhãn “nguyên lời Phật” cho nội dung này nếu chưa có nguồn kinh gốc đối chiếu.

KHUYẾN TU Vóc bào ảnh lắm người yêu tiếc, Yêu tiếc thân cho thiệt vì thân, Cuộc vui những ước vô ngần, Nào hay vui vẫn là nhân chác sầu. Kiếp phù thế bóng câu cửa sổ, Chất huyễn hư giọt lệ lòng hoa, Đôi mươi trẻ, chín mươi già, Số phần yểu thọ khó qua vô thường. Dép dưới giường lên giường vội biệt, Sống ngày nay dễ biết ngày mai, Mạng người hô hấp kinh thay? Nghĩ cơn vĩnh biệt tiền đài mà đau. Xót duyên kiếp vì sao ngắn ngủi, Chấp thân chi để tủi cho thân, Da bao những thịt, xương, gân, Thân nầy dường thể đóng phân sạch gì. Tóc, răng, móng khác chi đất bợn, Mũi, dãi, đàm nên tởm xiết bao, Bên ngoài rệp đúc, muỗi đeo, Bên trong sán lãi lẫn vào nhớp chưa? Nỗi nóng bức ngày trưa tiết hạ, Cơn lạnh lùng đêm giá trời đông, Xét thân nhơ khổ vô cùng, Dứt lòng tham luyến, khởi lòng thoát ly. Trách người thế mê chi lắm nhẽ, Sánh phong lưu phô vẻ y quan, Kẻ khờ cũng học đài trang Để lòng điên đảo theo đàng sắc thanh. Đầu xương sọ cài trâm thắt lụa, Đảy da hôi ướp xạ xông hương, Khéo đòi nhung gấm phô trương, Chỉ tuồng che lớp vô thường hôi tanh. Những mãn tưởng ngày xanh muôn tuổi, Lắm cơ mưu đeo đuổi yêu hoa, Ngờ đâu tai điếc, mắt lòa, Diêm Vương sắp ruớc đến tòa U Minh. Làn tóc bạc đưa tin quỉ sứ, Gốc răng long điềm chỉ qui âm, Càng tài, càng sắc, càng dâm, Càng cho đọa lạc càng lầm mà thôi. Cuộc hành lạc một thời thương tiếc, Nẻo luân hồi muôn kiếp đắng cay, Đến khi sắp xuống diêm đài, Thịt xương đau nhức, tay chân rụng rời. Vợ lưu luyến đầy vơi giọt lệ, Con thảm thương kể lể khóc than, Dù cho quyến thuộc trăm ngàn, Có ai thay đổi cho chàng được chăng? Kẻ sống ở nặng quằn gánh tủi, Người chết đi dong ruổi phát hồn, Đường âm mờ tựa đêm hôm, Trông ra quạnh quẽ bồn chồn thảm thê. Nại hà đến lạnh tê gió lốc, Quỉ môn sang ghê gốc tiếng thương, Bảy ngày lìa quá cõi dương, Âm ty đã trải trăm đường hỏi tra, Tào quan xử thét la chẳng vị, Ngục tốt hờn tay chùy, tay xoa, Đài gương nghiệp cảnh sáng lòa, Soi tường thiện ác chối qua được nào. Người nhân đức cho vào cửa phước, Kẻ hung hoang giải trước hình ty, Đọa đày khổ sở xiết chi, Mới hay nhân quả mấy khi sai lầm. Rừng đao kiếm bao năm hết tội, Kiếp sừng lông nhiều nỗi đa mang, Trả đền cho dứt nghiệp oan, Mới mong thoát khỏi con đường long đong. Dù ai có to lòng lớn mật, Mặc chàng hay báng Phật khinh Tăng, Chẳng qua đối trước Diêm quân, Cúi đầu co gối chịu phần xử tra. Hồn phách đã xa chơi âm giới, Thi hài còn ở cõi dương gian, Có tiền mua lớp áo quan, Không tiền vùi chốn núi hoang lạnh lùng. Xương, da, thịt sẽ cùng tan rã, Tấm hình hài lần hóa tanh hôi, Chỉ trong chầy sớm mà thôi, Chầy trong bảy tháng sớm thời ít hôm. Nét kiều diễm chập chờn xuân mộng, Kiếp tài hoa hình bóng bạch vân, Khi xưa, tài, sắc mười phân, Mà nay một nấm cô phần lạnh tanh. Thời oanh liệt hùng anh đâu tá, Cuộc ái ân hư giả còn chi, Phất phơ cành liễu xanh rì, Giấy tiền treo đó còn ghi mối sầu. Bóng chiều rũ xuống màu cỏ biếc, Bia mồ trơ một chiếc vắng không, Nghĩ thôi rơi lệ chạnh lòng, Đời người đến thế là xong một đời. Ví chăng biết tìm nơi giải thoát, Nương về ngôi Chánh Giác Quy Y, Luân hồi hẳn dứt có khi, Bên trời Bát Nhã còn chi lo phiền, Lối ma quỉ đừng riêng mưu sống, Đất Từ Bi gieo giống Hoa Đàm, Giữ lòng thiện, dứt lòng tham, Gái, trai, Tăng, tục đều ham tu hành. Rõ cảnh mộng chớ quanh đường mộng, Biết miền chơn, kiếp chóng tu chơn, Dần dà tính thiệt so hơn, Tuổi xuân qua mất để hờn về sau. Sáu chữ Phật cùng nhau gắng niệm, Chín phẩm đài sen chiếm ngôi vinh, Chớ nên mình phụ lấy mình, Trách sao Diêm lão vô tình chẳng dung. Bỏ điều ác xin làm theo thiện, Chừa lỗi xưa tu tiến đường sau, Lại vì quyến thuộc bảo nhau, Cùng khuyên già trẻ sớm mau tu trì. Khiến mỗi kẻ đồng quy bến giác, Cho mọi người đều thoát sông mê, Dù trong lao khổ dám nề, Đài sen đốt mảnh hương thề nguyền xin... Nguyền xin dốc tưởng tin lời Thánh, Dám đổ cho rảnh rỗi ưu du, Kiếp nầy chẳng chịu lo tu, Còn e kiếp khác công phu lỡ làng. NHỮNG NGÀY TRAI THẬP TRAI: Mỗi tháng mười ngày: Mồng 1, 8, 14, 15, 18, 23, 24, 28, 29, 30 (nếu tháng thiếu thì kể cả ngày 27). LỤC TRAI: Mỗi tháng sáu ngày: Mồng 8, 14, 15, 23, 29, 30. TỨ TRAI: Mỗi tháng bốn ngày: Mồng 1, 14, 15, 30. NHỊ TRAI: Mỗi tháng hai ngày: Mồng 1, 15. TAM NGOẠT TRAI: Một năm 3 tháng: Tháng Giêng, Tháng Bảy, Tháng Mười. Những ngày trai không nên dùng các món gia vị như: hành, hẹ, tỏi, nén, xa cừ (một loại gia vị ở Ấn Độ) v.v..., người tu hành ăn các món này thì tụng kinh trì chú không linh nghiệm, khêu gợi dục tình, và sanh thêm các tánh hung dữ.
MỞ PDF GỐC 144 TRANGTẢI PDF GỐC