
Kinh Dành Cho Khóa Tu Chư Ni
Thực tập Thiền Tứ Niệm Xứ – Vipassana · Chùa Địa Tạng · Lưu hành nội bộ
Mục lục bản văn · 137 mục
- 1. 22. KINH ĐẠI NIỆM XỨ (MAHĀSATIPAṬṬHĀNA SUTTA)
- 2. I. QUÁN THÂN
- 3. II. QUÁN THỌ
- 4. III. QUÁN TÂM
- 5. IV. QUÁN PHÁP
- 6. V. BỐN SỰ THẬT
- 7. VI. KẾT LUẬN KINH ĐẠI NIỆM XỨ
- 8. 16. KINH ĐẠI BÁT-NIẾT-BÀN (MAHĀPARINIBBĀNA SUTTA) – TRÍCH TỤNG PHẨM II–IV
- 9. I. KOTIGAMA – BỐN THÁNH ĐẾ VÀ GIỚI, ĐỊNH, TUỆ
- 10. II. NĀDIKA – PHÁP KÍNH
- 11. III. VESĀLI – CHÁNH NIỆM, TỈNH GIÁC; AMBAPĀLĪ VÀ LICCHAVI
- 12. IV. BELUVAGĀMA – BỆNH NẶNG VÀ LỜI DẠY TỰ NƯƠNG TỰA
- 13. V. TỤNG PHẨM III – NHỮNG PHÁP CẦN TU TẬP
- 14. VI. BỐN ĐẠI GIÁO PHÁP
- 15. VII. PĀVĀ – BỮA ĂN CỦA THỢ SẮT CUNDA
- 16. VIII. PUKKUSA – HAI ÁO KIM SẮC
- 17. IX. LỜI DẶN VỀ CUNDA
- 18. 2. KINH TẤT CẢ CÁC LẬU HOẶC (SABBĀSAVA SUTTA)
- 19. 2.1 CÁC LẬU HOẶC PHẢI DO TRI KIẾN ĐƯỢC ĐOẠN TRỪ
- 20. 2.2 CÁC LẬU HOẶC PHẢI DO PHÒNG HỘ ĐƯỢC ĐOẠN TRỪ
- 21. 2.3 CÁC LẬU HOẶC PHẢI DO THỌ DỤNG ĐƯỢC ĐOẠN TRỪ
- 22. 2.4 CÁC LẬU HOẶC PHẢI DO KHAM NHẪN ĐƯỢC ĐOẠN TRỪ
- 23. 2.5 CÁC LẬU HOẶC PHẢI DO TRÁNH NÉ ĐƯỢC ĐOẠN TRỪ
- 24. 2.6 CÁC LẬU HOẶC PHẢI DO TRỪ DIỆT ĐƯỢC ĐOẠN TRỪ
- 25. 2.7 CÁC LẬU HOẶC PHẢI DO TU TẬP ĐƯỢC ĐOẠN TRỪ
- 26. 7. KINH VÍ DỤ TẤM VẢI (VATTHŪPAMA SUTTA)
- 27. I. CÁC CẤU UẾ CỦA TÂM – VÍ DỤ TẤM VẢI
- 28. II. TÍN TÂM BẤT ĐỘNG – HỶ, KHINH AN, LẠC VÀ ĐỊNH
- 29. III. TỪ · BI · HỶ · XẢ VÀ TÂM GIẢI THOÁT
- 30. 8. KINH ĐOẠN GIẢM (SALLEKHA SUTTA)
- 31. I. SỞ KIẾN VÀ CÁCH ĐOẠN TRỪ
- 32. II. CÁC CHỨNG ĐẮC KHÔNG GỌI LÀ ĐOẠN GIẢM
- 33. III. ĐOẠN GIẢM – 46 PHÁP
- 34. IV. KHỞI TÂM
- 35. V. TỪ BỎ – ĐỐI TRỊ
- 36. VI. HƯỚNG THƯỢNG
- 37. VII. PHÁP MÔN GIẢI THOÁT – KẾT LUẬN
- 38. 16. KINH TÂM HOANG VU (CETOKHILA SUTTA)
- 39. I. NĂM TÂM HOANG VU CHƯA ĐƯỢC DIỆT TRỪ
- 40. II. NĂM TÂM TRIỀN PHƯỢC CHƯA ĐƯỢC ĐOẠN TẬN
- 41. III. NĂM TÂM HOANG VU ĐÃ ĐƯỢC DIỆT TRỪ
- 42. IV. NĂM TÂM TRIỀN PHƯỢC ĐÃ ĐƯỢC ĐOẠN TẬN
- 43. V. BỐN NHƯ Ý TÚC VÀ NỖ LỰC
- 44. VI. VÍ DỤ TRỨNG GÀ – KẾT LUẬN
- 45. 19. KINH SONG TẦM (DVEDHĀVITAKKA SUTTA)
- 46. I. HAI NHÓM TẦM – DỤC, SÂN, HẠI VÀ LY DỤC, VÔ SÂN, BẤT HẠI
- 47. II. TÂM NGHIÊNG VỀ ĐIỀU ĐƯỢC SUY TƯ NHIỀU
- 48. III. TINH TẤN VÀ BỐN THIỀN
- 49. IV. TÚC MẠNG MINH VÀ THIÊN NHÃN MINH
- 50. V. LẬU TẬN MINH
- 51. VI. VÍ DỤ CON ĐƯỜNG AN ỔN – KẾT LUẬN
- 52. 20. KINH AN TRÚ TẦM (VITAKKASAṆṬHĀNA SUTTA)
- 53. I. ĐỔI SANG MỘT TƯỚNG KHÁC LIÊN HỆ ĐẾN THIỆN
- 54. II. QUÁN SÁT SỰ NGUY HIỂM CỦA BẤT THIỆN TẦM
- 55. III. KHÔNG NHỚ ĐẾN, KHÔNG TÁC Ý ĐẾN CÁC TẦM ẤY
- 56. IV. TÁC Ý HÀNH TƯỚNG VÀ AN TRÚ CỦA TÂM
- 57. V. NGHIẾN RĂNG, DÁN LƯỠI LÊN NÓC HỌNG, LẤY TÂM CHẾ NGỰ TÂM
- 58. VI. KẾT LUẬN – LÀM CHỦ CÁC TẦM
- 59. 28. ĐẠI KINH DỤ DẤU CHÂN VOI (MAHĀHATTHIPADOPAMA SUTTA)
- 60. I. BỐN THÁNH ĐẾ VÀ VÍ DỤ DẤU CHÂN VOI
- 61. II. ĐỊA GIỚI – NỘI GIỚI, NGOẠI GIỚI VÀ KHAM NHẪN
- 62. III. THỦY GIỚI
- 63. IV. HỎA GIỚI
- 64. V. PHONG GIỚI
- 65. VI. SÁU CĂN, SÁU TRẦN VÀ NĂM THỦ UẨN
- 66. VII. DUYÊN KHỞI – THẤY PHÁP VÀ KẾT LUẬN
- 67. 38. ĐẠI KINH ĐOẠN TẬN ÁI (MAHĀTAṆHĀSAṄKHAYA SUTTA)
- 68. I. TÀ KIẾN CỦA TỶ-KHEO SĀTI VỀ THỨC
- 69. II. THỨC SANH DO DUYÊN – GỌI TÊN TÙY DUYÊN
- 70. III. CÁC CÂU HỎI VỀ SANH VẬT – VƯỢT QUA NGHI HOẶC
- 71. IV. THỨC ĂN VÀ DUYÊN KHỞI THEO CHIỀU THUẬN
- 72. V. DUYÊN KHỞI THEO CHIỀU NGHỊCH
- 73. VI. TÓM LƯỢC VỀ DUYÊN
- 74. VII. BA SỰ HÒA HỢP – THỌ THAI VÀ LỚN LÊN
- 75. VIII. TIẾP TỤC LUÂN HỒI DO THAM ÁI
- 76. IX. ĐOẠN TẬN LUÂN HỒI – LỘ TRÌNH TU TẬP
- 77. X. ĐOẠN TẬN ÁI QUA SÁU CĂN – KẾT LUẬN
- 78. 40. TIỂU KINH XÓM NGỰA (CŪḶA-ASSAPURA SUTTA)
- 79. I. DANH XƯNG SA-MÔN VÀ PHÁP MÔN XỨNG ĐÁNG BẬC SA-MÔN
- 80. II. ĐOẠN TRỪ CÁC CẤU UẾ CỦA TÂM
- 81. III. TỪ · BI · HỶ · XẢ – QUẢNG ĐẠI, VÔ BIÊN
- 82. IV. VÍ DỤ HỒ NƯỚC TRONG SÁNG
- 83. V. XUẤT GIA VÌ THẤY LỢI ÍCH CỦA PHÁP – KẾT LUẬN
- 84. 62. ĐẠI KINH GIÁO GIỚI LA-HẦU-LA (MAHĀ RĀHULOVĀDA SUTTA)
- 85. I. QUÁN NĂM UẨN: KHÔNG PHẢI CỦA TA, KHÔNG PHẢI LÀ TA
- 86. II. ĐỊA · THỦY · HỎA · PHONG · HƯ KHÔNG GIỚI
- 87. III. TU TẬP TÂM NHƯ ĐẤT · NƯỚC · LỬA · GIÓ · HƯ KHÔNG
- 88. IV. TỪ · BI · HỶ · XẢ · BẤT TỊNH · VÔ THƯỜNG
- 89. V. NIỆM HƠI THỞ – THÂN VÀ CẢM GIÁC
- 90. VI. NIỆM HƠI THỞ – TÂM VÀ CÁC PHÁP QUÁN
- 91. VII. KẾT LUẬN – HƠI THỞ TỐI HẬU ĐƯỢC GIÁC TRI
- 92. 67. KINH CĀTUMĀ (CĀTUMĀ SUTTA)
- 93. I. ĐẠI CHÚNG ỒN ÀO – THẾ TÔN CHO CÁC TỶ-KHEO LUI
- 94. II. DÂN SĀKYA VÀ PHẠM THIÊN SAHAMPATI THỈNH CẦU
- 95. III. XÁ-LỢI-PHẤT VÀ MỤC-KIỀN-LIÊN ĐƯỢC HỎI
- 96. IV. BỐN ĐIỀU ĐÁNG SỢ KHI XUỐNG NƯỚC
- 97. V. SỢ HÃI VỀ SÓNG VÀ CÁ SẤU
- 98. VI. SỢ HÃI VỀ NƯỚC XOÁY
- 99. VII. SỢ HÃI VỀ CÁ DỮ – KẾT LUẬN
- 100. 75. KINH MĀGANDIYA (MĀGANDIYA SUTTA)
- 101. I. “SA-MÔN GOTAMA LÀ NGƯỜI PHÁ HOẠI SỰ SỐNG”
- 102. II. DỤC LẠC TRƯỚC XUẤT GIA VÀ SAU KHI ĐOẠN DỤC
- 103. III. VÍ DỤ NGƯỜI BỆNH CÙI
- 104. IV. NIẾT-BÀN – KHÔNG BỆNH, AN ỔN
- 105. V. MẮT TRÍ TUỆ VÀ CHÁNH PHÁP
- 106. VI. ĐOẠN TẬN CHẤP THỦ – ĐOẠN TẬN KHỔ
- 107. VII. KẾT LUẬN
- 108. 100. KINH SAṄGĀRAVA (SAṄGĀRAVA SUTTA)
- 109. I. CUỘC GẶP SAṄGĀRAVA – BA HẠNG SA-MÔN, BÀ-LA-MÔN
- 110. II. TỪ ĐỜI SỐNG TẠI GIA ĐẾN XUẤT GIA TÌM ĐẠO
- 111. III. ĀḶĀRA KĀLĀMA – PHÁP CHƯA ĐƯA ĐẾN GIÁC NGỘ
- 112. IV. UDDAKA RĀMAPUTTA – PHÁP CHƯA ĐƯA ĐẾN GIÁC NGỘ
- 113. V. BA VÍ DỤ CÂY GỖ – ĐIỀU KIỆN ĐỂ CHỨNG TRI
- 114. VI. KHỔ HẠNH CỰC ĐOAN – NỖ LỰC KHÔNG ĐƯA ĐẾN GIẢI THOÁT
- 115. VII. TỪ BỎ ÉP XÁC – BỐN THIỀN VÀ BA MINH
- 116. VIII. CÂU HỎI VỀ CHƯ THIÊN – SAṄGĀRAVA QUY Y
- 117. 107. KINH GAṆAKA MOGGALLĀNA (GAṆAKAMOGGALLĀNA SUTTA)
- 118. I. TUẦN TỰ HỌC TẬP – NHƯ NGƯỜI LUYỆN NGỰA
- 119. II. HỘ TRÌ CĂN · TIẾT ĐỘ ĂN UỐNG · TỈNH GIÁC
- 120. III. VIỄN LY · NĂM TRIỀN CÁI · BỐN THIỀN
- 121. IV. HỌC VÔ THƯỢNG · A-LA-HÁN · NGƯỜI CHỨNG VÀ KHÔNG CHỨNG
- 122. V. VÍ DỤ CON ĐƯỜNG ĐẾN RĀJAGAHA
- 123. VI. AI KHÔNG THỂ SỐNG CHUNG – AI SỐNG HÒA HỢP VỚI THẾ TÔN
- 124. 130. KINH THIÊN SỨ (DEVADŪTA SUTTA)
- 125. I. THIÊN SỨ THỨ NHẤT VÀ THỨ HAI – TRẺ SƠ SINH, NGƯỜI GIÀ
- 126. II. THIÊN SỨ THỨ BA, THỨ TƯ, THỨ NĂM – NGƯỜI BỆNH, KẺ BỊ HÀNH HÌNH, NGƯỜI CHẾT
- 127. III. NGHIỆP THUỘC VỀ CHÍNH MÌNH
- 128. IV. CÁC HÌNH PHẠT Ở ĐỊA NGỤC
- 129. V. ĐẠI ĐỊA NGỤC
- 130. VI. CÁC ĐỊA NGỤC PHỤ – PHÂN NHƠ, TRO NÓNG, RỪNG GƯƠM, SÔNG TRO NÓNG
- 131. VII. VUA YAMA SUY NGHĨ VỀ CHÁNH PHÁP – KẾT LUẬN
- 132. 152. KINH CĂN TU TẬP (INDRIYABHĀVANĀ SUTTA)
- 133. I. VÔ THƯỢNG CĂN TU TẬP – KHẢ Ý, BẤT KHẢ Ý VÀ XẢ
- 134. II. NĂM CĂN – MẮT, TAI, MŨI, LƯỠI, THÂN
- 135. III. ĐẠO LỘ CỦA VỊ HỮU HỌC
- 136. IV. BẬC THÁNH CÓ CÁC CĂN ĐƯỢC TU TẬP
- 137. V. LỜI GIÁO HUẤN – KẾT LUẬN
22. KINH ĐẠI NIỆM XỨ (MAHĀSATIPAṬṬHĀNA SUTTA)
Tôi nghe như vầy. Một thời, Thế Tôn ở xứ Kuru (Câu-lâu), tại Kammāsadhamma (Kiềm-ma-sắt-đàm), đô thị của xứ Kuru. Rồi Thế Tôn gọi các vị Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. Các Tỷ-kheo trả lời Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn”. Thế Tôn nói như sau:
Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất, đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu bi, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Đó là Bốn Niệm Xứ.
Thế nào là bốn? Này các Tỷ-kheo, ở đây vị Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời.
I. QUÁN THÂN
Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân? Ở đây, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng, an trú chánh niệm trước mặt. Chánh niệm, vị ấy thở vô; chánh niệm, vị ấy thở ra. Thở vô dài, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở vô dài”; hay thở ra dài, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở ra dài”. Thở vô ngắn, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở vô ngắn”; hay thở ra ngắn, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở ra ngắn”. “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập; “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập; “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.
Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi đi, Tỷ-kheo tuệ tri: “Tôi đi”; hay khi đứng, tuệ tri: “Tôi đứng”; hay khi ngồi, tuệ tri: “Tôi ngồi”; hay khi nằm, tuệ tri: “Tôi nằm”. Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy biết thân như thế ấy. Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân, quán thân trên ngoại thân, quán thân trên nội thân và ngoại thân; quán tánh sanh khởi, tánh diệt tận, tánh sanh diệt trên thân; sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi bước tới, bước lui, biết rõ việc mình đang làm; khi ngó tới, ngó lui, biết rõ việc mình đang làm; khi co tay, duỗi tay, biết rõ việc mình đang làm; khi mang y kép, bình bát, thượng y, biết rõ việc mình đang làm; khi ăn, uống, nhai, nếm, biết rõ việc mình đang làm; khi đại tiện, tiểu tiện, biết rõ việc mình đang làm; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, biết rõ việc mình đang làm.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt: “Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da; thịt, gân, xương, tủy, thận; tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi; ruột, màng ruột, bao tử, phân; mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ; nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mũi, nước ở khớp xương, nước tiểu”.
Này các Tỷ-kheo, cũng như một bao đồ, hai đầu trống đựng đầy các loại hột như gạo, lúa, đậu xanh, đậu lớn, mè, gạo đã xay; một người có mắt đổ các hột ấy ra và quán sát: “Đây là hột gạo, đây là hột lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu lớn, đây là mè, đây là hột lúa đã xay”. Cũng vậy, vị Tỷ-kheo quán sát thân này từ dưới bàn chân trở lên, từ trên đảnh tóc trở xuống, bao bọc bởi da, chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát thân này về vị trí các giới và sự sắp đặt các giới: “Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại”. Này các Tỷ-kheo, như một người đồ tể thiện xảo hay đệ tử của một người đồ tể giết một con bò, ngồi cắt chia từng phần tại ngã tư đường. Cũng vậy, vị Tỷ-kheo quán sát thân này về vị trí các giới và sự sắp đặt các giới: “Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại”.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa, một ngày, hai ngày hay ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra; vị ấy quán thân mình như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy”.
Lại nữa, vị ấy như thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa, bị các loài quạ ăn, diều hâu ăn, chim kên ăn, chó ăn, giả can ăn hay bị các loài côn trùng ăn; vị ấy quán thân mình: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy”.
Lại nữa, vị ấy như thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa chỉ còn bộ xương liên kết với nhau, còn dính thịt và máu; hay chỉ còn bộ xương liên kết với nhau, không còn dính thịt nhưng còn dính máu; hay chỉ còn bộ xương liên kết với nhau, không còn dính thịt, không còn dính máu; hay chỉ còn xương rời rạc, rải rác chỗ này chỗ kia: ở đây là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở đây là xương sống, ở đây là xương đầu. Vị ấy quán thân mình: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy”.
Lại nữa, vị ấy như thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa chỉ còn toàn xương trắng màu vỏ ốc; hay chỉ còn một đống xương lâu hơn một năm; hay chỉ còn xương thối thành bột. Vị ấy quán thân mình: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy”.
II. QUÁN THỌ
Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán thọ trên các thọ? Ở đây, Tỷ-kheo khi cảm giác lạc thọ, biết rằng: “Tôi cảm giác lạc thọ”; khi cảm giác khổ thọ, biết rằng: “Tôi cảm giác khổ thọ”; khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ, biết rằng: “Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ”. Khi cảm giác lạc thọ thuộc vật chất, biết rằng: “Tôi cảm giác lạc thọ thuộc vật chất”; khi cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất, biết rằng: “Tôi cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất”. Khi cảm giác khổ thọ thuộc vật chất, biết rằng: “Tôi cảm giác khổ thọ thuộc vật chất”; khi cảm giác khổ thọ không thuộc vật chất, biết rằng: “Tôi cảm giác khổ thọ không thuộc vật chất”. Khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất, biết rằng: “Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất”; khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ không thuộc vật chất, biết rằng: “Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ không thuộc vật chất”.
Như vậy vị ấy sống quán thọ trên các nội thọ, quán thọ trên các ngoại thọ, quán thọ trên các nội thọ và ngoại thọ; quán tánh sanh khởi, tánh diệt tận, tánh sanh diệt trên các thọ; sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thọ trên các thọ.
III. QUÁN TÂM
Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán tâm trên tâm? Ở đây, Tỷ-kheo với tâm có tham, tuệ tri: “Tâm có tham”; với tâm không tham, tuệ tri: “Tâm không tham”. Với tâm có sân, tuệ tri: “Tâm có sân”; với tâm không sân, tuệ tri: “Tâm không sân”. Với tâm có si, tuệ tri: “Tâm có si”; với tâm không si, tuệ tri: “Tâm không si”. Với tâm thâu nhiếp, tuệ tri: “Tâm được thâu nhiếp”; với tâm tán loạn, tuệ tri: “Tâm tán loạn”. Với tâm trở thành quảng đại, tuệ tri: “Tâm trở thành quảng đại”; với tâm không trở thành quảng đại, tuệ tri: “Tâm không trở thành quảng đại”. Với tâm có tâm khác thắng hơn, tuệ tri: “Tâm có tâm khác thắng hơn”; với tâm không có tâm khác thắng hơn, tuệ tri: “Tâm không có tâm khác thắng hơn”. Với tâm có định, tuệ tri: “Tâm có định”; với tâm không định, tuệ tri: “Tâm không định”. Với tâm giải thoát, tuệ tri: “Tâm có giải thoát”; với tâm không giải thoát, tuệ tri: “Tâm không giải thoát”.
Như vậy vị ấy sống quán tâm trên nội tâm, quán tâm trên ngoại tâm, quán tâm trên nội tâm và ngoại tâm; quán tánh sanh khởi, tánh diệt tận, tánh sanh diệt trên tâm; sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán tâm trên tâm.
IV. QUÁN PHÁP
Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp? Ở đây, Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái? Ở đây, khi nội tâm có tham dục, Tỷ-kheo tuệ tri: “Nội tâm tôi có tham dục”; khi nội tâm không có tham dục, tuệ tri: “Nội tâm tôi không có tham dục”. Và với tham dục chưa sanh, nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; với tham dục đã sanh, nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với tham dục đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.
Cũng vậy, khi nội tâm có sân hận, hôn trầm thụy miên, trạo hối hay nghi, vị ấy tuệ tri trạng thái ấy; khi không có, vị ấy cũng tuệ tri; biết sự sanh khởi của pháp chưa sanh, sự đoạn diệt của pháp đã sanh và sự không sanh khởi trở lại trong tương lai của pháp đã đoạn diệt.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm thủ uẩn. Vị ấy tuệ tri: “Đây là sắc, đây là sắc sanh, đây là sắc diệt; đây là thọ, đây là thọ sanh, đây là thọ diệt; đây là tưởng, đây là tưởng sanh, đây là tưởng diệt; đây là hành, đây là hành sanh, đây là hành diệt; đây là thức, đây là thức sanh, đây là thức diệt”.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với sáu nội ngoại xứ. Vị ấy tuệ tri con mắt và các sắc; do duyên hai pháp này, kiết sử sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; với kiết sử chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri; với kiết sử đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri; với kiết sử đã đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri. Cũng vậy đối với tai và tiếng, mũi và hương, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và pháp.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bảy Giác Chi. Khi nội tâm có Niệm giác chi, vị ấy tuệ tri: “Nội tâm tôi có Niệm giác chi”; khi nội tâm không có Niệm giác chi, vị ấy tuệ tri: “Nội tâm tôi không có Niệm giác chi”; và với Niệm giác chi chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri; với Niệm giác chi đã sanh nay được tu tập viên mãn, vị ấy tuệ tri. Cũng vậy đối với Trạch pháp giác chi, Tinh tấn giác chi, Hỷ giác chi, Khinh an giác chi, Định giác chi, Xả giác chi.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bốn Sự Thật. Vị ấy như thật tuệ tri: “Đây là khổ”; như thật tuệ tri: “Đây là khổ tập”; như thật tuệ tri: “Đây là khổ diệt”; như thật tuệ tri: “Đây là con đường đưa đến khổ diệt”.
V. BỐN SỰ THẬT
Này các Tỷ-kheo, thế nào là Khổ Thánh đế? Sanh là khổ, già là khổ, chết là khổ; sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ; cầu không được là khổ; tóm lại năm thủ uẩn là khổ.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là sanh? Mỗi mỗi hạng chúng sanh, trong từng giới loại, sự xuất sanh, xuất sanh, xuất thành, tái sanh, sự xuất hiện các uẩn, sự hoạch đắc các căn. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là sanh.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là già? Mỗi mỗi hạng chúng sanh, trong từng giới loại, sự niên lão, sự hủy hoại, răng gãy, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ rút ngắn, các căn hủy hoại. Này các Tỷ-kheo, như vậy là già.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là chết? Mỗi mỗi hạng chúng sanh, trong từng giới loại, sự tạ thế, sự từ trần, thân hoại, sự diệt vong, sự chết, sự tử vong, thời đã đến, các uẩn đã tận diệt, sự vất bỏ tử thi. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là chết.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là sầu? Với những ai gặp phải tai nạn này hay tai nạn khác; với những ai cảm thọ sự đau khổ này hay sự đau khổ khác; sự sầu, sự ưu, sự ưu sầu, trạng thái ưu sầu, trạng thái sầu khổ. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là sầu.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là bi? Với những ai gặp phải tai nạn này hay tai nạn khác; với những ai cảm thọ sự đau khổ này hay sự đau khổ khác; sự bi ai, sự bi thảm, sự than vãn, sự than khóc, sự bi thảm, sự thống khổ. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là bi.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ? Sự đau khổ về thân, sự không sảng khoái về thân, sự đau khổ do thân cảm thọ, sự không sảng khoái do thân cảm thọ. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là khổ.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là ưu? Sự đau khổ về tâm, sự không sảng khoái về tâm, sự đau khổ do tâm cảm thọ, sự không sảng khoái do tâm cảm thọ. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là ưu.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là não? Với những ai gặp phải tai nạn này hay tai nạn khác; với những ai cảm thọ sự đau khổ này hay sự đau khổ khác; sự áo não, sự bi não, sự thất vọng, sự tuyệt vọng. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là não.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là cầu bất đắc khổ? Chúng sanh bị sanh chi phối, khởi sự mong cầu: “Mong rằng ta khỏi bị sanh chi phối, mong rằng ta khỏi đi đến tái sanh”. Lời cầu mong ấy không được thành tựu. Chúng sanh bị già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não chi phối cũng khởi sự mong cầu tương tự, nhưng lời cầu mong ấy không được thành tựu. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là cầu bất đắc khổ.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là năm thủ uẩn? Đó là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là năm thủ uẩn. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là Khổ Thánh đế.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là Khổ tập Thánh đế? Chính là ái này đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia. Như dục ái, hữu ái, phi hữu ái.
Này các Tỷ-kheo, ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đâu, khi an trú thì an trú ở đâu? Ở đời, cái gì khả ái, khả hỷ thì ái này sanh khởi ở đấy và an trú ở đấy. Con mắt khả ái, khả hỷ; các sắc khả ái, khả hỷ; nhãn thức khả ái, khả hỷ; nhãn xúc khả ái, khả hỷ; do duyên nhãn xúc khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, cảm thọ ấy khả ái, khả hỷ. Cũng vậy đối với tai và các tiếng, mũi và các hương, lưỡi và các vị, thân và các xúc, ý và các pháp, ý thức, ý xúc và các cảm thọ do ý xúc sanh.
Lại nữa, các tưởng về sắc, tiếng, hương, vị, xúc, pháp; các tư về sắc, tiếng, hương, vị, xúc, pháp; các ái về sắc, tiếng, hương, vị, xúc, pháp; các tầm về sắc, tiếng, hương, vị, xúc, pháp; các tứ về sắc, tiếng, hương, vị, xúc, pháp đều là những chỗ khả ái, khả hỷ; ái sanh khởi và an trú tại đó. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là Khổ tập Thánh đế.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là Khổ diệt Thánh đế? Đó là sự diệt tận không còn luyến tiếc tham ái ấy, sự xả ly, sự khí xả, sự giải thoát, sự vô nhiễm đối với tham ái.
Này các Tỷ-kheo, ái này khi xả ly thì xả ly ở đâu, khi diệt trừ thì diệt trừ ở đâu? Ở đời, cái gì khả ái, khả hỷ, thì ái này khi xả ly được xả ly ở đấy, khi diệt trừ được diệt trừ ở đấy. Con mắt, các sắc, nhãn thức, nhãn xúc và cảm thọ do nhãn xúc sanh; tai và tiếng; mũi và hương; lưỡi và vị; thân và xúc; ý và pháp, ý thức, ý xúc và cảm thọ do ý xúc sanh — ở nơi nào khả ái, khả hỷ thì tham ái khi xả ly được xả ly ở nơi ấy, khi diệt trừ được diệt trừ ở nơi ấy.
Cũng vậy, các tưởng, các tư, các ái, các tầm, các tứ về sắc, tiếng, hương, vị, xúc và pháp: ở nơi nào khả ái, khả hỷ, tham ái được xả ly và được diệt trừ ở nơi ấy. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là Khổ diệt Thánh đế.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường đưa đến Khổ diệt Thánh đế? Đó là Thánh đạo Tám ngành: Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là Chánh tri kiến? Tri kiến về khổ, tri kiến về khổ tập, tri kiến về khổ diệt, tri kiến về con đường đưa đến khổ diệt. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là Chánh tri kiến.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là Chánh tư duy? Tư duy ly dục, tư duy vô sân, tư duy vô hại. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là Chánh tư duy.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là Chánh ngữ? Từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là Chánh ngữ.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là Chánh nghiệp? Từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là Chánh nghiệp.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là Chánh mạng? Ở đây vị Thánh đệ tử từ bỏ tà mạng, sống bằng chánh mạng. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là Chánh mạng.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là Chánh tinh tấn? Ở đây vị Tỷ-kheo đối với các ác, bất thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn không cho sanh, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, trì chí; đối với các ác, bất thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn đoạn trừ; đối với các thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn làm cho sanh; đối với các thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn làm cho an trú, không cho quên mất, làm cho tăng trưởng, phát triển, viên mãn. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là Chánh tinh tấn.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là Chánh niệm? Ở đây vị Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán thọ trên các thọ; sống quán tâm trên tâm; sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là Chánh niệm.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là Chánh định? Ở đây vị Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ; diệt tầm, diệt tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm; ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là “xả niệm lạc trú”, chứng và trú Thiền thứ ba; xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là Chánh định.
VI. KẾT LUẬN KINH ĐẠI NIỆM XỨ
Này các Tỷ-kheo, vị nào tu tập Bốn Niệm Xứ này như vậy trong bảy năm, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại; hai là nếu còn hữu dư y, chứng quả Bất hoàn. Không cần gì bảy năm; sáu năm, năm năm, bốn năm, ba năm, hai năm, một năm; không cần gì một năm, bảy tháng, sáu tháng, năm tháng, bốn tháng, ba tháng, hai tháng, một tháng, nửa tháng; không cần gì nửa tháng, vị nào tu tập Bốn Niệm Xứ này trong bảy ngày, vị ấy có thể chứng một trong hai quả: một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại; hai là nếu còn hữu dư y, chứng quả Bất hoàn.
Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu bi, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Đó là Bốn Niệm Xứ.
Thế Tôn thuyết pháp đã xong. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
16. KINH ĐẠI BÁT-NIẾT-BÀN (MAHĀPARINIBBĀNA SUTTA) – TRÍCH TỤNG PHẨM II–IV
Phần dưới đây là những đoạn được tuyển in trong cuốn “Kinh Dành Cho Khóa Tu Chư Ni”, bắt đầu từ Tụng phẩm II, không phải toàn văn trọn bộ DN 16.
I. KOTIGAMA – BỐN THÁNH ĐẾ VÀ GIỚI, ĐỊNH, TUỆ
Rồi Thế Tôn gọi Tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Kotigāma”. “Xin vâng, bạch Thế Tôn”, Tôn giả Ānanda đáp ứng Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Kotigāma. Tại đây, Thế Tôn ở tại Kotigāma.
Thế Tôn nói với các vị Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Bốn Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Người. Bốn Thánh đế ấy là gì? Chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Thánh đế, Khổ Tập Thánh đế, Khổ Diệt Thánh đế và con đường đưa đến Khổ Diệt Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Người”.
“Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Thánh đế, Khổ Tập Thánh đế, Khổ Diệt Thánh đế và con đường đưa đến Khổ Diệt Thánh đế, nên tham ái đối với hiện hữu được đoạn trừ, tham ái đưa đến một đời sống khác được trừ diệt; nay không còn hậu hữu nữa”.
Đây là Giới, đây là Định, đây là Tuệ. Định cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Định sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu, tri kiến lậu, vô minh lậu.
II. NĀDIKA – PHÁP KÍNH
Rồi Thế Tôn, sau khi ở Kotigāma cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo Tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Nādika”. “Xin vâng, bạch Thế Tôn”. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Nādika, tại ngôi nhà gạch Giñjakāvasatha.
Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn hỏi hậu thế trạng thái của các cư sĩ tại Nādika đã mệnh chung như Nanda, Salha, Sudatta, Sujāta, Kakudha, Kālinga, Nikata, Kaṭissabha, Tuṭṭha, Santuṭṭha, Bhadda, Subhadda và những người khác. Thế Tôn lần lượt tuyên bố quả chứng của họ: người đoạn tận các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ và an trú ngay hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát; người đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, hóa sanh và từ đó nhập Niết-bàn, không còn trở lui đời này; người đoạn ba kiết sử, làm giảm thiểu tham, sân, si, chứng quả Nhất lai; người đoạn ba kiết sử, chứng quả Dự lưu, nhất định không còn đọa ác đạo, đạt đến Chánh giác.
Rồi Thế Tôn dạy: “Này Ānanda, thật không có gì lạ, vấn đề con người phải mệnh chung. Nhưng mỗi lần có người mệnh chung lại đến hỏi Như Lai về vấn đề này thời làm phiền nhiễu Như Lai. Này Ānanda, vì vậy Ta sẽ giảng Pháp kính, nhờ pháp kính ấy, vị Thánh đệ tử, sau khi chứng đạt pháp kính này, nếu muốn sẽ tự tuyên bố về mình: Đối với ta, sẽ không còn địa ngục, không còn bàng sanh, ngạ quỷ, đọa xứ, ác thú. Ta đã chứng quả Dự lưu, nhất định không còn đọa ác đạo, sẽ đạt Chánh giác”.
Và này Ānanda, thế nào là pháp kính? Vị Thánh đệ tử có lòng tin bất động đối với Phật: “Đây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Vị ấy có lòng tin bất động đối với Pháp: “Chánh pháp được Thế Tôn khéo giảng, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu”. Vị ấy có lòng tin bất động đối với chúng Tăng: “Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân trí tu hành, chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân chánh tu hành, đúng pháp tu hành; tức là bốn đôi tám vị. Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở trên đời”. Và vị ấy đầy đủ giới hạnh được bậc Thánh ái mộ, không bị bể vụn, không bị sứt mẻ, không bị ô nhiễm, không bị uế nhiễm, đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị ảnh hưởng bởi đời sau, hướng đến định tĩnh.
III. VESĀLI – CHÁNH NIỆM, TỈNH GIÁC; AMBAPĀLĪ VÀ LICCHAVI
Rồi Thế Tôn, sau khi ở Nādika cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo Tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Vesāli”. “Xin vâng, bạch Thế Tôn”. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Vesāli và trú tại vườn Ambapālī.
Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo, các Người phải sống an trú chánh niệm, tỉnh giác. Đó là lời dạy của Ta cho các Người”. Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo an trú chánh niệm? Ở đây Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi ở trên đời; đối với các cảm thọ, đối với tâm, đối với các pháp cũng như vậy. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là chánh niệm.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo tỉnh giác? Ở đây, Tỷ-kheo tỉnh giác khi đi tới, đi lui; tỉnh giác khi ngó tới, ngó lui; tỉnh giác khi co tay, duỗi tay; khi mang áo Saṅghāti, mang bát, mang y; khi ăn, uống, nhai, nếm; khi đại tiện, tiểu tiện; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, im lặng. Như vậy gọi là tỉnh giác.
Nữ cư sĩ Ambapālī được nghe Thế Tôn đã đến Vesāli và đang ở tại vườn xoài của bà. Bà cho thắng các cỗ xe thù thắng, đi đến chỗ Thế Tôn, xuống xe và đi bộ, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn thuyết pháp, khích lệ, làm cho phấn khởi và làm cho hoan hỷ Ambapālī. Bà thỉnh Thế Tôn cùng chúng Tỷ-kheo ngày mai dùng cơm. Thế Tôn im lặng nhận lời.
Các người Licchavi ở Vesāli được nghe Thế Tôn đến Vesāli, liền thắng các cỗ xe nhiều màu sắc đi đến vườn Ambapālī. Trên đường, các Licchavi gặp Ambapālī. Bà đánh xe và chạm xe với các thanh niên Licchavi. Khi được hỏi, bà nói vừa thỉnh Thế Tôn cùng chúng Tỷ-kheo ngày mai dùng cơm. Các Licchavi xin đổi lời thỉnh ấy lấy một trăm ngàn nhưng Ambapālī không nhận, dầu họ có cho cả Vesāli cùng với lãnh thổ. Các Licchavi búng ngón tay và nói: “Chúng ta bị cô thiếu nữ xoài này đánh bại”.
Các Licchavi đi đến Thế Tôn. Ngài thuyết pháp làm cho họ phấn khởi và hoan hỷ. Họ cũng thỉnh Ngài ngày mai dùng cơm, nhưng Thế Tôn nói đã nhận lời mời của Ambapālī. Hôm sau, Ambapālī cho soạn các món ăn thượng vị, thượng hạng, tự tay hầu Thế Tôn cùng chúng Tỷ-kheo. Sau bữa ăn, bà dâng khu vườn Ambapālī lên chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị thượng thủ. Thế Tôn thuyết pháp, khích lệ, làm cho phấn khởi Ambapālī rồi từ chỗ ngồi đứng dậy và ra về.
IV. BELUVAGĀMA – BỆNH NẶNG VÀ LỜI DẠY TỰ NƯƠNG TỰA
Trong thời gian Thế Tôn ở Vesāli, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo: “Đây là Giới, đây là Định, đây là Tuệ. Định cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Định sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu, tri kiến lậu, vô minh lậu”.
Rồi Thế Tôn đi đến làng Beluva và bảo các Tỷ-kheo hãy an cư mùa mưa xung quanh Vesāli tại chỗ có bạn bè quen thuộc và thân tín; còn Ngài an cư tại làng Beluva. Trong mùa mưa, Thế Tôn mắc một cơn bệnh trầm trọng, những cảm thọ đau đớn, gần như muốn chết. Nhưng Thế Tôn giữ tâm chánh niệm, tỉnh giác, chịu đựng cơn đau ấy, không một chút ta thán. Thế Tôn nghĩ: “Thật không hợp lẽ nếu Ta diệt độ mà không có một lời với các đệ tử hầu cận Ta, không từ biệt chúng Tỷ-kheo. Vậy Ta hãy lấy sức tinh tấn, nhiếp phục cơn bệnh này, duy trì mạng căn và tiếp tục sống”. Và Thế Tôn với sức tinh tấn nhiếp phục bệnh ấy, duy trì mạng căn.
Sau khi lành bệnh, Thế Tôn ra khỏi tịnh xá, ngồi trên ghế đã soạn sẵn trong bóng mát. Tôn giả Ānanda đến đảnh lễ và bạch rằng khi thấy Thế Tôn bệnh hoạn, thân mình yếu ớt như lau sậy, mắt mờ mịt, không thấy rõ phương hướng; nhưng vẫn có chút an ủi rằng Thế Tôn sẽ không diệt độ nếu Ngài chưa có lời di giáo lại cho chúng Tỷ-kheo.
Thế Tôn nói: “Này Ānanda, chúng Tỷ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở Ta? Này Ānanda, Ta đã giảng Chánh pháp, không có phân biệt trong ngoài. Đối với các Pháp, Như Lai không bao giờ là vị Đạo sư còn nắm tay. Này Ānanda, những ai nghĩ rằng: ‘Như Lai là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo’, hay ‘chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Như Lai’, người ấy sẽ có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo. Này Ānanda, Như Lai không nghĩ như vậy. Này Ānanda, Ta nay đã già, đã thành bậc trưởng thượng, đã đến tuổi lâm chung, đã đến tám mươi tuổi. Như cỗ xe đã già mòn, sở dĩ còn chạy được là nhờ dây thắng chằng chịt, cũng vậy thân Như Lai được duy trì sự sống giống như chính nhờ chống đỡ dây chằng. Chỉ trong khi Như Lai không tác ý đến tất cả tướng, với sự diệt trừ một số cảm thọ, chứng và an trú vô tướng tâm định, chính khi ấy thân Như Lai được thoải mái”.
“Vậy nên, này Ānanda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác”. Này Ānanda, vị Tỷ-kheo đối với thân quán thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi ở đời; đối với các cảm thọ, đối với tâm, đối với các pháp cũng vậy. Những ai sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác, những vị ấy là những vị tối thượng trong hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi”.
V. TỤNG PHẨM III – NHỮNG PHÁP CẦN TU TẬP
Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo, nay những pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy cho các Người, các Người phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”.
“Này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy cho các Người phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng? Chính là Bốn Niệm xứ, Bốn Chánh cần, Bốn Thần túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Bồ-đề phần và Tám Thánh đạo phần”.
Thế Tôn nói: “Này các Tỷ-kheo, đây là lời Ta nhắn nhủ các Người. Các hành là vô thường. Hãy tinh tấn lên để tự giải thoát, không lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng nữa, Như Lai sẽ diệt độ”.
VI. BỐN ĐẠI GIÁO PHÁP
Trong thời gian Thế Tôn ở Bhandagāma, Ngài nói: “Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt bốn Pháp mà Ta và các Người lưu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Thế nào là bốn? Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh Giới mà Ta và các Người lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh Định, Thánh Tuệ, Thánh Giải thoát mà Ta và các Người lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Khi Thánh Giới được giác ngộ, Thánh Định được giác ngộ, Thánh Tuệ được giác ngộ, Thánh Giải thoát được giác ngộ, dục ái và hữu ái được đoạn trừ, dẫn đến một đời sống tương lai được dứt sạch, nay không còn một đời sống nào nữa”.
Thế Tôn lại dạy bốn Đại giáo pháp. Nếu có Tỷ-kheo nói: “Này Hiền giả, tôi tự thân nghe từ miệng Thế Tôn, tự thân lãnh thọ, như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Đạo Sư”, các Tỷ-kheo không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói ấy. Không tán thán, không hủy báng, mà phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đối chiếu với Luật. Nếu khi so sánh với Kinh, đối chiếu với Luật, lời ấy không phù hợp, thì kết luận đó chắc chắn không phải lời Thế Tôn và vị Tỷ-kheo ấy thọ giáo sai lầm; hãy từ bỏ. Nếu phù hợp, hãy kết luận chắc chắn đó là lời dạy của Thế Tôn và vị ấy thọ giáo chân chánh.
Đại giáo pháp thứ hai: một Tỷ-kheo nói tự thân nghe và lãnh thọ từ một Tăng chúng có các vị Thượng tọa, các vị thủ chúng. Đại giáo pháp thứ ba: nghe từ nhiều vị Tỷ-kheo kỳ cựu, bậc đa văn, gìn giữ truyền thống, trì pháp, trì luật, trì pháp yếu. Đại giáo pháp thứ tư: nghe từ một vị Tỷ-kheo kỳ cựu, bậc đa văn, gìn giữ truyền thống, trì pháp, trì luật, trì pháp yếu. Trong cả bốn trường hợp, không vội tán thán hay hủy báng; phải so sánh với Kinh và đối chiếu với Luật, rồi mới kết luận lời ấy có phải Chánh pháp, Chánh luật hay không.
Đây là Giới, đây là Định, đây là Tuệ. Định cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Định sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu, tri kiến lậu, vô minh lậu.
VII. PĀVĀ – BỮA ĂN CỦA THỢ SẮT CUNDA
Rồi Thế Tôn đi đến Pāvā và ở tại vườn xoài của Cunda, một người thợ sắt. Thợ sắt Cunda được nghe Thế Tôn đã đến Pāvā và hiện đang ở trong vườn xoài của mình, liền đến đảnh lễ, ngồi xuống một bên. Thế Tôn thuyết pháp, khích lệ, làm cho phấn khởi và hoan hỷ Cunda. Cunda thỉnh Thế Tôn cùng chúng Tỷ-kheo ngày mai dùng cơm và được Thế Tôn im lặng nhận lời.
Cunda cho soạn nhiều món ăn thượng vị, loại cứng và mềm, và nhiều thứ Sūkaramaddava. Khi Thế Tôn đến, Cunda dâng món Sūkaramaddava cho riêng Thế Tôn, còn các món khác dâng cho chúng Tỷ-kheo. Sau bữa ăn, Thế Tôn bảo Cunda chôn phần Sūkaramaddava còn lại vào một lỗ, vì Ngài không thấy một ai trong thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người có thể tiêu hóa được món ăn ấy, trừ Như Lai.
Sau khi dùng cơm của thợ sắt Cunda, Thế Tôn bị nhiễm bệnh nặng, bệnh lỵ huyết, đau đớn gần như đến chết. Nhưng Thế Tôn chánh niệm, tỉnh giác, nhẫn nại chịu đựng cơn bệnh. Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Kusinārā”.
Trên đường, Thế Tôn mệt mỏi và bảo Ānanda xếp áo Saṅghāti để Ngài ngồi. Ngài khát nước, ba lần bảo Ānanda đi lấy nước ở dòng Kakutthā. Lúc đầu Ānanda thưa rằng khoảng năm trăm cỗ xe vừa đi qua làm nước đục, còn sông Kakutthā ở gần đó nước trong, mát, có thể uống. Nhưng khi Ānanda đến con sông nhỏ, nước vốn bị khuấy động bỗng trở thành trong trẻo, sáng lặng, không vẩn đục. Ānanda lấy nước dâng Thế Tôn và Ngài uống.
VIII. PUKKUSA – HAI ÁO KIM SẮC
Lúc bấy giờ Pukkusa, dòng họ Mallā, đệ tử của ngài Āḷāra Kālāma, đang đi trên đường từ Kusinārā đến Pāvā. Pukkusa gặp Thế Tôn, đảnh lễ và bạch về sự trầm tĩnh kỳ diệu của ngài Āḷāra Kālāma. Thế Tôn kể lại những trường hợp một người nhập định sâu đến mức không nghe tiếng đoàn xe đông hay tiếng sét đánh gần đó. Pukkusa tán thán sự thanh tịnh, trong sáng của Như Lai, quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tăng, xin nhận làm đệ tử tại gia từ nay cho đến mạng chung.
Pukkusa sai đem đến hai bộ áo màu kim sắc vàng chói và xin dâng Thế Tôn. Thế Tôn bảo hãy dâng một áo cho Ngài, một áo cho Tôn giả Ānanda. Sau khi Pukkusa đi, Ānanda mặc áo kim sắc cho Thế Tôn và nhận thấy màu da của Thế Tôn sáng chói, làm cho áo kim sắc trở nên lu mờ. Thế Tôn giải thích có hai trường hợp màu da Như Lai hết sức thanh tịnh và sáng chói: đêm Như Lai chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Giác và đêm Như Lai diệt độ, nhập Niết-bàn giới không còn dư y sanh tử nữa.
Thế Tôn cùng chúng Tỷ-kheo đi đến sông Kakutthā, xuống sông tắm và uống nước, rồi đến vườn xoài, bảo Tôn giả Cundaka xếp áo Saṅghāti làm bốn. Ngài nằm xuống phía hông bên mặt như dáng sư tử, hai chân để trên nhau, chánh niệm, tỉnh giác, suy tư và nghĩ đến lúc phải thời.
IX. LỜI DẶN VỀ CUNDA
Thế Tôn dạy Tôn giả Ānanda rằng có thể có người làm cho thợ sắt Cunda hối hận: “Này Hiền giả Cunda, thật không lợi ích cho ngươi, thật tai hại cho ngươi, vì Như Lai dùng bữa ăn cuối cùng từ bạn cúng dường và nhập diệt”. Nếu có ai nói như vậy, Ānanda phải làm cho Cunda hết hối hận: “Này Hiền giả, thật lợi ích cho bạn, thật công đức cho bạn, vì Như Lai dùng bữa ăn cuối cùng do bạn cúng dường và nhập diệt”.
Thế Tôn nói có hai bữa ăn có quả báo lớn hơn các sự cúng dường ăn uống khác: bữa ăn trước khi Như Lai chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Giác và bữa ăn trước khi Như Lai diệt độ, nhập Niết-bàn giới không còn dư y sanh tử. Nhờ hành động ấy, Cunda sẽ được hưởng tuổi thọ, sắc đẹp, an lạc, danh tiếng, thiên giới và uy quyền. Ānanda phải làm cho Cunda hết hối hận.
Rồi Thế Tôn thốt lên bài kệ: “Công đức người bố thí, luôn luôn được tăng trưởng. Trừ được tâm hận thù, không chất chứa, chế ngự; kẻ chí thiện từ bỏ mọi ác hạnh bất thiện, diệt trừ tham, sân, si, tâm giải thoát thanh tịnh”.
2. KINH TẤT CẢ CÁC LẬU HOẶC (SABBĀSAVA SUTTA)
B. TRUNG BỘ KINH (MAJJHIMA NIKĀYA). Bản đánh máy dưới đây bám theo phần tuyển in trong PDF scan của cuốn Kinh Dành Cho Khóa Tu Chư Ni, các trang nội dung 39–43.
2.1 CÁC LẬU HOẶC PHẢI DO TRI KIẾN ĐƯỢC ĐOẠN TRỪ
Này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do tri kiến được đoạn trừ?
Này các Tỷ-kheo, ở đây có kẻ phàm phu ít nghe, không được thấy các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không được thấy các bậc Chơn nhơn, không thuần thục pháp các bậc Chơn nhơn, không tu tập pháp các bậc Chơn nhơn, không tuệ tri các pháp cần phải tác ý, không tuệ tri các pháp không cần phải tác ý; vì này vị không tuệ tri các pháp cần phải tác ý, vì không tuệ tri các pháp không cần phải tác ý nên tác ý các pháp không cần phải tác ý và không tác ý các pháp cần phải tác ý.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp không cần phải tác ý mà vị ấy tác ý? Này các Tỷ-kheo, nghĩa là các pháp do vị ấy tác ý mà dục lậu chưa sanh được sanh khởi, hay dục lậu đã sanh được tăng trưởng; hay hữu lậu chưa sanh được sanh khởi, hay hữu lậu đã sanh được tăng trưởng, hay vô minh lậu chưa sanh được sanh khởi, hay vô minh lậu đã sanh được tăng trưởng. Những pháp ấy là những pháp không cần phải tác ý mà vị ấy tác ý.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp cần phải tác ý mà vị ấy không tác ý? Này các Tỷ-kheo, nghĩa là các pháp do vị ấy tác ý mà dục lậu chưa sanh không sanh khởi, hay dục lậu đã sanh được trừ diệt, hay hữu lậu chưa sanh không sanh khởi, hay hữu lậu đã sanh được trừ diệt, hay vô minh lậu chưa sanh không sanh khởi, hay vô minh lậu đã sanh được trừ diệt. Những pháp ấy là những pháp cần phải tác ý mà các vị ấy không tác ý. Do vị ấy tác ý các pháp không nên tác ý, do vị ấy không tác ý các pháp cần phải tác ý, nên các lậu hoặc chưa sanh được sanh khởi và các lậu hoặc đã sanh được tăng trưởng.
Vị ấy không như lý tác ý như sau: “Ta có mặt trong thời quá khứ, hay ta không có mặt trong thời quá khứ? Ta có mặt trong thời quá khứ như thế nào? Ta có mặt trong thời quá khứ hình vóc như thế nào? Trước kia ta là gì và ta đã có mặt như thế nào trong thời quá khứ? Ta sẽ có mặt trong thời vị lai hay ta sẽ không có mặt trong thời vị lai? Ta sẽ có mặt trong thời vị lai như thế nào? Ta sẽ có mặt trong thời vị lai hình vóc như thế nào? Trước kia ta là gì và ta sẽ có mặt như thế nào trong thời vị lai?” Hay nay vị ấy có nghi ngờ về mình trong thời hiện tại: “Ta có mặt hay ta không có mặt? Ta có mặt như thế nào? Ta có mặt hình vóc như thế nào? Chúng sanh này từ đâu đến? Rồi nó sẽ đi đâu?”.
Với người không như lý tác ý như vậy, một trong sáu tà kiến này khởi lên: “Ta có tự ngã”, tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn; “Ta không có tự ngã”, tà kiến này khởi lên với người ấy như thật như chơn; “Do tự mình, ta tưởng tri ta có tự ngã”, tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn; “Do tự mình, ta tưởng tri ta không có tự ngã”, tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn; “Không do tự mình, ta tưởng tri ta có tự ngã”, tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn; hay tà kiến này khởi lên với người ấy: “Chính tự ngã của ta nói, cảm giác, hưởng thọ quả báo các nghiệp thiện ác đã làm chỗ này, chỗ kia, chính tự ngã ấy của ta là thường trú, thường hằng, hằng tồn, không chuyển biến và sẽ vĩnh viễn tồn tại”. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là tà kiến, kiến trù lâm, kiến hoang vu, kiến hý luận, kiến tranh chấp, kiến kiết phược. Này các Tỷ-kheo, trói buộc bởi kiến kiết sử, kẻ phàm phu ít nghe không được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói kẻ ấy không thoát khỏi khổ đau.
Này các Tỷ-kheo và vị Thánh đệ tử nghe nhiều, được thấy các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh; được thấy các bậc Chơn nhơn, thuần thục pháp các bậc Chơn nhơn, tu tập pháp các bậc Chơn nhơn, tuệ tri các pháp cần phải tác ý, tuệ tri các pháp không cần phải tác ý. Vị này, nhờ tuệ tri các pháp cần phải tác ý, nhờ tuệ tri các pháp không cần phải tác ý, nên không tác ý các pháp không cần phải tác ý và tác ý các pháp cần phải tác ý.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp không cần phải tác ý và vị này không tác ý? Này các Tỷ-kheo, những pháp nào do vị ấy tác ý mà dục lậu chưa sanh được sanh khởi, hay dục lậu đã sanh được tăng trưởng; hay hữu lậu chưa sanh... (như trên)... hay vô minh lậu chưa sanh được khởi, hay vô minh lậu đã sanh được tăng trưởng. Đó là những pháp không nên tác ý và vị ấy không tác ý.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp cần phải tác ý và vị ấy tác ý? Này các Tỷ-kheo, những pháp nào do vị ấy tác ý mà dục lậu chưa sanh không sanh khởi, hay dục lậu đã sanh được trừ diệt, hay hữu lậu chưa sanh... (như trên)... hay vô minh lậu chưa sanh không sanh khởi, hay vô minh lậu đã sanh được trừ diệt, đó là những pháp cần phải tác ý và vị ấy tác ý. Nhờ vị ấy không tác ý các pháp không cần phải tác ý, tác ý các pháp cần phải tác ý nên các lậu hoặc chưa sanh không sanh khởi và các lậu hoặc đã sanh được trừ diệt.
Vị ấy như lý tác ý: “Đây là khổ”, như lý tác ý: “Đây là khổ tập”, như lý tác ý: “Đây là khổ diệt”, như lý tác ý: “Đây là con đường đưa đến khổ diệt”. Nhờ vị ấy tác ý như vậy, ba kiết sử được trừ diệt: thân kiến, nghi, giới cấm thủ. Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do tri kiến được đoạn trừ.
2.2 CÁC LẬU HOẶC PHẢI DO PHÒNG HỘ ĐƯỢC ĐOẠN TRỪ
Này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do phòng hộ được đoạn trừ? Ở đây, có Tỷ-kheo như lý giác sát, sống phòng hộ với sự phòng hộ mắt. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy sống không phòng hộ với sự phòng hộ mắt, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não có thể khởi lên. Nếu sống phòng hộ với sự phòng hộ mắt, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Vị ấy như lý giác sát, sống phòng hộ với sự phòng hộ lỗ tai... (như trên)... sống phòng hộ với sự phòng hộ lỗ mũi... (như trên)... sống phòng hộ với sự phòng hộ lưỡi... (như trên)... sống như lý giác sát phòng hộ với sự phòng hộ thân... (như trên)... sống như lý giác sát phòng hộ với sự phòng hộ ý. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy sống không phòng hộ với sự phòng hộ ý, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có thể khởi lên. Nếu sống phòng hộ ý, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do phòng hộ được đoạn trừ.
2.3 CÁC LẬU HOẶC PHẢI DO THỌ DỤNG ĐƯỢC ĐOẠN TRỪ
Này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do thọ dụng được đoạn trừ? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo như lý giác sát, thọ dụng y phục, chỉ để ngăn ngừa lạnh, ngăn ngừa nóng, ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát, chỉ với mục đích che đậy sự trần truồng.
Vị ấy như lý giác sát, thọ dụng món ăn khất thực không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu và được bảo dưỡng, để thân này khỏi bị thương hại, để hỗ trợ phạm hạnh, nghĩ rằng: “Như vậy, ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn”.
Vị ấy như lý giác sát, thọ dụng sàng tọa, chỉ để ngăn ngừa lạnh, ngăn ngừa nóng, ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát, chỉ để giải trừ nguy hiểm của thời tiết, chỉ với mục đích sống độc cư an tịnh.
Vị ấy như lý giác sát thọ dụng dược phẩm trị bệnh, chỉ để ngăn chặn các cảm giác khổ thống đã sanh, để được ly khổ hoàn toàn.
Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không thọ dụng như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não có thể khởi lên. Nếu vị ấy thọ dụng như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do thọ dụng được đoạn trừ.
2.4 CÁC LẬU HOẶC PHẢI DO KHAM NHẪN ĐƯỢC ĐOẠN TRỪ
Này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do kham nhẫn được đoạn trừ? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo như lý giác sát, kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát; kham nhẫn những cách nói mạ lị phỉ báng. Vị ấy có tánh kham nhẫn các cảm thọ về thân, những cảm thọ thống khổ, khốc liệt, đau nhói, nhức nhối, không sung sướng, không thích thú, chết điếng người. Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không kham nhẫn như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não có thể khởi lên. Nếu vị ấy kham nhẫn như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do kham nhẫn được đoạn trừ.
2.5 CÁC LẬU HOẶC PHẢI DO TRÁNH NÉ ĐƯỢC ĐOẠN TRỪ
Này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do tránh né được đoạn trừ? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo như lý giác sát tránh né voi dữ, tránh né ngựa dữ, tránh né bò dữ, tránh né chó dữ, rắn, khúc cây, gai góc, hố sâu, vực núi, ao nước nhớp, vũng nước. Có những chỗ ngồi không xứng đáng ngồi, những trú xứ không nên lai vãng, những bạn bè ác độc mà nếu giao du thì bị các vị đồng phạm hạnh có trí nghi ngờ, khinh thường; vị ấy như lý giác sát tránh né chỗ ngồi không xứng đáng ấy, trú xứ không nên lai vãng ấy và các bạn độc ác ấy. Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không tránh né như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có thể khởi lên. Nếu vị ấy tránh né như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do tránh né được đoạn trừ.
2.6 CÁC LẬU HOẶC PHẢI DO TRỪ DIỆT ĐƯỢC ĐOẠN TRỪ
Này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do trừ diệt được đoạn trừ? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo như lý giác sát không có chấp nhận dục niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (dục niệm ấy); không có chấp nhận sân niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (sân niệm ấy); không có chấp nhận hại niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (hại niệm ấy); không chấp nhận các ác bất thiện pháp luôn luôn khởi lên, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (các ác bất thiện pháp ấy). Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không trừ diệt như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có thể khởi lên. Nếu vị ấy trừ diệt như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do trừ diệt được đoạn diệt.
2.7 CÁC LẬU HOẶC PHẢI DO TU TẬP ĐƯỢC ĐOẠN TRỪ
Này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do tu tập được đoạn trừ? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo như lý giác sát tu tập niệm giác chi, niệm giác chi này y viễn ly, y ly tham, y đoạn diệt, hướng đến từ bỏ; như lý giác sát tu tập trạch pháp giác chi... (như trên)... tu tập tinh tấn giác chi... tu tập hỷ giác chi... tu tập khinh an giác chi... tu tập định giác chi... tu tập xả giác chi; xả giác chi này y viễn ly, y ly tham, y đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không tu tập như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có thể khởi lên. Nếu vị ấy tu tập như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do tu tập được đoạn trừ.
7. KINH VÍ DỤ TẤM VẢI (VATTHŪPAMA SUTTA)
Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Lúc bấy giờ Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”.
“Bạch Thế Tôn”, các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
Này các Tỷ-kheo, như một tấm vải cấu uế, nhiễm bụi, một người thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào thuốc nhuộm này hay thuốc nhuộm khác hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc tía, vải ấy sẽ được màu nhuộm không tốt đẹp, sẽ được màu nhuộm không sạch sẽ. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì tấm vải không được trong sạch. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cõi ác chờ đợi một tâm cấu uế. Này các Tỷ-kheo, như một tấm vải thanh tịnh, trong sạch, một người thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào thuốc nhuộm này hay thuốc nhuộm khác hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc tía, vải ấy sẽ được màu nhuộm tốt đẹp, sẽ được màu nhuộm sạch sẽ. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì tấm vải được trong sạch. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cõi thiện chờ đợi một tâm không cấu uế.
I. CÁC CẤU UẾ CỦA TÂM – VÍ DỤ TẤM VẢI
Này các Tỷ-kheo, thế nào là những cấu uế của tâm? Tham dục, tà tham là cấu uế của tâm, sân là cấu uế của tâm, phẫn là cấu uế của tâm, hận là cấu uế của tâm, hư ngụy, não hại, tật đố, xan tham, man trá, khi cuống, ngoan cố, cấp tháo, quá mạn, kiêu, phóng dật là cấu uế của tâm.
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào nghĩ rằng: “Tham dục, tà tham là cấu uế của tâm” và sau khi biết vậy, vị ấy đoạn trừ tham dục, tà tham cấu uế của tâm; nghĩ rằng: “Sân là cấu uế của tâm” và sau khi biết vậy, vị ấy đoạn trừ sân, cấu uế của tâm; phẫn... hận... hư ngụy... não hại, tật đố, xan tham, man trá, khi cuống... ngoan cố... cấp tháo... mạn... quá mạn... kiêu; nghĩ rằng: “Phóng dật là cấu uế của tâm” thì sau khi biết vậy, vị ấy đoạn trừ phóng dật, cấu uế của tâm.
Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo biết được: “Tham dục, tà tham là cấu uế của tâm”, tham dục, tà tham cấu uế của tâm được diệt trừ; ... sân... phẫn... hận... hư ngụy... não hại... tật đố... xan tham... man trá... khi cuống... ngoan cố... cấp tháo... mạn... quá mạn... kiêu; khi nào Tỷ-kheo biết được: “Phóng dật là cấu uế của tâm”, phóng dật, cấu uế của tâm được diệt trừ, Tỷ-kheo ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Phật.
II. TÍN TÂM BẤT ĐỘNG – HỶ, KHINH AN, LẠC VÀ ĐỊNH
Ngài là bậc Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Điều Ngự Trượng Phu, Vô Thượng Sĩ, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.
Vị ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Pháp: Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí chứng hiểu.
Vị ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với chúng Tăng: Diệu hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn; Trực hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn; Như lý hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn; Chánh hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám vị. Chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn, đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời.
Đến giai đoạn này, đối với vị ấy có sự từ bỏ, có sự diệt trừ, có sự giải thoát, có sự đoạn trừ, có sự xả ly. Vị ấy tự nghĩ: “Ta thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Thế Tôn” và chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan, hỷ sanh; từ hỷ, thân được khinh an; thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định.
Vị ấy tự nghĩ: “Ta thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Pháp” và chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan, hỷ sanh; từ hỷ, thân được khinh an; thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định.
Vị ấy tự nghĩ: “Ta thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Tăng” và chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan hỷ sanh; từ hỷ, thân được khinh an, thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định.
Vị ấy tự nghĩ: “Đến giai đoạn này, đối với Ta, có sự từ bỏ, có sự diệt trừ, có sự giải thoát, có sự đoạn trừ, có sự xả ly” và chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan, hỷ sanh; từ hỷ, thân khinh an; thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định.
Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo, giới như vậy, pháp như vậy, tuệ như vậy, nếu có ăn đồ khất thực với gạo thơm, hạt đen được vắt đi, với các món canh, với các món ăn khác cũng không vì vậy trở thành một chướng ngại cho vị ấy. Này các Tỷ-kheo, như một tấm vải cấu uế, nhiễm bụi, nếu bỏ trong nước sạch, trở thành thanh tịnh sạch sẽ, như bỏ vào lò lửa trở thành thanh tịnh sạch sẽ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo, giới như vậy, pháp như vậy, tuệ như vậy, nếu có ăn đồ khất thực với gạo thơm, hạt đen được vắt đi, với các món canh, với các món ăn khác, cũng không vì vậy trở thành một chướng ngại cho vị ấy.
III. TỪ · BI · HỶ · XẢ VÀ TÂM GIẢI THOÁT
Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với bi... (như trên)... với tâm câu hữu với hỷ... (như trên)... biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại vô biên, không hận, không sân.
Vị ấy biết: “Có cái này, có cái hạ liệt, có cái cao thượng, có sự giải thoát vượt qua các tưởng”.
Do vị ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Đối với tự thân đã giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã giải thoát, sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là Tỷ-kheo đã được tắm rửa với sự tắm rửa nội tâm.
8. KINH ĐOẠN GIẢM (SALLEKHA SUTTA)
Như vậy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahā Cunda vào buổi chiều từ chỗ độc cư Thiền tịnh đứng dậy, đến tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahā Cunda bạch Thế Tôn.
I. SỞ KIẾN VÀ CÁCH ĐOẠN TRỪ
Bạch Thế Tôn, có những loại sở kiến này khởi lên trên đời, hoặc liên hệ đến ngã luận, hoặc liên hệ đến thế giới luận. Bạch Thế Tôn, đối với một Tỷ-kheo, có tác ý ngay từ ban đầu, thời có thể đoạn trừ những sở kiến ấy hay không, có thể xả ly những sở kiến ấy hay không?
Này Cunda, những loại sở kiến này khởi lên trên đời, hoặc liên hệ đến ngã luận, hoặc liên hệ đến thế giới luận, chỗ nào những sở kiến này tiềm ẩn và chỗ nào những sở kiến này hiện hành, chỉ có cách như thật quán sát chúng với trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, có vậy thời có sự đoạn trừ những sở kiến ấy, có sự xả ly những sở kiến ấy.
II. CÁC CHỨNG ĐẮC KHÔNG GỌI LÀ ĐOẠN GIẢM
(Tám chứng đắc)
Này Cunda, sự kiện này xảy ra khi ở đây một Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ. Vị ấy có thể nghĩ: “Ta sống với hạnh đoạn giảm”. Này Cunda, các quả chứng ấy không gọi là đoạn giảm trong giới luật của bậc Thánh. Chúng được gọi là hiện tại lạc trú trong giới luật của bậc Thánh.
Này Cunda, sự kiện này xảy ra khi ở đây một Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Vị ấy có thể nghĩ: “Ta sống với hạnh đoạn giảm”. Này Cunda, các quả chứng ấy không gọi là đoạn giảm trong giới luật của bậc Thánh. Chúng được gọi là hiện tại lạc trú trong giới luật của bậc Thánh.
Này Cunda, sự kiện này xảy ra khi ở đây, một Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Vị ấy có thể nghĩ: “Ta sống với hạnh đoạn giảm”. Này Cunda, các quả chứng ấy không gọi là đoạn giảm trong giới luật của bậc Thánh. Chúng được gọi là hiện tại lạc trú trong giới luật của bậc Thánh.
Này Cunda, sự kiện này xảy ra, khi một Tỷ-kheo xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Vị ấy có thể nghĩ: “Ta sống với hạnh đoạn giảm”. Này Cunda, các quả chứng ấy không gọi là đoạn giảm trong giới luật của bậc Thánh. Chúng được gọi là hiện tại lạc trú trong giới luật của bậc Thánh.
Này Cunda, sự kiện này xảy ra, khi một Tỷ-kheo vượt lên mọi sắc tưởng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, không tác ý đối với dị tưởng. Tỷ-kheo nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ. Vị ấy có thể tự nghĩ: “Ta sống với hạnh đoạn giảm”. Này Cunda, các quả chứng ấy không gọi là đoạn giảm trong giới luật của bậc Thánh. Chúng được gọi là tịch tịnh trú trong giới luật của bậc Thánh.
Này Cunda, sự kiện này xảy ra, khi một Tỷ-kheo vượt lên mọi Không vô biên xứ, nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, chứng và trú Thức vô biên xứ. Vị ấy có thể nghĩ: “Ta sống với hạnh đoạn giảm”. Này Cunda, các quả chứng ấy không gọi là đoạn giảm trong giới luật của bậc Thánh. Chúng được gọi là tịch tịnh trú trong giới luật của bậc Thánh.
Này Cunda, sự kiện này xảy ra, khi một Tỷ-kheo vượt lên mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: “Không có vật gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ. Vị ấy có thể nghĩ: “Ta sống với hạnh đoạn giảm”. Này Cunda, các quả chứng ấy không gọi là đoạn giảm trong giới luật của bậc Thánh. Chúng được gọi là tịch tịnh trú trong giới luật của bậc Thánh.
Này Cunda, sự kiện này xảy ra, khi một Tỷ-kheo vượt lên mọi Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Vị ấy có thể nghĩ: “Ta sống với hạnh đoạn giảm”. Này Cunda, các quả chứng ấy không gọi là đoạn giảm trong giới luật của bậc Thánh. Chúng được gọi là tịch tịnh trú trong giới luật của bậc Thánh.
III. ĐOẠN GIẢM – 46 PHÁP
Này Cunda, ở đây đoạn giảm được các Người thực hiện khi các Người nghĩ: “Những kẻ khác có thể là những người làm hại, chúng ta ở đây không thể là những người làm hại”, như vậy đoạn giảm được thực hiện.
Bản scan liệt kê 46 mục: 1. Làm hại; 2. Sát sanh; 3. Lấy của không cho; 4. Không phạm hạnh; 5. Nói dối; 6. Nói hai lưỡi; 7. Nói độc ác; 8. Nói phù phiếm; 9. Tham dục; 10. Sân tâm; 11. Tà kiến; 12. Tà tư duy; 13. Tà ngữ; 14. Tà nghiệp; 15. Tà mạng; 16. Tà tinh tấn; 17. Tà niệm; 18. Tà định; 19. Tà trí; 20. Tà giải thoát; 21. Hôn trầm thụy miên; 22. Trạo hối; 23. Nghi hoặc; 24. Phẫn nộ; 25. Oán hận; 26. Hư ngụy; 27. Não hại; 28. Tật đố; 29. Xan tham; 30. Man trá; 31. Khi cuống; 32. Ngoan cố; 33. Cấp tháo; 34. Khó nói; 35. Ác hữu; 36. Phóng dật; 37. Bất tín; 38. Không xấu hổ; 39. Không sợ hãi; 40. Nghe ít; 41. Biếng nhác; 42. Thất niệm; 43. Liệt tuệ; 44. Nhiễm thế tục; 45. Cố chấp tư kiến; 46. Tánh khó hành xả.
IV. KHỞI TÂM
Này Cunda, Ta nói rằng sự khởi tâm rất có lợi ích cho các thiện pháp, còn nói gì thân nghiệp, khẩu nghiệp phù hợp với tâm ý. Do vậy, này Cunda:
(1) “Những kẻ khác có thể làm hại, chúng ta ở đây sẽ không làm hại”, cần phải khởi tâm như vậy.
(2) “Những kẻ khác có thể sát sanh, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ sát sanh”, cần phải khởi tâm như vậy... (như trên)...
(3–43) “Những kẻ khác... (như trên)...”
(44) “Những kẻ khác có thể nhiễm thế tục, cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả, chúng ta ở đây sẽ không nhiễm thế tục, không cố chấp tư kiến, tánh dễ hành xả”, cần phải phát tâm như vậy.
V. TỪ BỎ – ĐỐI TRỊ
Này Cunda, giống như một con đường không bằng phẳng, có một con đường bằng phẳng khác đối trị. Này Cunda, giống như một bến nước không bằng phẳng, có một bến nước bằng phẳng khác đối trị. Cũng vậy này Cunda:
(1) Đối với con người làm hại, có sự không làm hại đối trị.
(2) Đối với con người sát sanh, có từ bỏ sát sanh đối trị.
(3) Đối với con người lấy của không cho, có từ bỏ lấy của không cho đối trị.
(4–43) ... không phạm hạnh, có phạm hạnh...; nói láo, có từ bỏ nói láo...; nói hai lưỡi, có từ bỏ nói hai lưỡi...; nói ác khẩu, có từ bỏ nói ác khẩu; nói phù phiếm, có từ bỏ nói phù phiếm...; tham dục, có không tham dục...; sân tâm, có không sân tâm...; tà kiến, có chánh kiến...; tà tư duy, có chánh tư duy...; tà ngữ, có chánh ngữ...; tà nghiệp, có chánh nghiệp...; tà mạng, có chánh mạng...; tà tinh tấn, có chánh tinh tấn...; tà niệm, có chánh niệm...; tà định, có chánh định...; tà trí, có chánh trí...; tà giải thoát, có chánh giải thoát...; bị hôn trầm thụy miên chi phối, có không bị hôn trầm thụy miên chi phối...; trạo hối, có không trạo hối...; nghi hoặc, có trừ diệt nghi hoặc...; phẫn nộ, có không phẫn nộ...; oán hận, có không oán hận...; hư ngụy, có không hư ngụy...; não hại, có không não hại...; tật đố, có không tật đố...; xan tham, có không xan tham...; man trá, có không man trá...; khi cuống, có không khi cuống...; ngoan cố, có không ngoan cố...; cấp tháo, có không cấp tháo...; khó thuyết, có không khó thuyết...; ác hữu, có thiện hữu...; phóng dật, có không phóng dật...; bất tín, có tín tâm...; không xấu hổ, có xấu hổ...; không sợ hãi, có sợ hãi...; nghe ít, có nghe nhiều...; biếng nhác, có siêng năng...; thất niệm, có an trú niệm...; liệt tuệ, có thành tựu tuệ...
(44) Đối với con người nhiễm thế tục, cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả, có không nhiễm thế tục, không cố chấp tư kiến, tánh dễ hành xả đối trị.
VI. HƯỚNG THƯỢNG
Này Cunda, ví như các bất thiện pháp, tất cả đều hướng hạ, còn các thiện pháp, tất cả đều hướng thượng. Cũng vậy, này Cunda:
(1) Con người không làm hại, hướng thượng đối với người làm hại; con người từ bỏ sát sanh, hướng thượng đối với người sát sanh.
(2) Con người từ bỏ lấy của không cho, hướng thượng đối với người lấy của không cho.
(3–43) Con người ... (như trên)...
(44) Con người không nhiễm thế tục, không cố chấp tư kiến, tánh dễ hành xả, hướng thượng đối với người nhiễm thế tục, cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả.
VII. PHÁP MÔN GIẢI THOÁT – KẾT LUẬN
Này Cunda, con người tự mình bị rơi vào bùn lầy có thể kéo lên một người bị rơi vào bùn lầy, sự tình ấy không thể xảy ra. Này Cunda, con người tự mình không rơi vào bùn lầy, có thể kéo lên một người bị rơi vào bùn lầy, sự tình ấy có thể xảy ra. Này Cunda, con người tự mình không được nhiếp phục, không được huấn luyện, không được hoàn toàn giải thoát, tự mình có thể nhiếp phục, huấn luyện và hoàn toàn giải thoát người khác, sự tình ấy không xảy ra. Một người được nhiếp phục, được huấn luyện, được hoàn toàn giải thoát, tự mình có thể nhiếp phục, huấn luyện, hoàn toàn giải thoát người khác, sự tình ấy xảy ra. Cũng vậy, này Cunda:
(1) Đối với người làm hại, không làm hại đưa đến hoàn toàn giải thoát; đối với con người sát sanh, từ bỏ sát sanh đưa đến hoàn toàn giải thoát.
(2) Đối với con người lấy của không cho, từ bỏ lấy của không cho đưa đến hoàn toàn giải thoát.
(3–43) Đối với con người không phạm hạnh, sống phạm hạnh...; đối với con người nói láo, từ bỏ nói láo...; đối với con người nói hai lưỡi, từ bỏ nói hai lưỡi...; đối với con người ác khẩu, từ bỏ nói ác khẩu...; đối với con người nói phù phiếm, từ bỏ nói phù phiếm...; đối với con người có tham dục, không tham dục...; đối với con người có sân tâm, không sân tâm...; đối với con người có tà kiến, chánh kiến...; đối với con người có tà tư duy, chánh tư duy...; đối với con người có tà ngữ, chánh ngữ...; đối với con người có tà nghiệp, chánh nghiệp...; đối với con người có tà mạng, chánh mạng...; đối với con người có tà tinh tấn, chánh tinh tấn...; đối với con người có tà niệm, chánh niệm...; đối với con người có tà định, chánh định...; đối với con người có tà trí, chánh trí...; đối với con người có tà giải thoát, chánh giải thoát...; đối với con người bị hôn trầm thụy miên chi phối, không bị hôn trầm thụy miên chi phối...; đối với con người trạo hối, không trạo hối...; đối với con người nghi hoặc, không nghi hoặc...; đối với con người phẫn nộ, không phẫn nộ...; đối với con người oán hận, không oán hận...; đối với con người hư ngụy, không hư ngụy...; đối với con người não hại, không não hại...; đối với con người tật đố, không tật đố...; đối với con người xan tham, không xan tham...; đối với con người man trá, không man trá...; đối với con người khi cuống, không khi cuống...; đối với con người ngoan cố, không ngoan cố...; đối với con người khó nói, dễ nói...; đối với con người ác hữu, thiện hữu...; đối với con người phóng dật, không phóng dật...; đối với con người bất tín, tín tâm...; đối với con người không xấu hổ, có xấu hổ...; đối với con người không sợ hãi, có sợ hãi...; đối với con người nghe ít, nghe nhiều...; đối với con người biếng nhác, siêng năng...; đối với con người thất niệm, an trú niệm...; đối với con người liệt tuệ, thành tựu trí tuệ...
(44) Đối với con người nhiễm thế tục, cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả, không nhiễm thế tục, không cố chấp tư kiến, tánh dễ hành xả, đưa đến hoàn toàn giải thoát.
(Kết luận) Này Cunda, như vậy Ta đã giảng pháp môn đoạn giảm, đã giảng pháp môn khởi tâm, đã giảng pháp môn đối trị, đã giảng pháp môn hướng thượng, đã giảng pháp môn giải thoát hoàn toàn.
Này Cunda, những gì bậc Đạo Sư phải làm, vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng đệ tử, những việc ấy Ta đã làm, vì lòng thương tưởng cho các Người. Này Cunda, đây là những gốc cây, đây là những nhà không tịnh. Này Cunda, hãy Thiền định, chớ có phóng dật, chớ có hối tiếc về sau. Đó là lời giáo huấn của Ta cho các Người.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Mahā Cunda hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
16. KINH TÂM HOANG VU (CETOKHILA SUTTA)
Như vậy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này chư Tỷ-kheo”. “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”, các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau:
Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào chưa diệt trừ năm tâm hoang vu, chưa đoạn tận năm tâm triền phược, vị ấy có thể lớn mạnh, trưởng thành, hưng thịnh trong Pháp và Luật này, sự kiện này không xảy ra.
I. NĂM TÂM HOANG VU CHƯA ĐƯỢC DIỆT TRỪ
Thế nào là năm tâm hoang vu chưa được đoạn trừ? Chư Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo nghi ngờ bậc Đạo sư, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào nghi ngờ bậc Đạo sư, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín, thời tâm vị này không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ nhất chưa được diệt trừ.
Lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào nghi ngờ Pháp, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín... (như trên)... Nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ hai chưa được diệt trừ.
Lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào nghi ngờ Tăng, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín... (như trên)... Nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ ba chưa được diệt trừ.
Lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào nghi ngờ các học pháp, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín... (như trên)... Nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ tư chưa được diệt trừ.
Lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phẫn nộ đối với các đồng phạm hạnh, không có hoan hỷ, tâm tư chống đối, cứng rắn. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào phẫn nộ đối với các vị đồng phạm hạnh, không có hoan hỷ, tâm tư chống đối, cứng rắn, thời tâm của vị này không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ năm chưa được diệt trừ.
Như vậy là năm tâm hoang vu chưa được diệt trừ.
II. NĂM TÂM TRIỀN PHƯỢC CHƯA ĐƯỢC ĐOẠN TẬN
Thế nào là năm tâm triền phược chưa được đoạn tận? Chư Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo, đối với những dục, không phải không tham ái, không phải không dục cầu, không phải không ái luyến, không phải không khao khát, không phải không nhiệt tình, không phải không khát ái. Chư Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo nào đối với những dục, không phải không tham ái... không phải không khát ái, tâm của vị ấy không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm triền phược thứ nhất chưa được đoạn tận.
Lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đối với tự thân không phải không tham ái... (như trên)... như vậy là tâm triền phược thứ hai chưa được đoạn tận.
Lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đối với các sắc pháp không phải không tham ái... (như trên)... như vậy là tâm triền phược thứ ba chưa được đoạn tận.
Lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào ăn cho đến thỏa thuê, cho đến bụng chứa đầy, sống thiên nặng về khoái lạc về sàng tọa, khoái lạc về ngủ nghỉ, khoái lạc về thụy miên. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào ăn cho đến thỏa thuê cho đến bụng chứa đầy... (như trên)... như vậy là tâm triền phược thứ tư chưa được đoạn tận.
Lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào sống phạm hạnh với mong cầu được sanh thiên giới với ý nghĩ: “Ta với giới này, với hạnh này, với khổ hạnh này, hay với phạm hạnh này sẽ được sanh làm chư Thiên này hay chư Thiên khác”. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào sống phạm hạnh... (như trên)... như vậy là tâm triền phược thứ năm chưa được đoạn tận.
Như vậy là năm tâm triền phược chưa được đoạn tận.
Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào chưa diệt trừ năm tâm hoang vu này, chưa đoạn tận năm tâm triền phược này, vị ấy có thể lớn mạnh trưởng thành, hưng thịnh trong Pháp và Luật này, sự kiện này không xảy ra.
Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đã diệt trừ năm tâm hoang vu, đã đoạn tận năm tâm triền phược, vị ấy có thể lớn mạnh, trưởng thành, hưng thịnh trong Pháp và Luật này, sự kiện này có xảy ra.
III. NĂM TÂM HOANG VU ĐÃ ĐƯỢC DIỆT TRỪ
Thế nào là năm tâm hoang vu đã được diệt trừ? Chư Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo không nghi ngờ bậc Đạo Sư, không do dự, quyết đoán, tịnh tín. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không nghi ngờ bậc Đạo Sư, không do dự, quyết đoán, tịnh tín, thời tâm vị này hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ nhất đã được diệt trừ.
Lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không nghi ngờ Pháp, không do dự, quyết đoán, tịnh tín... (như trên)... Nếu tâm của ai hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ hai đã được diệt trừ.
Lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không nghi ngờ Tăng, không do dự, quyết đoán, tịnh tín... (như trên)... Nếu tâm của ai hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ ba đã được diệt trừ.
Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không nghi ngờ học pháp, không do dự, quyết đoán, tịnh tín, thời tâm vị này hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ tư đã được diệt trừ.
Lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không phẫn nộ đối với các vị đồng phạm hạnh, hoan hỷ, tâm tư không chống đối, cứng rắn. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không phẫn nộ đối với các vị đồng phạm hạnh, hoan hỷ, tâm tư không chống đối, cứng rắn, thời tâm vị này hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ năm đã được diệt trừ.
Như vậy là năm tâm hoang vu đã được diệt trừ.
IV. NĂM TÂM TRIỀN PHƯỢC ĐÃ ĐƯỢC ĐOẠN TẬN
Thế nào là năm tâm triền phược đã được đoạn tận? Chư Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo đối với những dục không có tham ái, không có dục cầu, không có ái luyến, không có khao khát, không có nhiệt tình, không có khát ái. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đối với những dục không có tham ái, không có dục cầu, không có ái luyến, không có khao khát, không có nhiệt tình, không có khát ái, tâm vị ấy hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm triền phược thứ nhất đã được đoạn tận.
Lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đối với tự thân không có tham ái... (như trên)... như vậy là tâm triền phược thứ hai đã được đoạn tận.
Lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đối với các sắc pháp không có tham ái... (như trên)... như vậy là tâm triền phược thứ ba đã được đoạn tận.
Lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không ăn cho đến thỏa thê, cho đến bụng chứa đầy, sống không thiên nặng về khoái lạc sàng tọa, khoái lạc về ngủ nghỉ, khoái lạc về thụy miên... (như trên)... như vậy là tâm triền phược thứ tư đã được đoạn tận.
Lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào sống phạm hạnh, không mong cầu được sanh thiên giới với ý nghĩ: “Ta với giới này, với hạnh này, với khổ hạnh này, hay với phạm hạnh này, sẽ được sanh làm chư Thiên này hay chư Thiên khác”. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào sống phạm hạnh, không mong cầu được sanh thiên giới với ý nghĩ: “Ta với giới này, với hạnh này, với khổ hạnh này, hay với phạm hạnh này, sẽ được sanh làm chư Thiên này hay chư Thiên khác”, tâm vị ấy hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm triền phược thứ năm đã được đoạn tận.
Như vậy là năm tâm triền phược đã được đoạn tận.
Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đã đoạn tận năm tâm triền phược này, thời vị ấy có thể lớn mạnh, trưởng thành, hưng thịnh trong Pháp và Luật này, sự kiện này có xảy ra.
V. BỐN NHƯ Ý TÚC VÀ NỖ LỰC
Vị này tu tập như ý túc câu hữu với dục Thiền định, tinh cần hành; tu tập như ý túc câu hữu với tinh tấn Thiền định, tinh cần hành; tu tập như ý túc câu hữu với tâm Thiền định, tinh cần hành; tu tập như ý túc câu hữu với tư duy Thiền định, tinh cần hành; với nỗ lực là thứ năm.
Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đầy đủ mười lăm pháp kể cả nỗ lực, thời có đủ khả năng để phá vỡ, có đủ khả năng để chánh giác, có đủ khả năng để đạt thành vô thượng an ổn khỏi các ách phược.
VI. VÍ DỤ TRỨNG GÀ – KẾT LUẬN
Chư Tỷ-kheo, như có khoảng tám, mười hay mười hai cái trứng của con gà mái, những trứng này được con gà mái khéo ấp, ngồi lên trên, khéo ấp nóng, khéo ấp dưỡng, thời dầu cho con gà mái không khởi lên sự mong ước: “Mong rằng những con gà con của ta, sau khi đâm thủng vỏ trứng với móng chân nhọn của chúng, hay với mỏ của chúng, có thể thoát ra một cách yên ổn”, những con gà con ấy, sau khi đâm thủng vỏ trứng với móng chân nhọn của chúng hay với mỏ của chúng, có khả năng thoát ra một cách yên ổn. Chư Tỷ-kheo, cũng vậy, Tỷ-kheo đầy đủ mười lăm pháp, kể cả nỗ lực, thời có đủ khả năng để phá vỡ, có đủ khả năng để chánh giác, có đủ khả năng để đạt thành vô thượng an ổn khỏi các ách phược.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
19. KINH SONG TẦM (DVEDHĀVITAKKA SUTTA)
Tôi nghe như vầy: Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Tại đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Chư Tỷ-kheo”. “Thưa vâng”, các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau:
Chư Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, khi chưa thành Chánh Giác và còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: “Ta sống suy tư và chia hai suy tầm”: phàm có dục tầm nào, sân tầm nào, hại tầm nào, Ta phân thành phần thứ nhất; phàm có ly dục tầm nào, vô sân tầm nào, vô hại tầm nào, Ta phân thành phần thứ hai.
I. HAI NHÓM TẦM – DỤC, SÂN, HẠI VÀ LY DỤC, VÔ SÂN, BẤT HẠI
Rồi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Khi dục tầm khởi lên, Ta tuệ tri: “Dục tầm này khởi lên nơi Ta và dục tầm này đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai, diệt trí tuệ, dự phần vào phiền não, không đưa đến Niết-bàn”. Khi Ta suy tư: “Dục tầm này đưa đến tự hại”, dục tầm được biến mất. Khi Ta suy tư: “Dục tầm này đưa đến hại người”… “đưa đến hại cả hai”… “diệt trí tuệ, dự phần vào phiền não, không đưa đến Niết-bàn”, dục tầm được biến mất. Chư Tỷ-kheo, khi dục tầm khởi lên, Ta tiếp tục trừ bỏ, xả ly và đoạn tận dục tầm.
Chư Tỷ-kheo, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, sân tầm khởi lên… (như trên)… hại tầm khởi lên. Ta tuệ tri: “Hại tầm này khởi lên nơi Ta và hại tầm này đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai, diệt trí tuệ, dự phần vào phiền não, không đưa đến Niết-bàn”… “Hại tầm này đưa đến tự hại”… “đưa đến hại người”… “đưa đến hại cả hai”… “diệt trí tuệ, dự phần vào phiền não, không đưa đến Niết-bàn”. Chư Tỷ-kheo, khi hại tầm khởi lên, Ta tiếp tục trừ bỏ, xả ly và đoạn tận hại tầm.
II. TÂM NGHIÊNG VỀ ĐIỀU ĐƯỢC SUY TƯ NHIỀU
Chư Tỷ-kheo, suy tư, quán sát nhiều về vấn đề gì, thời tâm sanh khuynh hướng đối với vấn đề ấy. Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều về dục tầm, vị ấy từ bỏ ly dục tầm, làm cho dục tầm tăng trưởng; tâm vị ấy có khuynh hướng về dục tầm. Nếu Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều về sân tầm… (như trên)… về hại tầm, vị ấy từ bỏ vô hại tầm; tâm đã đặt nặng về hại tầm, thời tâm vị ấy có khuynh hướng về hại tầm.
Chư Tỷ-kheo, ví như vào cuối tháng mùa mưa, về mùa thu, khi lúa đã trổ hạt, một người mục đồng chăn giữ các con bò. Khi người mục đồng ở dưới gốc cây hay ở ngoài trời, người ấy có thể chỉ nhớ đến các con bò và nghĩ: “Đây là những con bò”. Chư Tỷ-kheo, cũng vậy ở đây, có việc cần phải làm và Ta nghĩ: “Đây là những pháp”.
III. TINH TẤN VÀ BỐN THIỀN
Chư Tỷ-kheo, Ta phát tâm dõng mãnh, tinh tấn, không có tiêu cực, niệm không tán loạn được an trú, thân được khinh an, không có cuồng nhiệt, tâm được định tĩnh nhất tâm.
Chư Tỷ-kheo, Ta ly dục, ly ác, bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Diệt tầm và tứ, Ta chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, Ta chứng và an trú Thiền thứ ba. Xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, Ta chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
IV. TÚC MẠNG MINH VÀ THIÊN NHÃN MINH
Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyễn, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến túc mạng trí. Ta nhớ được nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời… cho đến nhiều thành kiếp, hoại kiếp, thành hoại kiếp, với các nét đại cương và các chi tiết.
Trong đêm canh đầu Ta chứng được minh thứ nhất; vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Với tâm định tĩnh… Ta dẫn tâm, hướng tâm đến trí về sanh tử của chúng sanh. Ta với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân thấy sự sống và sự chết của chúng sanh; Ta tuệ tri rằng chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ xấu xí, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Trong đêm canh giữa, Ta chứng được minh thứ hai; vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh.
V. LẬU TẬN MINH
Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyễn, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí. Ta thắng tri như thật: “Đây là khổ”, thắng tri như thật: “Đây là nguyên nhân của khổ”, thắng tri như thật: “Đây là khổ diệt”, thắng tri như thật: “Đây là con đường đưa đến khổ diệt”; thắng tri như thật: “Đây là những lậu hoặc”, “Đây là nguyên nhân các lậu hoặc”, “Đây là lậu hoặc diệt”, “Đây là con đường đưa đến các lậu hoặc diệt”.
Nhờ biết như vậy, thấy như vậy, tâm của Ta thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Đối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên trí hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Ta đã thắng tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Trong đêm canh ba, Ta chứng được minh thứ ba; vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh.
VI. VÍ DỤ CON ĐƯỜNG AN ỔN – KẾT LUẬN
Chư Tỷ-kheo, ví như có một khu rừng rậm rạp có một hồ nước lớn, không sâu và một đàn nai lớn sống gần một bên. Có một người đến, không muốn chúng được lợi ích, không muốn chúng được hạnh phúc, không muốn chúng được an ổn khỏi các ách nạn. Nếu có con đường nào được yên ổn, được an toàn, đưa đến hoan hỷ, người ấy sẽ chặn đóng con đường này lại, sẽ mở con đường nguy hiểm, sẽ đặt con mồi dục, sẽ đặt con mồi cái. Như vậy, sau một thời gian đàn nai lớn ấy gặp ách nạn và hao mòn dần.
Chư Tỷ-kheo, có một người đến, muốn đàn nai ấy được lợi ích, muốn chúng được hạnh phúc, muốn chúng được an ổn khỏi các ách nạn. Nếu có con đường nào được yên ổn, được an toàn, đưa đến hoan hỷ, người ấy sẽ mở con đường này, sẽ đóng con đường nguy hiểm lại, sẽ dẹp con mồi dục đi, sẽ hủy bỏ con mồi cái. Như vậy, sau một thời gian đàn nai lớn ấy sẽ được tăng trưởng, hưng thịnh, thành mãn.
Chư Tỷ-kheo, Ta nói ví dụ này để giải thích ý nghĩa như sau: hồ nước lớn là dục; đàn nai lớn là các chúng sanh; người không muốn chúng được lợi ích là Ác Ma; con đường nguy hiểm là tà đạo có tám ngành, tức là tà tri kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định; con mồi dục chỉ cho hỷ và tham; con mồi cái chỉ cho vô minh. Người muốn chúng được lợi ích, hạnh phúc và an ổn khỏi các ách nạn là Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Con đường yên ổn, an toàn, đưa đến hoan hỷ là con đường Thánh đạo Tám ngành: Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.
Chư Tỷ-kheo, con đường yên ổn, Ta đã mở; con đường nguy hiểm, Ta đã đóng; con mồi dục, Ta đã dẹp; con mồi cái, Ta đã hủy bỏ. Chư Tỷ-kheo, những gì vị Đạo Sư cần phải làm cho các đệ tử vì lòng thương tưởng, vì hạnh phúc của họ, Ta đã làm. Chư Tỷ-kheo, đây là những gốc cây, đây là các chỗ trống. Hãy Thiền định, chớ có phóng dật, chớ có hối tiếc về sau. Đó là lời giáo huấn của Ta. Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
20. KINH AN TRÚ TẦM (VITAKKASAṆṬHĀNA SUTTA)
Như vầy tôi nghe. Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Tại đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Chư Tỷ-kheo”. “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”, các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau:
“Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo muốn thực tu tăng thượng tâm cần phải thường thường tác ý năm tướng. Thế nào là năm?”
I. ĐỔI SANG MỘT TƯỚNG KHÁC LIÊN HỆ ĐẾN THIỆN
Ở đây, Tỷ-kheo y cứ tướng nào, tác ý tướng nào, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si sanh khởi, thời này Tỷ-kheo ấy cần phải tác ý một tướng khác liên hệ đến thiện, không phải tướng kia. Nhờ tác ý một tướng khác liên hệ đến thiện, không phải tướng kia, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.
Chư Tỷ-kheo, ví như một người thợ mộc thiện xảo hay đệ tử người thợ mộc, dùng một cái nêm nhỏ đánh bật ra, đánh tung ra, đánh văng ra một cái nêm lớn hơn. Cũng vậy, khi một Tỷ-kheo y cứ một tướng nào, tác ý một tướng nào, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si sanh khởi, thời này Tỷ-kheo ấy cần phải tác ý một tướng khác liên hệ đến thiện, không phải tướng kia; nhờ vậy các ác bất thiện tầm được trừ diệt, đi đến diệt vong, và nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.
II. QUÁN SÁT SỰ NGUY HIỂM CỦA BẤT THIỆN TẦM
Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy trong khi tác ý một tướng khác với tướng kia, liên hệ đến thiện, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si vẫn khởi lên, thời này Tỷ-kheo ấy cần phải quán sát các nguy hiểm của những tầm ấy: “Đây là những ác bất thiện tầm; những tầm này có tội; những tầm này đưa đến khổ báo”. Nhờ quán sát các nguy hiểm của những tầm ấy, các ác bất thiện tầm được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.
Chư Tỷ-kheo, ví như một người đàn bà hay một người đàn ông trẻ tuổi, trong tuổi thanh xuân, tánh ưa trang sức, nếu một xác rắn, hay xác chó, hay xác người được quàng vào cổ, người ấy sẽ lo âu, xấu hổ, ghê tởm. Cũng vậy, Tỷ-kheo quán sát sự nguy hiểm của các bất thiện tầm, nhờ vậy nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.
III. KHÔNG NHỚ ĐẾN, KHÔNG TÁC Ý ĐẾN CÁC TẦM ẤY
Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy trong khi quán sát các nguy hiểm của những tầm ấy, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si vẫn khởi lên, thời này Tỷ-kheo ấy không nhớ đến, không tác ý đến các tầm ấy. Nhờ không nhớ đến, không tác ý đến các tầm ấy, các ác bất thiện tầm được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.
Chư Tỷ-kheo, ví như một người có mắt, không muốn thấy các sắc pháp nằm trong tầm mắt của mình, người ấy nhắm mắt lại hay ngó qua một bên. Cũng vậy, Tỷ-kheo không nhớ đến, không tác ý đến các tầm ấy, nhờ vậy nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.
IV. TÁC Ý HÀNH TƯỚNG VÀ AN TRÚ CỦA TÂM
Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy trong khi không nhớ đến, không tác ý các tầm ấy, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si vẫn khởi lên, thời này Tỷ-kheo ấy cần phải tác ý đến hành tướng các tâm và sự an trú của các tâm ấy. Nhờ tác ý đến hành tướng các tâm và sự an trú của các tâm ấy, các ác bất thiện tầm được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.
Chư Tỷ-kheo, ví như một người đang đi mau suy nghĩ: “Tại sao ta lại đi mau? Ta hãy đi chậm lại”. Trong khi đi chậm, người ấy suy nghĩ: “Tại sao ta lại đi chậm? Ta hãy đứng lại”. Trong khi đứng, người ấy suy nghĩ: “Tại sao ta lại đứng? Ta hãy ngồi xuống”. Trong khi ngồi, người ấy suy nghĩ: “Tại sao ta lại ngồi? Ta hãy nằm xuống”. Như vậy người ấy bỏ dần các cử chỉ thô cứng nhất và làm theo các cử chỉ tế nhị nhất. Cũng vậy, Tỷ-kheo tác ý đến hành tướng các tâm và sự an trú của các tâm ấy, nhờ vậy nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.
V. NGHIẾN RĂNG, DÁN LƯỠI LÊN NÓC HỌNG, LẤY TÂM CHẾ NGỰ TÂM
Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy trong khi tác ý hành tướng các tâm và sự an trú các tâm ấy, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si vẫn khởi lên, thời này Tỷ-kheo ấy nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm. Nhờ nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm, các ác bất thiện tầm được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.
Chư Tỷ-kheo, ví như một người lực sĩ nắm lấy đầu, cổ hay vai của một người ốm yếu hơn, có thể chế ngự, nhiếp phục và đánh bại người ấy. Cũng vậy, Tỷ-kheo dùng tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm; nhờ vậy các ác bất thiện tầm được trừ diệt và nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.
VI. KẾT LUẬN – LÀM CHỦ CÁC TẦM
Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là vị đã đạt đến pháp môn về các tầm. Vị ấy có thể tác ý tầm nào vị ấy muốn tác ý, không tác ý tầm nào vị ấy không muốn tác ý. Vị ấy đã đoạn trừ khát ái, đã giải thoát các kiết sử, khéo chinh phục kiêu mạn, đã chấm dứt khổ đau.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
28. ĐẠI KINH DỤ DẤU CHÂN VOI (MAHĀHATTHIPADOPAMA SUTTA)
Như vầy tôi nghe. Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Ở đây, Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) gọi các Tỷ-kheo: “Này các Hiền giả Tỷ-kheo!”. “Thưa vâng, Hiền giả”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sāriputta. Tôn giả Sāriputta nói như sau:
I. BỐN THÁNH ĐẾ VÀ VÍ DỤ DẤU CHÂN VOI
Chư Hiền giả, ví như tất cả dấu chân của mọi loài động vật đều thâu nhiếp trong dấu chân voi, vì dấu chân này được xem là lớn nhất trong tất cả dấu chân về phương diện to lớn. Cũng vậy, Chư Hiền giả, tất cả các thiện pháp đều tập trung trong Bốn Thánh Đế. Thế nào là trong Bốn Thánh Đế? Trong Khổ Thánh đế, trong Khổ tập Thánh đế, trong Khổ diệt Thánh đế, trong Khổ diệt đạo Thánh đế.
Chư Hiền, thế nào là Khổ Thánh đế? Sanh là khổ, già là khổ, chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ, điều gì cầu không được là khổ, tóm lại Năm thủ uẩn là khổ.
Chư Hiền, thế nào là Năm thủ uẩn? Chính là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.
II. ĐỊA GIỚI – NỘI GIỚI, NGOẠI GIỚI VÀ KHAM NHẪN
Chư Hiền, thế nào là sắc thủ uẩn? Bốn đại và sắc khởi lên từ bốn đại. Chư Hiền, thế nào là bốn đại? Chính là địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới.
Chư Hiền, thế nào là địa giới? Có nội địa giới, có ngoại địa giới. Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thô cứng, thuộc chấp thủ, như tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bao tử, phân và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thô cứng, bị chấp thủ, như vậy gọi là nội địa giới. Những gì thuộc nội địa giới và những gì thuộc ngoại địa giới đều thuộc về địa giới. Cần phải như thật quán sát địa giới với chánh trí tuệ như sau: “Cái này không phải là tôi, cái này không phải là của tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Sau khi như thật quán sát địa giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với địa giới, tâm từ bỏ địa giới.
Chư Hiền, một thời xảy ra khi ngoại địa giới dao động, trong thời ấy ngoại địa giới bị biến mất. Chư Hiền, thân vô thường của ngoại địa giới xưa ấy có thể nêu rõ, tánh hủy hoại có thể nêu rõ, tánh biến dịch có thể nêu rõ. Như vậy còn nói gì đến thân thể yếu thọ do khát ái chấp thủ này? Ở đây không có gì để có thể nói là tôi, là của tôi, hay tôi là.
Chư Hiền, nếu có những người khác mắng nhiếc, chỉ trích, chọc tức, nhiếc não Tỷ-kheo, vị ấy biết rõ như sau: “Khổ thọ khởi lên nơi tôi, thọ này thuộc tai xúc chạm, thọ này do nhân duyên, không phải không do nhân duyên. Do nhân duyên gì? Do nhân duyên xúc”. Vị ấy thấy xúc là vô thường, thấy thọ là vô thường, thấy tưởng là vô thường, thấy hành là vô thường, thấy thức là vô thường; tâm vị này hoan hỷ, thích thú, tịnh chỉ, quyết định, tùy thuộc địa giới.
Chư Hiền, nếu những người khác xử sự với Tỷ-kheo không có hoan hảo, không có tốt đẹp, không có khả ái, hoặc dùng tay xúc chạm, hoặc dùng đá xúc chạm, hoặc dùng gậy xúc chạm, hoặc dùng gươm xúc chạm, vị ấy suy nghĩ: “Sự thể của thân này là như vậy, nên tay có thể xúc chạm, đá có thể xúc chạm, gậy có thể xúc chạm, gươm có thể xúc chạm”. Vị ấy nhớ đến lời dạy về ví dụ cái cưa và an trú tâm từ, không sân hận, không dao động.
III. THỦY GIỚI
Chư Hiền, thế nào là thủy giới? Có nội thủy giới, có ngoại thủy giới. Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ, như mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ, như vậy gọi là nội thủy giới. Những gì thuộc nội thủy giới và những gì thuộc ngoại thủy giới đều thuộc về thủy giới. Cần phải như thật quán sát thủy giới với chánh trí tuệ như sau: “Cái này không phải là tôi, cái này không phải là của tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Sau khi như thật quán sát thủy giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với thủy giới, tâm từ bỏ thủy giới.
Chư Hiền, một thời xảy ra khi ngoại thủy giới dao động, nước cuốn trôi làng, cuốn trôi thị trấn, cuốn trôi thành phố, cuốn trôi xứ, cuốn trôi quốc độ. Một thời xảy ra khi nước biển đại dương hạ thấp dần… cho đến khi nước biển có thể hoàn toàn khô cạn. Chư Hiền, một thời xảy ra khi ngoại thủy giới dao động như vậy; còn nói gì đến thân thể yếu thọ do khát ái chấp thủ này? Ở đây không có gì để có thể nói là tôi, là của tôi, hay tôi là.
Chư Hiền, nếu có những người khác mắng nhiếc… (như trên)… vị ấy quán xúc, thọ, tưởng, hành và thức là vô thường. Nếu người khác xử sự không hoan hảo… (như trên)… vị ấy nhớ đến ví dụ cái cưa và an trú tâm từ.
IV. HỎA GIỚI
Chư Hiền, thế nào là hỏa giới? Có nội hỏa giới, có ngoại hỏa giới. Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất nóng, bị chấp thủ, như lửa khiến cho hâm nóng, khiến cho hủy hoại, khiến cho thiêu cháy; cái gì khiến cho những vật được ăn, uống, nhai, nếm có thể khéo tiêu hóa, hay tất cả những vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất nóng, bị chấp thủ, như vậy gọi là nội hỏa giới. Những gì thuộc nội hỏa giới và những gì thuộc ngoại hỏa giới đều thuộc về hỏa giới. Cần phải như thật quán sát hỏa giới với chánh trí tuệ như sau: “Cái này không phải là tôi, cái này không phải là của tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Sau khi như thật quán sát hỏa giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với hỏa giới, tâm từ bỏ hỏa giới.
Chư Hiền, một thời xảy ra khi hỏa giới dao động. Lửa thiêu cháy làng, thiêu cháy thị trấn, thiêu cháy thành phố, thiêu cháy xứ, thiêu cháy quốc độ; lửa cháy cho đến cuối rừng cỏ, cuối rừng cây, cuối đường, cuối hàng chấn núi, rồi tắt vì không nhiên liệu. Chư Hiền, một thời xảy ra khi ngoại hỏa giới dao động như vậy; còn nói gì đến thân thể yếu thọ do khát ái chấp thủ này? Ở đây không có gì để có thể nói là tôi, là của tôi, hay tôi là.
Chư Hiền, nếu có những người khác mắng nhiếc… (như trên)… và nếu những người khác xử sự không hoan hảo… (như trên)… vị ấy quán các pháp là vô thường và nhớ lời dạy về ví dụ cái cưa.
V. PHONG GIỚI
Chư Hiền, thế nào là phong giới? Có nội phong giới, có ngoại phong giới. Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc động tánh, bị chấp thủ, như gió thổi lên, gió thổi xuống, gió trong ruột, gió trong bụng dưới, gió thổi qua các chi tiết tay chân, hơi thở vô, hơi thở ra và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc động tánh, bị chấp thủ, như vậy gọi là nội phong giới. Những gì thuộc nội phong giới và những gì thuộc ngoại phong giới đều thuộc về phong giới. Cần phải như thật quán sát phong giới với chánh trí tuệ như sau: “Cái này không phải là tôi, cái này không phải là của tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Sau khi như thật quán sát phong giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với phong giới, tâm từ bỏ phong giới.
Chư Hiền, một thời xảy ra khi ngoại phong giới dao động, gió thổi bay làng, thổi bay thị trấn, thổi bay thành phố, thổi bay xứ, thổi bay quốc độ. Chư Hiền, một thời xảy ra khi trong tháng cuối mùa hạ, loài người tìm cầu gió nhờ lá cây, nhờ cây quạt mà người ta không mong tìm được có tại chỗ có rách nước chảy. Chư Hiền, thân vô thường của ngoại phong giới xưa ấy có thể nêu rõ; còn nói gì đến thân thể yếu thọ do khát ái chấp thủ này? Ở đây không có gì để có thể nói là tôi, là của tôi, hay tôi là.
Chư Hiền, nếu có những người khác mắng nhiếc… (như trên)… và nếu những người khác xử sự không hoan hảo… (như trên)… vị ấy quán xúc, thọ, tưởng, hành, thức là vô thường, nhớ lời dạy về ví dụ cái cưa và an trú tâm từ.
VI. SÁU CĂN, SÁU TRẦN VÀ NĂM THỦ UẨN
Chư Hiền, thế nào là một nhà? Chư Hiền, nhờ những cây cột, nhờ dây leo, bởi cỏ, bởi bùn, được biết là một nhà ở. Cũng vậy, Chư Hiền, một khoảng trống được bao vây bởi xương, bởi dây gân, bởi thịt, bởi da, được biết là một sắc pháp.
Chư Hiền, nếu nội mắt không bị hư hại, nhưng ngoại sắc không vào trong tầm mắt, không có sự quy tụ xúc chạm thích hợp, thì thức phần thích hợp không có hiện khởi. Chỉ khi nào nội mắt không bị hư hại, ngoại sắc vào trong tầm mắt và có sự quy tụ xúc chạm thích hợp, thì thức phần thích hợp mới hiện khởi.
Bất cứ sắc gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong sắc thủ uẩn; bất cứ cảm thọ gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong thọ thủ uẩn; bất cứ tưởng gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong tưởng thủ uẩn; bất cứ hành gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong hành thủ uẩn; bất cứ thức gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong thức thủ uẩn.
Chư Hiền, đối với nội tai và ngoại thanh, nội mũi và ngoại hương, nội lưỡi và ngoại vị, nội thân và ngoại xúc cũng như vậy: nếu không có sự quy tụ xúc chạm thích hợp thì thức phần thích hợp không hiện khởi; khi có đầy đủ các duyên, thức phần thích hợp hiện khởi. Bất cứ sắc, thọ, tưởng, hành, thức nào được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong năm thủ uẩn.
VII. DUYÊN KHỞI – THẤY PHÁP VÀ KẾT LUẬN
Vị ấy tuệ tri như sau: “Như vậy, những người ta nói, có sự quy tụ, sự tập hợp, sự hòa hợp của những năm thủ uẩn này. Thế Tôn đã nói như sau: ‘Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được Pháp; ai thấy được Pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi’”.
Những pháp này do duyên khởi liên hệ sanh khởi: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn và thức thủ uẩn. Sự tham dục, chấp trước, tham đắm, mê say trong năm thủ uẩn ấy tức là khổ tập; sự nhiếp phục tham dục, sự từ bỏ tham dục tức là sự khổ diệt.
Cho đến mức độ này, Chư Hiền, Tỷ-kheo đã làm rất nhiều. Tôn giả Sāriputta thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Sāriputta dạy.
38. ĐẠI KINH ĐOẠN TẬN ÁI (MAHĀTAṆHĀSAṄKHAYA SUTTA)
Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo tên là Sāti, con của người đánh cá, khởi lên ác tà kiến: “Theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này dòng ruổi, luân chuyển nhưng không đổi khác”.
Các Tỷ-kheo nghe vậy liền đến hỏi Sāti. Sāti xác nhận rằng mình hiểu như vậy. Các Tỷ-kheo cật vấn, nạn vấn, thảo luận, khuyên Sāti từ bỏ ác tà kiến ấy và nói rằng Thế Tôn bằng nhiều pháp môn đã nói thức do duyên khởi; không có duyên, thức không hiện khởi. Nhưng Sāti vẫn cố chấp, cứng đầu, chấp thủ ác tà kiến của mình.
I. TÀ KIẾN CỦA TỶ-KHEO SĀTI VỀ THỨC
Các Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, đảnh lễ và trình bày sự việc. Thế Tôn gọi Sāti đến và hỏi: “Có thật chăng, Ông khởi lên ác tà kiến như sau: ‘Theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng thì thức này dòng ruổi, luân chuyển nhưng không đổi khác’?” Sāti thưa là đúng như vậy.
Thế Tôn hỏi: “Này Sāti, thế nào là thức ấy?” Sāti đáp: “Bạch Thế Tôn, chính là thức ấy nói cảm thọ, thọ lãnh chỗ này, chỗ kia, kết quả các hành động thiện ác”. Thế Tôn quở trách Sāti là người ngu si, đã xuyên tạc Ngài và tự phá hoại mình, vì Ngài đã dùng nhiều pháp môn nói rõ thức do duyên khởi: không có duyên, thức không hiện khởi.
Thế Tôn hỏi các Tỷ-kheo còn lại có hiểu pháp giống Sāti hay không. Các vị thưa rằng không; các vị hiểu đúng rằng thức do duyên khởi, không có duyên thì thức không hiện khởi.
II. THỨC SANH DO DUYÊN – GỌI TÊN TÙY DUYÊN
Thế Tôn dạy: “Do duyên nào thức sanh và thức ấy có tên tùy theo duyên ấy”. Do duyên mắt và các sắc, thức sanh và được gọi là nhãn thức. Do duyên tai và các tiếng, thức sanh và được gọi là nhĩ thức. Do duyên mũi và các hương, thức sanh và được gọi là tỷ thức. Do duyên lưỡi và các vị, thức sanh và được gọi là thiệt thức. Do duyên thân và các xúc, thức sanh và được gọi là thân thức. Do duyên ý và các pháp, thức sanh và được gọi là ý thức.
Ví như lửa cháy do duyên vật nào thì được gọi theo vật ấy: lửa cháy do củi gọi là lửa củi, do dăm bào gọi là lửa dăm bào, do cỏ gọi là lửa cỏ, do phân bò gọi là lửa phân bò, do trấu gọi là lửa trấu, do đống rác gọi là lửa đống rác. Cũng vậy, thức sanh do duyên nào thì gọi tên theo duyên ấy.
III. CÁC CÂU HỎI VỀ SANH VẬT – VƯỢT QUA NGHI HOẶC
Thế Tôn hỏi các Tỷ-kheo: có thấy sanh vật này không; có thấy sự tác thành sanh vật do món ăn ấy không; do sự đoạn diệt các món ăn, sanh vật ấy có bị đoạn diệt không. Các Tỷ-kheo đều đáp là có thấy như vậy.
Ngài lại hỏi: nếu do duyên nghi hoặc sanh, sự tác thành của món ăn ấy có thể bị nghi hoặc không; nếu thấy như thật với chánh trí tuệ, nghi hoặc ấy có được trừ diệt không. Các Tỷ-kheo thưa rằng có. Khi thấy như thật với chánh trí tuệ sự hiện hữu, sự tác thành và sự đoạn diệt do duyên, các vị vượt qua nghi hoặc và không còn nắm giữ một tri kiến đã được thanh tịnh chỉ để tranh luận.
Thế Tôn dùng ví dụ chiếc bè: Pháp được giảng dạy là để đưa vượt qua, không phải để nắm lấy.
IV. THỨC ĂN VÀ DUYÊN KHỞI THEO CHIỀU THUẬN
Thế Tôn dạy có bốn món ăn giúp cho an trú các loài hữu tình đã sanh hay phò trợ các loài hữu tình sẽ sanh: đoàn thực thô hoặc tế; xúc thực; tư niệm thực; thức thực. Bốn món ăn này lấy ái làm tập khởi, lấy ái làm nguyên nhân, lấy ái làm sanh chủng, lấy ái làm nguồn gốc.
Ái lấy thọ làm tập khởi; thọ lấy xúc làm tập khởi; xúc lấy sáu nhập làm tập khởi; sáu nhập lấy danh sắc làm tập khởi; danh sắc lấy thức làm tập khởi; thức lấy hành làm tập khởi; hành lấy vô minh làm tập khởi.
Như vậy, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu nhập; sáu nhập duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
V. DUYÊN KHỞI THEO CHIỀU NGHỊCH
Thế Tôn trình bày duyên khởi theo chiều nghịch: do sanh diệt nên già, chết diệt; do hữu diệt nên sanh diệt; do thủ diệt nên hữu diệt; do ái diệt nên thủ diệt; do thọ diệt nên ái diệt; do xúc diệt nên thọ diệt; do sáu nhập diệt nên xúc diệt; do danh sắc diệt nên sáu nhập diệt; do thức diệt nên danh sắc diệt; do hành diệt nên thức diệt; do vô minh diệt nên hành diệt.
Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
VI. TÓM LƯỢC VỀ DUYÊN
Thế Tôn hỏi các Tỷ-kheo có nói như vậy không: “Cái này có nên cái kia có, cái này sanh nên cái kia sanh”; và “cái này không có nên cái kia không có, cái này diệt nên cái kia diệt”. Các Tỷ-kheo thưa là có.
Ngài nhắc các vị không chạy theo thời quá khứ với các câu hỏi “Ta có mặt hay không có mặt trong thời quá khứ? Ta là gì? Ta như thế nào? Trước kia là gì và rồi là gì?”, không chạy theo thời vị lai với những câu hỏi tương tự; cũng không nghi ngờ hiện tại về tự ngã, không chấp vào những quan niệm thường kiến hay đoạn kiến.
Các vị chỉ nên nói những gì tự mình biết, tự mình thấy, tự mình nhận thức.
VII. BA SỰ HÒA HỢP – THỌ THAI VÀ LỚN LÊN
Thế Tôn dạy có ba sự hòa hợp mà một bào thai thành hình: cha mẹ có giao hợp; người mẹ trong thời có thể thọ thai; và hương ấm có hiện tiền. Khi ba sự hòa hợp này đầy đủ thì bào thai mới thành hình.
Người mẹ mang thai trong chín hay mười tháng, rồi sinh con. Sau khi sinh, người mẹ nuôi đứa bé bằng sữa của mình. Đứa trẻ lớn lên, các căn thuần thục, chơi với những trò chơi của trẻ con; rồi lớn hơn nữa, năm căn đã thuần thục, thọ hưởng các món dục lạc do mắt, tai, mũi, lưỡi và thân nhận thức.
VIII. TIẾP TỤC LUÂN HỒI DO THAM ÁI
Khi mắt thấy sắc, nếu người ấy tham ái đối với sắc đẹp, ghét bỏ đối với sắc xấu, sống niệm không an trú trên thân, với một tâm nhỏ mọn, không tuệ tri tâm giải thoát và tuệ giải thoát, thì các ác bất thiện pháp không được đoạn tận. Người ấy tùy hỷ, hoan nghênh, tham trước cảm thọ; do tùy hỷ nên hỷ sanh; do hỷ nên có ái; do ái có thủ; do thủ có hữu; do hữu có sanh; do sanh có già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Đối với tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân cảm xúc và ý nhận thức pháp cũng như vậy. Khi tùy hỷ, hoan nghênh, tham trước cảm thọ, tiến trình duyên khởi của khổ tiếp tục vận hành.
IX. ĐOẠN TẬN LUÂN HỒI – LỘ TRÌNH TU TẬP
Thế Tôn dạy Như Lai xuất hiện ở đời là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn; tự chứng ngộ và tuyên thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, trình bày phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, thanh tịnh.
Người gia trưởng hay con vị gia trưởng nghe pháp, sanh lòng kính tin Như Lai; suy nghĩ đời sống gia đình đầy triền phược, con đường xuất gia phóng khoáng như hư không, nên từ bỏ gia đình, xuất gia. Vị ấy sống chế ngự với giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong các lỗi nhỏ, giữ giới, hộ trì các căn, chánh niệm tỉnh giác và biết đủ.
Vị ấy lựa chỗ thanh vắng, gột rửa năm triền cái; ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất có tầm có tứ, hỷ lạc do ly dục sanh; rồi Thiền thứ hai, Thiền thứ ba và Thiền thứ tư, xả niệm thanh tịnh.
X. ĐOẠN TẬN ÁI QUA SÁU CĂN – KẾT LUẬN
Khi mắt thấy sắc, vị ấy không tham ái đối với sắc đẹp, không ghét bỏ đối với sắc xấu; sống an trú niệm trên thân, với tâm vô lượng; tuệ tri tâm giải thoát và tuệ giải thoát. Do không tùy hỷ, không hoan nghênh, không tham trước cảm thọ, hỷ được diệt; do hỷ diệt nên ái diệt; do ái diệt nên thủ diệt; do thủ diệt nên hữu diệt; do hữu diệt nên sanh diệt; do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đều diệt.
Đối với tai và tiếng, mũi và hương, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và pháp cũng như vậy. Khi không tùy hỷ, không hoan nghênh, không tham trước cảm thọ, tiến trình tham ái và khổ được đoạn tận.
Thế Tôn kết luận: “Này các Tỷ-kheo, các Ông hãy thọ trì ái tận giải thoát này”, được Ngài nói một cách tóm tắt nhưng phải nhớ rõ Tỷ-kheo Sāti, con của người đánh cá, đã bị mắc trong cái lưới lớn của ái trong sự rối loạn của mình. Các Tỷ-kheo hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
40. TIỂU KINH XÓM NGỰA (CŪḶA-ASSAPURA SUTTA)
Như vậy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn ở giữa dân chúng Aṅga (Ương-già), tại một ấp của dân chúng Aṅga, tên là Assapura (Xóm Ngựa). Lúc bấy giờ, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Bạch Thế Tôn”. Những Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
I. DANH XƯNG SA-MÔN VÀ PHÁP MÔN XỨNG ĐÁNG BẬC SA-MÔN
Sa-môn! Sa-môn! Này các Tỷ-kheo, dân chúng biết các Ông là vậy, và nếu các Ông có được hỏi: “Các Ông là ai?” Các Ông phải tự nhận: “Chúng tôi là Sa-môn”. Này các Tỷ-kheo, các Ông đã được danh xưng như vậy, đã tự nhận là như vậy, thì này các Tỷ-kheo, các Ông phải tự tu tập như sau: “Những pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn, chúng ta sẽ tu tập pháp môn ấy. Như vậy danh xưng này của chúng ta mới chân chính và sự tự nhận này của chúng ta mới như thật. Và những thứ cúng dường mà chúng ta thọ hưởng như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh mới có được kết quả lớn, lợi ích lớn cho chúng ta. Và chúng ta xuất gia không thành vô dụng, có kết quả, có thành tích”.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn? Này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo có tâm tham dục và lòng tham dục không được đoạn diệt, có tâm sân hận và lòng sân hận không được đoạn diệt, có tâm phẫn nộ và lòng phẫn nộ không được đoạn diệt, có tâm hiềm hận và lòng hiềm hận không được đoạn diệt, có tâm giả dối và lòng giả dối không được đoạn diệt, có tâm não hại và lòng não hại không được đoạn diệt, có tâm tật đố và lòng tật đố không được đoạn diệt, có tâm xan lẫn và lòng xan lẫn không được đoạn diệt, có tâm man trá và lòng man trá không được đoạn diệt, có tâm xảo trá và lòng xảo trá không được đoạn diệt, có tâm ái dục và lòng ái dục không được đoạn diệt, có tà kiến và tà kiến không được đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, nếu vị ấy không thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn, thì không thể đoạn diệt được những pháp ấy.
Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của một vị mang đại y chỉ tùy thuộc vào mang đại y; Sa-môn hạnh của một vị sống lõa thể chỉ tùy thuộc vào sống lõa thể; Sa-môn hạnh của một vị sống lấm bụi và đất chỉ tùy thuộc vào lấm bụi và đất; Sa-môn hạnh của một vị sống dưới gốc cây chỉ tùy thuộc vào sống dưới gốc cây; Sa-môn hạnh của một vị sống ngoài trời chỉ tùy thuộc vào sống ngoài trời; Sa-môn hạnh của một vị đứng thường xuyên chỉ tùy thuộc vào đứng thường xuyên; Sa-môn hạnh của một vị ăn uống có định kỳ chỉ tùy thuộc vào ăn uống có định kỳ; Sa-môn hạnh của một vị theo chú thuật chỉ tùy thuộc vào chú thuật; Sa-môn hạnh của một vị bện tóc chỉ tùy thuộc vào hạnh bện tóc.
II. ĐOẠN TRỪ CÁC CẤU UẾ CỦA TÂM
Này các Tỷ-kheo, nếu lòng tham dục của người có tâm tham dục được đoạn diệt chỉ nhờ vào hạnh mang đại y của người mang đại y; nếu lòng sân hận của người có tâm sân hận được đoạn diệt chỉ nhờ hạnh mang đại y; nếu lòng phẫn nộ, hiềm hận, giả dối, não hại, tật đố, xan lẫn, man trá, xảo trá, ái dục và tà kiến được đoạn diệt chỉ nhờ hạnh mang đại y, thời bà con quyến thuộc có thể đặt ngay đại y cho một đứa trẻ mới sinh và khuyên rằng: “Này hiền nhi, hãy mang đại y; nếu mang đại y thì lòng tham dục, sân hận, phẫn nộ, hiềm hận, giả dối, não hại, tật đố, xan lẫn, man trá, xảo trá, ái dục và tà kiến sẽ được đoạn diệt”.
Này các Tỷ-kheo, nếu những pháp bất thiện ấy được đoạn diệt chỉ nhờ sống lõa thể, lấm bụi và đất, sống dưới gốc cây, sống ngoài trời, đứng thường xuyên, ăn uống có định kỳ, theo chú thuật hay bện tóc, thời thân hữu, quyến thuộc, bà con cũng có thể khuyên một đứa trẻ mới sinh thực hành những hạnh ấy để đoạn trừ tham dục, sân hận và các cấu uế. Này các Tỷ-kheo, vì Ta thấy có người sống theo hạnh ấy mà tâm vẫn còn tham dục, sân hận, phẫn nộ, hiềm hận, giả dối, não hại, tật đố, xan lẫn, man trá, xảo trá, ái dục và tà kiến, nên Ta không nói Sa-môn hạnh chỉ do những hình thức ấy.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn? Này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo có tâm tham dục và lòng tham dục được đoạn diệt, có tâm sân hận và lòng sân hận được đoạn diệt, có tâm phẫn nộ và lòng phẫn nộ được đoạn diệt, có tâm hiềm hận và lòng hiềm hận được đoạn diệt, có tâm giả dối và lòng giả dối được đoạn diệt, có tâm não hại và lòng não hại được đoạn diệt, có tâm tật đố và lòng tật đố được đoạn diệt, có tâm xan lẫn và lòng xan lẫn được đoạn diệt, có tâm man trá và lòng man trá được đoạn diệt, có tâm xảo trá và lòng xảo trá được đoạn diệt, có tâm ái dục và lòng ái dục được đoạn diệt, có tà kiến và tà kiến được đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng vị ấy thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn.
Vị ấy tự ngã được gột sạch tất cả những ác, bất thiện pháp; vị ấy thấy tự ngã được giải thoát. Do thấy tự ngã được gột sạch tất cả những ác, bất thiện pháp ấy, do thấy tự ngã được giải thoát nên hân hoan sanh; do tâm hân hoan nên hỷ sanh; do hỷ nên thân được khinh an; do thân khinh an nên lạc thọ sanh; do lạc thọ nên tâm được định tĩnh.
III. TỪ · BI · HỶ · XẢ – QUẢNG ĐẠI, VÔ BIÊN
Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ; cũng vậy phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với bi; cũng vậy phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư; cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với bi, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với hỷ; cũng vậy phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư; cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với hỷ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả; cũng vậy phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư; cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
IV. VÍ DỤ HỒ NƯỚC TRONG SÁNG
Này các Tỷ-kheo, ví như một hồ sen có nước trong, có nước ngọt, có nước mát, có nước trong sáng, có bờ hồ khéo sắp đặt, đẹp đẽ. Nếu có người từ phương Đông đi đến, bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi, khô cổ, khát nước, người ấy đi đến hồ sen ấy, giải trừ khát nước và giải trừ nóng bức. Nếu người ấy từ phương Tây, phương Bắc, phương Nam hay từ phương nào đi đến cũng vậy.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu có người từ gia đình Sát-đế-lị xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, và vị ấy đi đến Pháp và Luật do Như Lai thuyết dạy, sau khi tu tập từ, bi, hỷ, xả, nội tâm được định tĩnh, Ta nói rằng chính nhờ nội tâm định tĩnh, vị ấy thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn. Nếu vị ấy từ gia đình Bà-la-môn, gia đình Phệ-xá hay gia đình Thủ-đà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, và đi đến Pháp và Luật do Như Lai thuyết dạy, tu tập như vậy, cũng thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn.
V. XUẤT GIA VÌ THẤY LỢI ÍCH CỦA PHÁP – KẾT LUẬN
Nếu vị gia đình Sát-đế-lị xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sau khi đi đến Pháp và Luật do Như Lai thuyết dạy, nhờ đoạn trừ các lậu hoặc, vị ấy ngay trong hiện tại tự mình chứng tri, chứng ngộ và thành đạt vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, vị ấy thành Sa-môn nhờ đoạn diệt các lậu hoặc. Nếu từ gia đình Bà-la-môn, Phệ-xá hay Thủ-đà xuất gia, cũng như vậy.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
62. ĐẠI KINH GIÁO GIỚI LA-HẦU-LA (MAHĀ RĀHULOVĀDA SUTTA)
Như vậy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn ở Savatthi, Jetavana, tại tịnh xá Anathapindika (Cấp Cô Độc).
Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Savatthi để khất thực. Tôn giả Rahula vào buổi sáng cũng đắp y, cầm y bát, đi sau lưng Thế Tôn. Rồi Thế Tôn, sau khi đưa mắt ngó xung quanh, bảo Tôn giả Rahula:
“Này Rahula, bất cứ sắc pháp nào, quá khứ, vị lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả sắc pháp phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ: ‘Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự ngã của ta’.”
I. QUÁN NĂM UẨN: KHÔNG PHẢI CỦA TA, KHÔNG PHẢI LÀ TA
Tôn giả Rahula bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, có phải chỉ sắc mà thôi? Bạch Thiện Thệ, có phải chỉ sắc mà thôi?”
“Cả sắc, này Rahula; cả thọ, này Rahula; cả tưởng, này Rahula; cả hành, này Rahula; và cả thức, này Rahula.”
Rồi Tôn giả Rahula suy nghĩ: “Ai có thể hôm nay sau khi được Thế Tôn trực tiếp giáo giới lại đi vào làng để khất thực?” Tôn giả liền ngồi kiết-già, lưng thẳng, an trú niệm trước mặt. Tôn giả Sariputta thấy Tôn giả Rahula đang ngồi dưới một gốc cây, liền nói: “Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập niệm hơi thở vô, hơi thở ra; niệm hơi thở vô, hơi thở ra, làm cho sung mãn, được quả lớn, được lợi ích lớn.”
Đến buổi chiều, sau khi từ Thiền tịnh đứng dậy, Tôn giả Rahula đi đến Thế Tôn, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên và bạch: “Bạch Thế Tôn, niệm hơi thở vô, hơi thở ra tu tập như thế nào là được quả lớn, được lợi ích lớn?”
II. ĐỊA · THỦY · HỎA · PHONG · HƯ KHÔNG GIỚI
“Này Rahula, cái gì thuộc nội thân, thuộc cá nhân, kiên cứng và bị chấp thủ như tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bao tử, phân và những gì khác thuộc nội thân, kiên cứng, bị chấp thủ, như vậy gọi là nội địa giới. Nội địa giới và ngoại địa giới đều thuộc về địa giới. Địa giới ấy phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ: ‘Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự ngã của ta’. Sau khi quán sát địa giới như thật với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yếm ly đối với địa giới, tâm từ bỏ địa giới.”
“Và này Rahula, thế nào là thủy giới? Có nội thủy giới, có ngoại thủy giới. Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ như mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ, như vậy gọi là nội thủy giới. Nội thủy giới và ngoại thủy giới đều thuộc về thủy giới; phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ: ‘Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự ngã của ta’.”
“Và này Rahula, thế nào là hỏa giới? Có nội hỏa giới, có ngoại hỏa giới. Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất nóng, bị chấp thủ; như cái gì khiến cho hâm nóng, khiến cho biến hoại, khiến cho thiêu cháy và cái gì dùng để tiêu hóa những gì được ăn, uống, nhai, nếm, như vậy gọi là nội hỏa giới. Nội hỏa giới và ngoại hỏa giới đều thuộc về hỏa giới; phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ: ‘Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự ngã của ta’.”
“Và này Rahula, thế nào là phong giới? Có nội phong giới, có ngoại phong giới. Cái gì thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc tánh động, bị chấp thủ như gió thổi lên, gió thổi xuống, gió trong bụng, gió trong ruột, gió thổi qua các chi tiết thân thể, hơi thở vô và hơi thở ra; như vậy gọi là nội phong giới. Nội phong giới và ngoại phong giới đều thuộc về phong giới; phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ: ‘Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự ngã của ta’.”
“Và này Rahula, thế nào là hư không giới? Có nội hư không giới, có ngoại hư không giới. Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc hư không, thuộc trống rỗng như lỗ tai, lỗ mũi, cửa miệng, do cái gì người ta nuốt, những gì được nhai, được uống, được ăn và được nếm; và tại chỗ mà những gì được nhai, uống, ăn và nếm được giữ lại, và chỗ mà những gì được nhai, uống, ăn và nếm được thải ra ngoài; như vậy gọi là nội hư không giới. Nội hư không giới và ngoại hư không giới đều thuộc về hư không giới; phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ: ‘Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự ngã của ta’.”
III. TU TẬP TÂM NHƯ ĐẤT · NƯỚC · LỬA · GIÓ · HƯ KHÔNG
“Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như đất. Do tu tập sự tu tập như đất, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại. Ví như trên đất người ta quăng đồ tịnh, đồ không tịnh, quăng phân, nước tiểu, nhổ nước miếng, quăng mủ và quăng máu; tuy vậy đất không lo âu, không dao động, không nhàm chán; cũng vậy, này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như đất.”
“Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như nước. Do tu tập sự tu tập như nước, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại. Ví như trong nước người ta rửa đồ tịnh, rửa đồ không tịnh, rửa phân, nước tiểu, mủ, máu; tuy vậy nước không lo âu, không dao động, không nhàm chán; cũng vậy, này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như nước.”
“Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như lửa. Do tu tập sự tu tập như lửa, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại. Ví như lửa đốt đồ tịnh, đồ không tịnh, đốt phân, nước tiểu, mủ, máu; tuy vậy lửa không lo âu, không dao động, không nhàm chán; cũng vậy, này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như lửa.”
“Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như gió. Do tu tập sự tu tập như gió, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại. Ví như gió thổi các đồ tịnh, đồ không tịnh, thổi phân, nước tiểu, mủ, máu; tuy vậy gió không lo âu, không dao động, không nhàm chán; cũng vậy, này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như gió.”
“Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như hư không. Do tu tập sự tu tập như hư không, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại. Ví như hư không không bị trú tại một chỗ nào; cũng vậy, này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như hư không.”
IV. TỪ · BI · HỶ · XẢ · BẤT TỊNH · VÔ THƯỜNG
“Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập về lòng từ. Do tu tập sự tu tập về lòng từ, cái gì thuộc sân tâm sẽ được trừ diệt.”
“Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập về lòng bi. Do tu tập sự tu tập về lòng bi, cái gì thuộc hại tâm sẽ được trừ diệt.”
“Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập về lòng hỷ. Do tu tập sự tu tập về lòng hỷ, cái gì thuộc bất lạc sẽ được trừ diệt.”
“Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập về lòng xả. Do tu tập sự tu tập về lòng xả, cái gì thuộc hận tâm sẽ được trừ diệt.”
“Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập về bất tịnh. Do tu tập sự tu tập về bất tịnh, cái gì thuộc tham ái sẽ được trừ diệt.”
“Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập về vô thường. Do tu tập sự tu tập về vô thường, cái gì thuộc ngã mạn sẽ được trừ diệt.”
V. NIỆM HƠI THỞ – THÂN VÀ CẢM GIÁC
“Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập về niệm hơi thở vô, hơi thở ra. Này Rahula, do tu tập niệm hơi thở vô, hơi thở ra, làm cho sung mãn, được quả lớn, được lợi ích lớn.”
“Ở đây, này Rahula, vị Tỷ-kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây hay đi đến ngôi nhà trống và ngồi kiết-già, lưng thẳng, an trú chánh niệm trước mặt. Tỉnh giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra. Hay thở vô dài, vị ấy biết: ‘Tôi thở vô dài’; hay thở ra dài, vị ấy biết: ‘Tôi thở ra dài’. Hay thở vô ngắn, vị ấy biết: ‘Tôi thở vô ngắn’; hay thở ra ngắn, vị ấy biết: ‘Tôi thở ra ngắn’.”
“‘Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô’, vị ấy tập; ‘Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra’, vị ấy tập. ‘An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô’, vị ấy tập; ‘An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra’, vị ấy tập.”
“‘Cảm giác hỷ, tôi sẽ thở vô’, vị ấy tập; ‘Cảm giác hỷ, tôi sẽ thở ra’, vị ấy tập. ‘Cảm giác lạc, tôi sẽ thở vô’, vị ấy tập; ‘Cảm giác lạc, tôi sẽ thở ra’, vị ấy tập. ‘Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở vô’, vị ấy tập; ‘Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở ra’, vị ấy tập. ‘An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở vô’, vị ấy tập; ‘An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở ra’, vị ấy tập.”
VI. NIỆM HƠI THỞ – TÂM VÀ CÁC PHÁP QUÁN
“‘Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở vô’, vị ấy tập; ‘Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở ra’, vị ấy tập. ‘Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô’, vị ấy tập; ‘Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra’, vị ấy tập. ‘Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vô’, vị ấy tập; ‘Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra’, vị ấy tập. ‘Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở vô’, vị ấy tập; ‘Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở ra’, vị ấy tập.”
“‘Quán vô thường, tôi sẽ thở vô’, vị ấy tập; ‘Quán vô thường, tôi sẽ thở ra’, vị ấy tập. ‘Quán ly tham, tôi sẽ thở vô’, vị ấy tập; ‘Quán ly tham, tôi sẽ thở ra’, vị ấy tập. ‘Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở vô’, vị ấy tập; ‘Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở ra’, vị ấy tập. ‘Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô’, vị ấy tập; ‘Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra’, vị ấy tập.”
VII. KẾT LUẬN – HƠI THỞ TỐI HẬU ĐƯỢC GIÁC TRI
“Tu tập niệm hơi thở vô, hơi thở ra như vậy, này Rahula, làm cho sung mãn như vậy, có quả lớn, có lợi ích lớn. Này Rahula, tu tập niệm hơi thở vô, hơi thở ra như vậy, làm cho sung mãn như vậy, thời khi những hơi thở vô, hơi thở ra tối hậu chấm dứt, chúng được giác tri, không phải không được giác tri.”
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Rahula hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
67. KINH CĀTUMĀ (CĀTUMĀ SUTTA)
Trung Bộ Kinh · Majjhima Nikāya 67 · Phần tuyển in: trang nội dung 98–103.
Như vậy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Cātumā, trong rừng cây Kha-lưu-lạc. Lúc bấy giờ khoảng năm trăm Tỷ-kheo do Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Mahāmoggallāna cầm đầu cùng đến Cātumā để yết kiến Thế Tôn.
I. ĐẠI CHÚNG ỒN ÀO – THẾ TÔN CHO CÁC TỶ-KHEO LUI
Khi các Tỷ-kheo đến chào hỏi, sắp đặt chỗ ở và y bát, tiếng nói chuyện vang lên. Thế Tôn hỏi Tôn giả Ānanda tiếng ồn ấy là gì, “giống như tiếng hàng đánh cá tranh giành cá với nhau”.
Sau khi biết đó là khoảng năm trăm Tỷ-kheo do Sāriputta và Moggallāna cầm đầu vừa đến, Thế Tôn bảo Ānanda gọi các Tỷ-kheo ấy đến và nói: “Hãy đi đi này các Tỷ-kheo. Ta đuổi các Ông. Các Ông chớ có ở gần Ta.” Các Tỷ-kheo vâng lời, đảnh lễ Thế Tôn, thu dọn sàng tọa, cầm y bát rồi ra đi.
II. DÂN SĀKYA VÀ PHẠM THIÊN SAHAMPATI THỈNH CẦU
Các Thích tử ở Cātumā biết các Tỷ-kheo bị Thế Tôn cho lui liền đến thỉnh cầu Ngài hoan hỷ với chúng Tỷ-kheo. Họ ví các vị mới xuất gia như những hạt giống không được nước tưới có thể bị biến dạng, và như con bê còn nhỏ không thấy bò mẹ có thể đổi khác.
Phạm thiên Sahampati cũng hiện đến trước Thế Tôn, chắp tay thỉnh cầu bằng hai ví dụ tương tự. Thế Tôn hoan hỷ với chúng Tỷ-kheo và cho phép các vị trở lại.
III. XÁ-LỢI-PHẤT VÀ MỤC-KIỀN-LIÊN ĐƯỢC HỎI
Thế Tôn hỏi Tôn giả Sāriputta nghĩ gì khi các Tỷ-kheo bị đuổi. Tôn giả thưa rằng Ngài nghĩ Thế Tôn muốn được ít bận rộn và an trú trong hiện tại lạc, còn mình cũng sẽ được ít bận rộn. Thế Tôn bảo: “Hãy chờ đợi! Này Sāriputta, hãy chờ đợi! Này Sāriputta, chớ có để tư tưởng như vậy khởi lên Ông nữa.”
Khi được hỏi, Tôn giả Mahāmoggallāna thưa rằng Ngài nghĩ Thế Tôn sẽ ít bận rộn, còn Sāriputta và Mahāmoggallāna sẽ lãnh đạo chúng Tỷ-kheo. Thế Tôn tán thán và nói chỉ có Ngài hay Sāriputta và Mahāmoggallāna mới có thể lãnh đạo chúng Tỷ-kheo được.
IV. BỐN ĐIỀU ĐÁNG SỢ KHI XUỐNG NƯỚC
Thế Tôn dạy có bốn điều đáng sợ chờ đợi những ai lội xuống nước: sợ hãi về sóng, sợ hãi về cá sấu, sợ hãi về nước xoáy và sợ hãi về cá dữ. Cũng vậy, có bốn điều đáng sợ chờ đợi một số người xuất gia trong Pháp và Luật này.
V. SỢ HÃI VỀ SÓNG VÀ CÁ SẤU
Sợ hãi về sóng là trường hợp một người vì lòng tin xuất gia nhưng khi được các đồng phạm hạnh nhắc nhở về cách đi, đứng, nhìn, co duỗi tay chân, mang y bát, người ấy nổi giận, bất mãn, rồi từ bỏ học tập và trở về hoàn tục. Sự phẫn nộ được ví như những con sóng.
Sợ hãi về cá sấu là trường hợp người xuất gia được chỉ dẫn những gì được phép hay không được phép trong ăn uống và sinh hoạt. Người ấy nghĩ trước kia mình muốn ăn lúc nào, thứ gì cũng được, nay lại bị hạn chế; vì bất mãn mà bỏ học tập, trở về hoàn tục. Sự tham ăn được ví như cá sấu.
VI. SỢ HÃI VỀ NƯỚC XOÁY
Sợ hãi về nước xoáy là trường hợp người vì lòng tin xuất gia, nhưng khi đi vào làng hay thị trấn để khất thực, không phòng hộ thân, lời nói và tâm, không an trú chánh niệm, người ấy thấy gia chủ hay con của gia chủ hưởng thụ năm dục đầy đủ. Người ấy khởi ý nghĩ rằng trước kia mình cũng có tài sản và có thể thọ hưởng, rồi vì vậy từ bỏ học tập, trở về hoàn tục. Năm dục trưởng dưỡng được ví như nước xoáy.
VII. SỢ HÃI VỀ CÁ DỮ – KẾT LUẬN
Sợ hãi về cá dữ là trường hợp người xuất gia đi khất thực nhưng không phòng hộ thân, khẩu, ý, không chánh niệm; khi thấy người nữ ăn mặc hay trang điểm hấp dẫn, lòng tham khởi lên và có thể làm người ấy từ bỏ học tập, trở về hoàn tục. Thế Tôn gọi đây là sợ hãi về cá dữ.
Thế Tôn kết luận: bốn điều ấy là bốn điều đáng sợ chờ đợi một số người xuất gia trong Pháp và Luật này. Các Tỷ-kheo hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
75. KINH MĀGANDIYA (MĀGANDIYA SUTTA)
Trung Bộ Kinh · Majjhima Nikāya 75 · Phần tuyển in: trang nội dung 104–110.
Trong cuộc đối thoại giữa Thế Tôn và Bà-la-môn Māgandiya, Māgandiya nghe lời truyền rằng “Sa-môn Gotama là người phá hoại sự sống” và đem điều ấy hỏi trực tiếp Thế Tôn.
I. “SA-MÔN GOTAMA LÀ NGƯỜI PHÁ HOẠI SỰ SỐNG”
Māgandiya giải thích rằng những vị Bà-la-môn truyền thống nói như vậy vì Thế Tôn dạy sự hộ trì và điều phục mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý, không chạy theo các dục trưởng dưỡng.
Thế Tôn hỏi lại về ý nghĩa của lời ấy và chỉ rõ rằng điều Ngài dạy không phải là phá hoại sự sống, mà là thấy rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các dục.
II. DỤC LẠC TRƯỚC XUẤT GIA VÀ SAU KHI ĐOẠN DỤC
Thế Tôn kể rằng khi còn tại gia, Ngài từng được cung phụng đầy đủ năm dục trưởng dưỡng: các sắc, tiếng, hương, vị và xúc khả ái, khả hỷ, liên hệ đến dục và hấp dẫn.
Sau khi thấy rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các dục, Ngài đoạn trừ ái và dục nhiệt não, sống với nội tâm an tịnh. Khi thấy những người khác còn bị dục chi phối, Ngài không ao ước trở lại trạng thái ấy.
Ngài ví người đã vượt qua dục như người đã có một hỷ lạc cao hơn; người ấy không còn thèm muốn hỷ lạc thấp kém trước kia.
III. VÍ DỤ NGƯỜI BỆNH CÙI
Thế Tôn đưa ví dụ một người mắc bệnh cùi, thân đầy lở loét, thường hơ mình trên hố than nóng và cào cấu vết thương. Khi bệnh còn nặng, cảm giác nóng rát ấy đối với người bệnh lại có vẻ dễ chịu, nhưng thật ra chính do bệnh mà cảm giác sai lệch ấy phát sinh.
Nếu người ấy được chữa khỏi, thân thể lành mạnh, tự do và có thể đi nơi mình muốn, người ấy sẽ thấy hố than nóng là khổ và tránh xa. Cũng vậy, khi con người còn bị tham dục thiêu đốt thì dục có vẻ hấp dẫn; khi đã thấy và đoạn trừ được dục, người ấy thấy rõ sự nóng cháy và nguy hiểm của nó.
IV. NIẾT-BÀN – KHÔNG BỆNH, AN ỔN
Trong cuộc đối thoại, Thế Tôn nêu lời: “Không bệnh là lợi tối thắng, Niết-bàn là lạc tối thắng.”
Māgandiya ban đầu hiểu những lời này theo nghĩa thân thể khỏe mạnh và trạng thái dễ chịu hiện tại. Thế Tôn dùng ví dụ người mù bẩm sinh được người khác chỉ cho một tấm vải dơ mà tưởng là trắng sạch, để chỉ rằng không có mắt sáng thì không thể tự mình biết đúng màu sắc.
Cũng vậy, không có mắt trí tuệ thì một người có thể nhận lầm cái không phải an ổn là an ổn, cái không phải Niết-bàn là Niết-bàn.
V. MẮT TRÍ TUỆ VÀ CHÁNH PHÁP
Thế Tôn dạy rằng muốn thật sự biết “không bệnh” và Niết-bàn thì cần có mắt trí tuệ. Khi được nghe Chánh pháp, sống đúng với Chánh pháp và tùy pháp, vị ấy có thể tự mình thấy rõ sự sinh khởi và đoạn diệt của các chấp thủ.
Đây không phải là điều chỉ đạt bằng nghe truyền lại hay bằng suy luận suông, mà phải được thấy bằng trí tuệ trực tiếp qua sự thực hành.
VI. ĐOẠN TẬN CHẤP THỦ – ĐOẠN TẬN KHỔ
Thế Tôn chỉ rõ tiến trình: do duyên chấp thủ có hữu; do duyên hữu có sanh; do duyên sanh có già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn.
Khi chấp thủ được đoạn trừ thì hữu đoạn trừ; hữu đoạn trừ thì sanh đoạn trừ; sanh đoạn trừ thì già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được đoạn trừ. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn.
VII. KẾT LUẬN
Māgandiya thưa rằng nếu được nghe Chánh pháp và được chỉ dạy, ông có thể từ bỏ tà kiến và đạt được mắt trí tuệ. Thế Tôn nhấn mạnh điều kiện là nghe pháp, sống đúng Chánh pháp và tùy pháp, để tự mình biết, tự mình thấy.
Phần tuyển in kết thúc ở lời dạy về đoạn tận chấp thủ và đoạn tận toàn bộ khổ uẩn.
100. KINH SAṄGĀRAVA (SAṄGĀRAVA SUTTA)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn du hành trong nước Kosala với đại chúng Tỷ-kheo. Nữ Bà-la-môn Dhānañjāni ở Caṇḍalakappa có lòng tịnh tín nơi Phật, Pháp và Tăng. Khi Bà-la-môn Saṅgārava nghe bà xưng tán Đức Thế Tôn, ông muốn được gặp Ngài.
Sau đó Thế Tôn đến Caṇḍalakappa và trú tại rừng xoài của các Bà-la-môn thuộc dòng họ Todeyya. Saṅgārava đến, chào hỏi rồi ngồi xuống một bên và đặt câu hỏi về con đường mà các Sa-môn, Bà-la-môn tuyên bố đã đạt đến trí và cứu cánh.
I. CUỘC GẶP SAṄGĀRAVA – BA HẠNG SA-MÔN, BÀ-LA-MÔN
Thế Tôn phân biệt những người tuyên bố căn bản Phạm hạnh theo ba cách: có người nương truyền thống và truyền tụng; có người chỉ nương lòng tin; và có người tự mình chứng tri pháp chưa từng được nghe trước đó, rồi tuyên bố đã trực tiếp biết và thấy.
Ngài nói mình thuộc hạng thứ ba: tự mình chứng tri pháp, không chỉ dựa vào truyền thống hay lòng tin. Từ đó, Ngài kể lại con đường tìm đạo của chính mình.
II. TỪ ĐỜI SỐNG TẠI GIA ĐẾN XUẤT GIA TÌM ĐẠO
Khi còn trẻ, tóc còn đen nhánh, đang ở tuổi thanh xuân và dù cha mẹ không muốn, Ngài vẫn cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Sau khi xuất gia, Ngài đi tìm cái gì là thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ. Trước tiên Ngài đến gặp Āḷāra Kālāma.
III. ĀḶĀRA KĀLĀMA – PHÁP CHƯA ĐƯA ĐẾN GIÁC NGỘ
Āḷāra Kālāma tuyên bố pháp mình đã tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú. Thế Tôn học pháp ấy rất nhanh, không chỉ bằng niềm tin mà còn tự mình chứng đạt mức độ mà vị thầy tuyên bố.
Āḷāra Kālāma đặt Ngài ngang hàng với mình và mời cùng lãnh đạo hội chúng. Nhưng Ngài nhận thấy pháp ấy không hướng đến ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thượng trí, giác ngộ và Niết-bàn; vì vậy Ngài từ bỏ và tiếp tục tìm đạo.
IV. UDDAKA RĀMAPUTTA – PHÁP CHƯA ĐƯA ĐẾN GIÁC NGỘ
Ngài đến với Uddaka Rāmaputta. Vị này truyền dạy pháp của Rāma; Thế Tôn cũng tự mình chứng đạt pháp ấy và được mời ở vị trí cao trong hội chúng.
Nhưng Ngài lại thấy pháp ấy chưa đưa đến ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thượng trí, giác ngộ và Niết-bàn. Vì thế Ngài rời đi, tiếp tục tìm cầu con đường giải thoát.
V. BA VÍ DỤ CÂY GỖ – ĐIỀU KIỆN ĐỂ CHỨNG TRI
Khi ở Uruvelā, Ngài suy xét bằng ba ví dụ. Cây gỗ ướt còn nằm trong nước không thể dùng cọ xát để làm phát sinh lửa; cũng vậy, người còn chìm trong dục và chưa đoạn trừ tham dục thì dù khổ hạnh cũng khó chứng tri.
Cây gỗ ướt đã được vớt khỏi nước nhưng bên trong vẫn còn ẩm cũng chưa thể làm phát sinh lửa. Chỉ cây gỗ khô, đã rời nước và hết ẩm mới có thể phát sinh lửa khi cọ xát. Ví dụ này chỉ điều kiện nội tâm phải thật sự lìa dục, không chỉ thay đổi hình thức bên ngoài.
VI. KHỔ HẠNH CỰC ĐOAN – NỖ LỰC KHÔNG ĐƯA ĐẾN GIẢI THOÁT
Ngài thực hành những nỗ lực khắc nghiệt: nghiến răng, dán lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm; rồi nín thở qua miệng, mũi và cả tai. Những cảm thọ đau đớn dữ dội phát sinh, nhưng chánh niệm vẫn được duy trì.
Ngài tiếp tục giảm ăn đến mức thân thể gầy kiệt: xương sườn lộ rõ, bụng lõm sâu, da đầu nhăn lại, tóc rụng. Dù chịu những khổ thọ mãnh liệt, Ngài nhận ra các pháp khổ hạnh ấy vẫn không đưa đến thượng trí và giác ngộ.
VII. TỪ BỎ ÉP XÁC – BỐN THIỀN VÀ BA MINH
Ngài nhớ lại khi còn nhỏ, ngồi dưới bóng cây diêm-phù-đề, đã tự nhiên an trú Sơ thiền do ly dục, ly bất thiện pháp. Ngài nhận ra đây là con đường có thể dẫn đến giác ngộ và không còn sợ hãi lạc thọ không liên hệ đến dục và bất thiện pháp.
Ngài dùng lại thức ăn để thân có sức, rồi lần lượt chứng và an trú Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền và Tứ thiền. Với tâm định tĩnh, trong sáng, thuần tịnh, Ngài hướng tâm đến túc mạng minh, thiên nhãn minh và lậu tận minh.
Ngài biết như thật: đây là Khổ, đây là nguyên nhân Khổ, đây là sự diệt Khổ, đây là con đường đưa đến diệt Khổ; đồng thời biết các lậu hoặc, nguyên nhân, sự đoạn diệt và con đường đưa đến đoạn diệt lậu hoặc. Tâm được giải thoát khỏi dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu.
VIII. CÂU HỎI VỀ CHƯ THIÊN – SAṄGĀRAVA QUY Y
Saṅgārava hỏi về chư Thiên. Thế Tôn xác nhận Ngài biết chắc chắn có chư Thiên, không chỉ biết do nghe truyền. Khi Saṅgārava hỏi vì sao Ngài không nói điều này ngay từ đầu, Thế Tôn đáp rằng điều ấy đã được chấp nhận rộng rãi trong đời.
Nghe xong, Saṅgārava tán thán lời dạy, xin quy y Phật, Pháp và Tăng, và xin được ghi nhận là một cận sự nam từ nay cho đến trọn đời.
107. KINH GAṆAKA MOGGALLĀNA (GAṆAKAMOGGALLĀNA SUTTA)
“Có thể trình bày, này Bà-la-môn, trong Pháp và Luật này, có một tuần tự học tập, có một tuần tự công trình, một tuần tự đạo lộ.” Đức Phật dùng ví dụ người huấn luyện ngựa thiện xảo: trước hết làm cho con ngựa hiền thiện, rồi mới huấn luyện thêm các kỹ năng khác. Cũng vậy, khi có người đáng được điều phục, trước tiên Ngài huấn luyện người ấy theo từng bước.
I. TUẦN TỰ HỌC TẬP – NHƯ NGƯỜI LUYỆN NGỰA
Trước hết, vị ấy được dạy sống có giới hạnh, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập trong các học giới.
Sau đó, vị ấy được huấn luyện: khi mắt thấy sắc chớ nắm giữ tướng chung, chớ nắm giữ tướng riêng; vì nếu sống với nhãn căn không được hộ trì, tham ái và ưu bi cùng các bất thiện pháp có thể khởi lên. Cũng như vậy đối với tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân cảm xúc và ý nhận thức các pháp: phải thực hành sự hộ trì các căn.
II. HỘ TRÌ CĂN · TIẾT ĐỘ ĂN UỐNG · TỈNH GIÁC
Vị ấy được dạy tiết độ trong ăn uống: chân chánh giác sát khi thọ dụng món ăn, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức hay làm đẹp thân, mà để thân này được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia hại, để hỗ trợ Phạm hạnh; với ý nghĩ đoạn trừ cảm thọ cũ và không cho khởi lên cảm thọ mới, sống được an ổn và không lỗi lầm.
Vị ấy được dạy chú tâm cảnh giác: ban ngày trong khi đi kinh hành và ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp; ban đêm cũng vậy. Vị ấy được dạy chánh niệm tỉnh giác khi đi tới, đi lui; khi nhìn thẳng, nhìn quanh; khi co tay, duỗi tay; khi mang y, mang bát; khi ăn, uống, nhai, nếm; khi đại tiện, tiểu tiện; khi đi, đứng, ngồi, nằm; khi thức, khi nói và khi im lặng.
III. VIỄN LY · NĂM TRIỀN CÁI · BỐN THIỀN
Sau khi đầy đủ giới hạnh, hộ trì căn, tiết độ ăn uống, chú tâm cảnh giác, chánh niệm tỉnh giác, vị ấy chọn chỗ thanh vắng như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời hay đống rơm. Sau khi khất thực và dùng cơm xong, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng, an trú chánh niệm trước mặt.
Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái; từ bỏ sân hận, hôn trầm thụy miên, trạo cử hối tiếc và nghi, làm tâm thanh tịnh khỏi năm triền cái.
Khi đoạn trừ các pháp làm ô nhiễm tâm và làm trí tuệ yếu ớt ấy, vị ấy chứng và trú Thiền thứ nhất, Thiền thứ hai, Thiền thứ ba và Thiền thứ tư; Thiền thứ tư không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
IV. HỌC VÔ THƯỢNG · A-LA-HÁN · NGƯỜI CHỨNG VÀ KHÔNG CHỨNG
Đối với các Tỷ-kheo chưa thành tựu, đang sống cần cầu sự vô thượng an tịnh các triền ách, đó là sự giảng dạy của Thế Tôn. Đối với những vị đã là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc cần làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát, những pháp ấy đưa đến sự hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác.
Bà-la-môn Gaṇaka Moggallāna hỏi: nếu Thế Tôn khuyến giáo và giảng dạy như vậy, có phải tất cả đệ tử đều chứng được cứu cánh Niết-bàn hay chỉ một số chứng được? Đức Phật đáp: có một số chứng được cứu cánh Niết-bàn, một số không chứng được.
V. VÍ DỤ CON ĐƯỜNG ĐẾN RĀJAGAHA
Đức Phật hỏi Bà-la-môn có rành con đường đi đến Rājagaha hay không. Khi Bà-la-môn đáp rằng mình biết rõ, Ngài nêu ví dụ: có người đến hỏi đường; được chỉ dẫn cặn kẽ từng chặng, nhưng lại đi sai hướng nên không đến được Rājagaha. Người khác cũng được chỉ đúng con đường ấy, làm theo lời chỉ dẫn và đi đến được nơi cần đến.
Ngài hỏi: trong khi có Rājagaha, có con đường đưa đến Rājagaha và có người chỉ đường, vì sao có người đi lạc, có người đi đến? Bà-la-môn đáp rằng người chỉ đường chỉ có thể chỉ đường. Đức Phật nói cũng vậy: Niết-bàn có mặt, con đường đưa đến Niết-bàn có mặt và Ngài là người chỉ đường; nhưng trong các đệ tử được khuyến giáo như vậy, một số chứng được cứu cánh Niết-bàn, một số không chứng được. “Ta làm gì được? Như Lai chỉ là người chỉ đường.”
VI. AI KHÔNG THỂ SỐNG CHUNG – AI SỐNG HÒA HỢP VỚI THẾ TÔN
Đức Phật nói đối với những người không phải vì lòng tin mà xuất gia, nhưng sống xảo trá, lường gạt, hư ngụy, mất thăng bằng, cao mạn, dao động, nói phô tạp nhạp, không hộ trì các căn, ăn uống không tiết độ, không chú tâm cảnh giác, thờ ơ với Sa-môn hạnh, không tôn kính học tập, sống quá đầy đủ, uể oải, đi đầu trong thối thất, từ bỏ gánh nặng viễn ly, biếng nhác, tinh cần thấp kém, thất niệm, không tỉnh giác, không định tâm, tâm tán loạn, liệt tuệ, câm ngọng — Thế Tôn không thể sống chung với những người như vậy.
Còn những vị vì lòng tin xuất gia, không xảo trá, không lường gạt, không hư ngụy, không mất thăng bằng, không cao mạn, không dao động, không nói phô tạp nhạp; hộ trì các căn, ăn uống tiết độ, chú tâm tỉnh giác, không thờ ơ với Sa-môn hạnh, tôn kính học tập, sống không quá đầy đủ, không uể oải, từ bỏ thối thất, dẫn đầu tinh cần, an trú tinh tấn, chánh niệm, tỉnh giác, định tĩnh, có trí tuệ, không câm ngọng — Thế Tôn sống hòa hợp với những vị ấy.
130. KINH THIÊN SỨ (DEVADŪTA SUTTA)
Nguồn trong cuốn scan: Trung Bộ Kinh, MN 130 – Kinh Thiên Sứ; phần tuyển in từ trang nội dung 128 đến 134. Bản đánh máy này dừng trước MN 152 bắt đầu ở trang nội dung 135.
Vua Yama lần lượt chất vấn người đã tạo ác nghiệp về những “Thiên sứ” đã xuất hiện giữa loài người. Qua mỗi lần chất vấn, người ấy đều thưa rằng mình đã thấy nhưng không khởi lên sự suy nghĩ phải làm điều thiện về thân, khẩu, ý.
I. THIÊN SỨ THỨ NHẤT VÀ THỨ HAI – TRẺ SƠ SINH, NGƯỜI GIÀ
Thiên sứ thứ nhất là một trẻ sơ sinh nằm ngửa, lăn trong phân và nước tiểu của chính mình, cần người khác bồng bế. Vua Yama hỏi: “Ngươi có thấy giữa loài Người, Thiên sứ thứ nhất hiện ra không?” Người ấy đáp có thấy, nhưng đã không nghĩ rằng mình cũng bị sanh chi phối, không thoát khỏi sanh, nên cần làm điều thiện về thân, khẩu, ý.
Thiên sứ thứ hai là một người nam hay người nữ tám mươi, chín mươi hay một trăm tuổi, già yếu, lưng còng, phải chống gậy, run rẩy, tóc bạc, răng rụng, da nhăn. Người ấy cũng thưa đã thấy, nhưng không nghĩ rằng mình cũng bị già chi phối, không thoát khỏi già.
II. THIÊN SỨ THỨ BA, THỨ TƯ, THỨ NĂM – NGƯỜI BỆNH, KẺ BỊ HÀNH HÌNH, NGƯỜI CHẾT
Thiên sứ thứ ba là người bệnh nặng, đau khổ, nằm trong phân và nước tiểu của mình, muốn ngồi dậy hay nằm xuống đều cần người khác giúp. Người ấy đã thấy nhưng không nghĩ rằng mình cũng bị bệnh chi phối.
Thiên sứ thứ tư là người có tội bị vua bắt và chịu nhiều hình phạt. Người ấy đã thấy nhưng vẫn không tự nhắc rằng người làm ác nghiệp sẽ chịu quả báo.
Thiên sứ thứ năm là xác người chết sau một ngày, hai ngày hay ba ngày, trương phồng, xanh xám, rữa nát. Người ấy đã thấy nhưng không nghĩ rằng mình cũng bị chết chi phối, không thoát khỏi chết; do phóng dật nên không làm điều thiện về thân, khẩu, ý.
III. NGHIỆP THUỘC VỀ CHÍNH MÌNH
Sau mỗi lần chất vấn, vua Yama nói: “Này Người kia, tuy Người là người có ý thức và lớn tuổi, nhưng Người không có nghĩ… vậy hãy làm điều thiện về thân, khẩu, ý.” Người ấy thưa rằng vì phóng dật nên đã không làm.
Vua Yama nhấn mạnh rằng ác nghiệp ấy không phải do mẹ làm, không phải do cha làm, không phải do anh làm, không phải do chị làm, không phải do bạn bè thân hữu làm, không phải do bà con huyết thống làm, không phải do Sa-môn hay Bà-la-môn làm, cũng không phải do chư Thiên làm. “Ác nghiệp ấy chính do Người làm, chính Người phải cảm thọ quả báo việc làm ấy.”
IV. CÁC HÌNH PHẠT Ở ĐỊA NGỤC
Sau khi chất vấn về năm Thiên sứ, vua Yama giữ im lặng. Các người coi giữ Địa ngục bắt người ấy chịu nhiều hình phạt: lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào hai tay, hai chân và giữa ngực; đặt người ấy nằm xuống rồi lấy búa chém; buộc vào xe kéo chạy qua chạy lại trên đất cháy đỏ; bắt leo lên và xuống núi than hừng; rồi quăng ngược vào vạc đồng sôi.
Bản scan lặp lại sau mỗi hình phạt: người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt, nhưng không thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp chưa được tiêu trừ.
V. ĐẠI ĐỊA NGỤC
Người ấy bị quăng vào Đại địa ngục. Bản scan mô tả Đại địa ngục có bốn góc, bốn cửa, chia thành phần bằng nhau, xung quanh có tường sắt, mái sắt lợp kín, nền bằng sắt nung đỏ, cháy đỏ rực và rộng một trăm do-tuần.
Lửa bùng lên từ các phương, thiêu đốt qua lại. Có lúc sau một thời rất dài một cánh cửa mở, người ấy chạy đến nhưng cửa đóng lại; rồi cửa phía khác lại mở. Người ấy chịu đau đớn dữ dội nhưng vẫn không thể mệnh chung khi ác nghiệp chưa tiêu trừ.
VI. CÁC ĐỊA NGỤC PHỤ – PHÂN NHƠ, TRO NÓNG, RỪNG GƯƠM, SÔNG TRO NÓNG
Sau Đại địa ngục là Đại Phân nị địa ngục, Đại Chấm thọ lâm, Đại Kiếm diệp lâm và Đại Khôi hà – sông với nước tro nóng. Trong các cảnh ấy, bản scan tiếp tục mô tả các cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt mà người tạo ác nghiệp phải cảm thọ.
Ở sông tro nóng, người ấy bị dòng nước cuốn trôi xuôi ngược; khi bị kéo lên, các người coi giữ Địa ngục hỏi muốn gì. Người ấy nói đói, liền bị đưa cục đồng nung đỏ vào miệng; nói khát, liền bị rót nước đồng nóng chảy vào miệng. Bản scan lại nhắc rằng người ấy không thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp chưa tiêu trừ.
VII. VUA YAMA SUY NGHĨ VỀ CHÁNH PHÁP – KẾT LUẬN
Sau phần mô tả các địa ngục, vua Yama suy nghĩ: “Những ai làm các nghiệp ác dữ, phải thọ lãnh những hình phạt sai khác như vậy.” Vua Yama mong được làm người, được một Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện ở đời và được hầu hạ, nghe pháp, hiểu pháp do Ngài thuyết giảng.
Đức Phật kết luận rằng điều Ngài nói không phải nghe từ một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác, mà là điều Ngài tự biết, tự thấy, tự hiểu rõ rồi mới nói.
152. KINH CĂN TU TẬP (INDRIYABHĀVANĀ SUTTA)
Nguồn trong cuốn scan: Trung Bộ Kinh, MN 152 – Kinh Căn Tu Tập; phần tuyển in từ trang nội dung 135 đến 138. Đây là bài kinh cuối của phần tuyển kinh trong PDF.
Tôn giả Ānanda vâng đáp Thế Tôn. Đức Phật giảng về vô thượng căn tu tập trong giới luật bậc Thánh, đạo lộ của vị hữu học và bậc Thánh có các căn được tu tập.
I. VÔ THƯỢNG CĂN TU TẬP – KHẢ Ý, BẤT KHẢ Ý VÀ XẢ
Khi mắt thấy sắc, có thể khởi lên khả ý, bất khả ý, hoặc vừa khả ý vừa bất khả ý. Vị ấy tuệ tri: “Khả ý này khởi lên nơi ta, bất khả ý này khởi lên nơi ta, hay khả ý bất khả ý này khởi lên nơi ta. Cái này khởi lên, vì là hữu vi nên thô; cái này là tịnh, cái này là diệu, tức là xả.”
Do vậy, điều khả ý, bất khả ý hay cả hai đã khởi lên được đoạn diệt và xả tồn tại. Bản scan ví sự đoạn diệt ấy nhanh chóng như một người có mắt mở rồi nhắm lại, hoặc nhắm rồi mở ra.
II. NĂM CĂN – MẮT, TAI, MŨI, LƯỠI, THÂN
Cùng một nguyên tắc được trình bày với tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị và thân cảm xúc chạm: khi khả ý, bất khả ý hay cả hai khởi lên, vị ấy biết rõ chúng là hữu vi, thô; xả là tịnh, là diệu. Những cảm thọ ấy được đoạn diệt, xả tồn tại.
Bản scan dùng những ví dụ về sự mau chóng: như tiếng búng tay, giọt nước rơi trên lá sen dốc, hay cánh tay co lại rồi duỗi ra. Đây được gọi là vô thượng căn tu tập đối với các căn.
III. ĐẠO LỘ CỦA VỊ HỮU HỌC
Đức Phật dạy về đạo lộ của vị hữu học: khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị hay thân cảm xúc chạm, khả ý, bất khả ý hoặc cả hai có thể khởi lên. Vị ấy cảm thấy khó chịu, hổ thẹn và ghê sợ đối với trạng thái ấy, như người yếu đuối bị một người khỏe mạnh nắm lấy đầu hay vai.
Đó là đạo lộ của vị hữu học đang thực hành hướng đến sự tu tập các căn.
IV. BẬC THÁNH CÓ CÁC CĂN ĐƯỢC TU TẬP
Với bậc Thánh có các căn được tu tập, khi khả ý, bất khả ý hoặc cả hai khởi lên, nếu muốn vị ấy có thể an trú với tưởng không yếm ly đối với sự vật yếm ly; có thể an trú với tưởng yếm ly đối với sự vật không yếm ly; có thể an trú với tưởng không yếm ly đối với cả hai; có thể an trú với tưởng yếm ly đối với cả hai; hoặc từ bỏ cả yếm ly và không yếm ly, an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác.
Nguyên tắc này được trình bày đối với mắt và các đối tượng của mắt, rồi tương tự đối với tai và tiếng, mũi và hương, lưỡi và vị, thân và xúc chạm.
V. LỜI GIÁO HUẤN – KẾT LUẬN
Đức Phật nói với Ānanda rằng Ngài đã giảng vô thượng căn tu tập trong giới luật bậc Thánh, đạo lộ của vị hữu học và bậc Thánh có các căn được tu tập.
Ngài nhắc: đây là những gốc cây, đây là những chỗ trống; hãy Thiền tập, chớ phóng dật, chớ để hối hận về sau. “Đây là những lời giáo huấn của Ta cho các Ông.”
Phần kinh tuyển in của cuốn scan kết thúc tại đây. Hai trang cuối PDF là thông tin liên hệ và ấn bản của Chùa Địa Tạng, không phải kinh văn.