
PDF nguyên cuốn
Mục lục bấm được · 40 tiêu đề lấy từ nội dung thật
Mỗi mục dưới đây trỏ trực tiếp đến tiêu đề được trích từ chính lớp văn bản của PDF; không tạo tên mục mới.
- MỤC 001 - Bài 001 — TÂM DẪN ĐẦU CÁC PHÁP – TÂM Ô NHIỄM THÌ KHỔ ĐAU ĐI THEO 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
- MỤC 002 - Bài 002 — TÂM THANH TỊNH – AN LẠC BƯỚC THEO SAU 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
- MỤC 003 - Bài 003 — ÔM GIỮ HIỀM HẬN – HẬN THÙ KHÔNG THỂ NGUÔI 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
- MỤC 004 - Bài 004 — KHÔNG ÔM HIỀM HẬN – HẬN THÙ ĐƯỢC TỰ NGUÔI 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
- MỤC 005 - Bài 005 — BIẾT MÌNH ĐANG THỞ – BƯỚC ĐẦU TRỞ VỀ VỚI CHÍNH MÌNH 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
- MỤC 006 - Bài 006 — KHI HIỀM HẬN KHỞI LÊN – HÃY TU TÂM TỪ 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
- MỤC 007 - Bài 007 — BỊ XÚC PHẠM MÀ VẪN GIỮ ĐƯỢC TÂM – ĐÓ MỚI LÀ CHỖ THỬ CỦA SỰ TU 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
- MỤC 008 - Bài 008 — AI CŨNG THƯƠNG CHÍNH MÌNH – VÌ VẬY ĐỪNG LÀM HẠI NGƯỜI 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
- MỤC 009 - Bài 009 — ÍT DỤC – BỚT MUỐN ĐỂ TÂM ĐƯỢC NHẸ 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
- MỤC 010 - Bài 010 — TÂM TỪ RỘNG LỚN – THƯƠNG MUÔN LOÀI NHƯ MẸ CHE CHỞ CON MỘT 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
- MỤC 011 - Bài 011 — HIẾU DƯỠNG CHA MẸ – KHÔNG CHỈ BẰNG LỜI, MÀ BẰNG TRÁCH NHIỆM 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
- MỤC 012 - Bài 012 — TRONG CÁI THẤY CHỈ LÀ CÁI THẤY – ĐỪNG VỘI DỰNG THÊM CÂU CHUYỆN 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
- MỤC 013 - Bài 013 — KHÔNG PHÓNG DẬT – ĐỪNG ĐỂ ĐỜI MÌNH TRÔI QUA TRONG THẤT NIỆM 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
- MỤC 014 - Bài 014 — NĂM SỨC MẠNH CỦA NGƯỜI TU – TÍN, TẤN, NIỆM, ĐỊNH, TUỆ 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
- MỤC 015 - Bài 015 — TỰ MÌNH LÀ NƠI NƯƠNG TỰA – LẤY CHÁNH PHÁP LÀM CHỖ NƯƠNG 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
- MỤC 016 - Bài 016 — TINH TẤN NHƯ NGƯỜI ĐANG CÓ LỬA CHÁY TRÊN ĐẦU 1. CÂU KINH – LỜI DẠY TRONG KINH NGUYÊN THỦY
- MỤC 017 - Bài 017 — CÁI GÌ KHÔNG PHẢI CỦA MÌNH – HÃY HỌC CÁCH TỪ BỎ 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
- MỤC 018 - Bài 018 — TỪ TÂM GIẢI THOÁT – MỘT TÂM KHÔNG ÁC Ý CÓ GIÁ TRỊ RẤT LỚN 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
- MỤC 019 - Bài 019 — KHÔNG LẤY OÁN TRẢ OÁN – CHẶN VÒNG KHỔ NGAY TỪ TÂM MÌNH 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
- MỤC 020 - Bài 020 — SỐNG BIẾT ĐỦ – BỚT RỘN RÀNG, TÂM MỚI CÓ CHỖ ĐỂ TU 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
- MỤC 021 - Bài 021 — TÂM NGHĨ GÌ NHIỀU – SẼ DẦN NGHIÊNG VỀ HƯỚNG ĐÓ 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
- MỤC 022 - Bài 022 — NĂM ĐIỀU PHẢI THƯỜNG XUYÊN QUÁN SÁT – ĐỂ BỚT KIÊU, BỚT CHẤP, BỚT PHÓNG DẬT 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
- MỤC 023 - Bài 023 — KHÔNG LÀM ĐIỀU ÁC – THÀNH TỰU HẠNH LÀNH – GIỮ TÂM Ý TRONG SẠCH 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
- MỤC 024 - Bài 024 — KHI BỊ NÓI LỜI KHÓ NGHE – HÃY GIỮ TÂM NHƯ ĐẤT, ĐỪNG ĐỂ SÂN DẪN MÌNH ĐI 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
- MỤC 025 - Bài 025 — THIỆN HỮU TRI THỨC – GẦN NGƯỜI LÀNH, ĐƯỜNG TU DỄ ĐI ĐÚNG HƯỚNG 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
- MỤC 026 - Bài 026 — ĐỪNG VỘI TIN – HÃY XÉT BẰNG TRÍ, BẰNG THIỆN PHÁP VÀ BẰNG KẾT QUẢ 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
- MỤC 027 - Bài 027 — TRONG CÁI THẤY CHỈ LÀ CÁI THẤY – ĐỪNG VỘI THÊM “TÔI”, “CỦA TÔI”, “TÔI THÍCH”, “TÔI GHÉT” 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
- MỤC 028 - Bài 028 — TÀM VÀ QUÝ – HAI PHÁP SÁNG BẢO HỘ THẾ GIAN 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
- MỤC 029 - Bài 029 — BỐN NIỀM VUI CỦA NGƯỜI TẠI GIA – CÓ CỦA ĐÚNG PHÁP, BIẾT DÙNG, KHÔNG NỢ VÀ SỐNG KHÔNG LỖI 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
- MỤC 030 - Bài 030 — BỐN PHÁP GIÚP NGƯỜI TẠI GIA AN LẠC NGAY TRONG HIỆN TẠI SIÊNG NĂNG – BIẾT GIỮ GÌN – GẦN NGƯỜI LÀNH – SỐNG THU CHI QUÂN BÌNH 1. CÂU KINH – LỜI
- MỤC 031 - Bài 031 — SÁU PHƯƠNG TRONG ĐỜI SỐNG – GIỮ TRỌN BỔN PHẬN, CÁC MỐI QUAN HỆ SẼ TRỞ THÀNH NƠI TU 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
- MỤC 032 - Bài 032 — TRƯỚC KHI LÀM – ĐANG KHI LÀM – SAU KHI LÀM, HÃY SOI LẠI THÂN, KHẨU, Ý NHƯ SOI GƯƠNG 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
- MỤC 033 - Bài 033 — TÂM TỪ VÔ LƯỢNG – KHÔNG LỪA DỐI, KHÔNG KHINH THƯỜNG, KHÔNG MONG AI KHỔ 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
- MỤC 034 - Bài 034 — NĂM CÁCH XỬ LÝ Ý NGHĨ BẤT THIỆN – KHI TÂM CỨ NGHĨ MÃI MỘT CHUYỆN KHÔNG BUÔNG ĐƯỢC 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
- MỤC 035 - Bài 035 — NĂM UẨN KHÔNG PHẢI “TÔI” – THẤY VÔ NGÃ ĐỂ BỚT CHẤP, BỚT KHỔ 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
- MỤC 036 - Bài 036 — OÁN KHÔNG THỂ DẬP TẮT OÁN – CHỈ CÓ KHÔNG OÁN MỚI LÀM OÁN LẮNG XUỐNG 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
- MỤC 037 - Bài 037 — KHÔNG TRUY TÌM QUÁ KHỨ – KHÔNG ƯỚC VỌNG TƯƠNG LAI – HÃY THẤY RÕ PHÁP HIỆN TẠI 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
- MỤC 038 - Bài 038 — MŨI TÊN THỨ NHẤT LÀ CÁI ĐAU PHẢI CHỊU – MŨI TÊN THỨ HAI LÀ PHẦN TÂM TỰ BẮN THÊM 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
- MỤC 039 - Bài 039 — BIẾT BẢO HỘ CHÍNH MÌNH LÀ ĐANG BẢO HỘ NGƯỜI KHÁC – BIẾT BẢO HỘ NGƯỜI KHÁC CŨNG LÀ ĐANG BẢO HỘ CHÍNH MÌNH 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
- MỤC 040 - Bài 040 — BÀI KẾT TẬP 1 KHÔNG LÀM ĐIỀU ÁC – SIÊNG LÀM ĐIỀU LÀNH – GIỮ TÂM TRONG SẠCH 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
Đọc toàn văn · 33119 đoạn
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG Tập 1 - Phật pháp ứng dụng từ kinh điển
THÍCH NỮ DIỆU AN
Thư viện Phật pháp Diệu An
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1
MỤC LỤC 001. Bài 001 — TÂM DẪN ĐẦU CÁC PHÁP – TÂM Ô NHIỄM THÌ KHỔ ĐAU ĐI THEO 002. Bài 002 — TÂM THANH TỊNH – AN LẠC BƯỚC THEO SAU 003. Bài 003 — ÔM GIỮ HIỀM HẬN – HẬN THÙ KHÔNG THỂ NGUÔI 004. Bài 004 — KHÔNG ÔM HIỀM HẬN – HẬN THÙ ĐƯỢC TỰ NGUÔI 005. Bài 005 — BIẾT MÌNH ĐANG THỞ – BƯỚC ĐẦU TRỞ VỀ VỚI CHÍNH MÌNH 006. Bài 006 — KHI HIỀM HẬN KHỞI LÊN – HÃY TU TÂM TỪ 007. Bài 007 — BỊ XÚC PHẠM MÀ VẪN GIỮ ĐƯỢC TÂM – ĐÓ MỚI LÀ CHỖ THỬ CỦA SỰ TU 008. Bài 008 — AI CŨNG THƯƠNG CHÍNH MÌNH – VÌ VẬY ĐỪNG LÀM HẠI NGƯỜI 009. Bài 009 — ÍT DỤC – BỚT MUỐN ĐỂ TÂM ĐƯỢC NHẸ 010. Bài 010 — TÂM TỪ RỘNG LỚN – THƯƠNG MUÔN LOÀI NHƯ MẸ CHE CHỞ CON MỘT 011. Bài 011 — HIẾU DƯỠNG CHA MẸ – KHÔNG CHỈ BẰNG LỜI, MÀ BẰNG TRÁCH NHIỆM 012. Bài 012 — TRONG CÁI THẤY CHỈ LÀ CÁI THẤY – ĐỪNG VỘI DỰNG THÊM CÂU CHUYỆN 013. Bài 013 — KHÔNG PHÓNG DẬT – ĐỪNG ĐỂ ĐỜI MÌNH TRÔI QUA TRONG THẤT NIỆM 014. Bài 014 — NĂM SỨC MẠNH CỦA NGƯỜI TU – TÍN, TẤN, NIỆM, ĐỊNH, TUỆ 015. Bài 015 — TỰ MÌNH LÀ NƠI NƯƠNG TỰA – LẤY CHÁNH PHÁP LÀM CHỖ NƯƠNG 016. Bài 016 — TINH TẤN NHƯ NGƯỜI ĐANG CÓ LỬA CHÁY TRÊN ĐẦU 017. Bài 017 — CÁI GÌ KHÔNG PHẢI CỦA MÌNH – HÃY HỌC CÁCH TỪ BỎ 018. Bài 018 — TỪ TÂM GIẢI THOÁT – MỘT TÂM KHÔNG ÁC Ý CÓ GIÁ TRỊ RẤT LỚN 019. Bài 019 — KHÔNG LẤY OÁN TRẢ OÁN – CHẶN VÒNG KHỔ NGAY TỪ TÂM MÌNH 020. Bài 020 — SỐNG BIẾT ĐỦ – BỚT RỘN RÀNG, TÂM MỚI CÓ CHỖ ĐỂ TU 021. Bài 021 — TÂM NGHĨ GÌ NHIỀU – SẼ DẦN NGHIÊNG VỀ HƯỚNG ĐÓ 022. Bài 022 — NĂM ĐIỀU PHẢI THƯỜNG XUYÊN QUÁN SÁT – ĐỂ BỚT KIÊU, BỚT CHẤP, BỚT PHÓNG DẬT 023. Bài 023 — KHÔNG LÀM ĐIỀU ÁC – THÀNH TỰU HẠNH LÀNH – GIỮ TÂM Ý TRONG SẠCH 024. Bài 024 — KHI BỊ NÓI LỜI KHÓ NGHE – HÃY GIỮ TÂM NHƯ ĐẤT, ĐỪNG ĐỂ SÂN DẪN MÌNH ĐI 025. Bài 025 — THIỆN HỮU TRI THỨC – GẦN NGƯỜI LÀNH, ĐƯỜNG TU DỄ ĐI ĐÚNG HƯỚNG 026. Bài 026 — ĐỪNG VỘI TIN – HÃY XÉT BẰNG TRÍ, BẰNG THIỆN PHÁP VÀ BẰNG KẾT QUẢ 027. Bài 027 — TRONG CÁI THẤY CHỈ LÀ CÁI THẤY – ĐỪNG VỘI THÊM “TÔI”, “CỦA TÔI”, “TÔI THÍCH”, “TÔI GHÉT” 028. Bài 028 — TÀM VÀ QUÝ – HAI PHÁP SÁNG BẢO HỘ THẾ GIAN 029. Bài 029 — BỐN NIỀM VUI CỦA NGƯỜI TẠI GIA – CÓ CỦA ĐÚNG PHÁP, BIẾT DÙNG, KHÔNG NỢ VÀ SỐNG KHÔNG LỖI 030. Bài 030 — BỐN PHÁP GIÚP NGƯỜI TẠI GIA AN LẠC NGAY TRONG HIỆN TẠI SIÊNG NĂNG – BIẾT GIỮ GÌN – GẦN NGƯỜI LÀNH – SỐNG THU CHI QUÂN BÌNH 031. Bài 031 — SÁU PHƯƠNG TRONG ĐỜI SỐNG – GIỮ TRỌN BỔN PHẬN, CÁC MỐI QUAN HỆ SẼ TRỞ THÀNH NƠI TU 032. Bài 032 — TRƯỚC KHI LÀM – ĐANG KHI LÀM – SAU KHI LÀM, HÃY SOI LẠI THÂN, KHẨU, Ý NHƯ SOI GƯƠNG 033. Bài 033 — TÂM TỪ VÔ LƯỢNG – KHÔNG LỪA DỐI, KHÔNG KHINH THƯỜNG, KHÔNG MONG AI KHỔ 034. Bài 034 — NĂM CÁCH XỬ LÝ Ý NGHĨ BẤT THIỆN – KHI TÂM CỨ NGHĨ MÃI MỘT CHUYỆN KHÔNG BUÔNG ĐƯỢC 035. Bài 035 — NĂM UẨN KHÔNG PHẢI “TÔI” – THẤY VÔ NGÃ ĐỂ BỚT CHẤP, BỚT KHỔ
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 2
036. Bài 036 — OÁN KHÔNG THỂ DẬP TẮT OÁN – CHỈ CÓ KHÔNG OÁN MỚI LÀM OÁN LẮNG XUỐNG 037. Bài 037 — KHÔNG TRUY TÌM QUÁ KHỨ – KHÔNG ƯỚC VỌNG TƯƠNG LAI – HÃY THẤY RÕ PHÁP HIỆN TẠI 038. Bài 038 — MŨI TÊN THỨ NHẤT LÀ CÁI ĐAU PHẢI CHỊU – MŨI TÊN THỨ HAI LÀ PHẦN TÂM TỰ BẮN THÊM 039. Bài 039 — BIẾT BẢO HỘ CHÍNH MÌNH LÀ ĐANG BẢO HỘ NGƯỜI KHÁC – BIẾT BẢO HỘ NGƯỜI KHÁC CŨNG LÀ ĐANG BẢO HỘ CHÍNH MÌNH 040. Bài 040 — BÀI KẾT TẬP 1 KHÔNG LÀM ĐIỀU ÁC – SIÊNG LÀM ĐIỀU LÀNH – GIỮ TÂM TRONG SẠCH
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 3
MỤC 001 - Bài 001 — TÂM DẪN ĐẦU CÁC PHÁP – TÂM Ô NHIỄM THÌ KHỔ ĐAU ĐI THEO 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
“Ý dẫn đầu các pháp, Ý làm chủ, ý tạo; Nếu với ý ô nhiễm, Nói lên hay hành động, Khổ não bước theo sau, Như xe, chân vật kéo.”
2. NGUỒN KINH
Kinh: Kinh Pháp Cú Thuộc: Tiểu Bộ Kinh – Kinh Tạng Pāli Phẩm: Phẩm Song Yếu, phẩm thứ nhất Kệ: Kệ số 1 Mã tra cứu quốc tế: Pháp Cú 1 – Dhp 1 Bản dịch tiếng Việt: Hòa thượng Thích Minh Châu Nguyên bản kinh: tiếng Pāli
3. GIẢI NGHĨA TỪNG TỪ
Kính thưa quý vị,
đây là bài kệ đầu tiên của Kinh Pháp Cú.
Đức Phật mở đầu Kinh Pháp Cú bằng một lời dạy rất sâu về:
tâm.
Ngài không bắt đầu bằng tiền bạc.
Không bắt đầu bằng địa vị.
Không bắt đầu bằng người khác đối xử với mình như thế nào.
Ngài đưa chúng ta quay về:
cái tâm ở bên trong.
Bởi từ tâm, lời nói và hành động được phát sinh.
Vì vậy trước khi ghép nghĩa cả câu kinh, chúng ta hãy đi từng từ để hiểu cho thật rõ.
“Ý”
Trong bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu dùng chữ:
“ý”.
Trong câu kinh này, chữ ấy không nên hiểu đơn giản chỉ là:
một ý nghĩ thoáng qua.
Ở đây chúng ta có thể hiểu dễ rằng:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 4
đời sống tâm ý đứng phía trước lời nói và hành động.
Trước khi miệng nói một câu,
trong tâm đã có một trạng thái.
Trước khi tay làm một việc,
trong tâm đã có một hướng.
Trước khi mình mắng một người,
sân đã sinh.
Trước khi mình giúp một người,
thiện ý đã có.
Trước khi mình nói dối,
thường đã có một điều mình muốn che giấu, muốn giữ lấy hoặc muốn đạt được.
Trước khi mình nói lời thương,
trong tâm thường đã có sự thương yêu.
Cho nên muốn sửa lời và sửa hành động cho thật sâu,
không thể chỉ sửa bên ngoài.
Phải quay về:
sửa tâm.
“DẪN ĐẦU”
“Dẫn đầu” nghĩa là:
đi phía trước.
Có thể hiểu rất đơn giản:
tâm đi trước,
rồi lời nói và hành động đi theo.
Ví dụ:
Một người nhìn mình.
Nếu tâm nghĩ:
“Người ấy đang coi thường tôi,”
tâm bắt đầu khó chịu.
Sau đó lời nói có thể trở nên lạnh.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 5
Hành động có thể trở nên chống đối.
Nhưng cũng cùng một cái nhìn ấy,
nếu mình nghĩ:
“Có lẽ người ấy đang mệt hoặc đang suy nghĩ chuyện riêng,”
tâm không nhất thiết nổi sân.
Sự việc bên ngoài giống nhau.
Nhưng tâm diễn giải khác nhau,
nên phản ứng khác nhau.
Đây chính là chỗ chúng ta phải tu.
“PHÁP”
Trong câu:
“Ý dẫn đầu các pháp,”
chữ “pháp” không nên hiểu chỉ là:
Phật pháp, bài pháp hay kinh sách.
Đây là một từ có nghĩa rất rộng.
Trong câu kinh này, để người nghe dễ hiểu, chúng ta có thể nói:
những trạng thái, hiện tượng và hoạt động thuộc đời sống tâm ý mà lời nói và hành động của chúng ta dựa vào.
Điều quan trọng khi giảng là:
không nên biến câu này thành:
“Tâm muốn gì thì vũ trụ tạo ra cái đó.”
Đó không phải điều bài kệ đang nói.
Lời Phật đang chỉ vào mối liên hệ rất thiết thực:
tâm như thế nào thì lời nói và hành động chịu ảnh hưởng theo như thế ấy; từ đó quả khổ hay an lành có điều kiện phát sinh.
“LÀM CHỦ”
“Làm chủ” nghĩa là:
giữ vai trò rất quan trọng, chi phối và dẫn dắt.
Khi sân làm chủ tâm,
miệng rất dễ nói lời sân.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 6
Khi tham làm chủ tâm,
mình rất dễ quyết định theo lợi ích.
Khi ganh làm chủ tâm,
mình dễ nhìn cái tốt của người khác thành điều khó chịu.
Khi từ bi làm chủ tâm,
cách nói khác.
Khi chân thật làm chủ tâm,
cách hành xử khác.
Khi chánh niệm có mặt,
mình có khả năng dừng trước khi phản ứng.
Cho nên người học Phật phải tự hỏi:
“Hôm nay cái gì đang làm chủ tâm mình?”
Tham?
Sân?
Sợ?
Ganh?
Hay:
từ bi,
chân thật,
tỉnh giác,
trí tuệ?
“Ý TẠO”
Câu:
“Ý làm chủ, ý tạo”
không nên giảng thành:
chỉ cần nghĩ là mọi thứ ngoài đời sẽ tự xuất hiện.
Đó không phải ý của bài kệ.
Điều gần với lời kinh hơn là:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 7
đời sống tâm có vai trò hình thành cách chúng ta nói, hành động và trải nghiệm hậu quả của chính những hành động ấy.
Một cơn sân được nuôi lâu:
có thể tạo một lời ác.
Một lời ác lặp đi lặp lại:
có thể phá một mối quan hệ.
Một thói quen ganh:
có thể khiến cả đời mình luôn nhìn thành công của người khác bằng đau khổ.
Ngược lại,
một tâm biết ơn được nuôi:
làm cách sống thay đổi.
Một tâm từ được nuôi:
làm lời nói mềm hơn.
Một tâm chân thật được nuôi:
làm nhân cách vững hơn.
Do vậy người tu không xem nhẹ một niệm trong tâm.
Bởi cái được nuôi nhiều lần có thể thành:
thói quen.
Thói quen lâu ngày có thể thành:
cách sống.
“Ô NHIỄM”
“Ô nhiễm” là từ đặc biệt quan trọng trong câu kinh.
Ở đây có thể hiểu là:
tâm bị những trạng thái bất thiện làm nhiễm bẩn.
Ví dụ:
tham.
Sân.
Si.
Ganh ghét.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 8
Ác ý.
Lừa dối.
Muốn hại.
Muốn trả thù.
Keo kiệt.
Ích kỷ.
Chấp giữ.
Khi tâm đang ô nhiễm,
mình thường nhìn sự việc không còn trong sáng.
Sân đang mạnh:
người kia làm gì mình cũng thấy xấu.
Ganh đang mạnh:
người kia thành công mình khó vui.
Tham đang mạnh:
mình dễ tìm lý do để biện minh cho điều có lợi cho mình.
Cái tôi đang mạnh:
một lời góp ý nhỏ cũng có thể bị xem như xúc phạm.
Cho nên:
tâm ô nhiễm không chỉ làm mình khổ sau khi hành động.
Ngay lúc nó đang có mặt,
tâm đã bắt đầu không yên.
“NÓI LÊN”
“Nói lên” là:
lời nói được phát ra từ trạng thái tâm ấy.
Miệng không tự nhiên nói.
Phía sau lời nói thường có một cái tâm.
Có lời nói từ từ bi.
Có lời nói từ sân.
Có lời nói từ tham.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 9
Có lời nói từ chân thật.
Có lời nói từ ganh.
Có lời nói từ thương.
Vì vậy cùng một câu:
“Bạn nên sửa việc này.”
Nếu nói bằng lòng muốn giúp,
âm điệu khác.
Nếu nói bằng tâm muốn hạ người,
âm điệu khác.
Chữ giống nhau,
nhưng tâm khác.
Người nghe nhiều khi cảm nhận được.
Do đó người tu không chỉ sửa:
nói cái gì.
Mà còn phải sửa:
tâm nào đang nói.
“HÀNH ĐỘNG”
“Hành động” là những việc mình làm bằng thân.
Nhưng hành động thường không xuất hiện từ khoảng trống.
Phía trước nó có:
ý muốn,
động cơ,
tâm trạng,
nhận thức.
Một người nổi sân rồi đập phá.
Hành động là đập phá.
Nhưng trước đó:
sân đã sinh.
Một người thấy người bệnh rồi đưa họ đi khám.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 10
Hành động là giúp.
Nhưng trước đó:
lòng thương đã sinh.
Cho nên muốn đời sống thiện hơn,
không chỉ đứng ở cuối dòng để sửa hành động.
Phải đi ngược dòng về:
tâm.
“KHỔ NÃO”
“Khổ não” nghĩa là:
khổ đau, bất an, phiền não, những kết quả không an lành.
Có khổ ngay lập tức.
Nói một câu ác:
tâm nóng ngay.
Có khổ đến sau.
Một lời làm tổn thương người khác:
mối quan hệ rạn nứt về sau.
Có khổ do thói quen.
Ngày nào cũng sân,
thì cả đời sống trở thành nơi rất khó bình an.
Có khổ do nghiệp bất thiện mà mình tạo.
Vì vậy lời Phật nói:
“Khổ não bước theo sau.”
Đây không phải lời đe dọa.
Đó là một lời chỉ cho chúng ta thấy:
tâm bất thiện, lời nói bất thiện và hành động bất thiện có hậu quả.
“BƯỚC THEO SAU”
“Bước theo sau” nghĩa là:
khổ có điều kiện đi theo hành động phát sinh từ tâm ô nhiễm.
Đức Phật không nói:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 11
ai đó đứng bên ngoài để trừng phạt mình.
Ngài dùng hình ảnh nhân quả rất tự nhiên.
Tâm nhiễm.
Nói hoặc làm từ tâm ấy.
Khổ theo sau.
Giống như mình gieo một hạt giống.
Hạt giống chứa loại quả tương ứng với nhân của nó.
Gieo hạt ớt,
không thể đòi quả ngọt như xoài.
Cũng vậy,
nếu liên tục gieo:
sân,
dối,
hại,
ganh,
tham,
thì không thể mong tâm tự nhiên có bình an sâu sắc.
“NHƯ XE, CHÂN VẬT KÉO”
Đây là hình ảnh kết bài kệ.
Ngày xưa xe được con vật kéo đi.
Khi con vật bước,
bánh xe đi theo.
Đức Phật dùng một hình ảnh rất đơn giản để chỉ:
hậu quả bám theo hành động phát xuất từ tâm ô nhiễm một cách gần gũi như bánh xe đi theo chân con vật kéo xe.
Hình ảnh ấy làm bài kệ rất dễ nhớ.
Không cần một triết lý dài.
Chỉ cần nhớ:
tâm ô nhiễm → nói hoặc làm → khổ đi theo.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 12
4. GIẢI NGHĨA TỪNG CỤM
“Ý DẪN ĐẦU CÁC PHÁP”
Cụm này nhắc rằng:
tâm không phải một phần phụ trong đời sống.
Tâm đứng ở vị trí rất quan trọng.
Một người có rất nhiều điều kiện tốt bên ngoài nhưng tâm luôn:
ganh,
sợ,
sân,
tham,
thì vẫn khó an.
Một người hoàn cảnh chưa hoàn hảo nhưng biết tu tâm,
có thể bớt được rất nhiều phần khổ do chính mình tạo thêm.
Vì vậy muốn đổi đời sống,
không thể chỉ đổi ngoại cảnh.
Phải học:
đổi cách tâm tiếp nhận và phản ứng.
“Ý LÀM CHỦ, Ý TẠO”
Cụm này nhấn mạnh thêm vai trò của tâm.
Tâm giống như:
người cầm tay lái.
Nếu người cầm lái mê,
xe dễ đi sai.
Nếu người cầm lái tỉnh,
dù đường khó vẫn có khả năng điều chỉnh.
Cho nên mỗi ngày người tu phải học:
giành lại tay lái từ tham, sân và si.
Không để:
một cơn giận quyết thay mình.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 13
Không để:
một lòng tham quyết thay mình.
Không để:
một nỗi sợ quyết thay mình.
Không để:
lời thiên hạ quyết toàn bộ giá trị của mình.
“NẾU VỚI Ý Ô NHIỄM”
Đây là điều kiện rất quan trọng.
Lời kinh không nói:
hễ suy nghĩ là khổ.
Mà nói:
“với ý ô nhiễm.”
Tức là tâm đã bị bất thiện làm nhiễm.
Cho nên người tu phải học nhận ra:
tâm đang sạch hay đang nhiễm?
Trước một lời nói,
hãy nhìn:
Tôi đang nói vì thương hay vì sân?
Trước một quyết định,
hãy nhìn:
Tôi đang làm vì đúng hay vì tham lợi?
Trước khi kể một chuyện,
hãy nhìn:
Tôi đang nói sự thật cần thiết hay đang muốn làm người kia xấu đi trong mắt người khác?
Chỉ cần biết soi như vậy,
rất nhiều nghiệp có thể được ngăn trước khi thành lời và hành động.
“NÓI LÊN HAY HÀNH ĐỘNG”
Đức Phật chỉ cả:
lời nói
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 14
và:
hành động.
Bởi tâm không dừng trong đầu.
Nó đi ra miệng.
Nó đi ra tay chân.
Một niệm sân nếu chỉ mới sinh rồi mình nhận ra và không làm theo,
hậu quả khác.
Nhưng nếu nuôi sân,
rồi sân đi ra thành:
mắng,
hại,
trả đũa,
thì hậu quả lớn hơn.
Đây chính là lý do:
chánh niệm phải đi trước hành động.
Mình cần một khoảng rất nhỏ giữa:
cảm xúc
và:
phản ứng.
Khoảng ấy có thể cứu mình khỏi rất nhiều hối tiếc.
“KHỔ NÃO BƯỚC THEO SAU”
Đây là kết quả.
Không cần đợi đời sau mới thấy.
Có thể thấy ngay.
Nói dối:
tâm phải nhớ mình đã nói gì.
Nói ác:
quan hệ lạnh đi.
Ganh:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 15
thấy người khác vui thì mình khổ.
Sân:
người kia chưa chắc đau nhưng mình đã nóng trước.
Keo:
có nhiều vẫn thấy thiếu.
Đó đều là những dạng:
khổ theo sau.
“NHƯ XE, CHÂN VẬT KÉO”
Hình ảnh này dạy mình về:
tính không rời nhau của nhân và quả.
Không phải gieo gì cũng thấy quả ngay lập tức.
Nhưng điều mình gieo đang định hình đời sống.
Một cơn sân lặp lại nhiều lần thành tính nóng.
Một lời dối lặp lại nhiều lần thành thói quen không chân thật.
Một lần nhẫn lặp lại nhiều lần thành sức nhẫn.
Một lần bố thí lặp lại nhiều lần làm tâm rộng.
Một lần nói thật lặp lại nhiều lần làm người khác tin.
Như vậy mỗi ngày chúng ta không chỉ:
sống.
Chúng ta còn đang:
tập trở thành một kiểu người nào đó.
5. GHÉP NGHĨA TOÀN CÂU KINH
Bây giờ chúng ta ghép lại toàn bộ bài kệ.
Lời Phật có thể được hiểu theo mạch như sau:
Tâm ý có vai trò dẫn đầu và chi phối lời nói, hành động của con người. Nếu một người nói hoặc hành động trong khi tâm đang bị những trạng thái bất thiện làm ô nhiễm, thì khổ đau có điều kiện đi theo, giống như bánh xe đi theo chân con vật kéo xe.
Nói thật dễ nhớ:
TÂM NHIỄM → LỜI NHIỄM → HÀNH ĐỘNG NHIỄM → KHỔ THEO.
Nhưng đây không phải để mình sợ cái tâm.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 16
Mà để hiểu:
chỗ cần tu nằm ngay ở đầu nguồn.
Nếu nước bị bẩn ở đầu nguồn,
càng chảy xuống càng khó xử lý.
Tâm cũng vậy.
Nếu sân mới chớm mà biết:
dễ dừng.
Đã ra lời:
khó hơn.
Đã thành hành động:
khó hơn nữa.
Đã thành thói quen:
càng khó.
Cho nên:
tu tâm sớm là tu ở đầu nguồn.
6. GIẢNG SÂU – TẠI SAO ĐỨC PHẬT ĐẶT TÂM NGAY KỆ ĐẦU TIÊN?
Kính thưa quý vị,
đây là bài kệ đầu tiên của Kinh Pháp Cú.
Điều này rất đáng suy ngẫm.
Đức Phật đưa tâm lên trước.
Bởi người học Phật nếu chỉ sửa cảnh mà không sửa tâm thì:
đổi chỗ ở,
tâm vẫn theo.
Đổi người bên cạnh,
tâm vẫn theo.
Có thêm tài sản,
tham vẫn có thể theo.
Được nhiều người khen,
cái tôi vẫn theo.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 17
Ở nơi rất yên,
nhưng nếu trong đầu đầy sân và lo,
vẫn không yên.
Cho nên cuối cùng phải quay lại:
người bên trong.
7. CÙNG MỘT HOÀN CẢNH – HAI CÁI TÂM CÓ THỂ TẠO HAI CÁCH SỐNG KHÁC NHAU
Hai người cùng bị chê.
Người thứ nhất nghĩ:
“Họ xúc phạm tôi. Tôi phải trả.”
Sân tăng.
Người thứ hai hỏi:
“Họ nói có phần nào đúng không?”
Nếu đúng:
sửa.
Nếu sai:
không cần ôm hết.
Cùng một lời chê,
hai cái tâm tạo hai con đường.
Hai người cùng thấy người khác thành công.
Người thứ nhất:
ganh.
Người thứ hai:
tùy hỷ và học điều tốt.
Cùng một sự kiện,
một người khổ,
một người tạo thiện.
Điều này cho thấy:
tâm rất quan trọng.
8. TÂM Ô NHIỄM THƯỜNG LÀM MÌNH NHÌN SỰ THẬT MÉO ĐI
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 18
Khi giận một người,
mình rất dễ chỉ nhớ lỗi họ.
Việc tốt trước đây:
quên.
Khi quá thương một người,
mình lại có thể không muốn thấy lỗi.
Khi tham một món lợi,
mình dễ nghĩ:
“Chắc không sao đâu.”
Khi muốn thắng,
mình dễ chỉ chọn thông tin có lợi cho mình.
Vì vậy trước một quyết định quan trọng,
đừng chỉ hỏi:
“Tôi nghĩ gì?”
Hãy hỏi thêm:
“Tâm nào đang nghĩ?”
Đây là câu hỏi rất lớn.
9. KHI SÂN ĐANG NGHĨ – ĐỪNG TIN HẾT MỌI SUY NGHĨ
Sân có thể nói:
“Người này lúc nào cũng xấu.”
Có thật lúc nào cũng xấu không?
Sân nói:
“Tôi phải trả ngay.”
Có thật phải trả ngay không?
Sân nói:
“Nếu tôi im là tôi thua.”
Có thật không?
Cảm xúc rất thật.
Nhưng điều cảm xúc nói với mình:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 19
không phải lúc nào cũng là toàn bộ sự thật.
Cho nên người tu phải có khả năng:
biết tâm mà chưa vội làm theo tâm.
10. KHI THAM ĐANG NGHĨ – CŨNG ĐỪNG VỘI TIN
Tham nói:
“Có cái này tôi sẽ hạnh phúc.”
Có thật không?
Trước đây mình đã từng muốn nhiều thứ.
Có rồi:
vui một lúc.
Sau đó lại muốn thứ khác.
Vậy phải học nhìn:
cái muốn.
Không phải hễ tâm muốn là:
phải đáp ứng ngay.
Một khoảng dừng sẽ cho trí tuệ cơ hội đi vào.
11. TÂM Ô NHIỄM CÓ THỂ LÀM MỘT LỜI NÓI ĐÚNG TRỞ THÀNH MỘT MŨI DAO
Có khi điều mình nói:
đúng sự thật.
Nhưng tâm đang sân.
Mình chọn đúng chỗ đau nhất của người kia để nói.
Sau đó mình biện minh:
“Tôi có nói sai đâu.”
Nhưng Chánh pháp không chỉ hỏi:
câu ấy đúng không.
Còn phải nhìn:
tâm nào nói.
Mục đích là giúp hay làm đau?
Đúng lúc hay không?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 20
Có cần thiết không?
Đây là lý do tu tâm phải đứng trước tu lời.
12. TÂM THIỆN CŨNG CÓ THỂ BIẾN MỘT VIỆC RẤT NHỎ THÀNH ĐIỀU RẤT ĐẸP
Một ly nước.
Rất nhỏ.
Nhưng cho người đang khát bằng lòng thương:
đẹp.
Một lời:
“Bạn có sao không?”
Rất ngắn.
Nhưng nói đúng lúc với người đang buồn:
đẹp.
Một lần nhường đường.
Một lần không mắng.
Một lần giữ im lặng để tránh làm đau.
Một lần trả lại vật người khác đánh rơi.
Những việc ấy nhỏ.
Nhưng nếu phát sinh từ tâm thiện,
đang tập cho mình:
một cách sống khác.
13. ĐỪNG CHỈ QUAN TÂM “TÔI ĐÃ LÀM GÌ” – HÃY HỎI “TÔI LÀM VỚI TÂM NÀO”
Hai người cùng bố thí.
Một người cho vì thương.
Một người cho để hơn người.
Bên ngoài:
cùng cho.
Tâm:
khác.
Hai người cùng im lặng.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 21
Một người im vì nhẫn.
Một người im để trừng phạt.
Bên ngoài:
cùng im.
Tâm:
khác.
Hai người cùng giảng Pháp.
Một người mong người nghe hiểu và bớt khổ.
Một người chỉ muốn được kính.
Bên ngoài:
cùng nói lời Pháp.
Tâm:
khác.
Cho nên người tu phải học nhìn:
động cơ.
14. ỨNG DỤNG KHI BỊ NÓI XẤU
Khi có người nói không đúng về mình,
tâm đầu tiên có thể nổi sân.
Đừng tự trách ngay.
Chỉ biết:
“Tâm đang bị ô nhiễm bởi sân.”
Rồi đừng vội nói.
Hỏi:
Điều họ nói có đúng phần nào không?
Nếu đúng:
sửa.
Nếu sai:
có cần đính chính không?
Nếu cần:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 22
nói sự thật.
Không để cái sân viết lời thay mình.
Như vậy mình đang chặn chuỗi:
tâm nhiễm → lời nhiễm → khổ.
15. ỨNG DỤNG KHI NGƯỜI THÂN LÀM TRÁI Ý
Người thân thường là người dễ làm mình sân nhất.
Không phải vì họ xấu nhất.
Mà vì mình có nhiều:
mong đợi.
Mình nghĩ:
“Họ phải hiểu tôi.”
“Họ phải nghe tôi.”
“Họ phải biết tôi muốn gì.”
Khi họ không làm,
tâm nhiễm.
Lúc ấy nhớ bài kệ đầu tiên:
tâm đi trước.
Đừng để tâm sân đi trước lời nói.
Nếu cần:
dừng vài phút.
Rồi nói.
16. ỨNG DỤNG KHI BỊ CHÊ
Khi bị chê, đừng chỉ nhìn người chê.
Hãy nhìn tâm.
Nó đang:
sân?
xấu hổ?
sợ mất danh?
muốn trả?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 23
Sau đó hỏi:
Họ nói đúng không?
Nếu đúng:
học.
Nếu sai:
không cần nhận điều sai thành mình.
Nhưng dù đúng hay sai,
đừng để một lời chê biến mình thành:
người nói và làm trong tâm ô nhiễm.
17. ỨNG DỤNG KHI CÓ LỢI ÍCH LỚN TRƯỚC MẶT
Một cơ hội có lợi.
Tâm rất muốn.
Trước khi quyết, hỏi:
“Lợi này có khiến mình phải làm điều sai không?”
Nếu có:
đó là chỗ tu.
Tham đi trước,
hành động sai đi sau,
khổ có thể theo.
Nhìn được từ đầu:
tránh được đoạn sau.
18. ỨNG DỤNG KHI GIẢNG PHẬT PHÁP
Người chia sẻ Phật pháp càng phải nhớ bài kệ này.
Trước khi nói:
tâm nào đang nói?
Muốn giúp người hiểu?
Hay muốn chứng minh mình giỏi?
Khi bị hỏi nguồn:
tâm nào phản ứng?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 24
Nếu khó chịu,
thấy sân.
Nếu sợ bị phát hiện nhầm,
thấy cái tôi.
Rồi quay lại:
sự thật.
Không biết:
nói chưa biết.
Nhớ chưa chắc:
kiểm lại.
Sai:
sửa.
Đó là tu ngay trong việc giảng Pháp.
19. CÔNG THỨC THỰC HÀNH: TÂM – LỜI – VIỆC – QUẢ
Có thể nhớ bài kệ bằng bốn chữ:
TÂM → LỜI → VIỆC → QUẢ
TÂM
Trước hết nhìn trạng thái trong tâm.
LỜI
Nếu tâm đang nhiễm,
cẩn thận lời nói.
VIỆC
Đừng để tâm bất thiện biến thành hành động bất thiện.
QUẢ
Nhớ rằng lời và việc đều có hậu quả.
Chỉ cần nhớ bốn chữ này,
bài kệ đã có thể đi theo mình cả ngày.
20. CÔNG THỨC THỨ HAI: BIẾT – DỪNG – LỌC – LÀM
BIẾT
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 25
Biết tâm đang như thế nào.
DỪNG
Nếu tâm đang quá sân, tham hoặc loạn:
đừng phản ứng vội.
LỌC
Hỏi:
Điều mình định nói hoặc làm có đúng không? Có thiện không? Có gây hại không?
LÀM
Sau đó mới nói hoặc hành động.
Đây là cách đặt:
trí tuệ
vào giữa:
tâm
và:
hành động.
21. BÀI THỰC HÀNH MỘT NGÀY
Trong một ngày,
mình không cần kiểm soát mọi ý nghĩ.
Chỉ thực hành một điều:
trước mỗi phản ứng mạnh, nhìn tâm một lần.
Ai làm mình giận:
nhìn tâm.
Thấy món rất muốn mua:
nhìn tâm.
Được khen:
nhìn tâm.
Bị chê:
nhìn tâm.
Muốn kể chuyện người khác:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 26
nhìn tâm.
Chỉ cần tạo thói quen:
quay vào một lần trước khi đi ra.
Đó là bài thực hành rất lớn.
22. BÀI THỰC HÀNH BUỔI SÁNG
Mỗi sáng có thể đọc:
Hôm nay tôi nhớ tâm đi trước lời nói và hành động.
Tôi sẽ cố nhận ra sân trước khi sân thành lời.
Tôi sẽ cố nhận ra tham trước khi tham thành việc làm sai.
Tôi sẽ không tin hoàn toàn mọi suy nghĩ khi tâm đang nóng.
Tôi sẽ cho mình một khoảng dừng để trí tuệ có cơ hội xuất hiện.
Tôi nhớ rằng mỗi lời và mỗi việc đều đang gieo một nhân.
23. BÀI THỰC HÀNH BUỔI TỐI
Trước khi ngủ hỏi:
Hôm nay trạng thái tâm nào xuất hiện nhiều nhất?
Tham?
Sân?
Sợ?
Ganh?
Hay từ bi?
Có lúc nào tâm ô nhiễm đã đi ra thành lời không?
Có lúc nào mình đã kịp dừng không?
Có việc nào mình làm từ thiện tâm không?
Có câu nào mình cần xin lỗi không?
Ngày mai mình cần nhận ra điều gì sớm hơn?
Không cần tự kết tội.
Mục đích là:
biết tâm để ngày mai tu tốt hơn.
24. CÂU GHI NHỚ
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 27
Muốn sửa cuộc đời bên ngoài, hãy bắt đầu bằng việc biết cái tâm đang dẫn mình đi đâu.
Một lời nói không tự sinh; phía sau nó thường có một trạng thái tâm.
Sân trong tâm nếu không được thấy có thể đi ra thành lời làm đau người.
Tham trong tâm nếu không được soi có thể làm mình gọi cái sai thành cái có lợi.
Cảm xúc rất thật, nhưng điều cảm xúc đang bảo mình làm chưa chắc đã đúng.
Người tu không phải người không còn một ý bất thiện nào; người tu là người ngày càng nhận ra nó sớm hơn và bớt làm theo nó.
Một khoảng dừng giữa cơn sân và lời nói có thể cứu một mối quan hệ.
Một khoảng dừng giữa lòng tham và hành động có thể cứu mình khỏi một việc sai.
Một tâm thiện nhỏ được nuôi mỗi ngày có thể trở thành một đời sống thiện.
25. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
TÂM ĐI TRƯỚC.
LỜI VÀ VIỆC ĐI SAU.
TÂM Ô NHIỄM MÀ NÓI VÀ LÀM, KHỔ CÓ ĐIỀU KIỆN THEO SAU.
Vì vậy:
TRƯỚC KHI SỬA LỜI – HÃY NHÌN TÂM.
TRƯỚC KHI SỬA NGƯỜI – HÃY NHÌN TÂM.
TRƯỚC KHI PHẢN ỨNG – HÃY NHÌN TÂM.
TRƯỚC KHI QUYẾT ĐỊNH – HÃY NHÌN TÂM.
Và xin nhớ nguyên lời Phật:
“Ý dẫn đầu các pháp, Ý làm chủ, ý tạo; Nếu với ý ô nhiễm, Nói lên hay hành động, Khổ não bước theo sau, Như xe, chân vật kéo.”
Nguồn: Kinh Pháp Cú – Tiểu Bộ Kinh – Phẩm Song Yếu, phẩm thứ nhất, kệ số 1; mã tra cứu quốc tế Dhp 1; bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 28
MỤC 002 - Bài 002 — TÂM THANH TỊNH – AN LẠC BƯỚC THEO SAU 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
“Ý dẫn đầu các pháp, Ý làm chủ, ý tạo, Nếu với ý thanh tịnh, Nói lên hay hành động, An lạc bước theo sau, Như bóng, không rời hình.”
2. NGUỒN KINH
Kinh: Kinh Pháp Cú Thuộc: Tiểu Bộ Kinh – Kinh Tạng Pāli Phẩm: Phẩm Song Yếu, phẩm thứ nhất Kệ: Kệ số 2 Mã tra cứu quốc tế: Pháp Cú 2 – Dhp 2 Bản dịch tiếng Việt: Hòa thượng Thích Minh Châu Nguyên bản kinh: tiếng Pāli
Bản Kinh Pháp Cú tiếng Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu ghi đúng bài kệ này ở Phẩm Song Yếu, kệ số 2; SuttaCentral cũng xếp Dhp 1–20 trong Yamakavagga – Phẩm Song Yếu và xác nhận kệ 2 là bài kệ đối ứng với kệ 1. (SuttaCentral)
3. GIẢI NGHĨA TỪNG TỪ
Kính thưa quý vị,
bài kệ thứ hai của Kinh Pháp Cú đi liền với bài kệ thứ nhất.
Bài thứ nhất nói:
Nếu tâm ô nhiễm mà nói hay hành động, khổ đau bước theo sau.
Bài thứ hai nói chiều ngược lại:
Nếu tâm thanh tịnh mà nói hay hành động, an lạc bước theo sau.
Hai bài đứng cạnh nhau như hai mặt của một sự thật.
Một bên là:
tâm nhiễm → khổ.
Một bên là:
tâm thanh tịnh → an.
Đức Phật không chỉ nói cho mình biết nguyên nhân của khổ.
Ngài còn chỉ luôn con đường đưa đến an lạc.
Vì vậy trước khi giảng cả bài, chúng ta đi từng từ.
“Ý”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 29
Trong bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu dùng chữ:
“ý”.
Để dễ hiểu, chúng ta có thể nói:
ý ở đây chỉ đời sống tâm ý, trạng thái tâm đứng phía trước lời nói và hành động.
Trước một lời thương,
tâm thương đã sinh.
Trước một lời ác,
tâm sân đã sinh.
Trước một việc giúp người,
thiện ý đã có.
Trước một hành động lừa dối,
thường đã có tâm muốn che giấu hoặc muốn chiếm lợi.
Như vậy người học Phật không chỉ chăm chăm sửa cái miệng.
Phải quay lại nhìn:
cái tâm đang đứng phía sau miệng.
Không chỉ sửa bàn tay.
Phải nhìn:
cái tâm đang điều khiển bàn tay.
“DẪN ĐẦU”
“Dẫn đầu” nghĩa là:
đi trước.
Một việc chưa thành lời,
chưa thành hành động,
thường đã có một hướng ở trong tâm.
Có khi người khác chỉ nhìn mình một cái.
Nếu tâm nghĩ:
“Họ ghét tôi.”
lập tức khó chịu.
Nếu tâm nghĩ:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 30
“Có thể họ chỉ đang suy nghĩ.”
thì không có gì lớn.
Sự kiện bên ngoài giống nhau.
Nhưng tâm đi trước bằng hai hướng khác nhau,
nên lời nói và phản ứng đi sau cũng khác.
Cho nên người tu cần học:
đừng tin ngay mọi cách diễn giải đầu tiên của tâm.
Nhất là lúc sân,
sợ,
ganh,
hay tự ái đang mạnh.
“PHÁP”
Chữ “pháp” trong câu:
“Ý dẫn đầu các pháp”
không chỉ có nghĩa là bài giảng Phật pháp.
Nó là một từ rất rộng.
Để giảng dễ hiểu mà không đi lệch, mình có thể nói:
các pháp ở đây chỉ những trạng thái và tiến trình liên hệ đến đời sống tâm ý, lời nói và hành động của con người.
Điều cần đặc biệt tránh là hiểu thành:
“Chỉ cần nghĩ điều gì thì tâm sẽ tạo ra toàn bộ thế giới bên ngoài theo đúng ý mình.”
Bài kinh không dạy như vậy.
Điểm Đức Phật đang nhấn mạnh là:
tâm có vai trò rất quan trọng đối với cách mình nói, cách mình làm và những hệ quả tâm lý – đạo đức đi theo.
“LÀM CHỦ”
“Làm chủ” ở đây có thể hiểu là:
tâm giữ vai trò chi phối rất mạnh.
Khi tâm từ làm chủ,
mình nhìn người mềm hơn.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 31
Khi sân làm chủ,
người kia chỉ cần làm một việc nhỏ cũng thấy khó chịu.
Khi tham làm chủ,
một điều sai cũng dễ được mình tự biện hộ.
Khi chánh niệm làm chủ,
mình có khả năng thấy cảm xúc trước khi làm theo nó.
Do vậy mỗi sáng có thể tự hỏi:
“Hôm nay cái gì đang làm chủ tâm mình?”
Là:
tham?
sân?
sợ?
hay:
từ,
bi,
chân thật,
chánh niệm,
trí tuệ?
Đây là một câu hỏi rất thực tế.
“Ý TẠO”
Câu:
“Ý làm chủ, ý tạo”
không nên được hiểu thành:
nghĩ gì thì điều ấy tự nhiên xuất hiện ngoài đời.
Điều gần sát hơn là:
tâm có vai trò tạo nên cách lời nói và hành động phát sinh từ mình.
Một tâm biết ơn lâu ngày tạo ra:
cách nói biết ơn.
Một tâm sân được nuôi lâu ngày tạo ra:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 32
thói quen nóng nảy.
Một tâm ganh được nuôi:
khiến mình không vui nổi trước cái tốt của người khác.
Một tâm từ được nuôi:
khiến mình tự nhiên biết cân nhắc nỗi đau của người.
Mỗi ngày mình đang âm thầm tạo một con người qua những tâm nào được nuôi nhiều nhất.
“THANH TỊNH”
Đây là chữ quan trọng nhất của bài kệ thứ hai.
“Thanh tịnh” có thể hiểu:
trong sạch, không bị những trạng thái bất thiện chi phối theo cách đang nói đến.
Một tâm thanh tịnh không phải chỉ là:
tâm không suy nghĩ gì.
Cũng không phải:
đầu óc trống rỗng.
Tâm thanh tịnh có thể có:
lòng từ.
Lòng bi.
Chân thật.
Không ác ý.
Không gian dối.
Không cố ý hại người.
Biết đủ.
Biết nhẫn.
Có chánh niệm.
Có trí soi xét.
Ví dụ:
mình thấy người khác thành công.
Thay vì ganh,
mình vui theo.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 33
Tâm nhẹ.
Đó là một phần thanh tịnh.
Người kia làm mình đau.
Mình vẫn xử lý việc cần thiết nhưng không muốn trả đũa.
Tâm bớt sân.
Đó là hướng thanh tịnh.
Có cơ hội gian dối để lấy lợi,
mình không làm.
Đó là thanh tịnh đi vào hành động.
“NÓI LÊN”
“Nói lên” là:
lời nói phát sinh từ tâm.
Một lời có thể giống nhau về chữ,
nhưng khác hoàn toàn về tâm.
Ví dụ:
“Bạn nên xem lại việc này.”
Nếu nói với tâm thương:
người nghe cảm được.
Nếu nói với tâm khinh:
cũng câu đó nhưng có dao.
Vì vậy Chánh pháp không chỉ quan tâm:
nội dung lời nói.
Còn quan tâm:
tâm đang sinh ra lời ấy.
Khi lời đi ra từ một tâm thanh tịnh hơn,
nó có nhiều khả năng:
nhẹ,
thật,
đúng lúc,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 34
có lợi ích,
ít gây tổn thương vô ích.
“HÀNH ĐỘNG”
“Hành động” là việc mình làm bằng thân.
Nhưng trước hành động thường có động cơ.
Một người cho một món quà.
Nếu cho vì thương:
một tâm.
Nếu cho để người khác mang ơn:
một tâm khác.
Bên ngoài cùng là cho.
Bên trong khác.
Một người im lặng.
Nếu im vì nhẫn:
một tâm.
Nếu im để trừng phạt:
một tâm khác.
Cho nên người tu không chỉ nhìn:
việc đã làm.
Mà còn nhìn:
mình làm bằng tâm nào.
Đây là một bước rất quan trọng trong việc soi mình.
“AN LẠC”
“An lạc” là:
sự an vui, hạnh phúc, nhẹ nhàng, trạng thái ít bị khổ não thiêu đốt.
Có an lạc rất gần.
Ví dụ:
nói thật thì tâm không phải sợ bị lộ.
Tha được một chuyện:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 35
tâm nhẹ.
Không trả đũa:
đêm ngủ dễ hơn.
Giúp được người:
tâm vui.
Giữ được một giới giữa lúc lợi lớn:
tâm có sự tự trọng.
Những điều ấy có thể thấy ngay.
An lạc không nhất thiết là:
lúc nào cũng phấn khích.
Nhiều khi an lạc chỉ là:
không phải mang thêm một gánh nặng do chính mình tạo.
“BƯỚC THEO SAU”
“Bước theo sau” nghĩa là:
an lạc có điều kiện đi cùng với lời nói và hành động phát sinh từ tâm thanh tịnh.
Không phải hiểu một cách máy móc rằng:
làm một việc tốt thì ngay lập tức mọi hoàn cảnh bên ngoài đều thuận.
Có người làm điều đúng nhưng vẫn gặp khó.
Có người giữ giới nhưng vẫn bị hiểu lầm.
Có người giúp người nhưng không được biết ơn.
Vì vậy “an lạc bước theo” không nên giảng thành:
“làm thiện thì cuộc đời chắc chắn không còn nghịch cảnh.”
Điều sâu hơn là:
thiện tâm và thiện nghiệp không tạo thêm kiểu khổ do tham, sân, dối trá và ác ý gây ra; chúng tạo nền cho an lành và quả thiện.
“NHƯ BÓNG”
Hình ảnh trong bài kệ rất đẹp:
“Như bóng, không rời hình.”
Một người đi,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 36
bóng theo.
Không cần gọi bóng.
Không cần kéo bóng.
Khi đủ điều kiện ánh sáng,
bóng tự đi cùng.
Đức Phật dùng hình ảnh rất gần để làm mình nhớ:
tâm thanh tịnh → nói hoặc làm → an lạc theo sau.
Nếu bài 1 dùng hình ảnh:
bánh xe đi theo chân vật kéo
để nói về khổ,
thì bài 2 dùng:
bóng theo hình
để nói về an lạc.
Hai hình ảnh tạo thành một cặp rất đẹp. (Access to Insight)
“KHÔNG RỜI HÌNH”
Cụm:
“không rời hình”
làm hình ảnh càng sâu.
Điều thiện không phải chỉ để:
trang trí hình ảnh bên ngoài.
Nó trở thành một phần đi cùng đời sống.
Một người tập chân thật lâu ngày:
sự đáng tin đi theo.
Một người tập từ bi lâu ngày:
cách nhìn mềm hơn đi theo.
Một người tập nhẫn:
khả năng chịu được nghịch cảnh đi theo.
Một người tập bố thí:
tâm rộng dần đi theo.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 37
Mỗi lần thiện pháp được lặp lại,
mình đang nuôi một phẩm chất đi cùng mình.
4. GIẢI NGHĨA TỪNG CỤM
“Ý DẪN ĐẦU CÁC PHÁP”
Cụm này nhắc:
muốn thay đổi lời và việc, phải quay về đầu nguồn là tâm.
Nếu chỉ ép miệng không nói,
nhưng trong tâm vẫn hận dữ,
thì mới giữ được phần ngoài.
Cần tiếp tục tu phần trong.
Nếu chỉ ép tay không làm điều xấu,
nhưng trong tâm ngày nào cũng tưởng tượng trả đũa,
thì chưa hoàn tất.
Ngược lại,
khi tâm dần trong hơn,
lời và hành động cũng tự nhiên dễ đổi hơn.
Đây là lý do tu tâm không phải việc phụ.
Nó là phần rất căn bản.
“Ý LÀM CHỦ, Ý TẠO”
Cụm này cho thấy:
tâm là nơi mình phải chịu trách nhiệm.
Mình không thể kiểm soát tất cả người trên đời.
Không kiểm soát hết lời họ nói.
Không điều khiển được mọi biến cố.
Nhưng có một việc mình có thể học dần:
điều phục cách tâm phản ứng.
Nếu người khác chửi mình,
mình chưa chắc ngăn được câu đầu.
Nhưng có thể học:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 38
không để nó tạo mười câu chửi từ mình.
Người khác ganh mình,
mình không kiểm soát được.
Nhưng có thể học:
không ganh lại.
Đó là lấy lại quyền làm chủ phần của mình.
“NẾU VỚI Ý THANH TỊNH”
Đây là điều kiện trung tâm.
Không phải chỉ:
làm một việc có vẻ tốt.
Mà:
làm từ một tâm thiện hơn.
Ví dụ bố thí.
Nếu cho để hạ người:
tâm chưa đẹp.
Nếu cho rồi ngày nào cũng nhắc:
“Tôi đã giúp anh,”
tâm vẫn còn chấp.
Nếu cho bằng lòng thương,
không đòi người khác phải mang ơn,
tâm nhẹ hơn.
Cùng một hành động,
tâm quyết định phẩm chất của việc ấy rất nhiều.
“NÓI LÊN HAY HÀNH ĐỘNG”
Cụm này đưa Pháp ra khỏi lý thuyết.
Tâm thanh tịnh không chỉ để:
mình biết trong lòng.
Nó phải đi ra:
lời lành,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 39
việc lành.
Một người nói:
“Tôi thương chúng sinh,”
nhưng lời nói luôn làm người khác tổn thương,
thì phải xem lại.
Một người nói:
“Tôi sống chân thật,”
nhưng gặp lợi là nói dối,
thì phải xem lại.
Thiện tâm thật sẽ dần tìm đường đi vào:
thân và khẩu.
“AN LẠC BƯỚC THEO SAU”
An lạc không phải một món quà ngẫu nhiên.
Nó có nhân.
Một tâm không nuôi hận:
có nhân của nhẹ.
Một tâm chân thật:
có nhân của an.
Một tâm biết đủ:
bớt rất nhiều cái đói.
Một tâm rộng:
bớt rất nhiều sự nắm.
Đây là chỗ mình cần thay đổi cách tìm hạnh phúc.
Thường mình tìm an bằng:
thêm từ bên ngoài.
Lời Phật chỉ thêm một con đường:
bớt ô nhiễm bên trong.
“NHƯ BÓNG, KHÔNG RỜI HÌNH”
Hình ảnh này làm câu kinh trở nên rất dễ nhớ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 40
Không cần ngày nào cũng cầu:
“An lạc hãy theo tôi.”
Hãy tạo nhân cho an.
Nếu mỗi ngày:
ít nói dối hơn,
ít sân hơn,
biết ơn hơn,
bố thí hơn,
biết nhẫn hơn,
thì chính đời sống ấy đang tạo nền cho an.
Muốn bóng đi theo,
không cần chạy đuổi bắt bóng.
Chỉ cần:
người đi đúng hướng.
Đây là một hình ảnh rất đẹp để ứng dụng.
5. GHÉP NGHĨA TOÀN CÂU KINH
Ghép lại toàn bài:
Tâm ý đi trước và giữ vai trò quan trọng đối với lời nói, hành động. Nếu một người nói hoặc hành động từ một tâm trong sạch, không bị những trạng thái bất thiện chi phối, thì an lạc có điều kiện đi theo người ấy, giống như bóng đi theo hình không rời.
Có thể nhớ thật gọn:
TÂM THANH TỊNH → LỜI THIỆN → VIỆC THIỆN → AN LẠC THEO.
Đây chính là mặt thứ hai của bài kệ 1.
Bài 1:
TÂM Ô NHIỄM → KHỔ.
Bài 2:
TÂM THANH TỊNH → AN.
Hai bài ghép lại thành một bản đồ căn bản:
MUỐN BỚT KHỔ – NHÌN TÂM.
MUỐN THÊM AN – CŨNG BẮT ĐẦU TỪ TÂM.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 41
6. GIẢNG SÂU – AN LẠC KHÔNG CHỈ NẰM Ở HOÀN CẢNH
Kính thưa quý vị,
con người thường đặt rất nhiều điều kiện cho hạnh phúc.
Khi có tiền hơn tôi sẽ vui.
Khi người ấy hiểu tôi tôi mới an.
Khi con tôi nghe lời tôi mới an.
Khi không ai nói xấu tôi tôi mới an.
Khi hết việc tôi mới an.
Nhưng hết việc này có việc khác.
Người này hiểu thì người khác chưa hiểu.
Được thứ này lại muốn thứ khác.
Nếu an hoàn toàn phụ thuộc ngoại cảnh,
thì nó rất mong manh.
Đức Phật không nói ngoại cảnh không quan trọng.
Một môi trường tốt rất quý.
Một thân khỏe rất quý.
Một gia đình thuận hòa rất quý.
Nhưng Ngài chỉ sâu hơn:
tâm cũng là một yếu tố rất lớn của hạnh phúc.
7. CÓ NGƯỜI ĐIỀU KIỆN RẤT ĐẦY ĐỦ NHƯNG TÂM VẪN KHỔ
Có nhà.
Nhưng sợ mất.
Có tiền.
Nhưng vẫn thấy thiếu.
Có người thương.
Nhưng luôn nghi ngờ.
Có danh.
Nhưng ngày đêm sợ người khác hơn.
Có người khen.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 42
Nhưng một lời chê làm mất ngủ.
Như vậy:
ngoại cảnh có,
nhưng tâm chưa biết an.
Đây là lý do chỉ chạy đi tích lũy điều kiện bên ngoài chưa chắc giải được hết nỗi khổ.
8. CÓ NGƯỜI HOÀN CẢNH CHƯA HOÀN HẢO NHƯNG TÂM BIẾT ĐỦ THÌ NHẸ HƠN
Không phải họ không có khó khăn.
Họ vẫn có.
Nhưng họ có khả năng:
thấy cái đang có,
biết ơn,
không so quá nhiều,
không nuôi hận quá lâu,
không đòi mọi người phải theo ý.
Vì vậy cùng một hoàn cảnh,
mức độ khổ có thể rất khác.
Không phải để trách người đang đau:
“Tại tâm bạn nên bạn khổ.”
Nói như vậy thiếu từ bi.
Mà lời kinh giúp mỗi người:
tìm lại phần mình có thể tu.
Có những khổ do hoàn cảnh thật.
Nhưng cũng có phần khổ do tâm tiếp tục:
nắm,
chống,
nhớ,
hận,
so sánh.
Phần đó mình có thể học chuyển hóa.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 43
9. TÂM THANH TỊNH KHÔNG PHẢI TÂM NGÂY THƠ
Có người nghĩ:
“Tâm thiện nghĩa là ai mình cũng tin.”
Không phải.
Tâm thanh tịnh vẫn có trí.
Người lừa:
biết họ lừa.
Người nguy hiểm:
biết giữ khoảng cách.
Một việc sai:
biết là sai.
Nhưng không vì thấy cái sai mà:
nuôi ác ý.
Đây là khác biệt rất quan trọng.
Từ bi không phải ngu ngơ.
Thiện không phải không có ranh giới.
Thanh tịnh là:
thấy sự việc rõ nhưng không để tham sân si làm chủ cách mình xử lý.
10. TÂM THANH TỊNH CÓ THỂ NÓI “KHÔNG”
Nhiều người tưởng người tốt phải luôn nói:
“Vâng.”
Không phải.
Có khi nói:
“Không”
mới đúng.
Người khác rủ làm điều sai:
nói không.
Người khác muốn lợi dụng:
nói không.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 44
Một yêu cầu vượt khả năng:
có thể nói không.
Một hành vi gây hại:
phải ngăn.
Điều khác biệt nằm ở tâm.
Nói không bằng sân:
một kiểu.
Nói không bằng sự rõ ràng:
một kiểu khác.
11. TÂM THANH TỊNH KHÔNG PHẢI CẢM XÚC LÚC NÀO CŨNG VUI
Có thể đang buồn nhưng tâm vẫn không ác.
Có thể đau nhưng vẫn chân thật.
Có thể mất mát nhưng không muốn hại ai.
Có thể thất vọng nhưng không dối.
Có thể khóc nhưng vẫn có từ.
Vì vậy đừng hiểu:
“Thanh tịnh là lúc nào cũng cười.”
Không phải.
Thanh tịnh liên hệ đến phẩm chất tâm,
không phải một vẻ mặt luôn vui vẻ.
12. MỘT TÂM CHÂN THẬT ĐEM LẠI MỘT LOẠI AN RẤT ĐẶC BIỆT
Người nói thật không phải nhớ:
mình đã bịa gì.
Không cần sợ:
người này nghe câu nào, người kia nghe câu nào.
Không phải tạo thêm lời nói để che lời trước.
Đó là một loại nhẹ.
Có thể sự thật đôi khi làm mình mất lợi ngắn hạn.
Nhưng nó giữ:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 45
phẩm hạnh.
Đây là an lạc sâu hơn một lợi ích nhỏ.
13. MỘT TÂM KHÔNG HẬN CŨNG NHẸ RẤT NHIỀU
Ghét một người rất mệt.
Phải nhớ họ.
Phải kể họ.
Nghe tên là nóng.
Thấy họ vui mình khó chịu.
Như vậy người mình ghét lại chiếm rất nhiều chỗ trong tâm.
Khi bớt hận,
không phải người kia được lợi trước.
Mình nhẹ trước.
Đây là lý do tâm thiện có quả gần ngay hiện tại.
14. MỘT TÂM BIẾT ĐỦ CÓ THỂ BIẾN “ÍT” THÀNH “ĐỦ”
Một người có mười nhưng muốn một trăm:
thấy thiếu.
Một người có năm nhưng nhu cầu căn bản đủ và biết ơn:
thấy đủ.
Vậy cảm giác giàu nghèo trong tâm không chỉ nằm ở số lượng.
Còn nằm ở:
mức độ tham cầu.
Biết đủ không có nghĩa:
không làm việc,
không phát triển.
Mà là:
không lấy chữ “thêm” làm điều kiện duy nhất để được an.
15. MỘT TÂM TÙY HỶ CHUYỂN GANH THÀNH PHƯỚC
Thấy người khác làm tốt.
Nếu ganh:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 46
mình khổ.
Nếu tùy hỷ:
“Lành thay, họ làm được điều tốt.”
tâm mình cũng vui.
Cùng một thành công của người khác.
Một cách nhìn biến nó thành:
nỗi đau.
Một cách nhìn biến nó thành:
niềm vui.
Đây là ví dụ rất đẹp cho:
tâm dẫn đầu.
16. KHI NGƯỜI KHÁC ĐƯỢC HƠN MÌNH
Tâm đầu tiên có thể hơi khó chịu.
Không cần giả:
“Tôi vui lắm.”
Nếu chưa vui thì biết:
“Ganh đang chớm.”
Sau đó tập:
“Điều tốt của họ không lấy mất điều tốt của mình.”
“Họ có quả này chắc có nhân.”
“Mình học nhân tốt của họ.”
Mỗi lần như vậy,
ganh giảm một chút.
Tâm sáng một chút.
17. KHI BỊ XÚC PHẠM
Bài kệ 1 nhắc:
tâm ô nhiễm thì khổ theo.
Bài kệ 2 nhắc:
tâm trong hơn thì an theo.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 47
Vậy khi bị xúc phạm,
ngay lập tức có hai đường.
Đường một:
nuôi sân.
Đường hai:
xử lý việc nhưng giữ tâm khỏi ác ý.
Đường hai khó hơn.
Nhưng chính vì khó nên đó là chỗ tu.
18. KHI NGƯỜI KHÁC HIỂU LẦM MÌNH
Có thể nói sự thật.
Nhưng đừng đánh đổi tâm thanh tịnh lấy việc:
“tất cả mọi người phải hiểu tôi.”
Không ai kiểm soát được mọi suy nghĩ của thiên hạ.
Sống đúng.
Giải thích điều cần giải thích.
Sau đó:
buông phần không nằm trong quyền mình.
Đó cũng là an.
19. KHI CÓ TIỀN
Tiền có thể được dùng từ nhiều loại tâm.
Dùng vì tham:
một kiểu.
Dùng vì trách nhiệm:
một kiểu.
Dùng để giúp:
một kiểu.
Dùng để khoe:
một kiểu.
Vật không tự quyết phẩm chất tâm.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 48
Tâm mình đang liên hệ với vật ra sao mới là chỗ tu.
Có tài sản mà tâm rộng:
tài sản trở thành phương tiện tốt.
Có tài sản mà tâm chỉ sợ và nắm:
tài sản có thể thành gánh.
20. KHI LÀM VIỆC THIỆN
Đừng chỉ nhìn:
mình đã cho bao nhiêu.
Hỏi:
“Tâm tôi lúc cho thế nào?”
Có muốn người khác biết ơn không?
Có muốn được khen không?
Có khinh người nhận không?
Nếu có:
không tự trách.
Chỉ thấy:
cái tôi đang chen vào thiện.
Rồi lần sau làm sạch hơn một chút.
Đây là cách tu rất thật.
21. KHI GIẢNG PHẬT PHÁP
Trước khi nói một bài,
hãy hỏi:
“Tâm tôi muốn gì?”
Muốn:
người nghe hiểu lời Phật?
Hay:
người nghe nghĩ mình giỏi?
Muốn:
người nghe bớt khổ?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 49
Hay:
muốn được tôn lên?
Nếu thấy cái tôi có mặt:
không cần bỏ giảng.
Chỉ cần:
nhận ra và hạ xuống.
Trở về nguồn kinh.
Trở về lời Phật.
Trở về lợi ích người nghe.
Như vậy chính việc giảng cũng trở thành:
chỗ tu tâm thanh tịnh.
22. TẠI SAO PHẢI CÓ NGUỒN KINH RÕ?
Bởi tâm rất dễ:
nhớ nhầm,
hiểu nhầm,
thêm ý mình.
Nếu có nguồn:
mình quay về kiểm.
Kinh nào?
Phẩm nào?
Kệ mấy?
Ai dịch?
Nguyên văn ra sao?
Nguồn giúp người giảng:
hạ cái tôi xuống.
Không phải:
“Tôi nói nên đúng.”
Mà:
“Kinh nói như vậy; phần này là tôi giải.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 50
Đây cũng là sự chân thật.
23. TÂM THANH TỊNH TRONG LỜI NÓI
Trước khi nói, thử qua bốn cửa:
CỬA MỘT – THẬT
Có đúng không?
CỬA HAI – LỢI
Có ích không?
CỬA BA – ĐÚNG LÚC
Bây giờ nói có thích hợp không?
CỬA BỐN – ĐÚNG TÂM
Mình nói vì thương hay vì muốn làm đau?
Qua được bốn cửa ấy,
lời dễ trong hơn rất nhiều.
24. TÂM THANH TỊNH TRONG HÀNH ĐỘNG
Trước một việc lớn,
hỏi:
Có trái giới không?
Có hại mình hay người không?
Có vì tham quá mức không?
Có vì sân không?
Nếu không ai biết việc này, mình còn muốn làm không?
Những câu hỏi ấy giúp mình thấy động cơ.
25. ĐỪNG ĐỢI TÂM HOÀN TOÀN THANH TỊNH RỒI MỚI LÀM THIỆN
Người đang tu chưa hoàn hảo.
Có thể trong một việc thiện vẫn có chút danh.
Không sao.
Thấy.
Rồi chỉnh.
Nếu đợi:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 51
“Khi tâm tôi hoàn toàn sạch mới giúp người,”
có khi chẳng bao giờ làm.
Tu là:
vừa làm thiện,
vừa lọc tâm.
Lần này 50 phần trăm vì thương, 50 phần trăm vì muốn được khen.
Thấy.
Lần sau giảm phần danh.
Đó là tu thật.
26. TÂM THANH TỊNH ĐƯỢC XÂY TỪ NHỮNG VIỆC NHỎ
Một ngày không nói một câu ác.
Một ngày không kể chuyện người.
Một lần chịu nhận sai.
Một lần vui trước thành công của người khác.
Một lần giữ giới trước lợi.
Một lần cho mà không kể.
Một lần bị chê nhưng không trả đũa.
Mỗi việc nhỏ như:
một giọt nước sạch.
Nhiều giọt thành dòng.
27. ĐỪNG COI THƯỜNG MỘT NIỆM THIỆN
Mình thấy một người khó khăn.
Tâm thương khởi.
Dù chưa làm được nhiều,
niệm thiện ấy đã đáng quý.
Sau đó nếu có thể chuyển thành hành động:
càng tốt.
Một niệm:
“Tôi không muốn làm người này đau thêm,”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 52
có thể giữ lại một câu ác.
Một niệm:
“Tôi nên nói thật,”
có thể ngăn một lời dối.
Một niệm thiện nhỏ có thể đổi cả đoạn sau của sự việc.
28. AN LẠC “NHƯ BÓNG KHÔNG RỜI HÌNH” KHÔNG CÓ NGHĨA ĐỜI KHÔNG CÒN KHỔ
Đây là điều phải hiểu cẩn thận.
Một người thiện vẫn:
già,
bệnh,
mất người thân,
gặp nghịch cảnh.
Bài kệ không hứa:
“Tâm thiện thì không có sự kiện đau.”
Nó chỉ một mối quan hệ sâu hơn:
thiện tâm và thiện nghiệp là nhân của an lành, và người có tâm trong sạch không tự tạo thêm nhiều khổ như khi hành động từ ô nhiễm.
Vì vậy không dùng bài kinh để trách người gặp khổ:
“Chắc tâm họ không tốt.”
Đó là cách giảng thiếu căn cứ và thiếu từ bi.
29. ĐỪNG BIẾN NHÂN QUẢ THÀNH PHÁN XÉT NGƯỜI KHÁC
Mình không biết hết nghiệp của ai.
Không biết hết hoàn cảnh.
Không biết hết nhân duyên.
Cho nên học nhân quả trước hết để:
soi mình.
Tâm này:
nên nuôi không?
Lời này:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 53
nên nói không?
Việc này:
nên làm không?
Đó là ứng dụng an toàn và thiết thực nhất.
30. CÔNG THỨC CỦA BÀI 002
Có thể nhớ bằng bốn chữ:
TÂM – THIỆN – HÀNH – AN
TÂM
Nhìn tâm trước.
THIỆN
Nuôi trạng thái lành.
HÀNH
Đưa tâm thiện thành lời và việc.
AN
An lạc có điều kiện phát sinh và đi cùng.
31. CÔNG THỨC THỰC HÀNH: SẠCH – NÓI – LÀM – NHẸ
SẠCH
Trước hết làm tâm bớt sân, bớt tham, bớt ác ý.
NÓI
Nói từ tâm trong hơn.
LÀM
Làm điều đúng.
NHẸ
Kết quả gần nhất là tâm nhẹ hơn.
Công thức rất dễ nhớ:
SẠCH TÂM → SẠCH LỜI → SẠCH VIỆC → NHẸ ĐỜI.
32. BÀI THỰC HÀNH MỘT NGÀY TÂM THANH TỊNH
Trong một ngày,
không cần làm quá nhiều.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 54
Chỉ giữ ba điều:
MỘT
Không cố ý nói lời làm đau người.
HAI
Có một việc thiện thì làm trong khả năng.
BA
Mỗi lần ganh hoặc sân sinh, nhận biết trước khi phản ứng.
Cuối ngày xem:
tâm nhẹ hơn không?
Đây là cách tự nếm lời kinh.
33. BÀI THỰC HÀNH VỚI LỜI NÓI
Trong 24 giờ,
mỗi lần sắp kể một chuyện về người khác,
hỏi:
Có thật không?
Có cần không?
Có lợi không?
Nếu thiếu cả ba:
thử im.
Một ngày thôi.
Sau đó xem:
tâm có yên hơn không?
34. BÀI THỰC HÀNH VỚI GANH
Mỗi lần thấy ai có điều tốt,
tập nói:
“Lành thay cho điều tốt họ có.”
Không cần ép cảm xúc ngay lập tức.
Chỉ tập câu ấy.
Sau đó hỏi:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 55
“Tôi học được nhân tốt gì từ họ?”
Chuyển:
ganh
thành:
học.
35. BÀI THỰC HÀNH VỚI SÂN
Khi sân:
không cần cố thành thánh ngay.
Chỉ:
nhận biết.
Thở.
Không nói ngay.
Đợi một chút.
Sau đó mới xử lý.
Mỗi lần dừng được một phản ứng bất thiện,
đó là đang tạo điều kiện cho:
tâm thanh tịnh hơn.
36. BÀI THỰC HÀNH VỚI TÀI VẬT
Mỗi tuần làm một việc chia sẻ đúng khả năng.
Không cần lớn.
Mục tiêu:
làm tâm bớt nắm.
Nếu cho rồi cứ tiếc:
biết tiếc.
Không sao.
Lần sau tập tiếp.
Không biến tu thành ép mình.
Biến tu thành:
huấn luyện tâm từng chút.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 56
37. BÀI THỰC HÀNH VỚI LỜI KHEN
Khi được khen:
biết vui.
Nhưng không để lời khen trở thành:
thức ăn bắt buộc.
Nhắc:
“Lời này đến rồi sẽ qua.”
Nếu có điều đúng:
cảm ơn.
Nếu lời khen quá mức:
không cần tin hết.
Như vậy tâm giữ được sự quân bình hơn.
38. BÀI THỰC HÀNH VỚI LỜI CHÊ
Khi bị chê:
đừng lập tức chống.
Hỏi:
Có đúng phần nào không?
Nếu đúng:
học.
Nếu sai:
không cần nuốt hết.
Nhưng dù đúng hay sai,
đừng để một câu chê biến tâm mình thành:
ô nhiễm.
Đó chính là đem Dhp 2 vào đời.
39. THỰC HÀNH BUỔI SÁNG
Mỗi sáng có thể đọc:
Hôm nay tôi nhớ rằng tâm đi trước lời và việc.
Tôi nuôi tâm chân thật.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 57
Tôi tập bớt sân.
Tôi tập tùy hỷ thay vì ganh.
Tôi biết đủ với điều chân chính đang có.
Tôi nói và làm từ tâm càng trong càng tốt.
Tôi nhớ rằng an lạc không chỉ là thứ phải đi tìm ngoài đời; an lạc còn được vun bồi ngay trong cách mình giữ tâm.
40. THỰC HÀNH BUỔI TỐI
Trước khi ngủ hỏi:
Hôm nay tâm nào xuất hiện nhiều nhất?
Tôi đã nói được lời nào từ tâm thiện?
Tôi đã làm được việc nào bằng lòng thương?
Có lúc nào tâm sân kéo tôi đi không?
Có lúc nào tôi kịp nhận ra trước khi phản ứng không?
Tôi có vui được trước điều tốt của ai không?
Tôi có nói thật trong một lúc nói thật làm mình bất lợi không?
Ngày mai tôi muốn nuôi tâm nào nhiều hơn?
Chỉ cần hỏi thật.
Không cần tự phán xét nặng.
41. MỘT CÁCH ĐO SỰ TU RẤT THỰC TẾ
Đừng chỉ hỏi:
“Tôi biết bao nhiêu kinh?”
Hãy hỏi:
Tôi có bớt sân không?
Tôi có thật hơn không?
Tôi có dễ vui với người khác hơn không?
Tôi có bớt nói xấu không?
Tôi có rộng hơn không?
Tôi có nhận lỗi nhanh hơn không?
Nếu có:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 58
tâm đang đổi.
Kinh đã đi vào đời.
42. MỘT NGƯỜI HỌC NHIỀU NHƯNG TÂM KHÔNG ĐỔI THÌ CẦN XEM LẠI CÁCH HỌC
Thuộc rất nhiều bài.
Nhưng ai chạm là sân.
Biết rất nhiều thuật ngữ.
Nhưng thường xuyên khinh người.
Giảng biết đủ.
Nhưng tâm mình không đủ.
Nói buông.
Nhưng danh bị chạm là đau.
Đây không phải để chê ai.
Mà để nhắc:
Pháp phải đi từ tai xuống tâm, từ tâm ra đời sống.
43. TÂM THANH TỊNH KHÔNG PHẢI MỘT DANH HIỆU
Không phải tự nói:
“Tâm tôi thanh tịnh.”
Mà để đời sống trả lời.
Khi bị trái ý:
phản ứng ra sao?
Khi có lợi:
có giữ giới không?
Khi không ai biết:
có chân thật không?
Khi người khác hơn:
có ganh không?
Khi bị hiểu lầm:
có giữ được tâm không ác không?
Đó mới là nơi kiểm.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 59
44. AN LẠC CỦA TÂM THIỆN KHÔNG CẦN AI CÔNG NHẬN
Mình làm một việc tốt mà không ai biết.
Tâm vẫn biết.
Mình dừng được một câu ác mà không ai thấy.
Tâm vẫn nhẹ.
Mình chịu nhận sai mà mất một chút thể diện.
Nhưng bên trong không còn phải bảo vệ lời sai.
Đó là an.
Không phải mọi an lạc đều cần:
tiếng vỗ tay.
45. CÓ NHỮNG NIỀM VUI CÀNG KÍN CÀNG ĐẸP
Giúp một người mà không kể.
Tha một chuyện mà không khoe.
Giữ giới lúc không ai nhìn.
Cầu chúc người mình từng giận được an.
Những việc ấy ít người thấy.
Nhưng chính mình biết:
tâm hôm nay khác hôm qua.
Đó là niềm vui của thực hành.
46. CÂU GHI NHỚ THỨ NHẤT
Muốn lời hiền hơn, hãy làm tâm bớt sân trước khi mở miệng.
47. CÂU GHI NHỚ THỨ HAI
Tâm thanh tịnh không làm mọi người sống theo ý mình; nó giúp mình không cần mọi người sống theo ý mình mới có thể bình an.
48. CÂU GHI NHỚ THỨ BA
An lạc không chỉ đến từ điều mình có; nhiều khi nó đến từ điều bất thiện mình không còn phải mang.
49. CÂU GHI NHỚ THỨ TƯ
Một tâm chân thật không cần tốn sức bảo vệ một câu chuyện giả.
50. CÂU GHI NHỚ THỨ NĂM
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 60
Một người khác thành công không lấy bớt phần thiện của mình; ganh mới lấy mất sự bình an của mình.
51. CÂU GHI NHỚ THỨ SÁU
Người tu không cần đợi tâm hoàn hảo mới làm thiện; hãy làm thiện và đồng thời làm sạch động cơ của mình từng ngày.
52. CÂU GHI NHỚ THỨ BẢY
Mỗi lời nói phát sinh từ tâm thiện là một hạt giống; mỗi hành động thiện là một bước làm tâm quen với con đường lành.
53. CÂU GHI NHỚ THỨ TÁM
Đừng chỉ hỏi hôm nay cuộc đời đã cho mình gì; hãy hỏi hôm nay mình đã nuôi tâm mình bằng điều gì.
54. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
TÂM ĐI TRƯỚC.
NẾU TÂM TRONG SẠCH HƠN, LỜI NÓI VÀ HÀNH ĐỘNG CŨNG CÓ CƠ HỘI TRONG SẠCH HƠN.
TỪ ĐÓ, AN LẠC CÓ ĐIỀU KIỆN BƯỚC THEO.
Vì vậy:
MUỐN CÓ LỜI LÀNH – NUÔI TÂM LÀNH.
MUỐN CÓ VIỆC LÀNH – NUÔI TÂM LÀNH.
MUỐN BỚT KHỔ – BỚT NUÔI TÂM Ô NHIỄM.
MUỐN THÊM AN – TẬP LÀM SẠCH TÂM TỪ NHỮNG VIỆC NHỎ NHẤT.
Và xin nhớ nguyên lời Phật:
“Ý dẫn đầu các pháp, Ý làm chủ, ý tạo, Nếu với ý thanh tịnh, Nói lên hay hành động, An lạc bước theo sau, Như bóng, không rời hình.”
Nguồn: Kinh Pháp Cú – Tiểu Bộ Kinh – Phẩm Song Yếu, phẩm thứ nhất, kệ số 2; mã tra cứu quốc tế Dhp 2; bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu. (SuttaCentral)
TIEP
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 61
MỤC 003 - Bài 003 — ÔM GIỮ HIỀM HẬN – HẬN THÙ KHÔNG THỂ NGUÔI 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
“Nó mắng tôi, đánh tôi, Nó thắng tôi, cướp tôi. Ai ôm hiềm hận ấy, Hận thù không thể nguôi.”
2. NGUỒN KINH
Kinh: Kinh Pháp Cú Thuộc: Tiểu Bộ Kinh – Kinh Tạng Pāli Phẩm: Phẩm Song Yếu, phẩm thứ nhất Kệ: Kệ số 3 Mã tra cứu quốc tế: Pháp Cú 3 – Dhp 3 Bản dịch tiếng Việt: Hòa thượng Thích Minh Châu Nguyên bản kinh: tiếng Pāli
Bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu ghi đúng bài kệ này ở Phẩm Song Yếu, kệ số 3; bản Pāli trên SuttaCentral xác nhận kệ này thuộc Yamakavagga – Phẩm Song Yếu, trong nhóm Dhp 1–20. (Buddhism Today)
3. GIẢI NGHĨA TỪNG TỪ
Kính thưa quý vị,
bài kệ số 3 của Kinh Pháp Cú rất ngắn.
Nhưng nếu chúng ta đọc chậm từng chữ thì sẽ thấy Đức Phật chỉ đúng một căn bệnh rất thường gặp của con người:
chuyện đã qua nhưng tâm không cho nó qua.
Người kia mắng mình.
Chuyện xảy ra một lần.
Nhưng mình nhớ lại một trăm lần.
Người kia làm mình đau một lần.
Nhưng trong đầu mình kể lại câu chuyện ấy suốt nhiều năm.
Người kia có thể đã đi rất xa.
Nhưng mình vẫn mang họ trong tâm mỗi ngày.
Đó là điều bài kệ này chỉ thẳng.
Bây giờ chúng ta đi từng chữ một.
“NÓ”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 62
Chữ đầu tiên rất đời thường:
“Nó.”
Ở đây không phải điểm quan trọng nằm ở cách xưng hô.
Điểm quan trọng là:
tâm đang hướng hoàn toàn ra một người khác.
“Nó mắng tôi.”
“Nó đánh tôi.”
“Nó thắng tôi.”
“Nó cướp tôi.”
Tất cả sự chú ý đang đặt vào:
người kia đã làm gì với tôi.
Đây là trạng thái rất quen.
Khi bị tổn thương, chúng ta thường nhìn ra ngoài trước.
Người kia sai chỗ nào?
Người kia đã làm gì?
Tại sao người kia dám làm như vậy?
Điều đó không có nghĩa người kia không có trách nhiệm.
Nếu họ làm sai, họ có trách nhiệm với hành vi của họ.
Nhưng lời Phật bắt đầu mở cho mình một con đường khác:
Ngoài việc nhìn người kia, mình còn phải nhìn xem tâm mình đang giữ chuyện ấy như thế nào.
Đó mới là phần mình có thể tu.
“MẮNG”
“Mắng” là dùng lời nói nặng nề, xúc phạm, làm tổn thương hoặc hạ thấp người khác.
Lời nói rất đặc biệt.
Không có hình dạng.
Không cầm được bằng tay.
Nhưng một câu nói có thể ở lại trong tâm người nghe rất lâu.
Có người bị mắng lúc nhỏ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 63
Đến khi lớn vẫn nhớ.
Có người bị cha mẹ nói một câu.
Ba mươi năm sau vẫn đau.
Có người bị người mình thương nói một câu.
Quan hệ đã qua từ lâu nhưng câu ấy vẫn còn.
Điều này cho thấy:
khẩu nghiệp có sức ảnh hưởng rất lớn.
Vì vậy bài kệ này vừa dạy người bị mắng cách xử lý hiềm hận,
nhưng đồng thời cũng âm thầm nhắc mình:
đừng trở thành người gieo những câu mà người khác phải mang nhiều năm.
“ĐÁNH”
“Đánh” là làm tổn thương bằng thân.
So với lời mắng, hành vi này thô hơn.
Nó có thể gây đau thân.
Có thể gây sợ.
Có thể để lại vết thương tâm lý.
Cho nên khi giảng bài này, tuyệt đối không được hiểu:
“Phật dạy bị đánh thì cứ chịu.”
Không phải.
Nếu đang ở trong hoàn cảnh nguy hiểm,
phải tìm cách an toàn.
Nếu cần sự giúp đỡ,
phải tìm sự giúp đỡ.
Nếu cần bảo vệ mình bằng phương pháp đúng đắn,
vẫn phải bảo vệ.
Phật pháp không biến người học thành người chấp nhận bị hại.
Điều bài kệ đang chỉ ở đây là:
sau khi sự việc xảy ra, mình có tiếp tục nuôi hiềm hận trong tâm hay không.
Đây là hai việc khác nhau.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 64
Bảo vệ mình là một việc.
Nuôi hận là một việc khác.
“THẮNG”
“Nó thắng tôi.”
Chữ “thắng” ở đây rất đáng suy ngẫm.
Con người rất nhạy với hơn thua.
Bị người khác thắng trong một cuộc tranh luận:
khó chịu.
Bị người khác hơn về địa vị:
khó chịu.
Bị người khác hơn về tài vật:
có thể ganh.
Bị người khác chứng minh mình sai:
có khi không chịu.
Tại sao?
Bởi cái tôi rất thích:
được thắng.
Và rất sợ:
bị thua.
Vì thế có những chuyện ban đầu chỉ rất nhỏ,
nhưng khi chữ “thắng – thua” đi vào,
nó biến thành cuộc chiến.
Người ta không còn tìm sự thật.
Người ta tìm:
ai thắng.
Người học Phật phải nhận ra điều này.
Có khi mình mất một cuộc tranh luận,
nhưng giữ được tâm.
Đó chưa chắc là thua.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 65
Có khi mình thắng bằng lời,
nhưng sân và mạn tăng lên.
Đó chưa chắc là thắng.
“CƯỚP”
“Cướp” là lấy đi thứ thuộc quyền sở hữu của người khác bằng cách không chính đáng.
Đối với người bị mất,
cảm giác đau thường rất mạnh.
Không chỉ vì mất vật.
Mà còn vì:
bị xâm phạm.
Bị lấy.
Bị bất công.
Bị tổn thương.
Từ đó tâm rất dễ nói:
“Tôi phải làm cho họ trả giá.”
Ở mức đời sống, nếu tài sản bị xâm phạm,
mình có thể sử dụng phương pháp hợp pháp để xử lý.
Nhưng lời kinh giúp mình nhìn thêm:
sau khi làm điều cần làm, mình còn muốn mang hận bao lâu?
Đây là câu hỏi lớn.
“TÔI”
Bốn câu đầu đều xoay quanh hai phía:
“nó”
và:
“tôi.”
Nó làm.
Tôi chịu.
Nó thắng.
Tôi thua.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 66
Nó lấy.
Tôi mất.
Khi tâm bị tổn thương, chữ “tôi” trở nên rất lớn.
Tôi bị xúc phạm.
Tôi bị coi thường.
Tôi bị mất mặt.
Tôi bị thiệt.
Không phải những sự việc ấy không có thật.
Nhưng nếu cái “tôi bị hại” trở thành câu chuyện duy nhất mình sống trong đó,
tâm bắt đầu bị khóa lại.
Một người có thể từ một sự kiện thật sự bị hại,
dần biến cả đời mình thành:
“Tôi là người đã bị người kia làm thế này.”
Bài kệ giúp mình thấy:
không cần phủ nhận chuyện đã xảy ra,
nhưng cũng không cần để chuyện ấy trở thành toàn bộ con người mình.
“AI”
“Ai” nghĩa là bất kỳ người nào.
Không phân biệt:
giàu hay nghèo.
Học nhiều hay ít.
Người tại gia hay xuất gia.
Người tu lâu hay mới tu.
Nếu:
ôm hiềm hận,
thì quy luật tâm vẫn vận hành.
Đây là điểm rất công bằng.
Không phải vì mình là người học Phật thì sân tự động biến mất.
Không phải vì mình đọc nhiều kinh thì hận tự mất.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 67
Nếu vẫn nuôi,
nó vẫn còn.
Pháp phải được:
thực hành.
“ÔM”
Đây có lẽ là một trong những chữ quan trọng nhất của bài kệ.
“Ôm.”
Không phải:
“hiềm hận đi theo mình.”
Mà:
mình ôm nó.
Một vật mình ôm,
muốn bỏ thì phải mở tay.
Hiềm hận cũng vậy.
Chuyện đã qua.
Nhưng tâm giữ.
Câu người kia nói đã hết.
Nhưng mình giữ.
Người ấy đã đi khỏi.
Nhưng mình giữ.
Vậy có khi người kia không còn làm gì nữa,
nhưng mình vẫn tiếp tục giữ thứ làm mình đau.
Chữ “ôm” làm trách nhiệm quay về chính mình.
Không phải để tự trách.
Mà để thấy:
nếu mình đang ôm, mình cũng có khả năng học cách đặt xuống.
“HIỀM”
“Hiềm” có thể hiểu là:
sự bất mãn, oán trách, điều mình còn để bụng.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 68
Có những chuyện mình nói:
“Không sao.”
Nhưng thực ra có sao.
Người kia vừa quay đi,
mình kể lại.
Gặp lần khác,
mình lạnh.
Ai khen họ,
mình khó chịu.
Như vậy:
hiềm vẫn còn.
Hiềm giống như lớp tro.
Bên ngoài nguội.
Bên dưới còn than.
Chỉ cần đúng điều kiện,
nó cháy lại.
“HẬN”
“Hận” sâu hơn một cơn giận thoáng qua.
Giận có thể đến rồi đi.
Hận là:
mình giữ lại cơn giận.
Giận hôm nay.
Nhớ ngày mai.
Kể tuần sau.
Mang tháng sau.
Có khi nhiều năm.
Như vậy giận biến thành:
oán hận.
Hận còn có thể đi đến:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 69
muốn người kia khổ.
Muốn họ mất.
Muốn họ thất bại.
Nghe họ gặp chuyện thì vui.
Đó là chỗ rất nguy hiểm cho tâm.
“HIỀM HẬN”
Ghép hai chữ lại:
“hiềm hận”
có thể hiểu là:
sự oán giận mình còn giữ trong lòng đối với điều người khác đã làm.
Đây chính là đối tượng Đức Phật nhắm tới.
Không phải ký ức tự nó.
Mình vẫn có thể nhớ một sự kiện.
Nhớ để học.
Nhớ để không lặp lại.
Nhớ để thiết lập ranh giới.
Nhưng:
nhớ không nhất thiết phải hận.
Đó là điều rất quan trọng.
Buông hận không đồng nghĩa:
mất trí nhớ.
Tha không đồng nghĩa:
quên bài học.
“HẬN THÙ”
“Hận thù” là trạng thái đối nghịch mạnh,
mong chống lại,
muốn trả đũa,
muốn người kia chịu đau.
Một cơn hận không chỉ trói mình với quá khứ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 70
Nó còn có khả năng tạo:
tương lai mới của khổ.
Từ hận:
nói ác.
Từ nói ác:
xung đột tăng.
Từ xung đột:
hành động mạnh hơn.
Một câu chuyện nhỏ có thể thành:
một cuộc thù rất dài.
Vì vậy muốn cắt vòng khổ,
phải có người dừng.
“KHÔNG THỂ”
Hai chữ này rất mạnh.
Đức Phật không nói:
“Hận thù hơi khó nguôi.”
Mà bản dịch nói:
“Hận thù không thể nguôi.”
Điều này chỉ một quy luật tâm lý rất rõ:
mình đang tiếp tục cung cấp thức ăn cho hận thì không thể đồng thời mong hận tự hết.
Ngày nào cũng nhớ lỗi.
Ngày nào cũng kể.
Ngày nào cũng tưởng tượng trả thù.
Rồi hỏi:
“Sao tôi chưa buông được?”
Bởi mình vẫn đang nuôi.
Muốn lửa tắt,
phải ngừng thêm củi.
“NGUÔI”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 71
“Nguôi” nghĩa là:
lắng xuống, dịu xuống, hết dần.
Không phải lúc nào mình cũng buông một chuyện lớn trong một ngày.
Có những vết thương cần thời gian.
Nhưng có sự khác biệt giữa:
cần thời gian để lành
và:
mỗi ngày cố tình xé vết thương ra.
Người tu có thể chưa hết đau.
Nhưng dần dần:
bớt kể.
Bớt nhắc.
Bớt tưởng tượng trả.
Bớt mong người kia khổ.
Đó là:
hận đang nguôi.
4. GIẢI NGHĨA TỪNG CỤM
“NÓ MẮNG TÔI”
Cụm này chỉ:
một sự tổn thương do lời nói.
Người khác dùng lời làm mình đau.
Việc đó có thể là thật.
Đức Phật không bắt mình nói:
“Không đau.”
Đau thì biết đau.
Nhưng bước tiếp theo rất quan trọng:
mình làm gì với nỗi đau?
Biến đau thành hận?
Hay nhìn đau,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 72
xử lý đúng,
rồi không tiếp tục dùng nó để hại mình và người?
Đây là chỗ tu.
“NÓ ĐÁNH TÔI”
Đây là tổn thương bằng hành động.
Khi thân bị hại,
tâm rất dễ sinh sợ và hận.
Nếu đang nguy hiểm:
ưu tiên an toàn.
Sau đó mới tu tâm.
Không được dùng lời Phật để nói với người đang bị hại:
“Đừng giận, cứ chịu đi.”
Đó là dùng kinh sai chỗ.
Lời kinh không xóa trách nhiệm của người gây hại.
Nó chỉ không muốn nạn nhân mang thêm một ngọn lửa trong tâm suốt đời.
“NÓ THẮNG TÔI”
Cụm này nói tới:
hơn thua.
Có khi chẳng mất vật gì.
Chỉ:
mất mặt.
Nhưng mất mặt đối với cái tôi có thể đau hơn mất vật.
Người kia thắng một cuộc tranh luận.
Mình ôm chuyện ấy.
Ngày nào cũng muốn chứng minh lại.
Càng nghĩ:
càng hận.
Như vậy cuộc tranh luận đã hết,
nhưng tâm chưa rời trận đấu.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 73
Người tu phải học hỏi:
“Tôi thật sự cần đúng, hay cần thắng?”
Hai điều này không giống nhau.
“NÓ CƯỚP TÔI”
Đây là mất mát vật chất hoặc quyền lợi.
Mất thật:
có đau thật.
Có thể phải tìm cách đòi lại điều chính đáng.
Nhưng khi việc đã được xử lý trong khả năng,
mình còn phải xử lý:
phần độc còn trong tâm.
Nếu không,
có thể lấy lại được vật,
nhưng mất bình an.
“AI ÔM HIỀM HẬN ẤY”
Đây là điểm xoay của cả bài.
Bốn việc trên là:
điều người khác làm.
Nhưng từ đây Đức Phật quay về:
điều mình đang làm.
Người kia mắng:
họ làm.
Người kia đánh:
họ làm.
Người kia lấy:
họ làm.
Nhưng:
mình ôm hiềm hận.
Đây là phần mình đang làm với chính tâm mình.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 74
Nếu không thấy chỗ này,
mình có thể dành cả đời chỉ nhìn người kia.
Nếu thấy,
mình bắt đầu có con đường ra.
“HẬN THÙ KHÔNG THỂ NGUÔI”
Đây là kết quả.
Ôm hận:
hận còn.
Nuôi hận:
hận lớn.
Kể hận:
hận sống lại.
Tưởng tượng trả hận:
hận sâu.
Muốn hận nguôi mà vẫn làm bốn việc ấy,
rất khó.
Câu kinh đưa ra một nguyên lý rất đơn giản:
CÒN ÔM → CÒN HẬN.
Muốn hận giảm:
PHẢI TẬP MỞ TAY.
5. GHÉP NGHĨA TOÀN CÂU KINH
Ghép lại toàn bài:
Khi một người liên tục ghi nhớ rằng người khác đã mắng mình, đánh mình, thắng mình hay lấy mất điều của mình, rồi ôm giữ sự oán giận đối với những việc ấy, thì chính sự ôm giữ đó làm hận thù không thể lắng xuống.
Có thể nhớ thật đơn giản:
CHUYỆN XẢY RA MỘT LẦN.
TÂM NHẮC LẠI NHIỀU LẦN.
HIỀM HẬN ĐƯỢC NUÔI.
HẬN KHÔNG NGUÔI.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 75
Bài kinh không phủ nhận:
người kia đã sai.
Nhưng nó hỏi:
“Sau cái sai của người kia, mình có tiếp tục tạo thêm khổ trong tâm mình không?”
Đây mới là cửa tu.
6. GIẢNG SÂU – NGƯỜI KHÁC LÀM MÌNH ĐAU MỘT LẦN, TÂM CÓ THỂ LÀM MÌNH ĐAU THÊM HÀNG TRĂM LẦN
Kính thưa quý vị,
có những sự việc chỉ xảy ra trong vài phút.
Nhưng mình có thể sống với nó:
mười năm.
Tại sao?
Bởi sự việc kết thúc ngoài đời,
nhưng chưa kết thúc trong tâm.
Người kia nói:
một câu.
Mình nhớ:
một trăm lần.
Người kia làm:
một việc.
Mình kể:
một trăm người.
Mỗi lần kể:
cảm xúc sống lại.
Mỗi lần cảm xúc sống lại:
cơ thể lại căng.
Tâm lại nóng.
Nỗi đau được tưới thêm nước.
Đây chính là:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 76
ôm hiềm hận.
7. ÔM HẬN KHÔNG PHẢI GIỮ CÔNG LÝ
Đây là điều phải phân biệt.
Có người nghĩ:
“Nếu tôi hết giận thì có nghĩa tôi chấp nhận cái sai.”
Không phải.
Mình vẫn có thể khẳng định:
“Việc đó sai.”
Mình vẫn có thể:
đòi quyền lợi hợp pháp.
đặt ranh giới.
không tiếp xúc nếu không an toàn.
cảnh giác để không bị hại lần nữa.
Nhưng đồng thời mình có thể học:
không dành toàn bộ phần đời còn lại để nuôi ác ý.
Đó là hai việc hoàn toàn khác.
8. THA THỨ KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ TRAO LẠI QUYỀN LÀM HẠI MÌNH
Nếu một người từng lừa mình,
mình có thể không hận,
nhưng vẫn không giao tài sản cho họ quản lý lần nữa.
Nếu một người từng bạo hành,
mình có thể tập buông hận,
nhưng không nhất thiết trở lại môi trường nguy hiểm.
Nếu một người nhiều lần nói dối,
mình có thể không muốn họ khổ,
nhưng vẫn cần giữ khoảng cách.
Đây là:
từ bi có trí.
Không hận không đồng nghĩa:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 77
không học bài học.
9. NHỚ VÀ HẬN KHÔNG GIỐNG NHAU
Có thể nhớ:
“Người này từng làm việc đó.”
Để:
cẩn trọng.
Nhưng không nhất thiết:
mỗi lần nhớ là mỗi lần muốn trả.
Đó là sự khác biệt.
Trí nhớ có thể bảo vệ.
Hận thù thiêu đốt.
Người tu không cần xóa dữ liệu trong đầu.
Cần giảm:
độc trong dữ liệu ấy.
10. CÓ KHI MÌNH ĐÃ RỜI NGƯỜI NHƯNG CHƯA RỜI CHUYỆN
Người kia không còn gặp mình.
Không còn nói chuyện.
Có khi đã đi khỏi đời mình.
Nhưng sáng nghĩ.
Trưa nghĩ.
Tối nghĩ.
Vậy họ vẫn ở trong tâm.
Có người nói:
“Tôi cắt họ ra khỏi đời tôi rồi.”
Nhưng ngày nào cũng nói về họ.
Thật ra:
chưa cắt.
Chỉ đổi hình thức quan hệ thành:
quan hệ bằng hận.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 78
Đây là một điều rất đáng thấy.
11. NGƯỜI MÌNH GHÉT CÓ THỂ CHIẾM TÂM NHIỀU KHÔNG KÉM NGƯỜI MÌNH THƯƠNG
Người mình thương:
nghĩ nhiều.
Người mình ghét:
cũng nghĩ nhiều.
Nghe tên người thương:
tâm động.
Nghe tên người ghét:
cũng động.
Vậy nếu xét về mức độ chiếm chỗ trong tâm,
hận cũng là một dạng:
bị trói.
Người tu muốn tự do thì không chỉ buông ái.
Còn phải buông:
hận.
12. TẠI SAO MÌNH THÍCH KỂ LẠI CHUYỆN LÀM MÌNH ĐAU?
Có nhiều lý do.
Muốn được công nhận:
“Tôi đã bị đối xử bất công.”
Muốn người khác đứng về phía mình.
Muốn chứng minh mình đúng.
Muốn người kia bị ghét.
Muốn tự nhắc:
“Tôi không được quên.”
Có khi kể là cần thiết:
để tìm sự trợ giúp,
để trình bày sự thật,
để trị liệu,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 79
để giải quyết pháp lý.
Nhưng có khi kể chỉ để:
nuôi thêm sân.
Người tu phải phân biệt động cơ.
13. MỖI LẦN KỂ, HÃY HỎI: “TÔI ĐANG GIẢI QUYẾT HAY ĐANG TƯỚI HẬN?”
Đây là một câu hỏi rất thực tế.
Nếu kể cho người có thể giúp:
có ích.
Nếu kể để tìm giải pháp:
có ích.
Nếu kể để hiểu tâm:
có thể có ích.
Nhưng nếu kể lần thứ năm mươi chỉ để:
“Bạn thấy người đó xấu chưa?”
thì phải nhìn.
Mình đang tưới gì?
Tưới trí?
Hay tưới hận?
14. HẬN THÙ LÀ MỘT GÁNH NẶNG MÌNH MANG TRONG KHI NGƯỜI KIA CÓ THỂ KHÔNG BIẾT
Đây là điều rất đáng thương cho chính mình.
Có người ôm hận nhiều năm.
Người kia hoàn toàn không biết.
Họ sống đời họ.
Mình sống với họ trong đầu.
Như vậy mình đã trao cho người kia một quyền lực rất lớn:
họ không cần có mặt mà vẫn làm tâm mình nóng.
Buông hận là:
lấy lại quyền sống của chính mình.
15. BUÔNG HẬN KHÔNG PHẢI LÀM MỘT LẦN
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 80
Với chuyện nhỏ:
có thể buông nhanh.
Với vết thương sâu:
có thể phải tập nhiều lần.
Hôm nay:
bớt một chút.
Ngày mai nghe tên:
sân lại sinh.
Biết.
Không nuôi.
Lần sau:
nhẹ hơn.
Đó là thực hành.
Không nên tự trách:
“Tôi tu sao vẫn còn giận?”
Nếu trước đây giận 100,
nay còn 70,
đã có chuyển.
Nếu trước đây nhớ mỗi ngày,
nay một tuần mới nhớ,
đã có chuyển.
Con đường đi bằng:
từng chút.
16. CÁI TÔI THƯỜNG DÙNG QUÁ KHỨ ĐỂ XÁC NHẬN MÌNH ĐÚNG
Một câu chuyện bị hại có thể trở thành:
bằng chứng để cái tôi sống.
“Tôi là người tốt.”
“Họ là người xấu.”
“Tôi đúng hoàn toàn.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 81
“Họ sai hoàn toàn.”
Nhưng con người phức tạp hơn.
Có khi trong chuyện đó:
họ sai thật.
Nhưng mình vẫn có phần nào cần học.
Không nhất thiết là lỗi trong sự kiện.
Có thể là:
bài học về ranh giới.
bài học về tin người.
bài học về tham của mình.
bài học về kỳ vọng.
bài học về cách xử lý.
Nếu chỉ ôm hận,
mình mất luôn:
phần trí tuệ đáng lẽ rút ra từ nỗi đau.
17. BIẾN VẾT THƯƠNG THÀNH BÀI HỌC
Thay vì chỉ hỏi:
“Tại sao họ làm tôi như vậy?”
thử hỏi thêm:
“Tôi học được gì?”
Có thể học:
không tin mù quáng.
không phụ thuộc.
đặt ranh giới.
nói rõ hơn.
giữ giấy tờ.
không giao việc vượt mức tin cậy.
bớt kỳ vọng.
trở về Chánh pháp.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 82
Nếu từ đau sinh trí,
vết thương không hoàn toàn vô ích.
18. KHI BỊ NÓI XẤU
Ứng dụng trực tiếp nhất của bài kệ này:
Đừng ngày nào cũng nhắc:
“Người ấy nói xấu tôi.”
Nếu cần đính chính:
đính chính.
Nếu mình có lỗi:
sửa.
Nếu họ nói sai:
nói sự thật khi cần.
Sau đó:
đừng để toàn bộ cuộc sống trở thành chiến dịch chứng minh:
“Tôi không phải như họ nói.”
Sống tốt.
Thời gian và hành động của mình sẽ nói rất nhiều.
19. KHI BỊ PHẢN BỘI
Phản bội là một trong những chuyện rất dễ sinh hận.
Người lạ làm mình đau:
một kiểu.
Người mình tin làm mình đau:
sâu hơn.
Vì đau không chỉ từ việc họ làm.
Còn từ:
niềm tin bị vỡ.
Lúc ấy không cần ép:
“Tôi phải tha ngay.”
Trước hết:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 83
nhận đau.
giữ an toàn.
xử lý việc.
rồi từng bước không để phản bội của họ biến mình thành người:
không còn tin ai,
không còn thương ai,
chỉ còn hận.
Nếu vậy một người làm sai,
nhưng hậu quả lan ra tất cả quan hệ sau này của mình.
Đó là điều rất đáng tiếc.
20. KHI BỊ MẤT TÀI SẢN
Có thể đau.
Có thể giận.
Có thể cần giải quyết.
Nhưng hỏi:
“Tôi muốn lấy lại điều hợp pháp, hay tôi muốn người kia phải khổ?”
Hai động cơ khác nhau.
Đòi sự công bằng:
có thể đúng.
Muốn trả hận:
phải soi.
21. KHI BỊ THUA TRONG MỘT CUỘC TRANH LUẬN
Nếu người kia đúng:
học.
Nếu họ sai nhưng thắng vì nói lớn hơn:
không cần biến cả ngày thành sân.
Sự thật không thay đổi chỉ vì:
ai nói lớn hơn.
Mình không cần thắng mọi cuộc cãi để:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 84
giữ sự thật.
Có những lúc im đúng lúc còn mạnh hơn nói thêm.
22. KHI NGƯỜI KHÁC KHÔNG XIN LỖI
Đây là một cửa hận rất lớn.
Tâm nói:
“Khi nào họ xin lỗi tôi mới buông.”
Như vậy mình đã trao chìa khóa bình an cho người ấy.
Nếu họ không xin lỗi suốt đời thì sao?
Mình hận suốt đời?
Người tu có thể nói:
“Việc xin lỗi là phần của họ. Việc chữa tâm là phần của tôi.”
Nếu họ xin:
tốt.
Nếu không:
mình vẫn phải cứu mình.
23. BUÔNG HẬN KHÔNG CẦN SỰ HỢP TÁC CỦA NGƯỜI KIA
Đây là một điều rất đẹp.
Người kia có thể:
không nhận sai.
không thay đổi.
không xin lỗi.
không hiểu mình.
Nhưng mình vẫn có thể:
tập bớt hận.
Bởi tâm mình:
ở phía mình.
Đây là tự do.
24. CÓ THỂ KHÔNG LÀM BẠN LẠI NHƯNG VẪN KHÔNG HẬN
Đây là điều rất quan trọng.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 85
Tha không bắt buộc:
quay lại quan hệ cũ.
Có người mình tha,
nhưng không còn hợp để gần.
Có người mình không hận,
nhưng vẫn cần khoảng cách.
Có người mình cầu mong họ tốt,
nhưng không giao lại quyền làm mình tổn thương.
Đó là:
không hận có trí.
25. ĐỪNG ÉP NGƯỜI KHÁC “BUÔNG” KHI HỌ ĐANG CÒN ĐAU
Khi một người vừa bị tổn thương,
đừng lập tức nói:
“Phật dạy buông đi.”
Câu đó đúng về hướng,
nhưng có thể sai thời điểm.
Có khi người ấy cần:
được an toàn trước.
được nghe.
được giúp.
được công nhận nỗi đau.
Sau đó mới có đủ sức:
buông.
Từ bi phải đi cùng:
đúng lúc.
26. MÌNH CŨNG ĐỪNG ÉP CHÍNH MÌNH GIẢ VỜ ĐÃ BUÔNG
Có người nói:
“Tôi tha rồi.”
Nhưng trong lòng chưa.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 86
Không sao.
Hãy chân thật:
“Tôi còn đau.”
“Tôi còn giận.”
Biết thật mới tu được thật.
Giả thanh tịnh không phải thanh tịnh.
Mục tiêu không phải:
nói mình đã buông.
Mục tiêu là:
thật sự nhẹ dần.
27. DẤU HIỆU HẬN ĐANG GIẢM
Nghe tên họ:
tâm bớt nóng.
Kể chuyện:
không còn cần thêm lời hạ người.
Thấy họ ổn:
không còn quá khó chịu.
Không còn dành nhiều giờ nghĩ cách chứng minh.
Có thể nhớ mà không bị kéo mạnh.
Đó là dấu hiệu:
mình đang đặt xuống.
Không cần đợi đến mức:
không còn một cảm xúc nào.
28. MỘT BÀI THỰC HÀNH RẤT DỄ
Chọn một chuyện mình còn giận.
Không cần chuyện đau nhất.
Bắt đầu chuyện nhỏ.
Viết hoặc nói trong tâm:
“Sự việc là gì?”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 87
Chỉ sự việc.
Không thêm phán xét.
Ví dụ:
“Người ấy đã nói câu này.”
Sau đó:
“Cảm xúc của tôi là gì?”
Giận.
Buồn.
Bị coi thường.
Sợ.
Sau đó:
“Tôi cần làm gì thực tế?”
Nói rõ?
Đặt ranh giới?
Không làm gì?
Sau đó:
“Phần nào tôi không cần mang tiếp?”
Ý muốn trả.
Câu chuyện phải kể mãi.
Mong họ thất bại.
Đó là bước đầu buông.
29. CÔNG THỨC THỰC HÀNH: VIỆC – ĐAU – HẬN – BUÔNG
VIỆC
Nhìn đúng việc đã xảy ra.
ĐAU
Công nhận nỗi đau.
HẬN
Nhận ra phần oán hận mình đang nuôi.
BUÔNG
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 88
Bỏ dần phần không còn giúp ích.
Công thức này giúp mình không:
phủ nhận việc,
cũng không:
sống mãi trong hận.
30. CÔNG THỨC THỨ HAI: XỬ LÝ – HỌC – ĐẶT XUỐNG
XỬ LÝ
Việc cần giải quyết thì giải quyết.
HỌC
Rút bài học.
ĐẶT XUỐNG
Không biến chuyện cũ thành căn cước của mình.
Đây là một cách rất dễ nhớ.
31. THỰC HÀNH KHI NGHE TÊN NGƯỜI MÌNH GHÉT
Ngay khi nghe tên và tâm nóng:
đừng kể ngay.
Chỉ biết:
“Hận đang có.”
Thở vài hơi.
Không cần cầu mong họ ngay lập tức.
Chỉ tập:
không tưới thêm.
Không nói một câu ác.
Đó đã là bước tu.
32. THỰC HÀNH KHI MUỐN KỂ XẤU
Trước khi kể:
hỏi ba câu.
Tôi kể để giải quyết việc gì?
Người nghe có giúp được gì không?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 89
Hay tôi chỉ muốn họ ghét người ấy cùng tôi?
Nếu câu thứ ba là đúng:
dừng.
Mỗi lần dừng được một lần,
hận mất một ít thức ăn.
33. THỰC HÀNH KHI MUỐN TRẢ ĐŨA
Hỏi:
“Việc này có làm sự việc đúng hơn không?”
Hay chỉ:
“làm người kia đau?”
Nếu mục tiêu chỉ là làm đau:
đó là sân.
Đừng quyết khi sân cao.
34. THỰC HÀNH KHI NGƯỜI KIA BẮT ĐẦU THAY ĐỔI
Có khi người làm mình đau sau này thật sự sửa.
Nhưng mình không chịu cho họ cơ hội nào vì quá khứ.
Không phải lúc nào cũng phải khôi phục quan hệ.
Nhưng hãy xem:
mình đang thận trọng hay đang trả thù?
Thận trọng:
có trí.
Trả thù:
hận vẫn làm chủ.
35. THỰC HÀNH VỚI QUÁ KHỨ CỦA CHÍNH MÌNH
Bài kệ không chỉ áp dụng với hận người.
Có người còn hận:
chính mình.
“Tại sao tôi ngu vậy?”
“Tại sao tôi làm sai?”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 90
“Tại sao tôi để họ lừa?”
Ngày nào cũng mắng mình.
Đó cũng là một kiểu:
ôm hiềm hận đối với quá khứ của bản thân.
Nếu sai:
học.
Sửa.
Xin lỗi nếu cần.
Bù đắp nếu có thể.
Rồi:
đừng tự đánh mình mãi bằng một lỗi đã qua.
36. HỌC TỰ THA THỨ KHÔNG PHẢI BAO CHE LỖI
Tự tha thứ không phải:
“Tôi làm gì cũng được.”
Mà:
“Tôi nhận trách nhiệm, sửa điều có thể sửa, rồi không dùng lỗi cũ để phá luôn phần đời còn lại.”
Đó là một dạng trí tuệ.
37. KHI GIẢNG PHẬT PHÁP
Bài này rất dễ bị giảng thành:
“Ai làm gì mình cũng phải tha.”
Không nên nói đơn giản như vậy.
Phải nói đủ:
không nuôi hận
khác với:
không bảo vệ mình.
tha
khác với:
quay lại chỗ nguy hiểm.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 91
buông
khác với:
phủ nhận bất công.
Như vậy người nghe mới thực hành được mà không hiểu sai.
38. NGƯỜI GIẢNG CÀNG KHÔNG NÊN DÙNG KINH ĐỂ ÉP NGƯỜI ĐANG ĐAU
Nếu người vừa mất người thân:
đừng nói:
“Buông đi.”
Nếu người vừa bị phản bội:
đừng phán:
“Do chấp nên khổ.”
Pháp phải đi cùng từ bi.
Có lúc điều người ta cần đầu tiên là:
được nghe.
Sau đó mới nhẹ nhàng đưa về Pháp.
Đó mới là giúp.
39. HẬN THÙ KHÔNG THỂ NGUÔI KHI MÌNH CỨ NHẬN DIỆN MÌNH BẰNG VẾT THƯƠNG
Nếu cứ nói:
“Tôi là người bị phản bội.”
“Tôi là người bị cướp.”
“Tôi là người bị đối xử bất công.”
thì vết thương trở thành căn cước.
Mình còn nhiều hơn thế.
Mình còn:
khả năng tu.
khả năng học.
khả năng thương.
khả năng bắt đầu lại.
Đừng để một việc người khác làm:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 92
định nghĩa toàn bộ đời mình.
40. BUÔNG HẬN LÀ TRAO LẠI QUÁ KHỨ VỀ CHO QUÁ KHỨ
Sự việc đã xảy ra:
không sửa được.
Nhưng cách mình sống hôm nay:
còn sửa được.
Nếu dành hiện tại để:
hận quá khứ,
thì quá khứ lấy luôn hiện tại.
Đừng cho nó thêm quyền đó.
41. MỘT CÁCH QUÁN RẤT NHẸ
Có thể nói trong tâm:
“Điều ấy đã xảy ra.”
“Tôi đã đau.”
“Tôi không phủ nhận.”
“Nhưng tôi không muốn tiếp tục nuôi thêm hận.”
“Tôi giữ bài học, đặt xuống độc.”
Câu cuối rất dễ nhớ:
GIỮ BÀI HỌC – ĐẶT XUỐNG CHẤT ĐỘC.
42. THỰC HÀNH BUỔI SÁNG
Mỗi sáng có thể nhắc:
Hôm nay nếu nhớ một chuyện cũ, tôi sẽ xem mình đang nhớ để học hay nhớ để hận.
Tôi không phủ nhận điều người khác đã làm sai.
Nhưng tôi cũng không muốn cái sai của họ tiếp tục làm chủ tâm tôi.
Việc cần xử lý, tôi xử lý.
Bài học cần giữ, tôi giữ.
Phần hận không cần thiết, tôi tập đặt xuống.
43. THỰC HÀNH TRONG NGÀY
Khi ai nhắc người mình không thích:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 93
không kể ngay.
Nhìn tâm.
Khi muốn nói:
“Người đó lúc nào cũng…”
dừng.
Có thật:
lúc nào cũng không?
Khi nhớ chuyện cũ:
hỏi:
“Nhớ lần này giúp gì?”
Nếu không giúp gì ngoài việc làm sân tăng:
đổi đề mục.
Đọc một câu kinh.
Đi bộ.
Làm việc cần làm.
Không tiếp tục cho hận ăn.
44. THỰC HÀNH BUỔI TỐI
Trước khi ngủ hỏi:
Hôm nay tôi đã nhớ ai bằng tâm hận?
Tôi có kể lại chuyện cũ chỉ để nuôi sân không?
Có điều gì tôi cần xử lý thực tế không?
Có bài học nào tôi nên giữ?
Có phần nào tôi có thể đặt xuống một chút?
Nếu ngày mai tôi không còn sống, chuyện này có đáng để tôi dành thêm một ngày để hận không?
Câu cuối rất mạnh.
Đời ngắn.
Đừng cho hận quá nhiều thời gian.
45. BÀI THỰC HÀNH BẢY NGÀY GIẢM HIỀM HẬN
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 94
NGÀY MỘT
Không kể lại chuyện ấy nếu không cần.
NGÀY HAI
Viết chính xác sự việc, không thêm phán xét.
NGÀY BA
Viết ba cảm xúc thật của mình.
NGÀY BỐN
Viết ba bài học mình đã nhận được.
NGÀY NĂM
Xem còn việc thực tế nào cần xử lý không.
Nếu có:
xử lý.
NGÀY SÁU
Một ngày không tìm thông tin về người ấy.
NGÀY BẢY
Tự hỏi:
“Tôi muốn mang câu chuyện này thêm bao lâu?”
Không ép phải hết.
Chỉ đặt câu hỏi.
46. CÂU GHI NHỚ THỨ NHẤT
Người khác có thể làm mình đau một lần; hiềm hận có thể làm nỗi đau ấy lặp lại rất nhiều lần trong chính tâm mình.
47. CÂU GHI NHỚ THỨ HAI
Buông hận không phải nói người kia đúng; buông hận là không để cái sai của họ tiếp tục thiêu đốt tâm mình.
48. CÂU GHI NHỚ THỨ BA
Tha thứ không đồng nghĩa quay lại một nơi nguy hiểm.
49. CÂU GHI NHỚ THỨ TƯ
Mình có thể giữ bài học mà không cần giữ chất độc của oán hận.
50. CÂU GHI NHỚ THỨ NĂM
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 95
Nhớ một chuyện để có trí khác với nhớ một chuyện để tiếp tục sân.
51. CÂU GHI NHỚ THỨ SÁU
Người không xin lỗi vẫn không có quyền bắt mình phải hận họ suốt đời.
52. CÂU GHI NHỚ THỨ BẢY
Khi đặt điều kiện “họ phải xin lỗi tôi mới buông”, mình đang trao chìa khóa bình an của mình vào tay họ.
53. CÂU GHI NHỚ THỨ TÁM
Có người đã đi khỏi đời mình từ lâu, nhưng hận làm họ tiếp tục sống trong tâm mình mỗi ngày.
54. CÂU GHI NHỚ THỨ CHÍN
Chuyện cũ đã lấy một phần quá khứ; đừng để hận lấy thêm hiện tại.
55. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI
Hận thù không tự lớn; nó lớn vì được nhớ, kể, tưởng và nuôi.
56. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
CHUYỆN ĐÃ XẢY RA – KHÔNG THỂ ĐỔI.
BÀI HỌC – NÊN GIỮ.
VIỆC CẦN XỬ LÝ – HÃY XỬ LÝ.
NHƯNG HIỀM HẬN – ĐỪNG ÔM MÃI.
Bởi lời Phật đã chỉ rất rõ:
“Nó mắng tôi, đánh tôi, Nó thắng tôi, cướp tôi. Ai ôm hiềm hận ấy, Hận thù không thể nguôi.”
Nguồn: Kinh Pháp Cú – Tiểu Bộ Kinh – Phẩm Song Yếu, phẩm thứ nhất, kệ số 3; mã tra cứu quốc tế Dhp 3; bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu. (Buddhism Today)
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 96
MỤC 004 - Bài 004 — KHÔNG ÔM HIỀM HẬN – HẬN THÙ ĐƯỢC TỰ NGUÔI 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
“Nó mắng tôi, đánh tôi, Nó thắng tôi, cướp tôi, Không ôm hiềm hận ấy, Hận thù được tự nguôi.”
2. NGUỒN KINH
Kinh: Kinh Pháp Cú Thuộc: Tiểu Bộ Kinh – Kinh Tạng Pāli Phẩm: Phẩm Song Yếu, phẩm thứ nhất Kệ: Kệ số 4 Mã tra cứu quốc tế: Pháp Cú 4 – Dhp 4 Bản dịch tiếng Việt: Hòa thượng Thích Minh Châu Nguyên bản kinh: tiếng Pāli
Bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu ghi bài kệ này ngay sau kệ số 3 trong Phẩm Song Yếu; các nguồn Phật học lưu bản dịch của Ngài đều thống nhất câu: “Không ôm hiềm hận ấy, hận thù được tự nguôi.” (Thư Viện Hoa Sen)
3. GIẢI NGHĨA TỪNG TỪ
Kính thưa quý vị,
bài kệ số 4 đi liền với bài kệ số 3.
Bài số 3 nói:
Ôm hiềm hận thì hận thù không thể nguôi.
Bài số 4 nói chiều ngược lại:
Không ôm hiềm hận thì hận thù được tự nguôi.
Hai bài đứng cạnh nhau thành một cặp rất đẹp.
Một bên là:
giữ lại.
Một bên là:
đặt xuống.
Một bên là:
nuôi hận.
Một bên là:
không tiếp tục nuôi hận.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 97
Và chỉ cần hiểu thật sâu chữ:
“không ôm”
thì bài pháp này đã có thể dùng cả đời.
Bây giờ chúng ta đi từng từ một.
“NÓ”
Chữ “nó” tiếp tục chỉ người đã làm mình tổn thương.
Người ấy có thể đã:
mắng mình,
đánh mình,
thắng mình,
lấy mất điều của mình,
hoặc làm một việc khiến mình đau.
Điều rất quan trọng là:
lời kinh không phủ nhận sự kiện.
Đức Phật không bắt mình giả vờ rằng:
“Không có chuyện gì xảy ra.”
Có chuyện thì biết có chuyện.
Người sai thì biết người ấy sai.
Nhưng lời Phật bắt đầu hướng tâm mình từ:
người kia
trở về:
chính mình.
Người kia đã làm gì là phần của họ.
Mình sẽ làm gì với nỗi đau ấy là:
phần tu của mình.
“MẮNG”
“Mắng” là làm tổn thương bằng lời.
Lời nói có khi chỉ tồn tại vài giây,
nhưng vết của lời có thể ở lại rất lâu.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 98
Có người không quên một câu cha mẹ nói lúc nhỏ.
Có người không quên một câu người mình thương nói trong lúc nóng.
Có người mang một lời xúc phạm suốt nhiều năm.
Vì vậy người học Phật có hai việc phải học từ chữ này.
Thứ nhất:
khi bị mắng, học không nuôi hận.
Thứ hai:
khi mình đang giận, đừng gieo cho người khác một câu họ phải mang lâu dài.
Một bài kệ không chỉ giúp mình chữa vết thương.
Nó còn giúp mình:
đừng tạo thêm vết thương.
“ĐÁNH”
“Đánh” là hành vi gây tổn thương bằng thân.
Điều này cần được giảng thật cẩn thận.
Không ôm hiềm hận không có nghĩa:
để người khác tiếp tục đánh mình.
Nếu đang nguy hiểm:
phải rời khỏi nơi nguy hiểm.
Nếu cần người giúp:
phải tìm người giúp.
Nếu cần phương pháp bảo vệ hợp pháp:
vẫn phải sử dụng.
Chánh pháp không dạy người bị hại trở thành người bất lực.
Điều lời kinh đang dạy nằm ở một tầng khác:
sau khi đã làm những việc cần thiết để bảo vệ mình, có cần phải tiếp tục mang lòng muốn trả thù suốt đời hay không?
Đó mới là chỗ:
không ôm hiềm hận.
“THẮNG”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 99
“Nó thắng tôi.”
Chữ “thắng” chạm rất mạnh vào cái tôi.
Có những lúc không mất tiền.
Không mất nhà.
Không mất vật gì.
Chỉ là:
bị thua.
Nhưng tâm vẫn đau.
Bị thua tranh luận.
Bị người khác nói đúng điểm mình sai.
Bị người khác giỏi hơn.
Bị người khác vượt qua.
Tại sao?
Vì trong tâm có:
hơn – thua.
Người tu phải nhìn rất kỹ:
Có khi việc mình gọi là:
“bị xúc phạm”
thật ra chỉ là:
cái tôi không chịu thua.
Nếu không nhận ra, hận rất dễ sinh.
“CƯỚP”
“Cướp” là lấy đi điều thuộc về mình một cách bất chính.
Bị mất tài sản hay quyền lợi có thể tạo đau thật.
Không ai cần giả vờ rằng:
“Mất cũng không sao.”
Có thể rất sao.
Nhưng lời kinh giúp mình phân biệt hai điều:
đòi lại điều chính đáng
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 100
và:
muốn người kia phải đau để trả hận.
Một bên là xử lý sự việc.
Một bên là:
nuôi sân.
Hai việc không giống nhau.
“KHÔNG”
Đây là chữ rất quan trọng.
“Không ôm.”
Không phải:
“không nhớ.”
Không phải:
“không biết.”
Không phải:
“không được đau.”
Không phải:
“không được bảo vệ mình.”
Mà là:
không tiếp tục giữ lòng hiềm hận trong tâm.
Chữ “không” ở đây mở ra một khả năng rất lớn.
Mình không kiểm soát được quá khứ.
Nhưng mình có thể học:
không tiếp tục làm một việc trong hiện tại.
Việc đó là:
nuôi hận.
“ÔM”
“Ôm” là:
giữ sát vào mình.
Một vật muốn bỏ xuống thì phải mở tay.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 101
Một mối hận muốn nhẹ thì phải:
bớt giữ.
Điều rất sâu là:
người kia có thể không bắt mình ôm nữa.
Họ có khi đã đi khỏi.
Nhưng chính mình vẫn:
nhớ,
kể,
nghĩ,
tưởng tượng,
phân tích,
trả lời trong đầu.
Như vậy mình đang tự giữ.
Chữ “ôm” cho mình thấy:
một phần quyền chủ động vẫn còn ở phía mình.
Đây là tin rất tốt.
Nếu mình hoàn toàn bất lực thì không có đường tu.
Nhưng nếu mình đang ôm,
mình có thể học:
mở tay.
“HIỀM”
“Hiềm” có thể hiểu là:
để bụng, bất mãn, còn oán trách.
Có những người nói:
“Tôi không giận.”
Nhưng sau đó:
không muốn thấy người ấy.
Không muốn ai khen người ấy.
Nghe họ thành công thì khó chịu.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 102
Gặp họ thì lạnh.
Như vậy:
hiềm vẫn còn.
Hiềm có thể rất im.
Không la.
Không mắng.
Nhưng nằm sâu.
Chỉ cần có dịp là nổi lại.
“HẬN”
“Hận” là:
giận được giữ lâu.
Một cơn giận đến rồi đi:
chưa chắc thành hận.
Nhưng nếu mình nhắc lại,
nuôi lại,
đòi trả,
muốn người kia khổ,
thì sân đã phát triển thành:
hận.
Hận giống như:
một món nợ tâm lý mình ngày nào cũng kiểm lại.
“Người ấy còn thiếu tôi.”
“Người ấy phải trả.”
“Người ấy phải biết tôi đau thế nào.”
Nếu cứ giữ sổ ấy,
tâm rất khó tự do.
“HIỀM HẬN”
Ghép lại:
hiềm hận là lòng oán giận mình còn giữ đối với người hay sự việc đã làm mình tổn thương.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 103
Điều cần hiểu rất rõ:
không ôm hiềm hận không có nghĩa không có ký ức.
Mình vẫn có thể nhớ.
Nhưng nhớ với trí:
“Đây là bài học.”
khác với nhớ bằng sân:
“Tôi phải làm họ đau.”
Đó là hai loại nhớ hoàn toàn khác nhau.
“HẬN THÙ”
“Hận thù” là trạng thái đối nghịch sâu,
từ đó tâm dễ muốn:
trả đũa,
phá,
làm người kia đau,
hoặc vui khi họ gặp chuyện không hay.
Đây là trạng thái rất nguy hiểm.
Bởi khi hận đủ lớn,
mình có thể làm điều lúc bình thường mình không làm.
Một lời ác.
Một hành động ác.
Một quyết định ác.
Và như vậy:
cái sai của người kia sinh thêm cái sai của mình.
Vòng khổ tiếp tục.
“ĐƯỢC”
Trong câu:
“Hận thù được tự nguôi,”
chữ “được” cho thấy một khả năng.
Hận không nhất thiết phải tồn tại mãi.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 104
Một người từng hận rất sâu vẫn có thể nhẹ đi.
Một chuyện từng làm mình mất ngủ có thể đến lúc:
nhớ mà không còn nóng như trước.
Một người từng chỉ cần nghe tên là sân,
có thể đến lúc nghe tên mà tâm bình thường hơn.
Điều đó có thể xảy ra.
Nhưng cần:
ngừng tiếp tục nuôi.
“TỰ”
Chữ “tự” rất đẹp.
“Được tự nguôi.”
Hận có tính sinh rồi diệt.
Nếu mình không tiếp tục tưới nó,
nó có thể giảm.
Giống như lửa.
Nếu không thêm củi,
lửa dần tắt.
Điều này không có nghĩa mọi vết thương tự hết nhanh.
Có vết thương sâu cần:
thời gian,
chăm sóc,
sự giúp đỡ,
trí tuệ,
và rất nhiều thực hành.
Nhưng nguyên tắc vẫn vậy:
không tiếp tục thêm nhiên liệu.
“NGUÔI”
“Nguôi” nghĩa là:
dịu xuống, lắng xuống, nhẹ dần.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 105
Không nhất thiết:
hôm nay hận 100,
ngày mai bằng 0.
Có thể:
100 xuống 90.
Rồi 70.
Rồi 50.
Nghe tên còn đau,
nhưng không còn muốn trả.
Sau đó còn nhớ,
nhưng không còn phải kể.
Sau nữa:
nhìn lại như một bài học.
Đó là:
nguôi.
Cho nên đừng đòi mình:
“Tôi phải tha hết ngay.”
Cứ đi từng bước.
4. GIẢI NGHĨA TỪNG CỤM
“NÓ MẮNG TÔI”
Cụm này nói về tổn thương bằng lời.
Điều đầu tiên:
không phủ nhận nỗi đau.
Nếu đau:
biết đau.
Nếu cần nói:
nói.
Nếu lời ấy sai:
có thể đính chính.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 106
Nhưng sau đó phải hỏi:
“Tôi có cần mang câu này thêm mười năm không?”
Không phải quên ngay.
Mà:
đừng biến câu ấy thành thức ăn hằng ngày cho sân.
“NÓ ĐÁNH TÔI”
Cụm này nói về tổn thương bằng hành động.
Việc cần làm trước hết là:
an toàn.
Pháp không bắt mình ngồi yên trong nguy hiểm.
Nhưng khi đã an toàn,
phần việc tiếp theo là:
đừng để hành vi xấu của người kia tiếp tục sống trong tâm mình dưới hình thức oán hận.
Người kia đã làm sai.
Đừng để cái sai ấy sinh thêm:
một đời tâm độc nơi mình.
“NÓ THẮNG TÔI”
Đây là chỗ:
cái tôi.
Có khi mình không hận vì bị hại.
Mình hận vì:
bị thua.
Nếu vậy thì bài học không chỉ là:
buông hận.
Còn là:
buông bớt hơn thua.
Có những cuộc thua ngoài đời giúp mình thắng:
cái mạn.
Nếu chịu học.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 107
“NÓ CƯỚP TÔI”
Mất một thứ:
đau.
Nhưng hận có thể khiến mình mất thêm:
giấc ngủ,
sức khỏe,
thời gian,
tình cảm,
hiện tại.
Như vậy người kia lấy một thứ.
Hận lấy thêm rất nhiều thứ khác.
Cho nên giải quyết vật bị mất là một việc.
Giữ tâm khỏi bị mất thêm bình an là:
một việc khác.
“KHÔNG ÔM HIỀM HẬN ẤY”
Đây là trái tim của bài kệ.
Không ôm nghĩa là:
không tiếp tục nắm chặt câu chuyện bằng tâm oán.
Có thể vẫn nhớ.
Có thể vẫn giữ khoảng cách.
Có thể vẫn xử lý việc.
Nhưng không:
ngày nào cũng kể.
Không:
ngày nào cũng mong họ khổ.
Không:
để sự việc trở thành căn cước của mình.
Đó là:
không ôm.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 108
“HẬN THÙ ĐƯỢC TỰ NGUÔI”
Khi không còn được nuôi bằng:
nhớ hận,
kể hận,
tưởng trả,
mong người kia khổ,
thì hận dần mất thức ăn.
Nó có cơ hội:
lắng xuống.
Đây là một quy luật rất thực tế.
Muốn một thứ yếu đi:
đừng tiếp tục cho nó thức ăn.
5. GHÉP NGHĨA TOÀN CÂU KINH
Ghép lại, bài kệ có thể hiểu:
Một người có thể đã thật sự bị người khác mắng, đánh, thắng hay lấy mất điều gì. Nhưng nếu người ấy không tiếp tục ôm giữ lòng oán hận đối với những việc ấy, thì hận thù có điều kiện dần lắng xuống.
Có thể nhớ thật ngắn:
SỰ VIỆC ĐÃ XẢY RA.
NỖI ĐAU CÓ THỂ CÒN.
NHƯNG KHÔNG TIẾP TỤC NUÔI HẬN.
HẬN MỚI CÓ CƠ HỘI NGUÔI.
Đây là mặt còn lại của bài số 3.
Bài 3:
ÔM → HẬN KHÔNG NGUÔI.
Bài 4:
KHÔNG ÔM → HẬN CÓ THỂ NGUÔI.
6. GIẢNG SÂU – KHÔNG ÔM KHÔNG CÓ NGHĨA CHUYỆN CHƯA TỪNG XẢY RA
Kính thưa quý vị,
đây là điều cần nói thật rõ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 109
Phật pháp không dạy mình:
xóa sự thật.
Nếu một người đã làm sai:
việc đó vẫn sai.
Nếu một người đã làm mình đau:
nỗi đau vẫn có thật.
Nếu có hậu quả:
vẫn phải xử lý.
Không ôm hận không biến:
sai thành đúng.
Nó chỉ ngăn một điều:
đừng để cái sai ấy tiếp tục sinh thêm cái độc trong tâm mình.
7. CÓ THỂ NÓI: “VIỆC ẤY SAI” MÀ KHÔNG NÓI: “TÔI PHẢI HẬN NGƯỜI ẤY”
Đây là hai mệnh đề khác nhau.
“Việc ấy sai.”
Đó là nhận định.
“Vì vậy tôi phải hận họ suốt đời.”
Đó là lựa chọn của tâm.
Phật pháp không bắt mình bỏ sự phân biệt đúng sai.
Nó giúp mình:
không chuyển đúng sai thành oán thù vô tận.
8. CÔNG LÝ KHÔNG CẦN HẬN THÙ MỚI HOẠT ĐỘNG
Nếu có sai phạm:
vẫn xử lý.
Nếu cần làm rõ:
vẫn làm rõ.
Nếu cần pháp luật:
vẫn dùng pháp luật.
Nếu cần bồi thường:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 110
vẫn yêu cầu đúng cách.
Nhưng mình không cần thêm:
ý muốn làm người kia đau cho hả.
Đó là điều mình có thể bỏ.
Công lý và trả thù không phải một.
9. BUÔNG HẬN LÀ BẢO VỆ PHẦN ĐỜI CÒN LẠI
Một người làm mình đau ở tuổi 30.
Nếu mang hận tới tuổi 70,
thì một sự kiện đã lấy:
40 năm tâm mình.
Đó là cái giá quá lớn.
Không ôm hiềm hận là nói:
“Chuyện ấy đã lấy đủ rồi. Tôi không cho nó lấy thêm phần đời còn lại.”
Đây là một cách hiểu rất mạnh.
10. CÓ KHI NGƯỜI KIA KHÔNG BAO GIỜ XIN LỖI
Và đây là chỗ rất khó.
Mình nghĩ:
“Họ phải xin lỗi thì tôi mới buông.”
Nhưng nếu họ:
không xin,
không nhận,
không hiểu,
thì sao?
Mình hận cả đời?
Như vậy quyền bình an của mình đang nằm trong tay họ.
Người học Phật cần dần chuyển:
“Họ xin lỗi là phần của họ. Tôi chữa tâm là phần của tôi.”
Nếu họ xin lỗi:
tốt.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 111
Nếu không:
mình vẫn phải sống.
11. BUÔNG HẬN KHÔNG ĐỢI NGƯỜI KIA TRỞ THÀNH NGƯỜI TỐT
Có người chỉ muốn buông khi:
người kia thay đổi.
Nhưng nếu họ không thay đổi thì sao?
Mình không cần chờ.
Mình có thể đặt ranh giới,
rời xa,
không giao việc,
không tin như trước,
nhưng vẫn tập:
không muốn họ khổ.
Đây là tự do nội tâm.
12. THA THỨ KHÔNG PHẢI LUÔN LUÔN LÀM HÒA
Có người có thể làm hòa.
Có người không nên.
Có người quan hệ có thể sửa.
Có người khoảng cách là tốt hơn.
Vì vậy:
tha
không đồng nghĩa:
trở lại như cũ.
Không ôm hận là chuyện của tâm.
Có tiếp tục quan hệ hay không là:
chuyện của trí và hoàn cảnh.
13. ĐỪNG NHẦM “KHÔNG ÔM” VỚI “KHÔNG ĐƯỢC BUỒN”
Có người bị tổn thương rồi nghe:
“Không được giận, không được buồn.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 112
Như vậy dễ làm người ta:
giấu cảm xúc.
Lời kinh không bảo:
không được đau.
Mà chỉ:
đừng nuôi oán.
Buồn có thể có.
Nước mắt có thể có.
Thất vọng có thể có.
Nhưng giữa tất cả những điều ấy,
mình vẫn có thể không muốn:
người kia phải khổ vì mình muốn trả.
Đó đã là rất lớn.
14. ĐAU VÀ HẬN KHÔNG GIỐNG NHAU
Đau là:
“Việc ấy làm tôi tổn thương.”
Hận là:
“Tôi muốn họ phải đau lại.”
Hai trạng thái khác nhau.
Một người có thể còn đau nhưng không hận.
Đây là điều rất quan trọng.
Mình không cần đợi hết đau mới bắt đầu buông hận.
15. CÓ KHI MÌNH ĐÃ THA NHƯNG VẪN KHÔNG QUÊN
Không sao.
Quên không phải tiêu chuẩn.
Có sự kiện mình sẽ nhớ cả đời.
Điều cần nhìn là:
mỗi lần nhớ, tâm còn bị đốt như trước không?
Nếu nhẹ hơn:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 113
đã có chuyển hóa.
Nếu không còn muốn trả:
đã có chuyển hóa.
Nếu có thể nhìn sự việc như bài học:
đã có chuyển hóa.
16. GIỮ BÀI HỌC – BỎ ĐỘC
Đây là công thức rất đẹp.
Người kia lừa mình.
Bài học:
cẩn trọng.
Độc:
từ nay ghét tất cả mọi người.
Giữ bài học.
Bỏ độc.
Người kia phản bội.
Bài học:
đừng giao toàn bộ đời mình cho một người.
Độc:
không bao giờ tin ai nữa.
Giữ bài học.
Bỏ độc.
Người kia làm mình mất tài sản.
Bài học:
làm giấy tờ rõ.
Độc:
chỉ muốn người ấy khổ suốt đời.
Giữ bài học.
Bỏ độc.
17. NẾU KHÔNG GIỮ BÀI HỌC, CÓ THỂ BỊ HẠI LẠI
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 114
Nếu chỉ nói:
“Tôi tha hết,”
rồi quay lại y hệt,
không rút kinh nghiệm,
thì đó chưa chắc là trí.
Phật pháp không dạy:
buông trí.
Nó dạy:
buông sân.
Trí vẫn phải sáng.
18. KHÔNG ÔM HẬN KHÔNG PHẢI LÀM ƠN CHO NGƯỜI KIA
Nhiều người nghĩ:
“Tại sao tôi phải tha cho họ?”
Nhưng có thể đổi câu hỏi:
“Tại sao tôi phải tiếp tục mang độc vì họ?”
Buông trước hết là:
cho chính mình.
Người kia có nhận được gì hay không là chuyện khác.
Tâm mình nhẹ:
mình hưởng trước.
19. MỖI LẦN NHỚ CHUYỆN CŨ, MÌNH ĐANG ĐỨNG TRƯỚC HAI CON ĐƯỜNG
Đường một:
nhớ → kể → sân → hận.
Đường hai:
nhớ → biết → học → buông.
Cùng một ký ức.
Nhưng hai hướng hoàn toàn khác.
Người tu phải tập:
đổi đường.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 115
20. KHI NGHE TÊN NGƯỜI MÌNH TỪNG HẬN
Phản ứng đầu tiên có thể rất nhanh.
Ngực nóng.
Tâm khó chịu.
Đừng tự trách.
Chỉ nói:
“Hận còn.”
Rồi đừng làm phần tiếp theo.
Đừng kể ngay.
Đừng mắng.
Đừng tìm lại chuyện cũ.
Chỉ không thêm.
Đó chính là:
không ôm thêm.
21. KHI MUỐN KỂ LẠI CÂU CHUYỆN
Hỏi:
“Tôi kể để làm gì?”
Nếu để:
tìm giải pháp,
làm rõ sự thật,
nhờ giúp,
thì có thể cần.
Nếu chỉ để:
làm người nghe ghét người kia cùng mình,
thì đó là:
tưới hận.
Người tu phải rất chân thật ở chỗ này.
22. KHI CÓ NGƯỜI KHÁC CHÂM THÊM LỬA
Có người nghe chuyện rồi nói:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 116
“Nếu là tôi, tôi không để yên.”
Tâm mình lại nóng.
Hãy cẩn thận.
Không phải ai đứng về phía mình cũng đang giúp mình.
Có người giúp giải quyết.
Có người chỉ:
đổ dầu vào sân.
Thiện hữu là người giúp mình:
rõ hơn,
đúng hơn,
an hơn.
Không phải người làm mình hận hơn.
23. KHI MÌNH NHẬN RA NGƯỜI KIA CŨNG ĐANG KHỔ
Điều này không nhằm:
bào chữa cho cái sai.
Nhưng có thể giúp tâm mềm.
Một người sống đầy sân,
tham,
si,
có khi chính họ đã rất khổ.
Người biết điều này có thể nói:
“Việc họ làm vẫn sai. Nhưng tôi không cần thêm hận.”
Đó là bắt đầu có từ bi mà vẫn giữ trí.
24. TỪ BI KHÔNG PHẢI NÓI: “HỌ KHÔNG CÓ LỖI”
Từ bi nói:
“Họ có thể đang bị vô minh và phiền não chi phối.”
Trí nói:
“Việc sai vẫn là sai.”
Hai thứ đi cùng.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 117
Không cần chọn một trong hai.
25. CÓ KHI NGƯỜI MÌNH HẬN CHÍNH LÀ MÌNH CỦA QUÁ KHỨ
Một số người không hận ai ngoài:
chính mình.
“Tại sao tôi ngu như vậy?”
“Tại sao tôi tin họ?”
“Tại sao tôi làm điều ấy?”
Lặp đi lặp lại.
Đó cũng là:
ôm hiềm hận.
Nếu sai:
nhận.
Sửa.
Bù đắp.
Học.
Nhưng đừng lấy một lỗi cũ để:
đánh mình mỗi ngày.
26. TỰ THA THỨ CŨNG CẦN TRÁCH NHIỆM
Không phải nói:
“Tôi tha cho tôi nên thôi.”
Mà là:
“Tôi nhận lỗi, sửa điều có thể sửa, rồi không tự hành hạ mình thêm.”
Đây mới là tự tha thứ có trí.
27. KHI GIA ĐÌNH CÓ CHUYỆN CŨ LẶP ĐI LẶP LẠI
Có những gia đình:
một chuyện mười năm trước,
mỗi lần cãi lại đem ra.
Chuyện mới một phần.
Chuyện cũ mười phần.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 118
Như vậy hận không thể nguôi.
Nếu muốn quan hệ lành hơn,
phải có lúc thống nhất:
việc nào đã xử lý thì không dùng lại làm vũ khí.
Nếu chưa xử lý:
xử lý.
Nếu đã xử lý:
đừng đào lại mỗi lần sân.
28. ĐỪNG DÙNG QUÁ KHỨ LÀM DAO TRONG MỌI CUỘC TRANH CÃI
Người kia sai hôm nay:
nói việc hôm nay.
Không cần:
“Anh lúc nào cũng vậy, từ năm đó đến giờ…”
Càng gom quá khứ,
cơn sân càng lớn.
Người tu tập nói:
đúng việc.
Không nói:
toàn bộ con người.
29. KHI BỊ NÓI XẤU TRÊN MẠNG
Đây là nơi bài kệ rất hữu ích.
Một bình luận.
Mình đọc.
Tâm nóng.
Nếu trả ngay:
có thể kéo thành hàng trăm bình luận.
Trước tiên:
xem nội dung có cần xử lý không.
Nếu sai nghiêm trọng:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 119
đính chính.
Nếu chỉ khiêu khích:
không phải câu nào cũng cần trả lời.
Đừng để một người lạ lấy:
nhiều giờ bình an
chỉ bằng vài chữ.
30. KHÔNG PHẢI MỌI TRẬN CHIẾN ĐỀU CẦN THAM GIA
Có những việc phải nói.
Có những việc nên im.
Trí là biết:
trận nào đáng bước vào.
Nếu mỗi lời khiêu khích đều kéo mình vào,
tâm sẽ rất mệt.
Không ôm hiềm hận còn có nghĩa:
không nhặt hết mọi mũi tên người khác ném rồi mang theo.
31. MỘT NGƯỜI NÓI XẤU KHÔNG THỂ ĐỊNH NGHĨA TOÀN BỘ CON NGƯỜI MÌNH
Người ta có thể:
hiểu sai.
nói sai.
Nhưng điều đó không tự động biến mình thành:
đúng như lời họ.
Sống đúng.
Sửa phần mình.
Phần sai của họ:
để sự thật trả lời.
Không cần cả đời đi:
chứng minh với tất cả mọi người.
32. HẠN CHẾ LỚN NHẤT CỦA HẬN LÀ NÓ GIỮ MÌNH Ở LẠI ĐÚNG NƠI MÌNH ĐÃ BỊ THƯƠNG
Thân đã đi.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 120
Thời gian đã qua.
Nhưng tâm vẫn đứng ở:
ngày ấy,
câu ấy,
việc ấy.
Buông là:
cho tâm bước tiếp.
Không phủ nhận quá khứ.
Nhưng:
không sống mãi trong đó.
33. BUÔNG KHÔNG PHẢI BỎ QUA BÀI HỌC – BUÔNG LÀ BỎ SỰ LẶP LẠI NỖI ĐAU KHÔNG CÒN ÍCH LỢI
Có những lần nhớ:
giúp mình học.
Nhưng sau khi bài học đã rõ,
nhớ thêm lần thứ một nghìn có giúp gì không?
Nếu không:
đó không còn là học.
Đó là:
tự làm đau.
34. CÔNG THỨC THỰC HÀNH: NHẬN – XỬ – HỌC – BUÔNG
NHẬN
Nhận sự việc đã xảy ra.
Không phủ nhận.
XỬ
Việc cần xử lý:
xử lý.
HỌC
Rút bài học.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 121
BUÔNG
Không tiếp tục nuôi ác ý.
Đây là bốn bước rất dễ nhớ.
35. CÔNG THỨC THỨ HAI: KHÔNG KỂ – KHÔNG TƯỞNG – KHÔNG TRẢ
Khi muốn hận giảm:
KHÔNG KỂ THÊM NẾU KHÔNG CẦN
Mỗi lần kể có thể tưới lại cảm xúc.
KHÔNG TƯỞNG TƯỢNG CÁCH TRẢ
Tưởng tượng cũng nuôi sân.
KHÔNG TRẢ ĐŨA TRONG LÚC SÂN
Đợi trí.
Ba điều này giúp cắt thức ăn của hận.
36. CÔNG THỨC THỨ BA: GIỮ BÀI HỌC – BỎ CHẤT ĐỘC
Đây có lẽ là câu dễ nhớ nhất của bài:
GIỮ BÀI HỌC.
BỎ CHẤT ĐỘC.
Bài học giúp mình có trí.
Chất độc làm mình khổ.
Không cần bỏ cả hai.
37. BÀI THỰC HÀNH MỘT NGÀY KHÔNG TƯỚI HẬN
Chọn một người hoặc một chuyện mình còn khó chịu.
Trong một ngày:
không chủ động kể lại.
Không tìm thông tin về người ấy.
Không tưởng tượng cách trả.
Nếu ký ức tự đến:
biết.
Thở.
Làm việc khác.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 122
Cuối ngày xem:
tâm nhẹ hơn hay nặng hơn?
Đó là tự kiểm chứng Pháp.
38. BÀI THỰC HÀNH VỚI LỜI NÓI
Nếu bắt buộc phải nói về người đã làm mình đau,
chỉ nói:
sự kiện cần thiết.
Không thêm nhãn:
“người xấu nhất.”
“lúc nào cũng vậy.”
“không bao giờ tốt.”
Những chữ tuyệt đối thường làm hận lớn hơn.
Nói việc.
Không biến việc thành:
bản án toàn bộ con người.
39. BÀI THỰC HÀNH VỚI TÂM
Khi nhớ lại,
nói:
“Đây là ký ức.”
Không nói:
“Chuyện đang xảy ra lại.”
Nó đã qua.
Thân mình đang ở hiện tại.
Hơi thở đang ở hiện tại.
Nhìn quanh.
Đưa tâm về:
bây giờ.
Điều này rất hữu ích khi ký ức kéo mình trở lại quá khứ.
40. BÀI THỰC HÀNH VỚI NGƯỜI CHƯA XIN LỖI
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 123
Có thể nói trong tâm:
“Tôi không đồng ý với việc bạn đã làm.”
“Tôi vẫn giữ ranh giới cần thiết.”
“Nhưng tôi không muốn dùng thêm phần đời còn lại để nuôi hận.”
Câu này giữ đủ:
sự thật,
ranh giới,
và hướng buông.
41. BÀI THỰC HÀNH VỚI CHÍNH MÌNH
Nếu đang hận mình vì lỗi cũ:
viết ba dòng.
Tôi đã làm sai điều gì?
Tôi đã sửa được gì?
Bài học là gì?
Sau đó:
ngừng xử án mình mãi nếu đã thật sự sửa.
Đây là một dạng không ôm hiềm hận.
42. THỰC HÀNH BUỔI SÁNG
Mỗi sáng có thể nhắc:
Hôm nay tôi không phủ nhận những gì đã xảy ra.
Nhưng tôi không muốn dùng hiện tại để tiếp tục sống trong quá khứ.
Việc cần xử lý, tôi xử lý.
Ranh giới cần giữ, tôi giữ.
Bài học cần nhớ, tôi nhớ.
Nhưng lòng muốn trả thù, tôi tập đặt xuống.
43. THỰC HÀNH TRONG NGÀY
Khi chuyện cũ hiện lên:
hỏi:
“Tôi đang học hay đang hận?”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 124
Khi muốn kể:
hỏi:
“Việc kể này có ích không?”
Khi người khác khích:
hỏi:
“Lời này có đáng lấy bình an của tôi không?”
Khi sân tăng:
đừng quyết việc lớn.
Khi tâm nhẹ đi một chút:
nhận ra.
Đó là dấu hiệu tu.
44. THỰC HÀNH BUỔI TỐI
Trước khi ngủ hỏi:
Hôm nay tôi đã tưới hận ở đâu?
Tôi có kể chuyện cũ không cần thiết không?
Tôi có mong người kia gặp chuyện xấu không?
Có lúc nào tôi nhớ nhưng không nuôi tiếp không?
Tôi đã giữ được bài học nào?
Tôi đã đặt xuống được chút độc nào?
Nếu được một chút:
đã là tốt.
45. DẤU HIỆU MÌNH ĐANG BUÔNG ĐÚNG HƯỚNG
Không cần ai nói:
“Bạn đã tha rồi.”
Tự nhìn.
Mình bớt:
kể.
bớt:
tìm.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 125
bớt:
muốn trả.
bớt:
nóng khi nghe tên.
bớt:
mong họ khổ.
Đó là những dấu hiệu rất thật.
46. CÓ KHI HẬN HẾT TRƯỚC, QUAN HỆ VẪN KHÔNG TRỞ LẠI
Điều này hoàn toàn có thể.
Không hận:
không bắt buộc làm bạn.
Không hận:
không bắt buộc tin như cũ.
Không hận:
không bắt buộc sống chung.
Tâm được tự do,
nhưng trí vẫn biết:
giới hạn.
47. CÂU GHI NHỚ THỨ NHẤT
Không ôm hiềm hận không có nghĩa người kia đúng; chỉ có nghĩa mình không muốn cái sai của họ tiếp tục đầu độc tâm mình.
48. CÂU GHI NHỚ THỨ HAI
Tha thứ không xóa bài học; tha thứ giúp bài học còn lại mà chất độc giảm đi.
49. CÂU GHI NHỚ THỨ BA
Không cần người kia xin lỗi mình mới bắt đầu chữa tâm.
50. CÂU GHI NHỚ THỨ TƯ
Ranh giới bảo vệ mình; hận thù thiêu đốt mình. Hai thứ không giống nhau.
51. CÂU GHI NHỚ THỨ NĂM
Người kia có thể đã đi khỏi từ lâu; đừng để hiềm hận tiếp tục cho họ một căn phòng trong tâm mình.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 126
52. CÂU GHI NHỚ THỨ SÁU
Đau có thể cần thời gian; hận thì không cần được nuôi thêm trong thời gian ấy.
53. CÂU GHI NHỚ THỨ BẢY
Không cần quên mới gọi là buông; nhớ mà không còn muốn trả cũng đã là một bước rất lớn.
54. CÂU GHI NHỚ THỨ TÁM
Quá khứ đã xảy ra một lần; đừng để ký ức biến nó thành một biến cố xảy ra mỗi ngày.
55. CÂU GHI NHỚ THỨ CHÍN
Muốn hận nguôi, hãy ngừng cho hận thức ăn.
56. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI
Giữ bài học để có trí; bỏ chất độc để có an.
57. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
VIỆC ĐÃ XẢY RA – HÃY NHÌN ĐÚNG.
VIỆC CẦN XỬ LÝ – HÃY XỬ LÝ.
BÀI HỌC CẦN GIỮ – HÃY GIỮ.
NHƯNG HIỀM HẬN – ĐỪNG ÔM MÃI.
Bởi lời Phật đã dạy:
“Nó mắng tôi, đánh tôi, Nó thắng tôi, cướp tôi, Không ôm hiềm hận ấy, Hận thù được tự nguôi.”
Nguồn: Kinh Pháp Cú – Tiểu Bộ Kinh – Phẩm Song Yếu, phẩm thứ nhất, kệ số 4; mã tra cứu quốc tế Dhp 4; bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu. (Thư Viện Hoa Sen)
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 127
MỤC 005 - Bài 005 — BIẾT MÌNH ĐANG THỞ – BƯỚC ĐẦU TRỞ VỀ VỚI CHÍNH MÌNH 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
“Thở vô dài, vị ấy biết: ‘Tôi thở vô dài.’ Hay thở ra dài, vị ấy biết: ‘Tôi thở ra dài.’ Hay thở vô ngắn, vị ấy biết: ‘Tôi thở vô ngắn.’ Hay thở ra ngắn, vị ấy biết: ‘Tôi thở ra ngắn.’”
2. NGUỒN KINH
Tên kinh: Kinh Niệm Hơi Thở Tên Pāli: Ānāpānasati Sutta Thuộc: Trung Bộ Kinh – Majjhima Nikāya Số kinh: Kinh số 118 Mã tra cứu quốc tế: MN 118 Phần: Pháp niệm hơi thở – nhóm thực tập đầu tiên về thân Bản dịch tiếng Việt: Hòa thượng Thích Minh Châu Nguyên bản: Kinh tạng Pāli
Đoạn kinh này thuộc phần Đức Phật hướng dẫn niệm hơi thở – ānāpānasati, bắt đầu bằng việc nhận biết rõ hơi thở dài và hơi thở ngắn.
Đây không phải lời diễn giải được đặt thành lời Phật.
Đây là pháp thực tập có nguồn trực tiếp trong Trung Bộ Kinh, kinh số 118 – Kinh Niệm Hơi Thở.
3. TỪ KHÓA VIỆT – PĀLI – NGHĨA
NIỆM HƠI THỞ – ĀNĀPĀNASATI – NHẬN BIẾT RÕ HƠI THỞ VÀO, HƠI THỞ RA
Niệm hơi thở – ānāpānasati là sự thực tập đặt chánh niệm nơi tiến trình thở vào và thở ra.
Nói thật dễ hiểu:
thở và biết mình đang thở.
Không phải chỉ thở.
Bởi từ lúc sinh ra đến giờ chúng ta vẫn thở.
Nhưng phần lớn thời gian:
thân đang thở mà tâm đang ở nơi khác.
CHÁNH NIỆM – SATI – NHỚ BIẾT, KHÔNG QUÊN ĐỐI TƯỢNG ĐANG QUÁN SÁT
Chánh niệm – sati có thể hiểu trong thực hành là khả năng nhớ biết rõ điều đang diễn ra, không để tâm hoàn toàn thất niệm và bị cuốn đi.
Trong đoạn kinh này:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 128
hơi thở dài thì biết dài.
Hơi thở ngắn thì biết ngắn.
Điểm quan trọng nằm ở chữ:
BIẾT.
THỞ VÀO – ASSASATI – HƠI THỞ ĐANG ĐI VÀO
Khi hơi thở vào:
biết đang thở vào.
Không cần suy nghĩ:
“Đây là hơi thở tuyệt vời.”
Không cần tưởng tượng.
Không cần thêm một câu chuyện.
Chỉ nhận biết:
đang thở vào.
THỞ RA – PASSASATI – HƠI THỞ ĐANG ĐI RA
Khi hơi thở ra:
biết đang thở ra.
Đây là một điều rất đơn giản.
Nhưng chính sự đơn giản ấy lại giúp tâm có một nơi để trở về.
DÀI – DĪGHA – DÀI, KÉO DÀI
Hơi thở đang dài:
biết nó dài.
Không cần biến hơi ngắn thành dài chỉ để làm đúng bài.
Trước hết:
nhận biết cái đang có.
NGẮN – RASSA – NGẮN
Hơi thở đang ngắn:
biết nó ngắn.
Đức Phật không nói:
hơi dài là tốt,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 129
hơi ngắn là xấu.
Điểm được nhấn mạnh ở bước này là:
biết rõ đặc tính của hơi thở đang hiện hữu.
Đây là một bài học rất sâu:
TRƯỚC KHI MUỐN THAY ĐỔI MỘT ĐIỀU, HÃY HỌC NHÌN RÕ NÓ.
4. GIẢI TỪNG CỤM
“THỞ VÔ DÀI, VỊ ẤY BIẾT: ‘TÔI THỞ VÔ DÀI’”
Cụm này có hai phần.
Một là:
hơi thở đang xảy ra.
Hai là:
có sự nhận biết hơi thở ấy.
Đây chính là sự khác biệt giữa:
sống trong thất niệm
và:
sống có chánh niệm.
Hơi thở vẫn là hơi thở.
Nhưng khi có biết,
tâm đã trở về với điều đang thật sự xảy ra.
“THỞ RA DÀI, VỊ ẤY BIẾT: ‘TÔI THỞ RA DÀI’”
Hơi thở ra dài:
biết hơi thở ra dài.
Không cần giữ nó lại.
Không cần mong nó dài thêm.
Không cần nói:
“Hơi này phải giống hơi trước.”
Chỉ biết.
Điều này bắt đầu huấn luyện một năng lực rất quan trọng:
THẤY SỰ VẬT NHƯ NÓ ĐANG LÀ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 130
“THỞ VÔ NGẮN, VỊ ẤY BIẾT: ‘TÔI THỞ VÔ NGẮN’”
Hơi thở thay đổi.
Có lúc dài.
Có lúc ngắn.
Có lúc nhẹ.
Có lúc thô.
Đây cũng là một bài học về sự biến đổi.
Ngay một thứ gần mình nhất là hơi thở cũng:
không đứng yên.
Vì vậy đừng vội đòi:
“Hơi thở của tôi phải thế này.”
Trước hết:
biết nó đang thế nào.
“THỞ RA NGẮN, VỊ ẤY BIẾT: ‘TÔI THỞ RA NGẮN’”
Câu này hoàn thiện bốn sự nhận biết đầu tiên:
thở vào dài – biết.
thở ra dài – biết.
thở vào ngắn – biết.
thở ra ngắn – biết.
Nhìn thật kỹ sẽ thấy:
Đức Phật không bắt đầu bằng một điều quá xa.
Ngài đưa người thực hành trở về một việc:
đang xảy ra ngay trong thân mình.
5. GHÉP NGHĨA TOÀN ĐOẠN KINH
Toàn đoạn có thể hiểu thật dễ:
Khi hơi thở vào dài, người thực hành nhận biết rõ hơi thở vào đang dài. Khi hơi thở ra dài, nhận biết rõ hơi thở ra đang dài. Khi hơi thở vào ngắn, nhận biết rõ hơi thở vào đang ngắn. Khi hơi thở ra ngắn, nhận biết rõ hơi thở ra đang ngắn.
Điểm chính không nằm ở việc:
làm cho hơi thở thật đặc biệt.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 131
Điểm chính nằm ở:
THỞ MÀ BIẾT MÌNH ĐANG THỞ.
6. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ GÌ?
Kính thưa quý vị,
đây là chỗ chúng ta cần dừng lại thật lâu.
Tại sao Đức Phật lại dạy một điều tưởng như quá đơn giản?
Ai chẳng biết thở?
Nhưng vấn đề là:
CHÚNG TA THỞ – NHƯNG RẤT ÍT KHI THẬT SỰ CÓ MẶT VỚI HƠI THỞ.
Thân ở đây.
Tâm ở hôm qua.
Thân đang ăn.
Tâm đang giận người khác.
Thân đang nằm.
Tâm đang lo ngày mai.
Thân đang nói với người trước mặt.
Tâm lại nghĩ đến một người khác.
Thân ở hiện tại.
Nhưng tâm liên tục chạy.
Vì vậy một pháp rất căn bản là:
ĐƯA TÂM TRỞ VỀ.
Và hơi thở là một đối tượng rất gần để thực tập sự trở về ấy.
7. ĐIỀU THỨ NHẤT: PHẢI BIẾT CÁI ĐANG CÓ
Một nguyên tắc thực hành rất hay nằm ngay trong câu kinh:
dài – biết dài.
ngắn – biết ngắn.
Không phải:
dài thì thích.
ngắn thì ghét.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 132
Không phải:
hơi này tốt.
hơi kia xấu.
Trước hết:
BIẾT.
Điều này áp dụng được ra cả đời sống.
8. BUỒN – TRƯỚC HẾT BIẾT MÌNH ĐANG BUỒN
Nhiều khi vừa buồn,
mình lập tức tạo câu chuyện:
“Cuộc đời tôi khổ quá.”
“Không ai hiểu tôi.”
“Chắc chuyện này không bao giờ hết.”
Nhưng nếu học tinh thần của bài kinh,
bước đầu chỉ là:
“Buồn đang có.”
Nhận biết trước.
Đừng lập tức biến một cảm xúc thành:
cả cuộc đời.
9. GIẬN – TRƯỚC HẾT BIẾT MÌNH ĐANG GIẬN
Có người giận mà không biết mình đang giận.
Họ nghĩ:
“Tôi đang nói sự thật.”
Nhưng giọng đã lớn.
Mặt đã nóng.
Tay đã run.
Lời đã sắc.
Nếu có chánh niệm:
“À, sân đang có.”
Chỉ một khoảnh khắc nhận biết ấy có thể tạo ra khoảng cách giữa:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 133
cơn giận
và:
hành động theo cơn giận.
Khoảng cách ấy rất quý.
10. LO – BIẾT MÌNH ĐANG LO
Lo không phải lúc nào cũng hết ngay.
Nhưng biết:
“Tâm đang lo.”
khác với:
bị lo kéo đi mà không biết.
Một người có thể ngồi một giờ tưởng tượng:
mười tai họa chưa xảy ra.
Đến khi nhận ra:
“Tôi đang bị tâm kéo vào tương lai,”
thì có thể trở về:
hơi thở.
thân.
việc đang làm.
Đó là ứng dụng rất thực tế.
11. HƠI THỞ DẠY MÌNH KHÔNG ÉP THỰC TẠI PHẢI THEO Ý
Hơi dài:
biết dài.
Hơi ngắn:
biết ngắn.
Đây là một thái độ rất đẹp.
Trong đời,
mình thường khổ vì:
cái đang có không giống cái mình muốn.
Người kia phải hiểu mình.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 134
Con phải nghe mình.
Công việc phải thuận.
Sức khỏe phải như trước.
Ai cũng phải đối xử tốt.
Nhưng đời không luôn theo ý.
Thực tập chánh niệm dạy bước đầu:
NHÌN CÁI ĐANG LÀ TRƯỚC KHI PHẢN ỨNG VỚI NÓ.
12. BIẾT KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ THỤ ĐỘNG
Đây là điểm cần hiểu đúng.
Biết một việc đang xảy ra không có nghĩa:
không làm gì.
Ví dụ:
biết mình đang giận.
Sau đó có thể cần:
im một lúc.
nói rõ vấn đề.
rời khỏi nơi tranh cãi.
xin lỗi.
đặt ranh giới.
Nhưng khác biệt là:
hành động sau khi đã nhận biết
thay vì:
bị cảm xúc đẩy đi.
13. CHÁNH NIỆM TẠO MỘT KHOẢNG DỪNG
Có một câu nói làm mình đau.
Thông thường:
nghe → sân → trả ngay.
Nếu có chánh niệm:
nghe → biết đau → biết sân → dừng → lựa lời.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 135
Chỉ thêm một chữ:
BIẾT
mà toàn bộ đoạn sau có thể khác.
Đây là sức mạnh của thực hành.
14. VÍ DỤ 1 – KHI BỊ NÓI NẶNG
Có người nói:
“Bạn chẳng làm được việc gì ra hồn.”
Ngay lập tức tâm nóng.
Nếu không biết:
mình nói lại:
“Anh thì tốt đẹp gì?”
Thế là hai bên bắt đầu.
Nhưng nếu kịp biết:
“Tôi đang bị tổn thương.”
“Sân đang lên.”
mình có thể không trả ngay.
Một phút sau,
lời nói đã khác.
Không phải vì mình yếu.
Mà vì:
mình không giao miệng cho cơn sân điều khiển.
15. VÍ DỤ 2 – KHI CON CÁI KHÔNG NGHE
Cha mẹ nói một lần.
Con không nghe.
Sân lên.
Nếu không nhận biết:
bắt đầu mắng cả chuyện mười năm trước.
Nhưng nếu biết:
“Tôi đang giận vì con không làm theo ý tôi,”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 136
thì có thể xử lý đúng việc hiện tại.
Đó là chánh niệm đi vào gia đình.
16. VÍ DỤ 3 – KHI ĐANG TRANH LUẬN
Người kia nói một câu đúng.
Nhưng câu ấy chạm tự ái.
Nếu không biết:
mình tiếp tục cãi chỉ để thắng.
Nếu biết:
“Cái tôi đang không chịu thua,”
có thể dừng và hỏi:
“Điều họ nói có đúng không?”
Từ đó tranh luận biến thành:
học hỏi.
17. VÍ DỤ 4 – KHI CẦM ĐIỆN THOẠI
Ban đầu chỉ định xem năm phút.
Một lúc sau:
một giờ.
Tại sao?
Vì tâm bị kéo mà không biết.
Thực tập đơn giản:
trước khi mở điện thoại,
biết:
“Tôi đang mở để làm gì?”
Mười phút sau hỏi:
“Tôi còn đang làm việc ấy không?”
Đây cũng là chánh niệm.
18. VÍ DỤ 5 – KHI ĂN
Có người ăn hết một bữa nhưng tâm:
xem điện thoại,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 137
nghĩ việc,
lo chuyện,
giận người.
Miệng ăn mà gần như không biết mình ăn.
Thử một vài miếng:
biết mình đang nhai.
biết vị.
biết thân đang nhận thức ăn.
Không cần biến bữa ăn thành nghi lễ phức tạp.
Chỉ:
có mặt.
19. VÍ DỤ 6 – KHI ĐI BỘ
Thân đang đi.
Tâm có thể đi trước vài năm.
Hoặc quay lại mười năm.
Thỉnh thoảng biết:
“Tôi đang bước.”
Cảm nhận bàn chân.
Cảm nhận thân.
Rồi trở lại công việc.
Đây là cách đem sự tỉnh thức vào đời sống.
20. VÍ DỤ 7 – KHI KHÔNG NGỦ ĐƯỢC
Nằm xuống,
tâm nghĩ:
“Ngày mai mình sẽ mệt.”
Rồi:
“Nếu cứ mất ngủ thì sao?”
Rồi lại lo vì đang lo.
Nếu dùng hơi thở như đối tượng chánh niệm:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 138
thở vào – biết.
thở ra – biết.
Không ép:
“Tôi phải ngủ ngay.”
Chỉ trở về với hiện tại.
Ở đây cần hiểu đúng:
pháp niệm hơi thở là pháp tu;
không nên biến lời kinh thành lời hứa rằng nó chữa được mọi chứng mất ngủ hay bệnh lý.
21. VÍ DỤ 8 – KHI ĐANG RẤT VUI
Chánh niệm không chỉ dành cho lúc khổ.
Đang vui:
biết vui.
Được khen:
biết tâm thích.
Có lợi:
biết tâm đang muốn thêm.
Bởi nếu chỉ quan sát sân mà không quan sát tham,
mình mới thấy một nửa tâm.
22. VÍ DỤ 9 – KHI MUỐN MUA MỘT THỨ
Thấy món đồ.
Tâm thích.
Trước khi mua:
biết:
“Muốn đang sinh.”
Sau đó hỏi:
“Tôi thật sự cần hay chỉ đang thích?”
Nếu cần:
mua trong khả năng.
Nếu không:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 139
có thể để qua một ngày.
Chánh niệm không cấm mua.
Nó giúp mình:
thấy động cơ trước khi hành động.
23. VÍ DỤ 10 – KHI MUỐN NÓI VỀ NGƯỜI KHÁC
Một câu chuyện vừa đến miệng.
Biết:
“Tôi đang muốn kể.”
Hỏi:
“Tại sao?”
Để giúp?
Để làm rõ?
Hay để người nghe cũng ghét người ấy?
Chỉ cần nhận biết động cơ,
có khi câu chuyện dừng ngay.
24. HƠI THỞ LÀ MỘT CÁNH CỬA, KHÔNG PHẢI ĐÍCH CUỐI CÙNG
Nếu chỉ chăm chú vào hơi thở nhưng ra đời:
vẫn sân như cũ,
vẫn tham như cũ,
vẫn nói ác như cũ,
thì cần nhìn lại cách thực hành.
Niệm hơi thở nằm trong một hệ thống tu tập rộng hơn.
Mục đích không phải:
trở thành người giỏi theo dõi hơi thở.
Mà sự tu tập chánh niệm và định tĩnh phải hỗ trợ:
thấy thân,
thấy cảm thọ,
thấy tâm,
thấy pháp,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 140
và tiến tới sự hiểu biết, đoạn trừ những nguyên nhân của khổ.
25. ĐỪNG BIẾN HƠI THỞ THÀNH MỘT CUỘC THI
Có người hỏi:
“Tôi thở được bao nhiêu giây?”
“Tôi nín được bao lâu?”
Nhưng đó không phải trọng tâm của đoạn kinh này.
Ở đây Đức Phật nói:
dài thì biết dài.
ngắn thì biết ngắn.
Trọng tâm là:
NHẬN BIẾT.
Không phải:
LẬP KỶ LỤC.
26. ĐỪNG CỐ LÀM HƠI THỞ “ĐẸP”
Hơi đang ngắn:
biết ngắn.
Hơi đang dài:
biết dài.
Nếu cứ nghĩ:
“Người tu giỏi phải thở thật dài,”
thì mình lại thêm:
mong cầu.
So sánh.
Ép buộc.
Bước đầu của kinh rất tự nhiên:
nhận biết.
27. HƠI THỞ CŨNG CHO THẤY VÔ THƯỜNG
Hơi vào.
Rồi qua.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 141
Hơi ra.
Rồi qua.
Không có hơi nào mình giữ mãi.
Hơi trước đã mất.
Hơi này đang có.
Hơi sau chưa đến.
Chỉ quan sát thôi đã có thể thấy:
đời sống đang vận hành bằng những tiến trình sinh rồi diệt.
Không cần biến nó thành triết lý.
Cứ nhìn.
28. MỘT HƠI THỞ CŨNG KHÔNG THỂ GIỮ
Mình có thể giữ:
nhà,
vật,
tên tuổi,
hình ảnh,
ký ức.
Nhưng hơi thở vừa ra:
không gọi lại được.
Điều này nhắc:
sự sống rất gần và rất mong manh.
Vậy tại sao dành quá nhiều hơi thở cho:
hận?
ganh?
tranh hơn?
chuyện cũ?
Đây là câu hỏi rất đáng để tự hỏi.
29. HƠI THỞ LUÔN Ở HIỆN TẠI
Mình có thể nghĩ về:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 142
hơi thở hôm qua.
Nhưng không thể:
thở hơi hôm qua.
Mình có thể lo:
hơi thở ngày mai.
Nhưng thân chỉ có thể:
thở ngay bây giờ.
Vì vậy hơi thở là một cánh cửa rất tự nhiên đưa tâm về:
hiện tại.
30. NHƯNG HIỆN TẠI KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ KHÔNG LẬP KẾ HOẠCH
Người học Phật vẫn:
làm việc.
lập kế hoạch.
chuẩn bị tương lai.
Nhưng khi lập kế hoạch:
biết mình đang lập kế hoạch.
Khác với:
ngồi ăn nhưng tâm lo một tương lai chưa tới.
Chánh niệm không xóa khả năng suy nghĩ.
Nó giúp mình:
biết mình đang làm gì.
31. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ GÌ Ở TẦNG SÂU HƠN?
Không chỉ:
“Hãy thư giãn.”
Không chỉ:
“Hãy thở cho khỏe.”
Kinh Niệm Hơi Thở trình bày một con đường tu tập có hệ thống.
Pháp niệm hơi thở được phát triển liên hệ đến:
Bốn niệm xứ, Bảy giác chi, minh và giải thoát.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 143
Vì vậy đừng hạ pháp này xuống chỉ còn:
một mẹo giảm căng thẳng.
Thư giãn có thể là lợi ích phụ.
Nhưng mục tiêu Phật pháp sâu hơn rất nhiều:
THẤY RÕ – ĐOẠN TRỪ – GIẢI THOÁT.
32. TỪ MỘT HƠI THỞ ĐI ĐẾN MỘT ĐỜI SỐNG CÓ CHÁNH NIỆM
Bắt đầu:
thở và biết.
Sau đó:
đi và biết.
ăn và biết.
nói và biết.
sân và biết.
tham và biết.
buồn và biết.
vui và biết.
Cuối cùng điều quan trọng không phải:
mình ngồi được bao lâu.
Mà:
mình tỉnh được bao nhiêu trong đời sống.
33. ỨNG DỤNG 1 – TRƯỚC KHI NÓI
Trước một câu quan trọng:
một hơi thở.
Biết:
“Tôi sắp nói.”
Hỏi:
“Tâm nào đang nói?”
Nếu sân quá mạnh:
chưa nói.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 144
Một hơi thở có thể cứu:
một câu.
Một câu có thể cứu:
một quan hệ.
34. ỨNG DỤNG 2 – TRƯỚC KHI TRẢ LỜI BÌNH LUẬN
Đọc một bình luận làm mình khó chịu.
Đừng gõ ngay.
Thở vào:
biết.
Thở ra:
biết.
Nhìn tâm.
Sau đó hỏi:
“Câu trả lời này nhằm giúp người hiểu hay nhằm thắng họ?”
Nếu chỉ để thắng:
có thể chưa cần trả.
35. ỨNG DỤNG 3 – TRƯỚC MỘT QUYẾT ĐỊNH
Khi tham hoặc sân đang rất mạnh,
không quyết ngay nếu có thể chờ.
Trở về thân.
Trở về hơi thở.
Đợi tâm bớt bị cảm xúc chi phối.
Rồi mới nhìn lại.
Chánh niệm không quyết thay mình.
Nó giúp:
người quyết định có mặt.
36. ỨNG DỤNG 4 – KHI ĐANG QUÁ BẬN
Càng bận càng dễ thất niệm.
Thử không cần nghỉ cả giờ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 145
Chỉ dừng một chút.
Một hơi vào:
biết.
Một hơi ra:
biết.
Rồi làm tiếp.
Không phải trốn công việc.
Mà là:
đưa người làm việc trở lại với công việc.
37. ỨNG DỤNG 5 – KHI ĐANG NGHE NGƯỜI KHÁC
Một thực hành rất quý:
khi người kia nói,
nghe.
Đừng vừa nghe vừa soạn câu trả lời.
Đừng vừa nghe vừa phán.
Biết:
“Tôi đang nghe.”
Có khi món quà lớn nhất mình cho người khác không phải lời khuyên.
Mà là:
sự có mặt.
38. ỨNG DỤNG 6 – KHI LỄ PHẬT
Lạy xuống:
biết thân đang lạy.
Đứng lên:
biết thân đang đứng.
Niệm danh hiệu Phật:
biết mình đang niệm.
Đừng để miệng niệm Phật mà tâm:
đi khắp thế gian.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 146
Nếu đi:
biết nó đi.
Rồi nhẹ nhàng đưa về.
Đó là tu.
39. ỨNG DỤNG 7 – KHI TỤNG KINH
Miệng đọc:
tai nghe.
Tâm biết:
mình đang đọc lời kinh.
Gặp câu không hiểu:
đánh dấu để học.
Không cần chạy theo số trang.
Một câu kinh hiểu và thực hành được có khi quý hơn:
đọc rất nhiều mà tâm không biết mình vừa đọc gì.
40. ỨNG DỤNG 8 – KHI LÀM VIỆC THIỆN
Trước khi cho:
biết tâm.
Trong khi cho:
biết tâm.
Sau khi cho:
biết tâm.
Có mong được khen không?
Có tiếc không?
Có khinh người nhận không?
Có vui không?
Như vậy một việc thiện đồng thời trở thành:
một bài học về chính tâm mình.
41. ỨNG DỤNG 9 – KHI SÂN
Không cần nói:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 147
“Tôi không được sân.”
Trước hết:
“Sân đang có.”
Biết thân nóng.
Biết tim nhanh.
Biết ý muốn nói nặng.
Rồi:
không làm theo ngay.
Đây là bước thực tế.
42. ỨNG DỤNG 10 – KHI TÂM LOẠN
Tâm chạy mười chuyện.
Đừng đánh nhau với tâm.
Trở về một việc đơn giản:
hơi vào – biết.
hơi ra – biết.
Tâm lại chạy:
biết chạy.
Rồi về.
Chạy nữa:
biết.
Rồi về.
Tu không phải:
tâm không bao giờ đi.
Mà một phần của thực tập là:
biết nó đi và biết trở về.
43. CÔNG THỨC THỨ NHẤT: THỞ – BIẾT – TRỞ VỀ
THỞ
Không cần tạo hơi đặc biệt.
BIẾT
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 148
Dài biết dài.
Ngắn biết ngắn.
TRỞ VỀ
Tâm chạy thì trở về với điều đang xảy ra.
Công thức:
THỞ → BIẾT → TRỞ VỀ.
44. CÔNG THỨC THỨ HAI: DỪNG – BIẾT – CHỌN
Đây là công thức ứng dụng ngoài đời.
DỪNG
Đừng phản ứng ngay.
BIẾT
Tâm nào đang có?
CHỌN
Chọn lời hay việc phù hợp hơn.
Công thức:
DỪNG → BIẾT → CHỌN.
45. CÔNG THỨC THỨ BA: THÂN Ở ĐÂU – TÂM VỀ ĐÓ
Đang ăn:
tâm về bữa ăn.
Đang đi:
tâm về bước chân.
Đang nghe:
tâm về người đang nói.
Đang tụng:
tâm về câu kinh.
Đang thở:
tâm về hơi thở.
Câu dễ nhớ:
THÂN Ở ĐÂU – TÂM VỀ ĐÓ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 149
46. BÀI THỰC HÀNH MỘT PHÚT
Không cần bắt đầu bằng một giờ.
Ngồi hoặc đứng thoải mái.
Không ép hơi.
Hơi vào:
biết vào.
Hơi ra:
biết ra.
Dài:
biết dài.
Ngắn:
biết ngắn.
Tâm chạy:
biết tâm chạy.
Trở về.
Một phút.
Thực hành đều còn quý hơn:
làm thật nhiều một hôm rồi bỏ.
47. BÀI THỰC HÀNH TRƯỚC KHI NÓI LỜI KHÓ
Trước khi nói với người đang làm mình giận:
thở một hơi.
Biết:
“Tôi đang giận.”
Hỏi:
“Điều tôi sắp nói nhằm giải quyết việc hay làm người kia đau?”
Nếu chỉ muốn làm đau:
chờ.
Đây là đem kinh vào ngay miệng mình.
48. BÀI THỰC HÀNH KHI TÂM CHẠY VỀ QUÁ KHỨ
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 150
Nhận ra:
“Đang nhớ.”
Không cần mắng mình.
Một hơi vào:
biết.
Một hơi ra:
biết.
Nhìn việc trước mặt.
Nếu quá khứ có bài học cần giải quyết:
ghi lại.
Sau đó quay về.
Đừng để một ký ức lấy toàn bộ ngày hôm nay.
49. BÀI THỰC HÀNH KHI LO TƯƠNG LAI
Hỏi:
“Có việc gì tôi làm được ngay bây giờ không?”
Nếu có:
làm.
Nếu chưa:
trở về việc hiện tại.
Đây là chỗ chánh niệm và trí đi cùng nhau.
Không phải:
“Không được nghĩ tương lai.”
Mà:
đừng sống trong một tương lai tưởng tượng khi hiện tại đang cần mình.
50. BÀI THỰC HÀNH BẢY NGÀY
NGÀY 1
Mỗi ngày ba lần:
nhận biết ba hơi thở.
NGÀY 2
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 151
Trước khi ăn:
ba hơi thở có biết.
NGÀY 3
Trước khi mở điện thoại:
biết mình mở để làm gì.
NGÀY 4
Khi sân:
không nói ngay trong vài hơi thở đầu nếu hoàn cảnh cho phép.
NGÀY 5
Khi đi:
dành một đoạn ngắn biết mình đang bước.
NGÀY 6
Khi nghe người khác:
tập nghe trọn một câu mà không chen.
NGÀY 7
Cuối ngày hỏi:
“Tuần này tôi có mặt với đời mình nhiều hơn không?”
51. CÂU GHI NHỚ THỨ NHẤT
Hơi thở vẫn ở đây; thường chỉ có tâm mình là đi quá xa.
52. CÂU GHI NHỚ THỨ HAI
Chánh niệm bắt đầu bằng một điều rất giản dị: cái gì đang xảy ra, biết cái ấy đang xảy ra.
53. CÂU GHI NHỚ THỨ BA
Trước khi sửa một trạng thái của tâm, hãy học nhìn thấy nó.
54. CÂU GHI NHỚ THỨ TƯ
Giận mà biết mình đang giận đã khác với giận mà tưởng mình hoàn toàn sáng suốt.
55. CÂU GHI NHỚ THỨ NĂM
Một hơi thở có chánh niệm không xóa hết khó khăn, nhưng có thể tạo khoảng dừng để mình đừng làm khó khăn lớn thêm.
56. CÂU GHI NHỚ THỨ SÁU
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 152
Tâm đi thì biết tâm đi; biết rồi trở về. Đừng biến việc tâm đi thành thêm một lý do để trách mình.
57. CÂU GHI NHỚ THỨ BẢY
Hơi thở không ở hôm qua và cũng không ở ngày mai; hơi thở chỉ có thể được sống ngay bây giờ.
58. CÂU GHI NHỚ THỨ TÁM
Tu không chỉ là lúc ngồi xuống; tu còn là biết mình đang nói gì, làm gì và tâm nào đang dẫn mình đi.
59. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
HƠI VÀO – BIẾT HƠI VÀO.
HƠI RA – BIẾT HƠI RA.
DÀI – BIẾT DÀI.
NGẮN – BIẾT NGẮN.
TÂM ĐI – BIẾT TÂM ĐI.
BIẾT RỒI – TRỞ VỀ.
Đừng coi thường chữ:
“BIẾT”.
Bởi giữa một cơn sân và một lời ác,
nếu có chữ:
biết,
mình có cơ hội dừng.
Giữa một lòng tham và một hành động sai,
nếu có chữ:
biết,
mình có cơ hội chọn.
Giữa một nỗi buồn và hàng trăm suy nghĩ làm nỗi buồn lớn thêm,
nếu có chữ:
biết,
mình có cơ hội không đi theo tất cả.
Đó là lý do một pháp tưởng như rất đơn giản:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 153
thở và biết mình đang thở
lại có thể trở thành cửa bước vào một đời sống tỉnh thức hơn.
60. CÂU HỎI LIVESTREAM
Quý vị có thể dùng lần lượt những câu này để mở tương tác:
1. Quý vị thử nhớ xem: từ sáng đến giờ mình đã thật sự biết rõ được bao nhiêu hơi thở?
2. Khi giận, quý vị thường biết mình đang giận trước, hay nói xong rồi mới biết?
3. Có bao giờ thân quý vị đang ở nhà nhưng tâm lại sống trong một chuyện xảy ra nhiều năm trước không?
4. Khi lo lắng, tâm quý vị thường chạy về quá khứ hay chạy tới tương lai nhiều hơn?
5. Quý vị thấy điều nào khó hơn: nhận biết hơi thở hay nhận biết cơn sân ngay khi nó vừa sinh?
6. Có bao giờ chỉ vì trả lời quá nhanh một câu nói mà sau đó quý vị phải hối tiếc không?
7. Nếu trước mỗi lời nói lúc nóng giận chúng ta có được ba hơi thở tỉnh thức, quý vị nghĩ đời mình sẽ bớt được bao nhiêu cuộc tranh cãi?
8. Khi niệm Phật hoặc tụng kinh, quý vị có từng thấy miệng đang niệm nhưng tâm đã đi rất xa không?
9. Khi phát hiện tâm đi, quý vị thường nhẹ nhàng đưa về hay lại bực mình với chính mình?
10. Nếu hôm nay chỉ chọn một việc để thực hành, quý vị có đồng ý thử: “Thân ở đâu – tâm về đó” không?
61. CÂU KẾT ĐỂ ĐỌC TRÊN LIVESTREAM
Kính thưa quý vị,
đôi khi chúng ta đi tìm sự bình an rất xa.
Nhưng Đức Phật lại bắt đầu từ một điều rất gần:
hơi thở vào, biết hơi thở vào; hơi thở ra, biết hơi thở ra.
Một hơi thở không giải quyết thay mình mọi chuyện.
Nhưng một hơi thở có chánh niệm có thể giúp mình:
trở về.
Trở về rồi mới thấy tâm.
Thấy tâm rồi mới biết:
điều gì nên nuôi,
điều gì nên bỏ,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 154
lời nào nên nói,
việc nào không nên làm.
Cho nên hôm nay chúng ta chỉ cần nhớ một công thức:
THỞ – BIẾT – TRỞ VỀ.
Và khi bước ra đời sống:
DỪNG – BIẾT – CHỌN.
Nguồn kinh: Kinh Niệm Hơi Thở – Ānāpānasati Sutta – Trung Bộ Kinh, Majjhima Nikāya, kinh số 118, mã quốc tế MN 118; bản dịch tiếng Việt Hòa thượng Thích Minh Châu; nguyên bản thuộc Kinh tạng Pāli.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 155
MỤC 006 - Bài 006 — KHI HIỀM HẬN KHỞI LÊN – HÃY TU TÂM TỪ 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
“Trong người nào hiềm hận được sanh, trong người ấy, từ cần phải tu tập.”
2. NGUỒN KINH
Tên kinh: Kinh Trừ Khử Hiềm Hận thứ nhất Tên Pāli: Paṭhama Āghātapaṭivinaya Sutta Thuộc: Tăng Chi Bộ Kinh – Aṅguttara Nikāya Chương: Năm Pháp Phẩm: Phẩm Hiềm Hận Số kinh: 161 Mã tra cứu quốc tế: AN 5.161 Bản dịch tiếng Việt: Hòa thượng Thích Minh Châu Nguyên bản: Kinh tạng Pāli
Trong bài kinh này, Đức Phật nêu năm phương pháp trừ khử hiềm hận: tu tập tâm từ, tu tập tâm bi, tu tập tâm xả, không tác ý đến đối tượng gây hiềm hận, và quán người ấy là chủ nhân và thừa tự nghiệp của chính mình. Bản Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu trên SuttaCentral ghi bài này là “5.161. Trừ Khử Hiềm Hận (1)”. (SuttaCentral)
Bài 006 này chúng ta chỉ lấy phương pháp thứ nhất để học thật sâu:
HIỀM HẬN KHỞI → TU TÂM TỪ.
3. TỪ KHÓA VIỆT – PĀLI – NGHĨA
HIỀM HẬN – ĀGHĀTA – OÁN GIẬN, BỰC TỨC, ĐỂ BỤNG
Hiềm hận – āghāta là trạng thái tâm oán giận, bất mãn, còn giữ điều người khác đã làm khiến mình khó chịu hoặc tổn thương.
Nói thật dễ hiểu:
người kia đã làm mình đau, và tâm mình vẫn còn giữ người ấy trong sự bực tức.
Hiềm hận có thể rất thô:
la mắng,
muốn trả đũa,
muốn người kia gặp chuyện.
Nhưng cũng có thể rất kín:
không nói gì,
nhưng không muốn người kia được tốt.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 156
Không muốn ai khen họ.
Nghe tên là khó chịu.
Thấy họ vui thì tâm không vui.
Như vậy hiềm hận vẫn còn.
TÂM TỪ – METTĀ – MONG NGƯỜI KHÁC ĐƯỢC AN, KHÔNG MUỐN HẠI
Tâm từ – mettā là lòng mong muốn chúng sinh được an vui, không mang ác ý muốn làm tổn hại.
Tâm từ không đồng nghĩa:
thích tất cả mọi người.
Cũng không có nghĩa:
phải thân với tất cả mọi người.
Cũng không có nghĩa:
ai làm sai mình cũng nói họ đúng.
Tâm từ đơn giản có thể bắt đầu bằng:
“TÔI KHÔNG MUỐN LÀM NGƯỜI NÀY ĐAU THÊM.”
Đó đã là một bước rất lớn.
TU TẬP – BHĀVETABBA – LÀM CHO PHÁT TRIỂN, NUÔI LỚN
“Tu tập” không chỉ là:
nghĩ một lần.
Tu tập nghĩa là:
làm đi làm lại,
nuôi lớn,
làm cho một phẩm chất yếu dần trở nên mạnh.
Nếu tâm từ hiện tại rất ít,
không sao.
Mỗi ngày nuôi một chút.
Đó là tu.
TRỪ KHỬ – PAṬIVINAYA – LÀM LẮNG, LOẠI BỎ, CHẾ NGỰ
Hiềm hận không phải thứ mình nên nuôi rồi gọi đó là:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 157
“tính tôi.”
Lời kinh chỉ rõ:
hiềm hận cần được trừ khử.
Không phải:
che lại.
Không phải:
đè xuống.
Mà:
chuyển hóa.
4. GIẢI TỪNG CỤM
“TRONG NGƯỜI NÀO HIỀM HẬN ĐƯỢC SANH”
Đức Phật nói rất thực tế.
Ngài không bắt đầu bằng:
“Người tu thì không bao giờ được giận.”
Ngài nói:
hiềm hận được sinh.
Có nghĩa:
nó có thể xuất hiện.
Một người tu vẫn có lúc:
bực.
khó chịu.
bị tổn thương.
còn nhớ một chuyện.
Điều quan trọng không phải chỉ là:
“Nó có sinh hay không?”
Mà là:
“KHI NÓ SINH, MÌNH LÀM GÌ?”
Đây mới là chỗ tu.
“TRONG NGƯỜI ẤY”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 158
Cụm này rất quan trọng.
Khi mình hiềm hận một người,
Đức Phật không bảo:
trước tiên phải sửa người kia.
Ngài đưa phương pháp về:
ngay trong chính người đang có hiềm hận.
Người kia có thể không thay đổi.
Không xin lỗi.
Không nhận sai.
Không hiểu mình.
Nhưng tâm mình:
vẫn có đường tu.
Đây là điều rất tự do.
Nếu muốn hết sân mà phải chờ người khác thay đổi,
thì đời mình nằm trong tay họ.
Nếu biết:
“Tâm tôi là phần tôi có thể tu,”
mình bắt đầu lấy lại quyền chủ động.
“TỪ CẦN PHẢI TU TẬP”
Đây là phần thuốc.
Bệnh là:
hiềm hận.
Thuốc Đức Phật đưa ra đầu tiên là:
tâm từ.
Điều này rất sâu.
Thông thường mình nghĩ:
người kia ghét mình → mình phải ghét lại.
Người kia làm mình đau → mình phải làm họ đau.
Người kia không tốt → mình không cần tốt.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 159
Nhưng Đức Phật lại chỉ:
HIỀM HẬN → TU TỪ.
Đó là đi ngược dòng phản ứng thông thường.
5. GHÉP NGHĨA TOÀN CÂU
Ghép lại, câu kinh có thể hiểu:
Khi lòng oán giận đối với một người đã sinh khởi trong tâm mình, một phương pháp Đức Phật dạy là phải chủ động tu tập tâm từ đối với người ấy, tức là dần làm giảm ác ý và nuôi tâm không muốn làm hại.
Có thể nhớ thật ngắn:
HẬN KHỞI → ĐỪNG NUÔI HẬN.
HÃY NUÔI TỪ.
6. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ GÌ?
Kính thưa quý vị,
đây là chỗ rất đáng suy ngẫm.
Đức Phật không chỉ bảo:
“Đừng hận.”
Nếu chỉ nói:
“đừng hận,”
nhiều người sẽ hỏi:
“Nhưng làm sao?”
Bài kinh cho phương pháp cụ thể:
LẤY TÂM TỪ ĐỂ ĐỐI TRỊ HIỀM HẬN.
Đây là một nguyên tắc tu rất thực tế.
Không chỉ:
bỏ cái xấu.
Mà phải:
nuôi phẩm chất đối nghịch với cái xấu.
Giống như căn phòng tối.
Không cần đánh nhau với bóng tối.
Thắp đèn.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 160
Ánh sáng lên,
tối giảm.
Hiềm hận cũng vậy.
Nếu chỉ nói:
“Tôi không được ghét,”
có thể vẫn rất khó.
Nhưng bắt đầu nuôi:
“Tôi không muốn làm người ấy đau.”
Đó là ánh sáng đầu tiên.
7. TÂM TỪ KHÔNG BẮT ĐẦU BẰNG VIỆC PHẢI YÊU NGƯỜI MÌNH GHÉT
Đây là điểm rất quan trọng.
Có người nghe:
“Hãy tu tâm từ đối với người mình ghét.”
Rồi nghĩ:
“Làm sao tôi thương nổi?”
Không cần ép.
Tâm từ có thể bắt đầu ở mức thấp hơn:
Tôi không muốn trả thù.
Sau đó:
Tôi không muốn người ấy khổ.
Sau nữa:
Tôi mong người ấy bớt tham, bớt sân, bớt si để đừng làm khổ thêm người khác.
Đó đã là tâm từ.
Không cần giả vờ:
“Tôi rất yêu quý người ấy.”
Nếu chưa có,
đừng nói dối mình.
8. TÂM TỪ KHÔNG XÓA ĐÚNG SAI
Người kia làm sai:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 161
vẫn là sai.
Tâm từ không nói:
“Không sao đâu.”
Nếu thật sự có sao.
Tâm từ cũng không nói:
“Bạn cứ tiếp tục làm hại tôi.”
Không.
Mình vẫn có thể:
nói không.
đặt giới hạn.
rời đi.
tìm sự trợ giúp.
đính chính sự thật.
Tâm từ chỉ thêm một điều:
KHÔNG NUÔI Ý MUỐN LÀM HỌ ĐAU.
Đó là sự khác biệt.
9. TÂM TỪ KHÔNG PHẢI YẾU ĐUỐI
Có người nghĩ:
“Không trả lại thì họ tưởng mình yếu.”
Nhưng phải hỏi:
Ai mạnh hơn?
Người bị một câu chọc là mất kiểm soát?
Hay người rất giận nhưng vẫn giữ được hành động?
Người mạnh bên trong là người:
không để cơn sân điều khiển toàn bộ mình.
Từ không yếu.
Từ cần rất nhiều nội lực.
10. TẠI SAO TÂM TỪ LẠI CÓ THỂ HÓA GIẢI HIỀM HẬN?
Bởi hận nói:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 162
“Tôi muốn người ấy đau.”
Từ nói:
“Tôi không muốn họ đau.”
Hận nói:
“Tôi muốn trả.”
Từ nói:
“Tôi muốn dừng vòng này.”
Hận nói:
“Người ấy phải khổ thì tôi mới hả.”
Từ nói:
“Khổ thêm không làm chuyện cũ trở thành chưa từng xảy ra.”
Hai hướng hoàn toàn ngược nhau.
Nuôi hướng nào,
hướng đó mạnh.
11. HIỀM HẬN LÀ MỘT THÓI QUEN CÓ THỂ ĐƯỢC NUÔI
Một người làm mình đau.
Lần đầu:
giận.
Sau đó mình kể.
Giận lại.
Nghĩ.
Giận lại.
Tưởng tượng trả.
Giận lại.
Xem mạng của người ấy.
Giận lại.
Như vậy mình đang luyện:
hận.
Ngày nào luyện,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 163
nó ngày càng thành thạo.
Nếu muốn đổi,
phải tập một hướng khác.
Đó là lý do Đức Phật dùng chữ:
tu tập.
12. TÂM TỪ CŨNG PHẢI ĐƯỢC LUYỆN
Không ai mới tập mà từ bi hoàn hảo ngay.
Ban đầu có thể chỉ từ với:
người mình thương.
Sau đó:
người trung tính.
Sau nữa:
người mình khó chịu.
Đó là quá trình.
Nếu người mình hận quá sâu,
không nhất thiết bắt đầu bằng họ.
Tập tâm mềm trước.
Rồi mới dần mở rộng.
13. VÍ DỤ 1 – NGƯỜI NÓI XẤU MÌNH
Có người nói xấu mình.
Tâm mình nghĩ:
“Tôi sẽ nói cho mọi người biết con người thật của họ.”
Đó là hận đang muốn phát triển.
Tu tâm từ không có nghĩa:
không được đính chính.
Mình có thể nói:
“Thông tin đó không đúng. Sự việc là thế này.”
Rồi dừng.
Không cần:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 164
lôi hết lỗi người kia ra.
Không cần:
muốn cả thiên hạ ghét họ.
Đó là:
giữ sự thật nhưng không nuôi hận.
14. VÍ DỤ 2 – NGƯỜI TỪNG PHẢN BỘI
Một người mình rất tin phản bội mình.
Từ với họ rất khó.
Không cần nói:
“Tôi thương họ.”
Chỉ bắt đầu:
“Tôi không muốn vì chuyện này mà biến mình thành người đầy ác ý.”
Sau đó:
“Tôi mong họ một ngày hiểu hậu quả hành động của họ và biết sống tốt hơn.”
Đó đã là từ.
15. VÍ DỤ 3 – NGƯỜI KHÔNG XIN LỖI
Người kia làm sai nhưng không xin lỗi.
Mình nghĩ:
“Họ phải xin lỗi tôi mới bỏ qua.”
Nếu vậy,
bình an của mình bị khóa trong một hành động của họ.
Tâm từ giúp đổi:
“Họ có nhận lỗi hay không là nghiệp và trách nhiệm của họ. Tôi không muốn tâm mình tiếp tục bị đốt.”
Từ đó mình có thể bắt đầu buông.
16. VÍ DỤ 4 – NGƯỜI THÂN LÀM MÌNH ĐAU
Với người lạ,
có khi dễ buông hơn.
Người thân làm mình đau:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 165
khó hơn.
Vì mình nghĩ:
“Người này đáng lẽ phải hiểu tôi.”
Tâm từ lúc ấy có thể bắt đầu:
“Người này cũng là một con người có tham, sân, si như mình.”
Không phải bào chữa.
Chỉ là thấy:
họ không hoàn hảo.
Mình cũng không hoàn hảo.
Từ đó cái tâm cứng có thể mềm một chút.
17. VÍ DỤ 5 – BỊ BÌNH LUẬN KHÓ NGHE TRÊN LIVESTREAM
Một người vào bình luận:
“Sư cô giảng sai.”
Phản ứng đầu tiên có thể khó chịu.
Nhưng thay vì sân,
có thể hỏi:
“Bạn thấy chỗ nào chưa đúng? Xin chỉ nguồn để cùng kiểm.”
Nếu mình đúng:
đưa nguồn.
Nếu mình sai:
sửa.
Một câu bình luận có thể trở thành:
cuộc chiến.
Hoặc:
cơ hội học.
Tâm nào dẫn,
kết quả khác.
18. VÍ DỤ 6 – NGƯỜI CẠNH TRANH VỚI MÌNH
Thấy người khác làm cùng việc.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 166
Họ được nhiều người biết hơn.
Tâm khó chịu.
Đó chưa chắc là hận,
nhưng có thể đi về hận.
Tập từ:
“Mong điều tốt họ làm đem lợi ích cho người.”
Rồi quay lại:
“Phần mình, mình làm cho đúng.”
Tự nhiên tâm nhẹ.
19. VÍ DỤ 7 – NGƯỜI TỪNG LẤY LỢI CỦA MÌNH
Mình có thể:
đòi lại quyền lợi.
làm giấy tờ.
giữ bằng chứng.
xử lý đúng pháp luật.
Nhưng đồng thời:
không cần cầu:
“Cho họ gặp tai họa.”
Tâm từ không bỏ công lý.
Tâm từ bỏ:
ác ý.
20. VÍ DỤ 8 – TRONG GIA ĐÌNH
Hai vợ chồng cãi nhau.
Người kia nói:
“Anh lúc nào cũng như vậy.”
Người này trả:
“Cô mới là người…”
Thế là chuyện hôm nay kéo cả lịch sử.
Tâm từ có thể xuất hiện bằng một câu:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 167
“Bây giờ cả hai đang nóng. Mình dừng để khỏi nói thêm lời làm đau nhau.”
Đó là từ rất thực tế.
21. VÍ DỤ 9 – VỚI CHA MẸ
Có người còn giận cha mẹ vì chuyện thời nhỏ.
Nỗi đau có thể thật.
Không cần phủ nhận.
Tâm từ không nói:
“Cha mẹ làm gì cũng đúng.”
Nhưng có thể dần thấy:
cha mẹ cũng là con người,
cũng có giới hạn,
cũng có vô minh,
cũng từng đau.
Thấy như vậy,
tâm có thể mềm hơn.
Không nhất thiết xóa trách nhiệm.
Chỉ:
bớt độc.
22. VÍ DỤ 10 – VỚI CHÍNH MÌNH
Có người hiềm hận:
chính mình.
“Tôi ngu.”
“Tôi sai.”
“Tôi đáng ghét.”
Ngày nào cũng tự mắng.
Tâm từ cũng phải hướng về mình.
“Tôi đã sai. Tôi sửa. Nhưng tôi không cần tiếp tục hành hạ mình.”
Nếu không biết từ với mình,
rất khó từ thật với người.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 168
23. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ THÊM ĐIỀU GÌ?
Trong AN 5.161, tâm từ chỉ là một trong năm phương pháp. Đức Phật còn nêu tâm bi, tâm xả, không tác ý tới đối tượng hiềm hận, và quán mỗi người là chủ nhân, thừa tự nghiệp của chính mình. Điều này cho thấy không phải mọi trường hợp hiềm hận đều chỉ có một cách xử lý; kinh đưa nhiều cửa để người tu vận dụng. (SuttaCentral)
Đây là một điều rất hay.
Có người tu từ dễ.
Có người tu bi dễ.
Có người phải tập xả.
Có chuyện nên không nghĩ thêm.
Có chuyện chỉ cần nhớ:
“Ai làm nghiệp gì, người ấy chịu trách nhiệm với nghiệp ấy.”
Chánh pháp rất thực tế.
24. TÂM BI KHÁC TÂM TỪ THẾ NÀO?
Từ là:
mong người được an.
Bi là:
thấy người đang khổ và mong họ thoát khổ.
Có khi khó từ với người mình ghét.
Thử nhìn:
“Một người đầy sân như vậy chắc tâm họ cũng không an.”
Từ đó bi có thể sinh.
Không phải thương hại.
Mà:
thấy họ cũng đang bị phiền não hành hạ.
25. TÂM XẢ KHÔNG PHẢI LẠNH LÙNG
Xả không phải:
“Mặc kệ.”
Mà là:
không để tâm bị kéo nghiêng bởi thương ghét quá mức.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 169
Có người mình không thể thay đổi.
Nói rồi.
Giúp rồi.
Đặt ranh giới rồi.
Phần còn lại:
xả.
Không ôm người ấy cả ngày trong đầu.
26. KHÔNG TÁC Ý KHÔNG CÓ NGHĨA TRỐN TRÁNH MỌI VẤN ĐỀ
Có chuyện cần xử lý:
phải xử lý.
Nhưng có chuyện đã xong,
mình vẫn nghĩ thêm.
Lúc ấy:
đừng nghĩ thêm
có thể là thuốc.
Không xem trang họ.
Không hỏi chuyện họ.
Không đào chuyện cũ.
Không cho hận thêm thức ăn.
27. QUÁN NGHIỆP GIÚP MÌNH BỚT MUỐN TRẢ
Một người làm điều xấu.
Tâm muốn:
“Tôi phải làm họ trả.”
Nhưng quán nghiệp nhắc:
mỗi người là chủ nhân của hành động mình.
Mình không cần tạo thêm nghiệp xấu chỉ để:
tự tay làm người kia đau.
Họ có phần của họ.
Mình có phần của mình.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 170
Đây là một cách rất mạnh để dừng trả đũa.
28. ỨNG DỤNG 1 – KHI SÂN VỪA KHỞI
Không cố nói ngay:
“Tôi thương người ấy.”
Nếu chưa thật.
Chỉ nói:
“Tôi không làm gì trong lúc này để khiến chuyện tệ thêm.”
Đây là tâm từ ở bước đầu.
29. ỨNG DỤNG 2 – KHI MUỐN NÓI XẤU LẠI
Dừng.
Hỏi:
“Câu này nhằm bảo vệ sự thật hay làm người ấy đau?”
Nếu chỉ làm đau:
không nói.
Đây là từ đi vào miệng.
30. ỨNG DỤNG 3 – KHI MUỐN TRẢ ĐŨA
Đừng quyết khi sân cao.
Tự nói:
“Việc này để ngày mai.”
Một đêm có thể cứu mình khỏi một nghiệp lớn.
Đây là từ đi vào hành động.
31. ỨNG DỤNG 4 – KHI PHẢI GẶP NGƯỜI MÌNH KHÔNG ƯA
Không cần giả thân.
Chỉ giữ:
lịch sự,
rõ ràng,
không ác khẩu,
không cố làm họ khó chịu.
Đó cũng là tâm từ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 171
32. ỨNG DỤNG 5 – KHI KHÔNG MUỐN CẦU CHÚC CHO HỌ
Nếu câu:
“Mong họ được an vui”
quá khó,
thử:
“Mong họ bớt tham, sân, si để họ đừng làm khổ mình và người khác.”
Câu này dễ thật hơn.
33. ỨNG DỤNG 6 – KHI NGƯỜI ẤY VẪN TIẾP TỤC LÀM SAI
Từ không đồng nghĩa:
đứng yên cho họ làm.
Đặt ranh giới.
Không giao thêm cơ hội gây hại.
Nhưng trong tâm:
không cầu họ gặp nạn.
Đây là:
TỪ + TRÍ.
34. ỨNG DỤNG 7 – KHI MÌNH ĐÃ BUÔNG NHƯNG NGƯỜI KHÁC CỨ NHẮC
Có thể nói:
“Chuyện ấy tôi đã xử lý rồi, tôi không muốn nuôi thêm.”
Không cần nghe người khác đổ dầu vào lửa.
Bảo vệ tâm cũng là tu.
35. ỨNG DỤNG 8 – KHI MÌNH LÀ NGƯỜI CÓ LỖI
Đừng chỉ cầu người kia từ với mình.
Mình phải:
nhận lỗi,
xin lỗi,
sửa.
Tâm từ không được dùng để đòi:
“Bạn phải tha cho tôi.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 172
Người gây lỗi có trách nhiệm của người gây lỗi.
36. ỨNG DỤNG 9 – KHI NGƯỜI KHÁC CHƯA THA CHO MÌNH
Nếu đã xin lỗi thật,
sửa thật,
nhưng họ chưa tha:
đừng ép.
Họ cũng cần thời gian.
Từ với họ là:
tôn trọng tiến trình chữa lành của họ.
37. ỨNG DỤNG 10 – TRONG VIỆC GIẢNG PHÁP
Khi người nghe phản biện,
đừng mặc định:
“Họ chống mình.”
Có thể họ chỉ muốn biết nguồn.
Có thể họ hiểu khác.
Có thể họ đúng.
Tâm từ với người hỏi là:
lắng nghe,
kiểm nguồn,
trả lời rõ,
không lấy vị trí người giảng để đè người hỏi.
38. CÔNG THỨC THỨ NHẤT: HẬN – BIẾT – TỪ – BUÔNG
HẬN
Hiềm hận đã sinh.
BIẾT
Biết nó đang có.
TỪ
Nuôi tâm không muốn làm hại.
BUÔNG
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 173
Không cho nó thêm thức ăn.
Công thức:
HẬN → BIẾT → TỪ → BUÔNG.
39. CÔNG THỨC THỨ HAI: KHÔNG HẠI – KHÔNG TRẢ – KHÔNG NUÔI
Nếu chưa từ được nhiều,
chỉ nhớ ba việc:
KHÔNG HẠI.
KHÔNG TRẢ.
KHÔNG NUÔI.
Không hại người.
Không trả đũa trong sân.
Không nuôi câu chuyện hận mãi.
Đây là nền rất thực tế.
40. CÔNG THỨC THỨ BA: TỪ – BI – XẢ – KHÔNG NGHĨ THÊM – NHỚ NGHIỆP
Đây chính là cách dễ nhớ toàn bộ AN 5.161:
TỪ.
BI.
XẢ.
KHÔNG NGHĨ THÊM.
AI LÀM NGHIỆP NẤY, NGƯỜI ẤY THỪA TỰ NGHIỆP ẤY.
Năm cửa để xử lý một lòng hiềm hận.
41. BÀI THỰC HÀNH MỘT PHÚT KHI SÂN
Dừng lại.
Không nhắn.
Không nói.
Thở vài hơi.
Sau đó nói trong tâm:
“Tôi đang sân.”
“Tôi không muốn làm người này đau thêm.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 174
“Tôi sẽ xử lý việc khi tâm sáng hơn.”
Chỉ vậy.
Một phút.
42. BÀI THỰC HÀNH VỚI NGƯỜI MÌNH KHÓ CHỊU
Không chọn người mình hận nhất.
Chọn một người khó chịu nhẹ.
Mỗi ngày một lần nói trong tâm:
“Mong người này bớt khổ.”
“Mong người này bớt tham sân si.”
“Mong tôi không nuôi ác ý với người này.”
Tập nhỏ trước.
43. BÀI THỰC HÀNH BẢY NGÀY
NGÀY 1
Nhận diện hiềm hận.
NGÀY 2
Một ngày không nói xấu người ấy.
NGÀY 3
Không tìm thông tin về họ.
NGÀY 4
Tập câu:
“Tôi không muốn làm họ đau.”
NGÀY 5
Thử nhìn một nỗi khổ hay giới hạn nơi họ.
NGÀY 6
Quán:
“Họ là chủ nhân nghiệp của họ; tôi là chủ nhân nghiệp của tôi.”
NGÀY 7
Hỏi:
“Hận tuần này giảm được bao nhiêu?”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 175
Không cần về 0.
Chỉ cần giảm.
44. THỰC HÀNH BUỔI SÁNG
Mỗi sáng có thể đọc:
Hôm nay nếu hiềm hận sinh, tôi sẽ nhận biết nó.
Tôi không lấy ác ý làm thức ăn cho tâm.
Tôi tập không muốn làm hại người, kể cả người tôi không ưa.
Tôi giữ ranh giới cần thiết nhưng không nuôi trả thù.
Tôi nhớ mỗi người là chủ nhân và thừa tự hành động của chính mình.
45. THỰC HÀNH BUỔI TỐI
Trước khi ngủ hỏi:
Hôm nay tôi đã hiềm hận ai?
Tôi đã nuôi hận bằng cách nào?
Tôi có nói xấu không?
Tôi có mong người ấy gặp chuyện không?
Tôi có dừng được một phản ứng ác ý nào không?
Tôi có thể khởi được một chút tâm từ không?
Nếu chỉ được:
“Tôi không muốn hại họ,”
đã là một bước.
46. CÂU GHI NHỚ THỨ NHẤT
Hiềm hận sinh trong tâm mình; vì vậy con đường trừ hiềm hận cũng phải bắt đầu từ tâm mình.
47. CÂU GHI NHỚ THỨ HAI
Tâm từ không bắt buộc mình thích người đã làm mình đau; tâm từ bắt đầu bằng việc không muốn tiếp tục làm đau nhau.
48. CÂU GHI NHỚ THỨ BA
Không trả thù không có nghĩa cái sai trở thành đúng.
49. CÂU GHI NHỚ THỨ TƯ
Đặt ranh giới là trí; mong người kia khổ là hận.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 176
50. CÂU GHI NHỚ THỨ NĂM
Nếu chưa thể cầu người ấy hạnh phúc, hãy bắt đầu bằng cầu cho họ bớt tham, sân, si để đừng tiếp tục làm khổ người.
51. CÂU GHI NHỚ THỨ SÁU
Muốn hận yếu đi, phải tập một tâm ngược với hận.
52. CÂU GHI NHỚ THỨ BẢY
Không phải ai làm mình đau cũng cần trở lại làm người thân; nhưng không ai đáng để mình mang độc vì họ suốt đời.
53. CÂU GHI NHỚ THỨ TÁM
Từ không phải yếu; từ là không để hành vi xấu của người khác quyết định phẩm chất tâm mình.
54. CÂU GHI NHỚ THỨ CHÍN
Người kia có nghiệp của người kia; đừng vì nghiệp của họ mà tạo thêm nghiệp bất thiện cho mình.
55. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
HIỀM HẬN SINH – BIẾT HIỀM HẬN.
ĐỪNG NUÔI THÊM.
KHÔNG HẠI.
KHÔNG TRẢ ĐŨA.
TU TÂM TỪ.
Và nhớ lời Phật:
“Trong người nào hiềm hận được sanh, trong người ấy, từ cần phải tu tập.”
Nguồn: Kinh Trừ Khử Hiềm Hận thứ nhất – Tăng Chi Bộ Kinh, chương Năm Pháp, Phẩm Hiềm Hận, kinh số 161; mã quốc tế AN 5.161; bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu; nguyên bản Kinh tạng Pāli. (SuttaCentral)
56. CÂU HỎI LIVESTREAM
1. Quý vị thấy điều nào khó hơn: không trả đũa, hay thật sự không còn muốn người kia khổ?
2. Có người nào quý vị đã không gặp nhiều năm nhưng mỗi lần nghe tên vẫn thấy tâm khó chịu không?
3. Theo quý vị, mình có thể không thân với một người mà vẫn không hận họ được không?
4. Có khi nào quý vị nói “tôi tha rồi” nhưng trong lòng vẫn muốn người kia phải trả giá không?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 177
5. Khi bị nói xấu, quý vị thường muốn đính chính sự thật hay muốn nói xấu lại?
6. Quý vị thấy câu nào dễ thực hành hơn: “Mong người ấy hạnh phúc” hay “Mong người ấy bớt tham sân si để không làm khổ người khác”?
7. Có phải nhiều lần mình giữ hận vì nghĩ rằng buông hận là cho rằng người kia đúng không?
8. Theo quý vị, ranh giới và hận thù khác nhau ở điểm nào?
9. Nếu người kia không bao giờ xin lỗi, quý vị có muốn giao cả phần đời còn lại của mình cho một lời xin lỗi không đến hay không?
10. Hôm nay quý vị có thể chọn một người mình đang khó chịu và thực tập chỉ một câu: “Tôi không muốn làm người này đau thêm” được không?
57. CÂU KẾT ĐỂ ĐỌC TRÊN LIVESTREAM
Kính thưa quý vị,
hiềm hận không phải chuyện hiếm.
Ai sống giữa cuộc đời cũng có lúc:
bị hiểu lầm,
bị xúc phạm,
bị phản bội,
bị mất quyền lợi,
hoặc gặp một người thật sự khó thương.
Đức Phật không bảo mình giả vờ rằng:
không có chuyện gì.
Ngài cũng không nói:
người kia làm gì cũng đúng.
Ngài chỉ cho mình một con đường để:
đừng để cái sai của người khác sinh thêm cái độc trong tâm mình.
Và một trong những phương pháp Ngài dạy là:
TU TÂM TỪ.
Tâm từ có thể bắt đầu rất nhỏ.
Chưa cần:
“Tôi yêu thương người ấy.”
Chỉ cần:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 178
“Tôi không muốn trả thù.”
Rồi:
“Tôi không muốn làm họ đau.”
Rồi:
“Mong họ bớt tham sân si để họ không làm khổ thêm người khác.”
Từng chút như vậy,
tâm cứng bắt đầu mềm.
Hận mất dần thức ăn.
Và mình bắt đầu được tự do khỏi chính điều mình đã mang quá lâu.
Vì vậy công thức của bài hôm nay chỉ cần nhớ:
HẬN → BIẾT → TỪ → BUÔNG.
Và nếu chưa làm được nhiều,
hãy giữ ba điều:
KHÔNG HẠI – KHÔNG TRẢ – KHÔNG NUÔI.
Đó đã là một bước rất đẹp trên con đường Đức Phật chỉ dạy.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 179
MỤC 007 - Bài 007 — BỊ XÚC PHẠM MÀ VẪN GIỮ ĐƯỢC TÂM – ĐÓ MỚI LÀ CHỖ THỬ CỦA SỰ TU 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
Đức Phật dạy:
“Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm; chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ.”
Và Ngài dạy người tu phải sống với:
lòng lân mẫn, tâm từ bi, nội tâm không sân hận. (Phật Pháp Ứng Dụng)
2. NGUỒN KINH
Tên kinh: Kinh Ví Dụ Cái Cưa Tên Pāli: Kakacūpama Sutta Thuộc: Trung Bộ Kinh – Majjhima Nikāya Số kinh: Kinh số 21 Mã tra cứu quốc tế: MN 21 Bản dịch tiếng Việt: Hòa thượng Thích Minh Châu Nguyên bản: Kinh tạng Pāli Bối cảnh: Đức Phật dạy về cách giữ tâm trước những lời nói khó chịu, xúc phạm; phần cuối kinh đưa ra ví dụ cực mạnh về cái cưa để nhấn mạnh mức độ tu tập không sân. (Phật Pháp Ứng Dụng)
Người nghe hỏi:
“Câu này ở đâu?”
Có thể trả lời:
“Kinh Ví Dụ Cái Cưa, Trung Bộ Kinh, kinh số 21, mã quốc tế MN 21, Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ Kinh tạng Pāli.” (Phật Pháp Ứng Dụng)
3. TỪ KHÓA VIỆT – PĀLI – NGHĨA
TÂM – CITTA – ĐỜI SỐNG TÂM Ý
Tâm – citta là phần rất quan trọng trong câu kinh.
Đức Phật không chỉ dạy:
“Đừng nói lời xấu.”
Ngài đi vào trước lời nói:
GIỮ TÂM.
Bởi nếu bên ngoài mình im,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 180
nhưng bên trong đang:
nguyền,
hận,
muốn trả,
muốn người kia đau,
thì cơn sân vẫn còn nguyên.
Vì vậy sự tu không dừng ở:
không làm ra ngoài.
Còn phải đi vào:
chuyển hóa bên trong.
BIẾN NHIỄM – SAṄKILIṬṬHA – BỊ PHIỀN NÃO LÀM Ô NHIỄM
“Biến nhiễm” có thể hiểu dễ:
tâm đang trong một trạng thái tương đối sáng nhưng bị sân, ác ý hay những tâm bất thiện làm nhiễm bẩn.
Ví dụ:
trước khi nghe câu xúc phạm,
mình bình thường.
Nghe xong:
tâm nóng.
Rồi bắt đầu:
nghĩ xấu,
muốn trả,
nói nặng.
Đó là lúc tâm đang bị nhiễm.
ÁC NGỮ – PHARUSA VĀCĀ – LỜI NÓI THÔ BẠO, LÀM TỔN THƯƠNG
Ác ngữ là lời nói thô bạo, cay độc, có khả năng gây tổn thương.
Ác ngữ không nhất thiết phải là:
chửi tục.
Có những câu rất lịch sự,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 181
nhưng được nói với mục đích:
đâm đúng vào chỗ đau nhất của người khác.
Bên ngoài chữ đẹp.
Bên trong tâm ác.
Người học Phật phải nhìn cả hai.
LÂN MẪN – ANUKAMPĀ – LÒNG THƯƠNG, MUỐN NGƯỜI KHÁC BỚT KHỔ
Lân mẫn là:
thấy người khác cũng đang ở trong khổ và không muốn làm khổ ấy tăng thêm.
Có khi người đang mắng mình cũng đang khổ.
Người đang sân thường không phải một người đang an.
Thấy như vậy không có nghĩa:
họ đúng.
Mà giúp mình bớt một phần:
muốn trả.
TÂM TỪ – METTĀ – MONG NGƯỜI ĐƯỢC AN
Tâm từ – mettā không nhất thiết là phải thích người kia.
Từ có thể bắt đầu rất nhỏ:
“Tôi không muốn làm người này đau thêm.”
Đó đã là một bước.
KHÔNG SÂN – ADOSA – KHÔNG ĐỂ ÁC Ý LÀM CHỦ
Không sân không phải là:
không biết đúng sai.
Không sân nghĩa là:
thấy cái sai nhưng không để lòng muốn hại điều khiển mình.
Mình vẫn có thể:
nói rõ,
từ chối,
đặt ranh giới,
rời đi,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 182
xử lý đúng pháp luật,
nhưng không cần nuôi:
“Tôi phải làm người này đau.”
4. GIẢI TỪNG CỤM
“CHÚNG TA SẼ GIỮ TÂM CỦA CHÚNG TA”
Câu này đặt trách nhiệm rất rõ.
Không phải:
“Tôi sẽ bắt người kia thay đổi.”
Mà:
“Tôi sẽ giữ tâm tôi.”
Đây là một sự chuyển hướng rất lớn.
Khi bị xúc phạm,
tâm thường lập tức chạy ra ngoài:
“Người kia sai.”
Có thể đúng.
Nhưng câu hỏi của người tu là thêm một bước:
“Tâm tôi bây giờ đang thế nào?”
Người kia chịu trách nhiệm:
hành vi của họ.
Mình chịu trách nhiệm:
tâm và hành động của mình.
“KHÔNG BIẾN NHIỄM”
Không biến nhiễm nghĩa là:
không để lời người kia biến tâm mình từ bình thường thành một nơi đầy ác ý.
Đây không phải việc dễ.
Nếu dễ,
không cần tu.
Một người khen mình:
mình hiền.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 183
Chưa chắc biết mình hiền tới đâu.
Một người làm đúng ý:
mình nhẹ nhàng.
Chưa chắc biết khả năng nhẫn của mình.
Nhưng khi:
bị xúc phạm,
bị chê,
bị nói sai,
bị làm mất mặt,
lúc ấy tâm thật bắt đầu lộ.
Chính trong kinh, Đức Phật kể câu chuyện về nữ chủ Vedehikā: bà nổi tiếng hiền hòa khi mọi việc thuận, nhưng khi bị người nữ tỳ thử thách thì sân hận bộc lộ. Đức Phật dùng câu chuyện để chỉ rằng sự nhu thuận thật sự được thấy khi gặp lời bất khả ý và xúc phạm. (Phật Pháp Ứng Dụng)
“KHÔNG THỐT RA NHỮNG LỜI ÁC NGỮ”
Đây là cửa thứ hai.
Tâm đã nóng.
Nhưng chưa để nó đi ra miệng.
Chỉ riêng việc này đã cứu rất nhiều hậu quả.
Một câu ác:
nói năm giây.
Nhưng người nghe có thể nhớ:
năm năm.
Có những cuộc chia ly bắt đầu từ:
một câu trong lúc sân.
Có những cha mẹ sau này hối tiếc vì:
một câu nói với con lúc nóng.
Có những người thân cả đời không nói chuyện vì:
hai bên đều muốn có câu cuối cùng.
Vì vậy khi sân mạnh:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 184
ĐỪNG CỐ CÓ CÂU CUỐI.
Có khi im lúc ấy chính là:
đang bảo vệ tương lai.
“SỐNG VỚI LÒNG LÂN MẪN”
Không chỉ:
không nói ác.
Còn phải dần thay cái tâm bên trong.
Đây mới là phần khó.
Mình có thể im vì:
sợ,
không muốn mất mặt,
không muốn gây chuyện.
Nhưng Đức Phật hướng xa hơn:
lòng lân mẫn.
Tức là tâm dần không muốn thêm khổ.
Người kia đang nóng.
Nếu mình nóng theo:
khổ thành hai.
Nếu mình có thể dừng:
vòng sân bị chặn ở một người.
“VỚI TÂM TỪ BI”
Đây là điểm chuyển hóa.
Không phải:
“Tôi cố nín.”
Mà dần thành:
“Tôi hiểu rằng nếu cả hai cùng sân thì cả hai cùng khổ.”
Đó là trí.
Rồi từ trí sinh:
một chút thương.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 185
Không cần thương theo kiểu thân thiết.
Chỉ cần:
không muốn đẩy người kia sâu thêm vào sân.
“VỚI NỘI TÂM KHÔNG SÂN HẬN”
“Nội tâm” rất quan trọng.
Vì nhiều người bên ngoài:
rất im.
Nhưng trong đầu:
đã mắng xong mười lần.
Người kia đi rồi,
mình tiếp tục cãi với họ:
trong đầu.
Mười phút sau vẫn cãi.
Một giờ sau vẫn cãi.
Tối nằm xuống vẫn viết kịch bản:
“Lúc đó đáng lẽ mình phải nói câu này.”
Như vậy cuộc cãi ngoài đời đã dừng,
nhưng cuộc cãi trong tâm:
vẫn tiếp tục.
Không sân thật sự phải đi tới:
cả bên trong.
5. GHÉP NGHĨA TOÀN CÂU
Toàn ý có thể ghép lại như sau:
Khi gặp những lời nói khó chịu hay xúc phạm, người tu phải học giữ tâm không bị sân làm ô nhiễm, không nói lời ác, nuôi lòng thương và tâm từ, không để ác ý trở thành phản ứng của mình.
Nói thật gọn:
BỊ XÚC PHẠM → GIỮ TÂM.
TÂM NÓNG → GIỮ MIỆNG.
MUỐN TRẢ → KHỞI TỪ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 186
XỬ LÝ VIỆC → NHƯNG KHÔNG NUÔI HẬN.
6. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ GÌ?
Kính thưa quý vị,
lời kinh này muốn chỉ một điều rất sâu:
TÁNH TU CỦA MÌNH KHÔNG ĐƯỢC ĐO LÚC MỌI NGƯỜI ĐỐI XỬ TỐT VỚI MÌNH.
Khi ai cũng khen:
rất dễ hiền.
Khi mọi việc theo ý:
rất dễ nói nhẹ.
Khi được kính:
rất dễ khiêm.
Nhưng khi bị:
chê,
xúc phạm,
hiểu sai,
nói nặng,
lúc ấy mới thấy:
tâm mình đã được huấn luyện tới đâu.
Trong MN 21, Đức Phật nói rất rõ rằng chỉ khi một vị gặp những lời bất khả ý, xúc phạm mà vẫn hiền lành, nhu thuận, ôn hòa thì mới thực sự được xem là như vậy. (Phật Pháp Ứng Dụng)
Đây là thước đo rất thật.
7. VÍ DỤ
VÍ DỤ 1 – NGƯỜI TA NÓI SAI VỀ MÌNH
Một người nói:
“Sư cô nói câu đó không có trong kinh.”
Nếu mình chắc nguồn,
có thể đưa:
kinh,
bộ,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 187
số kinh,
đoạn.
Không cần nói:
“Bạn biết gì mà nói?”
Bởi một bên là:
đưa sự thật.
Một bên là:
bảo vệ cái tôi.
Khác nhau rất nhiều.
VÍ DỤ 2 – BỊ CHÊ TRƯỚC NHIỀU NGƯỜI
Người kia nói:
“Bạn giảng không đúng.”
Cái đau đầu tiên có khi không phải:
đúng hay sai.
Mà là:
“Họ làm tôi mất mặt.”
Ngay lúc ấy cần biết:
cái tôi đang đau.
Nếu trả ngay,
mình có thể đang bảo vệ mặt,
không phải bảo vệ Pháp.
VÍ DỤ 3 – NGƯỜI THÂN NÓI MỘT CÂU RẤT NẶNG
Mình biết rõ chỗ yếu của họ.
Chỉ cần một câu:
có thể làm họ đau gấp mười.
Tâm sân nói:
“Nói đi.”
Chánh niệm nói:
“Dừng.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 188
Một lần không nói được câu ấy:
có thể là một lần tu rất lớn.
Không ai vỗ tay.
Nhưng mình biết.
VÍ DỤ 4 – BÌNH LUẬN TRÊN MẠNG
Một người viết:
“Bà này chẳng hiểu gì.”
Mình có thể:
xóa nếu vi phạm quy định,
bỏ qua,
hoặc trả lời phần nội dung cần thiết.
Nhưng nếu dành hai giờ để:
tìm trang của họ,
đọc chuyện của họ,
tìm điểm xấu để trả,
thì một bình luận mười chữ đã lấy:
hai giờ tâm mình.
Có đáng không?
VÍ DỤ 5 – NGƯỜI NHỎ TUỔI GÓP Ý
Tâm nói:
“Nó nhỏ tuổi hơn mình.”
Nhưng sự thật không có tuổi.
Nếu đúng:
nhận.
Nếu sai:
giải thích.
Giữ tâm không nhiễm đôi khi đơn giản là:
đừng để mạn bước vào trước trí.
VÍ DỤ 6 – BỊ NGƯỜI MÌNH TỪNG GIÚP NÓI XẤU
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 189
Đây là chỗ rất đau.
Tâm nói:
“Tôi đã giúp họ như vậy mà họ đối với tôi như thế.”
Đau không chỉ vì lời.
Còn vì:
cảm giác bị phụ.
Nhưng nếu mình bắt đầu kể:
“Ngày xưa tôi cho họ cái này, làm cho họ cái kia…”
việc thiện cũ có thể trở thành:
vũ khí của sân.
Cho xong rồi,
đừng dùng công đức cũ để:
đòi quyền làm tổn thương người.
VÍ DỤ 7 – TRONG GIA ĐÌNH
Chồng nói một câu.
Vợ nói lại.
Chồng kéo chuyện năm trước.
Vợ kéo chuyện mười năm trước.
Cuối cùng không ai còn giải quyết:
chuyện hôm nay.
Hai người đang bắn:
kho quá khứ
vào nhau.
Nếu một người biết dừng:
“Mình chỉ nói việc hôm nay.”
tâm đã bớt nhiễm rất nhiều.
VÍ DỤ 8 – BỊ HIỂU LẦM
Mình giải thích một lần.
Người kia vẫn không tin.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 190
Mình giải thích lần hai.
Họ vẫn không tin.
Đến một lúc phải hỏi:
“Tôi đang làm rõ sự thật hay đang cố bắt người này phải nhìn tôi theo ý tôi?”
Không ai có quyền điều khiển hoàn toàn suy nghĩ của người khác.
Có những phần phải:
xả.
8. ỨNG DỤNG
ỨNG DỤNG 1 – TRƯỚC KHI TRẢ LỜI
Khi nghe câu rất khó chịu,
đừng trả ngay.
Một hơi.
Hai hơi.
Ba hơi.
Sau đó hỏi:
“Tôi sắp nói bằng tâm gì?”
Nếu đang muốn:
hạ,
đâm,
trả,
thì chưa nên nói.
ỨNG DỤNG 2 – CHỈ NÓI ĐÚNG VIỆC
Người kia làm sai một việc.
Nói:
việc ấy.
Đừng chuyển sang:
“Anh là loại người…”
Từ việc:
đánh giá hành vi
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 191
sang:
kết án toàn bộ con người
chỉ cách nhau vài chữ.
Nhưng hậu quả khác rất nhiều.
ỨNG DỤNG 3 – KHÔNG NHẮN TIN KHI ĐANG SÂN CAO
Tin nhắn nguy hiểm ở chỗ:
gửi rất nhanh.
Hối tiếc rất chậm.
Nếu sân cao:
viết nếu cần.
Nhưng:
chưa gửi.
Đọc lại khi tâm lắng.
Có khi mình sẽ xóa hơn nửa.
ỨNG DỤNG 4 – PHÂN BIỆT SỰ THẬT VÀ ÁC Ý
Trước một lời nói thật,
hỏi:
“Nếu tôi không ghét người này, tôi có nói câu này theo cách này không?”
Nếu câu trả lời là:
không,
thì có thể sân đang dùng:
sự thật làm dao.
ỨNG DỤNG 5 – KHI PHẢI ĐẶT RANH GIỚI
Có thể nói:
“Tôi không chấp nhận cách nói này. Chúng ta sẽ nói chuyện lại khi bình tĩnh.”
Rõ.
Không mắng.
Đây là một ví dụ rất thực tế của:
không sân nhưng không yếu.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 192
ỨNG DỤNG 6 – KHI NGƯỜI KIA KHÔNG DỪNG
Nếu họ tiếp tục xúc phạm,
mình có thể rời đi.
Tâm từ không bắt mình:
đứng đó cho người ta trút sân.
Từ với mình cũng cần:
bảo vệ thân tâm khỏi tình huống không cần thiết.
ỨNG DỤNG 7 – KHI ĐÃ LỠ NÓI ÁC
Đừng vì đã lỡ rồi mà nói tiếp.
Dừng giữa chừng vẫn tốt.
Nói:
“Tôi đang nóng. Câu vừa rồi tôi nói không đúng cách.”
Xin lỗi nếu cần.
Một người biết dừng sau câu thứ hai vẫn tốt hơn:
đi tới câu thứ hai mươi.
ỨNG DỤNG 8 – KHI ĐÃ XỬ LÝ XONG
Đừng đem câu chuyện về nhà,
lên giường,
vào bữa ăn,
vào ngày mai,
nếu không cần.
Một cuộc cãi đã hết ngoài đời:
đừng tổ chức:
phiên bản thứ hai trong đầu.
9. CÔNG THỨC
CÔNG THỨC THỨ NHẤT: TÂM – MIỆNG – TỪ – XẢ
TÂM
Giữ tâm không nhiễm thêm.
MIỆNG
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 193
Không nói lời ác.
TỪ
Không muốn làm người kia đau.
XẢ
Việc xử lý xong thì không ôm tiếp.
Công thức:
GIỮ TÂM → GIỮ MIỆNG → KHỞI TỪ → BIẾT XẢ.
CÔNG THỨC THỨ HAI: DỪNG – SOI – NÓI
DỪNG
Không phản ứng ngay.
SOI
Tâm gì đang có?
Sân?
Mạn?
Sợ mất mặt?
NÓI
Nếu cần nói,
nói đúng việc,
đúng sự thật,
không thêm độc.
CÔNG THỨC THỨ BA: KHÔNG BIẾN NHIỄM – KHÔNG ÁC NGỮ – KHÔNG SÂN
Chỉ cần nhớ ba điều từ chính lời kinh:
TÂM KHÔNG BIẾN NHIỄM.
MIỆNG KHÔNG ÁC NGỮ.
NỘI TÂM KHÔNG SÂN.
CÔNG THỨC THỨ TƯ: BA HƠI TRƯỚC MỘT CÂU
Khi nóng:
Hơi một: Biết mình đang sân.
Hơi hai: Biết mình đang muốn trả.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 194
Hơi ba: Hỏi câu nào nên nói.
Sau ba hơi,
nếu vẫn quá nóng:
chưa nói.
10. CÂU HỎI LIVESTREAM
1. Quý vị thấy mình hiền nhất lúc mọi việc thuận, hay vẫn giữ được sự hiền khi người khác xúc phạm?
2. Có bao giờ quý vị nghĩ mình rất nhẫn cho đến khi gặp đúng một người chạm vào điểm yếu nhất của mình không?
3. Khi bị chê trước đám đông, điều làm quý vị đau hơn là lời chê hay cảm giác mất mặt?
4. Quý vị có từng gửi một tin nhắn lúc giận rồi sau đó muốn lấy lại không?
5. Có câu nào quý vị từng nói trong năm giây nhưng phải mất nhiều tháng để sửa không?
6. Theo quý vị, im lặng vì nhẫn và im lặng để trừng phạt khác nhau thế nào?
7. Có thể nói một sự thật bằng sân hay không? Và nếu sự thật được nói bằng sân thì người nghe cảm nhận thế nào?
8. Khi người khác nói sai về mình, quý vị muốn làm rõ sự thật hay muốn làm họ mất mặt lại?
9. Quý vị có đồng ý rằng người tu thật sự không chỉ được thử trong lúc tụng kinh, mà còn được thử khi bị xúc phạm không?
10. Nếu tối nay chỉ nhớ một câu, quý vị có thể nhớ: “Giữ tâm trước, rồi mới giữ lời” không?
CÂU GHI NHỚ
Người khác nói lời không đẹp là nghiệp của lời họ; mình nói lại thế nào là phần tu của mình.
Hiền khi được khen chưa khó; hiền khi bị xúc phạm mới thấy công phu.
Không sân không phải không biết sai; không sân là không để cái sai của người khác tạo thêm một cái sai từ mình.
Một câu không nói trong lúc sân có thể là một thiện nghiệp rất lớn.
Người có thể làm mình đau bằng lời một lần; đừng để tâm mình tiếp tục nói lại lời ấy một trăm lần.
Sự thật cần trí tuệ bảo vệ, không cần sân hận bảo vệ.
Giữ tâm không phải để người khác thắng; giữ tâm là không để phiền não thắng mình.
CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
BỊ XÚC PHẠM – ĐỪNG VỘI NHÌN NGƯỜI.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 195
HÃY NHÌN TÂM MÌNH TRƯỚC.
TÂM ĐANG NHIỄM – ĐỪNG NÓI.
TÂM ĐÃ SÁNG – HÃY XỬ LÝ VIỆC.
Và nhớ lời Phật:
“Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm; chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ.” (Phật Pháp Ứng Dụng)
Nguồn: Kinh Ví Dụ Cái Cưa – Kakacūpama Sutta, Trung Bộ Kinh, kinh số 21, mã quốc tế MN 21; bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu; nguyên bản Kinh tạng Pāli. (Phật Pháp Ứng Dụng)
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 196
MỤC 008 - Bài 008 — AI CŨNG THƯƠNG CHÍNH MÌNH – VÌ VẬY ĐỪNG LÀM HẠI NGƯỜI 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
“Tâm ta đi cùng khắp, Tất cả mọi phương trời, Cũng không tìm thấy được, Ai thân hơn tự ngã. Tự ngã đối mọi người, Quá thân ái như vậy. Vậy ai yêu tự ngã, Chớ hại tự ngã người.”
2. NGUỒN KINH
Tên kinh: Kinh Mallikā Tên Pāli: Mallikā Sutta Thuộc: Tương Ưng Bộ Kinh – Saṃyutta Nikāya Tương Ưng: Tương Ưng Kosala Số kinh: Kinh số 8 trong nhóm này Mã tra cứu quốc tế: SN 3.8 Bản dịch tiếng Việt: Hòa thượng Thích Minh Châu Nguyên bản: Kinh tạng Pāli
Bối cảnh bài kinh rất gần gũi: vua Pasenadi hỏi hoàng hậu Mallikā có ai thân ái với bà hơn chính bản thân bà không. Hoàng hậu trả lời rằng không có ai thân ái với bà hơn chính mình; nhà vua cũng nhận thấy điều tương tự nơi mình. Khi nhà vua trình chuyện ấy với Đức Phật, Ngài xác nhận ý nghĩa này bằng bài kệ trên. (SuttaCentral)
3. TỪ KHÓA VIỆT – PĀLI – NGHĨA
TỰ NGÃ – ATTĀ – CHÍNH MÌNH, BẢN THÂN MÌNH TRONG NGỮ CẢNH CÂU KỆ
Trong bài này, chữ “tự ngã” – attā cần được đọc rất cẩn thận.
Ở đây câu kinh đang nói đến:
chính mình, bản thân mình, điều mình xem là thân ái nhất.
Không nên vội biến chữ “tự ngã” trong câu này thành một bài giảng dài về giáo lý vô ngã rồi làm mất ý chính.
Ý chính rất rõ:
MỖI NGƯỜI ĐỀU RẤT QUÝ CHÍNH MÌNH.
Mình biết đau.
Người khác cũng biết đau.
Mình sợ bị hại.
Người khác cũng sợ bị hại.
Mình muốn sống an ổn.
Người khác cũng muốn sống an ổn.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 197
Từ đó lời Phật đi đến:
ĐỪNG LÀM HẠI NGƯỜI.
THÂN ÁI – PIYA – YÊU QUÝ, QUÝ MẾN, THÂN THIẾT
Thân ái – piya nghĩa là điều mình quý, thương, xem là gần gũi.
Trong bài kinh này, Đức Phật chỉ:
không ai xa lạ với tình yêu bản thân.
Đây không phải lời kết tội con người ích kỷ.
Đây là sự quan sát rất thật.
Mình tránh đau vì mình thương mình.
Người kia cũng tránh đau vì họ thương họ.
Hiểu vậy thì lòng bất hại có nền rất tự nhiên.
LÀM HẠI – HIṂSĀ – GÂY TỔN THƯƠNG
Làm hại – hiṃsā có thể là làm hại bằng:
thân,
lời,
hoặc những cách gây tổn thương khác.
Không phải chỉ đánh người mới gọi là hại.
Một lời ác ý cũng có thể làm hại.
Một lời vu khống có thể làm hại.
Một sự lợi dụng có thể làm hại.
Một hành vi cố tình làm người khác đau cũng là hại.
Do vậy:
bất hại không chỉ nằm ở bàn tay.
Nó còn phải đi vào:
miệng và tâm.
KHÔNG HẠI – AHIṂSĀ – KHÔNG CỐ Ý GÂY TỔN THƯƠNG
Không hại không có nghĩa:
không biết bảo vệ mình.
Không hại nghĩa là:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 198
không lấy việc làm tổn thương người khác làm con đường giải quyết vấn đề.
Mình vẫn có thể:
nói không,
đặt ranh giới,
bảo vệ sự thật,
bảo vệ thân,
bảo vệ người khác,
nhưng không cần lấy:
ác ý
làm động cơ.
4. GIẢI TỪNG CỤM
“TÂM TA ĐI CÙNG KHẮP, TẤT CẢ MỌI PHƯƠNG TRỜI”
Cụm này mở đầu bằng một cuộc tìm kiếm.
Đi khắp mọi phương.
Nhìn rộng ra.
Tìm xem:
ai là người thân ái nhất?
Đây không phải tìm bằng chân.
Mà là một cách diễn tả:
suy xét khắp nơi.
Rồi kết luận:
không tìm thấy ai thân ái hơn:
chính mình.
“CŨNG KHÔNG TÌM THẤY ĐƯỢC, AI THÂN HƠN TỰ NGÔ
Câu này rất thẳng.
Con người có thể nói:
“Tôi thương cha mẹ nhất.”
“Tôi thương con nhất.”
“Tôi thương người ấy nhất.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 199
Nhưng khi đau,
bản năng bảo vệ chính mình thường rất mạnh.
Đức Phật đang chỉ một sự thật sâu:
mỗi người đều coi chính mình là rất thân ái.
Hiểu được điều ấy không phải để:
chỉ thương mình.
Mà để mở ra:
sự đồng cảm với tất cả người khác.
“TỰ NGÃ ĐỐI MỌI NGƯỜI, QUÁ THÂN ÁI NHƯ VẬY”
Đây là bước chuyển rất quan trọng.
Không chỉ:
mình thương mình.
Mà:
NGƯỜI KHÁC CŨNG THƯƠNG CHÍNH HỌ.
Mình đau khi bị xúc phạm.
Họ cũng đau.
Mình sợ mất người thân.
Họ cũng sợ.
Mình sợ bệnh.
Họ cũng sợ.
Mình muốn được tôn trọng.
Họ cũng vậy.
Khi thấy điều này,
người kia không còn hoàn toàn:
xa lạ.
Dù khác mình rất nhiều,
họ vẫn có một điểm giống:
cũng muốn được an.
“VẬY AI YÊU TỰ NGÔ
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 200
Nếu mình biết:
mình quý mình,
thì phải suy ra:
người kia cũng quý họ.
Đây là một suy luận đạo đức rất đẹp.
Không phải:
“Vì tôi thương tôi nên tôi làm mọi thứ cho tôi.”
Mà:
“VÌ TÔI BIẾT CẢM GIÁC THƯƠNG MÌNH, TÔI HIỂU NGƯỜI KHÁC CŨNG NHƯ VẬY.”
Từ đó mở ra:
bất hại.
“CHỚ HẠI TỰ NGÃ NGƯỜI”
Đây là câu kết.
Rất ngắn.
Rất rõ.
Nếu mình không muốn đau,
đừng cố ý gây đau.
Nếu mình không muốn bị lừa,
đừng lừa.
Nếu mình không muốn bị xúc phạm,
đừng dùng lời xúc phạm.
Nếu mình không muốn bị cướp mất quyền lợi,
đừng xâm phạm quyền lợi người khác.
Đó là một nguyên tắc rất dễ nhớ.
5. GHÉP NGHĨA TOÀN CÂU
Ghép toàn bộ bài kệ lại:
Khi nhìn khắp các phương, con người không tìm thấy ai thân ái với mình hơn chính bản thân mình. Nhưng điều ấy cũng đúng với mọi người khác: ai cũng quý chính mình. Vì vậy, người biết quý chính mình thì không nên làm hại người khác.
Có thể nhớ thật gọn:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 201
MÌNH BIẾT ĐAU.
NGƯỜI CŨNG BIẾT ĐAU.
MÌNH MUỐN AN.
NGƯỜI CŨNG MUỐN AN.
VẬY ĐỪNG LÀM HẠI NHAU.
6. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ GÌ?
Kính thưa quý vị,
đây không chỉ là một bài kinh nói:
“Hãy thương người.”
Đức Phật đi từ một điều rất thật:
AI CŨNG THƯƠNG MÌNH.
Rồi Ngài dùng chính sự thật ấy làm nền cho đạo đức.
Nếu mình hiểu rất rõ cảm giác:
không muốn bị đau,
thì hãy đem sự hiểu ấy đặt vào người khác.
Đó là:
đồng cảm.
Từ đồng cảm sinh:
không hại.
Không hại không phải một mệnh lệnh khô cứng.
Nó sinh từ một sự hiểu:
“NGƯỜI KIA CŨNG LÀ MỘT NGƯỜI BIẾT ĐAU NHƯ TÔI.”
Đây là chỗ rất sâu.
7. THƯƠNG MÌNH ĐÚNG KHÔNG DẪN ĐẾN ÍCH KỶ
Có người nghĩ:
“Nếu ai cũng thương mình nhất thì chẳng phải Phật dạy ích kỷ sao?”
Không phải.
Bài kinh đi tới kết luận ngược lại:
vì ai cũng thương chính mình, nên đừng làm hại người khác.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 202
Đây là sự chuyển hóa từ:
tự ái
sang:
đồng cảm.
Một người chỉ biết:
“Tôi muốn an.”
thì chưa đủ.
Người có trí đi thêm một bước:
“Người kia cũng muốn an.”
8. VÍ DỤ 1 – KHI MUỐN NÓI MỘT CÂU LÀM ĐAU
Mình đang giận.
Biết rõ một điểm yếu của người kia.
Chỉ cần nói một câu:
họ sẽ đau.
Trước khi nói,
hãy đổi vị trí.
Nếu người kia nói đúng câu ấy với mình,
mình có đau không?
Nếu có,
hãy nhớ:
NGƯỜI KIA CŨNG CÓ TÂM.
Đây là ứng dụng trực tiếp của bài kinh.
9. VÍ DỤ 2 – KHI NÓI XẤU NGƯỜI KHÁC
Mình không muốn người khác:
nói sai về mình.
Không muốn người khác:
kể chuyện riêng của mình.
Không muốn bị hạ thấp trước đám đông.
Vậy khi mình định làm điều tương tự với người khác,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 203
hãy nhớ:
họ cũng quý danh dự của họ.
Bài kinh này chạm rất mạnh vào:
khẩu nghiệp.
10. VÍ DỤ 3 – KHI TRANH QUYỀN LỢI
Mình muốn phần của mình được tôn trọng.
Người kia cũng muốn quyền lợi của họ được tôn trọng.
Điều này không có nghĩa:
nhường hết.
Mà là:
giải quyết công bằng, đừng lấy việc mình muốn lợi làm lý do để chà lên người khác.
11. VÍ DỤ 4 – TRONG GIA ĐÌNH
Cha mẹ muốn con:
nghe lời.
Nhưng con cũng có:
cảm xúc,
suy nghĩ,
tự trọng.
Vợ muốn chồng:
hiểu mình.
Nhưng chồng cũng muốn:
được hiểu.
Một bên chỉ nhìn:
nỗi đau của mình
thì xung đột dễ tăng.
Khi nhìn thêm:
nỗi đau của người,
lời nói tự nhiên thay đổi.
12. VÍ DỤ 5 – KHI NGƯỜI KHÁC ĐANG GIẬN
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 204
Một người đang mắng mình.
Bản năng là:
mắng lại.
Nhưng thử nghĩ:
“Người này lúc này chắc cũng đang khổ.”
Không phải vì vậy mà họ đúng.
Nhưng mình thấy:
hai người khổ mà đánh nhau thì chỉ thêm khổ.
Nếu một người dừng,
vòng ấy yếu đi.
13. VÍ DỤ 6 – KHI CÓ QUYỀN LỰC
Khi ở vị trí yếu,
ai cũng muốn được đối xử tử tế.
Nhưng khi mình có quyền,
rất dễ quên cảm giác ấy.
Bài kinh nhắc:
NGƯỜI Ở DƯỚI MÌNH CŨNG QUÝ CHÍNH HỌ.
Một người chủ,
người quản lý,
cha mẹ,
người lớn tuổi,
người có địa vị,
càng phải nhớ.
Quyền lực không xóa:
nỗi đau của người khác.
14. VÍ DỤ 7 – KHI BÌNH LUẬN TRÊN MẠNG
Trên mạng rất dễ quên:
sau cái tên tài khoản là:
một con người.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 205
Một câu mình gõ trong vài giây có thể làm người kia đau nhiều ngày.
Trước khi bình luận,
hãy hỏi:
“Nếu câu này viết về tôi, tôi cảm thấy thế nào?”
Đây là cách đưa SN 3.8 vào mạng xã hội.
15. VÍ DỤ 8 – KHI NGƯỜI KHÁC SAI
Người kia sai.
Mình có thể:
chỉ cái sai.
Nhưng không nhất thiết phải:
làm nhục.
Bởi sửa một hành vi khác với:
đạp xuống giá trị của một con người.
Người kia vẫn là người biết đau.
16. VÍ DỤ 9 – KHI PHẢI TỪ CHỐI
Có khi cần nói:
“Không.”
Nhưng có hai kiểu từ chối.
Một kiểu:
“Không, và tôi muốn anh biết anh chẳng đáng gì.”
Một kiểu:
“Việc này tôi không thể đồng ý.”
Cùng từ chối.
Nhưng một bên cố ý gây đau.
Một bên chỉ đặt ranh giới.
Đó là khác biệt giữa:
bất hại
và:
ác ý.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 206
17. VÍ DỤ 10 – VỚI CHÍNH MÌNH
Bài kinh nói đừng hại người.
Nhưng cũng cho thấy một điều:
mình cũng quý chính mình.
Do đó thương mình đúng là:
không tự hủy mình bằng:
hận,
tham quá mức,
gian dối,
những hành động gây hậu quả xấu.
Thương mình không phải:
chiều mọi ham muốn của mình.
Thương mình là:
không đẩy mình vào khổ.
18. THƯƠNG MÌNH KHÔNG PHẢI MUỐN GÌ CŨNG CHO MÌNH
Một đứa trẻ muốn ăn ngọt cả ngày.
Cho hết có phải thương không?
Không.
Người lớn cũng vậy.
Tâm muốn:
trả đũa.
Muốn:
tham thêm.
Muốn:
nói cho hả.
Nếu chiều hết,
mình đang giúp:
phiền não.
Thương mình đúng phải có:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 207
trí.
19. TỪ THƯƠNG MÌNH ĐI ĐẾN GIỚI
Tại sao không sát hại?
Vì chúng sinh quý mạng sống.
Tại sao không trộm cắp?
Vì người khác quý tài sản và quyền lợi.
Tại sao không tà hạnh?
Vì người khác quý tình cảm và sự an ổn của gia đình.
Tại sao không nói dối?
Vì người khác quý sự thật và niềm tin.
Tại sao không để say nghiện làm mất tự chủ?
Vì mình và người xung quanh đều có thể bị hại.
Như vậy từ một bài kệ rất ngắn,
có thể thấy tinh thần:
không hại
liên hệ rất sâu với đời sống giới hạnh.
20. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ THÊM ĐIỀU GÌ?
Bài kinh không nói:
“Hãy yêu mọi người giống hệt nhau.”
Nó chỉ cho mình một nền tối thiểu rất vững:
ĐỪNG LÀM ĐIỀU MÌNH BIẾT NGƯỜI KHÁC CŨNG ĐAU.
Đây là nền của:
tôn trọng,
đạo đức,
từ bi,
và đời sống cộng đồng.
21. ỨNG DỤNG 1 – TRƯỚC KHI NÓI
Hỏi:
“Nếu người khác nói câu này với tôi, tôi có đau không?”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 208
Nếu có,
hãy tìm cách nói khác.
Không cần bỏ sự thật.
Chỉ bỏ:
mũi dao.
22. ỨNG DỤNG 2 – TRƯỚC KHI LÀM
Hỏi:
“Việc này đem lợi cho tôi nhưng có đẩy khổ sang người khác không?”
Nếu có,
phải nhìn lại.
Đây là một tiêu chuẩn rất mạnh.
23. ỨNG DỤNG 3 – KHI ĐANG GIẬN
Tự nhắc:
“Tôi đau nên tôi muốn họ đau. Nhưng họ đau không làm cái đau của tôi biến mất.”
Câu này giúp cắt:
trả đũa.
24. ỨNG DỤNG 4 – KHI NGƯỜI KHÁC KHÔNG GIỐNG MÌNH
Khác:
quan điểm,
tuổi,
văn hóa,
trình độ,
hoàn cảnh.
Nhưng có một điều chung:
ai cũng muốn tránh khổ và tìm an.
Bắt đầu từ điểm chung ấy,
mình dễ mềm hơn.
25. ỨNG DỤNG 5 – KHI PHẢI SỬA NGƯỜI
Nếu là cha mẹ,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 209
thầy,
người quản lý,
người hướng dẫn,
hãy nhớ:
người bị sửa cũng có lòng tự trọng.
Sửa việc.
Đừng làm nhục người.
26. ỨNG DỤNG 6 – KHI TRANH LUẬN
Mục tiêu nên là:
tìm điều đúng.
Không phải:
đập người kia xuống.
Nếu thắng lập luận nhưng làm người kia tổn thương vô ích,
mình phải xem lại cách thắng ấy.
27. ỨNG DỤNG 7 – TRONG LIVESTREAM
Khi có người hỏi khó,
hãy nhớ:
người ấy cũng có:
tự trọng,
nỗi lo,
cách hiểu.
Trả lời câu hỏi.
Đừng biến câu hỏi thành:
cuộc đấu bản ngã.
Đó là đem bài kinh vào ngay việc giảng pháp.
28. ỨNG DỤNG 8 – KHI THẤY NGƯỜI KHÁC ĐAU
Hỏi:
“Nếu tôi là họ, điều gì lúc này sẽ giúp?”
Không phải lúc nào cũng cần lời khuyên.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 210
Có khi họ cần:
được nghe.
Có khi cần:
một khoảng yên.
Có khi cần:
một hành động thực tế.
Đồng cảm bắt đầu bằng:
đặt mình vào vị trí người.
29. CÔNG THỨC THỨ NHẤT: MÌNH – NGƯỜI – ĐỪNG HẠI
MÌNH
Mình biết mình không muốn đau.
NGƯỜI
Người khác cũng vậy.
ĐỪNG HẠI
Đừng cố tình gây điều mình biết họ cũng đau.
Công thức:
MÌNH BIẾT ĐAU → NGƯỜI CŨNG BIẾT ĐAU → ĐỪNG HẠI.
30. CÔNG THỨC THỨ HAI: ĐỔI VỊ TRÍ
Trước một lời hay việc,
hỏi:
“NẾU TÔI LÀ NGƯỜI NHẬN, TÔI THẤY THẾ NÀO?”
Một câu hỏi.
Nhưng có thể ngăn:
rất nhiều nghiệp xấu.
31. CÔNG THỨC THỨ BA: THẬT – RÕ – KHÔNG ĐÂM
Khi phải nói điều khó:
THẬT
Nói đúng sự thật.
RÕ
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 211
Nói đúng việc.
KHÔNG ĐÂM
Không cố ý làm đau.
Công thức:
THẬT → RÕ → KHÔNG HẠI.
32. CÔNG THỨC THỨ TƯ: TỰ THƯƠNG → BIẾT THƯƠNG
Nếu mình biết:
nỗi đau của mình có thật,
thì dùng chính kinh nghiệm ấy để hiểu:
nỗi đau người cũng thật.
Đây là cách biến:
tự thương
thành:
từ bi.
33. BÀI THỰC HÀNH MỘT NGÀY
Trong một ngày,
trước mỗi câu nói khó,
hỏi:
“Nếu tôi nghe câu này, tôi sẽ cảm thấy thế nào?”
Chỉ vậy.
Không cần làm thêm gì phức tạp.
Cuối ngày xem:
có bao nhiêu câu mình đã đổi cách nói.
Đó là Pháp đi vào miệng.
34. BÀI THỰC HÀNH KHI SÂN
Khi muốn trả đũa:
dừng.
Nói trong tâm:
“Tôi không muốn đau. Người kia cũng vậy.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 212
Sau đó:
xử lý việc cần xử lý.
Không thêm:
ác ý.
35. BÀI THỰC HÀNH KHI PHẢI GÓP Ý
Dùng cấu trúc:
“Việc này…”
thay vì:
“Con người anh…”
Ví dụ:
“Việc này chưa đúng.”
thay vì:
“Anh lúc nào cũng tệ.”
Sửa việc.
Đừng đập người.
36. BÀI THỰC HÀNH VỚI MẠNG XÃ HỘI
Trước khi đăng một bình luận tiêu cực:
đọc lại.
Hỏi:
“Tôi đang phản biện nội dung hay đang làm nhục người?”
Nếu là câu thứ hai:
đừng gửi.
37. BÀI THỰC HÀNH BẢY NGÀY
NGÀY 1
Không cố ý nói một câu làm người khác đau.
NGÀY 2
Khi sân, tập đổi vị trí.
NGÀY 3
Khi góp ý, chỉ nói đúng việc.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 213
NGÀY 4
Không bình luận nhằm hạ nhục người trên mạng.
NGÀY 5
Làm một việc giúp người mà không cần được biết ơn.
NGÀY 6
Nhìn một người mình không thích và nhắc:
“Người này cũng muốn an như tôi.”
NGÀY 7
Tự hỏi:
“Tuần này tôi đã giảm được bao nhiêu hành vi gây hại?”
38. THỰC HÀNH BUỔI SÁNG
Mỗi sáng có thể đọc:
Tôi biết mình quý chính mình.
Tôi nhớ người khác cũng quý chính họ.
Tôi không muốn bị làm đau.
Tôi nhớ người khác cũng vậy.
Hôm nay tôi cố nói và làm sao để không gây thêm khổ không cần thiết.
39. THỰC HÀNH BUỔI TỐI
Trước khi ngủ hỏi:
Hôm nay tôi có làm ai đau bằng lời không?
Có câu nào nếu người khác nói với tôi, tôi cũng sẽ đau không?
Tôi có vì lợi của mình mà làm người khác thiệt không?
Tôi có sửa một người bằng cách làm nhục họ không?
Tôi có dừng được một hành động gây hại nào không?
Nếu thấy lỗi:
ngày mai sửa.
Đó là thực hành.
40. CÂU GHI NHỚ THỨ NHẤT
Mình không muốn đau; người khác cũng không muốn đau.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 214
41. CÂU GHI NHỚ THỨ HAI
Tự thương đúng không làm mình ích kỷ; tự thương đúng giúp mình hiểu người khác cũng quý chính họ.
42. CÂU GHI NHỚ THỨ BA
Không hại không có nghĩa không biết đúng sai; không hại là xử lý cái sai mà không lấy tổn thương làm vũ khí.
43. CÂU GHI NHỚ THỨ TƯ
Sửa một việc khác với làm nhục một người.
44. CÂU GHI NHỚ THỨ NĂM
Nếu mình biết một lời có thể làm mình đau, hãy nhớ người khác cũng có trái tim biết đau.
45. CÂU GHI NHỚ THỨ SÁU
Thương mình mà làm hại người cuối cùng cũng đang gieo thêm nhân khổ cho chính mình.
46. CÂU GHI NHỚ THỨ BẢY
Điểm chung rất lớn của con người là ai cũng muốn tránh khổ và tìm an.
47. CÂU GHI NHỚ THỨ TÁM
Trước khi nói một câu khó, hãy đổi vị trí một lần.
48. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
MÌNH THƯƠNG MÌNH.
NGƯỜI CŨNG THƯƠNG NGƯỜI.
MÌNH KHÔNG MUỐN ĐAU.
NGƯỜI CŨNG KHÔNG MUỐN ĐAU.
VÌ VẬY – ĐỪNG LÀM HẠI NHAU.
Và xin nhớ lời Phật:
“Tâm ta đi cùng khắp, Tất cả mọi phương trời, Cũng không tìm thấy được, Ai thân hơn tự ngã. Tự ngã đối mọi người, Quá thân ái như vậy. Vậy ai yêu tự ngã, Chớ hại tự ngã người.”
Nguồn: Kinh Mallikā – Tương Ưng Bộ Kinh, Tương Ưng Kosala, SN 3.8; bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu; nguyên bản Kinh tạng Pāli. (SuttaCentral)
49. CÂU HỎI LIVESTREAM
1. Quý vị có đồng ý rằng ai cũng quý chính mình, dù mỗi người biểu hiện khác nhau không?
2. Nếu mình không muốn bị nói xấu, tại sao đôi khi mình lại dễ nói xấu người khác?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 215
3. Theo quý vị, sửa lỗi một người và làm nhục một người khác nhau ở điểm nào?
4. Có bao giờ quý vị nói một câu lúc giận, rồi sau đó nghĩ: “Nếu người ta nói câu ấy với mình chắc mình cũng đau” không?
5. Khi tranh luận, quý vị thường muốn tìm điều đúng hay muốn người kia thua?
6. Theo quý vị, không làm hại có đồng nghĩa với yếu đuối không? Vì sao?
7. Có thể đặt ranh giới thật rõ mà vẫn giữ tâm không ác được không?
8. Nếu người khác cũng quý chính họ như mình quý mình, điều ấy thay đổi cách mình đối xử với họ thế nào?
9. Trong gia đình, mình có thường chỉ nhìn nỗi đau của mình mà quên người kia cũng đang đau không?
10. Hôm nay quý vị có thể thử một công thức rất đơn giản trước khi nói: “Nếu câu này nói với tôi, tôi có đau không?” không?
50. CÂU KẾT ĐỂ ĐỌC TRÊN LIVESTREAM
Kính thưa quý vị,
có những lời Phật rất ngắn,
nhưng chỉ cần đem vào đời sống thì đủ làm mình thay đổi rất nhiều.
Bài hôm nay không bắt đầu bằng một giáo lý xa.
Chỉ bắt đầu từ một điều ai cũng biết:
mình thương mình.
Mình không muốn bị đau.
Không muốn bị xúc phạm.
Không muốn bị lừa.
Không muốn bị mất điều mình quý.
Và Đức Phật nhắc:
người khác cũng vậy.
Nếu hiểu thật điều ấy,
thì từ đây mỗi lời nói,
mỗi hành động,
mỗi quyết định,
mình có thêm một câu hỏi:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 216
“VIỆC NÀY CÓ LÀM NGƯỜI KHÁC ĐAU KHÔNG?”
Không phải mọi nỗi đau đều tránh được.
Có lúc phải nói sự thật khó nghe.
Có lúc phải từ chối.
Có lúc phải đặt ranh giới.
Nhưng có một loại đau mình hoàn toàn có thể bớt tạo:
nỗi đau do ác ý không cần thiết.
Vì vậy công thức của bài hôm nay rất đơn giản:
MÌNH BIẾT ĐAU → NGƯỜI CŨNG BIẾT ĐAU → ĐỪNG HẠI.
Và chỉ cần nhớ thêm một câu:
ĐỔI VỊ TRÍ TRƯỚC KHI NÓI.
Nếu làm được như vậy,
một câu kinh không còn chỉ nằm trong sách.
Nó đã đi vào:
lời nói, hành động và cách mình đối xử với mọi người.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 217
MỤC 009 - Bài 009 — ÍT DỤC – BỚT MUỐN ĐỂ TÂM ĐƯỢC NHẸ 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
“Pháp này để cho người ít dục, Pháp này không phải để cho người nhiều dục.”
2. NGUỒN KINH
Tên kinh: Kinh Đại Tư Niệm của Tôn giả Anuruddha Tên Pāli: Anuruddhamahāvitakka Sutta Thuộc: Tăng Chi Bộ Kinh – Aṅguttara Nikāya Chương: Tám Pháp Số kinh: 30 Mã tra cứu quốc tế: AN 8.30 Bản dịch tiếng Việt: Hòa thượng Thích Minh Châu Nguyên bản: Kinh tạng Pāli
Trong bài kinh này, Tôn giả Anuruddha suy nghĩ về bảy pháp của bậc Đại nhân; Đức Phật xác nhận và bổ sung pháp thứ tám. Các điểm chính gồm: ít dục, biết đủ, sống viễn ly, tinh cần tinh tấn, trú niệm, có thiền định, có trí tuệ và không ưa hý luận. (SuttaCentral)
Đặc biệt, khi giải thích “ít dục”, kinh còn chỉ một điểm rất sâu: người ít dục thật sự không mong người khác biết mình là người ít dục. Như vậy ít dục không chỉ là ít vật chất; ngay cả mong muốn được người khác công nhận mình là người tu ít dục cũng cần được thấy và buông. (Obo’s Web)
3. TỪ KHÓA VIỆT – PĀLI – NGHĨA
ÍT DỤC – APPICCHA – ÍT HAM MUỐN, ÍT ĐÒI HỎI
Ít dục – appiccha nghĩa là ít mong cầu, ít đòi hỏi cho mình.
Nói thật dễ hiểu:
CÓ NHU CẦU, NHƯNG KHÔNG ĐỂ CÁI MUỐN PHÌNH RA MÃI.
Ít dục không phải là:
không ăn,
không mặc,
không có nhu cầu cần thiết,
không được sử dụng vật dụng,
hay cố làm cho mình khổ.
Ít dục là:
biết cái gì cần và biết dừng ở mức hợp lý.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 218
Người ít dục không nhất thiết là người không có gì.
Người có rất ít vật vẫn có thể:
muốn rất nhiều.
Ngược lại, một người có phương tiện nhưng tâm không bị cái muốn kéo đi mãi vẫn có thể thực tập ít dục.
Điểm chính nằm ở:
tâm.
DỤC – ICCHĀ – SỰ MONG MUỐN, ƯỚC MUỐN
Trong chữ appiccha, phần liên hệ đến icchā mang nghĩa mong muốn, ước muốn.
Không phải mọi mong muốn đều xấu.
Muốn học Pháp:
có thể thiện.
Muốn giữ giới:
thiện.
Muốn giúp người:
thiện.
Muốn đoạn trừ tham sân si:
là hướng tu.
Điều bài kinh đang cảnh tỉnh là:
tâm nhiều dục, quá nhiều mong cầu cho bản thân, luôn muốn thêm và không biết dừng.
NHIỀU DỤC – MAHICCHA – NHIỀU HAM MUỐN, NHIỀU ĐÒI HỎI
Người nhiều dục có thể luôn cảm thấy:
chưa đủ.
Có một:
muốn hai.
Có hai:
muốn năm.
Có năm:
nhìn người có mười rồi lại thấy mình thiếu.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 219
Như vậy cái thiếu đôi khi không nằm ở:
vật đang có.
Nó nằm ở:
tâm luôn muốn hơn.
Một người có rất nhiều mà vẫn thấy thiếu,
thì cái nghèo ấy nằm:
trong lòng muốn.
BIẾT ĐỦ – SANTUṬṬHI – TRI TÚC, HÀI LÒNG VỚI ĐIỀU HỢP LÝ ĐANG CÓ
Ngay sau “ít dục”, bài kinh nói đến:
biết đủ.
Kinh giải thích người tu biết đủ với những nhu yếu căn bản như y phục, thức ăn, chỗ ở và thuốc men. (Buddhism Today)
Ít dục và biết đủ rất gần nhau nhưng không hoàn toàn giống nhau.
Ít dục là:
muốn ít.
Biết đủ là:
có rồi biết đủ.
Một người muốn ít:
tâm nhẹ trước khi có.
Một người biết đủ:
tâm nhẹ sau khi có.
Ghép hai điều:
MUỐN ÍT – CÓ BIẾT ĐỦ.
Đời sẽ nhẹ đi rất nhiều.
TINH TẤN – VIRIYA – NỖ LỰC ĐOẠN BẤT THIỆN, NUÔI THIỆN
Bài kinh không dạy ít dục rồi:
ngồi yên không làm gì.
Ngược lại, một trong tám pháp là:
tinh cần tinh tấn.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 220
Kinh giải thích đó là nỗ lực đoạn các pháp bất thiện và phát triển các pháp thiện, không bỏ gánh nặng đối với thiện pháp. (Thư Viện Hoa Sen)
Như vậy:
ÍT DỤC KHÔNG PHẢI ÍT TINH TẤN.
Có thể:
ít muốn cho mình,
nhưng rất siêng tu.
Ít đòi hưởng,
nhưng rất siêng làm thiện.
Ít cần được khen,
nhưng rất nghiêm túc với con đường tu tập.
4. GIẢI TỪNG CỤM
“PHÁP NÀY”
“Pháp này” ở đây chỉ:
con đường giáo pháp đang được tu tập.
Điều rất đáng chú ý là Đức Phật không nói:
Pháp này giúp mình:
có thêm thật nhiều thứ.
Ngài nói:
Pháp này dành cho người ít dục. (SuttaCentral)
Điều đó làm mình phải suy nghĩ lại về mục đích học Phật.
Mình đến với Phật pháp để:
thỏa mãn thêm mọi cái muốn?
Hay để:
nhìn ra và chuyển hóa chính cái muốn đang làm mình khổ?
Đây là hai hướng rất khác nhau.
“ĐỂ CHO NGƯỜI ÍT DỤC”
Câu này không nên chỉ hiểu:
người tu phải có ít đồ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 221
Sâu hơn là:
đừng để đời sống của mình bị tổ chức hoàn toàn quanh việc thỏa mãn cái muốn.
Hôm nay muốn vật này.
Mai muốn vật khác.
Được khen rồi muốn được khen thêm.
Có người nghe rồi muốn nhiều người nghe hơn.
Có chút danh rồi muốn danh lớn.
Được một người kính rồi muốn tất cả phải kính.
Cái muốn có thể đội rất nhiều chiếc áo.
Không chỉ:
tiền,
nhà,
xe,
đồ ăn.
Nó còn có thể là:
danh.
lời khen.
sự chú ý.
quyền kiểm soát.
mong muốn mình luôn đúng.
Người học Phật phải nhìn cả những cái muốn tinh tế ấy.
“KHÔNG PHẢI ĐỂ CHO NGƯỜI NHIỀU DỤC”
Câu này nghe rất mạnh.
Nhưng không nên hiểu:
“Người đang nhiều dục thì không được học Phật.”
Nếu hiểu như vậy thì người đang bệnh lại không được uống thuốc.
Ý thực hành là:
Chánh pháp không nhằm nuôi lớn lòng nhiều dục; con đường này hướng người học đi về phía giảm dục.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 222
Người hôm nay còn nhiều mong cầu vẫn tu được.
Nhưng càng tu thì phải tự hỏi:
cái muốn có giảm không?
Nếu học Phật mười năm mà:
đòi hỏi nhiều hơn,
cái tôi lớn hơn,
cần được kính hơn,
cần được khen hơn,
dễ khó chịu hơn khi không được như ý,
thì cần nhìn lại cách mình đang học.
5. GHÉP NGHĨA TOÀN CÂU
Câu kinh có thể hiểu thật dễ:
Chánh pháp hướng đến con người biết giảm bớt lòng ham muốn và những đòi hỏi không cần thiết, chứ không phải để nuôi lớn một tâm luôn muốn thêm, muốn hơn và không biết dừng.
Có thể nhớ bằng một dòng:
TU KHÔNG PHẢI ĐỂ CÓ THÊM MỌI THỨ MÌNH MUỐN.
TU LÀ ĐỂ BỚT BỊ CÁI MUỐN LÀM CHỦ.
6. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ GÌ?
Kính thưa quý vị,
chỗ sâu của bài kinh không phải:
“Có ít mới là tu.”
Mà là:
TÂM CÓ BỚT ĐÒI HỎI KHÔNG?
Có một người chỉ có một căn phòng nhỏ,
nhưng ngày nào cũng:
so,
ganh,
muốn nhà lớn,
muốn xe đẹp,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 223
muốn hơn hàng xóm.
Tài sản ít.
Nhưng:
dục rất nhiều.
Có người có đủ điều kiện cần thiết,
nhưng tâm biết:
“Như thế này đủ dùng.”
Không ngày nào cũng chạy theo:
hơn,
đẹp hơn,
mới hơn,
đắt hơn.
Tâm ấy:
nhẹ hơn.
Vì vậy ít dục phải nhìn:
trong tâm.
7. CÁI MUỐN KHÔNG CÓ ĐIỂM DỪNG THÌ CÓ BA GIAI ĐOẠN ĐỀU KHỔ
Chưa có:
khổ vì muốn.
Có rồi:
khổ vì giữ.
Mất:
khổ vì tiếc.
Như vậy một vật có thể kéo tâm qua cả ba đoạn:
MUỐN → GIỮ → SỢ MẤT.
Nếu tâm không được huấn luyện,
mình có thể dành cả đời đi quanh ba chữ ấy.
8. BIẾT ĐỦ KHÔNG PHẢI NGHÈO Ý CHÍ
Có người nghe “biết đủ” rồi nghĩ:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 224
“Vậy không cần cố gắng nữa.”
Không đúng.
Bài kinh đặt biết đủ cùng với tinh tấn, chánh niệm, thiền định và trí tuệ. (BuddhaSasana)
Vậy có thể:
biết đủ về hưởng thụ, nhưng không biết đủ với việc tu.
Không cần thêm mười món đồ.
Nhưng cần thêm:
một chút nhẫn.
một chút giới.
một chút chánh niệm.
một chút trí.
Đây là sự khác nhau.
9. CÓ NHỮNG THỨ CẦN “ÍT”, CÓ NHỮNG THỨ CẦN “NHIỀU”
Ít:
tham.
Ít:
đòi hỏi.
Ít:
khoe.
Ít:
hơn thua.
Ít:
cần người khác công nhận.
Nhưng nhiều:
từ bi.
Nhiều:
chân thật.
Nhiều:
tinh tấn.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 225
Nhiều:
nhẫn.
Nhiều:
trí tuệ.
Đó mới là hướng tu.
10. VÍ DỤ 1 – QUẦN ÁO
Tủ đã đủ mặc.
Nhưng thấy mẫu mới:
muốn.
Mua về.
Vui vài ngày.
Sau đó:
lại thấy mẫu khác.
Nếu không nhìn tâm,
vấn đề chưa chắc nằm ở chiếc áo.
Vấn đề là:
cái muốn liên tục tìm một vật mới để bám.
Thực tập ít dục có thể chỉ là:
dừng vài ngày trước khi mua.
Hỏi:
“Tôi cần hay chỉ muốn?”
11. VÍ DỤ 2 – ĐIỆN THOẠI
Máy đang dùng tốt.
Nhưng máy mới ra.
Tâm lập tức thấy máy cũ:
không còn đẹp.
Trước khi thấy quảng cáo:
máy cũ đủ.
Sau khi thấy quảng cáo:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 226
máy cũ bỗng thiếu.
Vậy cái thiếu sinh ở đâu?
Trong:
tâm so sánh.
Đây là một ví dụ rất rõ của nhiều dục trong đời hiện đại.
12. VÍ DỤ 3 – DANH TIẾNG
Ban đầu:
chỉ mong vài người nghe Pháp.
Có mười người:
vui.
Sau đó muốn một trăm.
Có một trăm:
muốn một nghìn.
Có một nghìn:
thấy người khác mười nghìn rồi buồn.
Nếu không cẩn thận,
ngay việc tốt cũng bị:
cái muốn vô hạn đi vào.
Người tu phải hỏi:
“Mục tiêu của tôi là lợi ích người nghe hay là con số làm tôi thấy mình có giá trị?”
13. VÍ DỤ 4 – LỜI KHEN
Một lời khen:
rất vui.
Không có gì sai.
Nhưng nếu ngày mai không ai khen:
buồn.
Ngày kia có người chê:
mất ngủ.
Như vậy mình không chỉ:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 227
thích lời khen.
Mình đã:
cần nó.
Đây là một loại dục rất tinh tế.
14. VÍ DỤ 5 – CON CÁI
Cha mẹ muốn con:
tốt.
Đó là điều đẹp.
Nhưng cái muốn có thể phình ra:
con phải học trường mình muốn.
làm nghề mình muốn.
cưới người mình muốn.
sống nơi mình muốn.
Nếu không:
mình khổ.
Lúc ấy phải hỏi:
“Tôi đang thương con hay đang muốn sở hữu cuộc đời con?”
Ít dục đôi khi là:
bớt đòi người khác phải sống theo ý mình.
15. VÍ DỤ 6 – NGƯỜI THÂN
Mình thương một người.
Rồi mong:
họ phải nhắn mình.
phải nhớ mình.
phải hiểu mình.
phải luôn đứng về phía mình.
Mỗi chữ:
“phải”
là thêm một điều kiện cho hạnh phúc.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 228
Ít dục trong tình cảm là:
thương nhưng bớt đòi hỏi.
16. VÍ DỤ 7 – VIỆC TU
Có người muốn:
đắc thật nhanh.
thiền thật đặc biệt.
có cảm giác lạ.
được người khác gọi mình tu cao.
Đây cũng có thể là:
dục núp trong áo tu.
AN 8.30 đặc biệt nhấn mạnh rằng người ít dục thậm chí không mong người khác biết mình là người ít dục. (Obo’s Web)
Đây là một lời nhắc rất mạnh về:
cái tôi trong đời sống tu tập.
17. VÍ DỤ 8 – LÀM THIỆN NHƯNG MUỐN ĐƯỢC BIẾT
Mình làm một việc tốt.
Không ai biết.
Tâm khó chịu:
“Sao không ai thấy?”
Đây là lúc có thể hỏi:
“Tôi muốn làm thiện hay muốn sở hữu danh của người làm thiện?”
Không phải công khai việc thiện luôn sai.
Có việc cần minh bạch.
Có việc cần làm gương.
Nhưng:
động cơ phải được soi.
18. VÍ DỤ 9 – ĂN UỐNG
Đói:
ăn.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 229
No:
dừng.
Đó là rất tự nhiên.
Nhưng có món thích:
no vẫn ăn tiếp.
Đây là chỗ cái muốn vượt khỏi:
nhu cầu.
Ít dục không phải:
nhịn đói.
Mà là:
phân biệt nhu cầu với tham muốn.
19. VÍ DỤ 10 – TRANH CÃI
Có lúc mình không còn tranh vì:
sự thật.
Mà vì:
muốn người kia phải nói “bạn đúng”.
Nếu họ không nói:
mình không chịu dừng.
Đây cũng là một cái muốn.
Ít dục trong tranh luận có thể là:
biết điều cần nói đã nói đủ.
Sau đó:
dừng.
20. VÍ DỤ 11 – MẠNG XÃ HỘI
Đăng một bài.
Một trăm lượt thích.
Ngày đầu:
vui.
Bài sau còn năm mươi:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 230
buồn.
Tại sao?
Năm mươi người vẫn là năm mươi người.
Nhưng tâm đã lấy:
một trăm
làm chuẩn.
Cái muốn tạo ra:
mức đủ mới.
Đây là cách dục âm thầm tăng.
21. VÍ DỤ 12 – TÀI SẢN
Kiếm tiền chân chính không phải điều bài kinh phủ nhận.
Vấn đề là:
bao giờ đủ?
Nếu mỗi con số chỉ là bậc thang tới một con số khác,
thì tâm không bao giờ được nghỉ.
Người biết đủ vẫn:
làm việc,
có trách nhiệm,
lo cho gia đình,
nhưng biết:
tài sản là phương tiện, không phải thước đo toàn bộ giá trị con người.
22. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ THÊM ĐIỀU GÌ?
AN 8.30 không dừng ở ít dục. Kinh đặt tám định hướng cạnh nhau: ít dục, biết đủ, viễn ly, tinh tấn, chánh niệm, thiền định, trí tuệ và không thích hý luận. (BuddhaSasana)
Điều này cho thấy:
ít dục không phải một đức tính đứng riêng.
Ít dục giúp:
tâm bớt chạy.
Biết đủ giúp:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 231
tâm bớt thiếu.
Viễn ly giúp:
tâm có khoảng lặng.
Tinh tấn giúp:
không rơi vào lười.
Chánh niệm giúp:
biết mình.
Định giúp:
tâm vững.
Trí tuệ giúp:
thấy đúng.
Không hý luận giúp:
bớt để tâm tản mạn trong những chuyện không đưa đến giải thoát.
Đó là một hệ thống rất đẹp.
23. “ÍT DỤC” KHÔNG PHẢI LÀ “KHÔNG ĐƯỢC MUỐN TU”
Đây là điều phải phân biệt.
Muốn giảm tham:
tốt.
Muốn giữ giới:
tốt.
Muốn học kinh:
tốt.
Muốn làm lợi ích:
tốt.
Phật pháp không phá tất cả động lực.
Nó giúp:
thanh lọc động lực.
Từ:
“Tôi phải hơn người”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 232
sang:
“Tôi muốn tốt hơn chính mình hôm qua.”
Từ:
“Tôi muốn được kính”
sang:
“Tôi muốn sống cho đúng Pháp.”
24. DẤU HIỆU CỦA TÂM NHIỀU DỤC
Luôn nghĩ:
thiếu.
Rất khó nói:
đủ.
Thấy người khác có:
tâm bất an.
Có được thứ muốn:
vui rất ngắn.
Sau đó:
muốn mới xuất hiện.
Không có:
khổ.
Có:
sợ mất.
Đó là vòng rất mệt.
25. DẤU HIỆU CỦA TÂM ĐANG HỌC ÍT DỤC
Thấy một thứ đẹp:
vẫn thấy đẹp,
nhưng không nhất thiết phải có.
Người khác hơn:
vẫn bình thường hơn trước.
Được khen:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 233
vui,
nhưng không nghiện khen.
Không được chú ý:
không thấy mình mất giá trị.
Có đủ dùng:
biết dừng.
Đây là những dấu hiệu rất thực tế.
26. ỨNG DỤNG 1 – QUY TẮC CHỜ MỘT NGÀY
Muốn mua một thứ không cấp thiết:
đừng mua ngay.
Để một ngày.
Ngày mai hỏi:
“Tôi còn cần không?”
Nhiều cái muốn:
rất mạnh trong mười phút,
nhưng yếu đi sau một ngày.
Chỉ một khoảng chờ đã giúp mình nhìn tâm.
27. ỨNG DỤNG 2 – PHÂN BIỆT “CẦN” VÀ “MUỐN”
Trước một quyết định:
hỏi hai chữ:
CẦN?
HAY MUỐN?
Nếu cần:
xử lý.
Nếu chỉ muốn:
không có nghĩa cấm.
Nhưng ít nhất mình:
biết đó là muốn.
Khi đã biết,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 234
mình bớt bị nó lừa thành:
“Tôi phải có.”
28. ỨNG DỤNG 3 – TẬP NÓI “ĐỦ”
Ăn đủ:
dừng.
Mua đủ:
dừng.
Nói đủ:
dừng.
Giải thích đủ:
dừng.
Làm việc đủ:
nghỉ.
Không phải cái gì cũng phải:
thêm.
Một chữ:
ĐỦ
có thể cứu rất nhiều năng lượng.
29. ỨNG DỤNG 4 – KHI THẤY NGƯỜI KHÁC HƠN
Đừng hỏi ngay:
“Tại sao tôi không có?”
Hỏi:
“Điều họ có có thật sự cần cho con đường của tôi không?”
Nếu có:
học nhân tốt.
Nếu không:
để họ có.
Không phải thứ tốt với người khác đều phải:
trở thành mục tiêu của mình.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 235
30. ỨNG DỤNG 5 – VỚI LỜI KHEN
Được khen:
cảm ơn.
Sau đó trở lại việc.
Đừng sống ngày hôm sau chỉ để:
tìm thêm lời khen giống hôm nay.
Khen đến:
biết.
Khen đi:
biết.
Công việc đúng:
tiếp tục.
31. ỨNG DỤNG 6 – VỚI LIVESTREAM
Một ngày đông người:
giảng hết lòng.
Một ngày ít người:
cũng giảng hết lòng.
Nếu chất lượng tâm mình thay đổi hoàn toàn theo:
số người xem,
thì mình phải nhìn:
dục đối với sự chú ý.
Một người thật sự cần nghe vẫn là:
một con người.
32. ỨNG DỤNG 7 – VỚI VIỆC LÀM PHẬT SỰ
Làm được nhiều:
không cần ai cũng biết.
Làm được ít:
không tự ti.
Cái quan trọng:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 236
đúng Pháp, đúng khả năng, đúng tâm.
Đừng để Phật sự trở thành:
sân khấu của cái tôi.
33. ỨNG DỤNG 8 – TRONG GIA ĐÌNH
Thay vì:
“Con phải làm tôi hài lòng,”
đổi thành:
“Tôi làm tròn trách nhiệm, rồi tôn trọng phần đời con phải tự sống.”
Đây là ít đòi hỏi trong tình thương.
34. ỨNG DỤNG 9 – VỚI NGƯỜI KHÁC
Đừng đòi:
ai cũng thích mình.
Ai cũng hiểu mình.
Ai cũng biết ơn.
Ai cũng trả lời.
Ai cũng cư xử như mình mong.
Càng nhiều chữ:
“ai cũng phải,”
càng nhiều cửa cho khổ đi vào.
35. ỨNG DỤNG 10 – VỚI CHÍNH SỰ TU
Không hỏi:
“Bao giờ tôi mới hơn người này?”
Hỏi:
“Hôm nay tham của tôi có nhẹ hơn hôm qua không?”
Đó là thước đo gần Pháp hơn.
36. CÔNG THỨC THỨ NHẤT: ÍT MUỐN – BIẾT ĐỦ – TÂM NHẸ
ÍT MUỐN
Giảm điều không cần thiết.
BIẾT ĐỦ
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 237
Có đúng mức thì dừng.
TÂM NHẸ
Bớt phải:
chạy,
giữ,
so,
sợ mất.
Công thức:
ÍT MUỐN → BIẾT ĐỦ → TÂM NHẸ.
37. CÔNG THỨC THỨ HAI: CẦN – ĐỦ – DỪNG
Trước một món đồ,
một nhu cầu,
một mong muốn:
CẦN?
Tôi có thật sự cần không?
ĐỦ?
Cái đang có đã đủ chưa?
DỪNG
Nếu đủ:
dừng.
Chỉ ba chữ:
CẦN → ĐỦ → DỪNG.
38. CÔNG THỨC THỨ BA: BỚT CHO MÌNH – THÊM CHO PHÁP
Bớt:
đòi hỏi.
Bớt:
hưởng thụ quá mức.
Bớt:
cần được công nhận.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 238
Nhưng thêm:
giới.
tinh tấn.
niệm.
định.
tuệ.
Công thức:
BỚT DỤC – THÊM TU.
39. CÔNG THỨC THỨ TƯ: MUỐN – CÓ – GIỮ – SỢ
Khi thấy mình khổ vì một thứ,
hãy xem mình đang ở đoạn nào:
MUỐN.
CÓ.
GIỮ.
SỢ MẤT.
Thấy được chuỗi này,
mình sẽ hiểu:
cái muốn không kết thúc khi:
có được vật.
Nó thường chuyển thành:
giữ vật.
40. BÀI THỰC HÀNH MỘT NGÀY
Trong một ngày,
mỗi lần nói:
“Tôi muốn…”
hãy dừng một giây.
Hỏi:
“Đây là nhu cầu, thiện nguyện hay tham muốn?”
Không cần đàn áp.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 239
Chỉ phân loại.
Cuối ngày,
mình sẽ ngạc nhiên vì:
cái muốn xuất hiện nhiều đến mức nào.
Đó là bắt đầu thấy tâm.
41. BÀI THỰC HÀNH BẢY NGÀY
NGÀY 1
Không mua một món không cần thiết ngay khi vừa muốn.
NGÀY 2
Một bữa ăn:
dừng khi đủ.
NGÀY 3
Không so tài sản của mình với người khác.
NGÀY 4
Được khen:
chỉ cảm ơn rồi trở về công việc.
NGÀY 5
Làm một việc tốt mà không cần kể.
NGÀY 6
Bỏ bớt một món đồ không cần thiết hoặc sắp xếp lại để thấy mình đã có bao nhiêu.
NGÀY 7
Hỏi:
“Tuần này điều gì tôi từng nghĩ là cần nhưng thật ra không cần?”
42. THỰC HÀNH BUỔI SÁNG
Mỗi sáng có thể đọc:
Hôm nay tôi sẽ nhìn những cái muốn của mình.
Điều cần, tôi dùng đúng mức.
Điều không cần, tôi tập không chạy theo.
Tôi không lấy vật chất, lời khen hay sự chú ý làm thước đo toàn bộ giá trị của mình.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 240
Tôi tập ít dục nhưng không lười tu.
Tôi bớt đòi hỏi cho mình và tăng tinh tấn đối với điều thiện.
43. THỰC HÀNH BUỔI TỐI
Trước khi ngủ hỏi:
Hôm nay tôi muốn điều gì nhiều nhất?
Điều ấy là cần hay chỉ là muốn?
Tôi có so mình với ai không?
Tôi có khó chịu vì không được chú ý không?
Tôi có làm điều thiện nào nhưng lại muốn được biết không?
Có chỗ nào tôi đã nói được: “Như vậy là đủ” không?
Nếu có:
đó là một bước thực hành.
44. CÂU GHI NHỚ THỨ NHẤT
Có ít chưa chắc là ít dục; ít dục nằm ở chỗ tâm bớt đòi hỏi.
45. CÂU GHI NHỚ THỨ HAI
Người giàu nhất không nhất thiết là người có nhiều nhất; có khi là người ít bị chữ “thêm” làm khổ nhất.
46. CÂU GHI NHỚ THỨ BA
Cái muốn thường hứa rằng “có được tôi rồi bạn sẽ đủ”, nhưng khi có rồi nó lại giới thiệu một cái muốn khác.
47. CÂU GHI NHỚ THỨ TƯ
Biết đủ không làm mình ngừng tiến bộ; biết đủ chỉ ngăn tham vọng vô tận ăn hết sự bình an hiện tại.
48. CÂU GHI NHỚ THỨ NĂM
Ít dục với hưởng thụ, nhưng đừng ít tinh tấn với thiện pháp.
49. CÂU GHI NHỚ THỨ SÁU
Không phải thứ mình thích đều là thứ mình cần.
50. CÂU GHI NHỚ THỨ BẢY
Mỗi điều kiện mình thêm vào hạnh phúc là thêm một cánh cửa để bất an bước vào.
51. CÂU GHI NHỚ THỨ TÁM
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 241
Người ít dục thật sự không cần cả danh tiếng rằng mình là người ít dục.
52. CÂU GHI NHỚ THỨ CHÍN
Tu không phải học cách có được tất cả điều mình muốn; tu là học cách không bị tất cả điều mình muốn sai khiến.
53. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
ÍT MUỐN – TÂM ÍT CHẠY.
BIẾT ĐỦ – TÂM ÍT THIẾU.
BỚT SO – TÂM ÍT GANH.
BỚT NẮM – TÂM ÍT SỢ MẤT.
Và xin nhớ lời kinh:
“Pháp này để cho người ít dục, Pháp này không phải để cho người nhiều dục.” (SuttaCentral)
Nguồn: Kinh Đại Tư Niệm của Tôn giả Anuruddha – Anuruddhamahāvitakka Sutta, Tăng Chi Bộ Kinh – Aṅguttara Nikāya, Chương Tám Pháp, kinh số 30, mã quốc tế AN 8.30; bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu; nguyên bản Kinh tạng Pāli. (SuttaCentral)
54. CÂU HỎI LIVESTREAM
1. Theo quý vị, có ít đồ đã chắc là ít dục chưa?
2. Có món gì quý vị từng rất muốn, nhưng sau khi có rồi chỉ vui được vài ngày không?
3. Cái nào khó hơn: kiếm thêm một thứ mình muốn hay tập thấy cái đang có là đủ?
4. Có bao giờ mình đang dùng một món rất tốt, nhưng chỉ vì thấy người khác có món mới hơn mà tự nhiên thấy món của mình không còn tốt nữa không?
5. Theo quý vị, lời khen có thể trở thành một loại “dục” mà mình bị lệ thuộc không?
6. Người làm việc Phật pháp có thể bị dính vào số người nghe, lượt xem và sự kính trọng không? Nếu có thì mình nhận ra bằng cách nào?
7. Trong gia đình, có bao nhiêu cái khổ đến từ câu: “Người này phải sống theo ý tôi”?
8. Quý vị thấy mình đang thiếu thật, hay đang nhìn người khác rồi mới thấy mình thiếu?
9. Theo quý vị, biết đủ có làm con người trở nên lười biếng không, khi ngay trong AN 8.30 Đức Phật đặt biết đủ đi cùng tinh cần tinh tấn? (Buddhism Today)
10. Nếu hôm nay chỉ tập một câu, quý vị có thể hỏi trước mỗi cái muốn: “Cái này tôi thật sự cần, hay chỉ đang muốn?” không?
55. CÂU KẾT ĐỂ ĐỌC TRÊN LIVESTREAM
Kính thưa quý vị,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 242
đôi khi mình nghĩ:
thêm một chút nữa thì sẽ đủ.
Thêm một món.
Thêm một người khen.
Thêm một con số.
Thêm một chút danh.
Nhưng nếu cái tâm:
không biết đủ,
thì con số nào cũng chỉ là:
một trạm nghỉ trước cái muốn tiếp theo.
Đức Phật không dạy mình bỏ hết cuộc sống.
Ngài chỉ cho mình một hướng:
ít dục.
Có nhu cầu thì biết nhu cầu.
Có trách nhiệm thì làm trách nhiệm.
Có việc thiện thì tinh tấn.
Nhưng đừng để cả đời thành:
một cuộc chạy đuổi theo chữ “thêm”.
Bởi nhiều khi bình an không nằm ở:
có thêm.
Nó bắt đầu ngay lúc mình có thể nhìn điều chân chính đang có và nói:
“NHƯ VẬY ĐỦ RỒI.”
Cho nên công thức của bài hôm nay:
CẦN – ĐỦ – DỪNG.
Và công thức của đường tu:
BỚT DỤC – THÊM TU.
Ít muốn cho mình.
Biết đủ với điều kiện sống.
Nhưng không biết đủ với:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 243
giới, định, tuệ và việc đoạn trừ tham sân si.
Đó là hướng rất đẹp mà bài kinh này đang mở ra cho chúng ta.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 244
MỤC 010 - Bài 010 — TÂM TỪ RỘNG LỚN – THƯƠNG MUÔN LOÀI NHƯ MẸ CHE CHỞ CON MỘT 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
“Như tấm lòng người mẹ, Đối với con của mình, Trọn đời lo che chở, Con độc nhất mình sanh. Cũng vậy, đối tất cả Các hữu tình chúng sanh, Hãy tu tập tâm ý, Không hạn lượng rộng lớn.”
2. NGUỒN KINH
Tên kinh: Kinh Từ Bi Tên Pāli: Mettā Sutta Thuộc: Kinh Tập – Sutta Nipāta Bộ: Tiểu Bộ Kinh – Khuddaka Nikāya Phẩm: Phẩm Rắn – Uragavagga Số kinh: Kinh thứ 8 Kệ: Kệ 149 trong cách đánh số của bản Kinh Tập Mã tra cứu quốc tế: Snp 1.8 Bản dịch tiếng Việt: Hòa thượng Thích Minh Châu Nguyên bản: Kinh tạng Pāli
Bản Kinh Tập do Hòa thượng Thích Minh Châu dịch ghi rõ bài Kinh Từ Bi – Mettā Sutta, trong đó kệ 149 dùng chính hình ảnh người mẹ che chở đứa con độc nhất để ví cho tâm từ không hạn lượng đối với tất cả hữu tình. Kinh Tập là một tác phẩm thuộc Tiểu Bộ Kinh. (Khemarama)
3. TỪ KHÓA VIỆT – PĀLI – NGHĨA
TÂM TỪ – METTĀ – LÒNG MONG MUỐN CHÚNG SANH ĐƯỢC AN LÀNH
Tâm từ – mettā là lòng thương rộng lớn, mong người và chúng sanh được an ổn, không mang ác ý muốn làm hại.
Tâm từ không phải chỉ là:
thích một người.
Không phải chỉ là:
thương người thân.
Không phải:
ai đối xử tốt với mình thì mình mới thương.
Tâm từ trong lời kinh đi xa hơn:
KHÔNG HẠN LƯỢNG.
Nghĩa là không bó lại trong một nhóm:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 245
người thân của tôi,
người cùng ý với tôi,
người thương tôi,
người kính tôi.
Mà mở rộng dần đến:
tất cả hữu tình.
NGƯỜI MẸ – MĀTĀ – MẸ
Hình ảnh Đức Phật dùng là:
người mẹ.
Tình mẹ rất dễ hiểu.
Người mẹ có thể:
thiếu ngủ vì con.
chịu khó vì con.
lo khi con bệnh.
hy sinh nhiều điều vì con.
Cho nên Đức Phật lấy một tình cảm con người dễ cảm nhận để chỉ một phẩm chất tâm lớn hơn.
Nhưng điểm quan trọng là:
không dừng tình thương ở một đứa con.
Ngài lấy tình thương ấy làm hình ảnh để mở tâm ra:
tất cả chúng sanh.
CON MỘT – EKA-PUTTA – ĐỨA CON DUY NHẤT
“Con độc nhất” làm hình ảnh mạnh hơn.
Nếu một người mẹ chỉ có một đứa con,
mức độ bảo vệ thường rất lớn.
Đức Phật dùng hình ảnh ấy để nói:
hãy nuôi một tâm không hạn lượng đối với chúng sanh.
Không phải:
một chút thương.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 246
Không phải:
thương khi thuận.
Mà hướng tới một tâm rất rộng.
CHE CHỞ – ANURAKKHE – BẢO HỘ, GIỮ GÌN
“Che chở” không có nghĩa:
chiều mọi điều.
Một người mẹ thương con thật sự có khi phải:
ngăn con làm điều xấu.
Không cho con thứ gây hại.
Dạy con chịu trách nhiệm.
Vì vậy thương trong Phật pháp không phải:
ai muốn gì mình cũng cho.
Tâm từ phải đi với:
trí tuệ.
HỮU TÌNH – BHŪTA – CÁC LOÀI CHÚNG SANH, CÁC LOÀI HỮU TÌNH
“Hữu tình” là các loài có sự sống, các chúng sanh.
Điều đặc biệt của Kinh Từ Bi là tâm từ không chỉ hướng tới:
người mình biết.
Không chỉ con người.
Mà mở rộng đến:
các loài hữu tình.
Đây là lý do bài kinh có chiều rất rộng.
KHÔNG HẠN LƯỢNG – APARIMĀṆA – KHÔNG ĐO LƯỜNG, KHÔNG GIỚI HẠN
Đây là chữ quan trọng nhất của bài.
Tâm từ thông thường rất dễ có giới hạn.
Người này thương tôi → tôi thương.
Người này chống tôi → tôi không thương.
Người này cùng nhóm tôi → thương.
Người kia khác tôi → lạnh.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 247
Nhưng tâm từ Phật dạy hướng tới:
KHÔNG HẠN LƯỢNG.
Không phải nghĩa là mình phải đối xử với tất cả mọi người giống hệt nhau.
Mà là:
không mong ai phải khổ chỉ vì họ không thuộc về phía mình.
4. GIẢI TỪNG CỤM
“NHƯ TẤM LÒNG NGƯỜI MẸ”
Đức Phật không bắt đầu bằng một khái niệm trừu tượng.
Ngài dùng:
một hình ảnh.
Người mẹ.
Tại sao?
Bởi tình mẹ là thứ người nghe có thể cảm.
Có tình thương không cần điều kiện nhiều.
Con bệnh:
mẹ lo.
Con khóc:
mẹ thức.
Con yếu:
mẹ bảo vệ.
Tình ấy làm cho người mẹ:
đặt nỗi đau của con vào trong sự quan tâm của mình.
Tâm từ cũng vậy.
Không chỉ hỏi:
“Tôi có vui không?”
Mà còn biết hỏi:
“Việc tôi làm có làm người khác khổ không?”
“ĐỐI VỚI CON CỦA MÌNH”
Đây là tình thương rất gần.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 248
Con của mình.
Người của mình.
Nhưng bài kinh không dừng ở đó.
Đây mới là điều quan trọng.
Nếu chỉ thương:
con mình,
nhà mình,
người mình,
thì tình thương vẫn còn hẹp.
Đức Phật dùng cái gần nhất làm:
điểm xuất phát.
Rồi mở ra:
tất cả hữu tình.
“TRỌN ĐỜI LO CHE CHỞ”
Cụm này diễn tả:
sự bền bỉ.
Không phải thương năm phút.
Không phải hôm nay thương,
mai giận thì muốn hại.
Tâm từ phải được:
tu tập.
Nghĩa là nuôi lâu dài.
Tâm từ lúc đầu có thể yếu.
Nhưng càng tu:
càng bền.
“CON ĐỘC NHẤT MÌNH SANH”
Đức Phật làm hình ảnh tình thương mạnh lên đến mức rất cao.
Một đứa con duy nhất.
Người mẹ sẽ rất quý.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 249
Nhưng lời kinh không nói:
chỉ hãy thương con mình như vậy.
Mà dùng tình ấy để dẫn tới câu sau:
“CŨNG VẬY, ĐỐI TẤT CẢ CÁC HỮU TÌNH CHÚNG SANH…”
Đây chính là bước vượt từ:
tình thương riêng
sang:
từ tâm rộng lớn.
“CŨNG VẬY, ĐỐI TẤT CẢ CÁC HỮU TÌNH CHÚNG SANH”
“Tất cả” là chữ rất lớn.
Không chỉ:
người tốt với mình.
Không chỉ:
Phật tử.
Không chỉ:
người cùng tôn giáo.
Không chỉ:
người cùng quốc gia.
Không chỉ:
người mình thích.
Mà:
tất cả hữu tình.
Điều này không có nghĩa mình phải:
thân thiết với tất cả.
Tin tất cả.
Giao tài sản cho tất cả.
Sống chung với tất cả.
Không.
Tâm từ là:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 250
không mong họ khổ.
“HÃY TU TẬP TÂM Ý”
Tâm từ không phải tự nhiên lúc nào cũng có.
Phải:
tu.
Người mình thương:
dễ từ.
Người lạ:
khó hơn.
Người làm mình đau:
khó nhất.
Vì vậy mới gọi là:
tu tập.
Nếu tự nhiên đã làm được hết,
thì không cần tu.
“KHÔNG HẠN LƯỢNG RỘNG LỚN”
Đây là đích của đoạn kinh.
Tâm từ càng tu càng:
mở.
Từ:
tôi.
đến:
gia đình tôi.
rồi:
người quen.
rồi:
người không quen.
rồi:
người khó thương.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 251
rồi:
các loài hữu tình.
Cuối cùng:
không hạn lượng.
Đó là hướng phát triển của tâm.
5. GHÉP NGHĨA TOÀN CÂU
Ghép lại, lời kinh có thể hiểu:
Giống như người mẹ hết lòng che chở đứa con duy nhất của mình, người tu cũng phải nuôi lớn một tâm từ rộng rãi đối với tất cả hữu tình, không giới hạn tình thương trong những người mình quen, mình thích hay thuộc về phía mình.
Có thể nhớ thật ngắn:
THƯƠNG TỪ MỘT NGƯỜI.
MỞ RA NHIỀU NGƯỜI.
RỒI MỞ ĐẾN TẤT CẢ CHÚNG SANH.
Đó là:
TỪ TÂM KHÔNG HẠN LƯỢNG.
6. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ GÌ?
Kính thưa quý vị,
điều rất sâu của lời kinh nằm ở chỗ:
TỪ BI KHÔNG CHỈ LÀ CẢM XÚC.
Nó là:
một cách sống.
Nếu mình nói:
“Tôi thương chúng sanh,”
nhưng lời mình ngày nào cũng:
làm đau người,
thì phải xem lại.
Nếu mình nói:
“Tôi có tâm từ,”
nhưng chỉ cần người khác trái ý là muốn họ thất bại,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 252
thì tâm từ còn phải tu rất nhiều.
Nếu mình thương người nghèo,
nhưng khinh người mình không thích,
thì tâm từ còn:
có biên giới.
Lời Phật hướng tới:
không hạn lượng.
7. TÂM TỪ KHÁC ÁI LUYẾN
Đây là điểm rất quan trọng.
Tình thương có chấp thường nói:
“Bạn phải thuộc về tôi.”
Tâm từ nói:
“Mong bạn được an.”
Ái luyến nói:
“Bạn phải sống theo điều tôi muốn.”
Tâm từ nói:
“Tôi muốn điều chân thật có lợi cho bạn.”
Ái luyến có thể chuyển thành sân rất nhanh khi:
không được đáp lại.
Tâm từ rộng hơn.
Vì không đặt trọng tâm ở:
“tôi nhận được gì.”
8. TÂM TỪ KHÔNG PHẢI NUÔNG CHIỀU
Người mẹ thương con,
nhưng nếu con cầm dao:
phải lấy dao xuống.
Nếu con muốn làm điều sai:
phải ngăn.
Vì vậy từ bi không phải:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 253
“cứ làm gì cũng được.”
Có lúc tâm từ biểu hiện bằng:
cho.
Có lúc:
không cho.
Có lúc:
ôm.
Có lúc:
đặt ranh giới.
Có lúc:
nói nhẹ.
Có lúc:
nói rất rõ.
Điểm quan trọng là:
không xuất phát từ ác ý.
9. VÍ DỤ 1 – MỘT NGƯỜI MẸ VỚI CON
Con bệnh.
Người mẹ thức đêm.
Không ai bắt.
Không cần ai trả công.
Vì sao?
Vì:
thương.
Nếu tâm từ đối với chúng sanh được nuôi lớn,
việc giúp người cũng bớt tính toán:
“Tôi được gì?”
Đó là chiều sâu của ví dụ.
10. VÍ DỤ 2 – NGƯỜI MÌNH KHÔNG ƯA
Rất dễ nói:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 254
“Mong tất cả chúng sanh an vui.”
Nhưng thử đặt người mình ghét nhất vào chữ:
“tất cả.”
Tâm lập tức lộ ra.
Nếu mình nói:
“Tất cả trừ người ấy,”
thì tâm từ chưa:
không hạn lượng.
Không cần ép phải thương ngay.
Nhưng ít nhất:
đừng mong họ khổ.
Đó là bước đầu.
11. VÍ DỤ 3 – NGƯỜI NÓI XẤU MÌNH
Tâm từ không yêu cầu:
mình phải nói người đó đúng.
Có thể đính chính.
Nhưng không cần:
mong họ mất hết danh dự.
Có thể nói:
“Việc này chưa đúng.”
Rồi dừng.
Đó là từ đi cùng trí.
12. VÍ DỤ 4 – NGƯỜI CẠNH TRANH
Người kia thành công.
Nếu mình ganh:
tâm hẹp lại.
Tập từ:
“Mong điều tốt họ đang làm thực sự đem lợi ích.”
Không phải vì vậy mà mình dừng nỗ lực.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 255
Mình vẫn làm tốt phần mình.
Nhưng không cần:
người kia phải thất bại để mình thấy mình thành công.
13. VÍ DỤ 5 – TRONG GIA ĐÌNH
Mình thương con.
Nhưng có khi thương biến thành:
kiểm soát.
“Mẹ thương nên con phải…”
“Cha thương nên con phải…”
Nếu con không làm:
mình giận.
Tâm từ phải có trí để hỏi:
“Điều này thật sự vì lợi ích của con hay vì tôi muốn con sống đúng hình ảnh tôi mong?”
Đây là một câu hỏi rất quan trọng.
14. VÍ DỤ 6 – NGƯỜI GIÀ
Một người lớn tuổi:
đi chậm,
nói chậm,
nhớ chậm.
Nếu mình vội:
dễ bực.
Nhưng thử nghĩ:
một ngày mình cũng:
già.
Tâm từ giúp mình:
chậm lại với người đang chậm.
15. VÍ DỤ 7 – NGƯỜI BỆNH
Người bệnh có khi:
khó tính.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 256
cáu.
lặp đi lặp lại.
Người chăm rất dễ mệt.
Tâm từ không làm mệt biến mất.
Nhưng giúp mình nhớ:
người kia đang khổ trong thân của họ.
Từ đó lời nói có thể mềm hơn.
16. VÍ DỤ 8 – NGƯỜI LẠ TRÊN MẠNG
Một tài khoản xa lạ.
Rất dễ:
mắng.
Bởi không thấy mặt.
Nhưng sau màn hình vẫn là:
một người có tâm.
Nếu một câu không cần thiết phải làm đau,
đừng viết.
Đó là tâm từ trong đời sống hiện đại.
17. VÍ DỤ 9 – ĐỘNG VẬT
Kinh nói:
các hữu tình chúng sanh.
Vì vậy tâm từ không chỉ hướng tới người.
Khi gặp một con vật:
không nhất thiết phải yêu thích.
Nhưng:
đừng cố ý hành hạ.
Đó là mức rất căn bản của từ.
18. VÍ DỤ 10 – NGƯỜI ĐÃ LÀM MÌNH TỔN THƯƠNG
Đây là bài khó nhất.
Không cần bắt đầu:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 257
“Tôi thương người ấy như mẹ thương con.”
Quá khó.
Có thể bắt đầu:
“Tôi không muốn trả thù.”
Rồi:
“Tôi không mong họ gặp nạn.”
Rồi:
“Mong họ bớt tham sân si để không làm khổ người nữa.”
Từ được tu theo từng bước.
19. TÂM TỪ KHÔNG HẠN LƯỢNG KHÔNG CÓ NGHĨA ĐỐI XỬ MỌI NGƯỜI GIỐNG NHAU
Đây là chỗ phải phân biệt.
Mình có trách nhiệm đặc biệt với:
cha mẹ,
con,
người bệnh mình đang chăm,
người mình đã nhận trách nhiệm.
Không thể nói:
“Tôi thương tất cả như nhau nên không cần chăm mẹ tôi.”
Đó là hiểu sai.
Tâm từ không hạn lượng nói về:
không ác ý.
Còn trách nhiệm thực tế vẫn tùy:
quan hệ,
bổn phận,
duyên.
20. THƯƠNG RỘNG KHÔNG CÓ NGHĨA BỎ NGƯỜI GẦN
Có người muốn cứu cả thế giới,
nhưng người trong nhà nói chuyện với mình thì:
khó chịu.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 258
Như vậy phải nhìn.
Tâm từ nên bắt đầu từ:
những người mình đang tiếp xúc hằng ngày.
Không cần đi tìm chúng sanh thật xa để thương,
trong khi:
người ngay bên cạnh mình đang chịu lời ác.
21. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ THÊM ĐIỀU GÌ?
Ngay trước kệ người mẹ, Kinh Từ Bi dạy không lừa dối, không khinh mạn và không vì giận hờn hay chống đối mà mong người khác đau khổ; ngay sau đó kinh dạy phát triển tâm từ không hạn lượng khắp thế giới, phía trên, phía dưới và bề ngang. (BuddhaSasana)
Như vậy mạch kinh rất rõ:
KHÔNG LỪA.
KHÔNG KHINH.
KHÔNG MONG NGƯỜI KHỔ.
RỒI MỞ TÂM TỪ KHÔNG HẠN LƯỢNG.
Tâm từ không chỉ nằm ở cảm xúc.
Nó đi cùng:
đạo đức.
22. KHÔNG LỪA DỐI CŨNG LÀ TÂM TỪ
Nếu mình thương người,
không lừa họ.
Lừa để lấy lợi cho mình:
tức là đẩy thiệt cho người.
Vì vậy chân thật cũng là:
một cách bảo vệ người.
23. KHÔNG KHINH MẠN CŨNG LÀ TÂM TỪ
Khinh người làm tâm mình đứng:
cao hơn.
Từ tâm làm mình biết:
người kia cũng muốn an,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 259
cũng có nỗi đau,
cũng có nhân duyên riêng.
Không cần cho rằng ai cũng đúng.
Nhưng không cần:
hạ nhân phẩm người khác để nâng mình lên.
24. KHÔNG MONG NGƯỜI KHỔ LÀ MỘT TIÊU CHUẨN RẤT RÕ
Mình có thể kiểm tâm từ bằng câu:
“Tôi có đang mong ai đó khổ không?”
Nếu có:
đó là chỗ tu.
Không cần xấu hổ.
Chỉ thấy.
Rồi chuyển:
“Mong người này bớt vô minh và bất thiện.”
Đó là một hướng lành hơn.
25. TÂM TỪ KHÔNG CHỈ LÀ CẦU NGUYỆN
Nếu nói:
“Mong mọi người an vui,”
nhưng chính mình đang:
gian dối,
nói ác,
lợi dụng,
thì lời cầu chưa đủ.
Tâm từ phải đi ra:
hành động.
Không hại.
Không lừa.
Không làm nhục.
Biết giúp trong khả năng.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 260
Đó là từ được sống.
26. TÂM TỪ VÀ LỜI NÓI
Một cách tu rất rõ:
trước khi nói câu khó,
hỏi:
“Câu này có thể đúng nhưng cách nói có cần làm đau đến vậy không?”
Có khi cùng một sự thật,
nói được bằng:
hai cách.
Chọn cách:
ít tổn thương hơn mà vẫn rõ.
Đó là từ.
27. TÂM TỪ VÀ RANH GIỚI
Nếu người khác nhiều lần làm hại,
tâm từ không yêu cầu:
mở cửa mãi.
Có thể nói:
“Tôi không hận bạn, nhưng tôi không thể tiếp tục để việc này xảy ra.”
Đó là:
từ + trí.
28. TÂM TỪ VÀ CÔNG LÝ
Nếu có bất công,
vẫn có thể bảo vệ người bị hại.
Từ bi không có nghĩa:
đứng nhìn.
Nhưng khi hành động,
mục tiêu là:
ngăn khổ.
Không phải:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 261
tạo thêm một người để mình ghét.
29. TÂM TỪ VỚI NGƯỜI GÂY HẠI KHÔNG BẰNG TÂM TỪ VỚI HÀNH VI GÂY HẠI
Có thể mong:
người ấy được chuyển hóa.
Nhưng không mong:
hành vi sai tiếp tục.
Đây là điểm rất quan trọng.
Thương người không đồng nghĩa:
ủng hộ việc sai của họ.
30. TÂM TỪ VỚI CHÍNH MÌNH
Nếu mong mọi chúng sanh được an,
mình cũng là một chúng sanh.
Cho nên không được quên:
từ với chính mình.
Nhưng từ với mình không phải:
chiều tham.
Mà là:
không tự hành hạ.
không tự khinh.
biết nghỉ đúng lúc.
biết sửa khi sai.
biết chăm thân đúng mức.
Đó là từ có trí.
31. NGƯỜI KHÔNG BIẾT TỪ VỚI MÌNH DỄ BIẾN SỰ TU THÀNH TỰ HÀNH HẠ
Sai một lỗi:
tự mắng mình cả tháng.
Tu chưa tốt:
tự ghét.
Thấy người khác hơn:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 262
tự coi mình vô dụng.
Đó chưa phải hướng lành.
Nhận sai.
Sửa.
Tinh tấn.
Nhưng không cần:
đập chính mình.
32. VÍ DỤ 11 – KHI MÌNH LỠ LÀM SAI
Có người nói:
“Tôi tệ quá.”
Tâm từ với mình nói:
“Việc đó sai. Tôi phải sửa.”
Hai câu rất khác.
Một câu kết án:
con người.
Một câu nhìn:
hành vi.
Từ bi giúp mình sửa mà không tự hủy.
33. VÍ DỤ 12 – KHI NGƯỜI KHÁC KHÔNG ĐỒNG QUAN ĐIỂM
Người khác nghĩ khác mình.
Không có nghĩa:
họ là kẻ thù.
Tâm từ giúp:
phản biện ý kiến mà không ghét con người.
Đây là điều rất quan trọng trong:
gia đình,
xã hội,
mạng xã hội,
và cả đời sống tôn giáo.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 263
34. VÍ DỤ 13 – KHI GIẢNG PHÁP BỊ HỎI KHÓ
Một người hỏi:
“Nguồn kinh đâu?”
Tâm từ với người hỏi:
không xem họ là:
người chống mình.
Có thể họ đang:
muốn học cho chắc.
Nếu biết:
đưa nguồn.
Nếu chưa biết:
nói chưa biết.
Tâm từ đi cùng:
khiêm hạ.
35. VÍ DỤ 14 – NGƯỜI HAY PHÁ LIVESTREAM
Có người vào cố tình khiêu khích.
Tâm từ không bắt mình:
để họ phá mãi.
Có thể:
nhắc.
giới hạn.
chặn nếu cần để bảo vệ cộng đồng.
Nhưng sau khi xử lý:
không cần ngồi chửi họ thêm.
Đây là:
ranh giới không sân.
36. ỨNG DỤNG 1 – TẬP TỪ VỚI NGƯỜI DỄ TRƯỚC
Đừng bắt đầu bằng người mình hận nhất.
Bắt đầu với:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 264
người mình quý.
Nói trong tâm:
“Mong người này được an.”
Sau đó:
người trung tính.
Rồi:
người mình hơi khó chịu.
Tâm từ cần:
được huấn luyện từng bước.
37. ỨNG DỤNG 2 – MỖI NGÀY MỘT NGƯỜI
Mỗi ngày chọn một người.
Có thể là:
người phục vụ,
hàng xóm,
người chạy xe ngoài đường,
một người lạ.
Trong tâm chỉ nói:
“Mong người này được an.”
Đó là cách mở tâm khỏi:
chỉ người của mình.
38. ỨNG DỤNG 3 – KHI SÂN
Khi sân,
đừng ép:
“Phải yêu họ.”
Chỉ bắt đầu:
“ĐỪNG LÀM HỌ ĐAU THÊM.”
Nếu làm được,
tâm từ đã bắt đầu chặn sân.
39. ỨNG DỤNG 4 – KHI MUỐN TRẢ ĐŨA
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 265
Hỏi:
“Nếu người này khổ hơn, chuyện cũ của tôi có mất không?”
Không.
Vậy trả đũa chỉ:
thêm khổ mới.
Tâm từ chọn:
dừng chuỗi.
40. ỨNG DỤNG 5 – KHI MUỐN NÓI XẤU
Trước khi nói:
hỏi:
“Việc này có ích thật hay chỉ làm người kia đau?”
Nếu chỉ là làm đau:
dừng.
Đó là một cách rất cụ thể để tu từ.
41. ỨNG DỤNG 6 – KHI THẤY CON VẬT
Không nhất thiết:
ôm,
bế,
nuôi.
Chỉ tập:
không cố ý làm hại.
Đây cũng là tâm từ.
42. ỨNG DỤNG 7 – KHI NGƯỜI KHÁC THÀNH CÔNG
Thay vì:
“Tại sao không phải tôi?”
tập:
“Mong điều tốt này đem lợi ích.”
Tâm rộng một chút.
Đó là từ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 266
43. ỨNG DỤNG 8 – TRONG GIA ĐÌNH
Mỗi ngày thử một câu:
“Hôm nay tôi có thể làm điều gì để người trong nhà bớt khổ một chút?”
Không cần lớn.
Một lời nhẹ.
Một việc nhỏ.
Một lần không cãi.
Một lần lắng nghe.
Tâm từ phải đi vào nhà trước khi đi khắp thế giới.
44. CÔNG THỨC THỨ NHẤT: THƯƠNG – MỞ – KHÔNG HẠI
THƯƠNG
Bắt đầu từ người gần.
MỞ
Mở dần ra người khác.
KHÔNG HẠI
Giữ nền căn bản là không muốn làm đau.
Công thức:
THƯƠNG → MỞ → KHÔNG HẠI.
45. CÔNG THỨC THỨ HAI: TỪ – TRÍ – RANH GIỚI
TỪ
Không mong người khổ.
TRÍ
Biết đúng sai.
RANH GIỚI
Không để việc sai tiếp tục.
Công thức:
TỪ + TRÍ + RANH GIỚI.
Đây là công thức rất quan trọng để tránh hiểu tâm từ thành:
yếu đuối.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 267
46. CÔNG THỨC THỨ BA: KHÔNG LỪA – KHÔNG KHINH – KHÔNG MONG NGƯỜI KHỔ
Đây là ba điều đi ngay trước hình ảnh người mẹ trong Kinh Từ Bi. (BuddhaSasana)
KHÔNG LỪA.
KHÔNG KHINH.
KHÔNG MONG NGƯỜI KHỔ.
Nếu làm được ba điều ấy,
tâm từ đã đi vào đời sống rất rõ.
47. CÔNG THỨC THỨ TƯ: GẦN – XA – KHÓ THƯƠNG – TẤT CẢ
Tập từ theo hướng:
GẦN
Người mình thương.
XA
Người không quen.
KHÓ THƯƠNG
Người mình khó chịu.
TẤT CẢ
Mở rộng không hạn lượng.
Công thức:
GẦN → XA → KHÓ THƯƠNG → TẤT CẢ.
48. BÀI THỰC HÀNH MỘT PHÚT
Ngồi yên.
Thở bình thường.
Nhớ một người mình thương.
Nói:
“Mong người này được an.”
Sau đó nhớ một người trung tính:
“Mong người này được an.”
Nếu tâm đủ nhẹ,
nhớ một người hơi khó chịu:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 268
“Mong người này bớt khổ, bớt tham sân si.”
Không ép.
Một phút thôi.
49. BÀI THỰC HÀNH KHI ĐANG RẤT GIẬN
Không cần ngay lập tức cầu:
“Mong người ấy hạnh phúc.”
Nếu câu đó giả,
đừng ép.
Chỉ nói:
“Tôi sẽ không làm điều gì trong cơn giận để làm người này đau thêm.”
Đó là bước một.
50. BÀI THỰC HÀNH BẢY NGÀY
NGÀY 1
Khởi tâm từ với một người mình thương.
NGÀY 2
Với một người trung tính.
NGÀY 3
Không nói một câu ác với người mình khó chịu.
NGÀY 4
Không mong điều xấu cho người mình không thích.
NGÀY 5
Làm một việc tốt không cần được biết ơn.
NGÀY 6
Tập tâm từ với một loài vật.
NGÀY 7
Ngồi vài phút và mở rộng:
“Mong tất cả chúng sanh được an lành.”
51. THỰC HÀNH BUỔI SÁNG
Mỗi sáng có thể đọc:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 269
Hôm nay tôi tập không làm đau người bằng lời không cần thiết.
Tôi không muốn ai khổ chỉ vì họ không giống ý tôi.
Tôi giữ ranh giới nhưng không nuôi ác ý.
Tôi tập mở lòng từ người gần đến người xa.
Tôi nhớ tâm từ phải đi cùng trí.
52. THỰC HÀNH BUỔI TỐI
Trước khi ngủ hỏi:
Hôm nay tôi đã mong ai khổ chưa?
Tôi có nói câu nào chỉ để làm người khác đau không?
Tôi có khinh ai không?
Tôi có lừa hay che sự thật để lấy lợi không?
Tôi có làm được một việc từ tâm không?
Tâm tôi hôm nay rộng hơn hay hẹp hơn hôm qua?
53. CÂU GHI NHỚ THỨ NHẤT
Tâm từ không bắt đầu từ việc phải yêu tất cả mọi người; nó có thể bắt đầu từ việc không muốn làm ai đau thêm.
54. CÂU GHI NHỚ THỨ HAI
Tình thương có chấp hỏi: “Bạn thuộc về tôi không?” Tâm từ hỏi: “Bạn có được an không?”
55. CÂU GHI NHỚ THỨ BA
Thương không có trí dễ thành nuông chiều; trí không có thương dễ thành lạnh cứng.
56. CÂU GHI NHỚ THỨ TƯ
Người mẹ bảo vệ con không phải bằng cách cho con làm mọi điều; tâm từ cũng vậy.
57. CÂU GHI NHỚ THỨ NĂM
Không cần thân với tất cả mọi người để có tâm từ; chỉ cần đừng lấy ác ý làm cách sống.
58. CÂU GHI NHỚ THỨ SÁU
Tâm từ thật không chỉ nằm trong câu cầu nguyện; nó phải đi ra lời nói, cách đối xử và việc mình không cố ý gây hại.
59. CÂU GHI NHỚ THỨ BẢY
Nếu chữ “tất cả chúng sanh” vẫn loại trừ đúng người mình ghét nhất, thì đó chính là chỗ tâm từ còn phải tu.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 270
60. CÂU GHI NHỚ THỨ TÁM
Ranh giới giữ mình an toàn; sân hận muốn người kia đau. Hai điều đó không giống nhau.
61. CÂU GHI NHỚ THỨ CHÍN
Mong người khác bớt tham sân si cũng là một hình thức rất thực tế của tâm từ.
62. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
THƯƠNG NGƯỜI GẦN – DỄ.
THƯƠNG NGƯỜI XA – KHÓ HƠN.
KHÔNG MONG NGƯỜI LÀM MÌNH ĐAU PHẢI KHỔ – ĐÓ MỚI LÀ CHỖ TU SÂU.
Và nhớ lời Phật:
“Như tấm lòng người mẹ, Đối với con của mình, Trọn đời lo che chở, Con độc nhất mình sanh. Cũng vậy, đối tất cả Các hữu tình chúng sanh, Hãy tu tập tâm ý, Không hạn lượng rộng lớn.”
Nguồn: Kinh Từ Bi – Mettā Sutta, Kinh Tập – Sutta Nipāta, Tiểu Bộ Kinh – Khuddaka Nikāya, Phẩm Rắn, kinh thứ 8, mã quốc tế Snp 1.8; bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu; nguyên bản Kinh tạng Pāli. (Khemarama)
63. CÂU HỎI LIVESTREAM
1. Theo quý vị, tâm từ có bắt buộc phải thích người mình đang không thích không?
2. Có người nào quý vị chưa thể thương, nhưng đã có thể không mong họ gặp điều xấu chưa?
3. Theo quý vị, thương một người và chiều mọi điều người ấy muốn có giống nhau không?
4. Có bao giờ vì thương con mà mình muốn kiểm soát luôn cuộc đời của con không?
5. Nếu một người làm sai, mình có thể đặt ranh giới mà vẫn không hận họ được không?
6. Quý vị thấy điều nào khó hơn: nói “mong tất cả chúng sanh an vui” hay thật sự không mong người mình ghét phải khổ?
7. Theo quý vị, tâm từ bắt đầu trong thiền hay bắt đầu ngay từ cách mình nói với người trong nhà?
8. Có khi nào chúng ta rất thương người ở xa nhưng lại nói những lời rất nặng với người gần nhất không?
9. Nếu tâm từ là không hạn lượng, mình phải làm gì với sự phân biệt “người của tôi – người không phải của tôi”?
10. Hôm nay quý vị có thể chọn một người mình hơi khó chịu và chỉ tập một câu: “Mong người này bớt tham, sân, si và bớt khổ” được không?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 271
64. CÂU KẾT ĐỂ ĐỌC TRÊN LIVESTREAM
Kính thưa quý vị,
Đức Phật không bảo chúng ta chỉ thương người dễ thương.
Nếu chỉ người tốt với mình mình mới thương,
thì tình thương ấy vẫn còn phụ thuộc vào:
điều kiện.
Kinh Từ Bi mở ra một hướng lớn hơn.
Từ hình ảnh rất gần:
một người mẹ bảo vệ đứa con duy nhất,
Đức Phật đưa tâm mình đi ra:
tất cả hữu tình chúng sanh.
Điều đó không có nghĩa:
tin tất cả.
gần tất cả.
để ai cũng có quyền làm mình đau.
Mà nghĩa là:
ĐỪNG MONG AI PHẢI KHỔ CHỈ VÌ HỌ KHÔNG THUỘC VỀ PHÍA MÌNH.
Người sai:
mình vẫn biết sai.
Việc cần ngăn:
mình vẫn ngăn.
Ranh giới cần giữ:
mình vẫn giữ.
Nhưng trong lòng,
đừng để sân biến thành:
ước muốn hủy hoại người.
Cho nên công thức của bài hôm nay rất đơn giản:
TỪ + TRÍ + RANH GIỚI.
Và nếu chưa thể khởi một tâm từ thật lớn,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 272
hãy bắt đầu bằng điều rất nhỏ:
KHÔNG LỪA.
KHÔNG KHINH.
KHÔNG MONG NGƯỜI KHỔ.
Rồi từng ngày,
tâm sẽ rộng hơn.
Từ một người,
đến nhiều người.
Từ người thương,
đến người lạ.
Từ người lạ,
đến người khó thương.
Và đó chính là con đường đi từ:
tình thương có giới hạn
đến:
tâm từ không hạn lượng.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 273
MỤC 011 - Bài 011 — HIẾU DƯỠNG CHA MẸ – KHÔNG CHỈ BẰNG LỜI, MÀ BẰNG TRÁCH NHIỆM 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
Đức Phật dạy người con phải phụng dưỡng cha mẹ như phương Đông bằng những cách:
“Được nuôi dưỡng, tôi sẽ nuôi dưỡng lại cha mẹ; tôi sẽ làm bổn phận đối với cha mẹ; tôi sẽ gìn giữ gia đình và truyền thống; tôi bảo vệ tài sản thừa tự; tôi sẽ làm tang lễ khi cha mẹ qua đời.” (BuddhaSasana)
2. NGUỒN KINH
Tên kinh: Kinh Giáo Thọ Thi-ca-la-việt Tên Pāli: Siṅgāla Sutta hay Siṅgālovāda Sutta Thuộc: Trường Bộ Kinh – Dīgha Nikāya Số kinh: Kinh số 31 Mã tra cứu quốc tế: DN 31 Bản dịch tiếng Việt: Hòa thượng Thích Minh Châu Nguyên bản: Kinh tạng Pāli
Trong kinh này, Đức Phật giải thích sáu phương không chỉ bằng nghi lễ lễ bái, mà bằng những quan hệ đạo đức và trách nhiệm thực tế. Phương Đông được giải thích là cha mẹ; phương Nam là sư trưởng; phương Tây là vợ con; phương Bắc là bạn bè; phương dưới là người làm công; phương trên là các vị Sa-môn, Bà-la-môn. (BuddhaSasana)
Riêng đối với cha mẹ, kinh nêu năm phương diện người con phụng dưỡng cha mẹ, và năm phương diện cha mẹ thương tưởng, hướng dẫn con. (BuddhaSasana)
3. TỪ KHÓA VIỆT – PĀLI – NGHĨA
CHA MẸ – MĀTĀPITAR – MẸ VÀ CHA
Cha mẹ – mātāpitar là hai bậc sinh thành và dưỡng dục.
Khi nói đến hiếu trong Phật pháp, mình không nên chỉ nghĩ:
cúng giỗ.
lễ bái.
nói lời biết ơn.
Những điều ấy có giá trị trong hoàn cảnh thích hợp.
Nhưng kinh DN 31 đưa hiếu vào:
ĐỜI SỐNG THỰC TẾ.
Cha mẹ đã nuôi mình.
Khi cha mẹ già:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 274
mình có trách nhiệm phụng dưỡng lại.
Đây là điểm rất rõ của lời kinh. (BuddhaSasana)
PHỤNG DƯỠNG – UPAṬṬHĀNA – CHĂM SÓC, HẦU HẠ, HỖ TRỢ
Phụng dưỡng không chỉ là:
gửi tiền.
Có người cha mẹ có đủ tiền nhưng thiếu:
người hỏi thăm.
Thiếu:
người đưa đi khám.
Thiếu:
một bữa cơm ngồi chung.
Thiếu:
người chịu nghe họ nói lại một chuyện cũ.
Có cha mẹ cần vật chất.
Có cha mẹ cần chăm sóc.
Có cha mẹ cần:
sự hiện diện.
Vì vậy phụng dưỡng phải nhìn:
nhu cầu thật của cha mẹ.
BỔN PHẬN – KICCA – VIỆC CẦN PHẢI LÀM, TRÁCH NHIỆM
“Làm bổn phận” nghĩa là:
không chỉ sống theo cảm xúc.
Hôm nay vui thì chăm.
Mai bận thì thôi.
Mà phải hiểu:
có những việc trong đời mình làm bởi:
trách nhiệm.
Cha mẹ già yếu,
mình có thể mệt.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 275
Nhưng có những phần:
không thể chỉ nói:
“Tôi không thích.”
Bổn phận giúp tình thương có:
hình thức cụ thể.
GÌN GIỮ GIA ĐÌNH – KULAVAṂSA – GIỮ NẾP TỐT ĐẸP CỦA GIA TỘC
Kinh nói người con:
gìn giữ gia đình và truyền thống. (BuddhaSasana)
Điều này không có nghĩa:
truyền thống nào cũng phải giữ nguyên.
Nếu một phong tục bất thiện,
không thể vì:
“ông bà làm vậy”
mà mình cũng làm.
Tinh thần hợp Pháp hơn là:
giữ những điều tốt đẹp, đạo đức, chân thật, biết ơn, trách nhiệm và truyền lại những giá trị lành cho đời sau.
TÀI SẢN THỪA TỰ – DĀYAJJA – TÀI SẢN ĐƯỢC TRAO TRUYỀN
Kinh nhắc:
“tôi bảo vệ tài sản thừa tự.” (BuddhaSasana)
Điều này cho thấy đạo Phật không tách đời sống tâm linh khỏi:
trách nhiệm tài sản.
Tài sản cha mẹ tạo dựng bằng cả đời lao động,
người con không nên:
phung phí,
tranh giành,
làm tiêu tán vì thói nghiện,
cờ bạc,
hay thiếu trách nhiệm.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 276
Kinh DN 31 cũng cảnh báo nhiều nguyên nhân làm tài sản tiêu tán như rượu chè, cờ bạc, giao du xấu và lười biếng. (BuddhaSasana)
TANG LỄ – PETAKICCA – VIỆC CẦN LÀM KHI CHA MẸ QUA ĐỜI
Câu:
“Tôi sẽ làm tang lễ khi cha mẹ qua đời”
nhắc rằng hiếu không kết thúc ngay khi cha mẹ mất. (BuddhaSasana)
Người con vẫn cần:
lo việc hậu sự đúng đắn,
tưởng nhớ công ơn,
và quan trọng hơn:
sống sao cho đời mình không làm hổ thẹn những điều tốt đẹp cha mẹ đã trao.
4. GIẢI TỪNG CỤM
“ĐƯỢC NUÔI DƯỠNG, TÔI SẼ NUÔI DƯỠNG LẠI CHA MẸ”
Đây là câu đầu tiên,
và cũng là câu rất dễ hiểu.
Ngày mình còn nhỏ,
cha mẹ làm điều gì?
Mình đói:
cha mẹ lo.
Mình bệnh:
cha mẹ thức.
Mình chưa biết đi:
cha mẹ bồng.
Mình chưa biết tự kiếm sống:
cha mẹ nuôi.
Rồi đời quay một vòng.
Cha mẹ già.
Đi chậm.
Nhớ chậm.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 277
Ăn ít.
Bệnh nhiều.
Có khi chính những người từng bồng mình lại cần:
mình dìu.
Đây là vòng rất tự nhiên của đời người.
Cho nên lời kinh nói:
ĐÃ ĐƯỢC NUÔI – HÃY NUÔI LẠI.
Không phải giao dịch.
Không phải:
“Cha mẹ nuôi tôi bao nhiêu, tôi trả đúng bấy nhiêu.”
Hiếu không phải sổ nợ.
Mà là:
biết ơn được chuyển thành hành động.
“TÔI SẼ LÀM BỔN PHẬN ĐỐI VỚI CHA MẸ”
Có những người thương cha mẹ rất nhiều,
nhưng:
không sắp xếp được việc gì cụ thể.
Khi cha mẹ bệnh:
ai đưa đi khám?
Thuốc ai lấy?
Giấy tờ ai lo?
Ai hỏi bác sĩ?
Ai gọi điện?
Ai chăm lúc cần?
Tình thương mà không đi vào trách nhiệm,
có khi cha mẹ vẫn:
rất cô đơn.
Cho nên Đức Phật đặt:
bổn phận
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 278
vào trong hiếu.
Điều này rất thực tế.
“TÔI SẼ GÌN GIỮ GIA ĐÌNH VÀ TRUYỀN THỐNG”
Mỗi gia đình có một dòng truyền.
Có những thứ rất đáng giữ:
sự chân thật,
biết kính trên nhường dưới,
không gian dối,
chăm lao động,
biết giúp người,
biết thờ kính tổ tiên trong tinh thần đúng đắn,
biết sống có đạo đức.
Một người con hiếu không chỉ:
cho cha mẹ ăn.
Còn phải:
đừng làm hư nếp tốt của gia đình.
Nếu cha mẹ cả đời sống chân thật,
mà con dùng gian dối kiếm lợi,
thì dù nhà rất lớn,
cái truyền thống quý nhất đã mất.
“TÔI BẢO VỆ TÀI SẢN THỪA TỰ”
Tài sản không phải chỉ là:
đất,
nhà,
tiền.
Có khi gia đình trao cho mình:
uy tín.
nghề nghiệp.
kiến thức.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 279
một cơ sở làm ăn.
một mảnh đất.
một truyền thống thiện.
Bảo vệ không nghĩa:
ôm giữ bằng tham.
Mà là:
không làm tiêu tán vô trách nhiệm.
Không vì:
cờ bạc.
nghiện ngập.
phung phí.
mà làm mất công sức cả đời của cha mẹ.
“TÔI SẼ LÀM TANG LỄ KHI CHA MẸ QUA ĐỜI”
Đây là phần cuối.
Cha mẹ còn:
hiếu bằng chăm sóc.
Cha mẹ mất:
hiếu bằng lo hậu sự và giữ lòng biết ơn.
Nhưng sâu hơn nữa,
một tang lễ lớn không thể thay cho:
một đời bất hiếu lúc cha mẹ còn sống.
Đừng chờ cha mẹ mất rồi mới:
xây mộ đẹp,
làm lễ lớn,
khóc nhiều.
Nếu cha mẹ còn,
một bữa cơm,
một cuộc gọi,
một sự chăm sóc,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 280
có khi quý hơn nhiều.
5. GHÉP NGHĨA TOÀN CÂU
Năm điều Đức Phật dạy có thể ghép thật dễ:
Khi cha mẹ đã nuôi mình, người con phải biết phụng dưỡng lại; làm tròn trách nhiệm đối với cha mẹ; giữ những nếp tốt đẹp của gia đình; bảo vệ tài sản được trao truyền một cách có trách nhiệm; và khi cha mẹ qua đời thì lo hậu sự đúng bổn phận. (BuddhaSasana)
Có thể nhớ thành năm chữ:
NUÔI – LO – GIỮ – BẢO – TIỄN.
Nuôi: phụng dưỡng cha mẹ.
Lo: làm bổn phận.
Giữ: giữ nếp gia đình tốt đẹp.
Bảo: bảo vệ tài sản thừa tự.
Tiễn: lo tang lễ khi cha mẹ qua đời.
6. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ GÌ?
Kính thưa quý vị,
điều rất đáng chú ý trong DN 31 là:
HIẾU KHÔNG PHẢI CHỈ LÀ CẢM XÚC.
Nó là:
trách nhiệm.
Mình có thể nói:
“Con thương mẹ lắm.”
Nhưng mẹ bệnh:
không ai đưa đi khám.
Mình nói:
“Con thương cha.”
Nhưng cha già:
mấy tháng không gọi.
Vậy tình thương ấy phải nhìn lại.
Phật pháp đưa chữ hiếu từ:
miệng
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 281
xuống:
đời sống.
7. HIẾU KHÔNG CHỈ LÀ CHO VẬT CHẤT
Có cha mẹ không thiếu tiền.
Nhưng:
thiếu con.
Có cha mẹ sống trong căn nhà đầy đủ,
nhưng mỗi ngày chỉ nhìn cửa.
Chờ:
một cuộc gọi.
Có người con gửi tiền rất đều,
nhưng chưa bao giờ hỏi:
“Mẹ hôm nay khỏe không?”
Vật chất cần.
Nhưng đôi khi:
sự hiện diện
cũng là một loại phụng dưỡng.
8. VÍ DỤ 1 – MẸ GỌI ĐIỆN NHIỀU LẦN
Có người trẻ thấy:
“Mẹ gọi hoài, phiền quá.”
Nhưng hãy nghĩ:
ngày mình còn nhỏ,
mình gọi:
“Mẹ! Mẹ! Mẹ!”
cả ngày.
Có khi mẹ đang mệt vẫn trả lời.
Một ngày nào đó,
điện thoại sẽ:
không còn cuộc gọi ấy nữa.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 282
Khi ấy mới muốn nghe,
không còn.
Đây không phải để làm người nghe buồn.
Mà để nhắc:
CÁI CÒN HÔM NAY – ĐỪNG COI LÀ ĐƯƠNG NHIÊN.
9. VÍ DỤ 2 – CHA GIÀ HAY LẶP CHUYỆN
Cha kể một câu chuyện:
mười lần.
Con nói:
“Con nghe rồi.”
Cha im.
Có thể cha không kể vì:
muốn truyền thông tin mới.
Có khi cha kể vì:
muốn có người nghe.
Khi cha mẹ già,
đôi khi phụng dưỡng là:
chịu nghe lại một chuyện cũ bằng một tâm mới.
10. VÍ DỤ 3 – CHA MẸ KHÔNG HIỂU CÔNG NGHỆ
Mình bực:
“Cái này đơn giản mà cũng không biết.”
Nhưng ngày trước,
mình không biết:
cầm muỗng.
buộc dây giày.
đọc chữ.
đi xe.
Cha mẹ cũng từng chỉ những điều mà hôm nay mình thấy:
quá đơn giản.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 283
Nhớ vậy,
mình bớt nóng.
11. VÍ DỤ 4 – CHA MẸ CÓ QUAN ĐIỂM KHÁC
Hiếu không có nghĩa:
cha mẹ nói gì cũng phải coi là đúng.
Có thể có khác biệt.
Nhưng có hai cách nói.
Một:
“Ba mẹ chẳng biết gì.”
Hai:
“Con hiểu ba mẹ lo, nhưng việc này con xin được giải thích.”
Cùng bất đồng.
Nhưng một cách:
làm tổn thương.
Một cách:
vẫn giữ kính trọng.
12. VÍ DỤ 5 – CHA MẸ GIÀ VÀ BỆNH
Khi bệnh lâu,
người bệnh có thể:
cáu,
khó chịu,
lặp lại,
đòi hỏi.
Người chăm cũng rất mệt.
Không nên nói:
“Con hiếu thì không được mệt.”
Không đúng.
Người chăm có thể kiệt sức thật.
Vì vậy phụng dưỡng đúng cũng cần:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 284
chia việc,
tìm hỗ trợ,
nghỉ hợp lý,
để mình có thể chăm lâu dài.
Hiếu không phải:
tự phá sức khỏe mình.
13. VÍ DỤ 6 – ANH CHỊ EM TRANH NHAU AI PHẢI CHĂM
Có gia đình,
cha mẹ bệnh,
mọi người nói:
“Sao anh không chăm?”
“Sao chị không lo?”
Cuối cùng:
ai cũng nói về trách nhiệm người khác.
Người con thực hành Pháp hỏi trước:
“PHẦN CỦA TÔI LÀ GÌ?”
Không cần gánh hết.
Nhưng đừng đẩy hết.
14. VÍ DỤ 7 – CHA MẸ CÓ TÀI SẢN
Có người khi cha mẹ còn khỏe:
ít thăm.
Khi chia đất:
mọi người về rất đông.
Đây là lúc phải tự hỏi:
“Tôi đang thương cha mẹ hay đang thương phần tài sản?”
DN 31 đặt:
phụng dưỡng
trước:
tài sản thừa tự. (BuddhaSasana)
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 285
Thứ tự ấy rất đáng suy ngẫm.
15. VÍ DỤ 8 – CHA MẸ KHÔNG CÓ TÀI SẢN
Nếu cha mẹ nghèo,
không để lại gì,
hiếu có giảm không?
Không.
Bởi cái lớn nhất cha mẹ đã trao trước:
thân mạng và công nuôi dưỡng.
Hiếu không được đo bằng:
số tiền thừa kế.
16. VÍ DỤ 9 – CHA MẸ ĐÃ TỪNG CÓ LỖI
Đây là chỗ phải giảng cẩn thận.
Không phải cha mẹ nào cũng hoàn hảo.
Có cha mẹ:
nóng.
thiên vị.
bỏ bê.
thậm chí có hành vi gây tổn thương.
Hiếu không có nghĩa:
phủ nhận mọi vết thương.
Cũng không bắt buộc người con:
ở trong tình huống nguy hiểm.
Có thể giữ ranh giới.
Nhưng nếu làm được,
vẫn cố tránh:
ác ý và trả thù.
Hiếu phải đi với:
trí tuệ.
17. VÍ DỤ 10 – CHA MẸ Ở XA
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 286
Không thể ở gần,
vẫn có thể hiếu.
Gọi điện.
Sắp xếp người chăm.
Theo dõi sức khỏe.
Gửi điều cần thiết.
Thu xếp về khi có thể.
Khoảng cách địa lý không nhất thiết đồng nghĩa:
khoảng cách của trách nhiệm.
18. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ THÊM ĐIỀU GÌ?
Điểm rất đẹp trong DN 31 là trách nhiệm:
hai chiều.
Không chỉ con có bổn phận với cha mẹ.
Kinh cũng nói cha mẹ có năm cách thương tưởng con:
ngăn con làm ác; khuyến khích làm thiện; dạy nghề nghiệp; lo việc hôn nhân thích hợp theo bối cảnh xã hội của kinh; và đúng thời trao tài sản thừa tự. (BuddhaSasana)
Điều đó cho thấy gia đình trong lời Phật không phải:
một chiều quyền lực.
Mà là:
một hệ thống trách nhiệm qua lại.
19. HIẾU KHÔNG PHẢI ĐỂ CHA MẸ DÙNG CON VÔ GIỚI HẠN
Vì trách nhiệm hai chiều,
không nên lấy chữ hiếu để nói:
“Cha mẹ muốn gì con cũng phải làm.”
Nếu yêu cầu ấy:
bất thiện,
trái pháp luật,
gây hại,
người con không cần làm điều sai.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 287
Kính cha mẹ:
không đồng nghĩa:
làm điều bất thiện theo cha mẹ.
Đây là điểm rất cần giữ.
20. HIẾU CAO HƠN VẬT CHẤT LÀ KHUYẾN KHÍCH ĐIỀU THIỆN
Ngay trong DN 31, cha mẹ có trách nhiệm:
ngăn con làm ác và khuyến khích con làm thiện. (BuddhaSasana)
Điều này cho thấy trong gia đình,
yêu nhau không chỉ bằng:
ăn ngon,
mặc đẹp,
có tiền.
Mà còn bằng:
GIÚP NHAU ĐI VỀ PHÍA THIỆN.
Nếu mình thấy cha mẹ đang sống trong:
sân,
lo,
khổ,
có thể nhẹ nhàng khuyên:
niệm Phật,
nghe Pháp,
làm thiện,
buông bớt.
Đó cũng là một hình thức hiếu rất sâu.
21. CHA MẸ CÒN – HÃY HIẾU KHI CÒN CƠ HỘI
Một điều rất thật:
không ai biết:
mình còn bao nhiêu lần được nghe giọng cha mẹ.
Không biết còn bao nhiêu bữa cơm.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 288
Không biết còn bao nhiêu dịp nói:
“Mẹ khỏe không?”
Có những việc:
để mai cũng được.
Nhưng hiếu:
đừng để hết đời mới làm.
22. ĐỪNG CHỜ CÓ NHIỀU TIỀN MỚI HIẾU
Hiếu có thể là:
một ly nước.
một lần xoa lưng.
một cuộc gọi.
một chuyến đưa đi bệnh viện.
một giờ ngồi nghe.
một bữa ăn.
một câu:
“Ba mẹ nghỉ đi, để con làm.”
Không cần giàu mới có thể:
làm con.
23. KHI CHA MẸ KHÓ TÍNH
Thử nhìn:
tuổi già có rất nhiều mất mát.
Mất sức.
Mất bạn.
Mất khả năng đi lại.
Mất tự chủ.
Có người còn:
sợ chết.
Sự khó tính đôi khi có phần từ:
nỗi sợ và sự bất lực.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 289
Thấy vậy,
mình có thể mềm hơn.
Không phải để chấp nhận mọi lời làm đau.
Mà để:
hiểu thêm.
24. KHI CHA MẸ KHÔNG NHỚ NỮA
Có người mẹ không còn nhớ tên con.
Người con đau:
“Mẹ không nhận ra con.”
Nhưng hãy nhớ:
có thể mẹ không còn nhớ mình,
nhưng mình vẫn nhớ:
mẹ đã từng nuôi mình.
Hiếu không phụ thuộc hoàn toàn vào:
cha mẹ còn khả năng đáp lại hay không.
25. KHI CHA MẸ QUA ĐỜI
Kinh nói:
lo tang lễ. (BuddhaSasana)
Nhưng sau tang lễ,
đừng chỉ giữ:
hình ảnh.
Hãy giữ:
điều tốt.
Nếu mẹ chân thật:
mình sống chân thật.
Nếu cha chăm lao động:
mình sống có trách nhiệm.
Nếu cha mẹ từng làm điều chưa đúng:
mình rút bài học để đời sau:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 290
tốt hơn.
Đó cũng là cách tiếp nối.
26. CÚNG GIỖ LỚN KHÔNG THAY ĐƯỢC MỘT ĐỜI KHÔNG CHĂM
Đây là điều nên nói nhẹ nhưng rõ.
Cha mẹ sống:
không hỏi.
Cha mẹ bệnh:
không chăm.
Cha mẹ buồn:
không nghe.
Đến khi mất:
làm thật lớn.
Vậy vẫn còn:
một khoảng thiếu.
Do đó:
HIẾU LÚC CHA MẸ CÒN – RẤT QUÝ.
27. TRUYỀN THỐNG TỐT CỦA GIA ĐÌNH LÀ MỘT DI SẢN
Có gia đình không giàu,
nhưng để lại:
một cái tên sạch.
Con đi đâu người ta nói:
“Nhà ấy sống đàng hoàng.”
Đó là tài sản.
Có khi quý hơn:
vàng.
Người con làm một việc xấu lớn,
có thể phá:
uy tín nhiều đời.
Cho nên giữ truyền thống không phải chuyện:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 291
hình thức.
Nó là:
giữ phẩm chất.
28. TÀI SẢN THỪA TỰ CẦN TRÍ TUỆ
Nhận được tài sản không phải chỉ:
hưởng.
Còn là:
trách nhiệm.
Cha mẹ tạo một căn nhà.
Con bán để tiêu hết trong vài tháng.
Đó không phải cách bảo vệ.
Nếu cần bán vì hoàn cảnh hợp lý:
một chuyện khác.
Điểm lời kinh là:
đừng phung phí vô trách nhiệm.
29. PHỤNG DƯỠNG KHÔNG PHẢI TRẢ NỢ BẰNG BỰC BỘI
Có người chăm cha mẹ nhưng ngày nào cũng nói:
“Con khổ vì ba mẹ.”
Cha mẹ nghe:
đau.
Nếu mệt thật:
phải tìm cách chia tải.
Nhưng đừng để việc chăm trở thành:
một hình thức trách móc thường xuyên.
Một bát cơm đưa bằng sân:
vật chất có,
nhưng tâm rất nặng.
30. HIẾU VỚI CHA MẸ VÀ TU CÁI TÔI
Có khi cha mẹ nói một câu:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 292
mình nghĩ:
“Mẹ không hiểu gì.”
Cái tôi nổi.
Hiếu là một môi trường tu rất thật.
Không phải lúc nào cũng nghe theo.
Nhưng học:
nói lại cho mềm.
Giải thích mà không khinh.
Bất đồng mà không bất kính.
Đây là công phu.
31. ỨNG DỤNG 1 – MỘT CUỘC GỌI MỖI NGÀY HOẶC ĐỀU ĐẶN
Nếu ở xa:
chọn một nhịp phù hợp.
Không nhất thiết rất lâu.
Nhưng:
đều.
Hỏi:
“Hôm nay ba mẹ khỏe không?”
Một câu rất nhỏ,
nhưng có thể làm người già:
ấm cả ngày.
32. ỨNG DỤNG 2 – LẬP DANH SÁCH NHU CẦU THẬT
Thay vì đoán,
hỏi:
Cha mẹ cần gì?
Thuốc?
Khám bệnh?
Thức ăn?
Người chăm?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 293
Một khoản chi?
Hay:
chỉ cần có người nói chuyện?
Phụng dưỡng phải:
đúng nhu cầu.
33. ỨNG DỤNG 3 – CHIA TRÁCH NHIỆM GIỮA ANH CHỊ EM
Không phải ai cũng đóng góp giống nhau.
Một người gần:
chăm.
Một người xa:
hỗ trợ chi phí.
Một người rành giấy tờ:
lo giấy tờ.
Một người có thời gian:
đưa khám.
Hiếu không phải thi:
ai làm nhiều nhất.
Mục tiêu:
cha mẹ được chăm đúng.
34. ỨNG DỤNG 4 – ĐỪNG CÃI TRƯỚC MẶT CHA MẸ VỀ TÀI SẢN
Cha mẹ còn sống,
con cái tranh:
đất,
nhà,
tiền.
Người đau nhất có khi:
cha mẹ.
Nếu thật sự thương,
đừng biến cuối đời cha mẹ thành:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 294
một phiên tòa tài sản.
35. ỨNG DỤNG 5 – GHI LẠI THÔNG TIN SỨC KHỎE
Một việc rất thực tế:
thuốc nào đang dùng?
dị ứng gì?
bác sĩ nào?
bệnh sử gì?
số điện thoại cần gọi?
Đây cũng là:
làm bổn phận.
Hiếu có những phần rất đời thường như vậy.
36. ỨNG DỤNG 6 – HỎI CHA MẸ CÒN ĐIỀU GÌ MUỐN LÀM
Có khi người già muốn:
thăm một người.
về quê.
đi chùa.
gặp một người thân.
ăn một món.
Nếu hợp lý và làm được:
giúp.
Đừng đợi đến khi:
không còn cơ hội.
37. ỨNG DỤNG 7 – KHI CHA MẸ CÓ NIỀM TIN TÂM LINH
Nếu cha mẹ thích:
tụng kinh,
niệm Phật,
nghe Pháp,
mình có thể hỗ trợ.
Nhưng đừng ép cha mẹ:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 295
theo cách tu của mình.
Hiếu cũng cần:
tôn trọng.
38. ỨNG DỤNG 8 – KHI CHA MẸ KHÔNG TU
Không nên vì mình học Phật rồi nói:
“Ba mẹ không biết tu.”
Càng học Phật,
càng phải:
khiêm.
Có thể khuyên bằng:
đời sống.
Nếu mình tu mà:
nóng hơn,
khinh hơn,
cãi cha mẹ hơn,
thì lời khuyên rất khó có sức.
39. ỨNG DỤNG 9 – KHI MÌNH CÒN GIẬN CHA MẸ
Không cần giả:
“Con không giận.”
Nếu còn đau:
nhận.
Nhưng thử tách:
việc cha mẹ từng làm sai
khỏi:
toàn bộ công ơn sinh dưỡng.
Một người có thể:
có lỗi,
và vẫn có phần công.
Đời sống không phải lúc nào cũng:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 296
trắng hoặc đen.
Nhìn được hai mặt,
tâm có cơ hội:
mềm hơn.
40. ỨNG DỤNG 10 – KHI CHA MẸ ĐÃ MẤT
Nếu còn điều hối tiếc,
đừng dùng cả đời để:
tự hành hạ.
Có thể chuyển nỗi tiếc thành:
việc thiện.
Sống tốt hơn.
Giúp người già khác.
Chăm người trong gia đình tốt hơn.
Giữ điều tốt của cha mẹ.
Đó là cách biến:
hối tiếc
thành:
hành động thiện.
41. CÔNG THỨC THỨ NHẤT: NUÔI – LO – GIỮ – BẢO – TIỄN
Đây là công thức sát năm điều kinh dạy:
NUÔI
Cha mẹ già thì phụng dưỡng.
LO
Làm bổn phận.
GIỮ
Giữ nếp tốt gia đình.
BẢO
Bảo vệ tài sản thừa tự.
TIỄN
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 297
Lo hậu sự đúng bổn phận.
Công thức:
NUÔI → LO → GIỮ → BẢO → TIỄN.
42. CÔNG THỨC THỨ HAI: CÒN – HỎI – CẦN – LÀM
CÒN
Cha mẹ còn ở đây.
HỎI
Hỏi điều thật sự cần.
CẦN
Xác định nhu cầu.
LÀM
Làm trong khả năng.
Đừng để hiếu chỉ nằm ở:
ý nghĩ.
43. CÔNG THỨC THỨ BA: VẬT CHẤT – THỜI GIAN – TÂM TÌNH
Phụng dưỡng có ba phần dễ nhớ:
VẬT CHẤT
Điều kiện cần thiết.
THỜI GIAN
Có mặt.
TÂM TÌNH
Nói chuyện tử tế, tôn trọng.
Thiếu một trong ba,
việc chăm có thể chưa trọn.
44. CÔNG THỨC THỨ TƯ: HIẾU + TRÍ
Nếu cha mẹ yêu cầu điều đúng:
cố gắng làm.
Nếu điều không hợp lý:
giải thích.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 298
Nếu điều bất thiện:
không làm theo.
Nhưng:
không khinh.
Công thức:
KÍNH – NHƯNG KHÔNG MÙ QUÁNG.
45. BÀI THỰC HÀNH MỘT NGÀY
Hôm nay chỉ làm một việc:
HỎI CHA HOẶC MẸ MỘT CÂU THẬT LÒNG.
“Ba/mẹ hôm nay có cần con làm gì không?”
Rồi:
nghe hết câu trả lời.
Không vừa nghe vừa xem điện thoại.
Một ngày.
Một việc.
Đó đã là đem DN 31 vào đời sống.
46. BÀI THỰC HÀNH BẢY NGÀY
NGÀY 1
Gọi điện hoặc ngồi nói chuyện.
NGÀY 2
Hỏi sức khỏe và thuốc men.
NGÀY 3
Làm một việc cha mẹ thường phải tự làm.
NGÀY 4
Nghe một câu chuyện cũ mà không cắt ngang.
NGÀY 5
Hỏi về một điều cha mẹ đang lo.
NGÀY 6
Nhớ lại một điều tốt cha mẹ đã trao cho mình.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 299
NGÀY 7
Tự hỏi:
“Nếu một ngày không còn cha mẹ, điều gì hôm nay tôi sẽ tiếc vì chưa làm?”
Nếu làm được:
làm ngay trong khả năng.
47. THỰC HÀNH BUỔI SÁNG
Mỗi sáng có thể nhắc:
Cha mẹ không ở với tôi mãi.
Điều tôi còn làm được hôm nay, tôi cố gắng đừng để thành hối tiếc ngày mai.
Tôi phụng dưỡng bằng vật chất khi cần.
Tôi phụng dưỡng bằng thời gian.
Tôi phụng dưỡng bằng lời nói có kính trọng.
Tôi giữ điều tốt cha mẹ trao và không lấy chữ hiếu làm lý do để làm điều bất thiện.
48. THỰC HÀNH BUỔI TỐI
Trước khi ngủ hỏi:
Hôm nay tôi đã hỏi thăm cha mẹ chưa?
Tôi có nói câu nào làm cha mẹ đau không?
Tôi có đang đẩy hết trách nhiệm chăm sóc cho người khác không?
Cha mẹ đang cần gì mà tôi chưa để ý?
Tôi có đang tranh chấp điều gì khiến cha mẹ bất an không?
Nếu cha mẹ không còn vào ngày mai, tối nay tôi có điều gì muốn nói không?
Nếu có:
nói khi còn có thể.
49. CÂU GHI NHỚ THỨ NHẤT
Hiếu không phải chỉ là nhớ công; hiếu là biến sự biết ơn thành trách nhiệm.
50. CÂU GHI NHỚ THỨ HAI
Cha mẹ từng kiên nhẫn với sự vụng về của mình; khi cha mẹ già, hãy nhớ điều ấy trước sự chậm chạp của họ.
51. CÂU GHI NHỚ THỨ BA
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 300
Có những người già không thiếu vật chất; họ thiếu một người thật sự ngồi xuống nghe mình.
52. CÂU GHI NHỚ THỨ TƯ
Tang lễ lớn không thay được một cuộc gọi khi cha mẹ còn sống.
53. CÂU GHI NHỚ THỨ NĂM
Tài sản cha mẹ để lại có thể mất; nếp sống thiện cha mẹ để lại mới là di sản theo mình lâu hơn.
54. CÂU GHI NHỚ THỨ SÁU
Hiếu không phải ai làm được nhiều hơn; hiếu là phần của mình, mình có thật sự làm hay chưa.
55. CÂU GHI NHỚ THỨ BẢY
Kính cha mẹ không có nghĩa làm theo điều bất thiện; hiếu phải đi cùng trí.
56. CÂU GHI NHỚ THỨ TÁM
Đừng chờ đến khi không còn ai gọi mình là con mới thấy hai chữ cha mẹ quý đến mức nào.
57. CÂU GHI NHỚ THỨ CHÍN
Một bữa cơm lúc cha mẹ còn sống có khi quý hơn rất nhiều lễ vật khi cha mẹ đã mất.
58. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
CHA MẸ ĐÃ NUÔI MÌNH – HÃY NUÔI LẠI.
CHA MẸ CẦN MÌNH – HÃY LÀM PHẦN MÌNH.
GIA ĐÌNH CÓ NẾP TỐT – HÃY GIỮ.
TÀI SẢN ĐƯỢC TRAO – HÃY BẢO VỆ CÓ TRÁCH NHIỆM.
CHA MẸ QUA ĐỜI – HÃY LO HẬU SỰ VÀ GIỮ LÒNG BIẾT ƠN.
Và xin nhớ lời Phật:
“Được nuôi dưỡng, tôi sẽ nuôi dưỡng lại cha mẹ; tôi sẽ làm bổn phận đối với cha mẹ; tôi sẽ gìn giữ gia đình và truyền thống; tôi bảo vệ tài sản thừa tự; tôi sẽ làm tang lễ khi cha mẹ qua đời.” (BuddhaSasana)
Nguồn: Kinh Giáo Thọ Thi-ca-la-việt – Siṅgāla Sutta, Trường Bộ Kinh – Dīgha Nikāya, kinh số 31, mã quốc tế DN 31; bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu; nguyên bản Kinh tạng Pāli. (SuttaCentral)
59. CÂU HỎI LIVESTREAM
1. Theo quý vị, phụng dưỡng cha mẹ chỉ bằng tiền đã đủ chưa?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 301
2. Có bao giờ mình rất bận với nhiều người bên ngoài nhưng lại quên gọi cho cha mẹ ở nhà không?
3. Khi cha mẹ già hay kể đi kể lại một chuyện, mình thường kiên nhẫn nghe hay nói: “Con nghe rồi”?
4. Theo quý vị, điều cha mẹ già cần nhất là vật chất, thời gian hay sự có mặt của con cái?
5. Nếu anh chị em trong nhà đều chờ người khác chăm cha mẹ, cuối cùng ai sẽ là người chịu thiệt nhất?
6. Có phải đôi khi chúng ta chỉ nghĩ đến tài sản cha mẹ để lại mà quên trách nhiệm phải phụng dưỡng cha mẹ trước hay không?
7. Kính cha mẹ có đồng nghĩa cha mẹ yêu cầu điều gì mình cũng phải làm không?
8. Nếu cha mẹ từng làm mình tổn thương, mình có thể vừa giữ ranh giới vừa không nuôi tâm trả thù được không?
9. Nếu hôm nay là lần cuối mình được nói chuyện với cha hoặc mẹ, quý vị muốn nói câu gì?
10. Quý vị có thể làm ngay hôm nay một việc nhỏ nào để sau này không phải nói: “Giá như lúc đó tôi…”?
60. CÂU KẾT ĐỂ ĐỌC TRÊN LIVESTREAM
Kính thưa quý vị,
có những duyên trong đời tưởng như rất bình thường.
Ngày nào cũng có mẹ.
Ngày nào cũng có cha.
Cho nên mình nghĩ:
mai gọi cũng được.
mai về cũng được.
mai chăm cũng được.
Nhưng vô thường không hẹn:
ngày mai.
Đức Phật không dạy hiếu chỉ bằng một lời thật đẹp.
Ngài dạy rất cụ thể:
cha mẹ đã nuôi mình,
mình nuôi lại.
Có bổn phận,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 302
mình làm.
Nếp tốt của gia đình,
mình giữ.
Tài sản được trao,
mình bảo vệ có trách nhiệm.
Khi cha mẹ qua đời,
mình lo việc cần lo. (BuddhaSasana)
Như vậy chữ hiếu không ở đâu xa.
Nó nằm trong:
một bữa cơm.
một viên thuốc.
một chuyến xe đi khám.
một cuộc gọi.
một lần chịu nghe.
một câu nói mềm.
một lần bớt cãi.
Và nhiều khi,
điều cha mẹ cần không phải:
một người con thành công nhất.
Mà chỉ là:
một người con còn nhớ mình là con.
Cho nên công thức của bài hôm nay rất dễ nhớ:
NUÔI – LO – GIỮ – BẢO – TIỄN.
Và nếu cha mẹ còn hiện tiền,
hãy thêm một công thức nữa:
CÒN CƠ HỘI – THÌ CÒN LÀM HIẾU ĐƯỢC.
Đừng để chữ:
“giá như”
trở thành lời mình nói khi mọi thứ đã quá muộn.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 303
MỤC 012 - Bài 012 — TRONG CÁI THẤY CHỈ LÀ CÁI THẤY – ĐỪNG VỘI DỰNG THÊM CÂU CHUYỆN 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
Đức Phật dạy Bāhiya:
“Trong cái thấy sẽ chỉ là cái thấy. Trong cái nghe sẽ chỉ là cái nghe. Trong cái thọ tưởng sẽ chỉ là cái thọ tưởng. Trong cái thức tri sẽ chỉ là cái thức tri.” (BuddhaSasana)
2. NGUỒN KINH
Tên kinh: Kinh Bāhiya Tên Pāli: Bāhiya Sutta Thuộc: Kinh Phật Tự Thuyết – Udāna Bộ: Tiểu Bộ Kinh – Khuddaka Nikāya Phẩm: Phẩm Bồ-đề Số kinh: Bài kinh thứ 10 của phẩm thứ nhất Mã tra cứu quốc tế: Ud 1.10 Bản dịch tiếng Việt: Hòa thượng Thích Minh Châu Nguyên bản: Kinh tạng Pāli. (Thư Viện Hoa Sen)
Bối cảnh rất đặc biệt: Bāhiya tha thiết xin Đức Phật chỉ dạy pháp, vì ông ý thức rằng mạng sống rất khó lường. Sau ba lần thỉnh cầu, Đức Phật dạy ông pháp ngắn gọn này. SuttaCentral xác nhận đây là Udāna 1.10 – Bāhiyasutta. (SuttaCentral)
3. TỪ KHÓA VIỆT – PĀLI – NGHĨA
THẤY – DIṬṬHA – CÁI ĐƯỢC THẤY
Cái thấy – diṭṭha ở đây là điều được nhận biết qua mắt.
Nói thật dễ hiểu:
mắt tiếp xúc hình sắc,
và có sự thấy.
Điểm Đức Phật nhấn mạnh là:
THẤY TRƯỚC HẾT CHỈ LÀ THẤY.
Đừng vội thêm:
“Người ấy ghét tôi.”
“Người ấy coi thường tôi.”
“Người ấy hơn tôi.”
“Người ấy đang có ý gì đó.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 304
Rất nhiều cái phía sau là:
câu chuyện do tâm dựng thêm.
NGHE – SUTA – CÁI ĐƯỢC NGHE
Cái nghe – suta là điều được nhận biết qua tai.
Một âm thanh đến.
Một câu nói đến.
Đó là phần:
được nghe.
Nhưng sau phần nghe,
tâm có thể thêm rất nhanh:
“Họ cố ý chọc tôi.”
“Họ ghét tôi từ trước.”
“Họ luôn luôn xem thường tôi.”
Lời kinh giúp mình tập phân biệt:
CÁI THẬT SỰ ĐÃ NGHE
và
CÂU CHUYỆN MÌNH THÊM SAU ĐÓ.
THỌ TƯỞNG – MUTA – ĐIỀU ĐƯỢC CẢM NHẬN, TIẾP XÚC, CẢM THỌ
Trong bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu dùng cụm:
“thọ tưởng.”
Ở mức đọc dễ hiểu, có thể nói:
những gì được cảm nhận qua kinh nghiệm trực tiếp của thân và cảm giác.
Ví dụ:
nóng.
lạnh.
đau.
dễ chịu.
khó chịu.
Một cảm giác xuất hiện.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 305
Trước hết:
biết cảm giác.
Đừng lập tức biến nó thành:
“Tôi khổ nhất.”
“Tôi chịu không nổi.”
“Chuyện này sẽ kéo dài mãi.”
Cảm giác là một chuyện.
Câu chuyện mình gắn vào cảm giác là:
một chuyện khác.
THỨC TRI – VIÑÑĀTA – ĐIỀU ĐƯỢC NHẬN BIẾT, ĐƯỢC BIẾT
Thức tri – viññāta có thể hiểu đơn giản là:
điều được tâm nhận biết.
Một ý nghĩ sinh.
Một ký ức xuất hiện.
Một khái niệm được biết.
Đức Phật dạy:
trong cái được biết, chỉ là cái được biết.
Điều này không có nghĩa:
không được suy nghĩ.
Mà là:
đừng vội dựng một cái tôi rồi chấp chặt vào điều mình vừa biết.
4. GIẢI TỪNG CỤM
“TRONG CÁI THẤY SẼ CHỈ LÀ CÁI THẤY”
Câu này rất ngắn,
nhưng rất sâu.
Mắt thấy một người đi ngang.
Phần thật trước tiên:
có một người đi ngang.
Nhưng tâm lập tức thêm:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 306
“Sao người đó không chào tôi?”
Rồi thêm:
“Chắc họ coi thường tôi.”
Rồi thêm:
“Từ trước tới giờ người này vẫn vậy.”
Từ một cái thấy rất đơn giản,
tâm có thể dựng:
một câu chuyện rất dài.
Đức Phật dạy cắt ngay ở đầu:
THẤY – BIẾT LÀ THẤY.
Đừng thêm quá nhanh.
“TRONG CÁI NGHE SẼ CHỈ LÀ CÁI NGHE”
Một câu lọt vào tai.
Phần đầu:
âm thanh.
Nhưng tâm rất nhanh tạo:
người nói.
ý người nói.
cái tôi bị nói.
quá khứ liên quan.
ý muốn đáp lại.
Chỉ trong vài giây,
một câu nghe được có thể sinh:
mười tầng phản ứng.
Lời kinh giúp mình dừng:
“Tôi vừa nghe câu này.”
Chỉ vậy trước.
Rồi mới xét:
có đúng không?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 307
có cần phản hồi không?
có phải mình đang tự ái không?
Đó là đưa trí vào giữa:
nghe
và:
phản ứng.
“TRONG CÁI THỌ TƯỞNG SẼ CHỈ LÀ CÁI THỌ TƯỞNG”
Một cảm giác khó chịu xuất hiện.
Ví dụ:
đau lưng.
Mình có thể chỉ nhận:
“Đau đang có.”
Nhưng tâm thường thêm:
“Khổ quá.”
“Mai chắc nặng hơn.”
“Tại sao tôi lại bị như vậy?”
Như vậy:
một cảm giác thân
được cộng thêm:
rất nhiều khổ tâm.
Lời kinh không nói:
đau không phải đau.
Mà giúp mình:
đừng tự cộng thêm quá nhiều câu chuyện vào cái đau.
“TRONG CÁI THỨC TRI SẼ CHỈ LÀ CÁI THỨC TRI”
Một ý nghĩ xuất hiện:
“Người kia không thích tôi.”
Nếu không tỉnh:
mình biến ý nghĩ thành:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 308
sự thật tuyệt đối.
Nhưng nếu biết:
“Đây là một ý nghĩ đang xuất hiện,”
thì mình có khoảng cách.
Ý nghĩ vẫn có.
Nhưng nó không còn là:
toàn bộ con người mình.
Đây là chỗ rất quan trọng.
5. GHÉP NGHĨA TOÀN CÂU
Ghép cả đoạn lại:
Khi thấy, hãy nhận biết đúng cái đang được thấy; khi nghe, nhận biết đúng cái đang được nghe; khi cảm nhận, nhận biết đúng cái đang được cảm nhận; khi tâm nhận biết một điều gì, chỉ ghi nhận đúng điều ấy, không vội dựng thêm cái tôi, sự chấp thủ và những câu chuyện khiến tâm bị cuốn đi.
Có thể nhớ thật ngắn:
THẤY – CHỈ THẤY.
NGHE – CHỈ NGHE.
CẢM – CHỈ CẢM.
BIẾT – CHỈ BIẾT.
Rồi:
ĐỪNG VỘI THÊM “TÔI”.
6. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ GÌ?
Kính thưa quý vị,
đây không phải lời dạy:
“Đừng suy nghĩ.”
Cũng không phải:
“Cứ thấy mà không phân biệt gì.”
Điều Đức Phật chỉ sâu hơn là:
ĐỪNG ĐỂ TÂM LẬP TỨC CHẤP VÀO KINH NGHIỆM RỒI DỰNG THÊM MỘT CÁI TÔI TRONG ĐÓ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 309
Trong bản SuttaCentral, lời dạy tiếp theo cho Bāhiya đi rất xa: khi thực hành như vậy, người ấy không còn bị dựng lập “ở trong cái đó”, và Đức Phật kết luận đó là sự chấm dứt khổ đau. (SuttaCentral)
Cho nên đây không chỉ là:
mẹo sống bình tĩnh.
Nó liên quan trực tiếp đến:
chấp thủ và giải thoát.
7. TẠI SAO TÂM MÌNH KHỔ RẤT NHIỀU SAU MỘT SỰ VIỆC RẤT NHỎ?
Bởi sự việc có thể rất nhỏ.
Nhưng câu chuyện tâm thêm vào:
rất lớn.
Một người:
không chào.
Sự kiện:
không chào.
Tâm thêm:
“Họ khinh mình.”
Rồi:
“Họ lúc nào cũng vậy.”
Rồi:
“Chắc họ nói xấu mình.”
Rồi:
“Từ giờ mình cũng không thèm.”
Một sự kiện năm giây
thành:
một ngày sân.
Đây chính là chỗ lời kinh rất thực tế.
8. VÍ DỤ 1 – NGƯỜI TA KHÔNG TRẢ LỜI TIN NHẮN
Sự kiện thật:
chưa có tin trả lời.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 310
Tâm thêm:
“Họ coi thường tôi.”
“Họ cố ý tránh tôi.”
“Chắc họ ghét tôi.”
Nhưng sự thật có thể là:
họ bận.
họ ngủ.
điện thoại hết pin.
chưa thấy.
hoặc đúng là họ không muốn trả.
Nhưng mình chưa biết.
Pháp thực hành:
CHƯA TRẢ LỜI – CHỈ BIẾT CHƯA TRẢ LỜI.
Đừng vội biến:
chưa biết
thành:
biết chắc.
9. VÍ DỤ 2 – BỊ MỘT NGƯỜI NHÌN
Một người nhìn mình.
Tâm lập tức:
“Sao nhìn dữ vậy?”
Có khi họ chỉ:
đang nhìn phía sau.
Có khi họ đang nghĩ chuyện khác.
Có khi đúng là họ nhìn mình.
Nhưng chưa chắc:
ý nghĩa mình gắn vào cái nhìn là đúng.
Thấy:
chỉ thấy.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 311
Rồi mới xét.
10. VÍ DỤ 3 – NGHE MỘT CÂU CHÊ
Người ta nói:
“Bài này hơi dài.”
Phần nghe:
“Bài này hơi dài.”
Tâm thêm:
“Họ chê tôi dở.”
“Họ không tôn trọng tôi.”
“Họ ghét nội dung của tôi.”
Nhưng họ có thể chỉ nói đúng:
bài dài.
Nếu giữ được:
nghe chỉ là nghe,
mình có thể hỏi:
“Dài chỗ nào? Có cần sửa không?”
Từ đó lời chê thành:
dữ liệu.
Không thành:
vết thương của cái tôi.
11. VÍ DỤ 4 – MỘT BÌNH LUẬN TRÊN LIVESTREAM
Một người viết:
“Nguồn kinh đâu?”
Nếu tâm dựng thêm:
“Họ đang thách mình.”
“Họ cố làm mình mất mặt.”
thì sân dễ sinh.
Nhưng nếu chỉ nhận:
“Có người đang hỏi nguồn.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 312
thì việc rất đơn giản.
Có nguồn:
đưa.
Chưa nhớ:
kiểm.
Không biết:
nói chưa biết.
Đó là khác biệt giữa:
thực tại
và:
câu chuyện cái tôi.
12. VÍ DỤ 5 – NGHE NGƯỜI THÂN NÓI “THÔI”
Chỉ một chữ:
“Thôi.”
Tâm có thể nghe thành:
“Họ chán tôi.”
“Họ không muốn nghe tôi.”
“Họ không thương tôi.”
Nhưng có thể người ấy chỉ:
mệt.
Muốn dừng câu chuyện.
Nếu không chắc:
hỏi.
Đừng tự viết cả kịch bản.
13. VÍ DỤ 6 – ĐAU TRONG THÂN
Đau xuất hiện.
Phần thật:
đau.
Tâm thêm:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 313
“Chắc bệnh nặng.”
“Chắc không khỏi.”
“Sau này chắc khổ lắm.”
Có lúc cần đi khám.
Đi khám là trí.
Nhưng trước khi có thông tin,
đừng để tâm tạo:
một tương lai đau đớn hoàn chỉnh.
14. VÍ DỤ 7 – THẤY NGƯỜI KHÁC THÀNH CÔNG
Thấy:
người kia được nhiều người biết.
Phần thấy:
họ đang thành công.
Tâm thêm:
“Vậy là tôi kém.”
Đây là phần:
cái tôi.
Thành công của họ
không tự động chứng minh:
mình thất bại.
Thấy chỉ là thấy.
Rồi học điều cần học.
15. VÍ DỤ 8 – THẤY AI ĐÓ KHÔNG CHÀO
Phần thật:
họ đi ngang và không chào.
Có thể họ:
không thấy.
đang vội.
đang mệt.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 314
đang có chuyện.
hoặc thật sự không muốn chào.
Nếu cần:
quan sát thêm.
Nhưng đừng lập tức:
xử án.
16. VÍ DỤ 9 – NGHE MỘT TIN ĐỒN
Người khác nói:
“Tôi nghe nói người ấy thế này…”
Phần mình có:
một lời kể.
Không phải:
sự thật đã kiểm chứng.
Nếu lập tức tin,
mình biến:
nghe
thành:
biết.
Đây là một lỗi rất lớn.
Pháp này giúp mình giữ:
NGHE – BIẾT LÀ MÌNH ĐANG NGHE.
CHƯA KIỂM – ĐỪNG GỌI LÀ SỰ THẬT.
17. VÍ DỤ 10 – MỘT Ý NGHĨ XẤU VỀ CHÍNH MÌNH
Tâm nói:
“Tôi không làm được.”
Nếu chấp ngay:
mình thành:
“người không làm được.”
Nhưng nếu biết:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 315
“Đang có một ý nghĩ rằng tôi không làm được,”
thì khác.
Ý nghĩ:
được nhìn.
Không biến thành:
căn cước.
18. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ THÊM ĐIỀU GÌ?
Đức Phật không dừng ở câu:
“Trong cái thấy chỉ là cái thấy.”
Ngài tiếp tục chỉ rằng khi không bị dựng lập bởi những kinh nghiệm ấy, Bāhiya sẽ không còn “ở trong đó”; và đó là sự đoạn tận khổ đau. (SuttaCentral)
Điều này cho thấy:
gốc sâu không chỉ là:
bớt suy diễn.
Mà là:
BỚT CHẤP “TÔI” VÀ “CỦA TÔI” VÀO CÁC KINH NGHIỆM.
Thấy một lời chê.
Không cần lập tức:
“Tôi bị xúc phạm.”
Có cái nghe.
Không cần lập tức:
“Tôi phải trả.”
Càng ít dựng cái tôi,
tâm càng ít bị kéo.
19. “CHỈ LÀ CÁI THẤY” KHÔNG PHẢI PHỦ NHẬN THẾ GIỚI
Có người có thể hiểu sai:
“Vậy thấy gì cũng mặc kệ.”
Không phải.
Nếu thấy xe lao tới:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 316
tránh.
Nếu thấy người cần giúp:
giúp.
Nếu thấy sai:
xử lý.
Điểm lời kinh không phải:
xóa chức năng trí tuệ.
Mà là:
đừng chấp thêm và dựng thêm cái tôi không cần thiết.
20. “CHỈ LÀ CÁI NGHE” KHÔNG CÓ NGHĨA TIN TẤT CẢ ĐIỀU NGHE
Ngược lại.
Chính vì nghe chỉ là:
cái nghe,
nên chưa chắc:
đúng.
Một lời kể:
chỉ là lời kể.
Muốn thành sự thật:
phải kiểm.
Đây là ứng dụng cực kỳ quan trọng trong thời đại mạng xã hội.
21. PHÂN BIỆT BA TẦNG: SỰ KIỆN – DIỄN GIẢI – PHẢN ỨNG
Có thể nhớ như sau:
SỰ KIỆN
Điều thật sự xảy ra.
DIỄN GIẢI
Điều tâm nghĩ về nó.
PHẢN ỨNG
Điều mình làm sau đó.
Ví dụ:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 317
Sự kiện:
người ấy chưa trả lời.
Diễn giải:
“Họ coi thường tôi.”
Phản ứng:
mình nhắn lời nặng.
Nếu cắt được ở tầng:
diễn giải,
hậu quả phía sau có thể thay đổi.
22. VÍ DỤ 11 – TRONG GIA ĐÌNH
Con nói:
“Con không muốn nói bây giờ.”
Cha mẹ nghe thành:
“Nó bất kính.”
Có thể đúng.
Có thể không.
Nếu chỉ nhận câu:
“Con chưa muốn nói,”
mình có thể hỏi sau.
Nếu chụp nhãn:
“bất hiếu,”
xung đột sẽ rất khác.
23. VÍ DỤ 12 – VỢ CHỒNG
Chồng về trễ.
Sự kiện:
về trễ.
Tâm vợ thêm:
“Chắc không còn thương mình.”
Vợ im lạnh.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 318
Chồng thấy lạnh lại nghĩ:
“Cô ấy lúc nào cũng khó chịu.”
Hai người bắt đầu sống:
không phải với sự kiện,
mà với:
diễn giải của mỗi người.
Chỉ cần một người quay về hỏi:
“Thật sự chuyện gì xảy ra?”
vòng có thể dừng.
24. VÍ DỤ 13 – NGƯỜI GIẢNG PHÁP
Một người hỏi:
“Sư cô có chắc câu này là lời Phật không?”
Nếu nghe thành:
“Họ xúc phạm mình,”
tâm sẽ nóng.
Nhưng nếu chỉ nghe:
“Họ muốn xác minh nguồn,”
thì rất tốt.
Mình kiểm.
Có:
đưa.
Sai:
sửa.
Đó là sự khiêm hạ rất cần thiết.
25. VÍ DỤ 14 – ĐỌC MỘT CON SỐ
Một video được:
ít lượt xem.
Sự kiện:
con số thấp hơn hôm qua.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 319
Tâm thêm:
“Không ai thích mình nữa.”
Đây là một kết luận rất lớn từ:
một dữ liệu rất nhỏ.
Thấy con số:
biết con số.
Sau đó phân tích:
giờ đăng?
chủ đề?
nền tảng?
nội dung?
Đừng để con số lập tức trở thành:
giá trị của bản thân.
26. ỨNG DỤNG 1 – KHI BỊ KÍCH ĐỘNG
Trước khi trả lời,
hãy nói trong tâm:
“TÔI ĐANG THẤY GÌ?”
“TÔI ĐANG NGHE GÌ?”
“TÔI ĐANG THÊM GÌ?”
Câu thứ ba là quan trọng nhất.
27. ỨNG DỤNG 2 – KHI NGHE TIN VỀ MỘT NGƯỜI
Chia thành hai cột:
Điều tôi biết trực tiếp.
Điều tôi chỉ nghe kể.
Đừng trộn hai cột.
Đây là một cách rất mạnh để giữ Chánh ngữ.
28. ỨNG DỤNG 3 – KHI THẤY NGƯỜI KHÁC KHÁC Ý
Chỉ ghi nhận:
“Họ có quan điểm khác.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 320
Đừng lập tức:
“Họ chống tôi.”
Khác ý chưa chắc:
thành kẻ thù.
29. ỨNG DỤNG 4 – KHI BỊ CHÊ
Ghi đúng câu người ta nói.
Ví dụ:
“Đoạn này hơi khó hiểu.”
Đừng tự đổi thành:
“Tôi giảng dở.”
Một câu nói về:
đoạn nội dung
không nhất thiết là phán xét:
toàn bộ con người mình.
30. ỨNG DỤNG 5 – KHI CÓ CẢM GIÁC KHÓ CHỊU
Nói:
“Khó chịu đang có.”
Đừng vội:
“Tôi không chịu nổi.”
Khoảng cách giữa hai câu rất lớn.
Một câu:
ghi nhận.
Một câu:
phóng đại.
31. ỨNG DỤNG 6 – KHI TÂM ĐOÁN Ý NGƯỜI
Nếu thấy mình đang nói:
“Chắc họ nghĩ…”
hãy dừng.
Chữ:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 321
“CHẮC”
nhiều khi chỉ là:
đoán.
Đừng biến đoán thành:
sự thật.
32. ỨNG DỤNG 7 – KHI TRANH LUẬN
Người kia nói:
một ý.
Trả lời:
ý đó.
Đừng thêm:
“Anh là loại người…”
Đây là cách giữ:
nghe chỉ là nghe.
Không biến một ý kiến thành:
bản án con người.
33. ỨNG DỤNG 8 – VỚI MẠNG XÃ HỘI
Một tiêu đề rất sốc.
Chỉ biết:
đang thấy tiêu đề.
Chưa đọc nội dung:
đừng kết luận.
Đọc bài:
vẫn cần kiểm nguồn.
Đây là cách đem Ud 1.10 vào thời đại thông tin.
34. CÔNG THỨC THỨ NHẤT: THẤY – NGHE – BIẾT – DỪNG
THẤY
Thấy điều đang xảy ra.
NGHE
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 322
Nghe đúng câu.
BIẾT
Biết phản ứng trong tâm.
DỪNG
Đừng thêm quá nhanh.
Công thức:
THẤY → NGHE → BIẾT → DỪNG.
35. CÔNG THỨC THỨ HAI: SỰ KIỆN – CÂU CHUYỆN – KIỂM LẠI
SỰ KIỆN
Cái gì thật sự xảy ra?
CÂU CHUYỆN
Tâm mình đang thêm gì?
KIỂM LẠI
Phần thêm ấy có bằng chứng không?
Công thức:
SỰ KIỆN → CÂU CHUYỆN → KIỂM LẠI.
36. CÔNG THỨC THỨ BA: CHỈ LÀ
Khi tâm sắp phóng lớn:
Một cái nhìn – chỉ là một cái nhìn.
Một câu nói – chỉ là một câu nói.
Một cảm giác – chỉ là một cảm giác.
Một ý nghĩ – chỉ là một ý nghĩ.
Rồi mới xử lý.
Không phủ nhận.
Không thổi phồng.
37. CÔNG THỨC THỨ TƯ: ĐỪNG VỘI THÊM “TÔI”
Người ta nói:
“Bài này dài.”
Đừng vội:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 323
“Tôi bị chê.”
Người ta không chào:
đừng vội:
“Tôi bị coi thường.”
Một cảm giác đau:
đừng vội:
“Đời tôi khổ.”
Công thức:
SỰ VIỆC TRƯỚC – “TÔI” SAU.
Và nhiều khi:
không cần thêm “tôi” luôn.
38. BÀI THỰC HÀNH MỘT PHÚT
Ngồi yên.
Nhìn một vật.
Chỉ biết:
đang thấy.
Nghe âm thanh.
Chỉ biết:
đang nghe.
Cảm nhận thân.
Chỉ biết:
đang cảm.
Một ý nghĩ tới.
Chỉ biết:
đang có một ý nghĩ.
Không cần xua.
Không cần giữ.
Một phút.
39. BÀI THỰC HÀNH KHI SÂN
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 324
Nghe câu làm mình nóng.
Đừng trả ngay.
Nói trong tâm:
“Đây là cái nghe.”
Sau đó:
“Sân đang sinh.”
Rồi hỏi:
“Tôi đang thêm câu chuyện nào?”
Câu hỏi này có thể cứu rất nhiều lời ác.
40. BÀI THỰC HÀNH KHI BỊ HIỂU LẦM
Ghi:
Điều người kia thật sự nói.
Rồi ghi:
Điều mình đang nghĩ họ muốn nói.
Hai thứ có giống nhau không?
Nếu không:
cần kiểm.
41. BÀI THỰC HÀNH BẢY NGÀY
NGÀY 1
Mỗi lần nghe một lời khó chịu, nhắc:
“Nghe chỉ là nghe.”
NGÀY 2
Không đoán ý người khác nếu chưa có bằng chứng.
NGÀY 3
Khi có cảm giác khó chịu, chỉ gọi tên cảm giác.
NGÀY 4
Khi thấy một bình luận, không gắn ngay động cơ cho người viết.
NGÀY 5
Phân biệt một tin nghe kể với điều mình biết trực tiếp.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 325
NGÀY 6
Khi một ý nghĩ tiêu cực về mình xuất hiện, nói:
“Đây là một ý nghĩ.”
NGÀY 7
Hỏi:
“Tuần này tôi đã bớt được bao nhiêu câu chuyện do tâm tự dựng?”
42. THỰC HÀNH BUỔI SÁNG
Mỗi sáng có thể đọc:
Hôm nay tôi tập thấy điều gì đúng như điều ấy trước khi thêm suy diễn.
Tôi nghe một lời nhưng không vội đoán ý người.
Tôi nhận cảm giác mà không lập tức phóng lớn nó.
Tôi thấy ý nghĩ nhưng không coi mọi ý nghĩ là sự thật.
Tôi tập bớt dựng cái tôi vào từng chuyện nhỏ.
43. THỰC HÀNH BUỔI TỐI
Trước khi ngủ hỏi:
Hôm nay tôi đã suy diễn chuyện nào?
Có lần nào người ta chỉ nói một câu nhưng tôi tự thêm rất nhiều ý không?
Tôi có tin một điều chỉ vì nghe kể không?
Tôi có biến một cảm giác thành một câu chuyện lớn không?
Có ý nghĩ nào tôi đã coi là sự thật dù chưa kiểm chứng không?
Hôm nay tôi đã có lúc nào chỉ thấy là thấy, chỉ nghe là nghe chưa?
44. CÂU GHI NHỚ THỨ NHẤT
Một sự việc nhỏ có thể thành một nỗi khổ lớn khi tâm thêm vào quá nhiều câu chuyện.
45. CÂU GHI NHỚ THỨ HAI
Nghe một câu không đồng nghĩa biết hết ý người nói.
46. CÂU GHI NHỚ THỨ BA
Một cảm giác là một cảm giác; đừng vội biến nó thành toàn bộ cuộc đời.
47. CÂU GHI NHỚ THỨ TƯ
Một ý nghĩ xuất hiện trong tâm chưa chắc là sự thật.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 326
48. CÂU GHI NHỚ THỨ NĂM
Chưa biết thì nói chưa biết; đừng dùng suy đoán lấp chỗ của sự thật.
49. CÂU GHI NHỚ THỨ SÁU
Nhiều cuộc cãi nhau không bắt đầu từ điều người kia nói, mà từ điều mình nghĩ người kia muốn nói.
50. CÂU GHI NHỚ THỨ BẢY
Cái tôi càng chen nhanh vào sự việc, sân càng có cơ hội lớn nhanh.
51. CÂU GHI NHỚ THỨ TÁM
Thấy đúng sự kiện trước, rồi mới xử lý; đừng xử lý câu chuyện do chính tâm mình dựng.
52. CÂU GHI NHỚ THỨ CHÍN
Không phải bỏ trí phân biệt; chỉ là đừng chấp thêm trước khi thấy rõ.
53. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
THẤY – CHỈ LÀ THẤY.
NGHE – CHỈ LÀ NGHE.
CẢM – CHỈ LÀ CẢM.
BIẾT – CHỈ LÀ BIẾT.
Rồi hỏi:
“TÔI ĐANG THÊM GÌ VÀO ĐÓ?”
Đó là câu hỏi rất mạnh.
Bởi có khi cái làm mình khổ nhất không phải:
điều đã xảy ra,
mà là:
câu chuyện mình tiếp tục dựng sau điều đã xảy ra.
Và xin nhớ lời Phật:
“Trong cái thấy sẽ chỉ là cái thấy. Trong cái nghe sẽ chỉ là cái nghe. Trong cái thọ tưởng sẽ chỉ là cái thọ tưởng. Trong cái thức tri sẽ chỉ là cái thức tri.” (Thư Viện Hoa Sen)
Nguồn: Kinh Bāhiya – Bāhiya Sutta, Kinh Phật Tự Thuyết – Udāna, Tiểu Bộ Kinh – Khuddaka Nikāya, Ud 1.10; bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu; nguyên bản Kinh tạng Pāli. (SuttaCentral)
54. CÂU HỎI LIVESTREAM
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 327
1. Có bao giờ người ta chỉ nói một câu, nhưng quý vị tự nghĩ thêm cả một câu chuyện rồi giận cả ngày không?
2. Khi một người không trả lời tin nhắn, quý vị thường nghĩ “họ đang bận” hay nghĩ ngay “họ coi thường mình”?
3. Theo quý vị, một ý nghĩ trong đầu mình có phải lúc nào cũng là sự thật không?
4. Có bao giờ quý vị nghe một tin về ai đó rồi sau này mới biết tin ấy không đúng không?
5. Khi bị chê, quý vị nghe đúng điều người ta nói hay thường nghe thêm điều cái tôi của mình diễn giải?
6. Theo quý vị, khác nhau thế nào giữa “người ấy nói bài này dài” và “người ấy nói tôi giảng dở”?
7. Có khi nào một cảm giác đau nhỏ làm tâm mình tưởng tượng ra cả một tương lai rất đáng sợ không?
8. Trên mạng xã hội, mình có thường đọc tiêu đề rồi kết luận trước khi đọc hết nội dung không?
9. Khi có một ý nghĩ “tôi không làm được”, quý vị có thể thử đổi thành “đang có một ý nghĩ rằng tôi không làm được” không? Cảm giác có khác không?
10. Hôm nay quý vị có thể thử một công thức: “Sự kiện là gì? Tôi đang thêm gì?” trước một chuyện làm mình khó chịu không?
55. CÂU KẾT ĐỂ ĐỌC TRÊN LIVESTREAM
Kính thưa quý vị,
đôi khi cuộc đời chỉ đưa cho mình:
một cái nhìn.
Nhưng mình tự thêm:
một sự khinh thường.
Cuộc đời chỉ đưa:
một câu nói.
Mình tự thêm:
một cuộc chiến.
Cuộc đời chỉ đưa:
một cảm giác khó chịu.
Mình tự thêm:
một tương lai đầy sợ hãi.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 328
Cuộc đời chỉ đưa:
một ý nghĩ.
Mình lại nói:
“Đó chính là tôi.”
Lời Phật trong Kinh Bāhiya cắt ngay tại nơi ấy:
TRONG CÁI THẤY – CHỈ LÀ CÁI THẤY.
TRONG CÁI NGHE – CHỈ LÀ CÁI NGHE.
TRONG CÁI CẢM NHẬN – CHỈ LÀ CÁI CẢM NHẬN.
TRONG CÁI ĐƯỢC BIẾT – CHỈ LÀ CÁI ĐƯỢC BIẾT.
Không phải để mình thành người vô cảm.
Mà để mình:
thấy rõ trước khi chấp.
biết rõ trước khi phản ứng.
kiểm lại trước khi kết luận.
Vì vậy công thức hôm nay rất dễ nhớ:
SỰ KIỆN → CÂU CHUYỆN → KIỂM LẠI.
Và câu hỏi mang theo cả ngày là:
“ĐIỀU GÌ THẬT SỰ ĐÃ XẢY RA, VÀ TÔI ĐANG THÊM GÌ VÀO ĐÓ?”
Chỉ một câu hỏi ấy,
có thể giúp mình bớt:
rất nhiều hiểu lầm,
rất nhiều sân,
và rất nhiều cái khổ do chính tâm mình dựng thêm.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 329
MỤC 013 - Bài 013 — KHÔNG PHÓNG DẬT – ĐỪNG ĐỂ ĐỜI MÌNH TRÔI QUA TRONG THẤT NIỆM 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
Đức Phật dạy:
“Có một pháp, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đem lại hai lợi ích: lợi ích ngay trong hiện tại và lợi ích trong tương lai. Thế nào là một pháp? Không phóng dật trong các thiện pháp.”
Và bài kệ tiếp theo nói:
“Bậc Hiền trí tán thán, Không phóng dật hành thiện; Bậc Hiền không phóng dật, Đem lại hai lợi ích: Lợi ích ngay đời này, Và lợi ích tương lai.” (BuddhaSasana)
2. NGUỒN KINH
Tên kinh: Kinh Không Phóng Dật Tên Pāli: Appamāda Sutta Thuộc: Kinh Phật Thuyết Như Vậy – Itivuttaka, còn gọi Kinh Như Thị Ngữ Bộ: Tiểu Bộ Kinh – Khuddaka Nikāya Mã tra cứu hiện hành: Iti 23 Mã PTS: Itivuttaka 17 Bản dịch tiếng Việt: Hòa thượng Thích Minh Châu Nguyên bản: Kinh tạng Pāli. SuttaCentral cũng liệt kê Appamādasutta với mã Iti 23, trong khi bản in PTS có số trang 17; đây là lý do các tài liệu cũ đôi khi hiển thị số khác nhau. (SuttaCentral)
Nếu có người hỏi trên livestream:
“Sư cô lấy câu này ở đâu?”
có thể trả lời thật gọn:
“Đây là Kinh Không Phóng Dật, thuộc Kinh Như Thị Ngữ – Itivuttaka, Tiểu Bộ Kinh, mã tra cứu quốc tế Iti 23; bản tiếng Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu.”
3. TỪ KHÓA VIỆT – PĀLI – NGHĨA
KHÔNG PHÓNG DẬT – APPAMĀDA – SỐNG TỈNH THỨC, CẨN TRỌNG, KHÔNG BUÔNG THẢ TRONG THIỆN PHÁP
Không phóng dật – appamāda là sống với sự tỉnh thức và cẩn trọng, không buông mình cho tham, sân, si và thói quen bất thiện dẫn đi.
Nói thật dễ hiểu:
BIẾT VIỆC GÌ NÊN LÀM – THÌ ĐỪNG CỨ ĐỂ MAI.
BIẾT VIỆC GÌ KHÔNG NÊN LÀM – THÌ ĐỪNG BUÔNG MÌNH LÀM THEO.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 330
Không phóng dật không phải:
lúc nào cũng căng thẳng.
Không phải:
không được nghỉ.
Không phải:
làm việc từ sáng đến đêm.
Mà là:
đừng sống trong sự buông thả đối với những điều thiện và những việc quan trọng của sự tu tập.
PHÓNG DẬT – PAMĀDA – BUÔNG LUNG, THẤT NIỆM, THIẾU CẨN TRỌNG
Phóng dật có thể hiểu rất đời thường:
biết nên làm nhưng cứ bỏ.
Biết không nên nói nhưng vẫn nói.
Biết sân đang lên nhưng cứ nuôi.
Biết đời vô thường nhưng sống như mình còn rất nhiều thời gian.
Biết cha mẹ già nhưng cứ nói:
“Mai gọi.”
Biết cần tu nhưng cứ nói:
“Mai bắt đầu.”
Biết lỗi mình nhưng cứ:
“Để từ từ sửa.”
Phóng dật không nhất thiết biểu hiện thành một việc rất xấu.
Nó có thể xuất hiện bằng một câu rất quen:
“ĐỂ MAI.”
THIỆN PHÁP – KUSALA DHAMMĀ – NHỮNG PHÁP LÀNH, KHÉO LÉO, ĐƯA ĐẾN LỢI ÍCH VÀ GIẢM KHỔ
Thiện pháp – kusala dhammā là những trạng thái và hành động lành mạnh, có khả năng đưa tâm theo hướng tốt đẹp.
Ví dụ:
giữ giới.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 331
bố thí.
tâm từ.
nhẫn.
chánh niệm.
chân thật.
tinh tấn.
học Pháp.
đoạn sân.
giảm tham.
Không phóng dật không phải chỉ:
không làm ác.
Mà còn:
KHÔNG BỎ MẤT CƠ HỘI LÀM THIỆN.
TU TẬP – BHĀVETI – LÀM CHO PHÁT TRIỂN
Một phẩm chất tốt không phải tự nhiên mạnh.
Phải:
tập.
Lần đầu rất khó.
Lần sau:
dễ hơn chút.
Lặp lại:
thành nếp.
Do đó Đức Phật nói:
“được tu tập, được làm cho sung mãn.” (BuddhaSasana)
Tức là không phóng dật cũng phải:
rèn.
LỢI ÍCH HIỆN TẠI – DIṬṬHADHAMMIKA ATTHA – LỢI ÍCH NGAY TRONG ĐỜI SỐNG HIỆN TẠI
Bài kinh không chỉ nói chuyện:
đời sau.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 332
Đức Phật nói rõ:
lợi ích ngay hiện tại. (BuddhaSasana)
Sống cẩn trọng:
bớt hối tiếc.
Giữ lời:
được tin.
Không buông sân:
bớt xung đột.
Không phung phí:
bớt khó khăn.
Có trách nhiệm:
đời sống ổn định hơn.
Như vậy Pháp có thể được:
nếm ngay trong hiện tại.
LỢI ÍCH TƯƠNG LAI – SAMPARĀYIKA ATTHA – LỢI ÍCH VỀ SAU
Mỗi hành động hôm nay:
đang tạo điều kiện cho ngày mai.
Một thói quen hôm nay:
có thể trở thành nhân cách ngày sau.
Một thiện nghiệp hôm nay:
không mất.
Cho nên không phóng dật nhìn:
xa hơn khoái cảm trước mắt.
4. GIẢI TỪNG CỤM
“CÓ MỘT PHÁP”
Đức Phật nói:
một pháp.
Không phải vì chỉ cần biết một pháp là không cần gì khác.
Mà là Ngài đang nhấn mạnh sức mạnh của:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 333
không phóng dật.
Bởi nếu có không phóng dật,
mình có cơ hội giữ:
giới.
niệm.
tinh tấn.
học.
hành.
Nếu phóng dật,
biết nhiều vẫn có thể:
không làm.
“ĐƯỢC TU TẬP”
Không phóng dật không phải:
một tính cách trời sinh.
Người hôm nay rất lười vẫn có thể:
tập.
Người hôm nay thường quên vẫn có thể:
tập.
Người thường phản ứng nhanh vẫn có thể:
tập dừng.
Tu chính là:
huấn luyện cái chưa tốt trở nên tốt hơn.
“ĐƯỢC LÀM CHO SUNG MÃN”
“Sung mãn” nghĩa là:
không chỉ làm một chút rồi thôi.
Một hôm dậy sớm.
Ba hôm sau bỏ.
Một tuần giữ giới kỹ.
Tuần sau quên.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 334
Không.
Phải để phẩm chất ấy:
ngày càng đầy hơn.
Từ một hành vi trở thành:
thói quen.
Từ thói quen trở thành:
nếp sống.
“ĐEM LẠI HAI LỢI ÍCH”
Đức Phật nói rất thực tế:
hai lợi ích.
Một:
ngay hiện tại.
Hai:
về sau. (BuddhaSasana)
Người tu không phải hy sinh hoàn toàn hiện tại cho một điều mơ hồ.
Thiện pháp chân chính có những quả có thể nhận ra ngay:
tâm nhẹ hơn.
quan hệ tốt hơn.
ít hối tiếc hơn.
sống có nền hơn.
Đó là lợi ích gần.
“KHÔNG PHÓNG DẬT TRONG CÁC THIỆN PHÁP”
Đây là trái tim của bài.
Không chỉ:
“đừng làm ác.”
Mà:
“ĐỪNG LƯỜI VỚI VIỆC THIỆN.”
Biết cha mẹ cần gọi:
gọi.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 335
Biết cần xin lỗi:
xin lỗi.
Biết cần học:
học.
Biết đang sân:
dừng.
Biết nên bố thí:
làm trong khả năng.
Biết ngày mai không chắc còn:
đừng trì hoãn điều thiện.
5. GHÉP NGHĨA TOÀN CÂU
Ghép lại, lời kinh có thể hiểu:
Không phóng dật trong những điều thiện là một pháp rất quan trọng. Nếu được tu tập và làm cho mạnh lên, nó đem lại lợi ích ngay trong cuộc sống hiện tại và tạo lợi ích về sau.
Nói thật dễ nhớ:
BIẾT THIỆN – LÀM.
BIẾT BẤT THIỆN – DỪNG.
ĐỪNG CỨ HẸN VỚI CHÍNH MÌNH: “MAI TU.”
6. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ GÌ?
Kính thưa quý vị,
điều đáng sợ của phóng dật không phải lúc nào cũng là:
một tội lỗi lớn.
Nó có thể là:
đời mình trôi mất từng ngày.
Hôm nay:
chưa tu.
Ngày mai:
chưa tu.
Tháng này:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 336
bận.
Năm sau:
rảnh rồi tu.
Nhưng không ai biết:
mình còn bao nhiêu cái “năm sau”.
Cho nên không phóng dật liên hệ rất sâu với:
VÔ THƯỜNG.
Nếu biết đời vô thường thật,
mình sẽ bớt nói:
“Để khi khác.”
7. PHÓNG DẬT CÓ THỂ NÚP DƯỚI HÌNH THỨC “BẬN”
Có người rất bận.
Nhưng hỏi:
bận việc gì?
Một giờ lướt điện thoại.
Hai giờ xem chuyện người khác.
Rất nhiều thời gian cho:
thứ không cần.
Nhưng năm phút ngồi yên:
“Không có thời gian.”
Không phải lúc nào vấn đề cũng là:
thiếu thời gian.
Có khi là:
thiếu ưu tiên.
8. PHÓNG DẬT CÓ THỂ NÚP DƯỚI HÌNH THỨC “TÔI CÒN TRẺ”
Người trẻ nghĩ:
“Còn lâu.”
Người già lại nói:
“Giờ muộn rồi.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 337
Nếu vậy:
tu lúc nào?
Chánh pháp không chỉ dành cho:
một tuổi.
Ngày nào còn biết:
ngày đó còn có thể bắt đầu.
9. PHÓNG DẬT CÓ THỂ NÚP TRONG CÂU “CHUYỆN NHỎ MÀ”
Một lời nói dối nhỏ.
Một chút sân.
Một chút tham.
Một lần thất hứa.
Một việc thiện bỏ qua.
Mình nói:
“Không sao.”
Nhưng một điều nhỏ lặp lại:
thành thói quen.
Thói quen lặp lại:
thành con người.
Vì vậy đừng xem thường:
việc nhỏ.
10. VÍ DỤ 1 – MUỐN XIN LỖI NHƯNG CỨ ĐỂ MAI
Mình biết:
mình sai.
Trong lòng cũng muốn xin lỗi.
Nhưng cái tôi nói:
“Mai.”
Ngày mai:
ngại.
Tuần sau:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 338
xa.
Một tháng sau:
quan hệ lạnh.
Một lời xin lỗi đáng lẽ rất dễ,
trở thành:
khó.
Không phóng dật là:
nếu đã biết điều đúng,
đừng trì hoãn không cần thiết.
11. VÍ DỤ 2 – CHA MẸ GIÀ
Biết mẹ già.
Muốn gọi.
Nhưng:
“Tối gọi.”
Tối bận.
“Mai.”
Mai lại quên.
Cho đến một ngày:
không còn ai bắt máy.
Không phóng dật trong thiện pháp có khi chỉ là:
GỌI NGAY KHI CÒN CÓ THỂ.
12. VÍ DỤ 3 – MỘT CƠN SÂN
Biết mình đang nóng.
Nhưng nghĩ:
“Nói cho hả đã.”
Sau đó mới tu.
Câu ấy nghe quen lắm.
Nhưng hậu quả:
đã tạo.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 339
Không phóng dật là:
TU NGAY LÚC SÂN ĐANG CÓ.
Không phải:
sân xong mới nhớ Phật.
13. VÍ DỤ 4 – GIỮ GIỚI
Một cơ hội kiếm lợi bằng cách không chân thật xuất hiện.
Tâm nói:
“Lần này thôi.”
Đó là phóng dật rất nguy hiểm.
Bởi sau:
“lần này”
rất dễ có:
“lần nữa.”
Giới được giữ mạnh nhất:
ngay lúc có lợi để phá giới.
14. VÍ DỤ 5 – HỌC KINH
Mua rất nhiều sách.
Lưu rất nhiều bài.
Nhưng:
không đọc.
Đọc nhiều:
không thực hành.
Phóng dật không chỉ là:
không học.
Có khi là:
học mà cứ hoãn hành.
Một câu kinh làm được:
quý hơn mười câu chỉ lưu trong máy.
15. VÍ DỤ 6 – THỂ HIỆN TÂM TỪ
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 340
Mình nghĩ:
“Một ngày nào đó tôi sẽ tha người ấy.”
Nhưng hôm nay vẫn:
kể xấu.
tìm chuyện.
nuôi hận.
Nếu muốn tâm từ lớn:
phải bắt đầu bằng:
một hành động ngay hôm nay.
Ví dụ:
không nói câu ác đó.
16. VÍ DỤ 7 – BỐ THÍ
Thấy người cần giúp.
Mình có thể giúp một chút.
Tâm nói:
“Để khi giàu hơn.”
Nhưng lòng rộng không bắt đầu khi:
tài sản đạt một con số.
Nó bắt đầu khi:
mình chia được trong khả năng hiện tại.
17. VÍ DỤ 8 – CHĂM SÓC SỨC KHỎE
Biết cần đi khám.
Cứ trì hoãn.
Biết thuốc phải uống đúng.
Cứ quên.
Biết cơ thể cần nghỉ.
Cứ ép.
Không phóng dật cũng có nghĩa:
có trách nhiệm với thân đang được dùng để tu và làm việc thiện.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 341
18. VÍ DỤ 9 – LIVESTREAM
Biết một nguồn kinh chưa chắc.
Nhưng nghĩ:
“Nói đại chắc không sao.”
Đó cũng là một dạng thiếu cẩn trọng.
Không phóng dật trong việc giảng Pháp là:
chưa chắc thì kiểm.
Không biết:
nói chưa biết.
Sai:
sửa.
Đừng vì sợ mất mặt mà:
giữ một câu sai.
19. VÍ DỤ 10 – MỘT NGÀY TRÔI QUA
Sáng thức.
Cầm điện thoại.
Một giờ mất.
Chuyện này.
Chuyện kia.
Đến tối nói:
“Hôm nay bận quá, chưa tu được.”
Nhưng thật ra:
thời gian đã được dùng.
Chỉ không dùng cho:
điều mình nói là quan trọng.
Đây là lúc phải nhìn thật.
20. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ THÊM ĐIỀU GÌ?
Bài kinh nói người không phóng dật có lợi ích:
ngay đời này và tương lai. (BuddhaSasana)
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 342
Điều này chỉ rằng:
thiện pháp không phải một sự hy sinh vô ích.
Ví dụ:
không nói lời sân hôm nay:
ngay hôm nay bớt một cuộc cãi.
Giữ lời hôm nay:
niềm tin tăng.
Không phung phí hôm nay:
tài chính ổn hơn.
Chánh niệm hôm nay:
ít phản ứng sai hơn.
Quả gần:
thấy được.
21. KHÔNG PHÓNG DẬT KHÔNG PHẢI LÀ LÀM MÌNH SỢ HÃI
Có người tu kiểu:
“Tôi phải làm, tôi phải làm, không thì tội.”
Rồi tâm căng.
Không phóng dật không đồng nghĩa:
hoảng sợ.
Nó là:
tỉnh thức và có trách nhiệm.
Giống người lái xe.
Không cần run.
Nhưng cần:
tỉnh.
22. NGHỈ NGƠI KHÔNG PHẢI PHÓNG DẬT
Thân mệt:
nghỉ đúng.
Tâm quá tải:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 343
nghỉ.
Ngủ đủ:
cần.
Không nên lấy lời kinh để biến sự tu thành:
kiệt sức.
Phóng dật là:
buông lung trong điều bất thiện và bỏ bê điều thiện.
Nghỉ để thân tâm có sức hành thiện:
không phải phóng dật.
23. KHÔNG PHÓNG DẬT CẦN TRÍ TUỆ ĐỂ BIẾT VIỆC NÀO QUAN TRỌNG
Nếu làm một trăm việc nhỏ,
nhưng bỏ một việc quan trọng,
chưa chắc là tinh tấn.
Ví dụ:
lau bàn rất sạch,
nhưng không gọi bác sĩ khi cha mẹ đang bệnh.
Bận chỉnh từng chi tiết,
nhưng quên ăn.
Không phóng dật phải có:
ƯU TIÊN.
24. VÔ THƯỜNG LÀ LÝ DO ĐỂ KHÔNG TRÌ HOÃN ĐIỀU THIỆN
Không ai biết:
đời dài bao lâu.
Người mình thương còn bao lâu.
Cơ hội còn bao lâu.
Sức khỏe còn bao lâu.
Do đó:
không phải sống vội.
Mà là:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 344
SỐNG KHÔNG PHÍ.
Hai điều rất khác.
25. SỐNG KHÔNG PHÓNG DẬT KHÔNG CÓ NGHĨA LÚC NÀO CŨNG NHANH
Có lúc:
chậm mới đúng.
Chậm để:
kiểm nguồn.
Chậm để:
nghĩ trước khi nói.
Chậm để:
không quyết trong sân.
Không phóng dật không phải:
nhanh.
Nó là:
đúng lúc.
26. ỨNG DỤNG 1 – QUY TẮC “LÀM NGAY NẾU CHỈ MẤT VÀI PHÚT”
Nếu việc thiện chỉ cần vài phút:
gọi cha mẹ.
xin lỗi.
trả lời người cần.
dọn một chỗ.
đọc một đoạn kinh.
Nếu làm được ngay và không có lý do phải trì hoãn:
làm.
Đừng để việc nhỏ thành gánh lớn.
27. ỨNG DỤNG 2 – MỖI NGÀY MỘT VIỆC THIỆN KHÔNG ĐƯỢC HOÃN
Chọn một việc.
Không cần mười.
Ví dụ:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 345
hôm nay nhất định:
không nói xấu.
Hoặc:
gọi mẹ.
Hoặc:
ngồi niệm hơi thở năm phút.
Hoặc:
đọc một đoạn kinh có nguồn.
Làm xong.
Như vậy thiện pháp bắt đầu:
có chỗ trong lịch sống.
28. ỨNG DỤNG 3 – CẮT MỘT THỨ GÂY PHÓNG DẬT
Nhìn xem thứ gì lấy thời gian nhiều nhất.
Điện thoại?
Tin tức?
Chuyện người?
Video ngắn?
Không nhất thiết bỏ hết.
Chỉ đặt:
giới hạn.
Thời gian lấy lại được:
dùng cho điều mình thật sự coi trọng.
29. ỨNG DỤNG 4 – KHI SÂN
Quy tắc:
SÂN CAO – KHÔNG GỬI.
Không gửi:
tin nhắn.
bình luận.
quyết định lớn.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 346
Đợi tâm xuống.
Đây là không phóng dật trong:
khẩu và hành động.
30. ỨNG DỤNG 5 – KHI THAM
Khi muốn mua,
muốn nhận,
muốn lấy,
hỏi:
“Việc này có làm tôi phá nguyên tắc nào không?”
Nếu có:
dừng.
Không để một phút tham tạo:
nhiều năm hậu quả.
31. ỨNG DỤNG 6 – TRONG VIỆC GIẢNG PHÁP
Trước mỗi câu trích:
kiểm nguồn.
Phân biệt:
lời Phật
với:
lời giải thích.
Không chắc:
đánh dấu.
Đây chính là:
không phóng dật trong Chánh pháp.
32. ỨNG DỤNG 7 – VỚI LỜI HỨA
Đã hứa:
ghi lại.
Làm.
Nếu không làm được:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 347
báo.
Không để người khác:
chờ.
Một đời sống đáng tin được tạo bởi:
những việc nhỏ làm đúng hẹn.
33. ỨNG DỤNG 8 – VỚI CHA MẸ
Đừng chỉ nói:
“Con thương.”
Đưa vào lịch:
gọi.
thăm.
khám.
chăm.
Hiếu không phóng dật là:
không đợi đến lúc mất mới nhớ những điều đáng lẽ phải làm.
34. CÔNG THỨC THỨ NHẤT: BIẾT – LÀM – ĐỪNG HOÃN
BIẾT
Biết điều thiện nào cần làm.
LÀM
Đưa thành hành động.
ĐỪNG HOÃN
Không trì hoãn vô lý.
Công thức:
BIẾT THIỆN → LÀM THIỆN → ĐỪNG HOÃN.
35. CÔNG THỨC THỨ HAI: THẤY BẤT THIỆN – DỪNG SỚM
Sân vừa sinh:
biết.
Tham vừa sinh:
biết.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 348
Muốn nói ác:
biết.
Sau đó:
DỪNG SỚM.
Việc dừng ở một ý nghĩ dễ hơn:
dừng sau một hành động.
36. CÔNG THỨC THỨ BA: HÔM NAY – KHÔNG PHẢI “MỘT NGÀY NÀO ĐÓ”
Muốn tu?
HÔM NAY.
Muốn xin lỗi?
HÔM NAY.
Muốn thương?
HÔM NAY.
Muốn bỏ một thói xấu?
BẮT ĐẦU HÔM NAY.
Không cần hoàn thành hết.
Nhưng:
bắt đầu.
37. CÔNG THỨC THỨ TƯ: ĐÚNG VIỆC – ĐÚNG LÚC – ĐÚNG TÂM
ĐÚNG VIỆC
Việc ấy có thiện không?
ĐÚNG LÚC
Có nên làm bây giờ không?
ĐÚNG TÂM
Tâm đang tỉnh hay đang sân tham?
Công thức:
ĐÚNG VIỆC → ĐÚNG LÚC → ĐÚNG TÂM.
38. CÔNG THỨC THỨ NĂM: MỖI NGÀY BA VIỆC
Mỗi ngày chỉ cần giữ ba điều:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 349
MỘT VIỆC NÊN LÀM – LÀM.
MỘT VIỆC KHÔNG NÊN LÀM – DỪNG.
MỘT PHÚT NHÌN LẠI TÂM.
Rất đơn giản.
Nhưng nếu làm đều:
đời sống thay đổi.
39. BÀI THỰC HÀNH MỘT NGÀY
Buổi sáng viết:
Hôm nay có một điều thiện nào tôi không được trì hoãn?
Chỉ một.
Ví dụ:
gọi mẹ.
xin lỗi.
đọc kinh.
khám bệnh.
hoàn thành lời hứa.
Cuối ngày:
xem đã làm chưa.
Đây là một cách rất thực tế để tu:
appamāda – không phóng dật.
40. BÀI THỰC HÀNH BẢY NGÀY
NGÀY 1
Làm ngay một việc thiện đã hoãn lâu.
NGÀY 2
Không trả lời khi đang sân cao.
NGÀY 3
Dành một khoảng cố định để học Pháp.
NGÀY 4
Cắt bớt một khoảng thời gian lướt vô thức.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 350
NGÀY 5
Giữ trọn một lời hứa nhỏ.
NGÀY 6
Làm một việc giúp người không cần ai biết.
NGÀY 7
Nhìn lại:
“Tuần này tôi đã sống tỉnh hơn hay chỉ bận hơn?”
Câu này rất quan trọng.
41. THỰC HÀNH BUỔI SÁNG
Mỗi sáng có thể đọc:
Ngày hôm nay không chắc trở lại.
Điều thiện tôi có thể làm, tôi cố gắng không trì hoãn.
Điều bất thiện đang sinh, tôi cố nhận biết sớm.
Tôi không dùng chữ “bận” để che cho sự thất niệm của mình.
Tôi làm việc nhưng không để đời trôi đi mà không biết mình đang sống vì điều gì.
42. THỰC HÀNH BUỔI TỐI
Trước khi ngủ hỏi:
Hôm nay tôi đã trì hoãn điều thiện gì?
Tôi có làm một việc biết rõ là không nên làm không?
Tôi đã dùng bao nhiêu thời gian cho những điều không thật sự quan trọng?
Tôi có giữ lời không?
Tôi có dừng được một cơn sân trước khi nó thành lời không?
Nếu ngày hôm nay là ngày cuối, tôi có tiếc điều gì vì chưa làm không?
Nếu có điều sửa được:
ngày mai làm sớm.
43. CÂU GHI NHỚ THỨ NHẤT
Phóng dật nhiều khi không nói “hãy làm ác”; nó chỉ nói “điều thiện này để mai làm cũng được”.
44. CÂU GHI NHỚ THỨ HAI
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 351
Không ai chắc mình còn bao nhiêu chữ “mai”.
45. CÂU GHI NHỚ THỨ BA
Biết điều đúng mà cứ mãi không làm, cái biết ấy chưa đi vào đời sống.
46. CÂU GHI NHỚ THỨ TƯ
Một điều bất thiện dừng khi còn là ý nghĩ dễ hơn rất nhiều so với sửa hậu quả sau khi đã thành hành động.
47. CÂU GHI NHỚ THỨ NĂM
Không phóng dật không phải sống gấp; đó là sống không phí.
48. CÂU GHI NHỚ THỨ SÁU
Bận không đồng nghĩa tỉnh thức; có người rất bận nhưng cả ngày không biết mình đang chạy vì điều gì.
49. CÂU GHI NHỚ THỨ BẢY
Nghỉ đúng lúc không phải phóng dật; bỏ điều quan trọng vì buông thả mới là điều cần nhìn.
50. CÂU GHI NHỚ THỨ TÁM
Muốn biết điều gì thật sự quan trọng với mình, hãy nhìn xem mình đang dành thời gian cho điều gì.
51. CÂU GHI NHỚ THỨ CHÍN
Việc thiện không cần lúc nào cũng lớn; nhiều khi chỉ cần đừng bỏ qua việc đúng ngay trước mặt.
52. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI
Một ngày sống có tỉnh thức quý hơn nhiều ngày chỉ trôi qua theo thói quen.
53. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
BIẾT THIỆN – HÃY LÀM.
BIẾT BẤT THIỆN – HÃY DỪNG.
BIẾT NGƯỜI MÌNH THƯƠNG CÒN ĐÓ – HÃY THƯƠNG KHI CÒN CƠ HỘI.
BIẾT ĐỜI VÔ THƯỜNG – ĐỪNG HẸN VIỆC TU VỚI MỘT NGÀY MAI KHÔNG AI BẢO ĐẢM.
Và xin nhớ lời Phật:
“Có một pháp, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đem lại hai lợi ích, an trú ngay hiện tại và lợi ích cho tương lai. Thế nào là một pháp? Không phóng dật trong các thiện pháp.” (BuddhaSasana)
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 352
Nguồn: Kinh Không Phóng Dật – Appamāda Sutta, Kinh Như Thị Ngữ – Itivuttaka, Tiểu Bộ Kinh – Khuddaka Nikāya, mã quốc tế Iti 23; bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu; nguyên bản Kinh tạng Pāli. (SuttaCentral)
54. CÂU HỎI LIVESTREAM
1. Quý vị có việc thiện nào biết nên làm từ lâu nhưng đến hôm nay vẫn nói “để mai” không?
2. Trong một ngày, điều nào lấy thời gian của quý vị nhiều nhất nhưng thật ra không quan trọng lắm?
3. Có bao giờ mình nói “không có thời gian tu”, nhưng lại có rất nhiều thời gian xem điện thoại không?
4. Theo quý vị, phóng dật nguy hiểm nhất ở chỗ làm điều xấu hay ở chỗ để cả đời trôi qua mà không chịu làm điều tốt?
5. Có lời xin lỗi nào quý vị đang nợ một người nhưng cái tôi vẫn nói “để hôm khác” không?
6. Nếu cha mẹ còn sống, quý vị có việc gì muốn làm ngay thay vì cứ nghĩ “mai mình sẽ làm”?
7. Theo quý vị, sống không phóng dật có phải lúc nào cũng bận rộn và căng thẳng không?
8. Có khi nào điều đúng mình biết rất rõ, nhưng chỉ vì tham hoặc sân nên vẫn không làm theo không?
9. Nếu hôm nay chỉ được chọn một thiện pháp để không phóng dật, quý vị sẽ chọn điều gì?
10. Nếu biết chắc mình chỉ còn một năm để sống, điều gì trong lịch sống hiện tại của quý vị sẽ thay đổi trước tiên?
55. CÂU KẾT ĐỂ ĐỌC TRÊN LIVESTREAM
Kính thưa quý vị,
đời người nhiều khi không mất trong:
một biến cố lớn.
Nó mất từng ngày.
Một ngày nói:
mai tu.
Một ngày nói:
mai gọi mẹ.
Một ngày nói:
mai xin lỗi.
Một ngày nói:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 353
mai bỏ sân.
Rồi chữ:
“mai”
cứ đi trước mình.
Nhưng vô thường không ký hợp đồng rằng:
ngày mai mình vẫn còn đủ duyên như hôm nay.
Cho nên Đức Phật tán thán:
không phóng dật trong các thiện pháp. (BuddhaSasana)
Không cần làm một điều thật lớn ngay.
Chỉ cần:
việc tốt trước mặt,
đừng bỏ.
Lỗi vừa thấy,
sửa.
Sân vừa sinh,
dừng.
Người còn thương được,
thương.
Pháp còn học được,
học.
Thân còn hành được,
hành.
Vì vậy bài hôm nay chỉ cần nhớ một công thức:
BIẾT THIỆN – LÀM.
BIẾT SAI – DỪNG.
VIỆC QUAN TRỌNG – ĐỪNG CỨ HẸN “MAI”.
Không phóng dật không phải:
sống vội.
Mà là:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 354
SỐNG TỈNH.
SỐNG CÓ TRÁCH NHIỆM.
VÀ KHÔNG ĐỂ ĐIỀU THIỆN TRÔI QUA CHỈ VÌ MÌNH CỨ NGHĨ RẰNG CÒN RẤT NHIỀU THỜI GIAN.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 355
MỤC 014 - Bài 014 — NĂM SỨC MẠNH CỦA NGƯỜI TU – TÍN, TẤN, NIỆM, ĐỊNH, TUỆ 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
Đức Phật dạy:
“Này các Tỷ-kheo, có năm sức mạnh này. Thế nào là năm? Tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực, tuệ lực.”
2. NGUỒN KINH
Tên kinh: Kinh Các Sức Mạnh Tóm Lược Tên Pāli: Saṅkhitta Sutta Thuộc: Tăng Chi Bộ Kinh – Aṅguttara Nikāya Chương: Năm Pháp Số kinh: Kinh số 13 Mã tra cứu quốc tế: AN 5.13 Bản dịch tiếng Việt: Hòa thượng Thích Minh Châu Nguyên bản: Kinh tạng Pāli
SuttaCentral ghi rõ AN 5.13 là “Các Sức Mạnh Tóm Lược”, gồm đúng năm sức mạnh: tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực và tuệ lực. (SuttaCentral)
Ngay bài kinh kế tiếp, AN 5.14 – Các Sức Mạnh Rộng Thuyết, Đức Phật giải thích chi tiết từng sức mạnh này. (SuttaCentral)
3. TỪ KHÓA VIỆT – PĀLI – NGHĨA
TÍN LỰC – SADDHĀ-BALA – SỨC MẠNH CỦA LÒNG TIN CHÂN CHÁNH
Tín lực – saddhā-bala là sức mạnh của lòng tin.
Nhưng trong Phật pháp, lòng tin không nên hiểu là:
tin mù quáng.
Tín ở đây trước hết là lòng tin nơi sự giác ngộ của Đức Phật, tin rằng con đường tu tập có ý nghĩa và đáng để thực hành. Trong AN 5.14, tín lực được giải thích bằng niềm tin nơi sự giác ngộ của Như Lai. (SuttaCentral)
Nói thật dễ hiểu:
TIN ĐỦ ĐỂ BẮT ĐẦU ĐI.
Nếu hoàn toàn không tin rằng sân có thể giảm,
mình sẽ không tập.
Nếu không tin giới có giá trị,
mình sẽ dễ phá giới khi gặp lợi.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 356
Nếu không tin tâm có thể được huấn luyện,
mình sẽ nói:
“Tính tôi vậy rồi.”
Tín lực giúp mình:
không bỏ cuộc trước khi bắt đầu.
TẤN LỰC – VIRIYA-BALA – SỨC MẠNH CỦA TINH TẤN
Tấn lực – viriya-bala là sức mạnh của sự nỗ lực.
AN 5.14 giải thích người có tấn lực là người sống tinh cần tinh tấn, từ bỏ các pháp bất thiện, thành tựu các thiện pháp, nỗ lực và kiên trì, không từ bỏ gánh nặng đối với thiện pháp. (SuttaCentral)
Nói dễ hiểu:
BIẾT ĐƯỜNG RỒI – PHẢI ĐI.
Biết sân là xấu nhưng không tập dừng:
chưa đủ.
Biết bố thí tốt nhưng không bao giờ chia sẻ:
chưa đủ.
Biết cần xin lỗi nhưng cứ để đó:
chưa đủ.
Tấn lực biến:
cái biết
thành:
việc làm.
NIỆM LỰC – SATI-BALA – SỨC MẠNH CỦA CHÁNH NIỆM
Niệm lực – sati-bala là sức mạnh của khả năng nhớ biết, không để tâm thất niệm hoàn toàn.
AN 5.14 mô tả vị Thánh đệ tử có chánh niệm, có khả năng nhớ lại những điều đã nói và làm từ trước. (SuttaCentral)
Trong thực hành đời sống, mình có thể hiểu gần:
nhớ mình đang làm gì.
Sân đang lên:
biết.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 357
Tham đang lên:
biết.
Miệng sắp nói:
biết.
Tâm đang chạy:
biết.
Niệm lực chính là thứ giúp mình không bị phiền não kéo đi mà:
không hay biết gì.
ĐỊNH LỰC – SAMĀDHI-BALA – SỨC MẠNH CỦA TÂM ĐỊNH TĨNH
Định lực – samādhi-bala là sức mạnh của tâm được gom lại, không tán loạn.
Trong AN 5.14, định lực được giải thích bằng bốn tầng thiền. (SuttaCentral)
Đối với người mới học, có thể nói thật dễ:
tâm có khả năng ở lại với đối tượng tu tập thay vì chạy liên tục.
Đọc kinh:
tâm ở kinh.
Niệm Phật:
tâm biết mình niệm.
Nghe người:
tâm biết mình đang nghe.
Thiền hơi thở:
tâm trở về hơi thở.
Định không chỉ làm tâm yên.
Nó còn giúp:
thấy rõ hơn.
TUỆ LỰC – PAÑÑĀ-BALA – SỨC MẠNH CỦA TRÍ TUỆ
Tuệ lực – paññā-bala là sức mạnh của trí thấy đúng.
AN 5.14 giải thích đây là trí tuệ về sinh diệt, đưa vào con đường đoạn tận khổ đau. (SuttaCentral)
Nói dễ hiểu:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 358
KHÔNG CHỈ BIẾT NHIỀU – MÀ PHẢI THẤY ĐÚNG.
Có thể thuộc rất nhiều câu kinh,
nhưng nếu:
tham vẫn gọi là hợp lý,
sân vẫn gọi là thẳng tính,
mạn vẫn gọi là bản lĩnh,
thì kiến thức chưa chắc đã thành:
tuệ.
Tuệ giúp mình thấy:
điều gì là nhân khổ,
điều gì là đường ra khỏi khổ.
4. GIẢI TỪNG CỤM
“CÓ NĂM SỨC MẠNH NÀY”
Đức Phật gọi chúng là:
sức mạnh.
Điều này rất đáng suy nghĩ.
Thông thường người đời gọi mạnh là:
có tiền.
có quyền.
nói ai cũng nghe.
Nhưng Đức Phật còn chỉ một loại sức mạnh khác:
SỨC MẠNH BÊN TRONG.
Một người có thể:
không có chức lớn,
nhưng có tín.
Có tinh tấn.
Có niệm.
Có định.
Có tuệ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 359
Người ấy có một nền rất khó lay chuyển.
“TÍN LỰC”
Không có tín,
đường tu rất dễ gãy.
Hôm nay nghe người này:
tin.
Mai nghe người khác:
đổi.
Mốt gặp khó:
bỏ.
Tín lực giúp mình:
có hướng.
Nhưng tín phải đi với:
tuệ.
Nếu chỉ tin mà không kiểm,
dễ thành mê tín.
Nếu chỉ nghi mà không dám thực hành,
không đi được.
Do đó tín chân chánh là:
tin để hành, hành để tự thấy.
“TẤN LỰC”
Tín giống như:
biết con đường.
Tấn là:
bước chân.
Có bản đồ nhưng không đi:
không tới.
Có kinh nhưng không hành:
không chuyển.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 360
Người tu không cần một ngày làm thật nhiều.
Nhưng cần:
đều.
Mỗi ngày bớt một chút sân.
Thêm một chút niệm.
Giữ một giới cho chắc.
Một câu kinh đem ra sống.
Đó là tinh tấn.
“NIỆM LỰC”
Tấn mà không có niệm,
có thể thành:
cố quá nhưng không biết tâm đang gì.
Niệm giúp mình:
nhìn.
Ví dụ:
đang làm thiện,
nhưng muốn được khen.
Niệm thấy:
“Cái tôi đang chen.”
Đang tranh luận,
nhưng mục tiêu từ tìm sự thật chuyển thành:
thắng người.
Niệm thấy.
Nếu không có niệm,
mình rất dễ làm điều bất thiện mà vẫn nghĩ:
“Tôi đúng.”
“ĐỊNH LỰC”
Niệm giúp nhận ra.
Định giúp:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 361
ở lại.
Nếu tâm quá loạn,
một câu kinh đọc chưa xong đã:
nghĩ chuyện khác.
Một hơi thở chưa hết đã:
chạy.
Người kia chưa nói hết câu đã:
chuẩn bị phản bác.
Định lực làm tâm:
ít bị xé thành trăm hướng.
Tâm bớt chạy,
mới có sức thấy sâu.
“TUỆ LỰC”
Định mà không có tuệ,
tâm có thể yên,
nhưng chưa chắc:
thấy gốc khổ.
Tuệ giúp hiểu:
cái này sinh vì nhân nào.
Cái này vô thường.
Cái này nếu nắm thì khổ.
Cái này nên buông.
Cái này nên nuôi.
Vì vậy năm lực liên hệ với nhau rất đẹp.
5. GHÉP NGHĨA TOÀN CÂU
Toàn câu có thể hiểu:
Người học Phật cần phát triển năm sức mạnh bên trong: lòng tin chân chánh để có hướng đi; tinh tấn để thực hành; chánh niệm để nhận biết tâm và hành động; định để tâm vững và bớt tán loạn; trí tuệ để thấy đúng con đường sinh khổ và đoạn khổ.
Có thể nhớ bằng năm chữ:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 362
TIN – LÀM – BIẾT – VỮNG – THẤY.
Tin: tín lực.
Làm: tấn lực.
Biết: niệm lực.
Vững: định lực.
Thấy: tuệ lực.
6. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ GÌ?
Kính thưa quý vị,
một điều rất hay là Đức Phật không đưa cho mình:
chỉ một sức mạnh.
Nếu chỉ có tín:
có thể tin nhiều nhưng không hành.
Nếu chỉ có tấn:
có thể cố quá mà đi sai hướng.
Nếu chỉ có niệm:
thấy nhưng thiếu sức làm.
Nếu chỉ có định:
yên nhưng chưa chắc thấy đúng.
Nếu chỉ có trí theo kiểu kiến thức:
biết rất nhiều nhưng đời sống không đổi.
Năm lực bổ sung nhau.
Có thể nhớ như một chiếc xe:
Tín cho hướng.
Tấn cho lực chạy.
Niệm giữ mình không ngủ quên.
Định giữ xe khỏi lạng.
Tuệ biết đâu là đường đúng.
Thiếu một thứ,
đường tu dễ nghiêng.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 363
7. TÍN MÀ KHÔNG TUỆ – DỄ TIN MÙ QUÁNG
Có người nghe:
“Người này linh lắm.”
Tin ngay.
Nghe:
“Làm việc này sẽ hết nghiệp.”
Tin ngay.
Nghe ai tự nhận:
chứng cao.
Tin ngay.
Đó không phải tín lực theo nghĩa lành mạnh.
Tín phải có:
kiểm chứng bằng Pháp.
Kinh ở đâu?
Có phù hợp giới không?
Có phù hợp lời Phật không?
Có đưa tới giảm tham sân si không?
Nếu trái Pháp,
không vì người nói nổi tiếng mà tin.
8. TUỆ MÀ KHÔNG TÍN – CÓ THỂ THÀNH CHỈ BIẾT PHÂN TÍCH
Một người đọc rất nhiều.
Cái gì cũng phân tích.
Nhưng không thực hành.
Câu nào cũng:
“Tôi còn phải nghiên cứu.”
Nghiên cứu rất quý.
Nhưng đến một điểm:
phải:
sống thử lời kinh.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 364
Ví dụ:
Phật dạy không sân.
Không cần chờ đọc hết Tam Tạng mới tập:
dừng một câu ác.
9. TẤN MÀ KHÔNG NIỆM – CÓ THỂ TU RẤT NHIỀU NHƯNG CÁI TÔI CŨNG LỚN
Có người rất siêng.
Ngày nào cũng:
tụng,
lạy,
học,
làm việc thiện.
Nhưng không nhìn tâm.
Rồi bắt đầu nghĩ:
“Tôi tu hơn người.”
Lúc ấy tấn có,
nhưng niệm chưa đủ để thấy:
mạn.
Do đó càng tu càng phải:
soi động cơ.
10. NIỆM MÀ KHÔNG TẤN – BIẾT LỖI MÀ KHÔNG SỬA
Có người rất rõ:
“Tôi nóng tính.”
Biết mười năm.
Nhưng vẫn:
nóng y hệt.
Biết chưa đủ.
Phải thêm:
tấn.
Mỗi lần sân:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 365
tập dừng.
Lỡ nói:
xin lỗi.
Tìm nguyên nhân.
Lặp lại.
Đó là đưa niệm sang:
tu tập thật.
11. ĐỊNH MÀ KHÔNG TUỆ – CÓ THỂ CHỈ THÍCH CẢM GIÁC YÊN
Ngồi yên rất dễ chịu.
Tâm lắng.
Rồi mình chỉ muốn:
giữ cảm giác ấy.
Nhưng ra đời:
người khác nói một câu,
sân lại nổi.
Như vậy định chưa đi cùng:
tuệ và chuyển hóa.
Mục tiêu không chỉ:
yên lúc ngồi.
Mà:
thấy và đoạn những gốc khổ.
12. VÍ DỤ 1 – KHI BỊ NÓI XẤU
Tín lực: nhớ rằng lời Phật về sân và Chánh ngữ đáng để thực hành.
Tấn lực: cố không nói xấu lại.
Niệm lực: biết sân đang có.
Định lực: giữ tâm không bị kéo chạy theo câu chuyện quá lâu.
Tuệ lực: thấy nếu trả sân bằng sân thì mình đang tạo thêm khổ.
Một tình huống đời thường,
đủ cả năm lực.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 366
13. VÍ DỤ 2 – KHI MUỐN BỎ TU
Có giai đoạn:
không thấy tiến.
Tâm nghĩ:
“Tu hoài vẫn sân.”
Tín lực nói:
“Con đường cần thời gian.”
Tấn lực nói:
“Hôm nay tập tiếp.”
Niệm lực nhìn:
“Sân bây giờ có thật bằng trước không?”
Định giúp không bị một cảm xúc thất vọng kéo hết tâm.
Tuệ thấy:
thói quen mấy chục năm không thể đòi biến hết trong vài ngày.
14. VÍ DỤ 3 – KHI ĐỌC KINH
Có người mở kinh.
Đọc năm dòng,
tay cầm điện thoại.
Thông báo tới:
mở.
Mười phút sau quên mình đang đọc.
Niệm lực:
biết mình bị kéo.
Định lực:
đưa tâm về.
Tấn lực:
đọc tiếp.
Tuệ:
hiểu nghĩa.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 367
Tín:
kính trọng lời kinh đủ để không đọc cho có.
15. VÍ DỤ 4 – KHI LÀM VIỆC THIỆN
Cho một món quà.
Tâm rất vui.
Sau đó thấy người nhận không cảm ơn.
Tâm khó chịu.
Niệm thấy:
“Tôi đang đòi đáp lại.”
Tuệ thấy:
“Nếu cho để được mang ơn thì tâm còn chấp.”
Tấn:
tập buông.
Đây là tu ngay trong bố thí.
16. VÍ DỤ 5 – KHI GIẢNG PHÁP
Có người hỏi:
“Nguồn ở đâu?”
Tín:
kính lời Phật hơn cái tôi của người giảng.
Tấn:
chịu khó tra.
Niệm:
thấy nếu tâm khó chịu.
Định:
không bị một câu hỏi làm loạn.
Tuệ:
biết sửa một sai sót còn tốt hơn bảo vệ sai sót.
Đây là năm lực trong việc hoằng Pháp.
17. VÍ DỤ 6 – KHI THẤY NGƯỜI KHÁC HƠN MÌNH
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 368
Ganh sinh.
Niệm:
biết ganh.
Tuệ:
thấy thành công người kia không lấy mất thiện pháp của mình.
Tấn:
tập tùy hỷ.
Định:
không ngồi nghĩ mãi.
Tín:
tin rằng nuôi thiện tâm có giá trị hơn nuôi so sánh.
18. VÍ DỤ 7 – KHI BỊ BỆNH
Tín:
không tuyệt vọng, giữ hướng thiện.
Tấn:
chăm điều trị và tu trong khả năng.
Niệm:
biết thân đau, tâm sợ.
Định:
giữ tâm không tán loạn quá mức.
Tuệ:
nhìn thân là vô thường, cần được chăm nhưng không thể bắt nó bất biến.
Không phải năm lực làm bệnh tự hết.
Mà giúp mình:
đối diện bệnh có nền hơn.
19. VÍ DỤ 8 – KHI MUỐN NÓI DỐI ĐỂ ĐƯỢC LỢI
Tín:
tin giới và nhân quả đáng tôn trọng.
Niệm:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 369
biết lòng tham đang có.
Tuệ:
thấy lợi nhỏ có thể đổi lấy mất niềm tin lớn.
Tấn:
chịu bỏ lợi.
Định:
không bị lòng tham làm tâm chao đảo.
Đó là sức mạnh thật.
20. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ THÊM ĐIỀU GÌ?
AN 5.13 chỉ nêu danh sách năm lực thật ngắn. AN 5.14 ngay sau đó giải thích chi tiết, trong đó tấn lực là kiên trì với thiện pháp, định lực là bốn thiền, và tuệ lực hướng đến trí thấy sinh diệt và đoạn tận khổ. (SuttaCentral)
Điều này nhắc:
ĐỪNG BIẾN NĂM LỰC THÀNH NĂM KHẨU HIỆU.
Phải:
tu.
Tín phải mạnh lên.
Tấn phải mạnh lên.
Niệm phải mạnh lên.
Định phải mạnh lên.
Tuệ phải mạnh lên.
21. SỨC MẠNH CỦA NGƯỜI TU KHÔNG PHẢI THẮNG NGƯỜI
Người đời thường hỏi:
“Ai hơn ai?”
Người tu nên hỏi:
“Tham của tôi hôm nay có bớt không?”
“Sân có bớt không?”
“Tâm có tỉnh hơn không?”
Đó là sức mạnh đáng đo.
22. CÓ TIỀN MÀ KHÔNG GIỮ ĐƯỢC TÂM – CHƯA CHẮC MẠNH
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 370
Một người có nhiều tài sản,
nhưng mất một ít là:
sụp.
Một người có nhiều lời khen,
nhưng một câu chê là:
mất ngủ.
Một người có quyền,
nhưng ai trái ý là:
nổi sân.
Bên ngoài mạnh.
Bên trong:
dễ bị lay.
Năm lực của Đức Phật hướng tới:
nội lực.
23. TÍN LỰC GIÚP MÌNH KHÔNG BỊ MỖI NGƯỜI KÉO MỘT HƯỚNG
Hôm nay nghe người này:
tu cách này.
Mai người khác:
bỏ.
Mốt lại một phương pháp khác.
Nếu không có nền,
tâm chạy theo:
người nói.
Tín chân chánh giúp mình trở về:
Phật – Pháp – Tăng và kinh điển được kiểm chứng.
Không phải ai nói hay mình cũng đi theo.
24. TẤN LỰC GIÚP MÌNH VƯỢT QUA CHỮ “LƯỜI”
Biết phải tập.
Nhưng:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 371
buồn ngủ.
Biết phải đọc.
Nhưng:
muốn xem điện thoại.
Biết phải sửa.
Nhưng:
ngại.
Tấn lực không cần lúc nào cũng hùng hổ.
Có khi chỉ là:
LÀM THÊM NĂM PHÚT ĐIỀU ĐÚNG.
25. NIỆM LỰC GIÚP MÌNH NHẬN RA KHI ĐANG TRƯỢT
Một cuộc nói chuyện ban đầu rất bình thường.
Sau đó giọng mình cao lên.
Nếu niệm có:
biết.
Mình có thể dừng.
Nếu không:
tới lúc hai bên tổn thương mới biết.
Niệm giống:
chuông báo sớm.
26. ĐỊNH LỰC GIÚP TÂM KHÔNG BỊ MỘT VIỆC NHỎ KÉO CẢ NGÀY
Một bình luận xấu.
Nếu tâm không vững:
nghĩ cả buổi.
Một lời chê:
nghĩ cả đêm.
Định giúp tâm:
không bị một đối tượng nhỏ chiếm trọn.
27. TUỆ LỰC GIÚP MÌNH BIẾT CÁI GÌ ĐÁNG BUÔNG
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 372
Không phải chuyện nào cũng cần:
thắng.
Không phải lời nào cũng cần:
trả.
Không phải món nào cũng cần:
có.
Không phải danh nào cũng cần:
giữ.
Tuệ thấy:
có những cái càng nắm càng khổ.
28. ỨNG DỤNG 1 – MỖI NGÀY KIỂM NĂM LỰC
Buổi tối hỏi:
Tín hôm nay thế nào?
Tấn hôm nay thế nào?
Niệm hôm nay thế nào?
Định hôm nay thế nào?
Tuệ hôm nay thế nào?
Không cần chấm điểm hoàn hảo.
Chỉ nhìn:
lực nào đang yếu.
29. ỨNG DỤNG 2 – LỰC NÀO YẾU THÌ BỔ SUNG LỰC ĐÓ
Hay nghi ngờ và mất hướng:
học kinh chắc hơn để nuôi tín.
Biết mà lười:
tăng tấn.
Phản ứng không biết:
tập niệm.
Tâm quá tán:
tập định.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 373
Hay hiểu sai:
học và quán để tăng tuệ.
Đây là cách rất thực tế.
30. ỨNG DỤNG 3 – ĐỪNG CHỈ TẬP CÁI MÌNH THÍCH
Có người thích:
học.
Không thích:
ngồi yên.
Có người thích:
thiền.
Không thích:
học kinh.
Có người rất tin.
Nhưng không thích:
bị kiểm chứng.
Năm lực nhắc:
TU PHẢI CÂN BẰNG.
31. ỨNG DỤNG 4 – TRƯỚC MỘT QUYẾT ĐỊNH LỚN
Hỏi năm câu:
Tín: việc này có hợp với điều mình tin là đúng Pháp không?
Tấn: mình có đủ sức làm đến nơi không?
Niệm: tâm hiện tại đang tham hay sân không?
Định: tâm đã đủ bình tĩnh chưa?
Tuệ: hậu quả dài hạn là gì?
Năm câu này có thể giúp rất nhiều.
32. ỨNG DỤNG 5 – KHI GẶP NGƯỜI NÓI PHÁP KHÁC NHAU
Đừng vội chọn bằng:
ai nói hay hơn.
Hỏi:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 374
nguồn đâu?
có đúng kinh không?
có đưa tới ly tham, giảm sân, tăng giới và trí không?
Đó là dùng:
tín + tuệ.
33. CÔNG THỨC THỨ NHẤT: TIN – LÀM – BIẾT – VỮNG – THẤY
Đây là công thức dễ nhớ nhất:
TIN
Có hướng.
LÀM
Có thực hành.
BIẾT
Có chánh niệm.
VỮNG
Có định.
THẤY
Có tuệ.
Công thức:
TIN → LÀM → BIẾT → VỮNG → THẤY.
34. CÔNG THỨC THỨ HAI: NĂM CÂU TỰ HỎI
Khi tâm rối, hỏi:
Tôi đang tin vào điều gì?
Tôi đang thật sự làm gì?
Tôi có biết tâm hiện tại không?
Tâm có đủ vững không?
Tôi đang thấy sự thật hay chỉ thấy theo ý mình?
Năm câu này tương ứng năm lực.
35. CÔNG THỨC THỨ BA: CÓ TÍN – ĐỪNG MÊ; CÓ TUỆ – ĐỪNG KIÊU
Tín cần tuệ để:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 375
không mù.
Tuệ cần tín và khiêm hạ để:
không biến thành kiêu trí.
Tấn cần niệm để:
không chạy sai.
Niệm cần định để:
đủ vững.
Định cần tuệ để:
đi tới thấy đúng.
Các lực nâng nhau.
36. BÀI THỰC HÀNH MỘT NGÀY
Hôm nay chọn:
một lực yếu nhất.
Nếu là tín:
đọc một đoạn kinh gốc.
Nếu là tấn:
làm một thiện pháp đang trì hoãn.
Nếu là niệm:
ba lần trong ngày dừng và nhìn tâm.
Nếu là định:
ngồi yên theo dõi hơi thở một khoảng phù hợp.
Nếu là tuệ:
chọn một phiền não và hỏi:
“Nó sinh do gì? Nuôi nó có đưa đến khổ không?”
Không cần làm tất cả một lúc.
37. BÀI THỰC HÀNH BẢY NGÀY
NGÀY 1 – TÍN
Đọc lại một lời Phật có nguồn rõ.
NGÀY 2 – TẤN
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 376
Làm ngay một việc thiện đang trì hoãn.
NGÀY 3 – NIỆM
Ba lần dừng để biết tâm hiện tại.
NGÀY 4 – ĐỊNH
Dành một khoảng ngắn ngồi yên với một đối tượng tu tập.
NGÀY 5 – TUỆ
Quan sát một cái khổ và tìm nhân của nó.
NGÀY 6
Kết hợp năm lực trong một tình huống khó.
NGÀY 7
Tự hỏi:
“Lực nào của tôi đang mạnh hơn? Lực nào cần bồi dưỡng?”
38. THỰC HÀNH BUỔI SÁNG
Mỗi sáng có thể nhắc:
Tôi nuôi lòng tin bằng lời Phật có nguồn rõ.
Tôi biến điều đúng thành hành động bằng tinh tấn.
Tôi tập biết tâm bằng chánh niệm.
Tôi tập làm tâm vững bằng định.
Tôi học nhìn nhân quả và sinh diệt bằng trí tuệ.
Tôi không lấy kiến thức để hơn người; tôi dùng Pháp để sửa chính mình.
39. THỰC HÀNH BUỔI TỐI
Trước khi ngủ hỏi:
Hôm nay tôi đã để niềm tin của mình bị lung lay bởi lời nói không có nguồn không?
Tôi biết điều thiện nào nhưng đã không làm?
Có lúc nào sân sinh mà tôi kịp biết không?
Tâm tôi hôm nay bị điều gì kéo đi lâu nhất?
Tôi học được gì về nguyên nhân của khổ trong chính mình?
Đó là cách biến năm lực thành:
bài kiểm tâm mỗi ngày.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 377
40. CÂU GHI NHỚ THỨ NHẤT
Tín cho mình hướng đi; tinh tấn cho mình bước chân.
41. CÂU GHI NHỚ THỨ HAI
Niệm giúp mình biết đang đi đâu; định giúp mình không bị kéo khỏi đường; tuệ giúp mình biết đường ấy có đưa tới hết khổ hay không.
42. CÂU GHI NHỚ THỨ BA
Tin nhiều mà không hành thì vẫn đứng tại chỗ.
43. CÂU GHI NHỚ THỨ TƯ
Tinh tấn nhiều mà không biết tâm có thể làm cái tôi lớn lên cùng với công phu.
44. CÂU GHI NHỚ THỨ NĂM
Chánh niệm là tiếng chuông báo sớm trước khi một phiền não biến thành lời và hành động.
45. CÂU GHI NHỚ THỨ SÁU
Định không chỉ để yên; định giúp tâm đủ vững để nhìn sâu.
46. CÂU GHI NHỚ THỨ BẢY
Tuệ không phải biết thật nhiều thuật ngữ; tuệ là ngày càng thấy rõ cái gì sinh khổ và cái gì đưa ra khỏi khổ.
47. CÂU GHI NHỚ THỨ TÁM
Sức mạnh lớn của người tu không nằm ở việc điều khiển được bao nhiêu người, mà ở việc tham sân si còn điều khiển mình được bao nhiêu.
48. CÂU GHI NHỚ THỨ CHÍN
Nếu học Phật càng lâu mà càng khó nhận sai, có thể kiến thức đang lớn nhanh hơn trí tuệ.
49. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
TÍN – ĐỂ KHÔNG MẤT HƯỚNG.
TẤN – ĐỂ KHÔNG ĐỨNG YÊN.
NIỆM – ĐỂ KHÔNG BỊ PHIỀN NÃO KÉO ĐI MÀ KHÔNG BIẾT.
ĐỊNH – ĐỂ TÂM CÓ SỨC VỮNG.
TUỆ – ĐỂ THẤY ĐÚNG VÀ ĐI VỀ PHÍA ĐOẠN KHỔ.
Và xin nhớ lời Phật:
“Này các Tỷ-kheo, có năm sức mạnh này. Thế nào là năm? Tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực, tuệ lực.” (SuttaCentral)
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 378
Nguồn: Kinh Các Sức Mạnh Tóm Lược – Saṅkhitta Sutta, Tăng Chi Bộ Kinh – Aṅguttara Nikāya, Chương Năm Pháp, kinh số 13, mã quốc tế AN 5.13; bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu; nguyên bản Kinh tạng Pāli. (SuttaCentral)
50. CÂU HỎI LIVESTREAM
1. Trong năm sức mạnh: tín, tấn, niệm, định, tuệ, quý vị thấy mình yếu nhất ở lực nào?
2. Có bao giờ quý vị biết rất rõ điều nên làm nhưng chỉ vì thiếu tinh tấn nên vẫn không làm không?
3. Theo quý vị, tin Phật pháp và mê tín khác nhau ở điểm nào?
4. Có bao giờ mình đang giận mà hoàn toàn không biết mình đang giận, đến khi nói xong mới nhận ra không?
5. Quý vị thấy tâm mình bị thứ gì kéo đi lâu nhất: lời chê, chuyện tiền bạc, người thân hay mạng xã hội?
6. Một người có thể ngồi rất yên nhưng vẫn chưa có trí tuệ không? Vì sao?
7. Theo quý vị, biết rất nhiều kinh có đồng nghĩa với có tuệ không?
8. Nếu một người tu rất siêng nhưng ngày càng thấy mình hơn người, lực nào đang cần được bổ sung?
9. Khi bị hỏi nguồn kinh, mình nên bảo vệ cái tôi hay dùng chính câu hỏi đó để tăng tín và tuệ?
10. Nếu hôm nay chỉ chọn một lực để tu mạnh hơn, quý vị sẽ chọn tín, tấn, niệm, định hay tuệ? Vì sao?
51. CÂU KẾT ĐỂ ĐỌC TRÊN LIVESTREAM
Kính thưa quý vị,
người đời có rất nhiều cách nói về:
sức mạnh.
Có người mạnh vì:
có tài sản.
Có người mạnh vì:
có địa vị.
Có người mạnh vì:
nói người khác phải nghe.
Nhưng Đức Phật chỉ cho người tu một loại sức mạnh khác:
SỨC MẠNH CỦA TÂM ĐƯỢC HUẤN LUYỆN.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 379
Có tín:
không dễ mất hướng.
Có tấn:
không chỉ biết mà còn làm.
Có niệm:
phiền não vừa sinh đã có cơ hội được thấy.
Có định:
tâm không bị mỗi việc nhỏ kéo đi quá xa.
Có tuệ:
biết cái gì đáng giữ,
cái gì cần buông,
cái gì đang sinh khổ,
và con đường nào đưa ra khỏi khổ.
Vì vậy hôm nay chỉ cần nhớ năm chữ:
TIN – LÀM – BIẾT – VỮNG – THẤY.
Tin đúng.
Làm thật.
Biết tâm.
Giữ tâm vững.
Và học thấy đúng.
Nếu năm sức mạnh ấy ngày một lớn,
thì dù bên ngoài đời chưa hoàn toàn thuận,
bên trong mình đã có:
một nơi nương vững hơn rất nhiều.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 380
MỤC 015 - Bài 015 — TỰ MÌNH LÀ NƠI NƯƠNG TỰA – LẤY CHÁNH PHÁP LÀM CHỖ NƯƠNG 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
Đức Phật dạy Tôn giả Ānanda:
“Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình y tựa chính mình, chớ y tựa một cái gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một cái gì khác.” (SuttaCentral)
2. NGUỒN KINH
Tên kinh: Kinh Cunda Tên Pāli: Cunda Sutta Thuộc: Tương Ưng Bộ Kinh – Saṃyutta Nikāya Tương Ưng: Tương Ưng Niệm Xứ – Satipaṭṭhāna Saṃyutta Số kinh: 13 Mã tra cứu quốc tế: SN 47.13 Bản dịch tiếng Việt: Hòa thượng Thích Minh Châu Nguyên bản: Kinh tạng Pāli
Trong SN 47.13, sau khi Tôn giả Sāriputta viên tịch và Tôn giả Ānanda đau buồn, Đức Phật nhắc Ānanda phải tự mình làm nơi nương tựa và lấy Chánh pháp làm nơi nương tựa. Ngài tiếp tục giải thích cách thực hiện điều ấy chính là tu tập Bốn niệm xứ. (SuttaCentral)
Chữ Pāli dīpa có thể được hiểu là “ngọn đèn” hoặc “hòn đảo”, vì vậy các bản dịch có thể gặp cả hai cách: “tự mình là ngọn đèn” hoặc “tự mình là hòn đảo”. Hòa thượng Thích Minh Châu có giải thích rõ điểm này. (Phật Giáo Việt Nam)
3. TỪ KHÓA VIỆT – PĀLI – NGHĨA
TỰ MÌNH – ATTA – CHÍNH MÌNH TRONG TRÁCH NHIỆM TU TẬP
Trong lời kinh này, chữ “tự mình” nhấn mạnh:
VIỆC TU CUỐI CÙNG PHẢI ĐƯỢC THỰC HIỆN NGAY NƠI CHÍNH MÌNH.
Thầy có thể chỉ đường.
Kinh có thể chỉ đường.
Bạn lành có thể nhắc.
Đạo tràng có thể hỗ trợ.
Nhưng:
không ai giữ giới thay mình.
Không ai:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 381
nhẫn thay mình.
Không ai:
buông sân thay mình.
Không ai:
thấy tâm thay mình.
Đây là trách nhiệm cá nhân rất rõ.
NGỌN ĐÈN – DĪPA – NGỌN ĐÈN, CŨNG CÓ NGHĨA HÒN ĐẢO
Dīpa là một từ rất đẹp.
Có thể hiểu:
ngọn đèn.
Ngọn đèn giúp:
soi đường.
Cũng có thể hiểu:
hòn đảo.
Hòn đảo là chỗ đứng vững giữa dòng nước.
Hai hình ảnh đều rất hay.
Khi tâm tối:
cần ánh sáng.
Khi đời biến động:
cần chỗ đứng.
Đức Phật chỉ:
CHÍNH MÌNH + CHÁNH PHÁP.
Không phải:
cái tôi muốn gì làm nấy.
Mà chính mình phải sống dựa trên:
Pháp.
NƯƠNG TỰA – SARAṆA – CHỖ NƯƠNG, NƠI DỰA
“Nương tựa” không có nghĩa:
ỷ lại.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 382
Một người nương Pháp không nói:
“Phật sẽ làm hết cho tôi.”
Mà nói:
“Phật đã chỉ đường; phần tôi phải đi.”
Đây là khác biệt rất lớn.
Nương tựa đúng làm mình:
vững hơn.
Ỷ lại làm mình:
yếu hơn.
CHÁNH PHÁP – DHAMMA – LỜI DẠY, CHÂN LÝ VÀ CON ĐƯỜNG THỰC HÀNH
Chánh pháp – Dhamma ở đây là chỗ nương của người tu.
Nói dễ hiểu:
khi không biết nên làm gì,
đừng chỉ hỏi:
“Tôi thích gì?”
Hãy hỏi:
“PHÁP DẠY GÌ?”
Khi sân:
Pháp dạy gì?
Khi tham:
Pháp dạy gì?
Khi bị nói xấu:
Pháp dạy gì?
Khi có lợi mà phải nói dối:
Pháp dạy gì?
Đó là:
lấy Pháp làm chỗ nương.
NIỆM XỨ – SATIPAṬṬHĀNA – NỀN TẢNG THIẾT LẬP CHÁNH NIỆM
Trong chính SN 47.13, Đức Phật giải thích thế nào là tự mình làm nơi nương tựa:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 383
vị Tỷ-kheo sống:
quán thân trên thân,
quán thọ trên các cảm thọ,
quán tâm trên tâm,
quán pháp trên các pháp,
nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. (SuttaCentral)
Như vậy:
“Tự mình nương tựa”
không phải một khẩu hiệu về:
tự tin.
Nó có phương pháp thực hành rất rõ:
BỐN NIỆM XỨ.
CHÁNH NIỆM – SATI – NHỚ BIẾT, KHÔNG THẤT NIỆM
Chánh niệm giúp mình:
biết thân.
biết cảm thọ.
biết tâm.
biết pháp.
Nếu không biết tâm mình đang sân,
mình rất dễ tưởng:
“Tôi đang bảo vệ sự thật.”
Nếu không biết mình đang tham,
mình dễ gọi tham thành:
“nhu cầu chính đáng.”
Chánh niệm là ánh sáng giúp:
thấy mình trước.
4. GIẢI TỪNG CỤM
“HÃY TỰ MÌNH LÀ NGỌN ĐÈN CHO CHÍNH MÌNH”
Kính thưa quý vị,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 384
câu này rất nổi tiếng.
Nhưng rất dễ bị hiểu sai.
Không phải Đức Phật nói:
“Tôi thích gì thì tự quyết, không cần ai.”
Không phải.
Nếu vậy thì ngay câu sau Đức Phật đã không nói:
“Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn.”
Tự mình là ngọn đèn nghĩa là:
PHẢI TỰ THẮP SỰ TỈNH THỨC NƠI CHÍNH MÌNH.
Không thể sống cả đời chỉ bằng:
nghe người khác.
Tin người khác.
Chờ người khác cứu.
Phải tự:
học.
quán.
thực hành.
kiểm lại.
“HÃY TỰ MÌNH Y TỰA CHÍNH MÌNH”
Đây là trách nhiệm.
Khi sai:
đừng chỉ đổ hoàn cảnh.
Khi sân:
đừng chỉ nói:
“Tại họ làm tôi giận.”
Họ có thể thật sự làm sai.
Nhưng:
cơn sân đang ở đâu?
Trong tâm mình.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 385
Người kia có phần nghiệp của họ.
Mình có phần tu của mình.
Tự nương nghĩa là:
nhận lại phần trách nhiệm mình có thể làm.
“CHỚ Y TỰA MỘT CÁI GÌ KHÁC”
Câu này không có nghĩa:
không cần thầy.
Không cần Tăng.
Không cần bạn lành.
Không cần học.
Bởi chính toàn bộ giáo pháp có vai trò chỉ đường.
Điểm Đức Phật nhấn mạnh là:
ĐỪNG ĐẶT SỰ GIẢI THOÁT CỦA MÌNH HOÀN TOÀN TRONG TAY MỘT NGƯỜI KHÁC.
Một vị thầy chân chính có thể:
chỉ.
Nhưng mình phải:
hành.
Nếu thầy nói:
“Con đừng sân,”
mà mình cứ nuôi sân,
thầy không thể:
buông thay.
“DÙNG CHÁNH PHÁP LÀM NGỌN ĐÈN”
Đây là hàng rào bảo vệ câu:
“tự mình.”
Nếu chỉ tự mình mà không có Pháp,
cái tôi có thể nói:
“Tôi thấy thế này là đúng.”
Nhưng cảm giác của mình:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 386
có thể sai.
Quan điểm của mình:
có thể sai.
Ký ức:
có thể sai.
Vì vậy:
TỰ MÌNH – NHƯNG PHẢI SOI BẰNG PHÁP.
Đó mới là đầy đủ.
“DÙNG CHÁNH PHÁP LÀM CHỖ NƯƠNG TỰA”
Khi gặp một việc khó,
hãy quay về:
giới.
kinh.
Chánh kiến.
Chánh ngữ.
Chánh nghiệp.
Chánh niệm.
Đó là chỗ nương.
Không chỉ:
“Tâm tôi muốn gì?”
Mà:
“Điều gì đúng Pháp?”
Có lúc điều đúng Pháp:
không vừa ý mình.
Chính lúc đó mới thấy:
mình nương Pháp
hay:
nương cái tôi.
5. GHÉP NGHĨA TOÀN CÂU
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 387
Toàn lời kinh có thể hiểu:
Người tu không nên sống trong sự phụ thuộc hoàn toàn vào người khác. Chính mình phải chịu trách nhiệm đối với sự tu tập của mình, đồng thời phải lấy Chánh pháp làm tiêu chuẩn và nơi nương tựa. Việc tự nương và nương Pháp được Đức Phật giải thích bằng sự tu tập Bốn niệm xứ: quán thân, thọ, tâm và pháp với nhiệt tâm, tỉnh giác và chánh niệm. (SuttaCentral)
Có thể nhớ thật gọn:
TỰ MÌNH – NHƯNG KHÔNG THEO CÁI TÔI.
TỰ MÌNH – VÀ NƯƠNG CHÁNH PHÁP.
6. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ GÌ?
Kính thưa quý vị,
câu này đặt người học Phật vào:
trách nhiệm rất lớn.
Không ai tu thay mình được.
Không ai:
ăn thay mình mà mình no.
Không ai:
ngủ thay mình mà mình khỏe.
Cũng không ai:
giữ tâm thay mình mà mình thanh tịnh.
Người thầy có thể rất giỏi.
Nhưng nếu mình:
không hành,
thì tri thức vẫn ở:
người thầy.
Kinh có thể nằm cả tủ.
Nhưng nếu không mở,
không học,
không hành,
thì Pháp vẫn ở:
trong sách.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 388
Lời Phật muốn đưa Pháp vào:
CHÍNH TÂM MÌNH.
7. ĐÂY KHÔNG PHẢI LÀ “TÔI KHÔNG CẦN AI”
Một người nói:
“Phật dạy tự nương mình, tôi không cần thầy.”
Đó là hiểu thiếu.
Bởi Phật dạy ngay:
nương Chánh pháp.
Muốn biết Chánh pháp:
phải học.
Phải nghe.
Phải kiểm nguồn.
Phải gần người có hiểu biết đúng.
Điều cần bỏ không phải:
sự học hỏi.
Điều cần bỏ là:
ỷ lại.
8. THẦY CHỈ ĐƯỜNG – MÌNH PHẢI ĐI
Ví dụ:
thầy nói:
“Sân sinh thì nhìn sân.”
Mình nghe.
Nhưng hôm sau sân:
mình vẫn mắng.
Rồi nói:
“Sao thầy không giúp con hết sân?”
Thầy đã chỉ.
Phần còn lại:
mình phải hành.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 389
Đây là ý nghĩa rất thực tế của:
tự nương.
9. VÍ DỤ 1 – KHI BỊ NÓI XẤU
Mình chạy hỏi mười người:
“Tôi phải làm sao?”
Người nói:
trả.
Người nói:
im.
Người nói:
đăng bài.
Người nói:
chặn.
Cuối cùng tâm rối.
Lúc ấy:
quay về Pháp.
Có thật không?
Có cần nói không?
Có sân không?
Có ác khẩu không?
Có cách nào đúng giới hơn?
Đó là:
NƯƠNG PHÁP.
10. VÍ DỤ 2 – KHI CÓ LỢI LỚN
Có một việc giúp mình có lợi,
nhưng phải nói dối.
Tâm nói:
“Ai cũng làm vậy.”
Người khác nói:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 390
“Không sao.”
Nhưng Pháp nói:
Chánh ngữ.
Lúc này nếu mình nương Pháp,
mình biết:
không phải số đông quyết định cái đúng.
11. VÍ DỤ 3 – KHI THẦY MÌNH NÓI ĐIỀU MÌNH CHƯA HIỂU
Tự nương không phải:
phản bác ngay.
Nương Pháp cũng không phải:
tin mù ngay.
Có thể:
hỏi lại.
tra kinh.
học thêm.
đối chiếu.
Đây là thái độ:
KÍNH NHƯNG CÓ TRÍ.
12. VÍ DỤ 4 – KHI MÌNH PHỤ THUỘC VÀO LỜI KHEN
Người khác khen:
mình vui.
Người khác chê:
mình sụp.
Như vậy tâm đang lấy:
ý kiến người khác
làm nơi nương.
Tự nương nghĩa là:
đánh giá mình bằng giới, Pháp và sự thực hành, không chỉ bằng tiếng vỗ tay.
13. VÍ DỤ 5 – KHI LIVESTREAM ÍT NGƯỜI
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 391
Nếu đông:
mình thấy có giá trị.
Nếu ít:
mình thấy vô nghĩa.
Như vậy giá trị việc giảng đang bị đặt vào:
con số.
Hãy hỏi:
“Nội dung có đúng Pháp không?”
“Một người đang nghe có được lợi ích không?”
“Tâm mình có chân thật không?”
Đó là:
nương Pháp,
không nương con số.
14. VÍ DỤ 6 – KHI AI ĐÓ KHÔNG CÒN ỦNG HỘ MÌNH
Nếu mình sống đúng chỉ vì:
người ấy ủng hộ,
thì khi họ rời đi:
mình mất hướng.
Nếu nương Pháp:
người đến,
mình biết.
Người đi,
mình biết.
Việc đúng:
vẫn làm.
Đây là chỗ nội lực xuất hiện.
15. VÍ DỤ 7 – KHI NGƯỜI MÌNH TIN LÀM SAI
Đây là một thử thách rất lớn.
Mình quý họ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 392
Kính họ.
Nhưng thấy một việc chưa đúng.
Nếu nương người hơn nương Pháp,
mình có thể:
bảo vệ cái sai.
Nếu nương Pháp,
mình phải dám nói:
“Việc này cần kiểm lại.”
Không hạ người.
Nhưng cũng không:
hạ Pháp để giữ người.
16. VÍ DỤ 8 – KHI MÌNH SAI
Đây là chỗ tự nương rất rõ.
Không đợi người khác:
bắt lỗi.
Nếu tự kiểm thấy sai:
sửa.
Đó là:
tự chịu trách nhiệm.
Một người chỉ sửa khi bị phát hiện:
chưa mạnh bằng người tự thấy và tự sửa.
17. VÍ DỤ 9 – KHI TÂM RỐI
Không phải lúc nào cũng cần:
gọi cho mười người.
Có thể dừng.
Quán thân.
Quán cảm thọ.
Quán tâm.
Nhìn:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 393
“Tâm đang sân.”
“Tâm đang sợ.”
“Tâm đang muốn được công nhận.”
Chỉ riêng việc thấy đúng tâm,
nhiều chuyện đã:
rõ hơn.
Đây chính là lý do Đức Phật nối tự nương với:
Bốn niệm xứ. (SuttaCentral)
18. VÍ DỤ 10 – KHI ĐAU KHỔ VÌ MỘT NGƯỜI RỜI MÌNH
Người kia từng là:
chỗ nương tâm lý.
Họ đi.
Tâm sụp.
Điều đó cho thấy mình đã đặt:
quá nhiều phần đời
vào:
một người vô thường.
Không phải không được thương.
Nhưng phải nhớ:
mọi người đều:
vô thường.
Chánh pháp mới là:
nền để mình học đứng.
19. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ THÊM ĐIỀU GÌ?
Trong SN 47.13, Đức Phật không chỉ nói:
“hãy tự nương mình.”
Ngài giải thích rất cụ thể bằng Bốn niệm xứ. (SuttaCentral)
Điều này giúp tránh một hiểu lầm lớn:
TỰ NƯƠNG KHÔNG PHẢI THEO CẢM TÍNH.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 394
Mà là:
tự mình thực hành Pháp nơi thân, thọ, tâm và pháp.
Đó là tự nương có phương pháp.
20. QUÁN THÂN – KĀYĀNUPASSANĀ – TRỞ VỀ THÂN
Khi tâm loạn:
trở về thân.
Đang ngồi:
biết ngồi.
Đang đi:
biết đi.
Đang thở:
biết thở.
Thân là một nơi rất thật để:
tâm trở về.
21. QUÁN THỌ – VEDANĀNUPASSANĀ – BIẾT CẢM THỌ
Dễ chịu:
biết dễ chịu.
Khó chịu:
biết khó chịu.
Trung tính:
biết trung tính.
Không vội:
“Tôi thích cái này nên phải giữ.”
Không vội:
“Tôi ghét cái này nên phải đẩy.”
Trước hết:
biết.
22. QUÁN TÂM – CITTĀNUPASSANĀ – BIẾT TÂM ĐANG THẾ NÀO
Tâm có tham:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 395
biết.
Tâm có sân:
biết.
Tâm không tham:
biết.
Tâm không sân:
biết.
Đây là chỗ rất thiết thực.
Thay vì chỉ hỏi:
“Người kia sai chỗ nào?”
hãy hỏi:
“TÂM TÔI ĐANG THẾ NÀO?”
23. QUÁN PHÁP – DHAMMĀNUPASSANĀ – NHÌN CÁC PHÁP THEO PHÁP
Đây là phần sâu.
Nhìn các pháp với khung giáo pháp:
triền cái.
giác chi.
Tứ Thánh đế.
và các nhóm pháp được dạy trong Tứ niệm xứ.
Nói dễ hiểu:
không chỉ thấy cảm xúc, mà học hiểu nó theo Chánh pháp.
Sân là gì?
Sinh do đâu?
Diệt thế nào?
Đây là từ:
biết
đi tới:
tuệ.
24. TỰ NƯƠNG KHÔNG CÓ NGHĨA CÔ ĐỘC
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 396
Có người rất sợ:
“Nếu không dựa ai thì cô đơn quá.”
Không phải.
Mình vẫn có:
Tam bảo.
thầy lành.
bạn lành.
Tăng đoàn.
gia đình.
Nhưng khác biệt là:
mình không trao hết trách nhiệm tâm mình cho họ.
Họ đồng hành.
Không sống thay.
25. CÓ NGƯỜI Ở BÊN KHÔNG ĐỒNG NGHĨA HỌ CÓ THỂ CHỊU KHỔ THAY MÌNH
Người thương mình có thể:
nắm tay.
Nhưng cơn đau:
mình cảm.
Người thầy có thể:
dạy.
Nhưng phiền não:
mình phải thấy.
Bác sĩ có thể:
kê thuốc.
Nhưng thuốc:
mình phải uống.
Con đường tu cũng vậy.
26. CẨN THẬN VỚI VIỆC “THẦN TƯỢNG HÓA” NGƯỜI DẠY
Một vị thầy có công với mình:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 397
rất đáng kính.
Nhưng người học Phật phải nhớ:
PHÁP CAO HƠN SỰ SÙNG KÍNH CÁ NHÂN.
Nếu vì kính người mà:
không dám kiểm lời,
không dám đối chiếu kinh,
thì dễ đi lệch.
Kính đúng là:
học điều thiện.
Không phải:
biến con người thành tiêu chuẩn tuyệt đối thay cho Pháp.
27. NƯƠNG PHÁP GIÚP MÌNH KHI NGƯỜI MÌNH KÍNH KHÔNG CÒN
Bối cảnh SN 47.13 rất cảm động: Tôn giả Ānanda đau buồn sau khi Tôn giả Sāriputta viên tịch, và Đức Phật dạy Ānanda quay về tự nương và nương Pháp. (SuttaCentral)
Điều này nhắc:
người thầy,
người bạn,
người đồng hành
đều có thể:
rời đi.
Nhưng nếu Pháp đã được đưa vào mình,
mình còn:
đường để đi tiếp.
28. ỨNG DỤNG 1 – TRƯỚC KHI HỎI Ý KIẾN NGƯỜI KHÁC
Trước tiên hỏi:
“Tôi đã nhìn tâm mình chưa?”
“Tôi đã kiểm Pháp chưa?”
Sau đó nếu cần:
hỏi người có kinh nghiệm.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 398
Đừng bỏ qua:
trí của chính mình.
29. ỨNG DỤNG 2 – KHI AI CŨNG NÓI MỖI KIỂU
Quay về ba bước:
MỘT – NGUỒN
Kinh nói gì?
HAI – GIỚI
Cách này có trái giới không?
BA – QUẢ
Nó làm tham sân si tăng hay giảm?
Đây là cách rất thực tế để:
nương Pháp.
30. ỨNG DỤNG 3 – KHI CẢM XÚC QUÁ MẠNH
Đừng quyết ngay.
Quán thân.
Quán thọ.
Quán tâm.
Chờ.
Sau đó mới xử lý.
Tự nương không có nghĩa:
phải quyết thật nhanh.
Nó có nghĩa:
phải tỉnh trước khi quyết.
31. ỨNG DỤNG 4 – KHI BỊ KHEN
Đừng nương lời khen.
Cảm ơn.
Rồi hỏi:
“Việc mình làm có đúng Pháp không?”
Nếu đúng:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 399
tiếp tục.
Nếu sai:
dù được khen,
vẫn sửa.
32. ỨNG DỤNG 5 – KHI BỊ CHÊ
Đừng nương lời chê.
Kiểm:
có đúng không?
Nếu đúng:
học.
Nếu sai:
không cần nhận.
Pháp là nền,
không phải:
cảm xúc của đám đông.
33. ỨNG DỤNG 6 – KHI KHÔNG CÓ AI ĐỘNG VIÊN
Có việc thiện:
vẫn làm.
Không ai vỗ tay:
vẫn giữ giới.
Không ai thấy:
vẫn chân thật.
Đó là lúc:
nội lực lớn lên.
34. ỨNG DỤNG 7 – KHI GIẢNG PHÁP
Đừng để người nghe:
nương vào cá nhân mình quá mức.
Hãy đưa họ về:
kinh.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 400
Nói:
“Đây là lời Phật.”
“Đây là nguồn.”
“Phần sau là lời giải thích.”
Làm như vậy,
người giảng tự hạ mình xuống,
và:
nâng Pháp lên.
35. ỨNG DỤNG 8 – KHI MÌNH KHÔNG BIẾT
Một câu rất mạnh:
“TÔI CHƯA BIẾT.”
Nói được câu này là:
tự nương có trí.
Bởi mình không cần dựa vào:
hình ảnh mình phải biết hết.
Chưa biết:
học.
Đó là sức mạnh.
36. CÔNG THỨC THỨ NHẤT: TỰ – PHÁP – NIỆM – TUỆ
TỰ
Tự chịu trách nhiệm.
PHÁP
Lấy Pháp làm chuẩn.
NIỆM
Nhìn thân, thọ, tâm, pháp.
TUỆ
Thấy đúng rồi mới hành.
Công thức:
TỰ → PHÁP → NIỆM → TUỆ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 401
37. CÔNG THỨC THỨ HAI: KHÔNG Ỷ – KHÔNG MÙ – KHÔNG NGÃ
KHÔNG Ỷ
Không chờ người khác tu thay.
KHÔNG MÙ
Không tin mù quáng.
KHÔNG NGÃ
Không biến “tự mình” thành:
“tôi luôn đúng.”
Ba điều này giữ câu kinh khỏi bị hiểu lệch.
38. CÔNG THỨC THỨ BA: THẦY CHỈ – PHÁP SOI – MÌNH ĐI
Rất dễ nhớ:
THẦY CHỈ.
PHÁP SOI.
MÌNH ĐI.
Đừng bắt thầy:
đi thay.
Đừng bỏ Pháp:
để chạy theo người.
Đừng ngồi:
chờ giải thoát tự tới.
39. CÔNG THỨC THỨ TƯ: THÂN – THỌ – TÂM – PHÁP
Đây là công thức thực hành trực tiếp trong SN 47.13:
THÂN.
THỌ.
TÂM.
PHÁP.
Khi rối:
trở về bốn chỗ ấy.
Đó là:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 402
tự nương bằng thực hành. (SuttaCentral)
40. BÀI THỰC HÀNH MỘT NGÀY
Mỗi khi gặp chuyện làm mình dao động,
đừng hỏi người khác ngay.
Trước tiên dành vài phút:
Thân tôi đang thế nào?
Cảm thọ đang dễ chịu hay khó chịu?
Tâm đang tham, sân hay sợ?
Pháp nào áp dụng ở đây?
Sau đó mới:
nói.
làm.
hoặc hỏi thêm.
41. BÀI THỰC HÀNH BẢY NGÀY
NGÀY 1
Một lần trong ngày quán thân.
NGÀY 2
Nhận biết ba cảm thọ rõ nhất.
NGÀY 3
Khi sân, nói:
“Tâm có sân.”
NGÀY 4
Trước một quyết định, hỏi:
“Pháp dạy gì?”
NGÀY 5
Không hỏi ý kiến người khác về một việc nhỏ trước khi tự suy xét.
NGÀY 6
Kiểm nguồn một điều mình từng tin.
NGÀY 7
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 403
Hỏi:
“Tuần này tôi đã tự chịu trách nhiệm với tâm mình hơn chưa?”
42. THỰC HÀNH BUỔI SÁNG
Mỗi sáng có thể đọc:
Hôm nay tôi tự chịu trách nhiệm với tâm mình.
Tôi kính người dạy nhưng lấy Chánh pháp làm chuẩn.
Tôi không giao bình an của mình hoàn toàn vào tay lời khen hay lời chê.
Khi tâm rối, tôi trở về thân, thọ, tâm và pháp.
Tôi chưa biết thì học.
Tôi biết mình sai thì sửa.
Tôi không chờ ai tu thay mình.
43. THỰC HÀNH BUỔI TỐI
Trước khi ngủ hỏi:
Hôm nay tôi đã đổ lỗi cho ai về tâm trạng của mình?
Tôi có làm điều gì chỉ vì người khác bảo nhưng chưa kiểm Pháp không?
Tôi có quá lệ thuộc vào lời khen không?
Tôi có sụp vì một lời chê không?
Tôi đã nhìn được thân, thọ hay tâm của mình lúc khó khăn chưa?
Có việc gì tôi biết phải tự làm nhưng vẫn chờ người khác làm thay không?
44. CÂU GHI NHỚ THỨ NHẤT
Không ai có thể tu thay mình, cũng như không ai có thể ăn thay mình để mình no.
45. CÂU GHI NHỚ THỨ HAI
Tự nương không phải tin rằng mình luôn đúng; tự nương là tự chịu trách nhiệm và lấy Pháp để soi mình.
46. CÂU GHI NHỚ THỨ BA
Kính thầy là điều quý; đặt người thầy cao hơn Chánh pháp là điều phải cẩn thận.
47. CÂU GHI NHỚ THỨ TƯ
Người khác có thể chỉ cho mình thấy tâm; nhưng người phải nhìn tâm vẫn là chính mình.
48. CÂU GHI NHỚ THỨ NĂM
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 404
Nếu lời khen làm mình sống và lời chê làm mình chết, mình vẫn đang lấy miệng người khác làm chỗ nương.
49. CÂU GHI NHỚ THỨ SÁU
Chỗ nương vững không phải là nơi không bao giờ thay đổi bên ngoài; đó là Chánh pháp mình đã thật sự đưa vào bên trong.
50. CÂU GHI NHỚ THỨ BẢY
Thầy chỉ đường, Pháp soi đường, nhưng đôi chân vẫn phải là của mình.
51. CÂU GHI NHỚ THỨ TÁM
Khi không biết phải tin ai, hãy trở về nguồn kinh, giới và những pháp làm tham sân si giảm xuống.
52. CÂU GHI NHỚ THỨ CHÍN
Người có thể nói “tôi chưa biết” đã bắt đầu đứng trên sự thật thay vì đứng trên hình ảnh của mình.
53. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
TỰ MÌNH – NHƯNG KHÔNG TỰ TÔN.
NƯƠNG PHÁP – NHƯNG KHÔNG CHỈ HỌC THUỘC.
CÓ THẦY – NHƯNG KHÔNG Ỷ LẠI.
CÓ BẠN – NHƯNG KHÔNG TRAO HẾT TRÁCH NHIỆM CHO BẠN.
CÓ LỜI PHẬT – THÌ PHẢI ĐEM VÀO TÂM MÌNH MÀ HÀNH.
Và xin nhớ lời Phật:
“Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình y tựa chính mình, chớ y tựa một cái gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một cái gì khác.” (SuttaCentral)
Nguồn: Kinh Cunda – Cunda Sutta, Tương Ưng Bộ Kinh – Saṃyutta Nikāya, Tương Ưng Niệm Xứ, kinh số 13, mã quốc tế SN 47.13; bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu; nguyên bản Kinh tạng Pāli. (SuttaCentral)
54. CÂU HỎI LIVESTREAM
1. Theo quý vị, “tự mình nương tựa chính mình” có phải là không cần thầy hay không?
2. Có bao giờ mình quá phụ thuộc vào một người đến mức người ấy rời đi thì mình mất luôn hướng tu không?
3. Khi bị chê, quý vị thường quay về Pháp kiểm lại hay lập tức muốn bảo vệ mình?
4. Theo quý vị, khác nhau thế nào giữa tự tin và cho rằng mình luôn đúng?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 405
5. Có việc gì trong đời tu mình vẫn đang chờ người khác làm thay cho mình không?
6. Nếu một vị mình rất kính nói điều không khớp với kinh, quý vị nghĩ mình nên làm gì?
7. Khi tâm rối, quý vị thường gọi người khác trước hay từng thử quay về nhìn thân, thọ và tâm mình trước?
8. Có bao giờ một lời khen làm mình vui quá mức và một lời chê làm mình buồn quá lâu không? Nếu có, mình đang nương vào đâu?
9. Theo quý vị, người nói “tôi chưa biết, để tôi kiểm lại” là yếu hay mạnh?
10. Nếu hôm nay chỉ nhớ một công thức, quý vị có thể nhớ: “Thầy chỉ – Pháp soi – mình đi” không?
55. CÂU KẾT ĐỂ ĐỌC TRÊN LIVESTREAM
Kính thưa quý vị,
trên đường tu,
chúng ta rất cần:
thầy.
cần bạn lành.
cần kinh.
cần đạo tràng.
Nhưng có một điều không thể giao cho bất kỳ ai:
TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI TÂM MÌNH.
Người khác có thể nói:
“Đừng sân.”
Nhưng lúc sân lên,
chính mình phải thấy.
Người khác có thể nói:
“Hãy buông.”
Nhưng chính mình phải:
mở tay.
Người khác có thể đưa kinh.
Nhưng chính mình phải:
đọc.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 406
hiểu.
và hành.
Cho nên lời Phật:
“Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình”
không phải lời nâng cái tôi lên.
Ngay sau đó Ngài đặt một hàng rào rất rõ:
“DÙNG CHÁNH PHÁP LÀM NGỌN ĐÈN.”
Vậy công thức của bài hôm nay là:
THẦY CHỈ – PHÁP SOI – MÌNH ĐI.
Và khi tâm rối:
THÂN – THỌ – TÂM – PHÁP.
Trở về nhìn.
Trở về biết.
Trở về Chánh pháp.
Rồi mới hành động.
Một người thật sự biết tự nương không phải người nói:
“Tôi chẳng cần ai.”
Mà là người có thể nói:
“Tôi biết ơn người chỉ đường, nhưng tôi không bắt ai đi thay đôi chân của tôi.”
Đó mới là tinh thần tự trách nhiệm rất đẹp trong lời Đức Phật.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 407
MỤC 016 - Bài 016 — TINH TẤN NHƯ NGƯỜI ĐANG CÓ LỬA CHÁY TRÊN ĐẦU 1. CÂU KINH – LỜI DẠY TRONG KINH NGUYÊN THỦY
“Như bị kiếm chém xuống, Như bị lửa cháy đầu, Vị Tỷ-kheo xuất gia, Chánh niệm, đoạn tham dục.”
Đây là kệ số 39 của Trưởng lão Tissa trong Trưởng Lão Tăng Kệ. Bản dịch tiếng Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu ghi rằng bậc Đạo Sư đã dùng bài kệ này để thức tỉnh và sách tấn Tissa; sau đó bài kệ được kết tập trong phần kệ của vị trưởng lão. Vì vậy khi giảng, chúng ta nên nói rõ xuất xứ như vậy, không nhập nhằng giữa “kệ của vị trưởng lão” và “lời trực tiếp của Đức Phật” nếu chưa nói rõ bối cảnh. (Viet Buddhism)
2. NGUỒN KINH
Tên kinh: Trưởng Lão Tăng Kệ Tên Pāli: Theragāthā Thuộc: Tiểu Bộ Kinh – Khuddaka Nikāya Phần: Chương Một – Một Kệ, Phẩm thứ tư Tên vị trưởng lão: Tissa Số kệ: Kệ số 39 Mã tra cứu quốc tế: Thag 1.39 Mã kệ Pāli: Theragāthā 39 Bản dịch tiếng Việt dùng trong bài: Hòa thượng Thích Minh Châu Nguyên bản: Kinh tạng Pāli
Trưởng Lão Tăng Kệ là một tác phẩm thuộc Tiểu Bộ Kinh, tập hợp các kệ gắn với các vị trưởng lão thời kỳ đầu. Bản Pāli–Việt của Tỳ-kheo Indacanda ghi Trưởng Lão Kệ là tập thứ tám của Tiểu Bộ và liệt kê Tissa ở kệ 39; SuttaCentral cũng định danh bài này là Tissattheragāthā – Thag 1.39, verse 39. (Tam Tang Song Ngữ Pali - Viet)
Nguyên bản Pāli của kệ:
“Sattiyā viya omaṭṭho, ḍayhamānova matthake; kāmarāgappahānāya, sato bhikkhu paribbaje.” (Tipitaka)
3. TỪ KHÓA VIỆT – PĀLI – NGHĨA
KIẾM, GIÁO NHỌN – SATTI – VẬT SẮC NHỌN, VŨ KHÍ
Trong bài kệ, hình ảnh đầu tiên rất mạnh:
“Như bị kiếm chém xuống.”
Nguyên Pāli dùng satti, chỉ một loại vũ khí sắc nhọn như giáo hay mũi nhọn. Ý của hình ảnh không nằm ở việc mô tả chiến tranh.
Điều được nhấn mạnh là:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 408
KHẨN CẤP.
Một người bị vật sắc đâm vào thân sẽ không nói:
“Để tuần sau xử lý.”
Không ai đang bị thương nặng lại nói:
“Khi nào rảnh tôi chữa.”
Việc cấp bách thì phải:
làm ngay.
Lời kệ mượn hình ảnh đó để đánh thức người tu:
PHIỀN NÃO KHÔNG PHẢI CHUYỆN ĐỂ TRÌ HOÃN MÃI.
LỬA CHÁY ĐẦU – ĀDITTASĪSA, ḌAYHAMĀNA MATTHAKE – ĐẦU ĐANG BỊ LỬA THIÊU
Hình ảnh thứ hai còn mạnh hơn:
“Như bị lửa cháy đầu.”
Nếu tóc đang cháy,
người ta có việc gì quan trọng hơn?
Không.
Việc đầu tiên:
DẬP LỬA.
Đây là hình ảnh để chỉ mức độ khẩn thiết của việc tu tập.
Không phải khẩn thiết bằng:
hoảng loạn.
Mà là:
không coi thường thời gian.
CHÁNH NIỆM – SATI – NHỚ BIẾT, TỈNH THỨC, KHÔNG THẤT NIỆM
Chánh niệm – sati là từ rất quan trọng trong kệ.
Kệ không chỉ nói:
“hãy cố.”
Mà nói:
“chánh niệm.”
Nếu chỉ cố nhưng không biết mình đang làm gì,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 409
có thể càng cố càng sai.
Chánh niệm giúp mình biết:
tham đang có.
sân đang có.
tâm đang phóng.
tâm đang lười.
tâm đang muốn trì hoãn.
Nói thật dễ nhớ:
MUỐN SỬA TÂM – TRƯỚC HẾT PHẢI THẤY TÂM.
THAM DỤC – KĀMARĀGA – SỰ NHIỄM ĐẮM, THAM ÁI ĐỐI VỚI DỤC
Tham dục – kāmarāga là sự tham ái, dính mắc đối với các dục.
Nó không chỉ là:
một vật.
Nó là tâm:
muốn nắm.
Thấy đẹp:
muốn giữ.
Nghe hay:
muốn nghe nữa.
Được khen:
muốn thêm lời khen.
Có lợi:
muốn thêm lợi.
Được chú ý:
muốn được chú ý nhiều hơn.
Tham dục có thể rất thô.
Nhưng cũng có thể rất tinh tế.
ĐOẠN TRỪ – PAHĀNA – TỪ BỎ, LOẠI BỎ, ĐOẠN DIỆT
Pahāna nghĩa là từ bỏ, đoạn trừ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 410
Điều này cho thấy mục tiêu của kệ không phải:
quản lý tham để tham dễ chịu hơn.
Mà hướng xa hơn:
ĐOẠN THAM.
Người mới tu chưa đoạn ngay được,
nhưng phải biết:
hướng đi là giảm.
Hôm nay tham 100,
tu để còn 90.
Rồi 80.
Rồi thấy sâu hơn.
Không nuôi.
Không đồng hóa.
Đó là con đường.
TỶ-KHEO – BHIKKHU – NGƯỜI XUẤT GIA TU HỌC
Bhikkhu là vị Tỷ-kheo.
Kệ nói trực tiếp đến người xuất gia.
Nhưng bài học về:
chánh niệm,
không trì hoãn thiện pháp,
nhìn tham,
và tinh tấn tu tập
cũng có giá trị ứng dụng cho người tại gia trong phạm vi phù hợp.
Khi giảng phải phân biệt:
đối tượng nguyên thủy của kệ
với:
phần ứng dụng rộng ra đời sống.
Như vậy mới đúng tác phong y kinh.
4. GIẢI TỪNG CỤM
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 411
“NHƯ BỊ KIẾM CHÉM XUỐNG”
Hình ảnh này nói:
ĐỪNG COI PHIỀN NÃO NHƯ CHUYỆN KHÔNG GẤP.
Mình thường rất gấp với chuyện bên ngoài.
Điện thoại hết pin:
gấp.
Mạng yếu:
gấp.
Một người chưa trả lời:
gấp.
Mất một món đồ:
gấp.
Có việc tài chính:
gấp.
Nhưng:
sân ngày càng lớn,
không gấp.
Tham ngày càng mạnh,
không gấp.
Nói dối thành thói quen,
không gấp.
Cái tôi ngày càng lớn,
không gấp.
Đức Phật và các vị Thánh đệ tử nhìn ngược lại:
PHIỀN NÃO MỚI LÀ VIỆC PHẢI LO.
Bởi vật mất:
có thể kiếm lại.
Nhưng thói quen bất thiện nuôi nhiều năm:
sẽ định hình cả cách sống.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 412
“NHƯ BỊ LỬA CHÁY ĐẦU”
Một người đang cháy đầu không ngồi:
tranh luận xem ai đúng.
Không kiểm điện thoại.
Không nghĩ:
“Mai tôi dập.”
Họ hành động ngay.
Hình ảnh ấy hỏi người tu:
“VIỆC TU CỦA MÌNH ĐANG ĐƯỢC ĐẶT Ở VỊ TRÍ NÀO?”
Việc gì cũng xong rồi mới tu?
Hay:
tu nằm ngay trong cách làm mọi việc?
Nếu đợi:
hết việc,
hết bệnh,
hết lo,
hết người làm mình phiền,
hết khó khăn
rồi mới tu,
thì có thể:
cả đời không đến lượt tu.
“VỊ TỶ-KHEO XUẤT GIA”
Đã xuất gia là đã chọn:
một hướng sống.
Lời kệ nhắc:
đừng chỉ có:
hình thức xuất gia
mà thiếu:
tinh thần xuất ly.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 413
Cạo tóc là một việc.
Mặc y là một việc.
Nhưng:
tham có giảm không?
sân có giảm không?
mạn có giảm không?
chấp có giảm không?
Đó mới là phần bên trong.
Và với người tại gia cũng vậy:
không nên chỉ hỏi:
“Tôi đã quy y chưa?”
Mà hỏi thêm:
“Từ khi quy y, tâm tôi đổi được gì?”
“CHÁNH NIỆM”
Đây là điểm rất quan trọng.
Không phải:
gồng lên tu.
Mà:
THẤY RÕ RỒI TU.
Tâm tham:
biết tham.
Tâm sân:
biết sân.
Lười:
biết lười.
Muốn bỏ cuộc:
biết muốn bỏ.
Muốn được khen:
biết đang muốn khen.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 414
Chánh niệm giống:
người đứng gác cửa.
Không phải kẻ nào đi vào cũng đuổi.
Nhưng:
biết ai đang vào.
Khi biết,
mình mới có lựa chọn.
“ĐOẠN THAM DỤC”
Đây là hướng cuối của bài.
Không phải tinh tấn để:
được nổi tiếng.
Không phải chánh niệm để:
có cảm giác đặc biệt.
Không phải tu để:
người khác thấy mình tu cao.
Mục tiêu được nêu rõ:
ĐOẠN THAM DỤC.
Điều này giúp mình kiểm lại động cơ.
Nếu tu càng lâu mà:
muốn danh nhiều hơn,
muốn được kính nhiều hơn,
muốn được phục vụ nhiều hơn,
muốn sở hữu nhiều hơn,
thì phải nhìn lại.
Con đường đang đi về:
giảm tham
hay:
đổi hình thức của tham?
5. GHÉP NGHĨA TOÀN CÂU
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 415
Ghép lại, bài kệ có thể hiểu thật dễ như sau:
Người xuất gia phải sống với sự chánh niệm và khẩn thiết trong việc đoạn trừ tham dục, giống như người đang bị vũ khí gây thương tích hoặc đang có lửa cháy trên đầu phải lập tức lo xử lý, không thể buông lung hay trì hoãn. Bản Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu ghi rất gọn: “Như bị kiếm chém xuống, như bị lửa cháy đầu, vị Tỷ-kheo xuất gia, chánh niệm, đoạn tham dục.” (Viet Buddhism)
Công thức đầu tiên của bài:
THẤY PHIỀN NÃO → ĐỪNG HẸN MAI.
CHÁNH NIỆM → TINH TẤN → ĐOẠN TRỪ.
6. LỜI KINH MUỐN CHỈ GÌ?
Kính thưa quý vị,
bài kệ này rất ngắn.
Nhưng nó đánh thẳng vào một thói quen rất lớn:
TRÌ HOÃN VIỆC TU.
Mình rất dễ nghĩ:
“Khi già tôi tu.”
“Khi rảnh tôi tu.”
“Khi về hưu tôi tu.”
“Khi giải quyết xong việc này tôi tu.”
Nhưng xong việc này:
có việc khác.
Hết người này:
gặp người khác.
Hết khó khăn này:
có khó khăn mới.
Nếu tu bị để xuống cuối danh sách,
thì cuối đời có khi:
danh sách vẫn chưa chạy tới chữ tu.
Lời kệ kéo việc tu lên:
NGAY BÂY GIỜ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 416
7. KHẨN THIẾT KHÔNG CÓ NGHĨA CUỐNG CUỒNG
Đây là chỗ phải hiểu đúng.
Kinh dùng hình ảnh:
lửa cháy đầu.
Nhưng không có nghĩa người tu phải:
căng thẳng.
sợ hãi.
ép xác.
không ngủ.
không nghỉ.
Tu đúng không phải:
hoảng loạn.
Mà là:
thấy điều quan trọng và không trì hoãn.
Một bác sĩ cấp cứu rất nhanh,
nhưng người giỏi vẫn:
tỉnh.
Không chạy loạn.
Người tu cũng vậy.
Khẩn thiết,
nhưng:
CÓ NIỆM.
8. TẠI SAO PHẢI KHẨN THIẾT?
Bởi đời:
không chờ.
Thân đang già.
Mỗi ngày trôi:
không quay lại.
Một thói quen sân được nuôi:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 417
mỗi ngày mạnh hơn.
Một lòng tham được chiều:
mỗi ngày đòi nhiều hơn.
Một cái tôi được bảo vệ:
mỗi ngày cứng hơn.
Nếu biết vậy,
mình không cần bi quan.
Mình chỉ cần:
ĐỪNG LƯỜI VỚI VIỆC CHUYỂN HÓA.
9. VÍ DỤ 1 – BIẾT MÌNH NÓNG TÍNH NHƯNG MƯỜI NĂM VẪN NÓI “TÍNH TÔI VẬY”
Có người nói:
“Tôi biết tôi nóng.”
Biết năm năm.
Mười năm.
Hai mươi năm.
Nhưng không tập.
Mỗi lần giận lại:
“Tính tôi thế.”
Đó không phải chánh niệm trọn nghĩa.
Chánh niệm phải dẫn tới:
hành.
Sân sinh:
biết.
Biết rồi:
dừng.
Lỡ lời:
xin lỗi.
Tìm nguyên nhân.
Tập lại.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 418
Đó là:
BIẾT + TẤN.
10. VÍ DỤ 2 – MUỐN HỌC KINH NHƯNG CỨ CHỜ “CÓ THỜI GIAN”
Mình muốn học kinh.
Nhưng:
sáng bận.
trưa mệt.
tối xem điện thoại.
Rồi nói:
“Không có thời gian.”
Nếu thật sự coi Pháp quan trọng,
mười phút cũng học được.
Không cần:
mỗi ngày ba tiếng.
Nhưng:
PHẢI CÓ CHỖ CHO PHÁP TRONG NGÀY.
Nếu không,
tất cả thứ khác sẽ tự động chiếm hết.
11. VÍ DỤ 3 – THAM MUA
Thấy một món.
Rất muốn.
Tâm nói:
“Mua rồi tính.”
Bài kệ dạy:
hãy xem phiền não như việc khẩn cấp.
Không phải món đồ:
khẩn cấp.
Mà:
tham đang nổi mới đáng nhìn.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 419
Dừng một chút.
Hỏi:
“Tôi cần hay tôi đang bị cái muốn kéo?”
Chỉ một lần dừng,
đã là tu.
12. VÍ DỤ 4 – MUỐN ĐƯỢC KHEN
Đăng một nội dung.
Người xem tăng.
Tâm vui.
Hôm sau ít người:
buồn.
Bài kệ có thể áp dụng:
đừng đợi đến khi tâm lệ thuộc hoàn toàn vào con số mới sửa.
Ngay khi thấy:
“Tôi đang cần người khác công nhận,”
hãy nhìn.
Chánh niệm.
Không ghét cảm xúc.
Nhưng:
đừng nuôi.
13. VÍ DỤ 5 – SÂN TRÊN LIVESTREAM
Một người viết câu khó nghe.
Tâm nóng.
Đây chính là:
lửa đang cháy trong tâm.
Đừng nghĩ:
“Tôi trả xong rồi tu.”
Tu nằm ngay ở:
GIÂY ĐÓ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 420
Không trả bằng sân.
Kiểm nội dung.
Nếu cần trả lời:
trả đúng việc.
Nếu không cần:
bỏ.
Đó là dập lửa.
14. VÍ DỤ 6 – NGƯỜI THÂN LÀM TRÁI Ý
Mình đã nhắc mười lần.
Họ vẫn không làm.
Sân nổi.
Tâm nói:
“Phải nói cho họ một trận.”
Bài kệ nói:
chánh niệm.
Thấy:
“Sân đang muốn sử dụng miệng của tôi.”
Không để.
Nếu cần nói:
đợi tâm sáng hơn.
Tu không nằm ở:
chùa.
Nó nằm ngay trong:
phòng khách.
15. VÍ DỤ 7 – LỜI XIN LỖI CỨ ĐỂ MAI
Biết mình sai.
Nhưng tự ái.
Nói:
“Mai xin lỗi.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 421
Mai lại khó hơn.
Một tuần sau:
càng ngại.
Tinh tấn ở đây có thể rất đơn giản:
XIN LỖI KHI CÒN KỊP.
Không để mạn lớn thêm.
16. VÍ DỤ 8 – BIẾT CẦN BUÔNG MỘT MỐI HẬN NHƯNG VẪN KỂ MỖI NGÀY
Mình nói:
“Tôi đang tập buông.”
Nhưng ngày nào cũng:
nhắc.
kể.
tìm.
đọc.
tưởng tượng.
Vậy mình đang:
buông bằng miệng
nhưng:
nuôi bằng tâm.
Bài kệ nhắc:
muốn đoạn,
phải làm như đang dập lửa.
Không tiếp tục:
bỏ củi vào.
17. VÍ DỤ 9 – NGƯỜI XUẤT GIA NHƯNG TÂM MUỐN DANH
Đây là chỗ rất tế.
Người xuất gia có thể:
không tham vật lớn,
nhưng tham:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 422
được kính.
được biết.
được nghe lời.
được gọi là tu cao.
Đó vẫn là:
cái muốn.
Vì vậy kệ nói:
chánh niệm đoạn tham dục.
Không chỉ nhìn:
tham vật.
Còn phải nhìn:
THAM HÌNH ẢNH CỦA CHÍNH MÌNH.
18. VÍ DỤ 10 – LÀM PHẬT SỰ RẤT NHIỀU NHƯNG KHÔNG CÒN THỜI GIAN NHÌN TÂM
Đây là một cái bẫy.
Làm rất nhiều việc tốt.
Nhưng:
bực rất nhiều.
nóng rất nhiều.
căng rất nhiều.
cái tôi rất lớn.
Lúc đó cần dừng hỏi:
“Tôi đang làm Phật sự hay đang dùng Phật sự để không nhìn phiền não mình?”
Không phải bỏ việc tốt.
Mà:
đừng bỏ tu tâm trong lúc làm việc tốt.
19. THAM DỤC KHÔNG CHỈ NẰM Ở TIỀN VÀ VẬT
Có người nói:
“Tôi không tham tiền.”
Nhưng có thể tham:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 423
được đúng.
được thắng.
được chú ý.
được yêu.
được nghe lời.
được công nhận.
được thấy mình đặc biệt.
Tâm rất khéo.
Nếu chỉ soi:
tài vật,
mình có thể bỏ lọt:
rất nhiều tham khác.
20. CHÁNH NIỆM GIỐNG NHƯ PHÁT HIỆN LỬA SỚM
Một đám cháy nhỏ:
dễ dập.
Cháy cả nhà:
rất khó.
Phiền não cũng vậy.
Sân vừa chớm:
biết.
Dễ.
Đã nói hai mươi câu:
khó.
Tham vừa sinh:
biết.
Dễ.
Đã vay nợ để thỏa tham:
khó.
Ganh vừa chớm:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 424
biết.
Dễ.
Đã nói xấu người kia:
khó sửa hơn.
Vì vậy:
NIỆM CÀNG SỚM – VIỆC TU CÀNG DỄ.
21. TINH TẤN KHÔNG PHẢI CHỈ LÀ LÀM THẬT NHIỀU
Có người rất bận,
nhưng không tinh tấn.
Có người làm ít,
nhưng mỗi việc đều đúng hướng.
Tinh tấn trong Phật pháp không đo bằng:
số giờ mình chạy.
Mà phải hỏi:
năng lượng ấy đang dùng để giảm bất thiện và phát triển thiện hay không?
Nếu chạy cả ngày vì tham,
không gọi đó là:
tinh tấn tu tập.
22. TU CẦN ĐỀU HƠN CẦN BÙNG NỔ
Một ngày:
ngồi ba giờ.
Sau đó bỏ một tháng.
Không bằng:
mỗi ngày đều có thực hành thích hợp.
Một hôm:
đọc một trăm trang.
Sau đó không mở kinh nữa.
Không bằng:
mỗi ngày một đoạn,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 425
hiểu,
ứng dụng.
Tinh tấn không nhất thiết:
ồn ào.
Nó có thể:
rất đều.
23. KHÔNG NÊN LẤY HÌNH ẢNH “LỬA CHÁY ĐẦU” ĐỂ ÉP THÂN QUÁ MỨC
Phải nói điều này thật rõ.
Kệ nhấn mạnh:
sự khẩn thiết đoạn tham.
Nó không phải lời bảo:
không ngủ.
nhịn ăn vô lý.
làm thân kiệt sức.
Nếu thân bệnh:
chữa.
Mệt:
nghỉ hợp lý.
Tu cần:
trí.
Nếu ép thân đến mức tâm loạn hơn,
không phải hướng của kệ.
24. KHẨN THIẾT VỚI PHIỀN NÃO – NHƯNG KIÊN NHẪN VỚI CHÍNH MÌNH
Hai điều phải đi cùng.
Không trì hoãn:
việc tu.
Nhưng cũng không đòi:
một ngày hết sạch phiền não.
Thói quen nhiều năm:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 426
cần thời gian.
Người tu có thể nói:
“Tôi không hẹn mai mới bắt đầu, nhưng tôi cho mình thời gian để trưởng thành.”
Đó là:
TINH TẤN + NHẪN.
25. LỜI KINH MUỐN CHỈ THÊM ĐIỀU GÌ?
Trong bản Trưởng Lão Tăng Kệ của Hòa thượng Thích Minh Châu, phần dẫn chuyện nói Tissa có khuynh hướng tự phụ, nóng nảy và thiếu hăng hái trong bổn phận; bậc Đạo Sư dùng chính kệ 39 để thức tỉnh vị ấy. Bản mục lục Pāli–Việt cũng xác nhận đây là Tissa, kệ 39 trong Nhóm Một. (Viet Buddhism)
Điều này cho thấy bài kệ không chỉ là lý thuyết về:
tham dục.
Nó là một lời:
ĐÁNH THỨC.
Đừng ngủ trong đời tu.
26. CÓ MỘT LOẠI NGỦ KHÔNG PHẢI NHẮM MẮT
Mắt mở.
Nhưng:
không biết tâm.
Ngày ngày làm việc.
Nhưng không biết mình đang chạy về đâu.
Nói Pháp.
Nhưng không nhìn cái tôi.
Tụng kinh.
Nhưng không biết câu vừa đọc nghĩa gì.
Có thể gọi đó là:
ngủ trong thất niệm.
Bài kệ đánh thức:
CHÁNH NIỆM.
27. CÓ MỘT LOẠI LỬA KHÔNG NHÌN THẤY
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 427
Lửa sân.
Lửa tham.
Lửa ganh.
Lửa ái.
Lửa hơn thua.
Lửa ấy không cháy tóc,
nhưng cháy:
quan hệ.
niềm tin.
giấc ngủ.
tâm an.
Nếu không dập sớm,
nó lan.
28. DẬP LỬA SÂN BẰNG GÌ?
Trước hết:
BIẾT.
Sau đó:
không thêm lời.
không thêm câu chuyện.
không thêm trả đũa.
Nếu có thể:
khởi từ.
Nếu cần:
rời tình huống một lúc.
Rồi mới giải quyết.
Đó là cách dập lửa thực tế.
29. DẬP LỬA THAM BẰNG GÌ?
Nhìn:
cái muốn.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 428
Hỏi:
“Có cần không?”
Tập:
biết đủ.
bố thí.
không mua ngay.
không lấy điều không thuộc về mình.
quán hậu quả.
Mỗi lần không làm theo một cái muốn bất thiện,
tham yếu một chút.
30. DẬP LỬA MẠN BẰNG GÌ?
Khi muốn chứng minh:
“Tôi hơn,”
nhớ:
mọi điều mình biết đều nhờ:
học.
nhân duyên.
người chỉ.
Pháp của Phật.
Không có gì đáng để:
nâng mình lên rồi hạ người xuống.
Khi sai:
nhận.
Đó là nước rất mạnh dập lửa mạn.
31. DẬP LỬA GANH BẰNG GÌ?
Tùy hỷ.
Thấy người khác tốt:
mừng cho điều tốt.
Nếu chưa mừng được,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 429
ít nhất:
không nói xấu.
Không mong họ mất.
Sau đó hỏi:
“Tôi học được nhân gì từ họ?”
Ganh chuyển thành:
học.
32. DẬP LỬA ÁI CHẤP BẰNG GÌ?
Nhìn:
người mình thương cũng vô thường.
Quan hệ vô thường.
Cảm xúc vô thường.
Thương nhưng:
không sở hữu.
Giúp nhưng:
không kiểm soát.
Ở bên nhưng:
không biến người kia thành điều kiện duy nhất của bình an.
Đó là hướng buông ái chấp.
33. ỨNG DỤNG 1 – QUY TẮC “THẤY LỬA LÀ DẬP”
Sân sinh:
xử lý sân.
Tham sinh:
xử lý tham.
Ganh sinh:
xử lý ganh.
Đừng nói:
“Để tối tôi tu.”
Tu:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 430
NGAY KHI PHIỀN NÃO XUẤT HIỆN.
Đó là thời khóa sống.
34. ỨNG DỤNG 2 – MỖI NGÀY CHỌN MỘT “ĐÁM LỬA”
Không cần sửa tất cả một lúc.
Tuần này:
tập với sân.
Tuần sau:
tập với lời nói.
Hoặc chọn một thói quen:
hay nói xấu.
hay trì hoãn.
hay so sánh.
Nhìn kỹ.
Làm đều.
Đó là tinh tấn có trọng tâm.
35. ỨNG DỤNG 3 – BA PHÚT ĐẦU CỦA CƠN SÂN
Khi sân sinh,
ba phút đầu:
rất quan trọng.
Không gửi.
Không gọi để mắng.
Không đăng.
Không ra quyết định lớn.
Chỉ:
biết.
thở.
đi lại nếu cần.
uống nước.
để thân hạ xuống.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 431
Sau đó:
xử lý bằng trí.
36. ỨNG DỤNG 4 – TRƯỚC MỘT CÁI MUỐN LỚN
Đừng quyết ngay.
Hỏi bốn câu:
Tôi có thật sự cần không?
Điều này có trái giới không?
Nếu không ai biết tôi có nó, tôi còn muốn mạnh vậy không?
Một tháng nữa tôi còn thấy nó quan trọng như bây giờ không?
Bốn câu này có thể:
làm tham lộ mặt.
37. ỨNG DỤNG 5 – TRONG VIỆC HỌC PHẬT
Mỗi ngày:
một câu kinh có nguồn.
Hiểu một từ.
Thực hành một điều.
Không cần chạy theo số lượng quá lớn mà:
không nhớ gì.
Kinh phải từ:
mắt
đi xuống:
tâm.
Rồi từ tâm đi ra:
đời sống.
38. ỨNG DỤNG 6 – TRONG VIỆC GIẢNG PHÁP
Nếu phát hiện câu mình từng nói chưa chuẩn:
SỬA NGAY.
Không nghĩ:
“Đăng rồi thôi.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 432
Sai nguồn:
sửa nguồn.
Sai dịch:
sửa.
Chưa chắc:
ghi rõ chưa chắc.
Đó cũng là:
tinh tấn dập lỗi khi lỗi vừa được thấy.
39. ỨNG DỤNG 7 – VỚI CHA MẸ
Biết cha mẹ già:
đừng đợi.
Muốn gọi:
gọi.
Muốn thăm:
thu xếp.
Có lời cảm ơn:
nói.
Chánh niệm về vô thường làm mình:
bớt chữ “mai”.
40. ỨNG DỤNG 8 – VỚI VIỆC XIN LỖI
Biết mình sai:
đừng để mạn có thời gian xây:
một bức tường.
Càng chờ:
càng khó.
Nếu có thể:
nói:
“Việc đó tôi chưa đúng. Tôi xin sửa.”
Dập lửa mạn từ sớm.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 433
41. CÔNG THỨC THỨ NHẤT: THẤY – DẬP – ĐỪNG NUÔI
THẤY
Chánh niệm nhận ra phiền não.
DẬP
Dùng pháp đối trị thích hợp.
ĐỪNG NUÔI
Không kể thêm, nghĩ thêm, làm theo thêm.
Công thức:
THẤY → DẬP → ĐỪNG NUÔI.
42. CÔNG THỨC THỨ HAI: NIỆM – TẤN – ĐOẠN
Đây là công thức sát bài kệ:
NIỆM
Biết tham đang có.
TẤN
Không trì hoãn việc tu.
ĐOẠN
Hướng tới giảm và đoạn trừ.
Công thức:
NIỆM → TẤN → ĐOẠN.
43. CÔNG THỨC THỨ BA: PHIỀN NÃO KHÔNG HẸN MAI
Một câu dễ nhớ:
VIỆC ĐỜI CÓ THỂ HẸN.
PHIỀN NÃO THẤY RỒI – ĐỪNG HẸN.
Sân thấy rồi:
tu.
Tham thấy rồi:
tu.
Mạn thấy rồi:
tu.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 434
Đó là:
thời khóa không cần chuông.
44. CÔNG THỨC THỨ TƯ: DỪNG – BIẾT – ĐỐI TRỊ – LÀM LẠI
DỪNG
Không chạy theo phản ứng.
BIẾT
Phiền não nào đang có?
ĐỐI TRỊ
Chọn pháp phù hợp.
LÀM LẠI
Nếu thất bại:
tập lại.
Không tự kết án.
Công thức:
DỪNG → BIẾT → ĐỐI TRỊ → LÀM LẠI.
45. BÀI THỰC HÀNH MỘT NGÀY
Hôm nay chỉ chọn một điều:
MỖI KHI PHIỀN NÃO MẠNH SINH – NHẬN BIẾT TRƯỚC KHI NÓ THÀNH LỜI.
Không cần hết phiền não.
Chỉ cần:
thấy sớm hơn hôm qua.
Nếu hôm qua nói mười câu mới biết,
hôm nay năm câu đã biết:
có tiến.
Ngày mai một câu đã biết:
có tiến.
Một ngày nào đó:
chưa nói đã biết.
Đó là công phu.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 435
46. BÀI THỰC HÀNH BẢY NGÀY
NGÀY 1 – NHÌN SÂN
Mỗi lần khó chịu:
gọi tên:
“Sân đang có.”
NGÀY 2 – NHÌN THAM
Mỗi lần rất muốn một điều:
hỏi:
“Cần hay muốn?”
NGÀY 3 – NHÌN MẠN
Mỗi lần muốn hơn người:
biết:
“Mạn đang chen.”
NGÀY 4 – NHÌN GANH
Thấy ai thành công:
không nói một câu hạ họ.
NGÀY 5 – NHÌN TRÌ HOÃN
Làm ngay một việc thiện đã hoãn.
NGÀY 6 – NHÌN LỜI NÓI
Không nói khi sân quá cao.
NGÀY 7 – NHÌN LẠI
Hỏi:
“Phiền não nào trong tôi giống ngọn lửa mạnh nhất?”
Tuần sau:
tập trung vào nó.
47. THỰC HÀNH BUỔI SÁNG
Mỗi sáng có thể đọc:
Đời sống này không đứng yên.
Phiền não hôm nay thấy được, hôm nay tôi tập chuyển hóa.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 436
Tôi không đợi hết việc mới tu.
Tôi đem sự tu vào chính công việc và quan hệ hằng ngày.
Khi tham sinh, tôi biết tham.
Khi sân sinh, tôi biết sân.
Khi mạn sinh, tôi biết mạn.
Tôi tinh tấn nhưng không ép thân vô lý.
Tôi khẩn thiết với phiền não và kiên nhẫn với tiến trình tu tập của chính mình.
48. THỰC HÀNH BUỔI TỐI
Trước khi ngủ hỏi:
Hôm nay ngọn lửa nào cháy mạnh nhất trong tâm tôi?
Tham?
Sân?
Ganh?
Mạn?
Ái?
Tôi nhận ra nó khi nào?
Trước hành động?
Hay sau hành động?
Tôi đã nuôi nó thêm bằng lời hay suy nghĩ nào?
Có lần nào tôi đã dập được nó sớm không?
Ngày mai tôi có thể nhận ra sớm hơn ở dấu hiệu nào?
Đó là một cách thực hành bài kệ rất thật.
49. CÂU GHI NHỚ THỨ NHẤT
Phiền não vừa sinh giống như đốm lửa nhỏ; thấy sớm thì dễ dập, để lan rồi mới sửa thì khó hơn nhiều.
50. CÂU GHI NHỚ THỨ HAI
Chánh niệm không làm phiền não biến mất ngay; chánh niệm giúp mình thấy phiền não trước khi nó sử dụng miệng và tay của mình.
51. CÂU GHI NHỚ THỨ BA
Tinh tấn không phải làm thật nhiều; tinh tấn là không bỏ việc đúng chỉ vì tâm muốn lười.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 437
52. CÂU GHI NHỚ THỨ TƯ
Tu không phải đợi đời hết sóng; tu là học giữ tâm ngay trong lúc sóng đang lên.
53. CÂU GHI NHỚ THỨ NĂM
Đừng chờ một ngày hết tham mới sống nhẹ; mỗi lần không chạy theo một cái muốn không cần thiết đã là một bước nhẹ.
54. CÂU GHI NHỚ THỨ SÁU
Một cơn sân dừng trước khi thành lời có khi là một thời thiền rất thật giữa đời sống.
55. CÂU GHI NHỚ THỨ BẢY
Cái đáng khẩn cấp không phải lúc nào cũng là việc bên ngoài; đôi khi chính một tâm bất thiện đang được nuôi mới là việc cần xử lý trước.
56. CÂU GHI NHỚ THỨ TÁM
Tinh tấn với việc tu không có nghĩa ghét chính mình vì còn phiền não; thấy bệnh để chữa khác với ghét người đang bệnh.
57. CÂU GHI NHỚ THỨ CHÍN
Khẩn thiết với tham sân si nhưng kiên nhẫn với chính mình: đó là con đường bền hơn ép mình rồi bỏ cuộc.
58. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI
Đời mình không cần một ngày hoàn hảo mới bắt đầu tu; chính ngày chưa hoàn hảo này là ngày để bắt đầu.
59. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
NHƯ LỬA CHÁY ĐẦU – ĐỪNG HẸN MAI.
THAM SINH – BIẾT.
SÂN SINH – BIẾT.
MẠN SINH – BIẾT.
BIẾT RỒI – ĐỪNG NUÔI.
ĐỪNG NUÔI RỒI – HÃY DÙNG PHÁP ĐỐI TRỊ.
VẤP NGÃ – TẬP LẠI.
Đây là tinh thần rất thực tế của bài:
NIỆM → TẤN → ĐOẠN.
Và xin nhớ nguyên câu kệ:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 438
“Như bị kiếm chém xuống, Như bị lửa cháy đầu, Vị Tỷ-kheo xuất gia, Chánh niệm, đoạn tham dục.”
Nguồn: Trưởng Lão Tăng Kệ – Theragāthā, Tiểu Bộ Kinh – Khuddaka Nikāya, Chương Một – Một Kệ, Phẩm thứ tư, kệ của Trưởng lão Tissa, số kệ 39, mã tra cứu quốc tế Thag 1.39; bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu; nguyên bản Kinh tạng Pāli. (Viet Buddhism)
60. CÂU HỎI LIVESTREAM
1. Quý vị thấy ngọn lửa nào trong tâm mình mạnh nhất hiện nay: tham, sân, ganh, mạn hay chấp?
2. Có phiền não nào quý vị đã biết từ nhiều năm nhưng đến nay vẫn thường nói: “Tính tôi vậy rồi” không?
3. Theo quý vị, tại sao kinh dùng hình ảnh mạnh đến mức “lửa cháy đầu” để nói về việc tu?
4. Có phải chúng ta thường thấy chuyện tiền bạc, công việc và điện thoại là khẩn cấp, nhưng lại thấy việc sửa tâm là chuyện để sau không?
5. Khi sân sinh, quý vị thường nhận ra trước khi nói hay chỉ nhận ra sau khi đã nói xong?
6. Theo quý vị, chánh niệm và tinh tấn khác nhau thế nào? Có phải một bên là biết, một bên là thực sự làm không?
7. Có một cái muốn nào hiện nay mình biết không thật sự cần nhưng vẫn đang bị nó kéo rất mạnh không?
8. Người xuất gia không sở hữu nhiều vật chất nhưng vẫn có thể tham danh, tham được kính và tham được công nhận không? Nếu có thì mình phải soi bằng cách nào?
9. Theo quý vị, làm rất nhiều Phật sự nhưng không còn thời gian nhìn tham sân của mình có phải là một nguy cơ không?
10. Nếu hôm nay chỉ chọn một phiền não để “dập lửa”, quý vị sẽ chọn điều gì?
11. Có bao giờ mình nói “mai tôi xin lỗi”, rồi càng để lâu càng khó xin lỗi hơn không?
12. Có bao giờ một lời bình luận chỉ mất năm giây đọc nhưng lại cháy trong tâm mình cả một ngày không?
13. Theo quý vị, tinh tấn có phải ép thân đến kiệt sức không? Hay tinh tấn là đều đặn làm đúng điều cần làm?
14. Nếu việc tu thật sự quan trọng như dập lửa trên đầu, hôm nay lịch sống của mình có dành chỗ thật sự cho việc tu hay chưa?
15. Quý vị có đồng ý rằng một cơn sân được nhận ra trước khi thành lời đã là một thành công rất lớn của chánh niệm không?
61. CÂU KẾT ĐỂ ĐỌC TRÊN LIVESTREAM
Kính thưa quý vị,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 439
bài kệ hôm nay chỉ có bốn dòng.
Nhưng hình ảnh rất mạnh:
như bị kiếm chém xuống, như bị lửa cháy đầu.
Tại sao phải nói mạnh như vậy?
Bởi đời mình rất dễ:
ngủ quên trong thói quen.
Sân thì nói:
“Tính tôi vậy.”
Tham thì nói:
“Ai chẳng muốn.”
Ganh thì nói:
“Tôi chỉ không phục.”
Mạn thì nói:
“Tôi chỉ nói sự thật.”
Lười thì nói:
“Mai tu.”
Và cứ như vậy,
một năm đi qua.
Rồi năm khác đi qua.
Phiền não không đứng yên.
Cái gì được nuôi:
cái ấy lớn.
Vì vậy người tu phải học một việc rất quan trọng:
THẤY LỬA SỚM.
Sân vừa lên:
thấy.
Tham vừa lên:
thấy.
Muốn hơn người vừa lên:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 440
thấy.
Muốn trả đũa vừa lên:
thấy.
Muốn được khen vừa lên:
thấy.
Không cần xấu hổ vì mình thấy phiền não.
Ngược lại:
thấy được mới có đường tu.
Điều đáng lo không phải:
phiền não xuất hiện.
Điều đáng lo là:
phiền não xuất hiện mà mình không biết, rồi mình còn gọi nó là đúng.
Cho nên chữ quan trọng nhất của bài hôm nay là:
CHÁNH NIỆM.
Và sau chánh niệm là:
TINH TẤN.
Biết sân:
đừng nuôi.
Biết tham:
đừng chiều mãi.
Biết mạn:
hạ xuống.
Biết mình sai:
sửa.
Biết việc thiện nên làm:
đừng cứ hẹn.
Đó là cách đưa một bài kệ nguyên thủy từ hơn hai ngàn năm trước vào:
ngay lời nói, ngay việc làm, ngay tâm mình hôm nay.
Vậy công thức cuối cùng xin quý vị nhớ:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 441
THẤY → DẬP → ĐỪNG NUÔI.
Và sâu hơn:
NIỆM → TẤN → ĐOẠN.
Không cần đợi mình hoàn hảo.
Chỉ cần hôm nay:
thấy sớm hơn hôm qua.
Dừng sớm hơn hôm qua.
Buông được một chút hơn hôm qua.
Thì lời kinh đã không còn chỉ nằm trên trang sách.
Nó đã bắt đầu:
sống trong mình.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 442
MỤC 017 - Bài 017 — CÁI GÌ KHÔNG PHẢI CỦA MÌNH – HÃY HỌC CÁCH TỪ BỎ 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
“Cái gì không phải của các Ông, hãy từ bỏ. Từ bỏ như vậy sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông.”
Đức Phật tiếp tục chỉ rõ:
sắc không phải của mình – hãy từ bỏ; thọ không phải của mình – hãy từ bỏ; tưởng không phải của mình – hãy từ bỏ; các hành không phải của mình – hãy từ bỏ; thức không phải của mình – hãy từ bỏ.
Đây là lời dạy trực tiếp trong Kinh Ví Dụ Con Rắn – Alagaddūpama Sutta, Trung Bộ Kinh số 22. (SuttaCentral)
2. NGUỒN KINH
Tên kinh tiếng Việt: Kinh Ví Dụ Con Rắn Tên Pāli: Alagaddūpama Sutta Thuộc: Trung Bộ Kinh – Majjhima Nikāya Số kinh: Kinh số 22 Mã tra cứu quốc tế: MN 22 Bản dịch tiếng Việt: Hòa thượng Thích Minh Châu Nguyên bản: Kinh tạng Pāli
Trong MN 22, Đức Phật dùng nhiều ví dụ rất nổi tiếng để chỉ cách học và nắm giữ Chánh pháp cho đúng, đồng thời giảng sâu về sự không nên chấp thủ năm uẩn là “của tôi, là tôi, là tự ngã của tôi”. (SuttaCentral)
Bài 017 này chỉ lấy một đoạn trọng tâm:
CÁI GÌ KHÔNG PHẢI CỦA MÌNH – HÃY TỪ BỎ.
3. TỪ KHÓA VIỆT – PĀLI – NGHĨA
TỪ BỎ – PAHAHĀTHA / PAHĀNA – BUÔNG BỎ, KHÔNG TIẾP TỤC CHẤP GIỮ
“Từ bỏ” ở đây không nên hiểu đơn giản là:
vứt hết đồ đạc.
Cũng không phải:
bỏ gia đình,
bỏ trách nhiệm,
bỏ việc,
hay bỏ mặc cuộc sống.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 443
Điều Đức Phật đang chỉ sâu hơn là:
ĐỪNG CHẤP CÁI VÔ THƯỜNG LÀ “TÔI” HAY “CỦA TÔI”.
Có những thứ mình vẫn sử dụng.
Nhưng tâm không cần:
nắm nó như một cái gì chắc chắn phải thuộc về mình mãi mãi.
Đó là hướng của sự buông chấp.
SẮC – RŪPA – THÂN VÀ NHỮNG YẾU TỐ VẬT CHẤT
Sắc – rūpa trong năm uẩn có thể hiểu ở đây là phần vật chất, trong đó có thân này.
Thân rất gần.
Cho nên mình thường nghĩ:
“THÂN TÔI.”
Nhưng thử hỏi:
Mình có ra lệnh được cho thân:
đừng già không?
Không.
Có nói:
đừng bệnh được không?
Không hoàn toàn.
Có bảo:
đừng chết được không?
Không.
Như vậy có một điều rất đáng suy nghĩ:
CÁI MÌNH GỌI LÀ “CỦA TÔI” NHƯNG MÌNH KHÔNG THỂ BẮT NÓ Ở LẠI THEO Ý MÌNH.
Đức Phật vì vậy dạy không nên xem sắc là “của tôi, là tôi, là tự ngã của tôi”. Cùng mô thức quán này cũng xuất hiện trong nhiều kinh thuộc Trung Bộ. (SuttaCentral)
THỌ – VEDANĀ – CẢM GIÁC DỄ CHỊU, KHÓ CHỊU, TRUNG TÍNH
Thọ – vedanā là cảm thọ.
Có:
dễ chịu.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 444
khó chịu.
không dễ chịu cũng không khó chịu.
Điều thú vị là:
cảm thọ sinh rồi đổi rất nhanh.
Vui sáng nay:
chiều có thể buồn.
Một câu khen:
dễ chịu.
Một câu chê:
khó chịu.
Nếu lấy cảm giác làm:
“tôi,”
thì ngày nào “tôi” cũng biến đổi theo:
khen – chê,
được – mất,
thuận – nghịch.
Vì vậy thọ cũng không nên bị nắm chặt thành:
“Đây chính là tôi.”
TƯỞNG – SAÑÑĀ – NHẬN DIỆN, GHI NHẬN, GÁN DẤU
Tưởng – saññā giúp mình nhận diện.
Thấy màu,
nhận ra.
Thấy người,
nhận ra.
Nghe giọng,
nhận ra.
Nhưng tưởng cũng liên hệ rất nhiều đến:
ký ức,
nhãn,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 445
cách tâm nhận một đối tượng.
Có khi mình gặp một người hôm nay,
nhưng đang nhìn họ bằng:
ký ức mười năm trước.
Mình nói:
“Người này lúc nào cũng vậy.”
Đó là lúc tưởng cũ có thể che:
thực tại mới.
Cho nên tưởng cũng không phải thứ đáng để chấp cứng:
“Cái tôi thấy nhất định đúng tuyệt đối.”
HÀNH – SAṄKHĀRA – CÁC TÂM HÀNH, Ý HƯỚNG, TẠO TÁC
Hành – saṅkhāra là một từ rất rộng.
Trong năm uẩn, có thể hiểu đơn giản cho người nghe là:
những tâm hành, ý muốn, khuynh hướng và các tạo tác tâm lý.
Muốn.
Ghét.
quyết định.
phản ứng.
thói quen.
Những thứ ấy cũng:
sinh,
đổi,
mất.
Có một thời mình rất muốn một thứ.
Năm năm sau nhìn lại:
không hiểu sao ngày đó mình lại muốn đến vậy.
Điều này cho thấy:
cái muốn không phải bản chất bất biến của mình.
THỨC – VIÑÑĀṆA – SỰ NHẬN BIẾT
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 446
Thức – viññāṇa là sự nhận biết tương ứng với căn và đối tượng.
Mắt thấy.
Tai nghe.
Mũi ngửi.
Lưỡi nếm.
Thân xúc chạm.
Ý nhận biết pháp.
Nhưng thức cũng sinh theo điều kiện.
Có điều kiện:
có sự nhận biết tương ứng.
Điều kiện thay đổi:
trạng thái nhận biết thay đổi.
Vì vậy nó cũng không phải một cái:
“ta” bất biến đứng yên mãi.
NĂM UẨN – PAÑCAKKHANDHA – NĂM NHÓM TẠO THÀNH KINH NGHIỆM CON NGƯỜI
Năm uẩn gồm:
SẮC – RŪPA.
THỌ – VEDANĀ.
TƯỞNG – SAÑÑĀ.
HÀNH – SAṄKHĀRA.
THỨC – VIÑÑĀṆA.
Trong MN 22, Đức Phật dùng chính năm nhóm này để chỉ điều không nên nắm giữ như một cái tôi hay một sở hữu vĩnh viễn. (SuttaCentral)
4. GIẢI TỪNG CỤM
“CÁI GÌ KHÔNG PHẢI CỦA CÁC ÔNG”
Đây là câu rất mạnh.
Mình có thể hỏi:
“Thứ gì thật sự là của tôi?”
Nhà?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 447
Có thể bán.
Có thể mất.
Thân?
Sẽ già.
Danh?
Hôm nay có,
mai có thể mất.
Lời khen?
Đến rồi đi.
Tiền?
Hợp rồi tan.
Người thân?
Thương nhau rất sâu,
nhưng rồi vẫn phải chịu quy luật vô thường.
Như vậy “của tôi” trong đời sống thường chỉ là:
MỘT MỐI QUAN HỆ TẠM THỜI.
Không phải:
một quyền sở hữu vĩnh viễn trước vô thường.
Hiểu điều này không để mình bi quan.
Mà để:
thương mà bớt nắm.
“HÃY TỪ BỎ”
Đức Phật không nói:
“Hãy ghét.”
Không nói:
“Hãy phá.”
Không nói:
“Hãy vứt mọi thứ đi.”
Ngài nói:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 448
TỪ BỎ.
Ở tầng thực hành tâm,
từ bỏ có thể bắt đầu bằng:
bớt nhận một điều là “phải thuộc về tôi”.
Bớt:
“Người này phải theo tôi.”
Bớt:
“Danh này phải ở với tôi.”
Bớt:
“Tôi phải luôn được hiểu.”
Bớt:
“Thân này không được già.”
Buông bắt đầu bằng:
thấy sự thật.
“TỪ BỎ NHƯ VẬY”
Không phải buông tùy tiện.
Không phải:
“Tôi chán nên bỏ.”
Mà là từ bỏ trên nền:
thấy đúng bản chất không đáng chấp thủ.
Nếu giận một người rồi nói:
“Tôi buông luôn trách nhiệm,”
chưa chắc là buông theo Chánh pháp.
Có khi đó là:
sân.
Buông thật phải có:
trí.
“ĐƯA LẠI HẠNH PHÚC, AN LẠC LÂU DÀI”
Điểm này rất đẹp.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 449
Mình thường nghĩ:
nắm được mới an.
Đức Phật chỉ ngược lại:
CÓ NHỮNG THỨ CHÍNH VÌ NẮM QUÁ CHẶT NÊN KHỔ.
Nắm danh:
sợ mất danh.
Nắm người:
sợ mất người.
Nắm ý kiến:
ai phản đối cũng đau.
Nắm hình ảnh bản thân:
một lời chê cũng làm mình khổ.
Nắm tuổi trẻ:
mỗi nếp nhăn là một cú sốc.
Buông bớt,
tâm nhẹ bớt.
5. GHÉP NGHĨA TOÀN CÂU
Toàn ý có thể hiểu:
Đức Phật dạy rằng những gì thuộc năm uẩn không nên bị nắm giữ như “của tôi, là tôi, là tự ngã của tôi”. Khi học nhìn chúng đúng bản chất và giảm sự chấp thủ, người tu đi về phía an lạc hơn, thay vì sống trong nỗi sợ mất những thứ vốn luôn biến đổi. (SuttaCentral)
Có thể nhớ:
KHÔNG PHẢI CỦA MÌNH MÃI MÃI → ĐỪNG NẮM NHƯ SẼ GIỮ MÃI.
6. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ GÌ?
Kính thưa quý vị,
lời Phật không dạy mình:
không thương.
Ngài dạy:
THƯƠNG NHƯNG ĐỪNG CHẤP.
Không dạy:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 450
không sử dụng tài sản.
Ngài dạy:
DÙNG NHƯNG ĐỪNG LẤY TÀI SẢN LÀM CÁI TÔI.
Không dạy:
không chăm thân.
Ngài dạy:
CHĂM THÂN NHƯNG BIẾT THÂN VÔ THƯỜNG.
Không dạy:
không có cảm xúc.
Ngài dạy:
CẢM XÚC SINH THÌ BIẾT, ĐỪNG NHẬN NÓ LÀ TOÀN BỘ CON NGƯỜI MÌNH.
Đó là sự khác biệt rất lớn.
7. CHẤP “CỦA TÔI” TẠO RA NỖI SỢ “MẤT CỦA TÔI”
Một điều rất dễ hiểu:
Nếu không gọi:
“của tôi,”
mức độ sợ mất khác.
Càng nói:
“phải là của tôi,”
tâm càng căng.
Ví dụ:
“Con tôi.”
Từ thương có thể đi thành:
“Con phải sống theo ý tôi.”
Từ đó sinh xung đột.
Nếu chuyển:
“Con là một con người có nhân duyên riêng; tôi có trách nhiệm thương và hướng dẫn, nhưng không thể sở hữu cuộc đời con,”
tâm nhẹ hơn.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 451
8. VÍ DỤ 1 – CON CÁI
Cha mẹ thương con.
Đúng.
Nhưng nếu nói:
“Vì là con tôi nên phải chọn nghề tôi muốn.”
“Phải cưới người tôi muốn.”
“Phải sống gần tôi.”
thì tình thương đã pha:
sở hữu.
Bài kinh giúp mình hỏi:
“TÔI ĐANG THƯƠNG HAY ĐANG NẮM?”
Hai điều không giống nhau.
9. VÍ DỤ 2 – NGƯỜI MÌNH THƯƠNG
Có người nói:
“Nếu yêu tôi thì không được thân với ai khác.”
Tình yêu biến thành:
kiểm soát.
Tại sao?
Bởi tâm nghĩ:
“Người này là của tôi.”
Nhưng không một con người nào là:
vật sở hữu.
Thương đúng phải có:
tôn trọng.
10. VÍ DỤ 3 – TÀI SẢN
Có một căn nhà.
Mình chăm.
Giữ.
Đúng.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 452
Nhưng nếu cả đời tâm chỉ xoay quanh:
sợ mất nhà,
thì nhà bắt đầu:
sở hữu ngược mình.
Vật ở ngoài.
Nhưng tâm bị trói bên trong.
Đây là chỗ cần nhìn.
11. VÍ DỤ 4 – TIỀN
Tiền cần cho đời sống.
Không phủ nhận.
Nhưng nếu mất một khoản mà tâm nói:
“Đời tôi hết rồi,”
thì mình đã gắn:
giá trị đời mình
vào:
một con số.
Tiền mất là một mất mát.
Nhưng đừng để nó biến thành:
mất luôn chính mình.
12. VÍ DỤ 5 – LỜI KHEN
Người ta khen:
“Bạn giỏi.”
Mình vui.
Ngày mai họ chê:
mình đau.
Tại sao?
Bởi tâm đã lấy lời khen làm:
tài sản tinh thần.
“Danh của tôi.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 453
“Hình ảnh của tôi.”
“Uy tín của tôi.”
Khi bị động đến:
đau.
Buông không phải:
không cần uy tín.
Mà là:
không để uy tín trở thành ngã.
13. VÍ DỤ 6 – MỘT VIDEO THÀNH CÔNG
Video nhiều người xem.
Tâm rất vui.
Nếu hôm sau video khác ít người xem,
tâm sụp.
Có thể vì mình đã nhận con số hôm qua thành:
“thành công của tôi.”
Rồi ngày hôm nay thành:
“thất bại của tôi.”
Nhưng con số chỉ là:
dữ liệu.
Không phải:
con người mình.
14. VÍ DỤ 7 – THÂN TRẺ ĐẸP
Khi trẻ:
da đẹp.
tóc đẹp.
khỏe.
Nếu mình nghĩ:
“Đây là tôi và phải như vậy mãi,”
tuổi già sẽ thành:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 454
kẻ thù.
Nhưng nếu biết:
thân là thân,
được chăm,
nhưng sẽ đổi,
thì mỗi dấu hiệu già không còn là:
một sự xúc phạm đối với cái tôi.
15. VÍ DỤ 8 – BỆNH
Thân bệnh.
Nếu nói:
“Tại sao thân tôi phản bội tôi?”
mình đang yêu cầu thân:
không được theo quy luật thân.
Bệnh cần chữa.
Nhưng đồng thời có thể quán:
thân vốn chịu sinh, già, bệnh.
Điều này không chữa bệnh thay bác sĩ.
Nhưng giúp giảm:
phần chống cự tâm lý.
16. VÍ DỤ 9 – Ý KIẾN
Đây là một tài sản rất khó thấy.
“Ý KIẾN CỦA TÔI.”
Người khác phản bác.
Mình nóng.
Có khi người ta chỉ phản bác:
một ý.
Nhưng mình cảm thấy họ phản bác:
con người mình.
Bởi mình đã trộn:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 455
ý kiến
với:
“tôi.”
Buông chấp ở đây là:
ý này có thể đúng hoặc sai; kiểm lại.
17. VÍ DỤ 10 – KIẾN THỨC PHẬT PHÁP
Đây là chỗ rất cần cẩn thận.
Mình học được một điều.
Rồi nghĩ:
“Kiến thức này là của tôi.”
Người khác chỉ một lỗi:
khó chịu.
Nhưng Chánh pháp không phải:
tài sản để cái tôi sở hữu.
Mình học Pháp để:
bớt tôi.
Nếu học càng nhiều mà càng:
“Pháp của tôi, cách hiểu của tôi, tôi đúng,”
thì phải kiểm lại.
18. VÍ DỤ 11 – CHỨC VỤ
Có chức:
người ta gọi bằng danh xưng.
Một ngày không còn chức:
tâm hụt.
Tại sao?
Bởi mình đã sống quá lâu trong:
“Tôi là chức vụ này.”
Nhưng chức là:
một vai trò.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 456
Không phải:
toàn bộ mình.
19. VÍ DỤ 12 – NGƯỜI THEO MÌNH
Có người quý mình.
Đi theo.
Nghe mình.
Một ngày họ rời.
Nếu mình nghĩ:
“Họ là người của tôi,”
sẽ đau rất mạnh.
Nhưng người đến hay đi đều có:
nhân duyên.
Mình có thể thương,
hướng dẫn,
biết ơn,
nhưng không cần:
sở hữu người.
20. BUÔNG KHÔNG PHẢI BỎ TRÁCH NHIỆM
Đây là điều phải nói rất rõ.
Người con nói:
“Cha mẹ không phải của tôi, tôi buông.”
Sai.
Mình vẫn có:
bổn phận.
Một người nói:
“Tài sản không thật nên tôi mặc kệ.”
Sai.
Mình vẫn phải:
quản lý có trách nhiệm.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 457
Buông chấp là:
LÀM TRÁCH NHIỆM MÀ KHÔNG BIẾN TRÁCH NHIỆM THÀNH SỞ HỮU CỦA CÁI TÔI.
21. BUÔNG KHÔNG PHẢI LẠNH LÙNG
Có người sợ:
“Nếu vô chấp thì không thương ai.”
Không đúng.
Có khi chính vì bớt chấp,
mình thương:
đẹp hơn.
Không còn quá nhiều:
“phải.”
“của tôi.”
“theo ý tôi.”
“đừng rời tôi.”
Tình thương nhẹ hơn.
22. NẮM CÀNG CHẶT – SỢ CÀNG NHIỀU
Một người có rất nhiều,
nhưng thứ gì cũng sợ mất.
Tâm có thật sự giàu không?
Không chắc.
Có thể rất:
nghèo bình an.
Buông không phải nhất thiết làm tài sản giảm.
Nó làm:
nỗi sợ sở hữu giảm.
23. CÓ NHỮNG THỨ MÌNH KHÔNG SỞ HỮU NHƯNG LẠI MANG CẢ ĐỜI
Một lời chê.
Một chuyện bị phản bội.
Một lỗi cũ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 458
Một mối hận.
Người kia đã đi.
Nhưng mình nói:
“Nỗi đau của tôi.”
Rồi mang.
Đây cũng là một kiểu:
sở hữu khổ.
Có khi cái cần buông nhất không phải:
nhà,
tiền,
mà là:
một câu chuyện cũ.
24. VÍ DỤ 13 – “NỖI ĐAU CỦA TÔI”
Có người đã đau mười năm.
Nếu ai khuyên buông,
họ nói:
“Bạn không hiểu nỗi đau của tôi.”
Nỗi đau thật.
Không phủ nhận.
Nhưng đến một điểm phải hỏi:
“Tôi đang chữa nỗi đau, hay tôi đã biến nó thành căn cước của mình?”
Nếu không có câu chuyện ấy,
mình là ai?
Đây là câu hỏi rất sâu.
25. VÍ DỤ 14 – “LỖI LẦM CỦA TÔI”
Mình từng làm sai.
Nhận trách nhiệm.
Sửa.
Nhưng mười năm sau vẫn nói:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 459
“Tôi là người tệ.”
Như vậy một hành động cũ đã trở thành:
cái tôi.
Có thể học:
“Tôi đã làm sai”
khác với:
“Tôi chính là cái sai.”
Sự khác biệt này rất quan trọng.
26. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ THÊM ĐIỀU GÌ?
Trong MN 22, Đức Phật không chỉ dạy bỏ một thứ bên ngoài; Ngài hướng người nghe nhìn năm uẩn và không nhận chúng như một sở hữu hay tự ngã bền chắc. Đây là trọng tâm sâu của đoạn kinh. (SuttaCentral)
Điều này đưa mình từ:
BUÔNG VẬT
đến:
BUÔNG CHẤP.
Hai thứ rất khác.
Có người bỏ hết đồ,
nhưng cái tôi rất lớn.
Có người sống giữa trách nhiệm,
nhưng tâm bớt dính.
Không thể chỉ nhìn:
bên ngoài
để đo:
buông bên trong.
27. TỪ BỎ SẮC – KHÔNG PHẢI GHÉT THÂN
Chăm thân.
Ăn đúng.
Ngủ đúng.
Chữa bệnh.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 460
Nhưng biết:
thân không phải thứ giữ mãi.
Vì vậy không quá:
tự hào khi đẹp,
tuyệt vọng khi già,
oán hận khi bệnh.
Đó là cách ứng dụng.
28. TỪ BỎ THỌ – KHÔNG PHẢI THÀNH NGƯỜI KHÔNG CẢM XÚC
Vui:
biết vui.
Buồn:
biết buồn.
Nhưng không nói:
“Cảm giác này phải ở mãi.”
Dễ chịu:
đừng tham quá.
Khó chịu:
đừng sân quá.
Thọ đến rồi:
thọ đi.
29. TỪ BỎ TƯỞNG – KHÔNG PHẢI MẤT TRÍ NHỚ
Mình vẫn nhớ.
Nhưng không chấp:
“Cách tôi nhớ chắc chắn là toàn bộ sự thật.”
Đây là thái độ rất quan trọng.
Nhất là trong:
tranh cãi.
30. TỪ BỎ HÀNH – KHÔNG PHẢI KHÔNG CÒN Ý CHÍ
Mình vẫn:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 461
lập kế hoạch.
quyết định.
làm thiện.
Nhưng không lấy mọi tâm hành đang sinh thành:
một cái tôi cố định.
Hôm nay tâm xấu:
không có nghĩa đời mình hết.
Hôm nay tâm thiện:
cũng không có lý do để kiêu.
31. TỪ BỎ THỨC – KHÔNG PHẢI TRỞ THÀNH VÔ TRI
Đây là giáo lý sâu,
không nên giảng thành:
không còn biết gì.
Điểm là:
không chấp thức thành:
một bản ngã thường còn.
Khi giảng cho đại chúng,
chỉ cần giữ ở mức:
CÁI ĐANG ĐƯỢC BIẾT CŨNG LÀ TIẾN TRÌNH CÓ ĐIỀU KIỆN, KHÔNG NÊN NẮM LÀ “TÔI” BẤT BIẾN.
32. ỨNG DỤNG 1 – MỖI KHI NÓI “CỦA TÔI”
Hãy thử hỏi:
“Nếu điều này đổi hoặc mất, tâm tôi sẽ thế nào?”
Không để mình sợ.
Chỉ soi độ chấp.
Nhà của tôi.
Danh của tôi.
Con của tôi.
Quan điểm của tôi.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 462
Người của tôi.
Mỗi chữ “của tôi” là một nơi:
có thể kiểm tâm.
33. ỨNG DỤNG 2 – ĐỔI “SỞ HỮU” THÀNH “TRÁCH NHIỆM”
Thay vì:
“Con tôi.”
thử nghĩ:
“Một người tôi có trách nhiệm thương và hướng dẫn.”
Thay vì:
“Chùa của tôi.”
thử nghĩ:
“Một nơi tôi đang có trách nhiệm gìn giữ và phục vụ đúng Pháp.”
Thay vì:
“Phật tử của tôi.”
thử nghĩ:
“Những người có duyên cùng học Pháp.”
Tâm sẽ rất khác.
34. ỨNG DỤNG 3 – KHI MẤT
Một thứ mất.
Trước tiên:
đau thì biết đau.
Không ép:
“Tôi không được buồn.”
Sau đó nhắc:
“Điều này vốn không thể ở với mình mãi.”
Không phải để xóa đau ngay.
Mà để đau:
không biến thành chống lại sự thật.
35. ỨNG DỤNG 4 – KHI ĐƯỢC
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 463
Có một thứ mới.
Vui.
Nhưng nhắc:
“Duyên này đang có.”
Đừng lập tức:
“Nó sẽ luôn thuộc về tôi.”
Như vậy niềm vui vẫn có,
nhưng bớt:
mầm sợ mất.
36. ỨNG DỤNG 5 – KHI BỊ PHẢN BÁC
Ý kiến mình bị phản bác.
Thay vì:
“Họ chống tôi,”
thử:
“Họ đang phản biện một ý.”
Tách:
tôi
khỏi:
ý.
Có khi đúng:
học.
Có khi sai:
giải thích.
Tâm nhẹ hơn rất nhiều.
37. ỨNG DỤNG 6 – KHI NGƯỜI THÂN MUỐN ĐI CON ĐƯỜNG KHÁC
Nếu việc họ làm không bất thiện,
hãy tập:
tôn trọng nhân duyên của họ.
Không biến tình thương thành:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 464
dây kéo.
Đây là thực hành buông rất khó,
nhưng rất thật.
38. CÔNG THỨC THỨ NHẤT: DÙNG – THƯƠNG – CHĂM – NHƯNG ĐỪNG NẮM
Có vật:
DÙNG.
Có người:
THƯƠNG.
Có thân:
CHĂM.
Nhưng:
ĐỪNG NẮM NHƯ THỂ MỌI THỨ PHẢI Ở MÃI THEO Ý MÌNH.
39. CÔNG THỨC THỨ HAI: THẤY “CỦA TÔI” – KIỂM CHẤP
Khi câu:
“của tôi”
xuất hiện,
hỏi:
Tôi đang có trách nhiệm hay đang sở hữu?
Tôi đang thương hay đang kiểm soát?
Tôi đang sử dụng hay đang bị nó sử dụng ngược?
Ba câu này rất mạnh.
40. CÔNG THỨC THỨ BA: CÓ – BIẾT CÓ; MẤT – BIẾT MẤT; KHÔNG BIẾN THÀNH “TÔI”
Có:
biết có.
Mất:
biết mất.
Vui:
biết vui.
Buồn:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 465
biết buồn.
Nhưng:
ĐỪNG BIẾN TẤT CẢ THÀNH CĂN CƯỚC.
41. CÔNG THỨC THỨ TƯ: TRÁCH NHIỆM KHÔNG ĐỒNG NGHĨA SỞ HỮU
Có trách nhiệm với:
cha mẹ.
con cái.
cộng đồng.
tài sản.
công việc.
Nhưng:
không cần biến tất cả thành:
phần kéo dài của cái tôi.
Câu ghi nhớ:
LÀM TRÒN TRÁCH NHIỆM – NHƯNG BỚT SỞ HỮU TRONG TÂM.
42. BÀI THỰC HÀNH MỘT NGÀY
Trong một ngày,
mỗi khi tâm nói:
“của tôi,”
hãy chú ý.
Không cần sửa ngay.
Chỉ nhìn.
“Điện thoại của tôi.”
“Ý kiến của tôi.”
“Người của tôi.”
“Danh của tôi.”
“Thời gian của tôi.”
Cuối ngày hỏi:
“CHỮ ‘CỦA TÔI’ NÀO HÔM NAY LÀM TÔI KHỔ NHIỀU NHẤT?”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 466
Đó chính là chỗ để tu.
43. BÀI THỰC HÀNH BẢY NGÀY
NGÀY 1
Nhìn sự chấp vào thân.
NGÀY 2
Nhìn sự chấp vào cảm xúc.
NGÀY 3
Nhìn sự chấp vào quan điểm.
NGÀY 4
Nhìn sự chấp vào tài vật.
NGÀY 5
Nhìn sự chấp vào một người.
NGÀY 6
Nhìn sự chấp vào danh và lời khen.
NGÀY 7
Hỏi:
“Nếu phải buông một chữ ‘của tôi’ để tâm nhẹ hơn, tôi chọn chữ nào?”
44. THỰC HÀNH BUỔI SÁNG
Mỗi sáng có thể đọc:
Thân này tôi chăm nhưng không thể giữ mãi.
Người tôi thương, tôi thương nhưng không sở hữu.
Tài sản tôi dùng nhưng biết chúng vô thường.
Ý kiến của tôi có thể đúng và cũng có thể cần sửa.
Cảm xúc của tôi sinh rồi diệt.
Tôi làm tròn trách nhiệm nhưng tập giảm chữ “của tôi” trong tâm.
45. THỰC HÀNH BUỔI TỐI
Trước khi ngủ hỏi:
Hôm nay tôi đã chấp vào điều gì nhất?
Tôi có muốn kiểm soát một người vì nghĩ họ “thuộc về tôi” không?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 467
Tôi có đau quá mức vì một lời đụng đến hình ảnh của mình không?
Tôi có coi một cảm xúc thoáng qua là toàn bộ con người mình không?
Tôi có thể buông được điều gì chỉ một chút không?
Không cần buông hết.
Một chút thôi.
Đã là hướng tu.
46. CÂU GHI NHỚ THỨ NHẤT
Có trách nhiệm với một điều không có nghĩa mình sở hữu điều ấy mãi mãi.
47. CÂU GHI NHỚ THỨ HAI
Thương một người không đồng nghĩa giữ người ấy như tài sản.
48. CÂU GHI NHỚ THỨ BA
Càng chấp “của tôi”, tâm càng sinh thêm câu hỏi “nếu tôi mất thì sao?”.
49. CÂU GHI NHỚ THỨ TƯ
Thân cần được chăm, nhưng đừng bắt thân phải ký lời hứa không già.
50. CÂU GHI NHỚ THỨ NĂM
Ý kiến của mình là điều mình đang có, không phải bản thân mình. Vì vậy ý kiến sai có thể sửa mà mình không mất giá trị.
51. CÂU GHI NHỚ THỨ SÁU
Có những thứ mình không cần vứt khỏi tay; chỉ cần bớt nắm trong tâm.
52. CÂU GHI NHỚ THỨ BẢY
Buông không làm tình thương nhỏ đi; nhiều khi chính buông sở hữu mới làm tình thương trong hơn.
53. CÂU GHI NHỚ THỨ TÁM
Một mất mát đã đủ đau; đừng cộng thêm nỗi khổ “đáng lẽ điều này phải thuộc về tôi mãi mãi”.
54. CÂU GHI NHỚ THỨ CHÍN
Cái tôi rất thích biến người, vật, danh và ý kiến thành “của tôi”; trí tuệ nhắc tất cả đều đang đi qua nhân duyên.
55. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
CÓ THÂN – CHĂM THÂN.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 468
CÓ TÀI SẢN – DÙNG ĐÚNG.
CÓ NGƯỜI THƯƠNG – THƯƠNG CHO ĐÚNG.
CÓ TRÁCH NHIỆM – LÀM CHO TRÒN.
NHƯNG ĐỪNG NẮM MỌI THỨ NHƯ THỂ CHÚNG PHẢI THUỘC VỀ MÌNH MÃI MÃI.
Và xin nhớ lời Phật:
“Cái gì không phải của các Ông, hãy từ bỏ. Từ bỏ như vậy sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông.” (SuttaCentral)
Nguồn: Kinh Ví Dụ Con Rắn – Alagaddūpama Sutta, Trung Bộ Kinh – Majjhima Nikāya, kinh số 22, mã quốc tế MN 22; bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu; nguyên bản Kinh tạng Pāli. (SuttaCentral)
56. CÂU HỎI LIVESTREAM
1. Quý vị thấy chữ “của tôi” nào đang làm mình khổ nhất hiện nay: người của tôi, tài sản của tôi, danh của tôi hay quan điểm của tôi?
2. Theo quý vị, thương một người và muốn sở hữu người ấy khác nhau như thế nào?
3. Có bao giờ mình đau không phải vì sự việc quá lớn, mà vì nghĩ: “Tại sao chuyện này lại xảy ra với tôi?” không?
4. Nếu thân thật sự hoàn toàn thuộc quyền mình, tại sao mình không thể ra lệnh cho thân đừng già?
5. Có bao giờ một lời chê làm mình đau rất lâu chỉ vì mình quá chấp vào hình ảnh “tôi phải là người được khen” không?
6. Theo quý vị, buông có đồng nghĩa bỏ trách nhiệm không?
7. Một người có thể giữ tài sản rất tốt nhưng trong tâm vẫn không quá chấp tài sản được không?
8. Có khi nào mình nói “con tôi” rồi vô tình biến tình thương thành việc muốn con phải sống đúng ý mình không?
9. Nếu quan điểm của mình bị chứng minh là sai, mình có thể sửa mà không cảm thấy mình bị hạ nhục không?
10. Quý vị có một nỗi đau cũ nào mà lâu nay mình đã gọi nó là “nỗi đau của tôi” đến mức gần như không muốn đặt xuống không?
11. Theo quý vị, cái khó hơn là buông một món đồ hay buông một cái tôi?
12. Có thứ gì hiện tại mình đang có nhưng càng có càng sợ mất không?
13. Nếu hôm nay chỉ tập một câu, quý vị có thể tập: “Tôi có trách nhiệm với điều này, nhưng tôi không sở hữu nó mãi mãi” không?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 469
14. Khi nghe câu “cái gì không phải của mình, hãy từ bỏ”, điều đầu tiên quý vị nghĩ tới là vật chất hay một sự chấp trong tâm?
15. Nếu buông được một chữ “phải là của tôi”, quý vị nghĩ tâm mình sẽ nhẹ được bao nhiêu?
57. CÂU KẾT ĐỂ ĐỌC TRÊN LIVESTREAM
Kính thưa quý vị,
cả đời chúng ta học:
có.
Có nhà.
Có người thương.
Có tài sản.
Có danh.
Có kiến thức.
Có vị trí.
Nhưng rất ít khi học:
BUÔNG.
Vì vậy khi một thứ thay đổi,
tâm thường hỏi:
“Tại sao của tôi lại mất?”
Nhưng lời Phật hôm nay hỏi ngược lại:
“THẬT SỰ CÓ GÌ Ở ĐỜI NÀY MÌNH GIỮ ĐƯỢC MÃI ĐỂ GỌI LÀ CỦA TÔI?”
Thân này:
đang đổi.
Cảm xúc:
đang đổi.
Ý nghĩ:
đang đổi.
Người mình thương:
cũng vô thường.
Tài sản:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 470
hợp rồi tan.
Danh:
đến rồi đi.
Điều ấy không làm cuộc đời vô nghĩa.
Ngược lại,
nó dạy mình:
thương sâu hơn khi còn duyên,
sống tốt hơn khi còn cơ hội,
dùng tài vật đúng hơn khi còn có,
và:
bớt nắm những gì vốn không thể giữ mãi.
Buông không phải:
vứt hết.
Buông không phải:
bỏ người.
Buông không phải:
bỏ trách nhiệm.
Buông là:
LÀM TRÒN TRÁCH NHIỆM NHƯNG KHÔNG DỰNG CÁI TÔI TRÊN ĐIỀU MÌNH ĐANG GIỮ.
Cho nên công thức của bài hôm nay:
DÙNG – NHƯNG ĐỪNG NẮM.
THƯƠNG – NHƯNG ĐỪNG SỞ HỮU.
CHĂM – NHƯNG BIẾT VÔ THƯỜNG.
LÀM TRÒN TRÁCH NHIỆM – NHƯNG BỚT CHỮ “CỦA TÔI”.
Và nếu có một câu để mang theo cả ngày,
xin nhớ:
“CÓ NHỮNG THỨ MÌNH KHÔNG CẦN VỨT KHỎI TAY; CHỈ CẦN BỚT NẮM TRONG TÂM.”
Đó đã là một bước rất lớn trên con đường đi từ:
chấp
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 471
đến:
an.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 472
MỤC 018 - Bài 018 — TỪ TÂM GIẢI THOÁT – MỘT TÂM KHÔNG ÁC Ý CÓ GIÁ TRỊ RẤT LỚN 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
Đức Phật dạy:
“Này các Tỷ-kheo, phàm có những phước nghiệp sự nào đưa đến sanh y, tất cả những nghiệp sự ấy không bằng một phần mười sáu từ tâm giải thoát. Chỉ có từ tâm giải thoát vượt qua chúng, chói sáng, bừng sáng và rực sáng.” (BuddhaSasana)
Bài kinh tiếp tục dùng hình ảnh rất đẹp:
như ánh sáng của các vì sao không bằng một phần mười sáu ánh sáng của mặt trăng, từ tâm giải thoát cũng vượt trội và tỏa sáng như vậy. (BuddhaSasana)
2. NGUỒN KINH
Tên kinh: Kinh Tu Tập Từ Tâm Tên Pāli: Mettābhāvanā Sutta Thuộc: Kinh Như Thị Ngữ – Itivuttaka Bộ: Tiểu Bộ Kinh – Khuddaka Nikāya Số kinh: 27 Mã tra cứu quốc tế: Iti 27 Bản dịch tiếng Việt: Hòa thượng Thích Minh Châu Nguyên bản: Kinh tạng Pāli
Trong bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu, bài này được đánh số XXVII, và nội dung chính ca ngợi từ tâm giải thoát như một sự tu tập có công đức rất lớn, vượt lên trên các phước nghiệp sự hữu vi đưa đến sanh y. Bản SuttaCentral cũng định danh bài này là Iti 27 – Mettābhāvanāsutta. (BuddhaSasana)
3. TỪ KHÓA VIỆT – PĀLI – NGHĨA
TÂM TỪ – METTĀ – LÒNG MONG MUỐN CHÚNG SANH ĐƯỢC AN LÀNH
Tâm từ – mettā là tâm không ác ý, mong người khác được an ổn, không mong người khác đau khổ.
Nói thật dễ hiểu:
TÂM TỪ BẮT ĐẦU Ở CHỖ KHÔNG MUỐN LÀM HẠI.
Chưa cần nói:
“Tôi thương tất cả mọi người.”
Nếu chưa thật sự làm được,
đừng ép.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 473
Có thể bắt đầu đơn giản:
“Tôi không muốn làm người này đau thêm.”
Đó đã là một bước của tâm từ.
TU TẬP TÂM TỪ – METTĀBHĀVANĀ – LÀM CHO TÂM TỪ ĐƯỢC PHÁT TRIỂN
Bhāvanā nghĩa là tu tập, phát triển, làm cho tăng trưởng.
Điều này rất quan trọng.
Tâm từ không phải chỉ:
một cảm xúc tự nhiên.
Người mình thương:
từ rất dễ.
Người không quen:
khó hơn.
Người đã làm mình đau:
khó nhất.
Vì vậy mới phải:
TU.
Nếu tự nhiên thương được hết,
thì không cần luyện.
TỪ TÂM GIẢI THOÁT – METTĀ CETOVIMUTTI – TÂM ĐƯỢC MỞ RỘNG VÀ GIẢI THOÁT BẰNG TỪ
Từ tâm giải thoát – mettā cetovimutti là một thuật ngữ quan trọng của bài kinh.
Mettā là từ.
Ceto là tâm.
Vimutti là giải thoát.
Có thể hiểu gần nghĩa:
TÂM ĐƯỢC GIẢI THOÁT BỞI SỰ TU TẬP TỪ.
Ở mức ứng dụng đời sống,
mình có thể hiểu:
một tâm bị hận trói thì:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 474
nặng.
Một tâm bớt hận,
bớt ác ý,
bớt muốn trả:
tự do hơn.
PHƯỚC NGHIỆP SỰ – PUÑÑAKIRIYAVATTHU – NỀN TẢNG HÀNH ĐỘNG TẠO PHƯỚC
Phước nghiệp sự – puññakiriyavatthu là những việc làm tạo phước.
Bài kinh không phủ nhận phước.
Không nói:
bố thí không cần.
giúp người không cần.
làm thiện không cần.
Ngược lại,
Phật giáo rất coi trọng các thiện nghiệp.
Nhưng bài này muốn chỉ một điều:
ĐỪNG CHỈ LÀM THIỆN BÊN NGOÀI MÀ QUÊN TU TÂM.
Có thể cho rất nhiều,
nhưng trong lòng vẫn:
hận.
ganh.
mạn.
ác ý.
Thì phần tâm vẫn còn:
rất nhiều việc phải tu.
KHÔNG ÁC Ý – ABYĀPĀDA – KHÔNG MUỐN LÀM HẠI
Tâm từ đối nghịch với:
ác ý.
Ác ý nói:
“Tôi muốn người kia đau.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 475
Tâm từ nói:
“Tôi không muốn thêm khổ.”
Đây là một ranh giới rất rõ.
Người kia sai:
vẫn có thể nói sai.
Nhưng không cần:
muốn họ gặp nạn.
Đó là từ.
4. GIẢI TỪNG CỤM
“PHÀM CÓ NHỮNG PHƯỚC NGHIỆP SỰ NÀO…”
Đức Phật bắt đầu từ:
phước.
Nghĩa là những việc thiện có quả lành.
Điều này rất quan trọng.
Bài kinh không phủ nhận việc:
cho.
giúp.
cúng dường.
hỗ trợ.
làm thiện.
Nhưng Ngài muốn đưa người tu sâu hơn:
PHƯỚC BÊN NGOÀI RẤT QUÝ – NHƯNG TÂM BÊN TRONG CŨNG PHẢI ĐƯỢC CHUYỂN HÓA.
“KHÔNG BẰNG MỘT PHẦN MƯỜI SÁU TỪ TÂM GIẢI THOÁT”
Đây là lời rất mạnh.
Mục đích không phải để:
so đo phước.
Mà để cho mình thấy:
TÂM TỪ CÓ GIÁ TRỊ TU TẬP RẤT LỚN.
Một người cho rất nhiều,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 476
nhưng sau khi cho nói:
“Người ấy phải biết ơn tôi.”
Tâm còn dính.
Một người giúp rất nhiều,
nhưng ai không nghe mình thì:
sân.
Tâm vẫn còn cần chuyển hóa.
Một tâm từ rộng lớn làm thay đổi:
chính nguồn phát ra hành động.
“CHỈ CÓ TỪ TÂM GIẢI THOÁT VƯỢT QUA CHÚNG”
Điều này không có nghĩa:
“Không cần làm phước, chỉ cần ngồi thương.”
Nếu hiểu như vậy là lệch.
Tâm từ thật sự phải đi ra:
lời nói,
hành động,
cách đối xử.
Nếu miệng nói:
“Mong chúng sanh an vui,”
nhưng thấy người cần giúp mà cố tình quay đi khi mình có khả năng hợp lý,
thì phải nhìn lại.
Từ tâm phải:
SỐNG ĐƯỢC.
“CHÓI SÁNG, BỪNG SÁNG VÀ RỰC SÁNG”
Bài kinh dùng nhiều hình ảnh ánh sáng.
Không phải ngẫu nhiên.
Hận làm tâm:
tối.
Ganh làm tâm:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 477
hẹp.
Ác ý làm tâm:
nặng.
Từ làm tâm:
mở.
Vì vậy hình ảnh:
ánh sáng
rất phù hợp.
Bản kinh ví từ tâm giải thoát với ánh trăng vượt ánh các vì sao, với mặt trời xua bóng tối, và với sao mai tỏa sáng lúc gần bình minh. (BuddhaSasana)
5. GHÉP NGHĨA TOÀN CÂU
Toàn đoạn kinh có thể hiểu thật dễ:
Các việc làm phước đều có giá trị, nhưng sự tu tập tâm từ đến mức tâm được mở rộng và giải thoát khỏi ác ý có giá trị rất lớn. Vì vậy người học Phật không nên chỉ chú trọng làm thiện bên ngoài mà phải chuyển hóa cả tâm bên trong, đặc biệt là lòng hận và ý muốn làm hại. (BuddhaSasana)
Có thể nhớ bằng công thức:
LÀM THIỆN BÊN NGOÀI.
TU TỪ BÊN TRONG.
HAI PHẦN PHẢI ĐI CÙNG.
6. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ GÌ?
Kính thưa quý vị,
có một điều rất dễ xảy ra:
mình làm rất nhiều việc tốt,
rồi nghĩ:
“Như vậy là đủ.”
Nhưng Phật pháp không chỉ hỏi:
“Bạn đã làm bao nhiêu?”
Còn hỏi:
“TÂM BẠN ĐANG THẾ NÀO?”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 478
Cho mà:
còn mong trả ơn?
Giúp mà:
còn muốn người khác phục mình?
Làm thiện mà:
còn khinh người không làm?
Cúng dường mà:
còn muốn tên mình được nhắc?
Như vậy thiện nghiệp có thể vẫn có,
nhưng cái tôi cũng đang:
đi cùng.
Tâm từ giúp làm mềm:
cái tôi ấy.
7. TÂM TỪ KHÔNG PHẢI CHỈ DÀNH CHO NGƯỜI HIỀN
Ai dễ thương:
mình thương.
Đó chưa phải chỗ khó.
Người làm trái ý:
mình vẫn không muốn họ khổ.
Đó mới bắt đầu vào:
công phu.
Người từng nói xấu mình.
Người từng làm mình mất mặt.
Người từng phụ mình.
Người từng tranh quyền lợi.
Tâm từ không yêu cầu:
quên hết.
Nhưng yêu cầu mình nhìn:
“TÔI CÓ CẦN MONG HỌ KHỔ KHÔNG?”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 479
Nếu câu trả lời là:
không,
đó là cửa từ.
8. VÍ DỤ 1 – BỐ THÍ NHƯNG MUỐN ĐƯỢC NHẮC TÊN
Mình giúp một việc.
Không ai biết.
Tâm khó chịu:
“Sao không ai nhắc đến mình?”
Lúc đó phải soi:
mình cho vì:
lợi ích người nhận
hay vì:
hình ảnh người cho?
Không phải việc công khai luôn sai.
Có việc cần minh bạch.
Nhưng tâm mình phải biết:
đang muốn gì.
9. VÍ DỤ 2 – CÚNG DƯỜNG NHƯNG GANH VỚI NGƯỜI CÚNG NHIỀU HƠN
Mình cúng một phần.
Thấy người khác cúng nhiều hơn.
Tâm khó chịu.
Đây là lúc:
phước bên ngoài
đi cùng:
ganh bên trong.
Tâm từ và tùy hỷ sẽ giúp:
“Mong thiện sự của họ thành tựu tốt đẹp.”
Đó là chuyển tâm.
10. VÍ DỤ 3 – GIÚP NGƯỜI RỒI MUỐN HỌ NGHE MÌNH
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 480
Mình từng giúp một người.
Sau đó họ không làm theo lời mình.
Tâm nói:
“Tôi giúp bạn như vậy mà bạn không nghe tôi?”
Đây là lúc việc giúp có thể biến thành:
quyền sở hữu.
Tâm từ thật sự nói:
“Tôi giúp vì muốn bạn bớt khổ, không phải để mua quyền điều khiển cuộc đời bạn.”
Đây là một bài học rất sâu.
11. VÍ DỤ 4 – NGƯỜI MÌNH GHÉT GẶP CHUYỆN KHÔNG HAY
Nghe tin:
người ấy thất bại.
Trong tâm lóe lên:
“Đáng đời.”
Đó là một dấu hiệu rất thật:
từ tâm còn yếu.
Không cần giả:
“Tôi vui cho họ.”
Chỉ cần thấy:
“Ác ý đang có.”
Rồi chuyển:
“Mong họ học được bài học và đừng tiếp tục làm điều bất thiện.”
Đó đã là tu từ.
12. VÍ DỤ 5 – NGƯỜI TỪNG NÓI XẤU MÌNH
Tâm từ không bắt mình:
mời họ vào nhà.
Không bắt:
thân lại.
Không bắt:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 481
tin như cũ.
Mình có thể giữ khoảng cách.
Nhưng:
không cần ngày nào cũng mong họ gặp xấu.
Đây là:
TỪ + TRÍ + RANH GIỚI.
13. VÍ DỤ 6 – TRONG GIA ĐÌNH
Một người thân đang nóng.
Nếu mình trả nóng:
hai lửa gặp nhau.
Nếu mình nói:
“Bây giờ cả hai đều đang căng. Mình nói lại sau.”
đó là tâm từ được biểu hiện bằng:
không làm khổ tăng thêm.
Từ không nhất thiết là:
một lời ngọt.
Có khi từ là:
biết dừng.
14. VÍ DỤ 7 – VỚI CON CÁI
Cha mẹ nói:
“Tôi thương con.”
Nhưng mọi thứ đều:
phải theo ý cha mẹ.
Nếu con khác ý:
cha mẹ giận.
Đó là chỗ phải hỏi:
“Tôi đang thương hay đang muốn sở hữu?”
Tâm từ hướng tới:
lợi ích của con,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 482
không chỉ:
sự hài lòng của mình.
15. VÍ DỤ 8 – VỚI CHA MẸ GIÀ
Cha mẹ lặp lại.
Khó tính.
Mình mệt.
Tâm từ không bảo:
“Con không được mệt.”
Mệt thì biết mệt.
Nhưng nếu có thể,
đừng dùng sự mệt để:
làm người già đau thêm.
Nếu cần nghỉ:
nghỉ.
Nếu cần chia người chăm:
chia.
Từ phải đi với:
trí và sức thực tế.
16. VÍ DỤ 9 – TRÊN MẠNG XÃ HỘI
Một người bình luận nặng.
Tâm muốn:
đáp cho họ mất mặt.
Hỏi:
“Câu trả lời này nhằm làm rõ sự thật hay nhằm làm người kia đau?”
Nếu chỉ để làm đau:
đừng gửi.
Đây là tâm từ trong:
Chánh ngữ.
17. VÍ DỤ 10 – KHI GIẢNG PHÁP
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 483
Có người hỏi:
“Nguồn kinh ở đâu?”
Nếu mình nghĩ:
“Họ đang thử mình,”
sân dễ sinh.
Nếu nghĩ:
“Họ muốn chắc nguồn,”
tâm sẽ khác.
Có nguồn:
đưa.
Sai:
sửa.
Chưa biết:
nói chưa biết.
Tâm từ đi với:
khiêm hạ.
18. TÂM TỪ KHÔNG THAY THẾ GIỚI
Có người nói:
“Tâm tôi tốt là được.”
Nhưng vẫn:
nói dối.
làm hại.
xâm phạm người khác.
Như vậy chưa đủ.
Tâm từ phải biểu hiện ra:
KHÔNG HẠI.
Nếu nói mình thương người mà hành vi lại làm người khổ không cần thiết,
phải xem lại.
19. TÂM TỪ KHÔNG THAY THẾ TRÍ TUỆ
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 484
Có người làm sai.
Mình cứ chiều.
Rồi gọi:
“từ bi.”
Không đúng.
Từ bi không bảo vệ:
cái sai.
Tâm từ có thể nói:
“Tôi không ghét bạn, nhưng việc này tôi không chấp nhận.”
Đó mới là:
từ có trí.
20. TÂM TỪ KHÔNG PHẢI ĐỂ MÌNH TRỞ THÀNH NGƯỜI DỄ BỊ LỢI DỤNG
Không hận:
không có nghĩa trao lại tiền cho người từng lừa.
Không hận:
không có nghĩa mở lại cửa cho người đang tiếp tục gây hại.
Không hận:
không có nghĩa bỏ an toàn.
Tâm từ hướng:
không ác ý.
Trí hướng:
không ngu muội.
Hai thứ phải:
đi cùng.
21. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ THÊM ĐIỀU GÌ?
Trong phần kệ của Iti 27, bài kinh tiếp tục dạy rằng người tu tâm từ, không phóng dật và có chánh niệm thì các kiết sử được giảm thiểu; kinh cũng nói nếu một người không có tâm độc ác đối với một hữu tình và mở rộng tâm từ đến tất cả hữu tình, công đức trở nên rất lớn. (BuddhaSasana)
Điều này cho thấy:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 485
TỪ TÂM PHẢI GẮN VỚI CHÁNH NIỆM.
Không phải:
mơ mộng.
Không phải:
cảm xúc mơ hồ.
Mà là:
nhìn ác ý khi nó sinh,
rồi không nuôi.
22. “KHÔNG ĐỘC ÁC ĐỐI VỚI MỘT HỮU TÌNH” ĐÃ LÀ MỘT BƯỚC
Đây là điểm rất đẹp.
Nếu chưa thương được tất cả,
hãy bắt đầu:
một người.
Có một người mình đang hận.
Chưa cần:
thương họ.
Chỉ tập:
không muốn làm họ đau.
Đó là cửa đầu.
23. TỪ MỘT NGƯỜI MỞ RA TẤT CẢ
Tâm từ có thể tập theo vòng:
người mình thương.
người trung tính.
người khó chịu.
rồi rộng ra.
Không phải hôm nay đã phải:
vô lượng.
Nhưng hướng phải:
mở.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 486
Không co lại mãi trong:
“người của tôi.”
24. LÀM PHƯỚC MÀ KHÔNG TU TỪ – CÓ THỂ VẪN CÒN RẤT NHIỀU KHỔ
Một người có thể:
cho rất nhiều.
Nhưng về nhà:
cãi rất nhiều.
Làm từ thiện nhiều.
Nhưng ghét một người mười năm.
Cúng dường nhiều.
Nhưng ai chạm tự ái:
không chịu nổi.
Như vậy bài kinh nhắc:
ĐỪNG CHỈ TÍCH LŨY HÀNH ĐỘNG THIỆN – HÃY CHUYỂN HÓA TÂM.
25. TÂM TỪ LÀM PHƯỚC ĐẸP HƠN
Cho mà không khinh.
Giúp mà không kể công.
Cúng mà không ganh.
Dạy mà không ép.
Thương mà không sở hữu.
Góp ý mà không làm nhục.
Đó là khi:
phước và từ
đi chung.
26. TÂM TỪ VỚI CHÍNH MÌNH
Nếu mở tâm đến tất cả hữu tình,
mình cũng là:
một hữu tình.
Không nên quên:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 487
từ với chính mình.
Nhưng từ với mình không phải:
chiều mọi tham muốn.
Mà là:
không tự hành hạ.
không tự khinh.
biết sửa lỗi.
biết nghỉ khi cần.
biết chăm thân.
Đó là từ có trí.
27. TỰ MẮNG MÌNH KHÔNG PHẢI TINH TẤN
Có người sai một việc rồi:
“Tôi tệ quá.”
“Tôi vô dụng.”
Mắng mình cả ngày.
Đó không chắc giúp sửa lỗi.
Tâm từ với mình nói:
“Việc này tôi làm chưa đúng. Tôi chịu trách nhiệm và sửa.”
Rõ.
Nhưng không:
đập chính mình.
28. TÂM TỪ KHÔNG CÓ NGHĨA KHÔNG CÓ SÂN BAO GIỜ
Người đang tập vẫn có thể:
sân.
Điều quan trọng là:
nhận sớm hơn.
Hôm trước sân một ngày.
Hôm nay một giờ.
Sau này mười phút.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 488
Rồi một lúc nào đó:
sân vừa chớm đã biết.
Đó là tiến trình.
29. DẤU HIỆU TÂM TỪ ĐANG LỚN
Bớt muốn trả.
Bớt nói xấu.
Bớt vui khi người ghét mình gặp chuyện.
Bớt phân biệt quá mạnh:
người của tôi – người của họ.
Dễ nói lời mềm hơn.
Dễ nhìn nỗi khổ của người hơn.
Đó là dấu hiệu thực tế.
30. DẤU HIỆU TÂM TỪ CÒN YẾU
Nói:
“Mong chúng sanh an vui,”
nhưng có một người riêng mình mong:
“cho họ biết tay.”
Đó chính là chỗ phải tu.
Không cần che.
Chỉ cần:
thấy.
31. ỨNG DỤNG 1 – MỖI NGÀY BỚT MỘT CÂU LÀM ĐAU
Không cần bắt đầu thật lớn.
Chỉ:
mỗi ngày bớt một câu ác.
Định nói:
dừng.
Đó là tâm từ thành:
hành động.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 489
32. ỨNG DỤNG 2 – MỖI NGÀY KHỞI TỪ VỚI MỘT NGƯỜI
Chọn một người.
Nói trong tâm:
“Mong người này được an.”
Nếu người khó thương:
“Mong người này bớt tham sân si và đừng gây thêm khổ.”
Đơn giản.
33. ỨNG DỤNG 3 – KHI MUỐN TRẢ ĐŨA
Hỏi:
“Tôi muốn giải quyết việc hay muốn họ đau?”
Nếu là:
muốn họ đau,
đó là ác ý.
Đừng hành động lúc ấy.
34. ỨNG DỤNG 4 – KHI LÀM VIỆC THIỆN
Trước khi làm:
hỏi tâm.
Trong khi làm:
hỏi tâm.
Sau khi làm:
hỏi tâm.
Có kể công không?
Có mong mang ơn không?
Có khinh không?
Đây là cách làm phước thành:
pháp tu tâm.
35. ỨNG DỤNG 5 – VỚI NGƯỜI TỪNG LÀM SAI
Nếu cần giữ khoảng cách:
giữ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 490
Nếu cần pháp luật:
dùng đúng pháp luật.
Nếu cần từ chối:
từ chối.
Nhưng sau đó:
đừng tiếp tục ngồi cầu:
cho họ khổ.
Đây là một mức từ rất thực tế.
36. ỨNG DỤNG 6 – TRONG GIA ĐÌNH
Trước khi nói với người thân,
hỏi:
“Tôi muốn họ hiểu, hay tôi muốn họ đau để họ nhớ?”
Hai mục tiêu khác nhau.
Tâm từ chọn:
làm rõ mà không cố tình làm đau.
37. ỨNG DỤNG 7 – KHI THẤY NGƯỜI KHÁC ĐƯỢC HƠN MÌNH
Tập một câu:
“Mong điều tốt ấy được dùng đúng.”
Nếu chưa tùy hỷ trọn vẹn,
ít nhất:
không hạ họ xuống.
Đó cũng là từ.
38. CÔNG THỨC THỨ NHẤT: KHÔNG HẠI – KHÔNG TRẢ – KHÔNG NUÔI
Nếu chưa tu từ sâu,
giữ ba điều:
KHÔNG HẠI.
KHÔNG TRẢ ĐŨA BẰNG SÂN.
KHÔNG NUÔI HẬN MỖI NGÀY.
Đó là nền.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 491
39. CÔNG THỨC THỨ HAI: THẤY – MỀM – MỞ
THẤY
Thấy ác ý đang có.
MỀM
Không hành theo ngay.
MỞ
Thử nhìn người kia cũng là một chúng sanh đang bị tham sân si chi phối.
Công thức:
THẤY → MỀM → MỞ.
40. CÔNG THỨC THỨ BA: PHƯỚC NGOÀI – TỪ TRONG
Có thể nhớ:
LÀM PHƯỚC BẰNG TAY.
GIỮ TỪ BẰNG TÂM.
Tay giúp.
Miệng không làm đau.
Tâm không kể công.
Như vậy thiện mới:
đẹp hơn.
41. CÔNG THỨC THỨ TƯ: TỪ + TRÍ + RANH GIỚI
TỪ
Không mong người khổ.
TRÍ
Biết đúng sai.
RANH GIỚI
Không để việc xấu tiếp tục.
Công thức:
TỪ + TRÍ + RANH GIỚI.
Đây là công thức rất quan trọng.
42. BÀI THỰC HÀNH MỘT NGÀY
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 492
Trong một ngày,
chọn một người mình hơi khó chịu.
Không cần người mình hận nhất.
Chỉ thực hành:
KHÔNG NÓI XẤU NGƯỜI ẤY TRONG MỘT NGÀY.
Nếu ý muốn nói xuất hiện:
biết.
Dừng.
Cuối ngày xem:
tâm nhẹ hơn hay nặng hơn.
Đó là thực nghiệm.
43. BÀI THỰC HÀNH BẢY NGÀY
NGÀY 1
Khởi từ với một người mình thương.
NGÀY 2
Khởi từ với một người trung tính.
NGÀY 3
Không nói ác về một người mình khó chịu.
NGÀY 4
Không mong điều xấu cho họ.
NGÀY 5
Làm một việc thiện không kể công.
NGÀY 6
Khi thấy ai thành công, không nói một câu hạ họ.
NGÀY 7
Ngồi vài phút và nhắc:
“Mong các hữu tình được an, bớt khổ, bớt tham sân si.”
44. THỰC HÀNH BUỔI SÁNG
Mỗi sáng có thể đọc:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 493
Hôm nay tôi cố gắng không làm người khác đau thêm bằng ác ý.
Tôi làm việc thiện nhưng tập bớt kể công.
Tôi giữ ranh giới nhưng không nuôi trả thù.
Tôi thấy người khác cũng đang chịu tham, sân, si như tôi.
Tôi chưa thể thương hết thì bắt đầu bằng không hại.
45. THỰC HÀNH BUỔI TỐI
Trước khi ngủ hỏi:
Hôm nay tôi đã mong ai khổ chưa?
Tôi có vui khi người tôi không thích gặp chuyện xấu không?
Tôi có làm thiện rồi mong được công nhận không?
Tôi có nói một câu chỉ để làm người đau không?
Tôi có giữ được một lần không trả đũa không?
Tâm tôi hôm nay rộng hơn hôm qua một chút chưa?
46. CÂU GHI NHỚ THỨ NHẤT
Làm phước bên ngoài rất quý; nhưng nếu trong lòng vẫn đầy ác ý thì việc tu tâm vẫn còn rất nhiều.
47. CÂU GHI NHỚ THỨ HAI
Tâm từ không bắt đầu bằng việc phải thương ngay người mình ghét; nó có thể bắt đầu bằng việc không muốn làm họ đau thêm.
48. CÂU GHI NHỚ THỨ BA
Giúp người rồi muốn điều khiển người là lúc lòng tốt đã bắt đầu pha với sở hữu.
49. CÂU GHI NHỚ THỨ TƯ
Cho mà không kể công, giúp mà không khinh, đó là lúc thiện nghiệp đi cùng một tâm đẹp hơn.
50. CÂU GHI NHỚ THỨ NĂM
Từ bi không xóa ranh giới; từ bi chỉ xóa bớt ác ý trong cách mình giữ ranh giới.
51. CÂU GHI NHỚ THỨ SÁU
Người mình ghét cũng đang bị tham sân si làm khổ; thấy được điều đó không làm cái sai thành đúng, nhưng có thể làm tâm mình bớt cứng.
52. CÂU GHI NHỚ THỨ BẢY
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 494
Một người không trả đũa trong lúc đủ khả năng trả không phải lúc nào cũng yếu; nhiều khi họ đang thắng được chính cơn sân của mình.
53. CÂU GHI NHỚ THỨ TÁM
Tâm từ thật không chỉ nằm trong câu “mong chúng sanh an vui”; nó phải đi ra cách mình nói khi đang giận.
54. CÂU GHI NHỚ THỨ CHÍN
Nếu làm thiện ngày càng nhiều mà tâm ngày càng cần được khen, hãy nhìn lại cái tôi đang đi cùng phước.
55. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI
Ánh sáng của tâm từ không nằm ở việc mình nói hay đến đâu, mà ở chỗ ác ý trong lòng ngày càng ít đi đến đâu.
56. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
LÀM THIỆN – RẤT QUÝ.
NHƯNG ĐỪNG CHỈ TU BẰNG TAY.
PHẢI TU CẢ TÂM.
BỚT HẬN.
BỚT ÁC Ý.
BỚT MUỐN TRẢ.
BỚT KỂ CÔNG.
MỞ TÂM TỪ.
Và xin nhớ lời Phật:
“Phàm có những phước nghiệp sự nào đưa đến sanh y, tất cả những nghiệp sự ấy không bằng một phần mười sáu từ tâm giải thoát. Chỉ có từ tâm giải thoát vượt qua chúng, chói sáng, bừng sáng và rực sáng.” (BuddhaSasana)
Nguồn: Kinh Tu Tập Từ Tâm – Mettābhāvanā Sutta, Kinh Như Thị Ngữ – Itivuttaka, Tiểu Bộ Kinh – Khuddaka Nikāya, số kinh 27, mã tra cứu quốc tế Iti 27; bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu; nguyên bản Kinh tạng Pāli. (BuddhaSasana)
57. CÂU HỎI LIVESTREAM
1. Quý vị thấy điều nào khó hơn: làm một việc thiện hay không kể công sau khi làm thiện?
2. Có bao giờ mình giúp một người rồi buồn vì người ấy không biết ơn không?
3. Nếu mình cho rất nhiều nhưng vẫn ghét một người rất sâu, phần nào trong sự tu của mình đang cần được chăm thêm?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 495
4. Theo quý vị, tâm từ bắt đầu ở chữ “thương” hay bắt đầu ở chữ “không hại”?
5. Có người nào quý vị chưa thể thương, nhưng có thể bắt đầu bằng việc không mong họ gặp chuyện xấu không?
6. Từ bi có đồng nghĩa cho người khác tiếp tục làm sai với mình không?
7. Có thể giữ khoảng cách với một người mà vẫn không hận họ được không?
8. Có bao giờ mình làm việc tốt nhưng trong lòng lại mong người khác biết mình là người tốt không?
9. Nếu người mình không thích thành công, phản ứng đầu tiên trong tâm mình là gì?
10. Theo quý vị, tại sao kinh lại ví từ tâm giải thoát sáng như mặt trăng vượt ánh các vì sao?
11. Một người giúp người rất nhiều nhưng thường xuyên làm người trong nhà đau bằng lời nói, theo quý vị người ấy còn phải tu tâm từ ở đâu?
12. Khi bị xúc phạm, tâm từ có nghĩa phải im mọi chuyện hay chỉ có nghĩa không lấy ác ý làm động cơ?
13. Có bao giờ mình dùng chữ “từ bi” để chiều một người đến mức họ tiếp tục làm điều bất thiện không?
14. Nếu hôm nay chỉ tập một việc, quý vị có thể chọn một người mình khó chịu và giữ đúng một ngày không nói xấu họ không?
15. Quý vị có đồng ý rằng từ tâm càng thật thì nhu cầu chứng minh “tôi là người tốt” càng giảm không?
58. CÂU KẾT ĐỂ ĐỌC TRÊN LIVESTREAM
Kính thưa quý vị,
chúng ta thường nghĩ làm phước là:
cho một vật,
giúp một người,
cúng dường,
làm một việc thiện.
Tất cả những điều ấy đều đáng quý.
Nhưng lời Phật hôm nay đưa mình vào sâu hơn.
Ngài hỏi:
TÂM NÀO ĐANG LÀM VIỆC THIỆN ẤY?
Một bàn tay đang cho,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 496
nhưng tâm có đang:
kể công không?
Một miệng đang nói lời đạo lý,
nhưng có đang:
ghét một người không?
Một người đang giúp rất nhiều người,
nhưng về nhà có đang:
làm đau người thân không?
Đây là chỗ tu rất thật.
Phật pháp không chỉ muốn mình:
có nhiều việc thiện.
Mà muốn:
CHÍNH TÂM MÌNH TRỞ NÊN THIỆN HƠN.
Cho mà bớt chấp.
Giúp mà bớt kể.
Nói mà bớt đâm.
Bị xúc phạm mà bớt muốn trả.
Thấy người hơn mình mà bớt ganh.
Gặp người khó thương mà ít nhất không mong họ khổ.
Từng chút như vậy,
tâm từ lớn lên.
Và khi tâm từ lớn,
chính mình là người:
nhẹ trước.
Cho nên công thức của bài hôm nay xin quý vị nhớ:
PHƯỚC NGOÀI – TỪ TRONG.
KHÔNG HẠI – KHÔNG TRẢ – KHÔNG NUÔI.
Và khi cần giữ ranh giới:
TỪ + TRÍ + RANH GIỚI.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 497
Tâm từ không biến mình thành người yếu.
Tâm từ chỉ giúp mình:
không để cái xấu của người khác quyết định tâm mình phải xấu theo.
Đó là một loại tự do rất đẹp.
Và đó cũng là lý do lời kinh ca ngợi:
TỪ TÂM GIẢI THOÁT – CHÓI SÁNG, BỪNG SÁNG VÀ RỰC SÁNG.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 498
MỤC 019 - Bài 019 — KHÔNG LẤY OÁN TRẢ OÁN – CHẶN VÒNG KHỔ NGAY TỪ TÂM MÌNH 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
“Với hận diệt hận thù, Đời này không có được. Không hận diệt hận thù, Là định luật ngàn thu.”
2. NGUỒN KINH
Tên kinh: Kinh Pháp Cú Tên Pāli: Dhammapada Thuộc: Tiểu Bộ Kinh – Khuddaka Nikāya Phẩm: Phẩm Song Yếu – Yamakavagga Kệ: Kệ số 5 Mã tra cứu quốc tế: Dhp 5 Bản dịch tiếng Việt: Hòa thượng Thích Minh Châu Nguyên bản: Kinh tạng Pāli
Nguyên Pāli của bài kệ:
“Na hi verena verāni, sammantīdha kudācanaṃ; averena ca sammanti, esa dhammo sanantano.”
Nói thật gọn để trả lời khi có người hỏi nguồn:
“Đây là Kinh Pháp Cú, Phẩm Song Yếu, kệ số 5, mã quốc tế Dhp 5, bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, nguyên bản Kinh tạng Pāli.”
3. TỪ KHÓA VIỆT – PĀLI – NGHĨA
HẬN THÙ – VERA – OÁN HẬN, THÙ NGHỊCH
Hận thù – vera là trạng thái đối nghịch, muốn trả đũa, muốn người kia chịu khổ vì mình đã bị tổn thương.
Hận có thể bắt đầu từ:
một câu nói.
một chuyện tranh chấp.
một lần phản bội.
một quyền lợi bị mất.
Nhưng nếu tiếp tục nuôi,
nó có thể lớn thành:
một cách sống.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 499
KHÔNG HẬN – AVERA – KHÔNG OÁN, KHÔNG NUÔI ÁC Ý
Không hận – avera không phải là:
quên hết.
không biết đúng sai.
không bảo vệ mình.
Không hận nghĩa là:
không lấy ác ý làm cách trả lời ác ý.
Đây là điểm trọng tâm.
DIỆT – SAMMANTI – LẮNG XUỐNG, CHẤM DỨT, ĐƯỢC HÓA GIẢI
Trong bài kệ, “diệt” ở đây mang ý:
hận được lắng xuống, được chấm dứt.
Một bên nuôi hận:
hận tiếp tục.
Một bên không tiếp tục nuôi:
vòng ấy có cơ hội dừng.
ĐỊNH LUẬT NGÀN THU – DHAMMO SANANTANO – NGUYÊN LÝ LÂU ĐỜI, NGUYÊN TẮC BỀN VỮNG
Sanantano mang nghĩa lâu đời, cổ xưa, bền vững.
Ý của câu:
đây không phải một mẹo nhất thời.
Đó là nguyên tắc sâu của đời sống:
OÁN KHÔNG HẾT BẰNG OÁN.
4. GIẢI TỪNG CỤM
“VỚI HẬN DIỆT HẬN THÙ”
Câu này phủ định một phản xạ rất quen:
“Họ làm tôi đau, tôi làm lại cho họ đau.”
Tâm nghĩ:
làm vậy sẽ cân bằng.
Nhưng thực tế thường là:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 500
một lời ác sinh một lời ác.
Một hành động trả đũa sinh hành động mới.
Hai bên đều nghĩ:
“Tôi chỉ trả lại.”
Và vòng ấy không biết ai bắt đầu nữa.
“ĐỜI NÀY KHÔNG CÓ ĐƯỢC”
Đức Phật nói rất dứt khoát.
Hận không chữa được hận.
Nó chỉ:
đổi vai người gây đau.
Hôm nay người kia làm mình đau.
Ngày mai mình làm họ đau.
Ngày sau họ trả lại.
Đau tiếp tục lưu truyền.
“KHÔNG HẬN DIỆT HẬN THÙ”
Đây là cửa thoát.
Không hận không có nghĩa:
không làm gì.
Có thể:
nói rõ.
đòi quyền lợi.
rời khỏi nơi nguy hiểm.
dùng pháp luật.
đặt ranh giới.
Nhưng không thêm:
ý muốn hủy hoại người kia.
Đó là khác biệt.
“LÀ ĐỊNH LUẬT NGÀN THU”
Câu này làm bài kệ vượt khỏi một tình huống riêng.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 501
Nó áp dụng được:
gia đình.
bạn bè.
cộng đồng.
mạng xã hội.
xã hội.
bất cứ nơi nào có:
oán trả oán.
5. GHÉP NGHĨA TOÀN CÂU
Toàn bài kệ có thể hiểu:
Hận thù không thể được chấm dứt bằng một hận thù khác. Chỉ khi không tiếp tục nuôi oán và không lấy ác ý để đáp lại ác ý thì vòng hận mới có thể lắng xuống. Đây là một nguyên tắc lâu đời và bền vững.
Có thể nhớ:
HỌ SÂN → MÌNH SÂN → HẬN TĂNG.
HỌ SÂN → MÌNH KHÔNG NUÔI SÂN → VÒNG HẬN CÓ CƠ HỘI DỪNG.
6. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ GÌ?
Kính thưa quý vị,
Đức Phật không dạy:
“Ai làm gì cũng bỏ qua.”
Ngài dạy:
ĐỪNG CHỮA MỘT CÁI XẤU BẰNG MỘT CÁI XẤU KHÁC.
Đây là điều rất khác.
Nếu người kia nói dối:
mình không cần nói dối lại.
Nếu họ xúc phạm:
mình không cần xúc phạm lại.
Nếu họ lừa:
mình không cần lừa lại.
Nếu họ làm sai:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 502
mình xử lý cái sai,
nhưng không để cái sai ấy:
sinh thêm cái sai trong mình.
7. VÍ DỤ 1 – VỢ CHỒNG CÃI NHAU
Chồng nói nặng.
Vợ trả nặng hơn.
Chồng kéo chuyện cũ.
Vợ lôi chuyện xa hơn.
Hai bên đều nói:
“Tại người kia trước.”
Nhưng đến một lúc,
câu hỏi không còn là:
ai bắt đầu.
Mà là:
AI DỪNG TRƯỚC?
Người dừng trước không nhất thiết là người thua.
Có khi là người:
đủ tỉnh để không cho vòng sân lớn thêm.
8. VÍ DỤ 2 – ANH CHỊ EM TRANH CHẤP
Một người nói:
“Anh lấy phần tôi.”
Người kia nói:
“Trước đây anh cũng từng…”
Rồi hai bên đem cả lịch sử ra.
Nếu cần chia tài sản:
chia rõ.
Nếu cần giấy tờ:
làm giấy tờ.
Nhưng đừng biến tranh chấp thành:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 503
một đời không nhìn mặt.
9. VÍ DỤ 3 – BỊ NÓI XẤU
Mình nghe người kia nói xấu.
Phản xạ:
“Tôi sẽ kể cho mọi người biết họ xấu thế nào.”
Đó chính là:
hận dùng hận.
Pháp Cú 5 nói:
cách đó không làm hận hết.
Có thể đính chính điều cần thiết.
Nhưng không cần:
phá danh người để trả.
10. VÍ DỤ 4 – BÌNH LUẬN TRÊN MẠNG
Người kia viết một câu rất khó chịu.
Mình trả một câu nặng hơn.
Họ chụp màn hình.
Đăng lại.
Người khác vào.
Một chuyện năm phút thành:
mấy ngày.
Đó là minh họa quá rõ:
HẬN NUÔI HẬN.
11. VÍ DỤ 5 – CON CÁI LÀM CHA MẸ GIẬN
Con nói hỗn.
Cha mẹ nổi giận:
“Tao nuôi mày bao nhiêu năm…”
Rồi nói những câu rất nặng.
Sau đó con càng chống.
Người lớn có thể phải sửa con.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 504
Nhưng sửa bằng:
sân
thường làm vấn đề nặng thêm.
12. VÍ DỤ 6 – NGƯỜI LÀM MÌNH MẤT QUYỀN LỢI
Mình cần:
đòi lại.
Có bằng chứng:
dùng bằng chứng.
Có cơ quan:
nhờ xử lý.
Không hận không có nghĩa:
bỏ luôn quyền lợi chính đáng.
Đây là điều phải nói thật rõ.
13. VÍ DỤ 7 – NGƯỜI KHÔNG XIN LỖI
Mình nghĩ:
“Họ chưa xin lỗi nên tôi chưa thể buông.”
Nhưng nếu họ cả đời không xin lỗi,
mình có định hận cả đời không?
Đó là lúc cần tách:
trách nhiệm của họ
và:
sự tự do trong tâm mình.
14. VÍ DỤ 8 – NGƯỜI TỪNG PHẢN BỘI
Không hận không có nghĩa:
tin lại ngay.
Có thể không quay lại quan hệ.
Có thể giữ khoảng cách.
Nhưng không cần:
ngày nào cũng mong họ khổ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 505
Đó là một mức buông rất thật.
15. VÍ DỤ 9 – NGƯỜI TU BỊ CHÊ
Một người nói:
“Sư cô giảng chưa đúng.”
Nếu lập tức nghĩ:
“Họ chống mình,”
sân sinh.
Nhưng nếu hỏi:
“Chỗ nào? Nguồn nào?”
thì lời chê có thể biến thành:
cơ hội kiểm Pháp.
Đó là dùng trí thay vì dùng hận.
16. VÍ DỤ 10 – TRONG CỘNG ĐỒNG
Một nhóm ghét nhóm kia.
Mỗi bên chỉ nhớ:
lỗi của bên kia.
Không ai nhớ:
việc mình từng làm.
Hận tập thể rất nguy hiểm vì mỗi người nghĩ:
“Tôi đang bảo vệ phía đúng.”
Nhưng nếu ác ý tăng,
khổ vẫn tăng.
17. KHÔNG HẬN KHÔNG PHẢI YẾU
Có người nghĩ:
“Không trả là yếu.”
Nhưng thử hỏi:
người bị chọc là bùng ngay
và người bị chọc vẫn giữ được tâm,
ai khó hơn?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 506
Tự chủ thường khó hơn:
phản ứng.
18. KHÔNG HẬN KHÔNG PHẢI SỢ HÃI
Có người im vì:
sợ.
Đó chưa chắc là không hận.
Trong tâm vẫn:
nguyền.
muốn trả.
Không hận thật sự là:
ác ý giảm.
19. KHÔNG HẬN KHÔNG PHẢI MẤT TRÍ PHÂN BIỆT
Người sai:
vẫn sai.
Việc nguy hiểm:
vẫn nguy hiểm.
Người không đáng tin:
có thể vẫn chưa đáng tin.
Tâm từ không xóa:
trí.
20. TẠI SAO HẬN KHÔNG DẬP ĐƯỢC HẬN?
Bởi hận làm người kia:
phòng thủ.
phản công.
nhớ đau.
muốn trả.
Như vậy năng lượng hận:
được truyền tiếp.
Giống lửa gặp dầu.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 507
21. KHÔNG HẬN CÓ PHẢI LÚC NÀO CŨNG LÀM NGƯỜI KIA HẾT HẬN KHÔNG?
Không chắc.
Đây là điểm phải nói đúng.
Mình không nuôi hận:
không có nghĩa người kia sẽ lập tức đổi.
Nhưng có một điều chắc hơn:
MÌNH KHÔNG TIẾP TỤC ĐỔ THÊM DẦU.
Và mình không để:
tâm mình trở thành bản sao của tâm sân người kia.
22. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ THÊM ĐIỀU GÌ?
Pháp Cú 5 đứng ngay sau các kệ 3 và 4 về việc ôm và không ôm hiềm hận.
Mạch rất đẹp:
Kệ 3:
ôm chuyện bị hại → hận không nguôi.
Kệ 4:
không ôm → hận có thể nguôi.
Kệ 5:
hận không diệt bằng hận; chỉ không hận mới chặn vòng ấy.
Ba kệ đi thành:
NHẬN DIỆN → BUÔNG → KHÔNG TRẢ OÁN.
23. ỨNG DỤNG 1 – DỪNG TRƯỚC KHI TRẢ
Khi bị xúc phạm:
đừng trả ngay.
Hỏi:
“Câu tôi sắp nói sẽ giải quyết chuyện hay chỉ làm họ đau?”
Nếu chỉ làm đau:
chưa nói.
24. ỨNG DỤNG 2 – XỬ LÝ SỰ VIỆC, ĐỪNG XỬ LÝ CON NGƯỜI BẰNG HẬN
Ví dụ:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 508
người kia nợ tiền.
Xử lý:
khoản nợ.
Đừng biến thành:
“Người này đáng bị hủy cả đời.”
Sửa việc.
Đừng nuôi thù.
25. ỨNG DỤNG 3 – KHÔNG KÉO THÊM NGƯỜI VÀO VÒNG HẬN
Một người làm mình giận.
Đừng chạy kể với mười người chỉ để:
mười người ghét họ cùng mình.
Nếu cần tư vấn:
chọn người sáng.
Không cần:
tạo phe.
26. ỨNG DỤNG 4 – KHÔNG DÙNG CHUYỆN CŨ LÀM VŨ KHÍ
Đã xử lý rồi:
đừng mỗi lần cãi lại lấy ra.
Nếu chưa xử lý:
giải quyết cho rõ.
Không nên:
giữ chuyện cũ như một con dao.
27. ỨNG DỤNG 5 – KHI PHẢI NÓI CỨNG
Có lúc phải nói rất rõ:
“Việc này không được tiếp tục.”
Nói cứng không đồng nghĩa:
hận.
Một câu rõ,
không miệt thị,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 509
vẫn có thể là:
Chánh ngữ.
28. ỨNG DỤNG 6 – KHI CẦN RỜI KHỎI MỘT QUAN HỆ
Có những quan hệ:
không còn an toàn.
Có thể rời.
Nhưng rời không nhất thiết:
mang theo hận cả đời.
Ranh giới ở ngoài.
Buông ở trong.
29. ỨNG DỤNG 7 – KHI NGƯỜI KIA GẶP CHUYỆN XẤU
Nếu tâm lóe:
“Đáng đời,”
hãy biết:
hận còn.
Không cần tự trách.
Chỉ nhận:
“Ác ý đang có.”
Rồi không nuôi.
30. ỨNG DỤNG 8 – VỚI CHÍNH MÌNH
Có khi người mình hận nhất là:
mình.
Mình từng làm sai.
Rồi ngày nào cũng tự mắng.
Đó cũng là:
lấy hận chữa hận.
Sai:
sửa.
Nhưng không cần:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 510
tự hành hạ mãi.
31. CÔNG THỨC THỨ NHẤT: HẬN – DỪNG – RÕ – XỬ
HẬN
Biết hận đang có.
DỪNG
Không phản ứng ngay.
RÕ
Xác định sự việc thật.
XỬ
Xử lý bằng trí.
Công thức:
HẬN → DỪNG → RÕ → XỬ.
32. CÔNG THỨC THỨ HAI: KHÔNG HẠI – KHÔNG NHỤC – KHÔNG TRẢ
Ba điều rất dễ nhớ:
KHÔNG HẠI.
KHÔNG LÀM NHỤC.
KHÔNG TRẢ ĐŨA BẰNG ÁC Ý.
Việc cần làm:
vẫn làm.
33. CÔNG THỨC THỨ BA: SỰ THẬT – RANH GIỚI – KHÔNG HẬN
SỰ THẬT
Nói đúng việc.
RANH GIỚI
Giữ điều cần giữ.
KHÔNG HẬN
Không mong người kia khổ.
Công thức:
THẬT + RANH GIỚI + KHÔNG HẬN.
34. CÔNG THỨC THỨ TƯ: OÁN DỪNG Ở TÔI
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 511
Đây là câu rất dễ giảng:
“NGƯỜI KIA CÓ THỂ ĐÃ TRUYỀN OÁN ĐẾN TÔI, NHƯNG TÔI CỐ KHÔNG TRUYỀN NÓ TIẾP.”
Đó là một đời sống có trách nhiệm với tâm.
35. BÀI THỰC HÀNH MỘT NGÀY
Chọn một người mình đang khó chịu.
Trong một ngày:
không nói xấu thêm.
Không tìm chuyện của họ.
Không mong họ gặp xấu.
Nếu phải xử lý việc:
xử lý đúng việc.
Cuối ngày hỏi:
“Hận có được tưới thêm không?”
36. BÀI THỰC HÀNH BẢY NGÀY
NGÀY 1
Nhận diện người mình còn hận.
NGÀY 2
Không kể chuyện ấy nếu không cần thiết.
NGÀY 3
Không tưởng tượng cách trả.
NGÀY 4
Nếu cần, đặt một ranh giới rõ.
NGÀY 5
Tập câu:
“Tôi không muốn làm người này đau thêm.”
NGÀY 6
Quán:
“Hận của họ là phần của họ; nghiệp của tôi là phần của tôi.”
NGÀY 7
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 512
Hỏi:
“Tôi có thể để vòng oán dừng ở tôi được bao nhiêu?”
37. THỰC HÀNH BUỔI SÁNG
Mỗi sáng có thể đọc:
Hôm nay nếu gặp lời không vừa ý, tôi tập không lấy sân trả sân.
Tôi bảo vệ sự thật nhưng không dùng ác ý.
Tôi giữ ranh giới nhưng không mong người khác khổ.
Tôi không để một hành vi xấu của người khác quyết định tâm tôi phải xấu theo.
38. THỰC HÀNH BUỔI TỐI
Trước khi ngủ hỏi:
Hôm nay ai làm tôi khó chịu nhất?
Tôi đã trả bằng gì?
Tôi có nói một câu chỉ để làm đau không?
Tôi có kéo thêm người vào chuyện không?
Tôi đã đặt ranh giới hay chỉ nuôi hận?
Có chỗ nào hôm nay oán đã dừng ở tôi không?
39. CÂU GHI NHỚ THỨ NHẤT
Hận thù không biến mất khi đổi người cầm hận.
40. CÂU GHI NHỚ THỨ HAI
Người kia làm sai là chuyện của họ; mình trả bằng ác ý là phần nghiệp mới của mình.
41. CÂU GHI NHỚ THỨ BA
Không hận không làm cái sai thành đúng; nó chỉ không cho cái sai sinh thêm một cái sai khác.
42. CÂU GHI NHỚ THỨ TƯ
Ranh giới có thể rất cứng mà tâm vẫn không cần độc.
43. CÂU GHI NHỚ THỨ NĂM
Một cuộc chiến cần hai bên tiếp tục; một bên dừng không bảo đảm bên kia dừng ngay, nhưng ít nhất mình không thêm nhiên liệu.
44. CÂU GHI NHỚ THỨ SÁU
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 513
Tha thứ không phải giao lại niềm tin ngay; tha thứ trước hết là ngừng nuôi ý muốn làm người kia đau.
45. CÂU GHI NHỚ THỨ BẢY
Có những người đã ra khỏi đời mình nhưng hận vẫn giữ họ ở lại trong tâm.
46. CÂU GHI NHỚ THỨ TÁM
Không phải ai thắng cuộc cãi cũng thắng chính mình.
47. CÂU GHI NHỚ THỨ CHÍN
Người dừng oán trước có thể là người mạnh hơn, vì họ không để sân quyết định hành động.
48. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI
Nếu một chuyện đã làm mình đau một lần, đừng để hận làm mình đau thêm mỗi ngày.
49. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
OÁN KHÔNG HẾT BẰNG OÁN.
SÂN KHÔNG CHỮA ĐƯỢC SÂN.
CÁI SAI KHÔNG CẦN THÊM MỘT CÁI SAI ĐỂ CHỨNG MINH NÓ SAI.
GIỮ SỰ THẬT.
GIỮ RANH GIỚI.
NHƯNG ĐỪNG NUÔI HẬN.
Và xin nhớ lời Phật:
“Với hận diệt hận thù, Đời này không có được. Không hận diệt hận thù, Là định luật ngàn thu.”
Nguồn: Kinh Pháp Cú – Dhammapada, Tiểu Bộ Kinh – Khuddaka Nikāya, Phẩm Song Yếu – Yamakavagga, kệ số 5, mã tra cứu quốc tế Dhp 5; bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu; nguyên bản Kinh tạng Pāli.
50. CÂU HỎI LIVESTREAM
1. Quý vị có từng nghĩ “họ làm tôi đau nên tôi phải làm họ đau lại” không? Kết quả sau đó có thật sự nhẹ hơn không?
2. Theo quý vị, không hận và không đặt ranh giới có giống nhau không?
3. Có người nào quý vị đã không gặp rất lâu nhưng mỗi lần nghe tên vẫn nóng không?
4. Nếu người ấy không bao giờ xin lỗi, quý vị có muốn giữ hận đến hết đời không?
5. Khi bị nói xấu, điều mình muốn hơn là làm rõ sự thật hay làm người kia mất mặt?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 514
6. Quý vị có từng kéo thêm người thân hoặc bạn bè vào một mối oán chỉ để họ đứng về phía mình không?
7. Theo quý vị, người dừng cãi trước là thua hay có khi là người tỉnh hơn?
8. Có thể rời một người, không tin họ nữa, nhưng vẫn không mong họ gặp chuyện xấu được không?
9. Khi người mình ghét gặp chuyện không hay, phản ứng đầu tiên trong tâm mình là gì?
10. Có bao giờ mình dùng chuyện cũ như một vũ khí mỗi lần tranh cãi không?
11. Theo quý vị, tại sao Đức Phật nói đây là “định luật ngàn thu”?
12. Nếu một người trả sân bằng sân nhưng nghĩ mình đang bảo vệ công lý, mình phân biệt bằng cách nào?
13. Có phải nhiều mối hận tồn tại không vì sự việc còn tiếp diễn, mà vì mình còn kể lại nó mỗi ngày không?
14. Nếu hôm nay chỉ chọn một mối oán để ngừng tưới thêm, quý vị sẽ chọn chuyện nào?
15. Quý vị có thể thử một câu: “Oán đến tôi, nhưng tôi cố không truyền nó tiếp” không?
51. CÂU KẾT ĐỂ ĐỌC TRÊN LIVESTREAM
Kính thưa quý vị,
đời sống có những lúc mình thật sự bị:
oan.
bị nói sai.
bị mất quyền lợi.
bị phản bội.
bị tổn thương.
Đức Phật không phủ nhận những điều đó.
Nhưng Ngài hỏi một câu sâu hơn:
SAU KHI BỊ ĐAU, MÌNH SẼ LÀM GÌ VỚI CÁI ĐAU ẤY?
Nếu lấy nó làm lý do để:
làm người khác đau,
thì vòng khổ đi tiếp.
Nếu lấy sân trả sân,
thì chỉ đổi:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 515
người bị thương.
Không đổi:
bản chất của hận.
Cho nên Pháp Cú nói rất rõ:
OÁN KHÔNG DIỆT BẰNG OÁN.
Không hận không có nghĩa:
mình yếu.
Không có nghĩa:
mình phải ở lại nơi nguy hiểm.
Không có nghĩa:
bỏ quyền lợi.
Mà là:
VIỆC CẦN XỬ – XỬ.
SỰ THẬT CẦN NÓI – NÓI.
RANH GIỚI CẦN GIỮ – GIỮ.
NHƯNG ÁC Ý – ĐỪNG NUÔI.
Vì vậy công thức của bài hôm nay xin quý vị nhớ:
HẬN → DỪNG → RÕ → XỬ.
Và sâu hơn nữa:
SỰ THẬT + RANH GIỚI + KHÔNG HẬN.
Nếu mỗi người có thể để một mối oán:
dừng ở mình,
thì không chỉ tâm mình nhẹ.
Mà mình còn không truyền thêm khổ sang:
người kế tiếp.
Đó là một cách rất thiết thực để sống lời Phật ngay giữa đời.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 516
MỤC 020 - Bài 020 — SỐNG BIẾT ĐỦ – BỚT RỘN RÀNG, TÂM MỚI CÓ CHỖ ĐỂ TU 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
Đức Phật dạy:
“Sống cảm thấy vừa đủ, Nuôi sống thật dễ dàng, Ít có sự rộn ràng, Sống đạm bạc, giản dị. Các căn được tịnh lạc, Khôn ngoan và thận trọng, Không xông xáo gia đình.” (Buddhism Today)
2. NGUỒN KINH
Tên kinh: Kinh Lòng Từ – Kinh Từ Bi Tên Pāli: Mettā Sutta hay Karaṇīyamettā Sutta Thuộc: Kinh Tập – Sutta Nipāta Bộ: Tiểu Bộ Kinh – Khuddaka Nikāya Phẩm: Phẩm Rắn – Uragavagga Số kinh: Kinh thứ 8 Mã tra cứu quốc tế: Snp 1.8 Phần kệ: đoạn kệ 143–144 theo hệ thống đánh số của Kinh Tập; phần “sống cảm thấy vừa đủ…” thuộc kệ 144. Bản dịch tiếng Việt: Hòa thượng Thích Minh Châu Nguyên bản: Kinh tạng Pāli. SuttaCentral xác nhận Snp 1.8 là Mettā Sutta; bản Pāli và nhiều bản dịch đều có nhóm đức tính: biết đủ, dễ nuôi, ít bận rộn, sống giản dị, các căn an tịnh và không quá bám vào các gia đình. (SuttaCentral)
Nếu có người hỏi:
“Câu này ở kinh nào, phẩm nào, kệ nào?”
có thể trả lời:
“Kinh Lòng Từ – Mettā Sutta, Kinh Tập – Sutta Nipāta, Tiểu Bộ Kinh, Phẩm Rắn, kinh số 8, mã quốc tế Snp 1.8; đoạn kệ 144, bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu.” (Buddhism Today)
3. TỪ KHÓA VIỆT – PĀLI – NGHĨA
BIẾT ĐỦ – SANTUSSAKA / SANTUṬṬHI – CẢM THẤY VỪA ĐỦ, TRI TÚC
Biết đủ không có nghĩa:
không cố gắng.
không làm việc.
không phát triển.
không được có điều kiện sống tốt.
Biết đủ nghĩa là:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 517
CÓ MỨC DỪNG TRONG LÒNG MUỐN.
Có cái cần:
dùng.
Có đủ:
biết đủ.
Không để một cái muốn vừa được thỏa mãn xong lại sinh ngay:
một cái muốn lớn hơn.
Bản Snp 1.8 mô tả người hướng tới đời sống an tịnh là người biết đủ, dễ thỏa mãn. (SuttaCentral)
DỄ NUÔI – SUBHARA – KHÔNG ĐÒI HỎI QUÁ NHIỀU
Dễ nuôi – subhara nghĩa là không làm cho người khác phải quá vất vả chỉ để thỏa mãn những đòi hỏi của mình.
Nói thật dễ hiểu:
ăn được đơn giản.
ở được đơn giản.
được chăm theo điều kiện hợp lý.
không phải cái gì cũng:
“Tôi phải loại tốt nhất.”
Người dễ nuôi không biến đời sống của người khác thành:
một cuộc chạy phục vụ cho mình. Cách dịch “easily supported/easily satisfied” xuất hiện nhất quán trong các bản đối chiếu của Snp 1.8. (SuttaCentral)
ÍT RỘN RÀNG – APPAKICCA – ÍT VIỆC KHÔNG CẦN THIẾT, KHÔNG ÔM ĐỒM
Appakicca thường được dịch theo hướng:
ít công việc, ít bận rộn, không bị cuốn vào quá nhiều việc.
Không phải:
lười.
Mà là:
KHÔNG ÔM HẾT MỌI THỨ VÀO ĐỜI MÌNH.
Có việc quan trọng:
làm.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 518
Việc không thuộc trách nhiệm:
biết buông.
Việc không cần:
đừng tự tạo thêm. Snp 1.8 đặt “ít bận rộn” ngay cạnh “biết đủ” và “sống nhẹ nhàng”. (SuttaCentral)
SỐNG GIẢN DỊ – SALLAHUKAVUTTI – NẾP SỐNG NHẸ, KHÔNG CỒNG KỀNH
Sống giản dị không chỉ là ít đồ.
Có người ít đồ,
nhưng tâm rất phức tạp.
Có người nhà đơn giản,
nhưng quan hệ đầy:
hơn thua.
Sống nhẹ còn là:
ít thứ phải giữ.
ít thứ phải chứng minh.
ít chuyện phải chen vào.
Các bản dịch Snp 1.8 diễn đạt ý này là “living lightly”, “frugal in one’s ways”, tương ứng với nếp sống nhẹ và đơn giản. (SuttaCentral)
CÁC CĂN AN TỊNH – SANTINDRIYA – MẮT, TAI, MŨI, LƯỠI, THÂN, Ý ĐƯỢC ĐIỀU PHỤC
Các căn an tịnh nghĩa là không để mắt tai và tâm:
chạy khắp nơi.
Thấy gì cũng muốn.
Nghe gì cũng xen.
Biết chuyện gì cũng tìm thêm.
Người tu cần học:
thu tâm lại.
Bản Snp 1.8 ghi phẩm chất “các căn được an tịnh/calm senses” ngay trong nhóm các đức tính nền tảng của người tu tâm từ. (SuttaCentral)
KHÔNG XÔNG XÁO GIA ĐÌNH – KULESU ANANUGIDDHA – KHÔNG QUÁ BÁM VÍU VÀO CÁC GIA ĐÌNH
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 519
Cụm này thuộc bối cảnh đời sống xuất gia.
Không nên hiểu đơn giản:
“không được gặp cư sĩ.”
Điểm chính là:
không bám víu,
không cầu cạnh,
không quá thân cận vì lợi dưỡng,
không để quan hệ với các gia đình kéo người xuất gia vào những ràng buộc không cần thiết.
Các bản Snp 1.8 dịch theo nghĩa “not fawning on families” hoặc “not covetous among families”, tức không xu nịnh hay tham đắm trong các gia đình. (SuttaCentral)
4. GIẢI TỪNG CỤM
“SỐNG CẢM THẤY VỪA ĐỦ”
Kính thưa quý vị,
đây là một câu rất đáng sống.
Không phải:
có bao nhiêu mới đủ?
Mà là:
TÂM CÓ BIẾT ĐỦ KHÔNG?
Một người có một triệu:
muốn hai.
Có hai:
muốn năm.
Có năm:
nhìn người có mười.
Nếu tâm cứ so,
thì con số:
không cứu được.
Ngược lại,
một người có điều kiện vừa phải,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 520
nhưng biết:
“đủ dùng,”
thì tâm có khoảng nghỉ.
“NUÔI SỐNG THẬT DỄ DÀNG”
Đây là đức tính rất đẹp của người tu.
Đừng biến mình thành:
gánh nặng của sự đòi hỏi.
Món này không ăn.
chỗ kia không ở.
đồ này không dùng.
phải phục vụ theo ý mình.
Một người càng nhiều yêu cầu,
càng khó sống chung.
Người dễ nuôi không phải:
chịu đựng bất cứ điều gì nguy hiểm.
Mà là:
không tự tạo thêm đòi hỏi không cần thiết.
“ÍT CÓ SỰ RỘN RÀNG”
Có những người rất bận.
Nhưng hỏi:
bận chuyện gì?
Chuyện của mình một phần.
Chuyện người khác:
chín phần.
Ai nói gì:
biết.
Ai mua gì:
biết.
Ai cãi ai:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 521
biết.
Nhưng tâm mình:
không biết.
Kinh nhắc:
BỚT VIỆC NGOÀI – ĐỂ CÓ CHỖ NHÌN VIỆC TRONG.
“SỐNG ĐẠM BẠC, GIẢN DỊ”
Giản dị làm đời:
nhẹ.
Càng nhiều thứ:
càng nhiều thứ phải giữ.
Càng nhiều vai:
càng nhiều hình ảnh phải bảo vệ.
Càng nhiều đòi hỏi:
càng nhiều điều kiện để thất vọng.
Đơn giản không phải:
nghèo nàn.
Mà là:
GIẢM CÁI KHÔNG CẦN.
“CÁC CĂN ĐƯỢC TỊNH LẠC”
Thấy:
không chạy theo tất cả.
Nghe:
không tin tất cả.
Mùi:
không cần tìm mọi hưởng thụ.
Vị:
không phải món nào thích cũng phải có.
Ý:
không cần nghĩ mọi chuyện.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 522
Đó là:
điều phục căn.
Nếu mắt tai chạy cả ngày,
tâm khó yên.
“KHÔN NGOAN VÀ THẬN TRỌNG”
Biết đủ không phải:
ngây thơ.
Giản dị không phải:
thiếu trí.
Ngược lại,
đời sống càng đơn giản,
càng cần biết:
điều gì đáng giữ.
Đừng bỏ:
trách nhiệm.
Đừng bỏ:
giới.
Đừng bỏ:
sức khỏe.
Đừng bỏ:
bổn phận.
Chỉ bỏ:
phần thừa.
“KHÔNG XÔNG XÁO GIA ĐÌNH”
Đối với người xuất gia,
đây là một lời nhắc rất mạnh.
Đi tới nhà cư sĩ vì:
Phật sự cần thiết,
thăm bệnh,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 523
hướng dẫn Pháp,
có thể phù hợp.
Nhưng nếu bắt đầu:
thích nhà này,
thân nhà kia,
mong người kia lo cho mình,
muốn được ưu ái,
thì phải nhìn lại.
Người xuất gia cần:
GẦN PHẬT TỬ NHƯNG KHÔNG DÍNH PHẬT TỬ.
5. GHÉP NGHĨA TOÀN ĐOẠN
Toàn đoạn có thể hiểu:
Người muốn đi về đời sống an tịnh cần sống biết đủ, ít đòi hỏi, dễ nuôi dưỡng, không ôm quá nhiều việc, sống nhẹ nhàng giản dị, điều phục các căn, có trí và thận trọng, không bám víu vào những mối quan hệ tạo thêm ràng buộc.
Có thể nhớ:
ĐỦ – DỄ – ÍT – NHẸ – TỊNH – TRÍ.
Đủ: biết đủ.
Dễ: dễ nuôi.
Ít: ít việc rộn ràng.
Nhẹ: sống giản dị.
Tịnh: điều phục các căn.
Trí: sống khôn ngoan, thận trọng.
6. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ GÌ?
Kính thưa quý vị,
điều rất sâu là:
Kinh Từ Bi không bắt đầu ngay bằng câu:
“Mong tất cả chúng sanh an vui.”
Trước khi nói tới tâm từ rộng lớn,
kinh dạy người tu phải sửa:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 524
cách sống.
Có khả năng.
Chân trực.
Nhu hòa.
Không cao mạn.
Biết đủ.
Dễ nuôi.
Ít rộn ràng.
Sống nhẹ.
Các căn an tịnh. (Buddhism Today)
Điều này cho thấy:
TÂM TỪ KHÔNG CHỈ LÀ MỘT CÂU CẦU NGUYỆN.
Nó cần một:
nếp sống phù hợp.
7. TẠI SAO BIẾT ĐỦ LẠI LIÊN QUAN ĐẾN TÂM TỪ?
Bởi người không biết đủ thường:
đòi.
Muốn.
tranh.
chiếm.
so.
Một tâm luôn:
“Tôi cần thêm”
rất dễ va vào:
“phần của người khác.”
Người biết đủ:
bớt tranh.
Bớt giành.
Bớt ép.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 525
Do đó biết đủ giúp:
tâm từ có đất để lớn.
8. VÍ DỤ 1 – ĂN UỐNG
Một món đơn giản:
đủ nuôi thân.
Nhưng tâm nói:
“Phải đúng món tôi thích.”
Nếu không có:
khó chịu.
Thử hỏi:
“Tôi đang cần ăn hay đang cần được thỏa ý?”
Hai điều khác nhau.
9. VÍ DỤ 2 – QUẦN ÁO
Tủ đã đủ.
Nhưng thấy mẫu mới:
muốn.
Mua xong:
vui vài hôm.
Rồi có mẫu khác.
Nếu đời cứ chạy theo:
mới hơn,
thì chữ đủ:
không bao giờ tới.
10. VÍ DỤ 3 – NHÀ Ở
Một căn phòng:
sạch.
an toàn.
đủ nghỉ.
Nhưng tâm luôn nhìn:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 526
nhà người khác lớn hơn.
Thế là nơi ở của mình:
không đổi,
nhưng cảm giác:
từ đủ thành thiếu.
Cái thiếu sinh từ:
SO SÁNH.
11. VÍ DỤ 4 – LIVESTREAM
Hôm nay:
100 người xem.
Vui.
Ngày mai:
30.
Buồn.
Tại sao?
30 người vẫn là:
30 con người.
Nhưng tâm đã lấy:
100
làm chuẩn.
Nếu không tỉnh,
việc chia sẻ Pháp sẽ bị kéo bởi:
con số.
Biết đủ không có nghĩa:
không cải thiện nội dung.
Mà là:
làm hết lòng nhưng không dùng con số để định giá mình.
12. VÍ DỤ 5 – NGƯỜI KHÁC KHÔNG KHEN
Mình làm việc tốt.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 527
Không ai khen.
Tâm hụt.
Có thể cái mình muốn không chỉ là:
làm điều tốt.
Mà còn:
được thấy là người tốt.
Biết đủ ở đây là:
việc đúng được làm đã là một phần đủ.
13. VÍ DỤ 6 – ÔM QUÁ NHIỀU VIỆC
Ai nhờ:
nhận.
Ai gọi:
đi.
Việc nào cũng:
“để tôi.”
Cuối cùng:
mệt.
sân.
không tu.
Không phải từ bi nào cũng đồng nghĩa:
nhận hết việc.
Có khi tâm từ với mình và người khác là:
BIẾT NÓI “VIỆC NÀY TÔI KHÔNG GÁNH ĐƯỢC.”
14. VÍ DỤ 7 – CHUYỆN NGƯỜI KHÁC
Mình không liên quan.
Nhưng nghe chuyện:
rất hứng.
Rồi kể.
Rồi bình luận.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 528
Rồi đứng phe.
Cuối cùng:
mang sân của người khác vào tâm mình.
“Ít rộn ràng” có thể thực hành bằng:
CHUYỆN KHÔNG CẦN BIẾT – ĐỪNG TÌM.
15. VÍ DỤ 8 – ĐIỆN THOẠI
Mỗi thông báo:
mở.
Mỗi tin:
xem.
Mỗi bình luận:
kiểm.
Tâm không có:
một khoảng trống.
Muốn các căn an tịnh,
có khi phải bắt đầu:
tắt bớt thông báo.
Đây là ứng dụng rất hiện đại của một lời kinh rất xưa.
16. VÍ DỤ 9 – NGƯỜI XUẤT GIA VÀ PHẬT TỬ
Phật tử quý.
Cúng dường.
Chăm sóc.
Nếu người xuất gia bắt đầu:
thích nhà này hơn nhà kia vì được lo nhiều hơn,
thì phải nhìn.
Quan hệ hộ trì rất quý,
nhưng không nên biến thành:
sự lệ thuộc vì lợi dưỡng.
Đó là chỗ của câu:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 529
“không xông xáo gia đình.”
17. VÍ DỤ 10 – LÀM PHẬT SỰ
Dự án này chưa xong,
mở dự án khác.
Sách này chưa hoàn chỉnh,
làm thêm năm bộ.
Cuối cùng:
rất nhiều đầu việc.
ít cái thật sự sâu.
“Ít sự rộn ràng” dạy:
LÀM ÍT HƠN – NHƯNG TRỌN HƠN.
18. BIẾT ĐỦ KHÔNG CÓ NGHĨA DỪNG PHÁT TRIỂN
Một người có thể:
biết đủ với đời sống,
nhưng không biết đủ với:
việc sửa mình.
Có thể nói:
“Nhà ở vậy đủ.”
Nhưng:
“Nhẫn của tôi chưa đủ.”
“Chánh niệm chưa đủ.”
“Trí chưa đủ.”
Đó là sự phân biệt rất đẹp.
19. ÍT VIỆC KHÔNG CÓ NGHĨA ÍT TRÁCH NHIỆM
Có trách nhiệm:
phải làm.
Chăm cha mẹ:
làm.
Công việc:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 530
làm.
Phật sự cần:
làm.
Nhưng đừng:
tự kiếm thêm mười việc để chứng minh mình quan trọng.
Đó là khác biệt giữa:
TRÁCH NHIỆM
và
ÔM ĐỒM.
20. SỐNG GIẢN DỊ KHÔNG PHẢI LÀM KHỔ THÂN
Có người nghĩ:
giản dị là phải dùng thứ tệ nhất.
Không.
Nếu thân cần:
thuốc tốt,
ăn phù hợp,
nghỉ phù hợp,
thì dùng.
Giản dị không phải:
tự hành xác.
Mà:
không biến tiện nghi thành nghiện tiện nghi.
21. CÁC CĂN AN TỊNH KHÔNG CÓ NGHĨA ĐÓNG MẮT BỊT TAI
Mắt vẫn thấy.
Tai vẫn nghe.
Nhưng:
không chạy theo mọi cảnh.
Ví dụ:
thấy người đẹp:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 531
biết thấy.
Không cần:
ngồi tìm thêm ảnh.
Nghe chuyện người:
biết nghe.
Không cần:
đào tiếp.
Đó là:
có cửa nhưng có người giữ cửa.
22. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ THÊM ĐIỀU GÌ?
Snp 1.8 đặt nhóm đức tính này ngay trước lời nguyện mong tất cả hữu tình được an vui, và sau đó dạy không lừa dối, không khinh miệt, không vì sân hận mà mong người khác khổ. Điều đó cho thấy đời sống biết đủ, nhẹ nhàng và điều phục các căn là nền rất phù hợp để tâm từ phát triển. (SuttaCentral)
Có thể thấy một mạch rất đẹp:
BỚT ĐÒI HỎI.
BỚT RỘN RÀNG.
BỚT PHÓNG TÂM.
BỚT CAO MẠN.
Rồi:
MỞ TÂM THƯƠNG.
23. TẠI SAO NGƯỜI QUÁ BẬN KHÓ TU TÂM?
Không phải vì bận là xấu.
Nhưng nếu tâm lúc nào cũng:
việc kế tiếp,
tin kế tiếp,
người kế tiếp,
thì không có khoảng để hỏi:
“Tâm tôi đang thế nào?”
Không có khoảng nhìn,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 532
phiền não rất dễ sống:
không bị phát hiện.
24. CÓ MỘT KIỂU BẬN DÙNG ĐỂ TRỐN CHÍNH MÌNH
Có người rất sợ:
ngồi yên.
Vì ngồi yên thì thấy:
buồn.
trống.
sợ.
hận.
Vậy nên cứ:
làm.
nói.
xem.
gặp.
Bận trở thành:
cách không nhìn tâm.
Kinh dạy ít rộn ràng có thể giúp mình:
gặp lại chính mình.
25. NGƯỜI BIẾT ĐỦ DỄ BIẾT ƠN
Khi luôn nghĩ:
thiếu,
mình khó thấy cái đang có.
Khi biết đủ:
một bữa cơm thành đáng quý.
một chỗ ngủ thành đáng quý.
người đang còn bên mình:
đáng quý.
Biết đủ nuôi:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 533
lòng biết ơn.
26. NGƯỜI KHÔNG BIẾT ĐỦ DỄ BIẾN PHƯỚC THÀNH CHUYỆN ĐƯƠNG NHIÊN
Có người chăm:
mình quen.
Có người giúp:
mình quen.
Có nhà ở:
mình quen.
Đến lúc mất:
mới biết quý.
Biết đủ giúp mình nói:
“ĐIỀU NÀY ĐANG CÓ – TÔI BIẾT ƠN.”
27. ỨNG DỤNG 1 – QUY TẮC “CẦN HAY MUỐN?”
Trước khi mua,
hỏi:
“CẦN?”
hay:
“MUỐN?”
Nếu cần:
dùng.
Nếu chỉ muốn:
không cấm.
Nhưng biết:
đây là muốn.
Chỉ việc gọi đúng tên đã làm tâm sáng hơn.
28. ỨNG DỤNG 2 – MỖI TUẦN BỎ MỘT VIỆC KHÔNG CẦN
Không phải bỏ trách nhiệm.
Chỉ hỏi:
“Việc nào tôi đang làm vì thói quen, sĩ diện hoặc sợ người khác nghĩ?”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 534
Bỏ được một việc thừa:
tâm có thêm:
một khoảng thở.
29. ỨNG DỤNG 3 – MỖI NGÀY CÓ MỘT KHOẢNG KHÔNG ĐIỆN THOẠI
Mười lăm phút.
Ba mươi phút.
Tùy khả năng.
Không xem.
Không phản hồi.
Không tìm.
Chỉ:
ngồi.
đi.
tụng.
đọc.
thở.
Đó là cách rất thực tế để:
các căn bớt chạy.
30. ỨNG DỤNG 4 – MỘT BỮA ĂN GIẢN DỊ
Không cần lúc nào cũng chọn:
món mình thích nhất.
Có bữa ăn đủ dinh dưỡng,
phù hợp thân:
ăn biết đủ.
Dùng bữa ăn để:
nuôi thân,
không phải lúc nào cũng:
nuôi tham.
31. ỨNG DỤNG 5 – KHI MUỐN NHẬN THÊM VIỆC
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 535
Hỏi:
“Việc này có đúng trách nhiệm của tôi không?”
“Nếu nhận, việc quan trọng hiện tại có bị hỏng không?”
Nếu có:
từ chối.
Đó không phải ích kỷ.
Có khi đó là:
trí.
32. ỨNG DỤNG 6 – TRONG GIẢNG PHÁP
Không cần giảng:
mọi chủ đề.
Không cần trả lời:
mọi câu.
Không biết:
nói chưa biết.
Không cần vì muốn được xem là:
“cái gì cũng biết”
mà tự làm tâm rộn.
Giản dị trong giảng Pháp cũng là:
nói đúng điều mình có nguồn.
33. ỨNG DỤNG 7 – VỚI QUAN HỆ
Không phải ai cũng phải:
thân.
Có người:
kính.
Có người:
hợp tác.
Có người:
giữ khoảng cách.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 536
Quan hệ càng rõ,
đời sống càng:
nhẹ.
34. ỨNG DỤNG 8 – VỚI LỜI KHEN
Được khen:
cảm ơn.
Rồi trở về việc.
Đừng giữ lời khen trong đầu cả ngày.
Đó cũng là:
các căn an tịnh.
35. ỨNG DỤNG 9 – VỚI LỜI CHÊ
Nghe.
Kiểm.
Đúng:
sửa.
Sai:
để qua.
Không cần:
đi tìm mười người để hỏi xem mình có thật sự tốt không.
Đó là:
sống bớt rộn.
36. CÔNG THỨC THỨ NHẤT: ĐỦ – DỄ – ÍT – NHẸ – TỊNH – TRÍ
ĐỦ
Biết đủ.
DỄ
Dễ nuôi.
ÍT
Ít việc không cần.
NHẸ
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 537
Sống giản dị.
TỊNH
Các căn bớt chạy.
TRÍ
Biết điều gì nên giữ, điều gì nên bỏ.
Đây là công thức dễ nhớ nhất của bài.
37. CÔNG THỨC THỨ HAI: CẦN – ĐỦ – DỪNG
CẦN
Có cần thật không?
ĐỦ
Cái đang có đủ chưa?
DỪNG
Nếu đủ:
dừng.
Công thức:
CẦN → ĐỦ → DỪNG.
38. CÔNG THỨC THỨ BA: VIỆC CỦA TÔI – VIỆC CỦA NGƯỜI – VIỆC KHÔNG CẦN
Trước một chuyện:
hỏi:
Việc này là trách nhiệm của tôi?
Là trách nhiệm của người khác?
Hay chẳng cần ai chen vào?
Phân được ba loại,
đời bớt:
rộn rất nhiều.
39. CÔNG THỨC THỨ TƯ: BỚT NGOÀI – THẤY TRONG
Bớt:
tin.
bớt:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 538
chuyện.
bớt:
so.
bớt:
mua.
bớt:
ôm việc.
Để có chỗ:
THẤY TÂM.
Công thức:
BỚT NGOÀI → THẤY TRONG.
40. BÀI THỰC HÀNH MỘT NGÀY
Hôm nay chỉ tập:
KHÔNG THÊM MỘT VIỆC KHÔNG CẦN THIẾT.
Mỗi khi định:
xem thêm,
mua thêm,
nhận thêm việc,
chen thêm chuyện,
hỏi:
“Có cần không?”
Nếu không:
dừng.
Cuối ngày xem:
tâm có nhẹ hơn không?
41. BÀI THỰC HÀNH BẢY NGÀY
NGÀY 1
Không mua một món không cần ngay lập tức.
NGÀY 2
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 539
Ăn một bữa với tâm biết đủ.
NGÀY 3
Bỏ một việc không thuộc trách nhiệm.
NGÀY 4
Có một khoảng không điện thoại.
NGÀY 5
Không tham gia một chuyện người khác không cần mình.
NGÀY 6
Sắp xếp lại một góc sống cho gọn.
NGÀY 7
Hỏi:
“Điều gì trong đời tôi đang quá nhiều?”
Rồi giảm một chút.
42. THỰC HÀNH BUỔI SÁNG
Mỗi sáng có thể đọc:
Hôm nay tôi tập biết đủ với điều kiện sống hợp lý.
Tôi không biến người khác thành người phải phục vụ mọi đòi hỏi của mình.
Tôi giảm việc không cần để có thời gian tu tâm.
Tôi sống giản dị nhưng không bỏ trách nhiệm.
Tôi giữ mắt tai và tâm khỏi chạy theo mọi thứ.
Tôi dùng điều kiện đang có để tu, thay vì đợi mọi thứ hoàn hảo mới tu.
43. THỰC HÀNH BUỔI TỐI
Trước khi ngủ hỏi:
Hôm nay tôi đã đòi hỏi điều gì không cần thiết?
Tôi có làm ai mệt vì yêu cầu của mình không?
Tôi có ôm việc của người khác không?
Tôi đã mất bao nhiêu thời gian vì chuyện không liên quan?
Tôi có so mình với người khác không?
Có lúc nào tôi nói được: “Như vậy là đủ” không?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 540
Nếu có:
đó là một bước tu rất thật.
44. CÂU GHI NHỚ THỨ NHẤT
Biết đủ không phải có ít; biết đủ là cái muốn có một điểm dừng.
45. CÂU GHI NHỚ THỨ HAI
Người dễ nuôi không làm người khác phải chạy theo mọi sở thích của mình.
46. CÂU GHI NHỚ THỨ BA
Có những cái khổ không phải vì đời thiếu, mà vì tâm không bao giờ chịu nói “đủ”.
47. CÂU GHI NHỚ THỨ TƯ
Một đời quá rộn ràng có thể làm mình biết hết chuyện người mà không biết chuyện tâm mình.
48. CÂU GHI NHỚ THỨ NĂM
Giản dị không làm cuộc sống nghèo đi; nhiều khi nó trả lại cho mình thời gian và sự chú ý.
49. CÂU GHI NHỚ THỨ SÁU
Không phải ai nhờ cũng phải nhận, không phải chuyện gì nghe cũng phải biết, không phải thứ gì thích cũng phải có.
50. CÂU GHI NHỚ THỨ BẢY
Ít việc không phải lười; ít việc thừa để làm trọn việc cần mới là trí.
51. CÂU GHI NHỚ THỨ TÁM
Các căn càng chạy nhiều, tâm càng khó lắng; muốn tâm yên đôi khi phải bắt đầu bằng bớt xem, bớt nghe và bớt tìm.
52. CÂU GHI NHỚ THỨ CHÍN
Người biết đủ dễ biết ơn; người chỉ nhìn cái thiếu rất dễ quên cái đang có.
53. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI
Muốn tâm từ rộng, đời sống trước hết phải bớt đòi hỏi người khác quá nhiều.
54. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
BIẾT ĐỦ – TÂM BỚT CHẠY.
DỄ NUÔI – NGƯỜI BÊN CẠNH BỚT MỆT.
ÍT RỘN RÀNG – MÌNH CÓ THỜI GIAN NHÌN TÂM.
SỐNG GIẢN DỊ – ĐỜI BỚT CỒNG KỀNH.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 541
CÁC CĂN AN TỊNH – TÂM DỄ YÊN.
CÓ TRÍ – BIẾT CÁI GÌ CẦN GIỮ, CÁI GÌ CẦN BUÔNG.
Và xin nhớ lời kinh:
“Sống cảm thấy vừa đủ, Nuôi sống thật dễ dàng, Ít có sự rộn ràng, Sống đạm bạc, giản dị. Các căn được tịnh lạc, Khôn ngoan và thận trọng, Không xông xáo gia đình.” (Buddhism Today)
Nguồn: Kinh Lòng Từ – Mettā Sutta, Kinh Tập – Sutta Nipāta, Tiểu Bộ Kinh – Khuddaka Nikāya, Phẩm Rắn, kinh thứ 8, mã tra cứu quốc tế Snp 1.8, đoạn kệ 144; bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu; nguyên bản Kinh tạng Pāli. (SuttaCentral)
55. CÂU HỎI LIVESTREAM
1. Quý vị thấy trong đời mình hiện nay cái gì đang quá nhiều: đồ vật, công việc, chuyện người khác hay mong cầu?
2. Có bao giờ mình có đủ dùng nhưng chỉ vì nhìn người khác mà tự nhiên thấy mình thiếu không?
3. Theo quý vị, “dễ nuôi” có phải là một đức tính quan trọng của người tu không?
4. Có khi nào chính những đòi hỏi của mình làm người thân rất mệt nhưng mình lại không nhận ra không?
5. Quý vị thấy mình bận vì trách nhiệm thật hay bận vì ôm quá nhiều chuyện không thuộc phần mình?
6. Có bao giờ mình biết hết chuyện trên mạng nhưng lại không biết hôm nay tâm mình đang sân hay buồn không?
7. Theo quý vị, sống giản dị có đồng nghĩa nghèo khó không?
8. Điện thoại đang giúp mình hay đang làm các căn của mình khó yên hơn?
9. Người xuất gia gần gũi Phật tử thế nào để vừa có tình đạo vừa không rơi vào bám víu và lợi dưỡng?
10. Có phải đôi khi mình nhận quá nhiều Phật sự rồi sau đó sinh bực bội vì quá tải không?
11. Theo quý vị, biết nói “việc này tôi không nhận được” có khi nào cũng là trí tuệ không?
12. Có món gì quý vị từng rất muốn, nhưng sau khi có rồi lại nhanh chóng thấy bình thường không?
13. Nếu hôm nay chỉ thực hành một chữ “đủ”, quý vị muốn đặt chữ đó vào việc gì?
14. Có chuyện người khác nào mình có thể ngừng theo dõi ngay hôm nay để tâm bớt rộn không?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 542
15. Nếu giảm được 20% những điều không cần, quý vị muốn dùng khoảng thời gian đó cho việc tu gì?
56. CÂU KẾT ĐỂ ĐỌC TRÊN LIVESTREAM
Kính thưa quý vị,
nhiều khi mình nghĩ muốn bình an thì phải:
có thêm.
Thêm một món.
Thêm một người thương.
Thêm một điều kiện.
Thêm một thành công.
Nhưng lời Phật hôm nay lại chỉ một hướng rất khác:
BỚT.
Bớt đòi.
Bớt rộn.
Bớt chạy.
Bớt ôm.
Bớt để mắt tai đi khắp nơi.
Không phải vì đời sống không đáng sống.
Mà vì nếu mang quá nhiều thứ,
mình sẽ không còn:
chỗ trống để tu.
Một người biết đủ không phải người mất chí tiến thủ.
Họ chỉ biết:
cái gì cần phát triển và cái gì không cần chạy theo.
Đời sống có thể đủ rồi.
Nhưng từ bi:
chưa đủ.
Nhẫn:
chưa đủ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 543
Chánh niệm:
chưa đủ.
Trí tuệ:
chưa đủ.
Vậy thì:
BIẾT ĐỦ VỚI HƯỞNG THỤ.
NHƯNG KHÔNG BIẾT ĐỦ VỚI VIỆC TU.
Đó là một cách sống rất đẹp.
Công thức bài hôm nay xin quý vị nhớ:
ĐỦ – DỄ – ÍT – NHẸ – TỊNH – TRÍ.
Và một công thức thật đời thường:
CẦN → ĐỦ → DỪNG.
Nếu cái gì đã đủ:
đừng cứ thêm.
Nếu chuyện gì không thuộc phần mình:
đừng cứ ôm.
Nếu thứ gì làm tâm chạy quá nhiều:
bớt lại.
Khi đời sống nhẹ hơn,
mình mới có chỗ để nghe rõ:
tâm mình đang nói gì.
Và khi nghe được tâm,
mình mới thật sự bắt đầu:
tu tâm.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 544
MỤC 021 - Bài 021 — TÂM NGHĨ GÌ NHIỀU – SẼ DẦN NGHIÊNG VỀ HƯỚNG ĐÓ 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
Đức Phật dạy:
“Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều vấn đề gì, tâm sanh khuynh hướng đối với vấn đề ấy.” (SuttaCentral)
Ngài chỉ rõ:
nếu thường suy tư về dục, tâm sẽ nghiêng về dục;
nếu thường suy tư về sân, tâm sẽ nghiêng về sân;
nếu thường suy tư về hại, tâm sẽ nghiêng về hại.
Ngược lại,
nếu thường suy tư về ly dục, tâm nghiêng về ly dục;
nếu thường suy tư về không sân, tâm nghiêng về không sân;
nếu thường suy tư về không hại, tâm nghiêng về không hại. (SuttaCentral)
2. NGUỒN KINH
Tên kinh: Kinh Song Tầm Tên Pāli: Dvedhāvitakka Sutta Thuộc: Trung Bộ Kinh – Majjhima Nikāya Số kinh: Kinh số 19 Mã tra cứu quốc tế: MN 19 Bản dịch tiếng Việt: Hòa thượng Thích Minh Châu Nguyên bản: Kinh tạng Pāli. SuttaCentral xác nhận tên bài kinh là Dvedhāvitakkasutta, mã MN 19, và bản tiếng Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu mang tên Kinh Song Tầm. (SuttaCentral)
Bài kinh kể lại chính kinh nghiệm tu tập của Đức Phật khi Ngài còn đang trên con đường giác ngộ. Ngài chia các dòng suy nghĩ thành hai nhóm: dục tầm, sân tầm, hại tầm là một nhóm; ly dục tầm, vô sân tầm, bất hại tầm là nhóm còn lại. Ngài quán sát tác hại của nhóm bất thiện và lợi ích của nhóm thiện, rồi từ bỏ nhóm bất thiện, nuôi lớn nhóm thiện. (SuttaCentral)
Nếu có người hỏi trên livestream:
“Sư cô lấy câu này ở đâu?”
có thể trả lời thật gọn:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 545
“Đây là Kinh Song Tầm – Dvedhāvitakka Sutta, Trung Bộ Kinh, kinh số 19, mã tra cứu quốc tế MN 19, bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, nguyên bản Kinh tạng Pāli.”
3. TỪ KHÓA VIỆT – PĀLI – NGHĨA
TẦM – VITAKKA – DÒNG SUY NGHĨ, Ý HƯỚNG CỦA TÂM
Tầm – vitakka trong bài kinh có thể hiểu gần là:
dòng suy nghĩ, hướng nghĩ, điều tâm đang hướng đến và lặp đi lặp lại.
Không phải mọi suy nghĩ đều giống nhau.
Có suy nghĩ làm:
tham tăng.
sân tăng.
ác ý tăng.
Có suy nghĩ làm:
tham giảm.
sân giảm.
từ tâm tăng.
Điều Đức Phật muốn mình nhìn rất rõ là:
SUY NGHĨ KHÔNG CHỈ “ĐI QUA”.
NÓ CÓ THỂ HUẤN LUYỆN TÂM THEO MỘT HƯỚNG.
DỤC TẦM – KĀMAVITAKKA – SUY NGHĨ HƯỚNG VỀ DỤC, SỰ THỎA MÃN DỤC
Dục tầm – kāmavitakka là suy nghĩ xoay quanh sự hưởng thụ và ham muốn dục.
Nói dễ hiểu:
muốn có.
muốn hưởng.
muốn giữ.
muốn thêm.
muốn chiếm.
Một cái muốn sinh.
Nếu mình tiếp tục:
nghĩ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 546
tưởng tượng.
so.
lập kế hoạch.
nuôi hình ảnh.
thì cái muốn có thể mạnh hơn.
SÂN TẦM – BYĀPĀDAVITAKKA – SUY NGHĨ ÁC Ý, OÁN GIẬN
Sân tầm – byāpādavitakka là những suy nghĩ mang ác ý, oán giận, muốn chống lại hay làm người khác khổ.
Ví dụ:
“Tôi phải nói cho họ đau.”
“Tôi muốn họ thất bại.”
“Tôi muốn họ biết tay.”
Một ý nghĩ sân nếu được nuôi lặp đi lặp lại sẽ làm tâm nghiêng thêm về sân. Đây chính là nguyên lý được Đức Phật nêu trong MN 19. (Access to Insight)
HẠI TẦM – VIHIṂSĀVITAKKA – SUY NGHĨ GÂY HẠI
Hại tầm – vihiṃsāvitakka là dòng suy nghĩ muốn làm tổn thương.
Có thể bằng:
thân.
lời.
hoặc kế hoạch.
Hại tầm đi xa hơn khó chịu thông thường.
Nó chứa:
ý muốn gây khổ.
LY DỤC TẦM – NEKKHAMMAVITAKKA – SUY NGHĨ HƯỚNG VỀ BUÔNG DỤC, XUẤT LY
Ly dục tầm – nekkhammavitakka là suy nghĩ hướng về từ bỏ sự đắm nhiễm và thoát khỏi sự sai sử của dục.
Không phải:
ghét mọi thứ.
Mà là:
THẤY CÁI MUỐN – NHƯNG KHÔNG NHẤT THIẾT PHẢI LÀM THEO.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 547
Ví dụ:
thấy món mình thích,
nhưng không cần mua.
Được khen,
nhưng không cần chạy theo thêm lời khen.
Có cơ hội hưởng,
nhưng biết đủ.
Đó là hướng ly dục.
VÔ SÂN TẦM – ABYĀPĀDAVITAKKA – SUY NGHĨ KHÔNG ÁC Ý
Vô sân tầm – abyāpādavitakka là suy nghĩ không mang ác ý.
Không có nghĩa:
mọi người đều đúng.
Mà là:
không muốn làm người khác khổ chỉ vì mình đang khó chịu.
Ví dụ:
“Việc này họ sai, nhưng tôi không cần hại họ.”
Đó là vô sân.
BẤT HẠI TẦM – AVihiṃsāVITAKKA – SUY NGHĨ KHÔNG LÀM HẠI
Bất hại tầm – avihiṃsāvitakka là tư duy không gây hại.
Có thể hiểu:
muốn xử lý vấn đề nhưng không lấy tổn thương làm mục tiêu.
Đây là một hướng tâm rất đẹp.
4. GIẢI TỪNG CỤM
“TỶ-KHEO SUY TƯ, QUÁN SÁT NHIỀU VẤN ĐỀ GÌ…”
Chữ quan trọng ở đây là:
NHIỀU.
Không phải một ý nghĩ thoáng qua đã quyết định cả con người.
Ai cũng có lúc:
một ý không đẹp sinh.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 548
Điều đáng nhìn là:
MÌNH CÓ TIẾP TỤC NGHĨ NÓ KHÔNG?
Một cơn sân lóe lên:
chưa đáng sợ bằng:
mình ngồi nuôi nó hai giờ.
Một sự ganh lóe lên:
chưa đáng sợ bằng:
ngày nào cũng vào xem người kia rồi nuôi so sánh.
Một cái muốn sinh:
chưa đáng sợ bằng:
mình cứ tưởng tượng và bồi thêm.
Điều lặp lại mới dần thành:
khuynh hướng.
“TÂM SANH KHUYNH HƯỚNG ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ ẤY”
Đây là trái tim của bài.
Tâm giống như:
con đường đất.
Đi một lần:
chưa rõ.
Đi mười lần:
thành lối.
Đi một trăm lần:
thành đường.
Suy nghĩ cũng vậy.
Ngày nào cũng:
nghĩ xấu người.
thì tâm dễ:
nghĩ xấu.
Ngày nào cũng:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 549
tìm lỗi.
thì tâm dễ:
thấy lỗi.
Ngày nào cũng:
tập biết ơn.
thì tâm dễ:
thấy điều đáng biết ơn.
Ngày nào cũng:
tập từ.
thì tâm dễ:
mềm hơn.
Đức Phật đang chỉ một quy luật rất thực tế:
TÂM ĐI ĐƯỜNG NÀO NHIỀU – ĐƯỜNG ĐÓ NGÀY CÀNG DỄ ĐI.
5. GHÉP NGHĨA TOÀN CÂU
Toàn lời kinh có thể hiểu:
Điều gì mình thường xuyên suy nghĩ, quán sát và nuôi dưỡng sẽ dần tạo thành hướng nghiêng của tâm. Nếu thường nuôi dục, sân và ý hại, tâm ngày càng dễ đi theo dục, sân và hại. Nếu thường nuôi ly dục, không sân và không hại, tâm dần nghiêng về những phẩm chất lành ấy. (SuttaCentral)
Có thể nhớ thật gọn:
NGHĨ GÌ NHIỀU → TÂM NGHIÊNG VỀ ĐÓ.
6. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ GÌ?
Kính thưa quý vị,
bài kinh này thay đổi cách mình nhìn:
suy nghĩ.
Mình thường nói:
“Nghĩ thôi mà, có làm gì đâu.”
Nhưng Đức Phật chỉ:
NGHĨ LẶP LẠI CŨNG ĐANG HUẤN LUYỆN TÂM.
Ngày nào cũng tưởng tượng trả đũa,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 550
mình đang tập:
sân.
Ngày nào cũng so người,
mình đang tập:
ganh.
Ngày nào cũng nghĩ mình bị hại,
mình đang tập:
oán.
Ngày nào cũng nhớ điều biết ơn,
mình đang tập:
tâm biết ơn.
Tâm không đứng yên.
Mỗi ngày mình đang:
dạy nó một bài.
Câu hỏi là:
HÔM NAY MÌNH ĐANG DẠY TÂM BÀI GÌ?
7. ĐỨC PHẬT KHÔNG CHỈ BẢO “ĐỪNG NGHĨ XẤU”
Trong MN 19, khi dục tầm, sân tầm hay hại tầm sinh, Đức Phật quán sát rằng chúng đưa đến khổ cho mình, khổ cho người, khổ cho cả hai, làm tổn giảm trí và không đưa đến Niết-bàn; khi thấy rõ nguy hại như vậy, Ngài từ bỏ chúng. (Access to Insight)
Đây là phương pháp rất hay:
KHÔNG CHỈ CẤM.
MÀ THẤY HẬU QUẢ.
Khi thật sự thấy:
“Nghĩ kiểu này đang đốt chính mình,”
tâm tự bớt muốn nuôi.
8. VÍ DỤ 1 – NGHĨ MÃI VỀ NGƯỜI ĐÃ LÀM MÌNH ĐAU
Người kia làm mình đau một lần.
Nhưng mỗi ngày mình:
nhớ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 551
kể.
tưởng tượng.
đối thoại trong đầu.
Mỗi lần như vậy,
vết thương được:
mở lại.
Người kia có khi:
đang ngủ rất ngon.
Mình lại đang tiếp tục:
tự đốt mình bằng ký ức.
MN 19 giúp mình hỏi:
“Dòng nghĩ này đang đưa tôi tới đâu?”
9. VÍ DỤ 2 – NGHĨ “TÔI PHẢI THẮNG”
Một cuộc tranh luận.
Ban đầu:
muốn làm rõ.
Sau đó:
muốn thắng.
Rồi ngày nào cũng nghĩ:
“Lần sau tôi phải nói câu này.”
Tâm dần nghiêng về:
hơn thua.
Một ngày nào đó,
ngay cả chuyện nhỏ mình cũng:
khó chịu nếu không thắng.
10. VÍ DỤ 3 – NGHĨ MÃI VỀ TIỀN
Tiền cần cho đời sống.
Nhưng nếu từ sáng tới tối tâm chỉ:
tính.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 552
so.
muốn.
sợ mất.
thì tâm đang được huấn luyện về:
tham và bất an.
Không phải bỏ trách nhiệm tài chính.
Mà là:
đừng để toàn bộ đời sống tâm chỉ còn:
con số.
11. VÍ DỤ 4 – NGHĨ VỀ LỜI KHEN
Hôm qua có người khen.
Tối nhớ lại.
Sáng nhớ lại.
Rồi mong:
ngày nay cũng được khen.
Nếu không:
hụt.
Một lời khen trở thành:
một cái móc.
Tâm càng nghĩ nhiều,
càng lệ thuộc.
12. VÍ DỤ 5 – NGHĨ “HỌ COI THƯỜNG TÔI”
Một người không chào.
Tâm nghĩ:
“Họ coi thường.”
Rồi nghĩ lại mười lần.
Ngày sau gặp:
tâm đã có sân trước khi họ làm gì.
Tức là:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 553
suy nghĩ hôm qua đã lập trình phản ứng hôm nay.
Đây là ví dụ rất đúng với nguyên lý MN 19.
13. VÍ DỤ 6 – MỘT NGƯỜI THƯỜNG XEM NỘI DUNG GÂY SÂN
Ngày nào cũng xem:
tranh cãi.
chửi nhau.
đấu đá.
scandal.
Tâm nói:
“Tôi chỉ xem thôi.”
Nhưng những gì mình thường xuyên đưa vào tâm cũng tạo điều kiện cho hướng nghĩ của tâm.
Nếu ngày nào cũng ăn:
đồ cay,
miệng quen cay.
Nếu ngày nào cũng nuôi:
sân,
tâm quen sân.
14. VÍ DỤ 7 – NGƯỜI HAY NGHĨ “TÔI KHỔ”
Khổ thật:
cần nhìn.
Nhưng nếu mọi chuyện đều được kể lại bằng:
“Tôi khổ nhất.”
thì tâm dần xây một căn cước:
“TÔI LÀ NGƯỜI KHỔ.”
Lúc ấy ngay cả điều tốt đến,
tâm vẫn tìm:
cái khổ.
Đó là một khuynh hướng.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 554
15. VÍ DỤ 8 – NGƯỜI LUÔN NGHĨ ĐIỀU XẤU VỀ MÌNH
“Tôi dở.”
“Tôi không làm được.”
“Tôi chẳng bằng ai.”
Nếu lặp lại mỗi ngày,
những câu ấy thành:
đường mòn tâm lý.
Không cần đổi sang tự khen giả tạo.
Chỉ cần đổi sang sự thật:
“Việc này tôi chưa làm được, nhưng tôi có thể học.”
Đó là tư duy có trí hơn.
16. VÍ DỤ 9 – TẬP NGHĨ VỀ LY DỤC
Thấy một món rất thích.
Thay vì lập tức nghĩ:
“Làm sao mua?”
thử nghĩ:
“Có nó cũng vui một lúc; không có cũng sống được.”
Đây là tập:
ly dục tầm.
Không phải ghét món đồ.
Mà bớt bị:
cái muốn sai sử.
17. VÍ DỤ 10 – TẬP NGHĨ VỀ VÔ SÂN
Người kia làm mình khó chịu.
Thay vì:
“Tôi phải trả,”
tập:
“Việc này cần xử lý, nhưng tôi không cần làm họ đau.”
Đó là:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 555
vô sân tầm.
Mình vẫn rõ.
Nhưng không độc.
18. VÍ DỤ 11 – TẬP NGHĨ VỀ BẤT HẠI
Một người sai.
Mình muốn góp ý.
Trước khi nói:
“Cách nào giúp họ hiểu mà không cần làm nhục?”
Đó là:
bất hại tầm.
Mục tiêu vẫn là:
sửa.
Nhưng bỏ:
ý muốn gây đau.
19. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ THÊM ĐIỀU GÌ?
MN 19 không dừng ở việc loại bỏ bất thiện. Đức Phật còn nói những suy nghĩ ly dục, không sân và không hại không dẫn đến khổ cho mình, người hay cả hai, làm tăng trưởng trí và hướng về Niết-bàn. Tuy nhiên, Ngài cũng nhận thấy suy nghĩ quá lâu có thể làm thân mệt và tâm bị dao động, nên Ngài làm tâm an tịnh, nhất tâm và định tĩnh. (Access to Insight)
Đây là chỗ rất sâu:
NGAY CẢ SUY NGHĨ THIỆN CŨNG KHÔNG PHẢI ĐÍCH CUỐI.
Thiện tầm giúp:
định hướng.
Nhưng rồi tâm còn phải:
lắng.
Không phải nghĩ thiện cả ngày tới kiệt sức.
Mà dùng thiện để đưa tâm:
đúng hướng,
rồi an định.
20. BA LOẠI TẦM BẤT THIỆN
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 556
Có thể nhớ thật rõ:
DỤC TẦM.
SÂN TẦM.
HẠI TẦM.
Ba nhóm này đều cần được:
nhận diện.
quán hậu quả.
và từ bỏ.
21. BA LOẠI TẦM THIỆN
Đối lại là:
LY DỤC TẦM.
VÔ SÂN TẦM.
BẤT HẠI TẦM.
Đây là ba hướng rất đẹp để nuôi.
Có thể nhớ thành:
BỚT MUỐN.
BỚT GHÉT.
BỚT LÀM ĐAU.
22. TÂM KHÔNG CẦN BỊ ĐÁNH – TÂM CẦN ĐƯỢC HUẤN LUYỆN
Có người phát hiện mình nghĩ xấu rồi:
“Sao tôi tệ vậy!”
Rồi lại sân với chính mình.
Không cần.
Đức Phật trong MN 19 dùng cách:
nhận biết – thấy nguy hại – từ bỏ – nuôi hướng khác. (SuttaCentral)
Đó là huấn luyện.
Không phải tự hành hạ.
23. MỘT Ý NGHĨ KHÔNG PHẢI LÀ CẢ CON NGƯỜI
Có sân tầm sinh:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 557
không có nghĩa:
“Tôi là người xấu.”
Chỉ là:
sân tầm đang sinh.
Nhưng nếu ngày nào cũng nuôi,
nó sẽ thành:
khuynh hướng mạnh.
Vậy đừng đồng hóa,
nhưng cũng:
đừng coi thường.
24. TẠI SAO CẦN THẤY HẬU QUẢ CỦA SUY NGHĨ?
Vì nếu chỉ nói:
“Không được nghĩ thế,”
tâm có thể phản kháng.
Nhưng nếu thấy:
“Nghĩ thế này làm tôi mất ngủ.”
“Nghĩ thế này khiến tôi nói ác.”
“Nghĩ thế này làm tôi ghét người hơn.”
thì chính trí hiểu hậu quả giúp:
buông.
25. NGHĨ MỘT CHUYỆN MƯỜI LẦN KHÔNG GIỐNG NGHĨ MỘT LẦN
Một ý sân xuất hiện:
là một việc.
Mình chủ động nhắc lại nó:
mười lần
là việc khác.
Mỗi lần lặp:
giống như tưới:
một hạt giống.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 558
Cái gì tưới:
cái đó lớn.
26. TÂM GIỐNG MỘT KHU VƯỜN
Có hạt:
tham.
Có hạt:
sân.
Có hạt:
từ.
Có hạt:
trí.
Hạt nào cũng có khả năng sinh.
Nhưng mình tưới:
hạt nào nhiều?
Nếu ngày nào cũng:
nhớ lỗi người,
tưới sân.
Nếu ngày nào cũng:
nhớ ơn,
tưới biết ơn.
Đây là một ví dụ rất dễ giảng.
27. VÍ DỤ 12 – NGHĨ MÃI “TÔI KHÔNG ĐƯỢC TÔN TRỌNG”
Một người có thể bắt đầu thấy:
mọi chuyện
qua một lăng kính:
“Ai cũng coi thường tôi.”
Một người bận:
thành coi thường.
Một người quên trả lời:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 559
thành coi thường.
Một lời góp ý:
thành coi thường.
Tâm đã nghiêng theo một hướng,
nên mọi dữ liệu đều bị:
kéo về hướng ấy.
28. VÍ DỤ 13 – NGHĨ MÃI “NGƯỜI TA THƯƠNG TÔI”
Đây cũng có thể thành chấp.
Một người đối xử tốt:
mình lập tức:
“Họ quý tôi đặc biệt.”
Rồi kỳ vọng.
Rồi sở hữu.
Khi họ thay đổi:
khổ.
Đây là lúc dục tầm và ái có thể được nuôi bằng:
tưởng tượng.
29. VÍ DỤ 14 – NGHĨ VỀ VIỆC GIÚP NGƯỜI
Nếu mỗi ngày mình nghĩ:
“Hôm nay ai cần mình giúp trong khả năng?”
tâm sẽ dễ thấy:
cơ hội thiện.
Không phải lúc nào cũng giúp được.
Nhưng tâm đã được:
huấn luyện nhìn theo hướng bất hại và lợi ích.
30. VÍ DỤ 15 – NGHĨ VỀ CÔNG ĐỨC CỦA NGƯỜI
Thay vì chỉ nhớ lỗi,
thử nhớ:
“Người này từng có điều tốt gì?”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 560
Không phải phủ nhận lỗi.
Mà là:
đừng để một lỗi nuốt:
toàn bộ con người.
Đây là cách làm tâm bớt sân.
31. ỨNG DỤNG 1 – BA CÂU HỎI KHI MỘT Ý NGHĨ LẶP LẠI
Khi thấy mình nghĩ mãi một chuyện,
hỏi:
“Ý NÀY ĐANG LÀM TÔI TỐT HƠN HAY NẶNG HƠN?”
“NÓ CÓ LÀM NGƯỜI KHÁC KHỔ KHÔNG?”
“NÓ CÓ DẪN TỚI MỘT HÀNH ĐỘNG BẤT THIỆN KHÔNG?”
Nếu câu trả lời là:
có,
đó là dấu hiệu cần:
dừng nuôi.
32. ỨNG DỤNG 2 – ĐẶT TÊN LOẠI TẦM
Khi ý nghĩ sinh,
thử gọi đúng:
Dục.
Sân.
Hại.
hoặc:
Ly dục.
Không sân.
Không hại.
Chỉ cần gọi đúng tên,
tâm đã bớt:
mù.
33. ỨNG DỤNG 3 – ĐỪNG TRANH LUẬN QUÁ LÂU VỚI Ý NGHĨ XẤU
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 561
Có lúc càng tranh:
càng nghĩ.
Thấy nó,
biết hậu quả,
chuyển đối tượng.
Đi làm việc thiện.
Đọc kinh.
Niệm Phật.
Theo dõi hơi thở.
Đi bộ.
Tâm cần:
đường mới.
34. ỨNG DỤNG 4 – KHI SÂN, KHÔNG KỂ LẠI CHUYỆN MƯỜI LẦN
Mỗi lần kể:
sân lại sống.
Nếu cần nói để:
xin lời khuyên,
nói một lần cho rõ.
Không cần:
tìm mười người để cùng giận.
Đó là cách cắt:
sân tầm.
35. ỨNG DỤNG 5 – KHI THAM, ĐỪNG TIẾP TỤC XEM
Muốn một món.
Nếu cứ:
xem ảnh.
đọc đánh giá.
so giá.
tưởng tượng sở hữu.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 562
cái muốn tăng.
Muốn bớt:
ngừng tưới.
Rất thực tế.
36. ỨNG DỤNG 6 – KHI MUỐN TRẢ ĐŨA
Đừng ngồi soạn:
mười câu trả đũa trong đầu.
Mỗi câu mình soạn:
là một lần tập:
sân.
Thay vào đó:
viết điều cần giải quyết bằng sự thật.
Rồi bỏ:
phần làm đau.
37. ỨNG DỤNG 7 – TRƯỚC KHI NGỦ
Đừng mang:
người mình ghét
lên giường mỗi tối.
Trước khi ngủ,
đổi đối tượng tâm.
Nhớ:
một điều biết ơn.
một câu kinh.
một việc thiện.
một người mình thương.
Đó là đổi:
đường mòn của tâm.
38. ỨNG DỤNG 8 – BUỔI SÁNG ĐỪNG MỞ NGAY CỬA CHO TÂM LOẠN
Mới thức:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 563
đọc tin xấu.
xem bình luận.
kiểm số.
Tâm lập tức chạy.
Nếu có thể,
dành vài phút đầu:
thở.
niệm.
đọc một đoạn Pháp.
Đây là cách:
chọn hướng nghiêng cho tâm từ đầu ngày.
39. ỨNG DỤNG 9 – TRONG LIVESTREAM
Có một bình luận tiêu cực giữa hàng trăm bình luận tốt.
Tâm rất dễ:
chỉ nhớ cái tiêu cực.
Nếu nuôi,
cả phiên live bị phủ bởi:
một câu.
Phải thấy:
tâm đang nghiêng về điều nào.
Không phủ nhận góp ý.
Nhưng cũng không cho:
một câu chiếm toàn bộ tâm.
40. ỨNG DỤNG 10 – TRONG VIỆC HỌC PHẬT
Đọc kinh xong,
chọn một ý:
nghĩ đi nghĩ lại theo hướng ứng dụng.
Ví dụ:
“Sân này làm ai khổ?”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 564
“Muốn này có cần không?”
“Câu nói này có hại không?”
Đó là dùng suy tư:
đúng hướng.
41. CÔNG THỨC THỨ NHẤT: NHẬN – XÉT – BỎ – NUÔI
NHẬN
Nhận ra ý nghĩ nào đang có.
XÉT
Nó dẫn tới đâu?
BỎ
Nếu bất thiện:
không nuôi tiếp.
NUÔI
Chọn một hướng thiện hơn.
Công thức:
NHẬN → XÉT → BỎ → NUÔI.
42. CÔNG THỨC THỨ HAI: BA BỎ – BA NUÔI
BỎ DỤC.
BỎ SÂN.
BỎ HẠI.
Nuôi:
LY DỤC.
KHÔNG SÂN.
KHÔNG HẠI.
Rất sát tinh thần MN 19.
43. CÔNG THỨC THỨ BA: TÂM ĐI ĐÂU – ĐƯỜNG MÒN Ở ĐÓ
Một câu cực dễ nhớ:
NGHĨ MỘT LẦN – LÀ MỘT DẤU CHÂN.
NGHĨ MÃI – THÀNH ĐƯỜNG.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 565
ĐI ĐƯỜNG NÀO NHIỀU – TÂM QUEN ĐƯỜNG ĐÓ.
44. CÔNG THỨC THỨ TƯ: BỚT MUỐN – BỚT GHÉT – BỚT HẠI
Ba hướng thiện của bài có thể nói thuần Việt:
BỚT MUỐN.
BỚT GHÉT.
BỚT LÀM ĐAU.
Nếu mỗi ngày ba thứ ấy giảm một chút,
đường tâm đang:
đổi.
45. BÀI THỰC HÀNH MỘT NGÀY
Hôm nay chỉ làm một việc:
BẮT MỘT DÒNG SUY NGHĨ LẶP LẠI.
Ví dụ:
“Người ấy làm tôi đau.”
Mỗi khi nó xuất hiện:
biết.
Không kể thêm.
Không tranh thêm trong đầu.
Chuyển sang:
“Tôi cần xử lý việc gì thực tế?”
Nếu không còn việc cần xử:
trở về hiện tại.
Cuối ngày xem:
mình đã tưới nó bao nhiêu lần.
46. BÀI THỰC HÀNH BẢY NGÀY
NGÀY 1 – NHÌN DỤC TẦM
Ghi lại ba cái muốn xuất hiện nhiều nhất.
NGÀY 2 – NHÌN SÂN TẦM
Xem người nào mình nghĩ tới bằng sân nhiều nhất.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 566
NGÀY 3 – NHÌN HẠI TẦM
Xem có lúc nào mình thật sự muốn làm ai đau không.
NGÀY 4 – TẬP LY DỤC
Bỏ một cái muốn không cần.
NGÀY 5 – TẬP KHÔNG SÂN
Không kể xấu một người mình khó chịu.
NGÀY 6 – TẬP KHÔNG HẠI
Nói một sự thật khó bằng cách ít gây tổn thương hơn.
NGÀY 7 – NHÌN KHUYNH HƯỚNG
Hỏi:
“Tâm tôi tuần này nghiêng về hướng nào nhiều nhất?”
47. THỰC HÀNH BUỔI SÁNG
Mỗi sáng có thể đọc:
Hôm nay tôi để ý điều tâm mình thường nghĩ.
Dục sinh, tôi biết dục.
Sân sinh, tôi biết sân.
Ý muốn làm hại sinh, tôi biết.
Tôi không tự kết án vì một ý nghĩ, nhưng tôi cũng không nuôi điều bất thiện thành đường mòn.
Tôi tập bớt muốn, bớt ghét và bớt làm đau.
48. THỰC HÀNH BUỔI TỐI
Trước khi ngủ hỏi:
Hôm nay tôi nghĩ điều gì nhiều nhất?
Điều ấy làm tâm tôi nhẹ hay nặng?
Tôi đã nuôi dục bằng cách nào?
Tôi đã nuôi sân bằng cách nào?
Tôi có tưởng tượng trả đũa ai không?
Tôi có suy nghĩ nào hướng về từ, buông và bất hại không?
Nếu cứ nghĩ kiểu hôm nay trong một năm, tâm tôi sẽ trở thành thế nào?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 567
Câu cuối rất quan trọng.
49. CÂU GHI NHỚ THỨ NHẤT
Một ý nghĩ thoáng qua chưa phải tính cách; một ý nghĩ được nuôi hằng ngày có thể trở thành khuynh hướng.
50. CÂU GHI NHỚ THỨ HAI
Đừng chỉ hỏi mình đang nghĩ gì; hãy hỏi mình đang tập cho tâm trở thành người thế nào.
51. CÂU GHI NHỚ THỨ BA
Sân được kể lại nhiều lần không còn chỉ là ký ức; nó đang được luyện thành thói quen.
52. CÂU GHI NHỚ THỨ TƯ
Cái muốn càng được tưởng tượng, nó càng dễ mang dáng vẻ “tôi phải có”.
53. CÂU GHI NHỚ THỨ NĂM
Muốn đổi tâm, đừng chỉ cố đổi hành động cuối; hãy nhìn dòng suy nghĩ đang chuẩn bị cho hành động ấy.
54. CÂU GHI NHỚ THỨ SÁU
Không phải suy nghĩ nào xuất hiện cũng cần được mời ở lại.
55. CÂU GHI NHỚ THỨ BẢY
Tâm giống con đường: chân đi nhiều ở đâu, lối mòn hình thành ở đó.
56. CÂU GHI NHỚ THỨ TÁM
Nếu ngày nào cũng nghĩ người khác xấu, tâm mình chưa chắc làm họ xấu hơn, nhưng chắc chắn làm tâm mình nặng hơn.
57. CÂU GHI NHỚ THỨ CHÍN
Ly dục không phải ghét cuộc đời; ly dục là không để mọi cái muốn biến thành mệnh lệnh.
58. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI
Không sân không phải không thấy sai; không sân là thấy sai mà không dùng ác ý để xử lý.
59. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI MỘT
Bất hại không làm mình yếu; nó giúp mình tìm cách giải quyết mà không cần biến tổn thương thành mục tiêu.
60. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
TÂM NGHĨ GÌ NHIỀU – TÂM SẼ DẦN NGHIÊNG VỀ ĐÓ.
NGHĨ DỤC NHIỀU – DỤC MẠNH.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 568
NGHĨ SÂN NHIỀU – SÂN MẠNH.
NGHĨ HẠI NHIỀU – Ý HẠI MẠNH.
TẬP LY DỤC – TÂM BỚT BỊ MUỐN SAI SỬ.
TẬP KHÔNG SÂN – TÂM BỚT ĐỘC.
TẬP KHÔNG HẠI – CÁCH SỐNG BỚT GÂY KHỔ.
Và xin nhớ lời Phật:
“Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều vấn đề gì, tâm sanh khuynh hướng đối với vấn đề ấy.” (SuttaCentral)
Nguồn: Kinh Song Tầm – Dvedhāvitakka Sutta, Trung Bộ Kinh – Majjhima Nikāya, kinh số 19, mã tra cứu quốc tế MN 19; bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu; nguyên bản Kinh tạng Pāli. (SuttaCentral)
61. CÂU HỎI LIVESTREAM
1. Quý vị thử nhìn lại xem: từ sáng đến giờ tâm mình nghĩ về điều gì nhiều nhất?
2. Có một người nào chỉ cần nhớ tới là tâm quý vị lập tức nóng không?
3. Có cái muốn nào mình đã nghĩ về nó nhiều đến mức bây giờ cảm thấy “không có thì không chịu được” không?
4. Theo quý vị, một ý nghĩ xấu thoáng qua và việc cố tình ngồi nuôi ý nghĩ ấy có giống nhau không?
5. Có bao giờ mình kể một chuyện bị tổn thương cho rất nhiều người rồi thấy sân càng lúc càng lớn không?
6. Nếu cứ nghĩ một kiểu trong một năm, quý vị nghĩ tâm sẽ thành thói quen gì?
7. Theo quý vị, tại sao Đức Phật lại chia rõ dục tầm, sân tầm, hại tầm thành một nhóm? (SuttaCentral)
8. Ly dục có phải bỏ hết cuộc sống không, hay là bớt bị cái muốn điều khiển?
9. Có thể không đồng ý với một người nhưng vẫn giữ vô sân tầm được không?
10. Có khi nào mình nói một câu “đúng sự thật” nhưng thật ra mục đích là làm người khác đau không?
11. Theo quý vị, dòng suy nghĩ nào nguy hiểm hơn: tham, sân hay muốn làm hại?
12. Có một suy nghĩ lành nào quý vị muốn tập lặp lại mỗi ngày để tạo một đường mòn mới cho tâm?
13. Nếu mỗi sáng mình bắt đầu bằng vài phút Pháp thay vì bình luận và tin tức, quý vị nghĩ tâm cả ngày có khác không?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 569
14. Khi một ý sân xuất hiện, quý vị thường dập sớm hay để nó thành cả câu chuyện dài trong đầu?
15. Nếu hôm nay chỉ nhớ một câu, quý vị có thể nhớ: “Tâm nghĩ gì nhiều, tâm sẽ nghiêng về đó” không?
62. CÂU KẾT ĐỂ ĐỌC TRÊN LIVESTREAM
Kính thưa quý vị,
mỗi ngày mình nghĩ hàng trăm chuyện.
Nhiều lúc mình tưởng:
nghĩ thì có sao đâu.
Nhưng Kinh Song Tầm chỉ một điều rất đáng sợ và cũng rất đáng mừng:
TÂM CÓ THỂ ĐƯỢC HUẤN LUYỆN BẰNG CHÍNH NHỮNG GÌ MÌNH THƯỜNG NGHĨ.
Đáng sợ ở chỗ:
nếu ngày nào cũng nuôi sân,
tâm quen sân.
Ngày nào cũng so,
tâm quen ganh.
Ngày nào cũng tưởng tượng hưởng thụ,
tâm quen chạy theo dục.
Nhưng đáng mừng ở chỗ:
mình cũng có thể huấn luyện theo hướng ngược lại.
Tập:
bớt muốn.
Tập:
không ác ý.
Tập:
không làm hại.
Tập:
biết ơn.
Tập:
thấy lỗi mình.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 570
Tập:
nhìn người bằng một tâm mềm hơn.
Mỗi lần như vậy,
mình đang đặt:
một dấu chân mới.
Một dấu chân chưa thành đường.
Nhưng đi đều,
đường sẽ hình thành.
Cho nên công thức bài hôm nay xin quý vị nhớ:
NHẬN → XÉT → BỎ → NUÔI.
Nhận ra dòng nghĩ.
Xét xem nó đưa tới đâu.
Bất thiện:
bỏ, không tiếp tục tưới.
Thiện:
nuôi đúng mức.
Và một công thức nữa thật dễ:
BỚT MUỐN – BỚT GHÉT – BỚT LÀM ĐAU.
Nếu ba điều ấy ngày một giảm,
thì mình có thể biết:
tâm đang đổi đường.
Và đây là câu rất đáng mang theo cả ngày:
“NẾU TÔI CỨ NGHĨ NHƯ THẾ NÀY TRONG MỘT NĂM, TÂM TÔI SẼ TRỞ THÀNH THẾ NÀO?”
Chỉ cần hỏi thật câu đó,
mình sẽ bắt đầu biết:
ý nghĩ nào đáng giữ,
và ý nghĩ nào nên:
đặt xuống ngay từ hôm nay.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 571
MỤC 022 - Bài 022 — NĂM ĐIỀU PHẢI THƯỜNG XUYÊN QUÁN SÁT – ĐỂ BỚT KIÊU, BỚT CHẤP, BỚT PHÓNG DẬT 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
Đức Phật dạy có năm điều mà người nam hay người nữ, người tại gia hay người xuất gia, cần thường xuyên quán sát:
“Ta phải bị già, không thoát khỏi già. Ta phải bị bệnh, không thoát khỏi bệnh. Ta phải bị chết, không thoát khỏi chết. Tất cả pháp khả ái, khả hỷ đối với ta sẽ phải đổi khác, phải biến diệt. Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp; nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm, thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy.” (SuttaCentral)
2. NGUỒN KINH
Tên kinh tiếng Việt: Kinh Sự Kiện Cần Phải Quan Sát Tên Pāli: thường được biết với tên Upajjhaṭṭhana Sutta Thuộc: Tăng Chi Bộ Kinh – Aṅguttara Nikāya Chương: Năm Pháp Số kinh: 57 Mã tra cứu quốc tế: AN 5.57 Bản dịch tiếng Việt: Hòa thượng Thích Minh Châu Nguyên bản: Kinh tạng Pāli
Bản tiếng Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu trên SuttaCentral ghi rõ AN 5.57 – “Sự Kiện Cần Phải Quan Sát” và nêu đủ năm điều trên. Kinh còn giải thích vì sao phải quán sát chúng: để làm giảm say đắm tuổi trẻ, sức khỏe, đời sống, sự tham đắm đối với những gì khả ái và để khiến người tu cẩn trọng hơn với nghiệp của chính mình. (SuttaCentral)
Nếu có người hỏi trên livestream:
“Kinh này ở đâu?”
có thể trả lời gọn:
“Tăng Chi Bộ Kinh, Chương Năm Pháp, Kinh Sự Kiện Cần Phải Quan Sát, số 57, mã quốc tế AN 5.57, bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, nguyên bản Kinh tạng Pāli.”
3. TỪ KHÓA VIỆT – PĀLI – NGHĨA
GIÀ – JARĀ – SỰ GIÀ, SUY LÃO
Già – jarā là sự biến đổi của thân theo thời gian.
Tóc đổi.
Da đổi.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 572
Mắt đổi.
Sức đổi.
Trí nhớ có thể đổi.
Thân không còn như trước.
Điều quan trọng là:
GIÀ KHÔNG PHẢI CHUYỆN CHỈ CỦA NGƯỜI KHÁC.
Khi còn trẻ,
mình thường nhìn người già như:
một nhóm khác.
Nhưng lời Phật kéo sự thật về chính mình:
“TA PHẢI BỊ GIÀ.”
Không nói:
“Người ta già.”
Mà:
“Ta già.”
Đây là quán chiếu trực tiếp.
BỆNH – BYĀDHI – ĐAU ỐM, BỆNH HOẠN
Bệnh – byādhi là tình trạng thân không còn vận hành thuận như mình muốn.
Hôm nay khỏe,
không có nghĩa:
mai chắc chắn khỏe.
Đức Phật dạy quán:
“TA PHẢI BỊ BỆNH, KHÔNG THOÁT KHỎI BỆNH.”
Không phải để:
sợ bệnh.
Mà để:
bớt say sức khỏe.
Khi khỏe,
mình rất dễ nghĩ:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 573
“Thân này còn mạnh lâu.”
Quán bệnh nhắc:
hãy dùng lúc khỏe cho điều có ích.
CHẾT – MARAṆA – SỰ CHẤM DỨT ĐỜI SỐNG
Chết – maraṇa là điều không ai tránh được.
Kinh không bảo:
nghĩ về chết để buồn.
Mà:
NHỚ CHẾT ĐỂ SỐNG TỈNH.
Nếu biết thời gian hữu hạn,
mình sẽ bớt:
trì hoãn.
hận quá lâu.
tranh những chuyện nhỏ quá lâu.
sống như thể mình còn vô tận ngày mai.
KHẢ ÁI, KHẢ HỶ – PIYA, MANĀPA – ĐIỀU MÌNH YÊU THÍCH, VỪA Ý
Những gì mình yêu:
người thân.
tài sản.
sức khỏe.
danh.
chỗ ở.
công việc.
thói quen.
đều có thể thay đổi.
Lời kinh nói:
“TẤT CẢ PHÁP KHẢ ÁI, KHẢ HỶ ĐỐI VỚI TA SẼ PHẢI ĐỔI KHÁC, PHẢI BIẾN DIỆT.” (
SuttaCentral
)
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 574
Đây là một câu rất mạnh để chữa:
chấp.
NGHIỆP – KAMMA – HÀNH ĐỘNG CÓ CHỦ Ý
Nghiệp – kamma trong Phật pháp liên hệ trước hết với hành động có chủ ý.
Mình làm gì,
nói gì,
nuôi ý gì,
đều đang tạo chiều hướng và hậu quả.
Kinh dạy:
“Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp.” (SuttaCentral)
Nói thật dễ hiểu:
NGƯỜI KHÁC CÓ THỂ ẢNH HƯỞNG MÌNH.
NHƯNG NGHIỆP MÌNH LÀM – MÌNH PHẢI CHỊU TRÁCH NHIỆM.
CHỦ NHÂN CỦA NGHIỆP – KAMMASSAKA – NGƯỜI CÓ NGHIỆP CỦA CHÍNH MÌNH
Kammassaka có nghĩa gần là:
có nghiệp là tài sản của mình, là chủ nhân của nghiệp mình.
Không ai có thể nói:
“Tôi làm xấu hoàn toàn vì người kia.”
Người kia có thể gây duyên.
Nhưng hành động mình chọn vẫn có:
phần trách nhiệm của mình.
THỪA TỰ NGHIỆP – KAMMADĀYĀDA – NGƯỜI THỪA HƯỞNG NGHIỆP MÌNH LÀM
Thừa tự nghiệp nghĩa là:
mình sẽ nhận quả của những hành động có chủ ý mình tạo.
Không phải:
người khác tu thay rồi mình hưởng hết.
Không phải:
người khác làm ác rồi mình chịu thay toàn bộ.
Mỗi người có:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 575
dòng trách nhiệm nghiệp riêng.
4. GIẢI TỪNG CỤM
“TA PHẢI BỊ GIÀ, KHÔNG THOÁT KHỎI GIÀ”
Câu này chữa một loại:
say tuổi trẻ.
Khi trẻ,
mình rất dễ:
chê người già chậm.
khó chịu khi người già nhớ kém.
thấy mình còn rất nhiều thời gian.
Nhưng nếu mỗi ngày nhớ:
“Một ngày tôi cũng già,”
tâm sẽ khác.
Mình bớt khinh.
Bớt vội.
Bớt coi thân trẻ là:
đương nhiên.
“TA PHẢI BỊ BỆNH, KHÔNG THOÁT KHỎI BỆNH”
Câu này chữa:
say sức khỏe.
Người khỏe dễ nghĩ:
mình làm gì cũng được.
Thức khuya.
ép thân.
ăn uống bất cẩn.
không nghỉ.
Nhưng thân là:
hữu hạn.
Quán bệnh không phải để ám ảnh bệnh.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 576
Mà để:
tôn trọng thân hơn.
“TA PHẢI BỊ CHẾT, KHÔNG THOÁT KHỎI CHẾT”
Đây là câu khiến mình thấy:
THỜI GIAN QUÝ.
Nếu biết mình sẽ chết,
có đáng để:
giận một người mười năm?
Có đáng để:
vì một lời chê mà mất cả tuần?
Có đáng để:
cứ chờ “khi nào rảnh mới tu”?
Quán chết đúng không làm đời mất ý nghĩa.
Nó làm:
điều quan trọng hiện rõ hơn.
“TẤT CẢ PHÁP KHẢ ÁI, KHẢ HỶ ĐỐI VỚI TA SẼ PHẢI ĐỔI KHÁC, PHẢI BIẾN DIỆT”
Đây là câu rất thật.
Mình thương ai:
người ấy cũng vô thường.
Có tài sản:
tài sản cũng vô thường.
Có sức khỏe:
sức khỏe cũng vô thường.
Có danh:
danh cũng vô thường.
Có một nơi ở:
nơi ấy cũng có thể đổi.
Điều này không dạy:
đừng thương.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 577
Mà dạy:
THƯƠNG NHƯNG BIẾT VÔ THƯỜNG.
“TA LÀ CHỦ NHÂN CỦA NGHIỆP”
Đây là phần đưa trách nhiệm:
trở về mình.
Không phải:
“Ai làm tôi giận thì người ấy chịu hết.”
Không.
Họ có nghiệp của lời họ.
Mình có nghiệp của:
cách mình đáp.
Người kia nói xấu:
là phần họ.
Mình nói xấu lại:
là phần mình.
Đây là một ranh giới rất rõ.
“LÀ THỪA TỰ CỦA NGHIỆP”
Hành động không xong là:
mất hết.
Nó để lại:
thói quen.
hậu quả.
ký ức.
quan hệ.
khuynh hướng tâm.
Một lần nói dối có thể dẫn tới:
lần sau dễ nói dối hơn.
Một lần nhẫn có thể dẫn tới:
lần sau dễ dừng hơn.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 578
Mỗi ngày mình đang:
thừa tự cái mình tập.
“NGHIỆP LÀ THAI TẠNG”
Hình ảnh này rất sâu.
Có thể hiểu gần:
nghiệp là nơi phát sinh những quả tương ứng.
Một hạt giống được gieo,
có điều kiện:
nảy.
Một hành động có chủ ý,
có điều kiện:
trổ quả.
“NGHIỆP LÀ QUYẾN THUỘC”
Người thân có thể:
đi.
Bạn có thể:
đi.
Danh có thể:
mất.
Nhưng nghiệp mình tạo:
đi cùng dòng đời mình theo cách kinh mô tả.
Đây là lý do phải:
cẩn trọng với việc làm.
“NGHIỆP LÀ ĐIỂM TỰA”
Kinh nhấn mạnh:
đừng sống như thể:
không có hậu quả.
Hành động thiện:
có giá trị.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 579
Hành động ác:
có hậu quả.
Như vậy người học Phật không sống bằng:
may rủi đơn thuần.
Mà sống có:
trách nhiệm đạo đức.
5. GHÉP NGHĨA TOÀN BÀI
Năm điều có thể ghép thật dễ:
Thân này sẽ già, có thể bệnh và chắc chắn đi đến chết. Những gì mình yêu quý đều không thể giữ mãi và sẽ đổi khác theo duyên. Giữa những biến đổi ấy, điều mình phải rất cẩn trọng là nghiệp mình tạo, vì chính mình là người thừa tự những hành động thiện hay ác do mình làm. (SuttaCentral)
Công thức:
GIÀ – BỆNH – CHẾT – LY BIỆT – NGHIỆP.
6. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ GÌ?
Kính thưa quý vị,
năm câu này không phải năm câu:
bi quan.
Ngược lại,
đó là năm câu giúp mình:
TỈNH.
Tỉnh khỏi:
say tuổi trẻ.
say sức khỏe.
say đời sống.
say người mình thương.
và sự vô trách nhiệm với nghiệp.
Nếu thật sự nhớ năm điều,
rất nhiều cái tôi sẽ:
hạ xuống.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 580
7. QUÁN GIÀ ĐỂ BỚT KIÊU
Thấy người già:
đi chậm.
nói chậm.
nhớ chậm.
Nếu không quán,
mình dễ:
bực.
Nếu nhớ:
“Tôi cũng sẽ già,”
tâm mềm hơn.
Đây là ứng dụng rất thực tế.
8. QUÁN BỆNH ĐỂ BỚT PHUNG PHÍ SỨC KHỎE
Khi khỏe,
đừng nghĩ:
thân luôn phải khỏe.
Dùng sức khỏe để:
tu.
làm thiện.
chăm người.
hoàn thành trách nhiệm.
Đừng chỉ dùng:
sức khỏe để chạy theo ham muốn.
9. QUÁN CHẾT ĐỂ BỚT TRÌ HOÃN
Có một lời xin lỗi:
nói khi còn có thể.
Có một cuộc gọi cho cha mẹ:
gọi khi còn có thể.
Có một điều thiện:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 581
làm khi còn có thể.
Có một pháp cần học:
học khi còn có thể.
Đây là cách quán chết biến thành:
sống đẹp hơn.
10. QUÁN LY BIỆT ĐỂ THƯƠNG ĐÚNG
Biết người mình thương:
không ở với mình mãi.
Thì hôm nay:
bớt làm đau họ.
Bớt kiểm soát.
Bớt coi họ là:
của mình vĩnh viễn.
Thương sâu,
nhưng:
bớt sở hữu.
11. QUÁN NGHIỆP ĐỂ BỚT ĐỔ LỖI
Người kia làm mình giận.
Có thể đúng.
Nhưng mình có quyền chọn:
nói ác
hay:
không nói ác.
Mình có quyền chọn:
trả thù
hay:
không trả thù.
Quán nghiệp đưa câu hỏi từ:
“Họ đã làm gì với tôi?”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 582
sang:
“BÂY GIỜ TÔI SẼ LÀM NGHIỆP GÌ?”
Đây là một chuyển hướng rất mạnh.
12. VÍ DỤ 1 – THẤY MẸ GIÀ ĐI CHẬM
Mình vội.
Mẹ đi chậm.
Tâm định nói:
“Mẹ nhanh lên.”
Nếu nhớ:
“Một ngày tôi cũng như vậy,”
giọng tự nhiên mềm hơn.
Đó là quán già đi vào:
lời nói.
13. VÍ DỤ 2 – ĐANG KHỎE
Khỏe nên:
làm việc quá sức.
ngủ quá ít.
bỏ chăm sóc thân.
Quán bệnh nhắc:
sức khỏe là điều kiện quý, không phải tài sản chắc chắn.
14. VÍ DỤ 3 – GIẬN CHA MẸ
Đang giận.
Muốn vài tháng không gọi.
Nhưng nếu quán chết:
“Nếu không còn cơ hội nói chuyện thì sao?”
Không phải vì vậy mà bỏ hết ranh giới.
Nhưng mình sẽ cân nhắc:
cơn giận này có đáng kéo dài đến vậy không?
15. VÍ DỤ 4 – CON CÁI
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 583
Mình thương con.
Nhưng quán:
“Con không phải thứ tôi giữ mãi.”
Từ đó bớt:
kiểm soát.
Vẫn dạy.
Vẫn có trách nhiệm.
Nhưng cho con:
không gian trưởng thành.
16. VÍ DỤ 5 – TÀI SẢN
Có một món mình rất quý.
Bị hư.
Tâm đau.
Quán:
“Pháp khả ái sẽ đổi khác.”
Không làm đồ vật tự lành.
Nhưng giúp tâm:
bớt chống lại điều đã xảy ra.
17. VÍ DỤ 6 – DANH TIẾNG
Hôm nay được biết.
Ngày mai người khác nổi hơn.
Nếu lấy danh làm:
căn cước,
mình khổ.
Quán biến diệt giúp:
làm việc đúng,
không quá nắm:
sự chú ý của người khác.
18. VÍ DỤ 7 – BỊ NÓI XẤU
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 584
Người kia tạo:
nghiệp lời.
Mình định trả:
nghiệp lời mới.
Quán:
“Tôi là thừa tự nghiệp của tôi.”
Có thể giúp mình dừng.
Đây là một ứng dụng rất mạnh của AN 5.57.
19. VÍ DỤ 8 – KIẾM LỢI BẰNG GIAN DỐI
Người khác nói:
“Ai cũng làm.”
Nhưng quán nghiệp hỏi:
“AI SẼ THỪA TỰ NGHIỆP NÀY?”
Không phải:
“ai cũng.”
Mà:
mình.
20. VÍ DỤ 9 – MỘT LỜI NÓI LÚC SÂN
Nói xong:
một phút.
Hậu quả:
một năm.
Quán nghiệp giúp mình nhớ:
lời cũng là hành động có hậu quả.
21. VÍ DỤ 10 – LÀM THIỆN KHÔNG AI BIẾT
Không ai khen.
Nhưng quán:
“Tôi là thừa tự nghiệp của mình.”
Mình không cần mọi thiện pháp phải:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 585
có khán giả.
Đây là chỗ rất đẹp.
22. NĂM ĐIỀU NÀY KHÔNG CHỈ DÀNH CHO NGƯỜI XUẤT GIA
Kinh nói rõ:
nữ nhân hay nam nhân, tại gia hay xuất gia đều cần thường xuyên quán sát những điều này. (SuttaCentral)
Đây là điểm rất quan trọng.
Không phải:
chỉ người già.
Không phải:
chỉ người bệnh.
Không phải:
chỉ nhà tu.
Mà:
TẤT CẢ MÌNH.
23. TẠI SAO PHẢI “THƯỜNG XUYÊN” QUÁN?
Bởi mình:
rất dễ quên.
Thấy một đám tang:
nhớ vô thường.
Ba ngày sau:
lại sống như bất tử.
Bệnh một lần:
biết sức khỏe quý.
Khỏe lại:
quên.
Vì vậy phải:
nhắc đều.
24. QUÁN GIÀ KHÔNG PHẢI ĐỂ SỢ GIÀ
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 586
Nếu quán xong:
hoảng,
thì chưa đúng hướng.
Mục đích là:
bớt say trẻ.
Bớt khinh già.
Sống có trách nhiệm hơn với:
thời gian.
25. QUÁN BỆNH KHÔNG PHẢI TỰ CHẨN ĐOÁN BỆNH
Không phải mỗi ngày ngồi lo:
“Tôi sắp bệnh gì?”
Mà là biết:
thân có tính:
bệnh.
Khi có dấu hiệu cần khám:
khám.
Khi khỏe:
biết ơn.
26. QUÁN CHẾT KHÔNG PHẢI MẤT HY VỌNG
Ngược lại.
Khi biết thời gian hữu hạn,
một ngày bình thường:
quý hơn.
Một bữa cơm:
quý hơn.
Một người còn bên mình:
quý hơn.
Pháp còn học được:
quý hơn.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 587
27. QUÁN LY BIỆT KHÔNG PHẢI KHÔNG GẮN BÓ
Mình vẫn thương.
Nhưng không:
đòi vĩnh viễn.
Đây là tình thương có:
trí vô thường.
28. QUÁN NGHIỆP KHÔNG PHẢI ĐỔ MỌI KHỔ CHO “NGHIỆP”
Điều này phải nói cẩn thận.
Không nên gặp bất cứ vấn đề gì cũng nói:
“Nghiệp đó.”
Kinh ở đây nhấn mạnh trách nhiệm:
phàm nghiệp nào ta làm, thiện hay ác, ta thừa tự nghiệp ấy. (SuttaCentral)
Nó không cho phép mình:
bỏ qua nguyên nhân y khoa,
pháp lý,
xã hội,
hay trách nhiệm thực tế.
Quán nghiệp là:
cẩn trọng với hành động của mình.
29. CÔNG THỨC THỨ NHẤT: GIÀ – BỆNH – CHẾT – LY – NGHIỆP
GIÀ
Thân sẽ già.
BỆNH
Thân có thể bệnh.
CHẾT
Đời sẽ kết thúc.
LY
Điều thương sẽ đổi khác.
NGHIỆP
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 588
Việc mình làm có hậu quả.
Công thức:
GIÀ → BỆNH → CHẾT → LY → NGHIỆP.
30. CÔNG THỨC THỨ HAI: NHỚ VÔ THƯỜNG – SỐNG TỬ TẾ
Quán không phải chỉ để:
biết.
Mà phải đi ra:
NHỚ GIÀ → BỚT KHINH.
NHỚ BỆNH → BIẾT QUÝ SỨC KHỎE.
NHỚ CHẾT → BỚT TRÌ HOÃN.
NHỚ LY BIỆT → THƯƠNG ĐÚNG.
NHỚ NGHIỆP → CẨN TRỌNG THÂN, KHẨU, Ý.
31. CÔNG THỨC THỨ BA: TRƯỚC KHI LÀM – HỎI NGHIỆP
Trước một hành động mạnh,
hỏi:
“VIỆC NÀY LÀ NGHIỆP GÌ?”
Nếu nói câu này:
hậu quả gì?
Nếu làm việc này:
ai khổ?
Nếu nuôi ý này:
tâm thành gì?
Một câu hỏi rất đơn giản,
nhưng rất mạnh.
32. CÔNG THỨC THỨ TƯ: THƯƠNG – NHƯNG BIẾT SẼ LY
Một người mình rất thương.
Có thể nhắc:
“Duyên này quý vì nó không ở mãi.”
Không phải để buồn.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 589
Mà để:
bớt phí thời gian làm nhau đau.
33. ỨNG DỤNG 1 – MỖI SÁNG ĐỌC NĂM CÂU
Có thể đọc:
Tôi phải già.
Tôi có thể bệnh.
Tôi sẽ chết.
Điều tôi thương sẽ đổi khác.
Tôi là thừa tự nghiệp mình làm.
Chậm.
Không cần đọc nhiều.
34. ỨNG DỤNG 2 – KHI SÂN
Nhắc:
“Tôi là thừa tự nghiệp tôi sắp làm.”
Rồi:
dừng.
Nếu còn cần xử lý:
xử lý sau khi tâm sáng hơn.
35. ỨNG DỤNG 3 – KHI ĐANG QUÁ BÁM MỘT NGƯỜI
Nhắc:
“Người này là duyên quý, không phải tài sản vĩnh viễn.”
Thương.
Nhưng bớt:
sở hữu.
36. ỨNG DỤNG 4 – KHI ĐƯỢC KHEN
Nhớ:
lời khen cũng:
đổi.
Đừng xây cả cái tôi trên:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 590
một lời.
37. ỨNG DỤNG 5 – KHI BỊ CHÊ
Lời chê cũng:
đổi.
Kiểm đúng sai.
Không biến một câu thành:
bản án cả đời.
38. ỨNG DỤNG 6 – KHI ĐANG KHỎE
Dùng sức khỏe cho:
việc quan trọng.
Không đợi:
bệnh mới muốn tu.
39. ỨNG DỤNG 7 – KHI CHA MẸ CÒN
Nhớ:
ly biệt là điều chắc.
Nếu có việc có thể làm:
làm.
Đừng đợi:
“mai.”
40. ỨNG DỤNG 8 – KHI CÓ MÂU THUẪN
Hỏi:
“Nếu một trong hai không còn ngày mai, chuyện này còn đáng nói kiểu này không?”
Không phải mọi mâu thuẫn đều bỏ.
Nhưng cách nói:
có thể đổi.
41. BÀI THỰC HÀNH MỘT NGÀY
Hôm nay chọn đúng một câu:
“TÔI LÀ THỪA TỰ NGHIỆP MÌNH LÀM.”
Mỗi khi:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 591
sắp nói câu nặng,
sắp làm điều tham,
sắp trả đũa,
nhắc câu ấy.
Xem:
có thay đổi gì không.
42. BÀI THỰC HÀNH BẢY NGÀY
NGÀY 1 – QUÁN GIÀ
Nhìn một thay đổi của thân với tâm bình tĩnh.
NGÀY 2 – QUÁN BỆNH
Biết ơn một chức năng cơ thể đang còn tốt.
NGÀY 3 – QUÁN CHẾT
Làm một việc thiện đang trì hoãn.
NGÀY 4 – QUÁN LY BIỆT
Nói một lời tử tế với người mình thương.
NGÀY 5 – QUÁN NGHIỆP THÂN
Không làm một việc biết là sai.
NGÀY 6 – QUÁN NGHIỆP KHẨU
Dừng một câu ác.
NGÀY 7 – QUÁN NGHIỆP Ý
Nhìn một ý hận đang được nuôi và thử không tưới thêm.
43. THỰC HÀNH BUỔI SÁNG
Tôi không thoát khỏi già.
Tôi không thoát khỏi bệnh.
Tôi không thoát khỏi chết.
Điều tôi yêu quý sẽ đổi khác.
Tôi là chủ nhân và thừa tự nghiệp của mình.
Vì vậy hôm nay tôi cố sống cẩn trọng hơn một chút.
44. THỰC HÀNH BUỔI TỐI
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 592
Trước khi ngủ hỏi:
Hôm nay tôi có sống như thể mình còn vô hạn thời gian không?
Tôi có phung phí sức khỏe không?
Tôi có làm người mình thương đau vì nghĩ họ luôn còn đó không?
Tôi đã tạo nghiệp lời nào khiến mình hối tiếc?
Tôi đã làm thiện gì dù không ai biết?
Nếu ngày hôm nay không trở lại, điều gì tôi thấy đáng giá nhất?
45. CÂU GHI NHỚ THỨ NHẤT
Nhớ mình sẽ già giúp mình bớt khinh người đang già.
46. CÂU GHI NHỚ THỨ HAI
Nhớ mình có thể bệnh giúp mình biết quý thân khi còn khỏe.
47. CÂU GHI NHỚ THỨ BA
Nhớ mình sẽ chết không làm đời tối đi; nó làm điều đáng sống hiện rõ hơn.
48. CÂU GHI NHỚ THỨ TƯ
Biết sẽ ly biệt không làm mình thương ít hơn; nó giúp mình bớt phí thời gian làm người mình thương đau.
49. CÂU GHI NHỚ THỨ NĂM
Người khác có thể tạo duyên cho cơn sân; nhưng lời mình nói trong cơn sân vẫn là phần nghiệp của mình.
50. CÂU GHI NHỚ THỨ SÁU
Một thiện pháp không ai thấy vẫn không mất giá trị chỉ vì không có người vỗ tay.
51. CÂU GHI NHỚ THỨ BẢY
Nếu mỗi quyết định đều nhớ “tôi sẽ thừa tự việc này”, mình sẽ bớt sống tùy tiện.
52. CÂU GHI NHỚ THỨ TÁM
Vô thường không bảo mình đừng yêu; vô thường dạy mình yêu mà đừng tưởng giữ được mãi.
53. CÂU GHI NHỚ THỨ CHÍN
Quán nghiệp không phải để sợ; quán nghiệp để sống có trách nhiệm.
54. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI
Năm điều phải quán không lấy đi niềm vui; chúng lấy bớt sự mê say làm mình quên sự thật.
55. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 593
TA SẼ GIÀ.
TA CÓ THỂ BỆNH.
TA SẼ CHẾT.
NHỮNG GÌ TA YÊU SẼ ĐỔI KHÁC.
TA SẼ THỪA TỰ NGHIỆP MÌNH LÀM.
Nếu nhớ được năm điều này,
mình sẽ bớt:
kiêu.
bớt:
phóng dật.
bớt:
sở hữu.
bớt:
đổ lỗi.
và sống:
cẩn trọng hơn.
Và xin nhớ lời Phật:
“Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm, thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy.” (SuttaCentral)
Nguồn: Kinh Sự Kiện Cần Phải Quan Sát – Upajjhaṭṭhana Sutta, Tăng Chi Bộ Kinh – Aṅguttara Nikāya, Chương Năm Pháp, kinh số 57, mã tra cứu quốc tế AN 5.57; bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu; nguyên bản Kinh tạng Pāli. (SuttaCentral)
56. CÂU HỎI LIVESTREAM
1. Trong năm điều này, điều nào quý vị thấy khó quán nhất: già, bệnh, chết, ly biệt hay nghiệp?
2. Có bao giờ mình nhìn người già chậm chạp mà quên rằng chính mình cũng đang đi về hướng ấy không?
3. Khi khỏe, quý vị có đang dùng sức khỏe cho điều thật sự quan trọng không?
4. Nếu biết đời hữu hạn, có mối giận nào mình thấy không đáng giữ lâu như vậy nữa không?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 594
5. Có người nào mình thương nhưng vì nghĩ họ luôn còn đó nên mình thường nói những câu rất nặng không?
6. Theo quý vị, biết mọi thứ sẽ đổi khác có làm tình thương nhỏ đi hay làm mình biết quý hơn?
7. Khi bị người khác làm tổn thương, quý vị có từng nhắc: “Họ có nghiệp của họ, tôi có nghiệp của tôi” chưa?
8. Có một lời nào quý vị từng nói trong sân rồi sau đó thấy rõ mình đang thừa tự hậu quả của chính lời ấy không?
9. Theo quý vị, “nghiệp là điểm tựa” có nghĩa là mình phải sống cẩn trọng hơn ở thân, miệng và ý như thế nào?
10. Có phải đôi khi mình quan tâm người khác làm nghiệp gì quá nhiều, nhưng lại quên nhìn nghiệp mình đang tạo không?
11. Nếu hôm nay là ngày cuối cùng được nói chuyện với cha mẹ hay người mình thương, quý vị có muốn nói khác đi điều gì không?
12. Có điều khả ái nào hiện nay quý vị đang nắm quá chặt đến mức chỉ nghĩ tới thay đổi đã thấy sợ không?
13. Nếu biết chắc một ngày thân sẽ già và bệnh, quý vị muốn thay đổi cách chăm thân từ hôm nay như thế nào?
14. Theo quý vị, quán chết làm người ta bi quan hay giúp người ta bớt phí thời gian?
15. Nếu chỉ mang theo một câu hôm nay, quý vị có thể nhớ: “Việc người là nghiệp người; việc tôi làm bây giờ là nghiệp tôi” không?
57. CÂU KẾT ĐỂ ĐỌC TRÊN LIVESTREAM
Kính thưa quý vị,
năm điều Phật dạy quán hôm nay nghe có vẻ:
rất thật,
và cũng rất mạnh.
Già.
Bệnh.
Chết.
Ly biệt.
Nghiệp.
Nhưng Đức Phật không dạy để chúng ta:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 595
sợ đời.
Ngài dạy để chúng ta:
ĐỪNG NGỦ QUÊN TRONG ĐỜI.
Nếu nhớ mình sẽ già,
mình bớt kiêu tuổi trẻ.
Nếu nhớ mình có thể bệnh,
mình bớt phung phí sức khỏe.
Nếu nhớ mình sẽ chết,
mình bớt hẹn việc thiện với ngày mai.
Nếu nhớ người mình thương cũng vô thường,
mình bớt làm họ đau.
Và nếu nhớ:
“Tôi là thừa tự nghiệp tôi làm,”
mình sẽ bớt hỏi:
“Người kia đáng bị gì?”
mà quay lại hỏi:
“BÂY GIỜ TÔI NÊN LÀM GÌ ĐỂ KHÔNG TẠO THÊM KHỔ?”
Đó là chỗ rất đẹp.
Quán vô thường không làm mình bỏ cuộc sống.
Nó giúp mình:
sống thật hơn.
Thương thật hơn.
Tu thật hơn.
Và cẩn trọng hơn.
Cho nên bài hôm nay xin nhớ một công thức:
GIÀ – BỆNH – CHẾT – LY – NGHIỆP.
Và một câu hỏi:
“NẾU TÔI PHẢI THỪA TỰ VIỆC NÀY, TÔI CÓ CÒN MUỐN LÀM NÓ KHÔNG?”
Nếu câu hỏi ấy xuất hiện kịp lúc,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 596
nhiều lời đáng lẽ nói:
có thể dừng.
Nhiều hành động đáng lẽ làm:
có thể tránh.
Và nhiều thiện pháp đáng lẽ trì hoãn:
có thể được làm ngay.
Đó là cách đưa một bài kinh nguyên thủy rất ngắn vào:
trọn đời sống hằng ngày.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 597
MỤC 023 - Bài 023 — KHÔNG LÀM ĐIỀU ÁC – THÀNH TỰU HẠNH LÀNH – GIỮ TÂM Ý TRONG SẠCH 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
“Không làm mọi điều ác, Thành tựu các hạnh lành, Tâm ý giữ trong sạch, Chính lời chư Phật dạy.” (Facebook)
Đây là một trong những bài kệ cô đọng nhất của Kinh Pháp Cú.
Chỉ bốn câu nhưng có thể gom lại cả một lộ trình tu:
KHÔNG ÁC.
LÀM LÀNH.
TỊNH TÂM.
2. NGUỒN KINH
Tên kinh tiếng Việt: Kinh Pháp Cú Tên Pāli: Dhammapada Thuộc: Tiểu Bộ Kinh – Khuddaka Nikāya Phẩm: Phẩm Phật Đà – Buddhavagga Phẩm số: 14 Kệ: 183 Mã tra cứu quốc tế: Dhp 183 Bản dịch tiếng Việt sử dụng: Hòa thượng Thích Minh Châu Nguyên bản: Kinh tạng Pāli
Kinh Pháp Cú trong bản Pāli gồm 423 bài kệ; kệ 183 nằm trong Phẩm Phật Đà – Buddhavagga, là phẩm thứ 14. (SuttaCentral)
Nếu có người hỏi trên livestream:
“Câu này kinh nào, phẩm nào, kệ mấy?”
có thể trả lời ngay:
“Kinh Pháp Cú – Dhammapada, Phẩm Phật Đà – Buddhavagga, kệ số 183, mã tra cứu quốc tế Dhp 183, bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, nguyên bản Kinh tạng Pāli.” (Facebook)
3. NGUYÊN BẢN PĀLI
“Sabbapāpassa akaraṇaṃ, kusalassa upasampadā; sacittapariyodapanaṃ, etaṃ buddhāna sāsanaṃ.” (NTU Digital Library of Buddhist Studies)
Có thể đọc chậm từng cụm:
Sabbapāpassa akaraṇaṃ Không làm mọi điều ác.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 598
Kusalassa upasampadā Thành tựu những điều thiện lành.
Sacittapariyodapanaṃ Làm cho tâm mình trong sạch.
Etaṃ buddhāna sāsanaṃ Đó là lời giáo huấn của chư Phật. (NTU Digital Library of Buddhist Studies)
4. TỪ KHÓA VIỆT – PĀLI – NGHĨA
MỌI ĐIỀU ÁC – SABBA PĀPA – TẤT CẢ NHỮNG ĐIỀU BẤT THIỆN
Sabba nghĩa là:
tất cả.
Pāpa chỉ điều xấu ác, bất thiện.
Câu kinh không nói:
“Tránh một vài điều ác lớn.”
Mà nói:
KHÔNG LÀM MỌI ĐIỀU ÁC.
Điều này nhắc mình không nên nghĩ:
“Việc này nhỏ thôi.”
Một lời nói dối nhỏ,
nếu tập mãi,
có thể thành thói quen.
Một lần nói xấu,
nuôi mãi,
có thể thành khẩu nghiệp thường xuyên.
Một chút tham,
nếu cứ chiều,
có thể ngày một lớn.
5. KHÔNG LÀM – AKARAṆA – KHÔNG TẠO TÁC
Akaraṇa là:
không làm, không tạo tác.
Tu không phải lúc nào cũng:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 599
làm thêm một việc.
Có lúc tu là:
KHÔNG LÀM.
Đang sân:
không nói câu ác.
Đang tham:
không lấy điều không thuộc về mình.
Đang muốn nói dối:
không nói.
Đang muốn trả đũa:
không hành động theo.
Có những lần tu rất lớn nhưng nhìn bên ngoài:
chẳng thấy mình làm gì cả.
Bởi việc lớn nhất lúc ấy là:
mình đã dừng được một điều xấu.
6. THIỆN – KUSALA – LÀNH, KHÉO, ĐƯA ĐẾN LỢI ÍCH
Kusala thường được dịch là:
thiện,
lành,
khéo.
Thiện không chỉ là:
trông có vẻ tốt.
Một việc thật sự thiện phải hướng về:
giảm tham,
giảm sân,
giảm hại,
tăng lòng lành,
tăng trí,
tăng sự trong sạch.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 600
7. THÀNH TỰU – UPASAMPADĀ – LÀM CHO ĐẦY ĐỦ, PHÁT TRIỂN, THỰC HIỆN
Câu kinh không chỉ nói:
“nghĩ về điều lành.”
Mà nói:
THÀNH TỰU HẠNH LÀNH.
Tức là thiện phải:
được làm.
Biết bố thí tốt:
thì khi đủ duyên hãy chia sẻ.
Biết nhẫn tốt:
thì lúc bị chọc mới tập nhẫn.
Biết chân thật tốt:
thì lúc nói thật có thể chịu thiệt vẫn giữ.
Thiện pháp cần đi từ:
BIẾT → LÀM → THÀNH THÓI QUEN.
8. TÂM MÌNH – SACITTA – CHÍNH TÂM CỦA MÌNH
Sa-citta có thể hiểu:
tâm của chính mình.
Đây là điểm rất đáng chú ý.
Kinh không nói:
“Hãy thanh lọc tâm người khác.”
Mà:
TÂM MÌNH.
Người tu thường rất dễ:
thấy sân của người.
thấy tham của người.
thấy lỗi của người.
Nhưng bài kệ đưa việc tu quay về:
tâm mình có sạch hơn không?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 601
9. GIỮ TÂM TRONG SẠCH – PARIYODAPANA – LÀM CHO THANH TỊNH
Pariyodapana mang nghĩa:
làm cho trong,
làm cho thanh tịnh.
Tâm bị:
tham làm đục.
sân làm nóng.
si làm mờ.
mạn làm cứng.
ganh làm hẹp.
Tu không chỉ sửa:
hành động bên ngoài.
Cuối cùng còn phải:
TẨY SẠCH NGUỒN BÊN TRONG.
10. LỜI CHƯ PHẬT DẠY – BUDDHĀNA SĀSANA – GIÁO HUẤN CỦA CÁC BẬC GIÁC NGỘ
Buddhāna là:
của các đức Phật.
Sāsana là:
giáo huấn,
lời dạy,
giáo pháp.
Bài kệ kết bằng một câu rất mạnh:
ĐÂY LÀ GIÁO HUẤN CỦA CHƯ PHẬT.
Không phải một mẹo sống.
Không phải một lời khuyên nhỏ.
Mà là một bản tóm tắt cực ngắn về hướng tu. (NTU Digital Library of Buddhist Studies)
11. GIẢI CỤM THỨ NHẤT: “KHÔNG LÀM MỌI ĐIỀU ÁC”
Kính thưa quý vị,
nhiều người học Phật muốn:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 602
thiền sâu.
tụng nhiều.
biết nhiều kinh.
Nhưng bước đầu tiên của bài kệ lại rất giản dị:
ĐỪNG LÀM ÁC.
Nếu miệng vẫn:
nói dối,
nói chia rẽ,
nói ác,
nói hại,
thì dù thuộc nhiều kinh,
vẫn còn phần rất căn bản phải sửa.
12. “KHÔNG LÀM ÁC” KHÔNG CHỈ LÀ KHÔNG GIẾT NGƯỜI
Điều ác có nhiều mức.
Có cái bằng:
thân.
Có cái bằng:
miệng.
Có cái bắt đầu từ:
ý.
Một lời cố tình làm người khác nhục:
có thể là bất thiện.
Một lời vu khống:
bất thiện.
Một hành vi gian dối:
bất thiện.
Một ý định muốn người khác khổ:
cần được nhìn.
13. TU TRƯỚC HẾT LÀ BIẾT DỪNG
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 603
Đang nóng:
dừng.
Đang tham:
dừng.
Đang bị kích:
dừng.
Đang định gửi tin nhắn nặng:
dừng.
Nhiều nghiệp xấu không cần pháp môn phức tạp để chặn ở bước đầu.
Chỉ cần:
DỪNG KỊP.
14. GIẢI CỤM THỨ HAI: “THÀNH TỰU CÁC HẠNH LÀNH”
Chỉ không làm xấu:
chưa đủ.
Nếu một người cả đời chỉ nói:
“Tôi không hại ai,”
nhưng khi có thể giúp người lại không bao giờ giúp,
thiện pháp vẫn còn thiếu.
Phật dạy:
KHÔNG ÁC + LÀM THIỆN.
Đây là hai bước khác nhau.
15. THIỆN PHẢI ĐI THÀNH HÀNH ĐỘNG
Thương cha mẹ:
thì hỏi thăm.
Biết người bệnh cần giúp:
giúp trong khả năng.
Biết mình sai:
xin lỗi.
Biết lời nói nhẹ có ích:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 604
nói nhẹ.
Biết người khác cần được bảo vệ:
hành động đúng pháp.
Đó là:
thiện được thành tựu.
16. GIẢI CỤM THỨ BA: “TÂM Ý GIỮ TRONG SẠCH”
Đây là tầng sâu.
Một người có thể:
không nói xấu,
nhưng trong đầu chửi cả ngày.
Không đánh người,
nhưng mong họ thất bại.
Cho người,
nhưng mong được mang ơn.
Giúp người,
nhưng muốn sở hữu họ.
Bên ngoài thiện,
nhưng bên trong:
còn nhiều chấp.
Cho nên phải đi thêm:
TỊNH TÂM.
17. TẠI SAO PHẢI TỊNH TÂM?
Bởi thân và miệng thường:
đi theo tâm.
Tâm sân lâu ngày,
miệng dễ sân.
Tâm tham mạnh,
hành động dễ chạy theo tham.
Tâm ganh nhiều,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 605
lời dễ hạ người.
Nếu chỉ ép bên ngoài mà không xử lý bên trong,
gốc vẫn còn.
18. GHÉP NGHĨA TOÀN CÂU
Bài kệ có thể hiểu thật dễ:
Người học Phật phải ngăn mình khỏi các hành động bất thiện, chủ động làm và phát triển những điều thiện lành, đồng thời thanh lọc chính tâm mình khỏi tham, sân, si và các cấu uế. Đây là lời giáo huấn cốt lõi của chư Phật. (NTU Digital Library of Buddhist Studies)
Có thể nhớ bằng ba bước:
DỪNG ÁC.
LÀM LÀNH.
SẠCH TÂM.
19. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ GÌ?
Bài kệ này cho thấy Phật pháp không chỉ là:
“ĐỪNG.”
Cũng không chỉ là:
“HÃY LÀM.”
Mà còn là:
“HÃY CHUYỂN TÂM.”
Ba phần bổ sung nhau.
Chỉ dừng ác:
chưa đủ.
Chỉ làm thiện:
chưa đủ.
Chỉ ngồi nói tâm thanh tịnh nhưng hành vi làm người khác khổ:
cũng chưa đủ.
20. BA TẦNG TU
Có thể nói thật dễ:
TẦNG MỘT – NGĂN XẤU
Không tạo nghiệp bất thiện.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 606
TẦNG HAI – NUÔI TỐT
Chủ động làm thiện.
TẦNG BA – SẠCH GỐC
Thanh lọc tâm.
Đây là một bản đồ tu cực kỳ dễ nhớ.
21. VÍ DỤ 1 – BỊ NÓI XẤU
Người kia nói xấu mình.
KHÔNG ÁC
Không lập tức nói xấu lại.
LÀM LÀNH
Nếu cần, đính chính bằng sự thật.
TỊNH TÂM
Nhìn cơn sân và không nuôi hận.
Đủ cả ba bước.
22. VÍ DỤ 2 – NHẶT ĐƯỢC VẬT CỦA NGƯỜI KHÁC
KHÔNG ÁC
Không lấy làm của mình.
LÀM LÀNH
Tìm cách trả đúng người.
TỊNH TÂM
Nhìn lòng tham nếu có.
Một tình huống rất nhỏ,
nhưng đủ cả bài Pháp Cú.
23. VÍ DỤ 3 – CÓ CƠ HỘI NÓI DỐI ĐỂ ĐƯỢC LỢI
KHÔNG ÁC
Không nói dối.
LÀM LÀNH
Nói điều chân thật đúng lúc.
TỊNH TÂM
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 607
Nhìn tham đang muốn phần lợi ấy.
24. VÍ DỤ 4 – GIÚP NGƯỜI
Mình cho người một món.
Đó là thiện.
Nhưng nếu sau đó nghĩ:
“Họ phải nhớ ơn tôi,”
thì bài tu chưa xong.
Còn bước ba:
TỊNH TÂM KHỎI CHẤP CÔNG.
25. VÍ DỤ 5 – CÚNG DƯỜNG
Cúng dường là việc thiện khi đúng pháp.
Nhưng sau đó thấy người khác cúng nhiều hơn rồi ganh,
tâm chưa thanh.
Bài kệ nhắc:
thiện sự bên ngoài phải đi cùng việc nhìn tâm bên trong.
26. VÍ DỤ 6 – GIỮ IM LẶNG
Có lúc không nói câu nặng:
đó là:
không làm ác.
Nhưng sau đó âm thầm nuôi hận cả tháng:
chưa tịnh tâm.
Cần thêm:
quán sân,
từ,
buông.
27. VÍ DỤ 7 – CON CÁI LÀM SAI
Không đánh mắng trong sân:
không ác.
Hướng dẫn con điều đúng:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 608
làm lành.
Nhìn cái tôi muốn con phải theo mình:
tịnh tâm.
28. VÍ DỤ 8 – MẠNG XÃ HỘI
Thấy một tin chưa kiểm.
KHÔNG ÁC
Không chia sẻ bừa gây hại người.
LÀM LÀNH
Kiểm nguồn, nếu cần cung cấp thông tin đúng.
TỊNH TÂM
Nhìn sự thích thú với chuyện thị phi.
29. VÍ DỤ 9 – LIVESTREAM
Có người hỏi rất khó.
KHÔNG ÁC
Không làm nhục người hỏi.
LÀM LÀNH
Trả lời đúng nguồn.
TỊNH TÂM
Nhìn cái tôi nếu đang muốn chứng minh:
“Tôi phải biết hết.”
Không biết thì nói:
“Tôi chưa biết, tôi xin kiểm lại.”
Đó cũng là tu.
30. VÍ DỤ 10 – KIẾM TIỀN
Kiếm tiền chân chính:
không có gì trái với bài kệ.
Nhưng:
không gian dối.
không làm hại.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 609
không lợi dụng.
và đừng để tiền trở thành:
thước đo toàn bộ con người.
31. VÍ DỤ 11 – CHĂM CHA MẸ
Không nói lời làm cha mẹ đau:
không ác.
Chăm sóc trong khả năng:
làm thiện.
Bớt bực vì cha mẹ già chậm:
tịnh tâm.
32. VÍ DỤ 12 – GẶP NGƯỜI MÌNH GHÉT
Không hại họ:
bước một.
Nếu có thể vẫn cư xử công bằng:
bước hai.
Không ngồi nuôi câu:
“Mong họ khổ,”
bước ba.
Đó là một bài thực hành rất lớn.
33. “KHÔNG LÀM ÁC” KHÔNG ĐỒNG NGHĨA CHỈ CẦN NGỒI YÊN
Nếu thấy người yếu bị hại mà mình có trách nhiệm và khả năng hợp lý để can thiệp đúng pháp,
có lúc:
không hành động
cũng cần được xem xét.
Thiện không chỉ là:
tránh xấu cho mình.
Còn là:
phát triển điều lợi ích.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 610
34. “LÀM LÀNH” KHÔNG ĐỒNG NGHĨA LÀM MỌI VIỆC NGƯỜI KHÁC MUỐN
Có người nhờ mình làm điều sai.
Từ chối:
có thể là thiện.
Có người muốn tiếp tục hành vi gây hại.
Đặt ranh giới:
có thể là thiện.
Thiện phải đi cùng:
TRÍ.
35. “TỊNH TÂM” KHÔNG CÓ NGHĨA ÉP TÂM KHÔNG ĐƯỢC CÓ PHIỀN NÃO
Sân sinh:
biết sân.
Tham sinh:
biết tham.
Không cần nói:
“Tôi tu rồi, sao còn sân?”
Thấy được đã là bước đầu.
Sau đó:
không nuôi.
dùng pháp đối trị.
lặp lại.
Tâm được thanh lọc:
từng chút.
36. CÓ NGƯỜI LÀM THIỆN RẤT NHIỀU NHƯNG TÂM VẪN KHỔ
Tại sao?
Vì đôi khi:
làm thiện để được khen.
làm thiện để có quyền.
làm thiện để chứng minh.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 611
làm thiện để người khác mắc nợ mình.
Khi không được đáp lại:
khổ.
Đây là lý do câu thứ ba:
TÂM Ý GIỮ TRONG SẠCH
rất quan trọng.
37. NGƯỜI TU KHÔNG CHỈ HỎI “TÔI ĐÃ LÀM GÌ?”
Còn phải hỏi:
“TÔI LÀM VỚI TÂM GÌ?”
Cùng một món quà:
một người cho bằng từ.
một người cho để mua lòng.
Hành động ngoài có thể giống.
Tâm:
khác.
38. TỊNH TÂM KHÔNG PHẢI CHỈ LÚC NGỒI THIỀN
Tịnh tâm trong:
một cuộc cãi.
một lần được khen.
một lần mất lợi.
một lần bị hiểu lầm.
một lần thấy người khác hơn mình.
Đời sống chính là:
chỗ kiểm tâm.
39. CÔNG THỨC THỨ NHẤT: DỪNG – LÀM – SẠCH
DỪNG
Dừng điều ác.
LÀM
Làm điều lành.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 612
SẠCH
Thanh lọc tâm.
Công thức:
DỪNG ÁC → LÀM LÀNH → SẠCH TÂM.
40. CÔNG THỨC THỨ HAI: THÂN – MIỆNG – TÂM
Trước khi làm:
hỏi thân.
Trước khi nói:
hỏi miệng.
Sau đó:
hỏi tâm.
THÂN CÓ HẠI KHÔNG?
LỜI CÓ HẠI KHÔNG?
TÂM CÓ THAM SÂN KHÔNG?
Đây là cách thực hành cực dễ.
41. CÔNG THỨC THỨ BA: TRƯỚC – TRONG – SAU
Trước việc thiện:
tâm gì?
Trong việc thiện:
tâm gì?
Sau việc thiện:
tâm gì?
Ví dụ bố thí:
Trước:
hoan hỷ?
Trong:
chân thành?
Sau:
kể công?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 613
Nếu sau còn chấp:
tiếp tục tu.
42. CÔNG THỨC THỨ TƯ: KHÔNG HẠI – CÓ ÍCH – SẠCH TÂM
Trước một hành động,
hỏi:
CÓ HẠI KHÔNG?
Nếu có:
dừng.
CÓ LỢI ÍCH CHÂN CHÍNH KHÔNG?
Nếu có:
làm.
TÂM TÔI ĐANG THẾ NÀO?
Nếu còn tham sân:
nhìn.
43. BÀI THỰC HÀNH MỘT NGÀY
Hôm nay chọn đúng ba việc:
MỘT ĐIỀU ÁC – KHÔNG LÀM
Ví dụ:
không nói xấu.
MỘT ĐIỀU LÀNH – CHỦ ĐỘNG LÀM
Ví dụ:
gọi hỏi cha mẹ.
MỘT PHIỀN NÃO – NHÌN KỸ
Ví dụ:
sân.
Cuối ngày kiểm lại.
Đây chính là Dhp 183 đi vào một ngày sống.
44. BÀI THỰC HÀNH BẢY NGÀY
NGÀY 1
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 614
Không nói một lời biết rõ là dối.
NGÀY 2
Làm một việc giúp người trong khả năng.
NGÀY 3
Không nói xấu một người mình khó chịu.
NGÀY 4
Làm một thiện sự không cần ai biết.
NGÀY 5
Quan sát lòng tham trong một cái muốn.
NGÀY 6
Quan sát sân trước khi thành lời.
NGÀY 7
Nhìn lại:
“Tuần này thân, miệng và tâm tôi có sạch hơn một chút không?”
45. THỰC HÀNH BUỔI SÁNG
Mỗi sáng có thể đọc:
Hôm nay tôi cố không làm điều biết rõ là bất thiện.
Có điều thiện trong khả năng, tôi không cố tình bỏ qua.
Tôi không chỉ sửa người khác; tôi nhìn tâm mình.
Khi tham sinh, tôi biết tham.
Khi sân sinh, tôi biết sân.
Khi tâm lành sinh, tôi nuôi lớn.
Tôi nhớ: không ác – làm lành – tịnh tâm.
46. THỰC HÀNH BUỔI TỐI
Trước khi ngủ hỏi:
Hôm nay tôi đã làm điều gì khiến mình hối tiếc?
Tôi đã dừng được điều bất thiện nào?
Tôi đã chủ động làm thiện gì?
Có việc thiện nào tôi làm nhưng sau đó kể công không?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 615
Tâm tôi hôm nay bị tham kéo nhiều hay sân kéo nhiều?
Tôi có lúc nào thấy phiền não mà không chạy theo nó không?
Đó là cách đọc Pháp Cú bằng:
đời sống.
47. CÂU GHI NHỚ THỨ NHẤT
Tu không chỉ là làm thêm điều tốt; có khi bước tu đầu tiên là dừng một việc xấu đang định làm.
48. CÂU GHI NHỚ THỨ HAI
Không làm ác là nền; làm thiện là bước tiến; thanh lọc tâm là đi vào gốc.
49. CÂU GHI NHỚ THỨ BA
Một việc thiện làm với tâm chấp vẫn là nơi mình còn phải tiếp tục tu.
50. CÂU GHI NHỚ THỨ TƯ
Người tu không chỉ hỏi “người kia sai gì”; phải hỏi “tâm tôi đang có gì”.
51. CÂU GHI NHỚ THỨ NĂM
Dừng được một câu ác trước khi nó rời miệng cũng là một thiện pháp rất thật.
52. CÂU GHI NHỚ THỨ SÁU
Làm thiện mà không cần ai biết là một cách soi xem mình cần phước hay cần tiếng khen.
53. CÂU GHI NHỚ THỨ BẢY
Tâm sạch không phải tâm chưa từng có phiền não; đó là tâm biết phiền não, không muốn nuôi mãi và chịu khó chuyển hóa.
54. CÂU GHI NHỚ THỨ TÁM
Giới giữ hành động khỏi đi quá xa; thiện pháp đưa đời về hướng tốt; tu tâm nhổ dần gốc bên trong.
55. CÂU GHI NHỚ THỨ CHÍN
Biết rất nhiều lời Phật mà thân, miệng, tâm không đổi thì Pháp vẫn còn nằm ngoài mình.
56. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI
Một bài kệ chỉ bốn dòng nhưng nếu sống được cả đời thì đã là một con đường rất lớn.
57. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
ĐIỀU ÁC – ĐỪNG LÀM.
ĐIỀU LÀNH – HÃY LÀM.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 616
TÂM BẨN – HÃY NHÌN VÀ THANH LỌC.
Không cần phức tạp.
Không cần nói thật cao.
Mỗi ngày kiểm:
THÂN.
MIỆNG.
TÂM.
Và xin nhớ lời Phật:
“Không làm mọi điều ác, Thành tựu các hạnh lành, Tâm ý giữ trong sạch, Chính lời chư Phật dạy.” (Facebook)
Nguồn: Kinh Pháp Cú – Dhammapada, Tiểu Bộ Kinh – Khuddaka Nikāya, Phẩm Phật Đà – Buddhavagga, phẩm 14, kệ số 183, mã tra cứu quốc tế Dhp 183; bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu; nguyên bản Kinh tạng Pāli. (Nanda Online Dhamma)
58. CÂU HỎI LIVESTREAM
1. Theo quý vị, trong ba việc “không làm ác – làm lành – giữ tâm trong sạch”, việc nào khó nhất?
2. Có bao giờ quý vị dừng được một câu đang định nói trong cơn sân và sau đó thấy may vì mình đã không nói không?
3. Một người không làm hại ai nhưng cũng không bao giờ chủ động giúp ai, theo quý vị đã đủ với tinh thần kệ 183 chưa?
4. Có bao giờ mình làm một việc thiện nhưng lại buồn vì không ai biết không?
5. Theo quý vị, làm thiện và thanh lọc tâm khác nhau ở điểm nào?
6. Một người bố thí rất nhiều nhưng thường khinh người nghèo có còn phần nào phải tu không?
7. Có khi nào mình nói “tôi nói thật” nhưng cách nói thật lại chứa rất nhiều sân không?
8. Theo quý vị, một điều ác nhỏ lặp lại mỗi ngày có đáng coi thường không?
9. Có việc thiện nhỏ nào hôm nay quý vị có thể làm ngay mà không cần đợi mình giàu hơn hay rảnh hơn không?
10. Khi mình làm đúng nhưng trong tâm muốn hơn người, quý vị nghĩ phần hành động và phần tâm đang khác nhau thế nào?
11. Theo quý vị, tại sao bài kệ lại đặt “tịnh tâm” sau “không ác” và “làm lành”?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 617
12. Có phiền não nào quý vị đang muốn thanh lọc nhất hiện nay: tham, sân, ganh, mạn hay chấp?
13. Nếu một người tụng kệ 183 mỗi ngày nhưng vẫn thường xuyên nói xấu người khác, phần nào của bài kệ chưa đi vào đời sống?
14. Có phải đôi khi điều tu khó nhất không phải làm thêm, mà là dừng một thói quen bất thiện rất quen thuộc?
15. Nếu hôm nay chỉ nhớ sáu chữ, quý vị có thể nhớ: “Dừng ác – làm lành – sạch tâm” không?
59. CÂU KẾT ĐỂ ĐỌC TRÊN LIVESTREAM
Kính thưa quý vị,
có khi mình học Phật lâu rồi,
nghe rất nhiều pháp,
biết rất nhiều thuật ngữ,
nhưng nếu hỏi:
“PHẬT DẠY TU CÁI GÌ?”
thì bài kệ 183 cho một câu trả lời rất ngắn:
ĐỪNG LÀM ÁC.
HÃY LÀM LÀNH.
HÃY LÀM TÂM MÌNH TRONG SẠCH.
Không làm ác:
là giữ mình khỏi tạo thêm khổ.
Làm lành:
là chủ động gieo nhân tốt.
Tịnh tâm:
là quay vào xử lý cái gốc:
tham,
sân,
si,
mạn,
ganh,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 618
chấp.
Ba bước này đi từ:
bên ngoài
vào:
bên trong.
Có khi hôm nay công phu của mình chỉ là:
không gửi một tin nhắn trong sân.
Đó là:
không làm ác.
Có khi là:
gọi hỏi thăm một người bệnh.
Đó là:
làm lành.
Có khi là:
thấy mình giúp người nhưng đang mong được khen,
rồi nhẹ nhàng buông nhu cầu ấy xuống.
Đó là:
tịnh tâm.
Cho nên Pháp không nhất thiết ở đâu thật xa.
Nó nằm ngay trong:
một ý nghĩ vừa sinh,
một câu sắp nói,
một việc sắp làm.
Trước mỗi việc,
có thể hỏi ba câu:
“VIỆC NÀY CÓ BẤT THIỆN KHÔNG?”
Nếu có:
dừng.
“CÓ ĐIỀU THIỆN NÀO TÔI CÓ THỂ LÀM KHÔNG?”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 619
Nếu có:
làm.
“TÂM TÔI ĐANG THẾ NÀO?”
Nếu còn đục:
nhìn và tu tiếp.
Vậy công thức của bài hôm nay là:
DỪNG ÁC → LÀM LÀNH → SẠCH TÂM.
Và nếu một đời mình thật sự đi được theo ba bước ấy,
thì bài kệ bốn dòng này không còn chỉ là câu mình:
đọc.
Nó đã trở thành cách mình:
sống.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 620
MỤC 024 - Bài 024 — KHI BỊ NÓI LỜI KHÓ NGHE – HÃY GIỮ TÂM NHƯ ĐẤT, ĐỪNG ĐỂ SÂN DẪN MÌNH ĐI 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
Đức Phật dạy các Tỷ-kheo phải tự huấn luyện như sau:
Dù người khác nói với mình đúng thời hay không đúng thời, chân thật hay không chân thật, nhẹ nhàng hay thô ác, có lợi ích hay không lợi ích, với tâm từ hay với tâm sân, mình vẫn phải tập giữ tâm không bị biến đổi, không nói lời ác, sống với lòng thương tưởng, không ôm lòng sân hận.
Đến cuối bài kinh, Đức Phật dùng một hình ảnh rất mạnh: ngay cả trong hoàn cảnh bị đối xử cực kỳ tàn nhẫn, người để sân hận khởi lên vẫn chưa thực hành đúng lời Ngài dạy. (SuttaCentral)
2. NGUỒN KINH
Tên kinh tiếng Việt: Kinh Ví Dụ Cái Cưa Tên Pāli: Kakacūpama Sutta Thuộc: Trung Bộ Kinh – Majjhima Nikāya Số kinh: Kinh số 21 Mã tra cứu quốc tế: MN 21 Tên thường dùng bằng tiếng Anh: The Simile of the Saw Nguyên bản: Kinh tạng Pāli Nội dung chính: Đức Phật giảng rất sâu về cách giữ tâm khi bị người khác nói lời khó nghe, chỉ trích, xúc phạm hoặc gây tổn thương; Ngài dùng nhiều ví dụ để huấn luyện lòng nhẫn và tâm từ. (SuttaCentral)
Nếu có người hỏi trên livestream:
“Sư cô lấy bài này ở đâu?”
có thể trả lời gọn:
“Đây là Kinh Ví Dụ Cái Cưa – Kakacūpama Sutta, Trung Bộ Kinh – Majjhima Nikāya, kinh số 21, mã tra cứu quốc tế MN 21, nguyên bản Kinh tạng Pāli.”
3. TỪ KHÓA VIỆT – PĀLI – NGHĨA
NHẪN – KHANTI – KHẢ NĂNG CHỊU ĐỰNG, KHÔNG VỘI PHẢN ỨNG BẰNG SÂN
Nhẫn – khanti không phải là:
yếu.
sợ.
không biết đúng sai.
không dám nói.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 621
Nhẫn là:
CÓ CƠN SÂN NHƯNG KHÔNG LẬP TỨC ĐỂ CƠN SÂN QUYẾT ĐỊNH LỜI MÌNH NÓI VÀ VIỆC MÌNH LÀM.
Người khác nói một câu.
Nếu mình đáp ngay bằng sân:
mình đang bị họ kéo.
Nếu mình dừng được:
mình bắt đầu lấy lại quyền đối với tâm mình.
TÂM TỪ – METTĀ – LÒNG KHÔNG ÁC Ý, MONG NGƯỜI KHÁC KHÔNG BỊ KHỔ
Tâm từ – mettā không có nghĩa:
người kia đúng.
Không có nghĩa:
mình phải thân với họ.
Không có nghĩa:
mình phải tiếp tục để họ xúc phạm.
Tâm từ nghĩa là:
XỬ LÝ VIỆC NHƯNG KHÔNG NUÔI Ý MUỐN LÀM NGƯỜI KIA ĐAU.
Đây là một mức tu rất sâu.
SÂN – DOSA / BYĀPĀDA – GIẬN DỮ, ÁC Ý, OÁN HẬN
Sân có thể bắt đầu từ:
khó chịu.
Rồi thành:
muốn nói trả.
Muốn hạ người.
Muốn người kia thua.
Muốn họ đau.
Nếu không thấy sớm,
sân có thể lấy:
miệng của mình,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 622
tay của mình,
điện thoại của mình,
để hành động.
Vì vậy điều quan trọng là:
THẤY SÂN TRƯỚC KHI SÂN NÓI THAY MÌNH.
LỜI ÁC – PĀPAVĀCĀ / PHARUSĀ VĀCĀ – LỜI THÔ ÁC, LỜI GÂY TỔN THƯƠNG
Một người nói lời khó nghe với mình.
Phản xạ thường là:
“Họ nói tôi được thì tôi nói họ được.”
Nhưng Kinh Ví Dụ Cái Cưa dạy một hướng khác:
LỜI ÁC CỦA HỌ KHÔNG PHẢI GIẤY PHÉP CHO LỜI ÁC CỦA MÌNH.
Đây là điểm rất quan trọng.
Nghiệp lời của họ:
là phần họ.
Nghiệp lời mình:
là phần mình.
KHÔNG ĐỂ TÂM BIẾN ĐỔI – NA CITTASSA VIPARIṆĀMA – KHÔNG ĐỂ TÂM BỊ XÔ LỆCH BỞI SÂN
Trong bài kinh, người tu được huấn luyện để dù nghe lời khó chịu vẫn giữ tâm không bị biến đổi theo chiều bất thiện. (Access to Insight)
Nói thật dễ hiểu:
Người kia nóng:
không bắt buộc mình phải nóng.
Người kia mất bình tĩnh:
không bắt buộc mình phải mất bình tĩnh.
Người kia nói ác:
không bắt buộc miệng mình phải trở thành miệng nói ác.
Đó chính là:
TỰ CHỦ.
4. GIẢI TỪNG CỤM
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 623
“NGƯỜI KHÁC CÓ THỂ NÓI ĐÚNG THỜI HOẶC KHÔNG ĐÚNG THỜI”
Có những lời góp ý:
đúng.
Nhưng nói:
sai lúc.
Mình đang mệt.
Đang đông người.
Đang trong lúc khó xử.
Tâm dễ sân vì:
“Tại sao phải nói lúc này?”
Đức Phật dạy người tu không chỉ giữ tâm khi mọi điều thuận.
Mà phải học giữ tâm cả khi:
cách người khác nói chưa khéo.
Điều ấy không có nghĩa sau đó mình không được góp ý lại.
Chỉ là:
ĐỪNG ĐỂ THỜI ĐIỂM XẤU CỦA HỌ TRỞ THÀNH CỚ CHO TÂM XẤU CỦA MÌNH.
“CHÂN THẬT HAY KHÔNG CHÂN THẬT”
Có khi người khác nói đúng.
Có khi nói sai.
Nếu đúng:
mình học.
Nếu sai:
mình có thể đính chính.
Nhưng cả hai trường hợp đều không bắt buộc:
phải nổi sân.
Đây là điều rất hay.
Bởi nhiều người nói:
“Nếu họ nói sai về tôi thì tôi phải giận chứ.”
Nhưng lời Phật đưa mình tới mức:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 624
SỰ THẬT CÓ THỂ ĐƯỢC BẢO VỆ BẰNG TRÍ, KHÔNG NHẤT THIẾT PHẢI BẢO VỆ BẰNG SÂN.
“NHẸ NHÀNG HAY THÔ ÁC”
Nghe lời mềm:
ai cũng dễ nhẫn.
Nghe lời nặng:
mới biết mức tu.
Một người nói:
“Xin góp ý với bạn một chút.”
mình dễ nghe.
Một người nói:
“Bạn làm kiểu gì vậy?”
tâm lập tức phản ứng.
Nhưng điều Kinh Ví Dụ Cái Cưa muốn kiểm chính là:
TÂM MÌNH CÓ CHỈ HIỀN KHI NGƯỜI KHÁC HIỀN VỚI MÌNH KHÔNG?
Nếu chỉ hiền trong điều kiện thuận,
sự hiền ấy:
chưa chắc đã vững.
“CÓ LỢI ÍCH HAY KHÔNG CÓ LỢI ÍCH”
Có người góp ý để:
giúp mình.
Có người chỉ nói để:
chọc mình.
Nếu có lợi:
nhận phần lợi.
Nếu không có lợi:
không cần nhận.
Nhưng đừng để một lời vô ích tạo ra:
một ngày sân có thật.
Câu người kia nói mất:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 625
mười giây.
Mình có thể tự giữ nó:
mười giờ.
Như vậy chính mình đang:
nuôi phần còn lại.
“VỚI TÂM TỪ HAY VỚI TÂM SÂN”
Có người góp ý vì thương.
Có người thật sự nói vì sân.
Đây là mức khó.
Kinh không hề giả định:
mọi người đều tốt.
Ngược lại,
Đức Phật nói rõ ngay cả khi người khác nói với tâm sân,
người tu vẫn phải học:
không cho sân của người khác đi thẳng vào tâm mình và trở thành sân của mình. (Access to Insight)
5. GHÉP NGHĨA TOÀN ĐOẠN
Toàn ý có thể hiểu rất dễ:
Trong đời sống, mình sẽ gặp lời nói đúng và sai, nhẹ và nặng, có lợi và vô ích, nói bằng thiện tâm hoặc ác ý. Người tu không thể kiểm soát tất cả miệng người khác; điều có thể tu là giữ tâm mình không chạy theo sân, không nói lời ác và cố giữ lòng không hại.
Có thể nhớ bằng một câu:
MIỆNG NGƯỜI – MÌNH KHÔNG GIỮ ĐƯỢC.
MIỆNG MÌNH – MÌNH PHẢI HỌC GIỮ.
6. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ GÌ?
Kính thưa quý vị,
điểm rất sâu của MN 21 là:
MÌNH CHƯA BIẾT MÌNH CÓ NHẪN HAY KHÔNG KHI CHƯA BỊ ĐỤNG.
Khi ai cũng:
kính mình.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 626
nói nhẹ.
làm đúng ý.
thì mình hiền:
rất dễ.
Nhưng khi:
bị hiểu lầm.
bị góp ý.
bị nói sai.
bị nói nặng.
lúc ấy tâm thật:
mới lộ.
Sự việc không chỉ là:
người kia như thế nào.
Nó còn là một tấm gương cho mình biết:
TÂM MÌNH ĐANG TU ĐẾN ĐÂU.
7. CÂU CHUYỆN BÀ VEDEHIKĀ – HIỀN KHI CHƯA BỊ THỬ
Trong MN 21, Đức Phật kể chuyện một nữ gia chủ tên Vedehikā nổi tiếng là người hiền, nhẹ nhàng, an tịnh. Người hầu của bà muốn thử xem tính hiền ấy thật sự có vững không nên cố tình làm việc trễ nhiều lần. Cuối cùng Vedehikā nổi giận và đánh người hầu. Bài kinh dùng câu chuyện này để chỉ rằng sự hiền hòa chỉ được biết chắc khi gặp điều trái ý. (Tricycle: The Buddhist Review)
Bài học rất rõ:
CHƯA BỊ CHỌC – CHƯA CHẮC BIẾT MÌNH NHẪN.
8. VÍ DỤ 1 – BỊ BÌNH LUẬN “GIẢNG SAI RỒI”
Một người viết:
“Sư cô nói sai rồi.”
Tâm lập tức:
nóng.
Nếu trả:
“Bạn biết gì mà nói?”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 627
thì từ một câu hỏi hoặc một câu chê,
mình tạo thêm:
một lời sân.
Cách khác:
“Chỗ nào quý vị thấy chưa đúng? Xin cho nguồn, tôi kiểm lại.”
Nếu mình sai:
sửa.
Nếu mình đúng:
đưa nguồn.
Đó là:
SỰ THẬT + NHẪN.
9. VÍ DỤ 2 – NGƯỜI THÂN NÓI RẤT NẶNG
Người thân đang nóng:
“Anh chẳng bao giờ hiểu tôi!”
Nếu mình trả:
“Cô mới là người không biết gì!”
hai lửa gặp nhau.
Có thể thử:
“Bây giờ cả hai đang nóng. Mình nói lại khi bình tĩnh hơn.”
Không phải bỏ vấn đề.
Chỉ là:
ĐỪNG GIẢI QUYẾT LÚC SÂN ĐANG CẦM LÁI.
10. VÍ DỤ 3 – BỊ VU OAN
Đây là việc khó.
Không nhẫn không có nghĩa:
im để người ta vu oan mãi.
Mình có thể:
đưa chứng cứ.
đính chính.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 628
bảo vệ danh dự chính đáng.
Nhưng khác nhau ở chỗ:
ĐÍNH CHÍNH ĐỂ SỰ THẬT RÕ.
khác với:
ĐÍNH CHÍNH ĐỂ HỦY NGƯỜI KIA.
Hai động cơ khác nhau.
11. VÍ DỤ 4 – KHÁCH HÀNG HOẶC NGƯỜI LẠ NÓI KHÓ NGHE
Có người nói:
“Sao làm lâu vậy?”
Nếu mình đang mệt,
câu ấy rất dễ chọc sân.
Nhưng có thể chỉ đáp:
“Xin lỗi, việc này đang cần thêm thời gian.”
Một câu bình thường có thể:
chặn cả cuộc xung đột.
Đó là nhẫn giữa đời.
12. VÍ DỤ 5 – TRÊN MẠNG XÃ HỘI
Một người vào:
mắng.
Nếu mình mắng lại,
họ chụp màn hình.
Hai bên kéo người vào.
Một chuyện nhỏ thành:
một đám cháy.
Kinh MN 21 rất hợp với thời đại này:
KHÔNG PHẢI BÌNH LUẬN NÀO CŨNG CẦN PHẢI THẮNG.
13. VÍ DỤ 6 – CHA MẸ BỊ CON NÓI TRÁI Ý
Con nói:
“Con không làm theo cách mẹ muốn.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 629
Mẹ nghe thành:
“Nó coi thường tôi.”
Sân sinh.
Nhưng câu thật có thể chỉ là:
con chọn khác.
Nếu cha mẹ giữ được tâm,
có thể hỏi:
“Vì sao con chọn vậy?”
Một cuộc cãi biến thành:
một cuộc hiểu.
14. VÍ DỤ 7 – BỊ CHÊ NGOẠI HÌNH
Một người nói:
“Dạo này già đi nhiều.”
Tâm đau.
Nhưng thân:
đang già thật.
Có thể người kia nói thiếu duyên.
Nhưng mình có thể dùng câu ấy để:
quán vô thường.
Không phải mọi lời khó nghe đều:
vô ích.
15. VÍ DỤ 8 – NGƯỜI KHÁC CHẠM VÀO CÁI TÔI
Đôi khi người ta không nói gì quá lớn.
Nhưng vì chạm đúng:
“Tôi phải được kính.”
nên mình nổi sân.
Ví dụ:
không gọi đúng danh xưng.
không ưu tiên mình.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 630
không nghe mình.
Đó là lúc câu hỏi phải đổi từ:
“Tại sao họ không kính tôi?”
sang:
“TẠI SAO TÔI CẦN SỰ KÍNH ẤY ĐẾN MỨC NÀY?”
Đây là tu sâu hơn.
16. VÍ DỤ 9 – NGƯỜI MÌNH ĐÃ GIÚP LẠI NÓI XẤU MÌNH
Đây rất đau.
Tâm nói:
“Tôi từng giúp họ mà họ đối với tôi vậy sao?”
Đau vì hai lớp:
một là lời nói.
hai là:
cảm giác bị phụ ơn.
Nếu giữ được tâm:
mình có thể ngừng giúp nếu không còn phù hợp,
giữ khoảng cách,
nhưng không cần biến thiện mình từng làm thành:
một món nợ phải được trả bằng lòng trung thành.
17. VÍ DỤ 10 – BỊ NGƯỜI KHÁC CHỈ LỖI THẬT
Đây có khi còn khó hơn bị vu oan.
Bởi nếu họ nói đúng:
cái tôi đau.
Tâm muốn:
tìm lỗi họ để trả.
Nhưng nếu học MN 21,
mình có thể nói:
“Điểm đó tôi chưa đúng.”
Một câu nhận sai nhiều khi:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 631
dập được cả một cuộc chiến.
18. NHẪN KHÔNG PHẢI ĐỂ NGƯỜI KHÁC BẠO HÀNH MÌNH
Điều này phải phân biệt rất rõ.
Nếu bị:
bạo lực.
đe dọa.
xâm hại.
không an toàn.
thì cần:
rời khỏi nơi nguy hiểm,
tìm sự giúp đỡ phù hợp,
sử dụng pháp luật khi cần.
MN 21 là bài dạy về:
không để sân hận chi phối tâm,
không phải lời yêu cầu một người ở lại trong:
nguy hiểm.
19. NHẪN KHÔNG PHẢI IM LẶNG TRƯỚC CÁI SAI
Có điều cần nói:
nói.
Nhưng nói:
đúng việc.
đúng lúc.
đúng mức.
Không miệt thị.
Không thêm chuyện.
Đó mới là:
NHẪN CÓ TRÍ.
20. NHẪN KHÔNG PHẢI NUỐT SÂN VÀO TRONG
Một người im,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 632
nhưng trong đầu:
chửi cả đêm.
Đó chưa phải hết sân.
Chỉ là:
sân chưa ra miệng.
Bước đầu không nói ác đã rất quý.
Nhưng phải đi tiếp:
NHÌN SÂN.
HIỂU SÂN.
BUÔNG SÂN.
21. TẠI SAO ĐỨC PHẬT DÙNG VÍ DỤ CÁI CƯA RẤT MẠNH?
MN 21 kết thúc bằng một hình ảnh cực đoan: ngay cả trong tình huống bị kẻ cướp dùng cưa hai cán gây tổn hại thân thể, người để tâm sân khởi lên vẫn không thực hành đúng lời Đức Phật. Hình ảnh này nhấn mạnh mức lý tưởng rất cao của việc không nuôi ác ý. (Reddit)
Không nên lấy hình ảnh đó để bảo người đang nguy hiểm:
“Cứ chịu đi.”
Ý giáo pháp là:
DÙ BÊN NGOÀI NGHIỆT NGÃ ĐẾN ĐÂU, MỤC TIÊU TU TÂM VẪN LÀ KHÔNG BIẾN MÌNH THÀNH NÔ LỆ CỦA HẬN.
22. NGƯỜI KHÁC CÓ THỂ LÀM ĐAU THÂN – ĐỪNG ĐỂ HỌ LẤY LUÔN TÂM MÌNH
Đây là một câu rất dễ giảng.
Người khác đã lấy:
một quyền lợi.
Nếu mình nuôi hận mười năm,
họ còn lấy thêm:
mười năm bình an.
Không phải lỗi của mình khi bị hại.
Nhưng sau đó,
mình cần học cách:
không tiếp tục giao tâm mình cho sự việc ấy mãi.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 633
23. CÓ KHI LỜI NGƯỜI KHÁC CHỈ LÀ MỘT CÁI QUE – CÁI TÔI MÌNH MỚI LÀ ĐỐNG LỬA
Một câu nhỏ:
“Bạn chưa làm tốt.”
Nếu cái tôi rất lớn,
lửa bùng.
Nếu tâm khiêm hơn:
mình kiểm.
Đôi lúc vấn đề không phải câu người kia:
lớn.
Mà chỗ nó chạm:
rất nhạy.
24. MUỐN NHẪN – PHẢI TẬP TRƯỚC KHI GẶP CHUYỆN LỚN
Không thể đợi:
đại nạn
mới bắt đầu tập.
Phải tập từ:
bình luận nhỏ.
kẹt xe.
người đến trễ.
món ăn không vừa.
người không chào.
Ai làm trái ý.
Những việc nhỏ là:
PHÒNG TẬP CỦA NHẪN.
25. NHẪN VÀ CHÁNH NGỮ ĐI CÙNG NHAU
Một cách kiểm rất đơn giản:
Khi sân:
KHÔNG NÓI NGAY.
Khi bình hơn:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 634
hỏi:
Có thật không?
Có ích không?
Có cần nói không?
Nói cách nào bớt hại?
Đó là nhẫn đi ra:
Chánh ngữ.
26. TÂM TỪ KHÔNG CÓ NGHĨA THƯƠNG CẢ HÀNH VI XẤU
Mình có thể mong:
người kia bớt tham sân si.
Nhưng vẫn mong:
hành vi xấu của họ dừng lại.
Từ với:
người.
Không từ với:
cái ác.
Đây là điểm rất quan trọng.
27. ỨNG DỤNG 1 – QUY TẮC KHÔNG TRẢ NGAY KHI SÂN CAO
Khi nghe câu làm mình nóng:
DỪNG.
Không trả tin nhắn.
Không gọi ngay.
Không đăng.
Không quyết việc lớn.
Đợi tâm xuống.
Đó là lớp bảo vệ đầu tiên.
28. ỨNG DỤNG 2 – TÁCH “NỘI DUNG” RA KHỎI “GIỌNG NÓI”
Người kia nói giọng:
khó nghe.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 635
Nhưng thử hỏi:
“TRONG CÂU ĐÓ CÓ PHẦN NÀO ĐÚNG KHÔNG?”
Nếu có:
lấy phần đúng.
Bỏ phần giọng.
Đây là một khả năng rất mạnh.
29. ỨNG DỤNG 3 – KHI BỊ NÓI SAI, CHỈ ĐÍNH CHÍNH ĐIỀU SAI
Đừng mở rộng thành:
“Con người họ xấu.”
Chỉ nói:
“Thông tin này chưa đúng.”
Rồi đưa:
bằng chứng.
Đó là giữ vấn đề:
đúng kích thước.
30. ỨNG DỤNG 4 – ĐỪNG LÔI CHUYỆN CŨ RA
Hôm nay cãi chuyện:
A.
Đừng đem:
B, C, D của mười năm trước.
Sân rất thích:
tích kho.
Nhẫn nói:
VIỆC NÀO – XỬ VIỆC ĐÓ.
31. ỨNG DỤNG 5 – KHÔNG KÉO PHE
Bị một người nói.
Đừng lập tức gọi:
mười người.
Nếu cần tư vấn:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 636
chọn người có trí.
Không biến chuyện hai người thành:
hai nhóm.
Đây là cách không làm sân:
lan.
32. ỨNG DỤNG 6 – KHI NGƯỜI KHÁC NÓI ĐÚNG
Nói:
“Điểm đó đúng, tôi xin sửa.”
Đây là một câu có sức mạnh lớn.
Nó hạ:
cái tôi.
Nhưng nâng:
sự thật.
33. ỨNG DỤNG 7 – KHI NGƯỜI KHÁC NÓI SAI
Có thể nói:
“Chỗ này tôi xin đính chính bằng nguồn như sau.”
Không cần:
“Bạn nói bậy.”
Sự thật không cần:
sân
để thành sự thật.
34. ỨNG DỤNG 8 – TRONG LIVESTREAM
Nếu gặp bình luận khiêu khích:
một là:
bỏ qua.
hai là:
trả lời ngắn bằng Pháp.
ba là:
giới hạn nếu họ phá cộng đồng.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 637
Nhưng sau đó:
ĐỪNG MANG HỌ THEO HẾT BUỔI LIVE.
Một người không nên được quyền chiếm:
toàn bộ tâm mình.
35. ỨNG DỤNG 9 – VỚI NGƯỜI THÂN
Thống nhất một nguyên tắc:
khi một trong hai quá nóng, tạm dừng.
Không dùng câu:
“Im đi.”
Có thể nói:
“Mình dừng một chút rồi nói tiếp.”
Đó là nhẫn được:
tổ chức thành thói quen.
36. CÔNG THỨC THỨ NHẤT: NGHE – DỪNG – SOI – NÓI
NGHE
Nghe đúng điều đã nói.
DỪNG
Không trả trong sân.
SOI
Đúng hay sai? Tâm mình thế nào?
NÓI
Nếu cần, nói bằng sự thật và ít hại.
Công thức:
NGHE → DỪNG → SOI → NÓI.
37. CÔNG THỨC THỨ HAI: ĐÚNG – NHẬN; SAI – ĐÍNH; ÁC Ý – KHÔNG NHẬN VÀO TÂM
Người nói đúng:
NHẬN.
Người nói sai:
ĐÍNH CHÍNH.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 638
Người nói với ác ý:
KHÔNG BIẾN ÁC Ý CỦA HỌ THÀNH ÁC Ý CỦA MÌNH.
38. CÔNG THỨC THỨ BA: SỰ THẬT + NHẪN + RANH GIỚI
SỰ THẬT
Không bỏ đúng sai.
NHẪN
Không hành động theo sân.
RANH GIỚI
Không để gây hại tiếp tục.
Công thức:
THẬT + NHẪN + RANH GIỚI.
39. CÔNG THỨC THỨ TƯ: MIỆNG NGƯỜI – KHÔNG GIỮ; MIỆNG MÌNH – PHẢI GIỮ
Câu này rất dễ nhớ:
MIỆNG NGƯỜI KHÁC – KHÔNG THUỘC QUYỀN MÌNH.
MIỆNG MÌNH – MÌNH CÓ TRÁCH NHIỆM.
Người ta nói một câu:
là nghiệp họ.
Mình trả thế nào:
là nghiệp mình.
40. CÔNG THỨC THỨ NĂM: ĐỪNG CHUYỂN SÂN
Người A sân với mình.
Nếu mình sân với B:
sân đã:
lan.
Ví dụ:
bị sếp mắng.
về nhà mắng con.
Con giận.
đá con chó.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 639
Một cơn sân đi qua:
nhiều người.
Công thức:
SÂN ĐẾN TÔI – CỐ ĐỪNG TRUYỀN TIẾP.
41. BÀI THỰC HÀNH MỘT NGÀY
Hôm nay tập đúng một việc:
KHÔNG TRẢ LỜI NGAY KHI THÂN ĐANG NÓNG.
Dấu hiệu sân:
tim nhanh.
mặt nóng.
giọng cao.
tay muốn gõ thật nhanh.
Khi thấy một trong các dấu hiệu ấy:
dừng.
Chỉ vậy.
Cuối ngày kiểm:
“Tôi đã cứu được câu nào chưa nói ra?”
42. BÀI THỰC HÀNH BẢY NGÀY
NGÀY 1
Không trả lời ngay một lời chê.
NGÀY 2
Khi nghe góp ý, tìm một phần đúng trước.
NGÀY 3
Không kể lại một lời xúc phạm cho nhiều người.
NGÀY 4
Nói một điều khó mà không dùng từ hạ nhục.
NGÀY 5
Đặt một ranh giới rõ nhưng không chửi.
NGÀY 6
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 640
Nhớ một người từng làm mình sân và thử nghĩ:
“Mong họ bớt tham sân si để không làm khổ thêm.”
NGÀY 7
Hỏi:
“Tôi hiền vì người khác hiền với tôi, hay tôi đã bắt đầu có nội lực?”
43. THỰC HÀNH BUỔI SÁNG
Mỗi sáng có thể đọc:
Hôm nay người khác có thể nói điều tôi không thích.
Tôi không kiểm soát được miệng họ.
Nhưng tôi cố giữ miệng mình.
Điều đúng tôi nhận.
Điều sai tôi đính chính.
Điều ác ý tôi không cần nuôi thành ác ý trong tâm.
Tôi giữ sự thật, giữ ranh giới và tập không sân.
44. THỰC HÀNH BUỔI TỐI
Trước khi ngủ hỏi:
Hôm nay ai làm tôi khó chịu nhất?
Tôi đã trả ngay hay có dừng?
Trong lời họ có phần nào đúng không?
Tôi có nói câu nào chỉ để làm họ đau không?
Tôi có kéo người khác vào chuyện không?
Tôi có giữ được ranh giới mà không nuôi hận không?
Nếu tình huống ấy xảy ra lại ngày mai, tôi muốn làm tốt hơn ở chỗ nào?
45. CÂU GHI NHỚ THỨ NHẤT
Chưa ai chọc mà mình hiền thì chưa đủ để biết mình có thật sự nhẫn hay không.
46. CÂU GHI NHỚ THỨ HAI
Sự thật không cần sân hận đứng bên cạnh mới trở thành sự thật.
47. CÂU GHI NHỚ THỨ BA
Người kia nói sai là lỗi của lời họ; mình nói ác lại là nghiệp mới của mình.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 641
48. CÂU GHI NHỚ THỨ TƯ
Nhẫn không phải để người khác thắng mình; nhẫn là để cơn sân không thắng mình.
49. CÂU GHI NHỚ THỨ NĂM
Một lời nặng kéo dài mười giây; đừng để tâm mình tự phát lại nó mười ngày.
50. CÂU GHI NHỚ THỨ SÁU
Có thể nói “không” rất rõ mà không cần nói “tôi ghét bạn”.
51. CÂU GHI NHỚ THỨ BẢY
Tâm từ không yêu cầu mình tin người gây hại; tâm từ chỉ không muốn biến mình thành người muốn gây hại lại.
52. CÂU GHI NHỚ THỨ TÁM
Khi người khác mất bình tĩnh, mình không bắt buộc phải mất bình tĩnh cùng họ.
53. CÂU GHI NHỚ THỨ CHÍN
Người tu mạnh không phải người không bao giờ bị chạm; là người bị chạm nhưng ngày càng ít bị kéo đi.
54. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI
Nhẫn có trí là: điều đúng nhận, điều sai sửa, điều nguy hiểm tránh, nhưng lòng hận không tiếp tục nuôi.
55. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
NGƯỜI KHÁC NÓI – ĐÓ LÀ PHẦN HỌ.
TÂM MÌNH SÂN – MÌNH PHẢI THẤY.
MIỆNG MÌNH SẮP NÓI ÁC – MÌNH PHẢI GIỮ.
ĐÚNG – NHẬN.
SAI – ĐÍNH CHÍNH.
NGUY HIỂM – GIỮ RANH GIỚI.
NHƯNG HẬN – ĐỪNG NUÔI.
Đó chính là tinh thần rất sâu của Kinh Ví Dụ Cái Cưa – Kakacūpama Sutta, MN 21, một bài kinh đặc biệt nhấn mạnh lòng nhẫn và tâm từ ngay khi gặp lời lẽ xúc phạm và chống đối. (SuttaCentral)
56. CÂU HỎI LIVESTREAM
1. Quý vị thấy mình hiền nhất khi chưa ai làm trái ý, hay vẫn giữ được phần nào khi bị chê?
2. Có bao giờ một người chỉ nói một câu nhưng mình giữ câu ấy trong đầu cả tuần không?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 642
3. Khi người ta góp ý sai về mình, quý vị thường muốn đính chính sự thật hay muốn làm họ mất mặt?
4. Theo quý vị, nhẫn và yếu đuối khác nhau ở đâu?
5. Có thể đặt ranh giới rất rõ mà vẫn không nuôi hận không?
6. Khi một người nói rất nặng nhưng trong lời họ có 10% đúng, mình có đủ bình tĩnh lấy 10% ấy ra học không?
7. Có bao giờ mình đang sân nhưng vẫn nghĩ “tôi chỉ đang nói sự thật” không?
8. Theo quý vị, người dừng trước trong một cuộc cãi có phải luôn là người thua không?
9. Có bình luận nào trên mạng từng làm quý vị mất cả ngày chỉ vì đọc mấy giây không?
10. Nếu người khác nói bằng ác ý, mình trả lại bằng ác ý thì ai đã điều khiển tâm mình lúc ấy?
11. Có người nào càng nói mình càng muốn chứng minh mình đúng không? Cái tôi đang nằm ở đâu trong đó?
12. Khi mình bị nói sai, có thể chỉ đưa bằng chứng rồi dừng mà không thêm lời hạ người được không?
13. Theo quý vị, vì sao Đức Phật dùng ví dụ rất mạnh như cái cưa để dạy không sân?
14. Nếu chưa thể thương người làm mình đau, mình có thể bắt đầu bằng việc không nói thêm một câu làm họ đau không?
15. Nếu hôm nay chỉ nhớ một công thức, quý vị có thể nhớ: “Nghe – dừng – soi – nói” không?
57. CÂU KẾT ĐỂ ĐỌC TRÊN LIVESTREAM
Kính thưa quý vị,
một đời mình gặp rất nhiều người.
Không phải ai cũng:
nói đúng.
Không phải ai cũng:
nói nhẹ.
Không phải ai cũng:
hiểu mình.
Và cũng không phải ai cũng:
có thiện ý.
Nếu bình an của mình chỉ tồn tại khi mọi người đều cư xử đúng với mình,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 643
thì bình an ấy:
rất mong manh.
Kinh Ví Dụ Cái Cưa đưa người tu đến một mức khó hơn:
TẬP GIỮ TÂM NGAY KHI BỊ CHẠM.
Không phải để mình trở thành người:
không biết đau.
Mà để mình không biến:
đau
thành:
hận.
Không biến:
bị xúc phạm
thành:
xúc phạm lại.
Không biến:
một cái sai của người
thành:
một cái sai mới của mình.
Việc cần nói:
nói.
Sự thật cần giữ:
giữ.
Ranh giới cần đặt:
đặt.
Nơi nguy hiểm cần rời:
rời.
Nhưng trong tất cả những điều ấy,
hãy cố nhớ:
ĐỪNG GIAO TAY LÁI CỦA TÂM MÌNH CHO CƠN SÂN.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 644
Vậy công thức bài hôm nay là:
NGHE → DỪNG → SOI → NÓI.
Và sâu hơn:
SỰ THẬT + NHẪN + RANH GIỚI.
Một người làm mình đau đã là một điều khó.
Đừng để họ còn lấy thêm:
một ngày,
một tháng,
hay nhiều năm bình an
chỉ vì mình tiếp tục nuôi lời họ trong lòng.
Tu nhẫn không phải:
chịu để người khác thắng.
Tu nhẫn là:
KHÔNG ĐỂ CƠN SÂN THẮNG MÌNH.
Đó là một sức mạnh rất lớn trên đường tu.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 645
MỤC 025 - Bài 025 — THIỆN HỮU TRI THỨC – GẦN NGƯỜI LÀNH, ĐƯỜNG TU DỄ ĐI ĐÚNG HƯỚNG 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
Tôn giả Ānanda bạch Đức Phật rằng:
“Bạch Thế Tôn, thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình là một nửa của Phạm hạnh.”
Đức Phật liền dạy:
“Chớ có nói vậy, này Ānanda! Chớ có nói vậy, này Ānanda! Toàn bộ Phạm hạnh này là thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình.” (SuttaCentral)
Đức Phật tiếp tục giải thích rằng người có thiện bạn hữu sẽ tu tập và làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành: Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định. (SuttaCentral)
2. NGUỒN KINH
Tên kinh tiếng Việt: Kinh Một Nửa – thường được biết qua nội dung về Thiện hữu Tên Pāli: Upaḍḍha Sutta Thuộc: Tương Ưng Bộ Kinh – Saṃyutta Nikāya Tương Ưng: Tương Ưng Đạo – Magga Saṃyutta Phẩm: Phẩm Vô Minh Số kinh: Kinh số 2 Mã tra cứu quốc tế: SN 45.2 Nhân vật đối thoại: Đức Phật và Tôn giả Ānanda Bản dịch tiếng Việt: Hòa thượng Thích Minh Châu Nguyên bản: Kinh tạng Pāli. SuttaCentral định danh bài này là SN 45.2 – Upaḍḍhasutta và bản Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu ghi rõ nội dung về thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình và việc tu tập Thánh đạo Tám ngành. (SuttaCentral)
Nếu có người hỏi trên livestream:
“Câu ‘thiện hữu là toàn bộ Phạm hạnh’ ở kinh nào?”
có thể trả lời:
“Đây là Tương Ưng Bộ Kinh – Saṃyutta Nikāya, Tương Ưng Đạo, Kinh Upaḍḍha, mã quốc tế SN 45.2, bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, nguyên bản Kinh tạng Pāli.” (SuttaCentral)
Ngoài SN 45.2, trong SN 45.77, Đức Phật còn dạy rằng Ngài không thấy một pháp nào khác có sức làm cho Thánh đạo Tám ngành chưa sinh được sinh lên, hoặc đã sinh được tu tập sung mãn, như bạn hữu với thiện. (SuttaCentral)
3. TỪ KHÓA VIỆT – PĀLI – NGHĨA
THIỆN BẠN HỮU – KALYĀṆAMITTA – NGƯỜI BẠN TỐT ĐẸP, HỖ TRỢ MÌNH ĐI VỀ PHÍA THIỆN
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 646
Thiện bạn hữu – kalyāṇamitta có thể hiểu là:
người bạn lành.
Không chỉ là:
người thương mình.
Không chỉ:
người bênh mình.
Không chỉ:
người luôn đồng ý với mình.
Một thiện hữu đúng nghĩa phải giúp mình:
GẦN THIỆN HƠN.
XA BẤT THIỆN HƠN.
THẤY PHÁP RÕ HƠN.
TU TỐT HƠN.
Đây là điểm quan trọng nhất.
THIỆN – KALYĀṆA – TỐT ĐẸP, LÀNH, CAO THƯỢNG
Kalyāṇa mang nghĩa tốt đẹp, lành, thiện.
Vì vậy một người thân thiết chưa chắc đã là:
thiện hữu.
Nếu người ấy làm mình:
tham hơn.
sân hơn.
nói xấu nhiều hơn.
ham hưởng thụ hơn.
xa giới hơn.
thì dù rất thân,
vẫn phải nhìn lại:
mối quan hệ ấy đang đưa tâm mình về đâu.
BẠN – MITTA – NGƯỜI THÂN THIỆN, NGƯỜI ĐỒNG HÀNH
Mitta nghĩa là bạn.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 647
Nhưng trong đường tu,
bạn không chỉ để:
nói chuyện vui.
Một người bạn lành có thể:
nhắc mình khi sai.
ngăn mình khi nóng.
khuyến khích khi lười.
dẫn về nguồn kinh khi mình nghi.
không tâng bốc cái tôi.
Đó mới là:
bạn giúp mình trưởng thành.
PHẠM HẠNH – BRAHMACARIYA – ĐỜI SỐNG TU TẬP CAO THƯỢNG
Phạm hạnh – brahmacariya trong ngữ cảnh bài kinh chỉ đời sống tu tập hướng đến giải thoát.
Tôn giả Ānanda nghĩ:
thiện hữu là:
một nửa.
Đức Phật sửa ngay:
KHÔNG PHẢI MỘT NỬA.
MÀ LÀ TOÀN BỘ PHẠM HẠNH.
Đây là lời nhấn rất mạnh. (SuttaCentral)
THÁNH ĐẠO TÁM NGÀNH – ARIYA AṬṬHAṄGIKA MAGGA – CON ĐƯỜNG TÁM CHI PHẦN CAO THƯỢNG
Đức Phật không dừng ở câu:
“Có bạn tốt là đủ.”
Ngài giải thích thiện hữu liên hệ trực tiếp đến việc phát triển:
Chánh tri kiến.
Chánh tư duy.
Chánh ngữ.
Chánh nghiệp.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 648
Chánh mạng.
Chánh tinh tấn.
Chánh niệm.
Chánh định. (SuttaCentral)
Như vậy tiêu chuẩn của thiện hữu không phải:
“NGƯỜI NÀY CÓ THƯƠNG TÔI KHÔNG?”
Mà còn phải hỏi:
“Ở GẦN NGƯỜI NÀY, BÁT CHÁNH ĐẠO TRONG TÔI CÓ LỚN HƠN KHÔNG?”
4. GIẢI TỪNG CỤM
“THIỆN BẠN HỮU”
Hai chữ này rất quen,
nhưng dễ hiểu quá rộng.
Không phải cứ:
đi chùa chung
là thiện hữu.
Không phải cứ:
tụng kinh chung
là thiện hữu.
Không phải cứ:
xưng huynh đệ
là thiện hữu.
Phải nhìn:
NGƯỜI ẤY CÓ GIÚP MÌNH ĐI VỀ PHÍA THIỆN KHÔNG?
“THIỆN BẠN ĐÃNG”
Trong bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu có cách diễn đạt:
thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình. (SuttaCentral)
Có thể hiểu gần:
không chỉ có một người quen tốt,
mà môi trường giao du và đồng hành của mình cũng hướng:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 649
về thiện.
Điều này rất quan trọng.
Một người muốn bỏ rượu,
nhưng ngày nào cũng ở nhóm rủ uống:
rất khó.
Một người muốn bớt nói xấu,
nhưng nhóm bạn ngày nào cũng bàn chuyện người khác:
rất khó.
Một người muốn giữ giới,
nhưng môi trường luôn xem nhẹ giới:
rất khó.
Môi trường có sức:
kéo.
“THIỆN THÂN TÌNH”
Một thiện hữu thật sự không chỉ nói chuyện đạo lý từ xa.
Khi mình yếu:
họ nhắc.
Khi mình sai:
họ nói.
Khi mình mạn:
họ không bơm thêm.
Khi mình nản:
họ nâng.
Đó là:
thân tình có lợi ích.
“LÀ MỘT NỬA PHẠM HẠNH”
Tôn giả Ānanda đã đánh giá thiện hữu:
rất cao.
Một nửa Phạm hạnh đã là:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 650
rất lớn.
Nhưng Đức Phật còn sửa:
“CHỚ CÓ NÓI VẬY.”
Tại sao?
Bởi người bạn lành có thể giúp mình:
gặp Pháp.
hiểu Pháp.
đi vào Chánh đạo.
duy trì Chánh đạo.
“TOÀN BỘ PHẠM HẠNH”
Câu này không nên hiểu cực đoan rằng:
chỉ cần có bạn tốt là khỏi tu.
Không.
Ngay sau đó Đức Phật giải thích người có thiện hữu phải:
tu tập Bát Chánh đạo. (SuttaCentral)
Vì vậy ý sâu là:
THIỆN HỮU LÀ ĐIỀU KIỆN RẤT LỚN GIÚP TOÀN BỘ CON ĐƯỜNG TU ĐƯỢC PHÁT TRIỂN.
Bạn lành:
không đi thay mình.
Nhưng họ giúp:
mình đi đúng hơn.
5. GHÉP NGHĨA TOÀN CÂU
Có thể hiểu thật dễ:
Tôn giả Ānanda nghĩ rằng bạn lành chỉ đóng góp một nửa cho đời sống tu tập. Đức Phật dạy rằng thiện bạn hữu, thiện sự giao du và thiện thân tình là nền rất lớn của toàn bộ đời sống Phạm hạnh, vì nương nơi thiện hữu, người tu có điều kiện phát triển và làm sung mãn Bát Chánh đạo. (SuttaCentral)
Có thể nhớ:
BẠN LÀNH → ĐƯỜNG ĐÚNG.
ĐƯỜNG ĐÚNG → HÀNH ĐÚNG.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 651
HÀNH ĐÚNG → TÂM DẦN ĐỔI.
6. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ GÌ?
Kính thưa quý vị,
mình thường nghĩ:
tu là chuyện của một mình.
Đúng một phần.
Không ai tu thay mình.
Nhưng Đức Phật cũng chỉ một sự thật khác:
MÔI TRƯỜNG VÀ NGƯỜI MÌNH GẦN CÓ ẢNH HƯỞNG RẤT LỚN.
Ở gần người hay sân,
mình dễ quen sân.
Ở gần người thích nói xấu,
mình dễ nói xấu.
Ở gần người xem thường giới,
mình dễ lỏng giới.
Ở gần người chân thật,
mình được nhắc về chân thật.
Ở gần người có chánh niệm,
mình dễ nhớ quay lại tâm.
Cho nên chọn bạn cũng là:
CHỌN HƯỚNG CHO TÂM.
7. THIỆN HỮU KHÔNG PHẢI NGƯỜI LUÔN BÊNH MÌNH
Có người nói:
“Bạn mà, phải đứng về phía tôi chứ.”
Không hẳn.
Nếu mình sai,
bạn lành có thể nói:
“Chỗ này bạn chưa đúng.”
Người chỉ biết bênh mình,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 652
có khi đang giúp:
cái tôi lớn.
Người dám nói thật đúng lúc,
có khi mới đang:
giúp mình tu.
8. VÍ DỤ 1 – MÌNH NÓI XẤU MỘT NGƯỜI
Bạn A nói:
“Đúng rồi, người đó xấu lắm, kể tiếp đi.”
Bạn B nói:
“Chuyện này mình biết chắc không? Nếu không cần, thôi mình đừng nói thêm.”
Ai là thiện hữu hơn?
Rất rõ.
Không nhất thiết người làm mình:
vui tai
là người giúp mình tốt hơn.
9. VÍ DỤ 2 – MÌNH ĐANG SÂN
Mình nói:
“Tôi phải trả cho họ một trận.”
Một người bạn nói:
“Đúng, phải làm cho họ biết tay.”
Người khác nói:
“Bạn đang rất nóng. Chờ một chút rồi tính.”
Người thứ hai có thể đang cứu mình khỏi:
một nghiệp lời hoặc hành động.
Đó là thiện hữu.
10. VÍ DỤ 3 – MÌNH MUỐN BỎ TU
Có giai đoạn:
mệt.
nản.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 653
nghĩ:
“Tu mãi chẳng thấy gì.”
Bạn lành không chế giễu.
Không tâng bốc.
Họ có thể nói:
“Đừng đòi hết phiền não ngay. Nhìn xem mình đã bớt được gì rồi.”
Một câu đúng lúc:
có thể giúp mình:
đi tiếp.
11. VÍ DỤ 4 – MÌNH HỌC SAI MỘT CÂU KINH
Người bạn chỉ muốn làm mình vui:
“Không sao đâu, nói vậy cũng được.”
Thiện hữu nói:
“Nguồn này chưa chắc. Mình kiểm lại.”
Người thứ hai có thể làm mình:
hơi khó chịu.
Nhưng họ đang bảo vệ:
Chánh pháp và chính mình.
12. VÍ DỤ 5 – MÌNH ĐANG KIÊU
Mình nói:
“Tôi giảng hay hơn nhiều người.”
Người thích mình:
“Đúng rồi, ai bằng bạn.”
Thiện hữu có thể nhắc:
“Mình nương lời Phật mà nói, đừng để cái tôi chen nhiều quá.”
Câu ấy nghe không ngọt.
Nhưng:
rất quý.
13. VÍ DỤ 6 – NGƯỜI RỦ MÌNH VÀO CHUYỆN THỊ PHI
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 654
“Bạn biết chuyện người kia chưa?”
Nếu ngày nào nhóm cũng vậy,
tâm mình sẽ:
rất rộn.
Thiện hữu có thể đổi câu chuyện:
“Thôi chuyện ấy không liên quan. Mình học bài hôm nay đi.”
Một người giúp mình:
bớt chuyện.
Có khi chính là người giúp mình:
bớt nghiệp.
14. VÍ DỤ 7 – NGƯỜI GIÚP MÌNH GIỮ GIỚI
Mình đứng trước một lợi ích nhưng phải:
nói dối.
Bạn nói:
“Thôi đừng làm, lợi này không đáng.”
Đó là bạn đang giúp:
Chánh ngữ.
Nếu một người khuyên mình:
“Cứ làm đi, ai biết,”
thì phải rất cẩn thận.
15. VÍ DỤ 8 – NGƯỜI GIÚP MÌNH GIỮ CHÁNH MẠNG
Có một cách kiếm lợi:
nhiều.
Nhưng gây hại.
Thiện hữu hỏi:
“Việc này có đúng Chánh mạng không?”
Chỉ một câu ấy có thể làm mình:
tỉnh.
16. VÍ DỤ 9 – NGƯỜI GIÚP MÌNH GIỮ CHÁNH NIỆM
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 655
Mình đang:
cãi.
Người bạn nói:
“Bạn đang sân rồi.”
Nếu có niệm,
mình dừng.
Nếu cái tôi mạnh,
mình có thể nói:
“Tôi không sân!”
rất lớn.
Lúc ấy lời bạn là:
tấm gương.
17. VÍ DỤ 10 – NGƯỜI KHÔNG TÂNG BỐC MÌNH
Thiện hữu không phải người ngày nào cũng:
khen.
Họ biết:
lúc nào động viên.
lúc nào nhắc.
lúc nào im.
lúc nào nói:
“Chỗ này nên sửa.”
Đó là tình bạn:
có trí.
18. THIỆN HỮU PHẢI GIÚP BÁT CHÁNH ĐẠO LỚN LÊN
Đây là tiêu chuẩn rất quan trọng từ chính SN 45.2. Đức Phật nối thiện hữu với sự tu tập Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định. (SuttaCentral)
Vì vậy có thể kiểm một mối quan hệ bằng tám câu hỏi.
19. THIỆN HỮU VÀ CHÁNH TRI KIẾN
Ở gần người này,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 656
mình có:
hiểu Pháp đúng hơn không?
Hay:
mê tín hơn?
Nếu họ thường kéo mình khỏi kinh điển,
phải cẩn thận.
20. THIỆN HỮU VÀ CHÁNH TƯ DUY
Ở gần người này,
mình:
bớt sân,
bớt ý hại,
bớt tham
hay tăng?
Nếu một mối quan hệ luôn làm mình:
nghĩ trả thù,
nghĩ tranh,
nghĩ chiếm,
thì phải nhìn.
21. THIỆN HỮU VÀ CHÁNH NGỮ
Gặp nhau xong:
mình nói lời tốt hơn
hay:
nói xấu nhiều hơn?
Câu này rất thật.
Có nhóm gặp nhau chỉ để:
bàn người.
Rồi ai cũng nghĩ:
“Mình đang thân tình.”
Nhưng Chánh ngữ:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 657
giảm.
Vậy phải xem lại.
22. THIỆN HỮU VÀ CHÁNH NGHIỆP
Người ấy có khuyến khích mình:
làm điều đúng
hay:
lách cái sai?
Bạn lành không kéo mình vào:
hành động khiến sau này phải hối tiếc.
23. THIỆN HỮU VÀ CHÁNH MẠNG
Một người có thể rất tốt với mình,
nhưng nếu cứ khuyên:
“Miễn có lợi là được,”
thì chưa chắc là bạn lành trên đường tu.
Thiện hữu biết:
đời sống cần vật chất,
nhưng không vì lợi mà:
bán giới.
24. THIỆN HỮU VÀ CHÁNH TINH TẤN
Mình lười:
họ nhắc.
Mình quá sức:
họ cũng nhắc nghỉ.
Tinh tấn không phải:
ép chết mình.
Thiện hữu giúp mình:
đi đều.
25. THIỆN HỮU VÀ CHÁNH NIỆM
Có người chỉ cần ngồi gần,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 658
mình đã:
bớt nói.
bớt chạy.
nhớ tâm.
Đó là một ảnh hưởng rất quý.
26. THIỆN HỮU VÀ CHÁNH ĐỊNH
Một môi trường quá:
ồn,
thị phi,
ham vui,
thì rất khó định.
Bạn lành biết tôn trọng:
thời khóa và sự yên tĩnh.
Không kéo mình khỏi công phu chỉ vì:
muốn vui.
27. THIỆN HỮU KHÔNG CÓ NGHĨA BẠN PHẢI HOÀN HẢO
Không ai hoàn hảo.
Một người vẫn có lỗi,
nhưng tổng thể mối quan hệ:
giúp cả hai đi về thiện.
Đó vẫn có thể là:
thiện hữu.
Đừng biến khái niệm này thành:
tiêu chuẩn để phán xét tất cả mọi người.
28. MÌNH CŨNG PHẢI HỎI: “TÔI CÓ LÀ THIỆN HỮU CHO NGƯỜI KHÁC KHÔNG?”
Đây mới là phần tu quan trọng.
Đừng chỉ hỏi:
“Ai là bạn tốt của tôi?”
Hãy hỏi:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 659
“Ở GẦN TÔI, NGƯỜI KHÁC CÓ TỐT HƠN KHÔNG?”
Hay:
họ sân hơn?
tham hơn?
mệt hơn?
nói xấu hơn?
Đây là câu hỏi rất sâu.
29. THIỆN HỮU KHÔNG PHẢI QUẢN LÝ CUỘC ĐỜI NGƯỜI KHÁC
Nhắc:
được.
Khuyên:
được.
Nhưng đừng biến:
“tôi muốn bạn tốt”
thành:
“bạn phải sống theo tôi.”
Thiện hữu phải đi với:
tôn trọng và trí.
30. KHI BẠN KHÔNG NGHE LỜI MÌNH
Mình đã khuyên đúng.
Họ chưa làm.
Không cần:
sân.
Mình làm phần của:
thiện hữu.
Nhưng lựa chọn:
vẫn là phần của họ.
31. KHI THIỆN HỮU CHỈ LỖI MÌNH
Đừng lập tức nghĩ:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 660
“Họ không thương tôi.”
Có khi vì thương nên:
mới nói.
Điều cần kiểm:
họ nói có đúng không?
Nếu đúng:
cảm ơn.
Nếu chưa đúng:
trao đổi.
Đừng bỏ một người lành chỉ vì:
họ không chiều cái tôi mình.
32. KHI MỘT NGƯỜI LUÔN LÀM MÌNH XA PHÁP
Không cần ghét.
Nhưng có thể:
giảm gần.
Đây là trí.
Không phải ai mình thương cũng phải:
ở thật gần.
Có người chỉ nên:
giữ thiện ý từ xa.
33. KHI MỘT NHÓM LUÔN KÉO MÌNH VÀO THỊ PHI
Có thể lịch sự:
rời.
Không cần tuyên bố:
“Các người đều xấu.”
Chỉ biết:
môi trường này không hợp đường tu của tôi.
Đó là chọn duyên.
34. THIỆN HỮU VỚI NGƯỜI MỚI HỌC PHẬT
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 661
Đừng dọa.
Đừng làm họ thấy:
Phật pháp quá khó.
Giúp họ bắt đầu từ:
giới căn bản.
một câu kinh.
một việc thiện.
một thời khóa vừa sức.
Đó là bạn lành.
35. THIỆN HỮU VỚI NGƯỜI ĐANG KHỔ
Đừng chỉ nói:
“Buông đi.”
Có khi họ chưa buông nổi.
Có thể:
nghe.
giúp họ thấy sự thật.
nhắc Pháp đúng mức.
Thiện hữu không phải:
ném giáo lý vào nỗi đau người khác.
Mà là:
đưa Pháp đúng lúc.
36. CÔNG THỨC THỨ NHẤT: GẦN – SOI – NHẮC – NÂNG
GẦN
Có mặt đúng mức.
SOI
Giúp nhau nhìn lỗi.
NHẮC
Nhắc về Pháp.
NÂNG
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 662
Nâng nhau khi nản.
Công thức:
GẦN → SOI → NHẮC → NÂNG.
37. CÔNG THỨC THỨ HAI: KHÔNG BÊNH SAI – KHÔNG HẠ NGƯỜI – KHÔNG BƠM CÁI TÔI
Một thiện hữu nên giữ:
KHÔNG BÊNH ĐIỀU SAI.
KHÔNG LÀM NHỤC NGƯỜI.
KHÔNG TÂNG BỐC CÁI TÔI.
Ba điều này rất quý.
38. CÔNG THỨC THỨ BA: BẠN LÀNH = GIỚI + PHÁP + TRÍ + TỪ
GIỚI
Không kéo nhau phá giới.
PHÁP
Đưa nhau về Chánh pháp.
TRÍ
Biết đúng sai.
TỪ
Nhắc nhau không bằng ác ý.
Công thức:
GIỚI + PHÁP + TRÍ + TỪ.
39. CÔNG THỨC THỨ TƯ: Ở GẦN NGƯỜI NÀY – TÂM TÔI THÀNH GÌ?
Đây là câu kiểm cực dễ:
Ở GẦN NGƯỜI NÀY, TÔI:
BỚT THAM KHÔNG?
BỚT SÂN KHÔNG?
BỚT NÓI XẤU KHÔNG?
GIỮ GIỚI TỐT HƠN KHÔNG?
NHỚ TU HƠN KHÔNG?
Nếu câu trả lời thường xuyên là:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 663
có,
đó là một dấu hiệu rất đẹp.
40. CÔNG THỨC THỨ NĂM: ĐỪNG CHỈ TÌM THIỆN HỮU – HÃY TRỞ THÀNH THIỆN HỮU
Đây là công thức quan trọng nhất:
TÌM NGƯỜI LÀNH – TỐT.
GẦN NGƯỜI LÀNH – TỐT.
NHƯNG CHÍNH MÌNH PHẢI HỌC LÀM NGƯỜI LÀNH CHO NGƯỜI KHÁC.
41. BÀI THỰC HÀNH MỘT NGÀY
Hôm nay chọn một người mình thường tiếp xúc.
Hỏi:
“Sau khi nói chuyện với tôi, người ấy thường nhẹ hơn hay nặng hơn?”
“Tôi thường kéo họ về Pháp hay kéo họ vào chuyện?”
“Tôi đang nuôi điều tốt nào trong họ?”
Không cần tự trách.
Chỉ:
nhìn.
42. BÀI THỰC HÀNH BẢY NGÀY
NGÀY 1
Nhìn lại năm người mình tiếp xúc nhiều nhất.
NGÀY 2
Xem ai làm thiện pháp trong mình tăng.
NGÀY 3
Không tham gia một cuộc nói xấu tập thể.
NGÀY 4
Nhắc một người bằng lời tử tế về một điều thiện.
NGÀY 5
Khi bạn chỉ lỗi đúng, thử không tự vệ ngay.
NGÀY 6
Chủ động gần một người có nếp sống lành mạnh.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 664
NGÀY 7
Hỏi:
“Tôi có đang là thiện hữu cho ai không?”
43. THỰC HÀNH BUỔI SÁNG
Mỗi sáng có thể đọc:
Hôm nay tôi chọn gần người giúp thiện pháp trong tôi tăng trưởng.
Tôi không vì tình thân mà bênh điều sai.
Tôi không lấy danh nghĩa góp ý để làm người khác đau.
Tôi học nói thật bằng tâm từ.
Tôi không chỉ tìm bạn lành; tôi tập trở thành bạn lành.
44. THỰC HÀNH BUỔI TỐI
Trước khi ngủ hỏi:
Hôm nay ai ảnh hưởng tâm tôi mạnh nhất?
Sau cuộc nói chuyện đó, tôi thiện hơn hay sân hơn?
Tôi có kéo ai vào chuyện thị phi không?
Tôi có nhắc ai bằng tâm muốn hơn thua không?
Có ai nói một điều đúng mà tôi không muốn nghe không?
Tôi đã làm được một việc của thiện hữu chưa?
45. CÂU GHI NHỚ THỨ NHẤT
Bạn tốt không chỉ làm mình vui; bạn tốt giúp mình bớt sai.
46. CÂU GHI NHỚ THỨ HAI
Người luôn bênh mình chưa chắc là thiện hữu; người giúp mình trở về sự thật mới đáng quý.
47. CÂU GHI NHỚ THỨ BA
Môi trường mình ở lâu ngày sẽ dần trở thành một phần của tâm mình.
48. CÂU GHI NHỚ THỨ TƯ
Một người kéo mình khỏi một câu ác có khi đã giúp mình tránh một nghiệp rất lớn.
49. CÂU GHI NHỚ THỨ NĂM
Bạn lành không bơm cái tôi; họ giúp mình nhìn cái tôi.
50. CÂU GHI NHỚ THỨ SÁU
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 665
Thiện hữu không đi thay con đường, nhưng giúp mình đừng đi nhầm đường.
51. CÂU GHI NHỚ THỨ BẢY
Gần người hay nói xấu, mình dễ học nói xấu; gần người thường nhìn tâm, mình dễ nhớ nhìn tâm.
52. CÂU GHI NHỚ THỨ TÁM
Không phải tình bạn nào lâu năm cũng là thiện hữu; phải nhìn nó đang nuôi thiện hay nuôi phiền não.
53. CÂU GHI NHỚ THỨ CHÍN
Người dám nói “chỗ này bạn sai” bằng tâm thương đôi khi quý hơn mười người chỉ nói “bạn luôn đúng”.
54. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI
Đừng chỉ cầu gặp người lành; hãy sống sao để người khác gặp mình cũng gặp được một duyên lành.
55. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
THIỆN HỮU KHÔNG CHỈ LÀ NGƯỜI THƯƠNG MÌNH.
MÀ LÀ NGƯỜI GIÚP MÌNH GẦN THIỆN HƠN.
BỚT THAM HƠN.
BỚT SÂN HƠN.
GIỮ GIỚI TỐT HƠN.
THẤY PHÁP RÕ HƠN.
VÀ ĐI TRÊN BÁT CHÁNH ĐẠO VỮNG HƠN.
Và xin nhớ lời Phật:
“Chớ có nói vậy, này Ānanda! Chớ có nói vậy, này Ānanda! Toàn bộ Phạm hạnh này là thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình.” (SuttaCentral)
Nguồn: Kinh Upaḍḍha – Upaḍḍha Sutta, Tương Ưng Bộ Kinh – Saṃyutta Nikāya, Tương Ưng Đạo, kinh số 2, mã tra cứu quốc tế SN 45.2; bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu; nguyên bản Kinh tạng Pāli. (SuttaCentral)
56. CÂU HỎI LIVESTREAM
1. Theo quý vị, một người luôn bênh mình có chắc là thiện hữu không?
2. Có người bạn nào từng nói một câu làm mình khó chịu lúc đó nhưng sau này mới thấy họ nói đúng không?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 666
3. Sau khi gặp nhóm bạn thân, tâm quý vị thường nhẹ hơn hay mang thêm nhiều chuyện hơn?
4. Có nhóm nào mình tham gia chỉ để nghe chuyện người khác rồi về tâm rất rộn không?
5. Theo quý vị, tại sao Đức Phật không nói thiện hữu chỉ là một nửa mà lại nói là toàn bộ Phạm hạnh? (SuttaCentral)
6. Một người rất thương mình nhưng thường rủ mình làm điều trái giới có phải thiện hữu trên đường tu không?
7. Khi một người bạn nói “Bạn đang sân rồi”, phản ứng của mình thường là cảm ơn hay nổi sân thêm?
8. Có bao giờ mình vì muốn giữ tình bạn mà bênh một việc biết rõ là sai không?
9. Theo quý vị, thiện hữu có cần biết nói lời khó nghe đúng lúc không?
10. Ở gần một người mà mình ngày càng nói xấu nhiều hơn, có phải đó là dấu hiệu cần xem lại mối quan hệ không?
11. Người thầy chân chính có phải cũng là một dạng thiện hữu rất lớn trên đường tu không?
12. Nếu một người luôn tâng bốc mình, điều ấy có thể làm cái tôi lớn lên như thế nào?
13. Có khi nào mình đòi bạn phải đứng về phía mình thay vì đứng về phía sự thật không?
14. Nếu hôm nay kiểm năm người gần mình nhất, có bao nhiêu người giúp mình nhớ giới và nhớ Pháp?
15. Quan trọng hơn nữa: quý vị có nghĩ người khác ở gần mình đang trở nên thiện hơn không?
57. CÂU KẾT ĐỂ ĐỌC TRÊN LIVESTREAM
Kính thưa quý vị,
đường tu là việc:
chính mình phải đi.
Nhưng người đi cùng:
rất quan trọng.
Có người đi bên mình,
mỗi ngày kể thêm một chuyện.
Tâm mình:
rộn hơn.
Có người đi bên mình,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 667
mỗi lần sân lại nói:
“Thôi, dừng một chút.”
Tâm mình:
nhẹ hơn.
Có người mỗi lần mình sai đều:
bênh.
Cái tôi mình:
lớn.
Có người thương mình đủ để nói:
“Chỗ này bạn nên kiểm lại.”
Trí mình:
có cơ hội lớn.
Vì vậy Đức Phật đã sửa ngay khi Tôn giả Ānanda nói rằng thiện hữu chỉ là một nửa Phạm hạnh.
Ngài dạy:
TOÀN BỘ PHẠM HẠNH LÀ THIỆN BẠN HỮU, THIỆN BẠN ĐÃNG, THIỆN THÂN TÌNH. (
SuttaCentral
)
Nhưng điều đẹp nhất không phải chỉ là:
“Tôi cần tìm một người bạn lành.”
Mà còn là:
“TÔI CÓ ĐANG LÀ BẠN LÀNH CHO NGƯỜI KHÁC KHÔNG?”
Ở gần tôi,
người ta:
bớt sân hay tăng sân?
Bớt nói xấu hay nói nhiều hơn?
Gần Pháp hơn hay xa Pháp hơn?
Có được nhắc về giới không?
Có được đối xử bằng sự thật và lòng từ không?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 668
Nếu mình chỉ thích người tốt với mình,
nhưng mình lại không giúp người khác tốt lên,
thì bài học còn:
một nửa.
Cho nên công thức hôm nay xin nhớ:
GẦN → SOI → NHẮC → NÂNG.
Và một công thức nữa:
GIỚI + PHÁP + TRÍ + TỪ.
Một thiện hữu chân chánh không làm mình:
phụ thuộc vào họ.
Họ giúp mình:
nương Pháp hơn.
Không làm cái tôi mình lớn.
Họ giúp:
trí mình lớn.
Không chỉ làm mình vui.
Họ giúp mình:
đi đúng.
Vậy xin kết lại bằng một câu thật dễ nhớ:
ĐỪNG CHỈ TÌM NGƯỜI LÀNH ĐỂ GẦN.
HÃY SỐNG SAO ĐỂ NGƯỜI KHÁC GẦN MÌNH CŨNG GẶP ĐƯỢC MỘT DUYÊN LÀNH.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 669
MỤC 026 - Bài 026 — ĐỪNG VỘI TIN – HÃY XÉT BẰNG TRÍ, BẰNG THIỆN PHÁP VÀ BẰNG KẾT QUẢ 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
“Chớ có tin vì nghe truyền khẩu; chớ có tin vì truyền thống; chớ có tin vì nghe người ta nói; chớ có tin vì được kinh điển truyền tụng; chớ có tin vì lý luận; chớ có tin vì suy diễn; chớ có tin vì cân nhắc những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì người nói có vẻ có khả năng; chớ có tin vì nghĩ rằng: ‘Vị Sa-môn này là bậc Đạo sư của chúng ta.’”
Đức Phật dạy tiếp:
“Khi nào tự mình biết rõ: ‘Các pháp này là bất thiện; các pháp này đáng chê; các pháp này bị người có trí chỉ trích; các pháp này nếu được thực hiện và chấp nhận sẽ đưa đến bất hạnh, khổ đau’, thời hãy từ bỏ chúng.”
Và:
“Khi nào tự mình biết rõ: ‘Các pháp này là thiện; các pháp này không đáng chê; các pháp này được người có trí tán thán; các pháp này nếu được thực hiện và chấp nhận sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc’, thời hãy chứng đạt và an trú.”
2. NGUỒN KINH
Tên kinh tiếng Việt: Kinh Kesamutti, thường gọi Kinh Kālāma
Tên Pāli: Kesamutti Sutta
Thuộc: Tăng Chi Bộ Kinh – Aṅguttara Nikāya
Chương: Chương Ba Pháp
Số kinh: Kinh số 65
Mã tra cứu quốc tế: AN 3.65
Địa điểm: Kesamutta
Đối tượng nghe pháp: Người Kālāma
Bản dịch tiếng Việt: Hòa thượng Thích Minh Châu
Nguyên bản: Kinh tạng Pāli
Khi cần trả lời thật ngắn về nguồn:
“Đây là Kinh Kesamutti, thường gọi Kinh Kālāma, thuộc Tăng Chi Bộ Kinh – Aṅguttara Nikāya, Chương Ba Pháp, kinh số 65, mã quốc tế AN 3.65, bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, nguyên bản Kinh tạng Pāli.”
3. BỐI CẢNH BÀI KINH
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 670
Người dân Kālāma sống tại Kesamutta thường gặp nhiều vị Sa-môn và Bà-la-môn đến giảng dạy.
Người này:
đề cao giáo pháp của mình.
Người kia:
bác bỏ giáo pháp của người khác.
Mỗi người đều nói:
“Điều tôi dạy mới đúng.”
Người dân vì thế sinh nghi ngờ:
Ai nói đúng?
Ai nói sai?
Mình nên tin ai?
Đức Phật không yêu cầu họ phải tin Ngài chỉ vì Ngài là bậc Đạo sư.
Ngài chỉ cho họ:
MỘT PHƯƠNG PHÁP ĐỂ XEM XÉT.
Đây là giá trị rất lớn của bài kinh.
Không chỉ cho một câu trả lời.
Mà dạy:
CÁCH TÌM RA ĐIỀU ĐÁNG TIN.
4. TỪ KHÓA VIỆT – PĀLI – NGHĨA
NGHE TRUYỀN LẠI – ANUSSAVA – ĐIỀU NGHE TỪ NGƯỜI KHÁC
Nghe truyền lại – anussava là những điều mình không trực tiếp biết mà nghe người khác kể.
Ví dụ:
“Người ta nói…”
“Tôi nghe kể…”
“Mọi người đều bảo…”
Điều nghe truyền lại:
có thể đúng.
Cũng có thể sai.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 671
Cho nên:
NGHE CHƯA PHẢI LÀ BIẾT.
Đây là điều đầu tiên cần nhớ.
TRUYỀN THỐNG – PARAMPARĀ – ĐIỀU ĐƯỢC TRUYỀN NỐI QUA NHIỀU ĐỜI
Truyền thống – paramparā là điều được lưu truyền từ thế hệ trước sang thế hệ sau.
Truyền thống tốt:
nên trân trọng.
Nhưng:
một điều được làm lâu năm
không tự động chứng minh rằng:
điều ấy hoàn toàn đúng Chánh pháp.
Cho nên phải xem:
có hợp giới không?
có thiện không?
có gây hại không?
có đúng kinh không?
LỜI ĐỒN – ITIKIRĀ – NGHE NÓI LÀ NHƯ VẬY
Lời đồn – itikirā là điều được truyền bằng kiểu:
“Nghe đâu…”
“Nghe người ta nói…”
Lời đồn rất dễ:
thêm.
bớt.
biến đổi.
Một người kể qua người thứ hai.
Người thứ hai kể qua người thứ ba.
Đến người thứ mười:
câu chuyện có thể đã khác rất nhiều.
Vì vậy:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 672
KHÔNG NÊN LẤY LỜI ĐỒN LÀM SỰ THẬT.
KINH ĐIỂN TRUYỀN TỤNG – PIṬAKASAMPADĀ – NỘI DUNG ĐƯỢC TRUYỀN TRONG CÁC TẬP VĂN BẢN
Đây là một chỗ cần hiểu thật cẩn thận.
Đức Phật không dạy:
“Không cần kinh điển.”
Cũng không dạy:
“Không cần học kinh.”
Mà Ngài nhắc:
đừng chỉ vì một câu được ghi trong một văn bản mà lập tức ngừng quan sát, đối chiếu và thực hành.
Ngày nay điều này càng quan trọng.
Có rất nhiều câu trên mạng ghi:
“Phật dạy…”
Nhưng khi hỏi:
Kinh nào?
Bộ nào?
Phẩm nào?
Kệ nào?
thì không có.
Cho nên:
CÂU HAY CHƯA CHẮC LÀ LỜI PHẬT.
Muốn nói:
“Đức Phật dạy,”
phải cố gắng tìm:
nguồn.
LÝ LUẬN – TAKKA – SUY LUẬN BẰNG LÝ TRÍ
Lý luận – takka rất cần.
Nhưng lý luận:
không phải tiêu chuẩn duy nhất.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 673
Một lập luận có thể:
nghe rất hợp lý.
Nhưng nếu đem ra thực hành lại làm:
tham tăng.
sân tăng.
si tăng.
hại người tăng.
thì phải xem lại.
SUY DIỄN – NAYA – SUY RA TỪ NHỮNG ĐIỀU ĐÃ CÓ
Một người thấy:
A.
Rồi suy:
chắc chắn B.
Nhưng giữa A và B có thể còn:
rất nhiều điều mình chưa biết.
Cho nên:
SUY RA KHÔNG ĐỒNG NGHĨA BIẾT CHẮC.
ĐỊNH KIẾN – DIṬṬHINIJJHĀNAKKHANTI – ĐIỀU PHÙ HỢP VỚI QUAN ĐIỂM MÌNH ĐANG ƯA THÍCH
Con người có một khuynh hướng rất mạnh:
DỄ TIN ĐIỀU MÌNH MUỐN TIN.
Nếu một câu phù hợp với quan điểm mình:
mình dễ nói:
“Đúng quá.”
Nếu một câu trái ý:
mình dễ nói:
“Sai.”
Nhưng:
thích không quyết định thật.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 674
Ghét cũng không quyết định sai.
NGƯỜI NÓI CÓ VẺ GIỎI – BHABBARŪPATĀ – VẺ CÓ NĂNG LỰC, CÓ UY TÍN
Một người:
nói hay.
có danh.
có rất nhiều người theo.
có học vị.
có địa vị.
không có nghĩa:
mọi câu họ nói đều đúng.
Phải phân biệt:
UY TÍN CỦA NGƯỜI NÓI
và:
TÍNH ĐÚNG ĐẮN CỦA NỘI DUNG.
“ĐÂY LÀ THẦY CỦA TA” – SAMAṆO NO GARŪ – KÍNH THẦY NHƯNG KHÔNG TIN MÙ
Kính thầy là:
điều quý.
Biết ơn thầy:
điều quý.
Nhưng không vì kính mà:
bỏ trí.
Nếu chưa hiểu:
hỏi.
Nếu chưa chắc:
kiểm.
Nếu thấy khác nguồn kinh:
đối chiếu bằng tâm kính trọng.
Đó không phải:
bất kính.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 675
Mà là:
HỌC PHÁP CÓ TRÍ.
5. GIẢI TỪNG CỤM
“CHỚ CÓ TIN VÌ NGHE TRUYỀN KHẨU”
Một người nói:
“Người ấy xấu lắm.”
Mình hỏi:
“Bạn trực tiếp biết không?”
Họ nói:
“Không, tôi nghe người khác kể.”
Nếu mình lập tức ghét người kia,
thì từ một lời:
nghe
mình đã tạo ra một tâm:
sân thật.
Cho nên phải phân biệt:
ĐIỀU TÔI NGHE.
ĐIỀU TÔI BIẾT.
“CHỚ CÓ TIN VÌ TRUYỀN THỐNG”
Một việc được làm lâu:
có thể có giá trị.
Nhưng vẫn phải hỏi:
Có đúng giới không?
Có làm tăng mê tín không?
Có làm người khác khổ không?
Có phù hợp lời Phật không?
Nếu phù hợp:
giữ.
Nếu không:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 676
cần xem lại.
“CHỚ CÓ TIN VÌ NGHE NGƯỜI TA NÓI”
Một tin được một trăm người chia sẻ:
vẫn có thể sai.
Số người chia sẻ:
không phải bằng chứng tuyệt đối.
Ngày nay chỉ cần một nội dung sai được đăng lên,
hàng ngàn người có thể:
chia sẻ lại.
Cho nên:
NHIỀU NGƯỜI NÓI KHÔNG ĐỒNG NGHĨA NÓ ĐÚNG.
“CHỚ CÓ TIN VÌ ĐƯỢC KINH ĐIỂN TRUYỀN TỤNG”
Khi học Phật,
phải phân biệt:
Kinh.
Luật.
Luận.
Chú giải.
Lời giảng của các vị về sau.
Lời dân gian.
Không nên gom tất cả thành:
“Đức Phật dạy.”
Đây là tác phong rất quan trọng đối với người chia sẻ Phật pháp.
“CHỚ CÓ TIN CHỈ VÌ LÝ LUẬN”
Một lý luận có thể rất chặt.
Nhưng nếu nền ban đầu sai,
kết luận vẫn sai.
Ví dụ:
“Người này bị bệnh, vậy chắc chắn do một nghiệp cụ thể trong đời trước.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 677
Nghe giống nhân quả.
Nhưng:
mình đâu có trí biết chính xác nghiệp của họ.
Cho nên không nên:
nói chắc điều mình không biết.
“CHỚ CÓ TIN CHỈ VÌ PHÙ HỢP VỚI QUAN ĐIỂM CỦA MÌNH”
Đây là chỗ cái tôi dễ chen nhất.
Nếu ai nói:
“Bạn đúng.”
mình dễ thích.
Nếu ai nói:
“Bạn cần sửa.”
mình dễ khó chịu.
Nhưng sự thật:
không hỏi mình thích hay không.
Cho nên người tu phải tập:
THƯƠNG SỰ THẬT HƠN THƯƠNG CÁI TÔI.
“CHỚ CÓ TIN VÌ NGƯỜI NÓI CÓ VẺ CÓ NĂNG LỰC”
Một người rất nổi tiếng:
vẫn có thể nhớ nhầm.
Một người rất giỏi:
vẫn có thể nói sai.
Một người tu lâu:
vẫn cần kiểm nguồn.
Điều này không hạ thấp ai.
Đó chỉ là:
CON NGƯỜI CÓ THỂ SAI.
Vì vậy nguồn và Chánh pháp:
rất quan trọng.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 678
“CHỚ CÓ TIN VÌ NGHĨ: VỊ NÀY LÀ THẦY CỦA TA”
Nếu thầy nói một điều mình chưa hiểu,
đừng vội bác.
Nhưng cũng không cần:
tin một cách mù quáng.
Có thể:
học thêm.
hỏi thêm.
đối chiếu.
Đó là:
KÍNH + TRÍ.
6. ĐỨC PHẬT KHÔNG DẠY “KHÔNG TIN GÌ CẢ”
Đây là điều đặc biệt phải nhớ.
Kinh Kālāma thường bị trích một nửa.
Người ta chỉ lấy đoạn:
“Đừng tin…”
rồi kết luận:
“Đức Phật bảo không tin gì hết.”
Không đúng.
Phần tiếp theo mới rất quan trọng.
Đức Phật dạy phải xét:
PHÁP NÀY THIỆN HAY BẤT THIỆN?
ĐÁNG CHÊ HAY KHÔNG?
NGƯỜI TRÍ TÁN THÁN HAY QUỞ TRÁCH?
THỰC HÀNH ĐƯA ĐẾN KHỔ HAY HẠNH PHÚC?
Đó mới là toàn bộ tinh thần.
7. BẤT THIỆN – AKUSALA – ĐIỀU KHÔNG KHÉO, ĐƯA TỚI HẠI
Bất thiện – akusala là những trạng thái và hành vi đưa tâm về:
tham.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 679
sân.
si.
hại.
Đức Phật hỏi người Kālāma:
khi một người bị:
tham
chi phối,
họ có thể:
làm điều gây hại không?
Có.
Khi bị:
sân
chi phối?
Có.
Khi bị:
si
chi phối?
Có.
Đó là phép thử rất thực tế.
8. THIỆN – KUSALA – ĐIỀU LÀNH, KHÉO, ĐƯA TỚI LỢI ÍCH
Thiện pháp có hướng:
bớt tham.
bớt sân.
bớt si.
bớt hại.
tăng chân thật.
tăng từ.
tăng trí.
tăng an.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 680
Cho nên khi xét một lời dạy,
hãy hỏi:
“NẾU TÔI SỐNG THEO ĐIỀU NÀY, TÂM TÔI SẼ THÀNH THẾ NÀO?”
Đây là câu rất quan trọng.
9. NGƯỜI TRÍ – VIÑÑŪ – NGƯỜI CÓ TRÍ
Bài kinh không nói:
“Chỉ cần tôi tự thấy đúng là được.”
Đức Phật còn đưa:
người trí
vào tiêu chuẩn.
Tại sao?
Bởi đôi khi:
mình thích điều bất thiện.
Ví dụ:
trả đũa xong:
thấy hả.
Nhưng cảm giác hả:
không chứng minh việc đó là thiện.
Cho nên cần:
trí rộng hơn cảm giác cá nhân.
10. GHÉP NGHĨA TOÀN BÀI
Có thể hiểu thật dễ:
Khi nghe một lời dạy, đừng vội tin chỉ vì người khác truyền lại, vì truyền thống, vì sách ghi, vì lý luận, vì câu ấy hợp ý mình, vì người nói có uy tín hay vì người ấy là thầy mình. Hãy xem xét điều đó có thiện hay bất thiện, có bị người trí quở trách hay tán thán, và khi đem ra thực hành có đưa đến tổn hại, khổ đau hay đưa đến lợi ích và an lạc. Điều bất thiện thì từ bỏ; điều thiện thì tu tập và sống theo.
Công thức rất dễ nhớ:
NGHE → KIỂM → XÉT → HÀNH.
11. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ GÌ?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 681
Kính thưa quý vị,
Đức Phật không muốn người học Pháp trở thành:
người tin mù.
Nhưng Ngài cũng không muốn mình thành:
người nghi tất cả.
Hai cực đều làm tâm:
không sáng.
Con đường đúng hơn là:
KHÔNG TIN VỘI.
KHÔNG BÁC VỘI.
HÃY XEM XÉT.
Đây là:
trí tuệ có trách nhiệm.
12. VÍ DỤ 1 – MỘT CÂU “PHẬT DẠY” TRÊN MẠNG
Thấy câu:
rất hay.
Rất cảm động.
Bên dưới ghi:
“Đức Phật dạy.”
Đừng vội chép.
Hãy hỏi:
Kinh nào?
Bộ nào?
Mã nào?
Bản dịch nào?
Nếu chưa tìm được,
có thể giữ nó như:
một câu đạo lý.
Nhưng đừng vội gắn:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 682
“Lời Phật.”
13. VÍ DỤ 2 – MỘT NGƯỜI RẤT NỔI TIẾNG NÓI
Người ấy có:
hàng triệu người theo.
Nhưng câu nói vẫn phải:
kiểm.
Người nổi tiếng:
không phải nguồn kinh.
Nguồn kinh:
mới là nguồn kinh.
14. VÍ DỤ 3 – NGƯỜI MÌNH RẤT KÍNH NÓI
Mình kính vị ấy.
Nhưng nghe một câu lạ.
Không cần:
phản bác.
Chỉ cần:
“Tôi xin kiểm lại nguồn.”
Đây là:
kính mà không mù.
15. VÍ DỤ 4 – NGƯỜI MÌNH KHÔNG THÍCH NÓI
Người mình không thích nói:
một câu đúng.
Nếu vì ghét người mà bác câu đúng,
mình đang để:
sân che sự thật.
Kinh Kālāma dạy mình nhìn:
nội dung.
Không chỉ nhìn:
người nói.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 683
16. VÍ DỤ 5 – MỘT PHONG TỤC LÂU ĐỜI
Người ta nói:
“Xưa giờ ai cũng làm vậy.”
Hỏi:
có thiện không?
có hại ai không?
có trái giới không?
có gây mê tín không?
Nếu lành:
giữ.
Nếu không lành:
cần sửa.
17. VÍ DỤ 6 – NGHE NÓI “LÀM VIỆC NÀY LÀ HẾT NGHIỆP”
Đây là câu phải rất cẩn thận.
Nếu không có nguồn rõ,
không nên:
hứa chắc.
Nghiệp là giáo lý sâu.
Không nên biến thành:
một lời quảng cáo.
18. VÍ DỤ 7 – NÓI “NGƯỜI NÀY BỆNH VÌ NGHIỆP ĐÓ”
Mình không có trí biết nghiệp cụ thể của người ấy.
Không nên:
đoán.
Bệnh có thể liên quan:
thân thể.
môi trường.
di truyền.
đời sống.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 684
nhiều duyên khác.
Phật pháp không dạy mình:
dùng chữ nghiệp để giải thích bừa mọi chuyện.
19. VÍ DỤ 8 – MỘT PHÁP TU ĐƯỢC QUẢNG CÁO “NHANH NHẤT”
Nghe rất hấp dẫn.
Nhưng phải hỏi:
Có nguồn không?
Có hợp giới không?
Có làm tham sân si giảm không?
Hay làm mình nghĩ mình đặc biệt hơn người?
Nếu cái tôi ngày càng lớn,
cần kiểm.
20. VÍ DỤ 9 – “AI CŨNG LÀM”
Một người nói:
“Ai cũng làm vậy, có sao đâu.”
Nhưng nếu việc đó là:
nói dối,
gian lận,
làm hại,
thì một triệu người làm
cũng không biến nó thành:
thiện.
21. VÍ DỤ 10 – MÌNH SUY RA Ý KINH
Đọc một câu,
mình hiểu:
“Theo tôi, ý này có thể ứng dụng như sau…”
Đó là:
diễn giải.
Không nên nói:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 685
“Đức Phật nói chính xác như vậy.”
Phải phân biệt:
NGUYÊN VĂN.
Ý KINH.
LỜI GIẢI.
Đây là sự chân thật trong giảng Pháp.
22. VÍ DỤ 11 – CÂU NÓI QUÁ HỢP Ý MÌNH
Khi gặp một câu xác nhận đúng điều mình vốn tin,
tâm rất thích.
Đó chính là lúc:
càng phải kiểm.
Bởi con người dễ:
tìm bằng chứng cho điều mình đã muốn tin.
23. VÍ DỤ 12 – MỘT TIN XẤU VỀ NGƯỜI MÌNH GHÉT
Nghe tin:
mình tin ngay.
Tại sao?
Vì sân nói:
“Đúng rồi, người đó phải vậy.”
Nếu tin xấu về người mình thương:
mình lại kiểm rất kỹ.
Đây là thiên lệch của tâm.
Cho nên phải:
KIỂM NGUỒN DÙ THÍCH HAY GHÉT.
24. BA GỐC PHẢI KIỂM: THAM – SÂN – SI
Khi nghe một pháp,
hỏi:
“NÓ CÓ NUÔI THAM KHÔNG?”
“NÓ CÓ NUÔI SÂN KHÔNG?”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 686
“NÓ CÓ NUÔI SI KHÔNG?”
Nếu có:
rất cần cẩn trọng.
Bởi chính trong Kinh Kālāma, Đức Phật dùng tham, sân và si để dẫn người nghe tự thấy đâu là trạng thái bất thiện.
25. BA HƯỚNG NÊN NUÔI: KHÔNG THAM – KHÔNG SÂN – KHÔNG SI
Một lời dạy nếu giúp:
bớt tham.
bớt sân.
bớt si.
bớt hại.
tăng chân thật.
tăng tâm từ.
tăng trí.
thì đó là dấu hiệu:
đáng quý.
26. “TỰ MÌNH BIẾT RÕ” KHÔNG CÓ NGHĨA “TÔI THÍCH LÀ ĐÚNG”
Đây là một hiểu lầm rất lớn.
Đức Phật không dạy:
“Bạn cảm thấy sao thì làm vậy.”
Bởi cảm xúc của mình có thể bị:
tham.
sân.
si
chi phối.
“Tự mình biết rõ” phải đi cùng:
việc thấy:
thiện – bất thiện.
người trí tán thán – quở trách.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 687
kết quả lợi ích – khổ đau.
27. “TRẢI NGHIỆM THẤY VUI” CŨNG CHƯA ĐỦ
Một người trả thù xong:
có thể thấy:
hả.
Một người tham được thỏa:
có thể thấy:
sướng.
Nhưng vui nhất thời:
không có nghĩa:
thiện.
Phải nhìn:
HẬU QUẢ DÀI HƠN.
28. NGƯỜI TRÍ LÀ MỘT TẤM GƯƠNG
Có lúc mình không nhìn ra:
tham của mình.
Một người có trí nhìn ra.
Mình nghĩ:
“Tôi đang bảo vệ quyền lợi.”
Người trí có thể thấy:
“Bạn đang quá tham.”
Mình nghĩ:
“Tôi đang nói thẳng.”
Người trí thấy:
“Bạn đang sân.”
Cho nên cần thiện hữu và người có trí:
soi mình.
29. ỨNG DỤNG 1 – BỐN CÂU HỎI KHI GẶP MỘT “LỜI PHẬT”
MỘT – NGUỒN Ở ĐÂU?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 688
Tên kinh?
Bộ?
Phẩm?
Mã?
HAI – NGỮ CẢNH GÌ?
Đức Phật nói với ai?
Vì chuyện gì?
BA – Ý CHÍNH LÀ GÌ?
Không cắt một nửa câu.
BỐN – ĐÂY LÀ NGUYÊN VĂN HAY LỜI DIỄN GIẢI?
Phân biệt rõ.
30. ỨNG DỤNG 2 – PHÂN BIỆT BỐN TẦNG KHI GIẢNG
LỜI PHẬT
Có nguồn rõ.
Ý KINH
Tóm ý trung thành với đoạn kinh.
LỜI GIẢI THÍCH
Cách người giảng giúp người nghe hiểu.
VÍ DỤ ĐỜI SỐNG
Phần ứng dụng.
Bốn tầng này không nên:
trộn.
31. ỨNG DỤNG 3 – KHÔNG BIẾT THÌ NÓI “CHƯA BIẾT”
Một người hỏi:
“Câu ấy ở phẩm mấy?”
Nếu chưa nhớ:
hãy nói:
“Tôi chưa nhớ chính xác.”
Đừng đoán.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 689
Một câu:
“Tôi chưa biết”
nhiều khi giữ được:
cả sự chân thật.
32. ỨNG DỤNG 4 – KHÔNG CHIA SẺ TIN CHƯA KIỂM
Đặc biệt khi tin ấy ảnh hưởng đến:
danh dự.
sức khỏe.
tài chính.
tôn giáo.
Nếu sai,
mình có thể:
gây hại rất nhiều.
33. ỨNG DỤNG 5 – KHÔNG LẤY NGƯỜI NÓI LÀM TIÊU CHUẨN DUY NHẤT
Người mình thích:
vẫn kiểm.
Người mình không thích:
vẫn nghe nếu họ nói đúng.
Đó là:
công bằng với sự thật.
34. ỨNG DỤNG 6 – TRONG VIỆC GIẢNG PHÁP
Khi soạn một bài:
trước hết tìm câu kinh.
Sau đó:
ghi nguồn.
Rồi mới:
giải nghĩa.
Không làm ngược:
nghĩ một câu thật hay
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 690
rồi đi tìm kinh để:
gắn vào sau.
Đây là cách giữ nội dung:
Y KINH RỒI GIẢNG RA.
35. ỨNG DỤNG 7 – VỚI CHÍNH MÌNH
Không chỉ kiểm:
người khác.
Còn phải kiểm:
quan điểm mình.
Hỏi:
“Tôi tin điều này vì nó đúng hay vì nó thuận với cái tôi?”
Câu này rất mạnh.
36. CÔNG THỨC THỨ NHẤT: NGHE – KIỂM – XÉT – HÀNH
NGHE
Không vội tin.
Cũng không vội bác.
KIỂM
Nguồn và ngữ cảnh.
XÉT
Thiện hay bất thiện?
Hậu quả gì?
HÀNH
Điều thiện:
thực hành.
Công thức:
NGHE → KIỂM → XÉT → HÀNH.
37. CÔNG THỨC THỨ HAI: NGUỒN – GIỚI – TRÍ – QUẢ
NGUỒN
Nói từ đâu?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 691
GIỚI
Có trái đạo đức không?
TRÍ
Người trí tán thán hay quở trách?
QUẢ
Đưa đến lợi ích hay khổ?
Công thức:
NGUỒN → GIỚI → TRÍ → QUẢ.
38. CÔNG THỨC THỨ BA: KHÔNG TIN MÙ – KHÔNG NGHI MÙ
KHÔNG TIN MÙ.
KHÔNG NGHI MÙ.
KIỂM BẰNG TRÍ.
Đây là con đường giữa.
39. CÔNG THỨC THỨ TƯ: THAM – SÂN – SI
Trước một lời dạy,
hỏi:
Nó làm tham tăng hay giảm?
Sân tăng hay giảm?
Si tăng hay giảm?
Đây là bộ lọc rất dễ nhớ.
40. CÔNG THỨC THỨ NĂM: HAY CHƯA ĐỦ – PHẢI ĐÚNG
CÂU HAY CHƯA ĐỦ.
PHẢI CÓ NGUỒN.
NGUỒN CÓ RỒI CHƯA ĐỦ.
PHẢI HIỂU ĐÚNG NGỮ CẢNH.
HIỂU ĐÚNG RỒI PHẢI ĐEM RA THỰC HÀNH.
41. BÀI THỰC HÀNH MỘT NGÀY
Chọn một câu:
“Phật dạy…”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 692
mà mình đã từng nghe rất nhiều.
Tra:
Tên kinh.
Bộ kinh.
Mã số.
Bản dịch.
Ngữ cảnh.
Nếu tìm thấy:
ghi lại cho chuẩn.
Nếu chưa tìm được:
đừng vội gọi:
“lời Phật.”
Chỉ vậy thôi,
đã là một ngày thực hành:
chân thật với Chánh pháp.
42. BÀI THỰC HÀNH BẢY NGÀY
NGÀY 1
Không chia sẻ một tin chưa kiểm.
NGÀY 2
Kiểm nguồn một câu “Phật dạy”.
NGÀY 3
Phân biệt lời kinh và lời giải.
NGÀY 4
Kiểm một niềm tin mình giữ vì truyền thống.
NGÀY 5
Nghe một ý trái ý mình mà chưa bác ngay.
NGÀY 6
Xem một pháp đang làm tham, sân, si tăng hay giảm.
NGÀY 7
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 693
Hỏi:
“Tôi đã bớt tin vội được bao nhiêu?”
43. THỰC HÀNH BUỔI SÁNG
Hôm nay tôi không vội tin chỉ vì nhiều người nói.
Tôi không vội bác chỉ vì điều ấy trái ý tôi.
Tôi kiểm nguồn.
Tôi xét thiện và bất thiện.
Tôi nhìn hậu quả.
Điều đúng tôi nhận.
Điều sai tôi sửa.
Điều chưa biết tôi để là chưa biết.
44. THỰC HÀNH BUỔI TỐI
Trước khi ngủ hỏi:
Hôm nay tôi đã tin điều gì chỉ vì nghe kể?
Tôi có chia sẻ thông tin chưa kiểm không?
Tôi có tin một điều chỉ vì người nói là người mình kính không?
Tôi có bác một câu chỉ vì không thích người nói không?
Điều gì hôm nay làm tham sân si trong tôi tăng?
Điều gì giúp tâm tôi lành hơn?
45. CÂU GHI NHỚ THỨ NHẤT
Nghe nhiều lần không biến điều sai thành sự thật.
46. CÂU GHI NHỚ THỨ HAI
Truyền thống lâu đời đáng kính, nhưng Chánh pháp vẫn phải là ánh sáng soi truyền thống.
47. CÂU GHI NHỚ THỨ BA
Người nói hay không làm lời sai thành đúng.
48. CÂU GHI NHỚ THỨ TƯ
Người mình không thích nói một câu đúng thì câu ấy vẫn đúng.
49. CÂU GHI NHỚ THỨ NĂM
Kính thầy không có nghĩa tắt trí.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 694
50. CÂU GHI NHỚ THỨ SÁU
Không biết thì nói chưa biết còn tốt hơn lấy suy đoán làm sự thật.
51. CÂU GHI NHỚ THỨ BẢY
Một câu rất hay vẫn cần nguồn trước khi gọi là lời Phật.
52. CÂU GHI NHỚ THỨ TÁM
Đừng chỉ hỏi “Ai nói?”; hãy hỏi “Điều ấy đưa tâm tôi về đâu?”
53. CÂU GHI NHỚ THỨ CHÍN
Trí tuệ không phải không tin ai; trí tuệ là biết vì sao mình tin.
54. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI
Tin đúng cần trí; nghi đúng cũng cần trí.
55. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI MỘT
Lời Phật phải để lời Phật là lời Phật; lời mình giải phải nhận là lời mình giải.
56. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
ĐỪNG VỘI TIN VÌ NGHE TRUYỀN.
ĐỪNG VỘI TIN VÌ TRUYỀN THỐNG.
ĐỪNG VỘI TIN CHỈ VÌ SÁCH GHI.
ĐỪNG VỘI TIN CHỈ VÌ LÝ LUẬN NGHE HAY.
ĐỪNG VỘI TIN CHỈ VÌ NGƯỜI NÓI NỔI TIẾNG.
ĐỪNG VỘI TIN CHỈ VÌ NGƯỜI ẤY LÀ THẦY CỦA MÌNH.
Nhưng:
CŨNG ĐỪNG NGHI TẤT CẢ.
Hãy xem:
Pháp ấy thiện hay bất thiện?
Người trí tán thán hay quở trách?
Khi sống theo, tham sân si tăng hay giảm?
Nó đưa tới lợi ích hay khổ đau?
Điều bất thiện:
TỪ BỎ.
Điều thiện:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 695
TU TẬP.
57. CÂU HỎI LIVESTREAM
1. Quý vị có từng chia sẻ một câu ghi “Phật dạy” rồi sau này mới phát hiện không tìm được nguồn chưa?
2. Theo quý vị, một câu rất hay có chắc chắn là câu kinh không?
3. Có phải nhiều người cùng nói thì điều ấy chắc chắn đúng không?
4. Một truyền thống có từ rất lâu có cần được soi lại bằng Chánh pháp không?
5. Nếu một người mình rất kính nói điều khác với kinh mình đọc, quý vị sẽ làm gì?
6. Kinh Kālāma có thật sự dạy mình không tin gì hết không?
7. Một điều làm mình vui có chắc chắn là thiện không?
8. Vì sao Đức Phật còn đưa tiêu chuẩn “người trí tán thán” vào bài kinh?
9. Có một niềm tin nào quý vị giữ chỉ vì từ nhỏ đã được nghe như vậy không?
10. Khi nghe tin xấu về người mình không thích, mình có dễ tin hơn bình thường không?
11. Khi nghe điều trái với quan điểm mình, mình có thường bác trước rồi mới kiểm sau không?
12. Theo quý vị, tại sao tham, sân và si là ba dấu hiệu rất quan trọng để kiểm một pháp?
13. Người giảng Phật pháp nên phân biệt lời Phật, ý kinh và lời diễn giải như thế nào?
14. Nếu không nhớ chính xác mã kinh, nói “tôi chưa nhớ, cần kiểm lại” có phải là một thái độ đáng quý không?
15. Nếu hôm nay chỉ nhớ một công thức, quý vị có thể nhớ: “Nghe – kiểm – xét – hành” không?
58. CÂU KẾT ĐỂ ĐỌC TRÊN LIVESTREAM
Kính thưa quý vị,
thời Đức Phật,
người Kālāma đã gặp một vấn đề rất giống chúng ta ngày nay.
Người này nói:
“Tôi đúng.”
Người kia nói:
“Người kia sai.”
Mỗi người đều có lý luận của mình.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 696
Ngày nay chỉ cần mở điện thoại,
mỗi ngày chúng ta có thể nghe:
hàng trăm lời khuyên.
Hàng trăm câu:
“Phật dạy.”
Hàng trăm người nói:
rất chắc chắn.
Vậy làm sao?
Đức Phật không bảo:
tin tất cả.
Ngài cũng không bảo:
nghi tất cả.
Ngài dạy:
HÃY CÓ TRÍ.
Nghe:
nhưng kiểm.
Kính:
nhưng không mù.
Đọc:
nhưng hiểu ngữ cảnh.
Suy:
nhưng biết suy nghĩ mình cũng có thể sai.
Và đặc biệt:
ĐỪNG LẤY CÁI MÌNH THÍCH LÀM TIÊU CHUẨN CHO CÁI ĐÚNG.
Một pháp cần được soi:
nó có làm:
tham tăng không?
sân tăng không?
si tăng không?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 697
có làm mình:
hại người hơn không?
hay giúp:
bớt tham.
bớt sân.
bớt si.
sống chân thật hơn.
hiền thiện hơn.
an lạc hơn.
Cho nên công thức bài hôm nay là:
NGHE → KIỂM → XÉT → HÀNH.
Và thêm một công thức:
NGUỒN → GIỚI → TRÍ → QUẢ.
Nguồn ở đâu?
Có trái giới không?
Người trí tán thán hay quở trách?
Thực hành đưa tới:
khổ
hay:
an?
Và người chia sẻ Phật pháp cần nhớ một điều rất quan trọng:
CÂU HAY CHƯA ĐỦ.
MUỐN GỌI LÀ “LỜI PHẬT” – PHẢI CÓ NGUỒN.
Lời Phật:
để đúng là lời Phật.
Ý kinh:
nói rõ là ý kinh.
Lời giải:
nói rõ là lời giải.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 698
Ví dụ đời sống:
nói rõ là ví dụ.
Làm được như vậy,
mình vừa tôn kính Chánh pháp,
vừa tôn trọng người nghe,
và cũng bảo vệ chính sự chân thật trong con đường tu học.
Nguồn: Kinh Kesamutti – Kesamutti Sutta, thường gọi Kinh Kālāma; Tăng Chi Bộ Kinh – Aṅguttara Nikāya; Chương Ba Pháp; kinh số 65; mã tra cứu quốc tế AN 3.65; bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu; nguyên bản Kinh tạng Pāli.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 699
MỤC 027 - Bài 027 — TRONG CÁI THẤY CHỈ LÀ CÁI THẤY – ĐỪNG VỘI THÊM “TÔI”, “CỦA TÔI”, “TÔI THÍCH”, “TÔI GHÉT” 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
Đức Phật dạy Bāhiya:
“Này Bāhiya, ông cần phải học tập như sau: Trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy; trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe; trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là cái thọ tưởng; trong cái thức tri, sẽ chỉ là cái thức tri.”
Ngài dạy tiếp rằng khi đối với Bāhiya, trong cái thấy chỉ là cái thấy, trong cái nghe chỉ là cái nghe, trong cái cảm nhận chỉ là cái cảm nhận, trong cái được nhận biết chỉ là cái được nhận biết, thì không còn sự chấp mình vào đó; và như vậy là đoạn tận khổ đau. Đây là trọng tâm của Kinh Bāhiya, Udāna 1.10. (Chanh Y)
2. NGUỒN KINH
Tên kinh tiếng Việt: Kinh Bāhiya
Tên Pāli: Bāhiya Sutta hoặc Bāhiyasutta
Thuộc: Kinh Phật Tự Thuyết – Udāna
Bộ: Tiểu Bộ Kinh – Khuddaka Nikāya
Chương: Phẩm Giác Ngộ – Bodhivagga
Số kinh: Kinh số 10 của phẩm thứ nhất
Mã tra cứu quốc tế: Ud 1.10
Mã trang PTS: Udāna 6–9
Nhân vật được Đức Phật giảng: Bāhiya Dārucīriya – Bāhiya mặc y vỏ cây
Địa điểm: Đức Phật đang trú tại Sāvatthī – Xá-vệ, ở Jetavana – Kỳ Viên, tinh xá của Anāthapiṇḍika – Cấp Cô Độc
Bản dịch tiếng Việt dùng làm nền: Hòa thượng Thích Minh Châu
Nguyên bản: Kinh tạng Pāli. SuttaCentral xác nhận bài kinh là Bāhiyasutta – Ud 1.10, và bản Pāli ghi đúng mã này. (SuttaCentral)
Nếu có người hỏi trên livestream:
“Câu ‘trong cái thấy chỉ là cái thấy’ ở kinh nào?”
có thể trả lời:
“Đây là Kinh Bāhiya – Bāhiya Sutta, thuộc Kinh Phật Tự Thuyết – Udāna, Tiểu Bộ Kinh – Khuddaka Nikāya, Phẩm Giác Ngộ – Bodhivagga, kinh số 10, mã tra cứu quốc tế Ud 1.10,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 700
bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, nguyên bản Kinh tạng Pāli.”
3. NGUYÊN VĂN PĀLI TRỌNG TÂM
Đoạn Pāli nổi tiếng của bài kinh bắt đầu:
“Tasmātiha te, Bāhiya, evaṃ sikkhitabbaṃ: diṭṭhe diṭṭhamattaṃ bhavissati, sute sutamattaṃ bhavissati, mute mutamattaṃ bhavissati, viññāte viññātamattaṃ bhavissati…”
Đây là phần cốt lõi của lời Đức Phật dạy Bāhiya trong Ud 1.10. (SuttaCentral)
Có thể ghép sát nghĩa từng cụm:
Diṭṭhe diṭṭhamattaṃ Trong cái được thấy, chỉ là cái được thấy.
Sute sutamattaṃ Trong cái được nghe, chỉ là cái được nghe.
Mute mutamattaṃ Trong cái được cảm nhận, chỉ là cái được cảm nhận.
Viññāte viññātamattaṃ Trong cái được nhận biết, chỉ là cái được nhận biết.
4. BỐI CẢNH CỦA BÀI KINH
Bāhiya Dārucīriya sống tại Suppāraka và được nhiều người kính trọng, cúng dường.
Một lúc ông khởi ý nghĩ rằng mình có thể đã là một vị A-la-hán hoặc đang trên con đường A-la-hán.
Một vị thiên thần có lòng thương đã nói cho ông biết:
ông chưa phải A-la-hán và cũng chưa đi đúng con đường dẫn đến A-la-hán.
Bāhiya liền hỏi:
“Vậy trong đời này ai là bậc A-la-hán hoặc đang dạy con đường đưa đến A-la-hán?”
Vị thiên thần chỉ cho ông biết Đức Phật đang ở Sāvatthī.
Bāhiya lập tức lên đường tìm Đức Phật. (SuttaCentral)
Khi đến nơi, ông được biết Đức Phật đã vào thành khất thực.
Bāhiya không muốn chờ.
Ông tìm đến Đức Phật ngay trên đường và ba lần thỉnh cầu:
“Xin Thế Tôn thuyết Pháp cho con; điều ấy sẽ đưa đến lợi ích và an lạc lâu dài cho con.”
Ông còn nói:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 701
không ai biết chắc nguy hiểm đối với mạng sống của Đức Phật hay của chính mình sẽ đến lúc nào.
Sau lần thỉnh cầu thứ ba, Đức Phật dạy ông bài pháp cực kỳ ngắn này. (SuttaCentral)
Kinh ghi rằng sau lời dạy ngắn gọn ấy, tâm Bāhiya được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ. Sau đó không lâu, ông qua đời vì bị một con bò có bê con tấn công. Đức Phật xác nhận Bāhiya đã đạt cứu cánh. (SuttaCentral)
5. TỪ KHÓA VIỆT – PĀLI – NGHĨA
CÁI THẤY – DIṬṬHA – ĐIỀU ĐƯỢC THẤY
Diṭṭha nghĩa là:
điều được thấy.
Mắt tiếp xúc với hình sắc.
Có cái thấy.
Bài kinh dạy:
TRONG CÁI THẤY – CHỈ LÀ CÁI THẤY.
Điều đó nghe rất đơn giản.
Nhưng tâm mình thường không dừng ở:
thấy.
Mình thường đi tiếp rất nhanh:
đẹp.
xấu.
tôi thích.
tôi ghét.
tôi muốn.
tôi phải có.
người này coi thường tôi.
người kia hơn tôi.
Từ một cái thấy đơn giản,
tâm có thể tạo ra:
cả một câu chuyện.
6. CÁI NGHE – SUTA – ĐIỀU ĐƯỢC NGHE
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 702
Suta là:
điều được nghe.
Tai nghe âm thanh.
Nhưng sau cái nghe,
tâm thường thêm:
“Họ nói tôi.”
“Họ cố tình xúc phạm tôi.”
“Họ không tôn trọng tôi.”
Có khi người kia chỉ nói:
một câu.
Nhưng mình thêm:
mười câu trong đầu.
Đức Phật đưa người tu trở lại:
NGHE – TRƯỚC HẾT BIẾT LÀ NGHE.
Đừng lập tức biến âm thanh thành:
một cái tôi bị tấn công.
7. CÁI CẢM NHẬN – MUTA – ĐIỀU ĐƯỢC CẢM NHẬN
Muta trong ngữ cảnh này chỉ những gì được cảm nhận qua các giác quan như:
mùi.
vị.
xúc chạm.
cảm giác.
Một cảm giác khó chịu sinh.
Tâm rất nhanh nói:
“Tôi chịu không nổi.”
Một cảm giác dễ chịu sinh:
“Tôi phải giữ nó.”
Nhưng cảm giác:
đến.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 703
rồi đổi.
Bài kinh giúp mình tập:
CẢM GIÁC – BIẾT LÀ CẢM GIÁC.
Không lập tức biến nó thành:
mệnh lệnh.
8. CÁI ĐƯỢC NHẬN BIẾT – VIÑÑĀTA – ĐIỀU ĐƯỢC Ý THỨC NHẬN BIẾT
Viññāta là:
điều được nhận biết.
Có một ý nghĩ sinh.
Một ký ức sinh.
Một hình ảnh trong tâm sinh.
Một câu chuyện cũ sinh.
Người bình thường rất dễ nghĩ:
“Tôi nghĩ như vậy nên chắc như vậy.”
Nhưng:
ý nghĩ
không nhất thiết là:
sự thật.
Ký ức
không nhất thiết là:
toàn bộ sự thật.
Vì vậy:
BIẾT Ý NGHĨ LÀ Ý NGHĨ.
Đây là bước rất quan trọng.
9. “CHỈ LÀ” – MATTA – CHỈ ĐẾN MỨC ẤY, KHÔNG THÊM VÀO
Matta có nghĩa gần là:
chỉ vậy thôi.
đến mức ấy thôi.
Đây chính là chữ rất hay trong bài kinh.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 704
Thấy:
CHỈ THẤY.
Nghe:
CHỈ NGHE.
Cảm:
CHỈ CẢM.
Biết:
CHỈ BIẾT.
Tâm không cần lập tức thêm:
“của tôi.”
“tôi.”
“tôi phải.”
“tôi ghét.”
“tôi thích.”
10. HỌC TẬP – SIKKHITABBA – PHẢI ĐƯỢC HUẤN LUYỆN
Đức Phật nói với Bāhiya:
“Ông cần phải học tập như sau.”
Điều này rất quan trọng.
Không phải:
nghe một lần là xong.
Mà:
PHẢI TẬP.
Mắt thấy:
tập.
Tai nghe:
tập.
Được khen:
tập.
Bị chê:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 705
tập.
Đau:
tập.
Dễ chịu:
tập.
Một đời sống bình thường trở thành:
đạo tràng.
11. GIẢI CỤM THỨ NHẤT – “TRONG CÁI THẤY CHỈ LÀ CÁI THẤY”
Kính thưa quý vị,
mình nhìn một người.
Thấy:
họ không chào.
Cái thấy chỉ có:
họ đi qua và không chào.
Nhưng tâm thêm:
“Họ coi thường tôi.”
Rồi thêm:
“Tôi từng giúp họ.”
Rồi:
“Con người này vô ơn.”
Rồi:
sân.
Từ một hình ảnh vài giây,
mình tạo:
một câu chuyện cả ngày.
Lời Phật kéo mình về:
CÁI GÌ THẬT SỰ ĐANG ĐƯỢC THẤY?
Đây là bước cắt bớt:
phần tâm tự thêm.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 706
12. VÍ DỤ 1 – THẤY NGƯỜI KHÁC CÓ ĐỒ ĐẸP
Mắt thấy:
một chiếc xe đẹp.
Đó là:
cái thấy.
Sau đó tâm:
“Xe đẹp.”
Rồi:
“Tôi cũng muốn.”
Rồi:
“Tại sao họ có mà tôi không?”
Rồi:
ganh.
Rồi:
khổ.
Nếu có chánh niệm:
“Đang thấy một chiếc xe.”
Biết cái muốn sinh.
Không cần:
đuổi cái thấy.
Chỉ không nhất thiết đi theo:
câu chuyện kế tiếp.
13. GIẢI CỤM THỨ HAI – “TRONG CÁI NGHE CHỈ LÀ CÁI NGHE”
Nghe một câu:
“Bài này chưa hay.”
Tai nghe:
một câu.
Tâm thêm:
“Họ chê tôi.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 707
Rồi:
“Họ không tôn trọng tôi.”
Rồi:
“Tôi phải chứng minh.”
Bài kinh nhắc:
ÂM THANH TRƯỚC HẾT CHỈ LÀ ÂM THANH ĐƯỢC NGHE.
Sau đó nếu cần:
xét nội dung.
Đúng:
học.
Sai:
bỏ.
Không cần biến mọi lời nói thành:
câu chuyện về giá trị của cái tôi.
14. VÍ DỤ 2 – NGHE LỜI KHEN
Người ta nói:
“Sư cô giảng hay quá.”
Nghe:
biết nghe.
Nếu lập tức thêm:
“Tôi giỏi.”
rồi:
“Tôi phải được khen tiếp.”
thì tâm bắt đầu:
dính.
Lời khen đã qua.
Nhưng cái tôi:
giữ.
Bài Bāhiya dạy:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 708
NGHE LỜI KHEN – BIẾT LÀ CÓ LỜI KHEN.
Không cần xây:
một con người mới từ lời khen ấy.
15. VÍ DỤ 3 – NGHE LỜI CHÊ
Người ta nói:
“Chỗ này sai nguồn.”
Nếu tâm lập tức:
“Họ muốn hạ tôi.”
thì cái tôi vào rất nhanh.
Nếu trở về:
“Có một lời nói đang được nghe.”
Sau đó:
kiểm nguồn.
Nếu sai:
sửa.
Nếu đúng:
giữ.
Như vậy lời chê trở thành:
dữ liệu để kiểm,
không nhất thiết là:
mũi tên bắn vào bản ngã.
16. GIẢI CỤM THỨ BA – “TRONG CÁI CẢM NHẬN CHỈ LÀ CÁI CẢM NHẬN”
Đau:
biết đau.
Nóng:
biết nóng.
Lạnh:
biết lạnh.
Dễ chịu:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 709
biết dễ chịu.
Nhưng mình thường thêm:
“Tại sao tôi lại khổ thế này?”
“Cái này phải hết ngay.”
“Cái dễ chịu này phải ở mãi.”
Phần thêm đó có thể làm khổ:
lớn hơn.
17. VÍ DỤ 4 – ĐAU THÂN
Thân đau.
Đau thật.
Không phủ nhận.
Nhưng tâm có thể thêm:
“Tôi chắc chắn sẽ khổ mãi.”
Đó là:
suy nghĩ.
Không phải:
chính cảm giác đau.
Bài kinh giúp phân biệt:
ĐAU LÀ ĐAU.
Ý NGHĨ VỀ ĐAU LÀ MỘT THỨ KHÁC.
Điều này không thay thế việc:
khám bệnh.
chữa bệnh.
Nhưng có thể giúp:
bớt phần khổ do tâm tự dựng thêm.
18. VÍ DỤ 5 – MỘT CẢM GIÁC RẤT DỄ CHỊU
Ăn món ngon.
Nghe nhạc hay.
Ngồi nơi đẹp.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 710
Cảm giác dễ chịu sinh.
Không có gì sai.
Nhưng nếu tâm lập tức:
“Tôi phải có lại.”
thì thọ dễ chịu đã trở thành:
cái móc của tham.
Tập:
dễ chịu – biết dễ chịu.
Không nhất thiết phải biến nó thành:
một nhu cầu mới.
19. GIẢI CỤM THỨ TƯ – “TRONG CÁI THỨC TRI CHỈ LÀ CÁI THỨC TRI”
Một ý nghĩ xuất hiện:
“Người ấy ghét tôi.”
Đây chỉ là:
một ý nghĩ.
Nhưng nếu mình tin ngay:
nó biến thành:
sự thật trong tâm.
Rồi hành động dựa trên:
một điều chưa chắc đúng.
Đây là lý do phải học:
Ý NGHĨ KHÔNG PHẢI LÚC NÀO CŨNG LÀ SỰ THẬT.
20. VÍ DỤ 6 – KÝ ỨC CŨ
Mười năm trước:
một người làm mình đau.
Hôm nay nhớ lại.
Ký ức đang:
hiện lên.
Nhưng sự việc không đang xảy ra lần nữa.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 711
Nếu không phân biệt,
thân có thể:
căng.
tâm sân.
giống như chuyện đang xảy ra.
Bài kinh giúp:
ký ức – biết là ký ức.
Không cần:
sống lại toàn bộ nó.
21. GHÉP NGHĨA TOÀN CÂU
Toàn lời dạy có thể hiểu thật dễ:
Khi mắt thấy, hãy nhận biết cái thấy như cái thấy; khi tai nghe, biết cái nghe như cái nghe; khi thân và các giác quan cảm nhận, biết cảm nhận như cảm nhận; khi tâm nhận biết một ý hay một đối tượng, biết đó là điều đang được nhận biết. Đừng lập tức chồng thêm lên kinh nghiệm ấy một cái “tôi”, “của tôi”, “tôi phải có”, “tôi bị xúc phạm”, “tôi hơn”, “tôi kém”. Khi sự chấp ngã và chấp thủ không chen vào, khổ không còn được tiếp tục nuôi theo cách cũ.
Đây là phần diễn giải ứng dụng từ lời kinh, không phải nguyên văn toàn bộ lời Phật.
Công thức:
THẤY → BIẾT THẤY.
NGHE → BIẾT NGHE.
CẢM → BIẾT CẢM.
NGHĨ → BIẾT NGHĨ.
ĐỪNG VỘI THÊM “TÔI”.
22. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ GÌ?
Kính thưa quý vị,
rất nhiều cái khổ không dừng ở:
sự việc.
Nó lớn lên vì:
cái tâm kể chuyện về sự việc.
Một người không chào.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 712
Đó là:
một sự việc.
“Họ coi thường tôi.”
là:
một cách diễn giải.
“Tôi phải làm cho họ biết.”
là:
một phản ứng tiếp theo.
Thế là từ một cái thấy,
cả chuỗi:
sân,
mạn,
trả đũa
có thể xuất hiện.
Bài kinh Bāhiya cắt chuỗi ấy:
NGAY ĐẦU.
23. BÀI KINH KHÔNG DẠY MÌNH TRỞ THÀNH NGƯỜI KHÔNG BIẾT ĐÚNG SAI
Điều này phải nói rõ.
“Trong cái thấy chỉ là cái thấy”
không có nghĩa:
không phân biệt chiếc xe đang tới để tránh.
Không phân biệt người nguy hiểm.
Không kiểm thông tin.
Không dùng trí.
Không phải.
Lời kinh nhắm vào:
KHÔNG CHỒNG THÊM CHẤP THỦ VÀ CÁI TÔI KHÔNG CẦN THIẾT.
Trí vẫn hoạt động.
Nhưng không nhất thiết phải có:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 713
sân,
tham,
mạn
đi kèm.
24. “CHỈ LÀ CÁI THẤY” KHÔNG CÓ NGHĨA PHỦ NHẬN THỰC TẠI
Thấy lửa:
biết lửa.
Tránh.
Thấy người đang gây nguy hiểm:
biết nguy hiểm.
Giữ an toàn.
Thấy mình sai:
biết sai.
Sửa.
Không phải:
“Tất cả chẳng có gì, mặc kệ.”
Đó không phải tinh thần bài kinh.
25. ĐIỂM CỐT LÕI LÀ ĐỪNG NHANH CHÓNG DỰNG CÁI “TÔI”
Mắt thấy:
“Tôi thấy.”
Tai nghe:
“Họ nói tôi.”
Có cảm giác:
“Tôi phải giữ.”
Có ý nghĩ:
“Quan điểm của tôi.”
Cái tôi rất nhanh:
đứng giữa kinh nghiệm.
Rồi sinh:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 714
so sánh.
sở hữu.
bảo vệ.
tranh.
Đây là chỗ để tu.
26. VÍ DỤ 7 – NGƯỜI KHÁC KHÔNG TRẢ LỜI TIN NHẮN
Sự thật:
chưa có trả lời.
Tâm thêm:
“Họ xem thường tôi.”
Có thể họ:
bận.
ngủ.
quên.
chưa thấy.
hoặc thật sự không muốn trả lời.
Mình chưa biết.
Nếu vội thêm:
“họ coi thường tôi,”
mình tạo sân từ:
một điều chưa chắc.
Thực hành:
CHƯA TRẢ LỜI – BIẾT LÀ CHƯA TRẢ LỜI.
Đừng vội thêm chuyện.
27. VÍ DỤ 8 – SỐ NGƯỜI XEM LIVESTREAM GIẢM
Sự thật:
hôm nay số người xem thấp hơn.
Tâm thêm:
“Tôi hết giá trị rồi.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 715
Đó là:
một câu chuyện.
Con số:
là con số.
Giá trị của Chánh pháp:
không phải con số.
Mình cần phân tích dữ liệu:
được.
Nhưng đừng biến:
dữ liệu
thành:
bản án cho cái tôi.
28. VÍ DỤ 9 – THẤY NGƯỜI KHÁC THÀNH CÔNG
Cái thấy:
người ấy thành công.
Tâm thêm:
“Họ hơn tôi.”
Rồi:
“Tôi thua.”
Rồi:
ganh.
Nếu trở về:
“Có một người đang có thành quả.”
Mình có thể:
học.
tùy hỷ.
Không cần biến thành:
một cuộc thi của bản ngã.
29. VÍ DỤ 10 – BỊ GỌI SAI DANH XƯNG
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 716
Người ta gọi sai.
Đó là:
âm thanh.
Nếu cần:
nhẹ nhàng sửa.
Nhưng nếu tâm nói:
“Họ không kính tôi.”
rồi sân,
thì có thể chính:
cái tôi về danh xưng
đang bị chạm.
Đây là chỗ rất đáng nhìn.
30. VÍ DỤ 11 – MỘT NGƯỜI KHÔNG LÀM THEO Ý MÌNH
Sự thật:
họ chọn khác.
Tâm thêm:
“Họ không nghe tôi.”
Rồi:
“Họ coi thường tôi.”
Không nhất thiết.
Người khác có:
nhân duyên và quyết định của họ.
Mình có thể góp ý.
Nhưng không cần:
biến lựa chọn của họ thành sự xúc phạm đối với mình.
31. VÍ DỤ 12 – NHÌN VÀO GƯƠNG
Thấy:
tóc bạc.
nếp nhăn.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 717
Thân đổi.
Tâm thêm:
“Tôi xấu đi.”
“Tôi mất giá trị.”
Nhưng:
tóc bạc
không nói điều gì về:
giá trị đạo đức.
Đó chỉ là:
dấu hiệu thân đang đổi.
Thực hành:
THẤY SỰ GIÀ – BIẾT SỰ GIÀ.
Không cần:
thêm tự khinh.
32. VÍ DỤ 13 – CƠN SÂN XUẤT HIỆN
Có sân.
Nếu nói:
“Tôi là người sân,”
mình biến một trạng thái đang sinh thành:
căn cước.
Có thể đổi:
“Sân đang có.”
Câu này rất khác.
Sân là:
một pháp đang sinh.
Không phải:
toàn bộ mình.
Biết như vậy,
mình dễ tu hơn.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 718
33. VÍ DỤ 14 – MỘT Ý NGHĨ XẤU XUẤT HIỆN
Một ý nghĩ không đẹp sinh.
Mình hoảng:
“Sao tôi tệ vậy?”
Không cần.
Ý nghĩ:
đã sinh.
Biết nó.
Không làm theo.
Không nuôi.
Một ý nghĩ không phải:
toàn bộ con người.
Đây là cách áp dụng rất thực tế.
34. VÍ DỤ 15 – NGHE TIN VỀ NGƯỜI KHÁC
Tai nghe:
một lời kể.
Tâm lập tức:
tin.
rồi ghét.
Nếu nhớ bài Bāhiya:
“Đây là cái đang được nghe.”
Sau đó áp dụng thêm trí:
nguồn đâu?
đúng không?
Chưa biết:
để là chưa biết.
Như vậy cái nghe không tự động thành:
định kiến.
35. VÍ DỤ 16 – CÓ NGƯỜI KHEN MÌNH LÀ NGƯỜI TU GIỎI
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 719
Nghe:
một lời khen.
Nếu giữ ở:
cái nghe,
tâm nhẹ.
Nếu thêm:
“Tôi là người tu giỏi,”
mạn có thể lớn.
Vậy lời khen không phải vấn đề.
Điều cần nhìn là:
TÂM LÀM GÌ SAU LỜI KHEN.
36. VÍ DỤ 17 – BỊ CHÊ LÀ “TU CHƯA TỚI”
Nghe:
một câu.
Có thể đúng.
Có thể sai.
Nếu cái tôi đứng lên:
“Anh là ai mà nói tôi?”
sân xuất hiện.
Nếu trở về:
“Có câu nói này.”
Rồi xét:
đúng phần nào?
không đúng phần nào?
Thì câu chê trở thành:
đề mục trí tuệ.
37. “TÔI” VÀ “CỦA TÔI” LÀM KHỔ THẾ NÀO?
Một vật đẹp:
nếu chỉ thấy,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 720
không sao.
Nhưng:
“Tôi phải có.”
khổ bắt đầu.
Một người:
nếu chỉ gặp,
không sao.
Nhưng:
“Người này phải là của tôi.”
khổ bắt đầu.
Một ý kiến:
nếu chỉ là ý,
không sao.
Nhưng:
“Đây là quan điểm của tôi; ai bác là chống tôi.”
khổ bắt đầu.
Một danh xưng:
nếu chỉ là danh xưng,
không sao.
Nhưng:
“Tôi phải được gọi như thế.”
khổ có thể bắt đầu.
38. BÀI KINH NÀY LIÊN QUAN RẤT SÂU ĐẾN KHÔNG CHẤP THỦ
Sau lời dạy ngắn, kinh ghi rằng tâm Bāhiya được giải thoát khỏi các lậu hoặc không còn chấp thủ. (SuttaCentral)
Đây là điểm quan trọng.
Mục tiêu không phải:
thành một người lạnh lùng.
Mà:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 721
KHÔNG NẮM GIỮ KINH NGHIỆM THÀNH “TÔI” VÀ “CỦA TÔI”.
39. THẤY MÀ KHÔNG THÊM – KHÔNG CÓ NGHĨA KHÔNG CÓ CẢM XÚC
Cảm xúc có thể sinh.
Vui:
biết vui.
Buồn:
biết buồn.
Nhưng không nhất thiết thêm:
“Tôi phải giữ vui mãi.”
hoặc:
“Tôi không được buồn.”
Thọ sinh:
biết thọ.
Đó là đường thực hành.
40. KHÔNG CHẤP KHÔNG CÓ NGHĨA KHÔNG CÓ TRÁCH NHIỆM
Một việc sai:
vẫn sửa.
Một lời nói sai:
vẫn đính chính.
Người cần giúp:
vẫn giúp.
Thân bệnh:
vẫn chữa.
Tâm không chấp không phải:
mặc kệ đời.
Nó là:
LÀM VIỆC CẦN LÀM MÀ BỚT ĐẶT CÁI TÔI VÀO GIỮA.
41. ỨNG DỤNG 1 – QUY TẮC “DỮ KIỆN TRƯỚC, CÂU CHUYỆN SAU”
Khi có chuyện,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 722
hỏi:
DỮ KIỆN THẬT LÀ GÌ?
Ví dụ:
“Người ấy chưa trả lời.”
Đó là dữ kiện.
“Người ấy khinh tôi.”
đó là:
diễn giải.
Phân biệt được hai thứ,
tâm bớt tạo khổ.
42. ỨNG DỤNG 2 – KHI BỊ CHÊ
Ba bước:
NGHE.
BIẾT MÌNH ĐANG NGHE.
SAU ĐÓ MỚI XÉT NỘI DUNG.
Không để:
cái tôi
nhảy vào trước trí.
43. ỨNG DỤNG 3 – KHI ĐƯỢC KHEN
Nghe:
biết nghe.
Cảm giác vui:
biết vui.
Đừng vội xây:
“Tôi hơn.”
Như vậy lời khen đi qua:
nhẹ.
44. ỨNG DỤNG 4 – KHI THẤY MÓN MÌNH MUỐN
Thấy.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 723
Biết:
cái muốn đang sinh.
Không cần:
mua ngay.
Cho tâm vài phút.
Đó là cách tách:
THẤY
khỏi:
PHẢI CÓ.
45. ỨNG DỤNG 5 – KHI SÂN
Thay vì:
“Tôi giận.”
có thể thực hành:
“Sân đang có.”
Rồi nhìn:
nóng ở đâu?
ý muốn nói gì?
có cần làm theo không?
Từ:
đồng hóa
chuyển sang:
quan sát.
46. ỨNG DỤNG 6 – KHI LO
Thay:
“Tôi là người lo âu.”
bằng:
“Một dòng lo đang có.”
Không phủ nhận.
Nhưng không biến:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 724
trạng thái
thành:
bản thân.
47. ỨNG DỤNG 7 – KHI TỰ ÁI
Người kia nói một câu.
Hỏi:
“Cái gì trong tôi vừa bị chạm?”
Danh?
hình ảnh?
ý kiến?
mong được kính?
Nhìn được cái “tôi” đang bảo vệ điều gì,
rất nhiều sân có thể:
giảm.
48. ỨNG DỤNG 8 – TRONG LIVESTREAM
Một bình luận xuất hiện.
Đọc:
biết là đọc.
Đừng lập tức:
gắn người bình luận thành:
“người xấu.”
Nếu câu đúng:
học.
Nếu sai:
đính chính.
Nếu phá:
xử lý theo quy tắc phòng.
Nhưng đừng mang:
một bình luận
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 725
thành:
một cái tôi bị thương cả buổi.
49. ỨNG DỤNG 9 – KHI HỌC KINH
Đọc lời kinh:
trước hết đọc:
đúng chữ.
Đừng quá nhanh:
đưa quan điểm mình vào.
Hỏi:
“Kinh thực sự đang nói gì?”
Rồi mới:
giải.
Đây cũng là một kiểu:
TRONG CÁI ĐỌC – TRƯỚC HẾT CHỈ BIẾT CÁI ĐANG ĐƯỢC ĐỌC.
50. CÔNG THỨC THỨ NHẤT: THẤY – NGHE – CẢM – BIẾT
THẤY
Chỉ biết cái thấy trước.
NGHE
Chỉ biết cái nghe trước.
CẢM
Biết cảm giác đang sinh.
BIẾT
Biết ý nghĩ đang có.
Sau đó mới dùng:
trí.
Công thức:
THẤY → NGHE → CẢM → BIẾT → ĐỪNG VỘI CHẤP.
51. CÔNG THỨC THỨ HAI: DỮ KIỆN – DIỄN GIẢI – PHẢN ỨNG
Ba tầng:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 726
DỮ KIỆN
Chuyện thật sự xảy ra gì?
DIỄN GIẢI
Tâm đang thêm câu gì?
PHẢN ỨNG
Mình định làm gì?
Chỉ cần phân được ba tầng,
rất nhiều khổ có thể:
nhẹ đi.
52. CÔNG THỨC THỨ BA: KHÔNG THÊM “TÔI”
Thấy:
đừng vội:
“Tôi phải có.”
Nghe:
đừng vội:
“Họ xúc phạm tôi.”
Cảm:
đừng vội:
“Tôi phải giữ.”
Nghĩ:
đừng vội:
“Ý tôi chắc chắn đúng.”
Công thức:
KINH NGHIỆM → BIẾT → KHÔNG VỘI THÊM “TÔI”.
53. CÔNG THỨC THỨ TƯ: BIẾT – KHÔNG NẮM – KHÔNG ĐẨY
Có cái dễ chịu:
BIẾT.
Không vội:
NẮM.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 727
Có cái khó chịu:
BIẾT.
Không vội:
ĐẨY BẰNG SÂN.
Đây là một lối thực hành rất sâu.
54. CÔNG THỨC THỨ NĂM: SỰ VIỆC MỘT PHẦN – CÂU CHUYỆN TÂM MỘT PHẦN
Một câu rất dễ nhớ:
CHUYỆN XẢY RA LÀ MỘT CHUYỆN.
CHUYỆN TÂM KỂ THÊM LÀ MỘT CHUYỆN KHÁC.
Người tu học:
phân biệt hai chuyện.
55. BÀI THỰC HÀNH MỘT NGÀY
Trong một ngày,
mỗi khi bị chạm,
hãy hỏi:
“DỮ KIỆN THẬT LÀ GÌ?”
Ví dụ:
“Người ấy chưa gọi.”
Đó là dữ kiện.
Sau đó nhìn:
“Tâm tôi đang kể gì?”
“Họ quên tôi.”
“Họ không thương tôi.”
“Họ coi thường tôi.”
Đó là phần tâm thêm.
Chỉ cần thấy hai tầng,
đã là:
một bài thực hành rất lớn.
56. BÀI THỰC HÀNH BẢY NGÀY
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 728
NGÀY 1 – THẤY
Mỗi lần thấy một thứ rất thích,
biết:
“Đang thấy.”
Đừng mua ngay.
NGÀY 2 – NGHE
Khi bị góp ý,
biết:
“Đang nghe.”
Đợi vài giây rồi mới trả lời.
NGÀY 3 – CẢM
Khi khó chịu trong thân,
biết:
“Có cảm giác khó chịu.”
Không lập tức than thêm trong đầu.
NGÀY 4 – Ý NGHĨ
Khi một ý xấu sinh,
nói:
“Có một ý nghĩ.”
Không gọi:
“Đây là tôi.”
NGÀY 5 – LỜI KHEN
Nghe khen,
biết vui,
nhưng không tự nâng mình.
NGÀY 6 – LỜI CHÊ
Nghe chê,
kiểm nội dung,
không biến thành tự ái kéo dài.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 729
NGÀY 7 – NHÌN CÁI “TÔI”
Hỏi:
“Trong tuần này chữ ‘tôi’ chen mạnh nhất ở đâu?”
Danh?
tài vật?
ý kiến?
người thân?
lời khen?
57. THỰC HÀNH BUỔI SÁNG
Mỗi sáng có thể đọc:
Hôm nay khi thấy, tôi tập biết cái thấy.
Khi nghe, tôi tập biết cái nghe.
Khi cảm giác sinh, tôi biết cảm giác.
Khi ý nghĩ sinh, tôi biết đó là ý nghĩ.
Tôi không vội biến mọi thứ thành “tôi” và “của tôi”.
Tôi dùng trí để xử lý việc cần xử lý, nhưng tập bớt chấp vào kinh nghiệm đang sinh diệt.
58. THỰC HÀNH BUỔI TỐI
Trước khi ngủ hỏi:
Hôm nay tôi đã biến cái thấy nào thành tham?
Tôi đã biến cái nghe nào thành sân?
Tôi đã biến cảm giác nào thành đòi hỏi?
Tôi đã tin ý nghĩ nào như sự thật dù chưa kiểm?
Có lần nào tôi chỉ biết sự việc mà không kể thêm câu chuyện không?
Chữ “tôi” hôm nay xuất hiện mạnh nhất ở đâu?
59. CÂU GHI NHỚ THỨ NHẤT
Một cái thấy vốn rất ngắn; cái khổ có khi dài vì câu chuyện mình kể sau cái thấy.
60. CÂU GHI NHỚ THỨ HAI
Nghe một lời chê là một việc; biến lời chê thành “tôi không có giá trị” là một việc khác.
61. CÂU GHI NHỚ THỨ BA
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 730
Cảm giác khó chịu là thật, nhưng câu “nó sẽ không bao giờ hết” chỉ là một ý nghĩ.
62. CÂU GHI NHỚ THỨ TƯ
Ý nghĩ xuất hiện trong tâm không đồng nghĩa ý nghĩ ấy là sự thật.
63. CÂU GHI NHỚ THỨ NĂM
Không phải cái gì mình thấy cũng phải sở hữu; không phải cái gì mình nghe cũng phải mang về giữ trong lòng.
64. CÂU GHI NHỚ THỨ SÁU
Lời khen đi qua tai rất nhanh; chính cái tôi mới có thể giữ nó lại thật lâu.
65. CÂU GHI NHỚ THỨ BẢY
Người ta có thể chỉ nói một câu, nhưng tâm mình có thể tự nói lại câu ấy một trăm lần.
66. CÂU GHI NHỚ THỨ TÁM
Chánh niệm giúp mình nhận ra đâu là sự việc và đâu là phần mình đang thêm vào sự việc.
67. CÂU GHI NHỚ THỨ CHÍN
Không chấp không phải không biết; không chấp là biết mà không nhất thiết nắm thành “tôi” và “của tôi”.
68. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI
Khi cái tôi bớt chen vào cái thấy, cái nghe và cảm giác, rất nhiều chuyện tự nhiên nhẹ đi.
69. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI MỘT
Có những điều ngoài đời không cần thay đổi trước; chỉ cần mình ngừng thêm một câu chuyện sai vào chúng, tâm đã khác.
70. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
TRONG CÁI THẤY – CHỈ LÀ CÁI THẤY.
TRONG CÁI NGHE – CHỈ LÀ CÁI NGHE.
TRONG CÁI CẢM NHẬN – CHỈ LÀ CÁI CẢM NHẬN.
TRONG CÁI ĐƯỢC NHẬN BIẾT – CHỈ LÀ CÁI ĐƯỢC NHẬN BIẾT.
Sau đó:
DÙNG TRÍ.
Nhưng đừng vội thêm:
“TÔI.”
“CỦA TÔI.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 731
“TÔI PHẢI CÓ.”
“TÔI PHẢI THẮNG.”
“TÔI BỊ XÚC PHẠM.”
“TÔI HƠN.”
“TÔI KÉM.”
Đó là cửa để nhìn:
chấp thủ
ngay lúc nó đang bắt đầu.
Và xin nhớ lời Phật:
“Này Bāhiya, ông cần phải học tập như sau: trong cái thấy sẽ chỉ là cái thấy; trong cái nghe sẽ chỉ là cái nghe; trong cái thọ tưởng sẽ chỉ là cái thọ tưởng; trong cái thức tri sẽ chỉ là cái thức tri.” (Chanh Y)
Nguồn: Kinh Bāhiya – Bāhiya Sutta, Kinh Phật Tự Thuyết – Udāna, Tiểu Bộ Kinh – Khuddaka Nikāya, Phẩm Giác Ngộ – Bodhivagga, kinh số 10, mã tra cứu quốc tế Ud 1.10; bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu; nguyên bản Kinh tạng Pāli. (SuttaCentral)
71. CÂU HỎI LIVESTREAM
1. Có bao giờ quý vị chỉ thấy một người không chào mà tâm lập tức kết luận “họ coi thường tôi” không?
2. Theo quý vị, cái thấy và câu chuyện mình kể sau cái thấy có phải là hai việc khác nhau không?
3. Có lời chê nào chỉ mất vài giây nghe nhưng quý vị đã giữ trong tâm nhiều ngày không?
4. Khi người khác chưa trả lời tin nhắn, tâm mình thường chỉ biết “chưa trả lời” hay lập tức đoán lý do?
5. Có bao giờ mình nhìn người khác thành công rồi tự động biến thành câu chuyện “họ hơn tôi – tôi thua” không?
6. Theo quý vị, lời khen tự nó làm mình kiêu hay cái tâm nắm lời khen thành “tôi giỏi” mới làm mạn lớn?
7. Một ý nghĩ xuất hiện có phải lúc nào cũng là sự thật không?
8. Có bao giờ quý vị đang buồn rồi nghĩ “tôi là người bất hạnh”, biến một trạng thái tạm thời thành cả con người mình không?
9. Khi sân sinh, nói “sân đang có” có khác với nói “tôi là người sân” không?
10. Theo quý vị, “trong cái thấy chỉ là cái thấy” có phải là không phân biệt đúng sai hay không?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 732
11. Có thể vừa thấy sự việc rõ ràng, vừa đặt ranh giới, nhưng không đưa cái tôi vào quá nhiều được không?
12. Khi thấy một món đẹp, quý vị có nhận ra khoảnh khắc từ “thấy” chuyển thành “tôi muốn” không?
13. Có lời người khác nói nào mình đã tự thêm rất nhiều ý mà người ấy thật ra chưa nói không?
14. Theo quý vị, tại sao một bài pháp ngắn như vậy lại có thể làm Bāhiya giải thoát ngay sau khi nghe? (SuttaCentral)
15. Nếu hôm nay chỉ nhớ một công thức, quý vị có thể nhớ: “Sự việc là một phần – câu chuyện tâm thêm là một phần” không?
72. CÂU KẾT ĐỂ ĐỌC TRÊN LIVESTREAM
Kính thưa quý vị,
đời mình khổ rất nhiều vì:
cái mình thấy.
Nhưng cũng có khi:
không phải cái thấy làm mình khổ.
Mà là:
CÁI MÌNH THÊM SAU CÁI THẤY.
Một người không chào.
Tâm thêm:
“Họ khinh tôi.”
Một người nói:
“Bài này cần sửa.”
Tâm thêm:
“Họ muốn hạ tôi.”
Một người thành công.
Tâm thêm:
“Tôi thua.”
Một món đẹp xuất hiện.
Tâm thêm:
“Tôi phải có.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 733
Một cảm giác dễ chịu sinh.
Tâm thêm:
“Nó phải ở mãi.”
Một cảm giác khó chịu sinh.
Tâm thêm:
“Tôi chịu không nổi.”
Một ý nghĩ đi qua.
Tâm thêm:
“Đó là sự thật.”
Và cứ như vậy,
cái tôi bước vào:
cái thấy.
cái nghe.
cái cảm.
cái nghĩ.
Rồi từ:
“tôi”
sinh:
“của tôi.”
Từ:
“của tôi”
sinh:
“phải theo ý tôi.”
Từ:
“phải theo ý tôi”
sinh:
tham.
sân.
sợ mất.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 734
hơn thua.
khổ.
Cho nên Đức Phật dạy Bāhiya một bài pháp rất ngắn:
TRONG CÁI THẤY – CHỈ LÀ CÁI THẤY.
TRONG CÁI NGHE – CHỈ LÀ CÁI NGHE.
TRONG CÁI CẢM – CHỈ LÀ CÁI CẢM.
TRONG CÁI BIẾT – CHỈ LÀ CÁI BIẾT.
Không phải để mình trở thành:
một con người vô cảm.
Mà để mình học:
THẤY TRƯỚC KHI CHẤP.
NGHE TRƯỚC KHI SÂN.
CẢM TRƯỚC KHI NẮM.
BIẾT TRƯỚC KHI DỰNG “TÔI”.
Cho nên công thức bài hôm nay xin nhớ:
DỮ KIỆN → BIẾT → ĐỪNG VỘI THÊM.
Và sâu hơn:
THẤY – NGHE – CẢM – BIẾT – KHÔNG VỘI CHẤP.
Một ngày nào đó,
khi nghe một câu làm mình đau,
thay vì lập tức nghĩ:
“Họ xúc phạm tôi,”
mình có thể chỉ nhận ra:
“Có một âm thanh đang được nghe. Tâm đang khó chịu.”
Ngay khoảng nhỏ ấy,
mình có:
một cơ hội.
Cơ hội không sân.
Cơ hội không trả đũa.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 735
Cơ hội dùng trí.
Cơ hội không biến một sự việc nhỏ thành:
một cái tôi bị thương rất lớn.
Và đó chính là lúc lời kinh hơn hai ngàn năm trước không còn nằm trên trang sách.
Nó đang xảy ra:
NGAY TRONG CÁI THẤY CỦA MÌNH.
NGAY TRONG CÁI NGHE CỦA MÌNH.
NGAY TRONG CÁI TÂM ĐANG BIẾT CỦA MÌNH.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 736
MỤC 028 - Bài 028 — TÀM VÀ QUÝ – HAI PHÁP SÁNG BẢO HỘ THẾ GIAN 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
Đức Phật dạy:
“Này các Tỷ-kheo, có hai pháp trắng này bảo hộ thế giới. Thế nào là hai? Tàm và quý.”
Nếu không có hai pháp này bảo hộ thế giới, con người sẽ không còn biết những giới hạn đạo đức căn bản trong các quan hệ đáng kính; thế giới sẽ rơi vào hỗn loạn về hành vi. Nhưng vì hai pháp sáng này còn hiện hữu, nên đời sống con người còn có sự phân biệt, tôn trọng và gìn giữ những giới hạn đạo đức cần thiết. (Access to Insight)
2. NGUỒN KINH
Tên kinh tiếng Việt: Kinh Những Pháp Bảo Hộ Thế Gian – thường dịch là Kinh Hộ Thế hoặc Kinh Những Người Bảo Hộ Thế Gian
Tên Pāli: Lokapāla Sutta
Tên khác trong một số hệ thống: Cariya Sutta
Thuộc: Tăng Chi Bộ Kinh – Aṅguttara Nikāya
Chương: Chương Hai Pháp – Duka Nipāta
Số kinh: Kinh số 9
Mã tra cứu quốc tế: AN 2.9
Mã PTS: Aṅguttara Nikāya I.51
Nguyên bản: Kinh tạng Pāli
SuttaCentral liệt kê AN 2.9 là bài kinh nói về hiri và ottappa như các pháp bảo hộ thế gian; Access to Insight cũng ghi bài này là Lokapāla Sutta – Guardians of the World, AN 2.9. (SuttaCentral)
Nếu có người hỏi trên livestream:
“Tàm và quý được Đức Phật gọi là hai pháp bảo hộ thế gian ở kinh nào?”
có thể trả lời:
“Đây là Tăng Chi Bộ Kinh – Aṅguttara Nikāya, Chương Hai Pháp, Kinh Lokapāla, mã tra cứu quốc tế AN 2.9, nguyên bản Kinh tạng Pāli.”
3. NGUYÊN VĂN PĀLI TRỌNG TÂM
Đoạn Pāli trọng tâm:
“Dveme, bhikkhave, sukkā dhammā lokaṃ pālenti. Katame dve? Hirī ca ottappañca.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 737
Có thể hiểu:
“Này các Tỷ-kheo, hai pháp sáng này bảo hộ thế gian. Thế nào là hai? Tàm và quý.” (Orthodox Theravāda)
Trong đó:
Hirī – tàm.
Ottappa – quý.
Sukkā dhammā – những pháp sáng, pháp trong sạch.
Lokaṃ pālenti – bảo hộ thế gian.
4. TỪ KHÓA VIỆT – PĀLI – NGHĨA
TÀM – HIRĪ – BIẾT HỔ THẸN VỚI ĐIỀU XẤU
Tàm – hirī không phải là:
xấu hổ vì nghèo.
xấu hổ vì không đẹp.
xấu hổ vì ít người biết đến.
xấu hổ vì địa vị thấp.
Tàm trong Phật pháp là:
BIẾT HỔ THẸN KHI MÌNH SẮP LÀM HOẶC ĐÃ LÀM ĐIỀU BẤT THIỆN.
Có một tiếng nói trong lòng:
“Việc này không xứng đáng để mình làm.”
“Mình đã học Pháp rồi, không nên làm như vậy.”
“Nếu làm việc này, chính mình đang hạ phẩm chất của mình xuống.”
Đó là:
tàm.
SuttaCentral mô tả hiri theo nghĩa gần với lương tâm hay sự tự trọng đạo đức; các nguồn giải thích sớm cũng nhấn mạnh đây là phẩm chất giúp người ta không muốn làm điều xấu vì tự trọng và ý thức đạo đức. (SuttaCentral)
5. QUÝ – OTTAPPA – BIẾT E NGẠI, SỢ HẬU QUẢ CỦA ĐIỀU XẤU
Quý – ottappa không phải:
sợ ma.
sợ người khác ghét.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 738
sợ mất mặt đơn thuần.
Mà là:
BIẾT E NGẠI TRƯỚC HẬU QUẢ CỦA VIỆC BẤT THIỆN.
Ví dụ:
“Nếu tôi nói câu này, người kia sẽ đau.”
“Nếu tôi làm việc gian dối này, hậu quả sẽ đến.”
“Nếu tôi phá giới, tâm mình sẽ bị tổn hại.”
“Nếu tôi nuôi sân và hành động theo sân, tôi sẽ tạo thêm khổ.”
Đó là:
quý.
SuttaCentral mô tả ottappa như sự cẩn trọng trước hậu quả của hành vi xấu; các nguồn chú giải phổ biến thường dịch là “fear of wrongdoing”, “moral dread”, hay sự e ngại đạo đức. (SuttaCentral)
6. TÀM VÀ QUÝ KHÁC NHAU THẾ NÀO?
Có thể nói thật dễ:
TÀM NHÌN VÀO PHẨM CHẤT CỦA CHÍNH MÌNH.
QUÝ NHÌN VÀO HẬU QUẢ CỦA VIỆC MÌNH LÀM.
Tàm nói:
“Việc ấy không xứng với mình.”
Quý nói:
“Việc ấy sẽ gây hậu quả không lành.”
Hai pháp hỗ trợ nhau.
Một bên giữ từ:
bên trong.
Một bên nhắc về:
hậu quả bên ngoài và về sau.
7. HAI PHÁP SÁNG – SUKKĀ DHAMMĀ
Đức Phật gọi tàm và quý là:
hai pháp sáng. (Access to Insight)
Tại sao gọi là:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 739
sáng?
Bởi khi có tàm quý,
mình nhìn thấy:
điều gì không nên làm.
Giống như có ánh sáng trong phòng,
mình nhìn thấy:
đường.
Chỗ nguy hiểm.
Vật cản.
Một người không có ánh sáng đạo đức,
rất dễ nghĩ:
“Miễn mình có lợi là được.”
Nhưng người có tàm quý sẽ hỏi:
“VIỆC NÀY CÓ ĐÚNG KHÔNG?”
Không chỉ:
“VIỆC NÀY CÓ LỢI CHO TÔI KHÔNG?”
8. “BẢO HỘ THẾ GIAN” – LOKAṂ PĀLENTI
Đây là câu rất lớn.
Đức Phật không chỉ nói:
tàm quý giúp:
một cá nhân.
Ngài nói:
TÀM VÀ QUÝ BẢO HỘ CẢ THẾ GIAN.
Tại sao?
Bởi nếu con người không còn:
xấu hổ trước điều ác
và:
e ngại hậu quả điều ác,
thì chuyện gì sẽ xảy ra?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 740
Người ta có thể:
lừa nhau.
xâm phạm nhau.
phản bội nhau.
chiếm đoạt nhau.
làm hại nhau.
mà không có hàng rào bên trong.
AN 2.9 dùng hình ảnh rất mạnh để cho thấy nếu hai pháp này không còn, những giới hạn đạo đức căn bản trong quan hệ con người sẽ bị phá vỡ. (Access to Insight)
9. GHÉP NGHĨA TOÀN CÂU
Toàn lời kinh có thể hiểu:
Đức Phật dạy rằng tàm và quý là hai phẩm chất đạo đức sáng đẹp có khả năng gìn giữ đời sống con người. Tàm giúp mình biết hổ thẹn trước điều bất thiện vì tự trọng và lương tâm; quý giúp mình biết e ngại hậu quả của việc làm sai. Khi hai pháp ấy còn mạnh, con người biết dừng trước nhiều hành vi xấu; khi hai pháp ấy suy yếu, giới hạn đạo đức dễ bị phá vỡ. (Access to Insight)
Có thể nhớ:
TÀM – KHÔNG MUỐN LÀM XẤU.
QUÝ – KHÔNG DÁM COI THƯỜNG HẬU QUẢ CỦA CÁI XẤU.
10. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ GÌ?
Kính thưa quý vị,
có những lúc:
không ai nhìn.
Không camera.
Không ai biết.
Không ai kiểm tra.
Lúc ấy cái gì giữ mình?
Nếu chỉ giữ đạo đức vì:
sợ bị phát hiện,
thì khi không ai nhìn,
mình rất dễ:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 741
làm sai.
Nhưng nếu có:
TÀM,
mình tự biết:
“Việc này không nên.”
Nếu có:
QUÝ,
mình biết:
“Việc này có hậu quả.”
Đó là hàng rào:
bên trong.
11. TÀM KHÔNG PHẢI LÀ TỰ GHÉT MÌNH
Điều này phải nói thật rõ.
Người làm sai rồi nói:
“Tôi là đồ bỏ đi.”
“Tôi tệ nhất đời.”
“Tôi không xứng đáng sống.”
Đó không phải ý nghĩa lành mạnh của:
tàm.
Tàm không nhằm:
hủy giá trị con người.
Tàm nhắm vào:
HÀNH VI BẤT THIỆN.
Nói:
“Việc tôi làm là sai.”
khác với:
“Tôi hoàn toàn không có giá trị.”
Một bên giúp:
sửa.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 742
Một bên có thể đẩy mình vào:
tuyệt vọng.
12. TÀM LÀ TỰ TRỌNG ĐẠO ĐỨC
Có thể hiểu thật dễ:
“Tôi không muốn làm điều ấy vì nó không phù hợp với người tôi muốn trở thành.”
Ví dụ:
không ai biết mình có thể lấy món đồ.
Nhưng mình nghĩ:
“Không phải của mình.”
Rồi không lấy.
Không phải vì:
sợ camera.
Mà vì:
“MÌNH KHÔNG MUỐN TRỞ THÀNH NGƯỜI LẤY CỦA KHÔNG CHO.”
Đó là:
tàm.
13. QUÝ KHÔNG PHẢI LÀ SỢ HÃI MÙ QUÁNG
Quý không phải:
lúc nào cũng sợ.
Không phải:
ám ảnh.
Không phải:
nghĩ chuyện gì cũng có tai họa.
Mà là:
THẤY HẬU QUẢ MỘT CÁCH CÓ TRÍ.
Ví dụ:
nói dối có thể:
mất niềm tin.
Nói ác có thể:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 743
làm quan hệ đổ vỡ.
Lừa người có thể:
gây khổ cho cả người và mình.
Làm việc bất hợp pháp có thể:
có hậu quả pháp lý.
Tạo nghiệp bất thiện:
có hậu quả đạo đức.
Thấy vậy nên:
dừng.
Đó là quý.
14. VÍ DỤ 1 – NHẶT ĐƯỢC TIỀN KHÔNG AI THẤY
Mình nhặt được một chiếc ví.
Không ai xung quanh.
Tâm tham nói:
“Giữ cũng chẳng ai biết.”
Tàm nói:
“Không phải của mình.”
Quý nói:
“Người mất đang khổ; lấy sẽ là hành vi không lành và có hậu quả.”
Rồi mình tìm cách:
trả lại.
Đó là tàm quý:
đang bảo hộ.
15. VÍ DỤ 2 – KHAI GIAN ĐỂ ĐƯỢC LỢI
Có một ô giấy tờ.
Chỉ cần khai sai một chút:
có lợi.
Không ai chắc sẽ kiểm.
Tàm nói:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 744
“Mình biết đây không thật.”
Quý nói:
“Nếu gian dối, hậu quả có thể đến cả đạo đức lẫn pháp lý.”
Đó là:
hai lớp bảo vệ.
16. VÍ DỤ 3 – MUỐN NÓI XẤU NGƯỜI KHÁC
Có chuyện rất hấp dẫn.
Nếu kể:
mọi người sẽ chú ý.
Tàm hỏi:
“Mình học Pháp mà đem lỗi người ra làm chuyện vui sao?”
Quý hỏi:
“Lời này có làm người kia mất danh dự và tạo khẩu nghiệp không?”
Nếu hai câu ấy khởi được trước khi nói,
rất nhiều nghiệp có thể:
dừng ngay.
17. VÍ DỤ 4 – BỊ XÚC PHẠM
Tâm muốn:
nói một câu cho người kia thật đau.
Tàm nói:
“Mình không muốn trở thành người dùng lời để đâm người.”
Quý nói:
“Câu này nói ra có thể phá một mối quan hệ và tạo thêm oán.”
Thế là:
dừng.
Đó là tàm quý trong:
Chánh ngữ.
18. VÍ DỤ 5 – MỘT NGƯỜI ĐÃ TIN TƯỞNG MÌNH
Họ kể:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 745
một chuyện riêng.
Sau này mình giận họ.
Tâm muốn đem chuyện đó:
nói ra.
Tàm nói:
“Người ta từng tin mình.”
Quý nói:
“Nếu tiết lộ để trả thù, hậu quả rất lớn.”
Từ đó:
không nói.
Đây là:
phẩm chất.
19. VÍ DỤ 6 – NGƯỜI LÀM NỘI DUNG PHẬT PHÁP
Thấy một câu rất hay.
Chưa có nguồn.
Nếu đăng:
rất dễ được thích.
Tàm nói:
“Không thể lấy lời mình chưa kiểm rồi gắn là lời Phật.”
Quý nói:
“Nếu sai, rất nhiều người sẽ học sai và mình làm giảm uy tín Chánh pháp.”
Thế là:
kiểm lại.
Đây cũng là:
tàm quý.
20. VÍ DỤ 7 – NGƯỜI XUẤT GIA ĐƯỢC CUNG KÍNH
Phật tử kính.
cúng dường.
chăm sóc.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 746
Nếu tâm bắt đầu:
đòi hỏi.
Tàm nói:
“Mình là người xuất gia, không nên biến lòng kính của người khác thành chỗ nuôi tham.”
Quý nói:
“Nếu sống như vậy, niềm tin của người khác có thể bị tổn thương.”
Đây là:
hàng rào rất quan trọng.
21. VÍ DỤ 8 – NGƯỜI CÓ QUYỀN
Một người có quyền.
Không ai dám phản đối.
Nếu không có tàm quý,
quyền dễ biến thành:
lạm dụng.
Nhưng người có tàm nói:
“Dù không ai dám nói, tôi vẫn không được làm sai.”
Người có quý nói:
“Hậu quả của việc lạm quyền có thể làm rất nhiều người khổ.”
Đó là lý do hai pháp này:
bảo hộ xã hội.
22. VÍ DỤ 9 – TRONG GIA ĐÌNH
Cha mẹ có thể:
mắng con
vì nghĩ:
“Nó là con tôi.”
Nhưng tàm hỏi:
“Tôi có đang dùng quyền cha mẹ để làm con đau không?”
Quý hỏi:
“Lời này sẽ để lại dấu gì trong tâm con?”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 747
Nếu có hai pháp ấy,
cách dạy con sẽ:
khác.
23. VÍ DỤ 10 – VỢ CHỒNG
Biết một điểm yếu của người kia.
Khi cãi nhau,
muốn đem ra:
đâm.
Tàm giữ:
“Không nên dùng nỗi đau riêng tư của người mình thương làm vũ khí.”
Quý giữ:
“Nói ra rồi có thể không lấy lại được.”
Một câu được giữ lại:
có thể cứu:
rất nhiều.
24. VÍ DỤ 11 – LỜI NÓI TRÊN MẠNG
Trên mạng,
người ta dễ:
nói mạnh hơn ngoài đời.
Vì không nhìn mặt nhau.
Tàm hỏi:
“Nếu người này đang ngồi trước mặt, tôi có nói như vậy không?”
Quý hỏi:
“Nếu hàng ngàn người đọc câu này, hậu quả thế nào?”
Hai câu này rất hữu ích.
25. VÍ DỤ 12 – LÀM VIỆC KHÔNG AI GIÁM SÁT
Một nhân viên có thể:
làm qua loa.
Không ai biết.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 748
Nhưng người có tàm nghĩ:
“Tôi nhận trách nhiệm thì nên làm cho đúng.”
Người có quý nghĩ:
“Nếu làm cẩu thả, người khác có thể chịu hậu quả.”
Đây là đạo đức:
không cần camera.
26. TÀM QUÝ KHÔNG CHỈ NGĂN TỘI LỚN
Nó bắt đầu từ:
việc rất nhỏ.
Một lời nói.
Một cú nhấp chuột.
Một con số khai sai.
Một lời hứa không giữ.
Một lần lấy thứ không thuộc về mình.
Một lần nói chuyện riêng của người khác.
Nếu những việc nhỏ luôn bị coi:
“không sao,”
hàng rào đạo đức sẽ:
mỏng dần.
27. TÀM VÀ QUÝ GIÚP GIỚI ĐƯỢC GIỮ TỪ BÊN TRONG
Giới nói:
không làm.
Tàm nói:
“Tôi không muốn làm.”
Quý nói:
“Tôi hiểu vì sao không nên làm.”
Khi ba thứ đi cùng:
GIỚI KHÔNG CÒN CHỈ LÀ LUẬT BÊN NGOÀI.
Nó trở thành:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 749
phẩm chất bên trong.
28. LIÊN HỆ VỚI MỘT BÀI KINH KHÁC
Tăng Chi Bộ AN 7.65 còn trình bày một chuỗi rất đáng chú ý: khi tàm và quý không có, sự phòng hộ các căn bị suy yếu; từ đó giới hạnh, định và những pháp cao hơn cũng mất điều kiện phát triển. Ngược lại, khi tàm quý đầy đủ, chúng trở thành điều kiện hỗ trợ cho phòng hộ căn, giới, định và con đường đi tới giải thoát. (SuttaCentral)
Điều này cho thấy:
TÀM QUÝ KHÔNG CHỈ LÀ ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI.
Nó còn là:
NỀN TU TẬP.
29. TẠI SAO NGƯỜI TU CẦN TÀM QUÝ RẤT MẠNH?
Bởi người tu thường được:
tin.
kính.
giao việc.
nghe lời.
Nếu không có tàm quý,
chính niềm tin của người khác có thể trở thành:
chỗ cho tham và cái tôi lợi dụng.
Cho nên càng được kính:
càng phải:
tự giữ.
30. TÀM QUÝ VÀ CÁI TÔI
Có một loại cái tôi nói:
“Không ai biết đâu.”
Tàm trả lời:
“Tôi biết.”
Đây là một câu rất mạnh.
Không cần ai nhìn.
MÌNH BIẾT MÌNH ĐANG LÀM GÌ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 750
Đó là đạo đức bên trong.
31. TÀM QUÝ VÀ NGHIỆP
Quý rất gần với việc nhớ:
hành động có hậu quả.
Trước khi làm,
hỏi:
“NẾU TÔI LÀ THỪA TỰ VIỆC NÀY, TÔI CÓ MUỐN LÀM KHÔNG?”
Đây là cách nối tàm quý với:
quán nghiệp.
32. TÀM QUÝ KHÔNG PHẢI ĐỂ PHÁN XÉT NGƯỜI KHÁC
Đây là điều cần tránh.
Học tàm quý xong,
không phải để nói:
“Người kia vô tàm vô quý.”
Mục tiêu trước hết là:
SOI MÌNH.
Tàm quý của tôi:
đủ chưa?
Tôi có điều gì biết sai nhưng vẫn làm không?
Tôi có đang coi thường hậu quả một việc nào không?
Đó mới là:
tu.
33. KHI ĐÃ LÀM SAI THÌ TÀM QUÝ PHẢI DẪN TỚI SỬA
Nếu chỉ:
xấu hổ.
rồi trốn.
không sửa,
thì chưa đủ.
Tàm quý đúng phải đưa tới:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 751
NHẬN.
DỪNG.
SỬA.
KHÔNG LẶP.
Đây mới là giá trị.
34. VÍ DỤ 13 – NÓI SAI MỘT NGUỒN KINH
Phát hiện mình nói sai.
Tàm nói:
“Mình đã nói điều chưa chuẩn.”
Quý nói:
“Nếu không sửa, người khác có thể tiếp tục học sai.”
Vậy cách đúng là:
SỬA NGUỒN.
Không che.
Không chống chế.
Đó là:
tàm quý có trí.
35. VÍ DỤ 14 – LỠ NÓI NẶNG VỚI NGƯỜI THÂN
Xấu hổ vì mình nói nặng:
có thể là tàm.
Nhưng đừng dừng ở:
“Tôi tệ quá.”
Hãy nói:
“Lúc ấy tôi nói không đúng. Tôi xin lỗi.”
Rồi:
tập lại.
Đó là chuyển tàm thành:
thiện nghiệp.
36. VÍ DỤ 15 – ĐÃ LỠ GIAN DỐI
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 752
Không nên nghĩ:
“Đã sai rồi, thôi sai luôn.”
Tàm quý đúng sẽ:
ngăn mình đi xa hơn.
Một lỗi:
nhận một lỗi.
Có thể sửa:
sửa.
Có thể trả:
trả.
Có thể xin lỗi:
xin lỗi.
Đó là:
hướng sáng.
37. ĐỪNG NHẦM TÀM VỚI MẶC CẢM
Mặc cảm nói:
“Tôi kém.”
Tàm nói:
“Việc này không nên.”
Mặc cảm kéo xuống:
căn cước.
Tàm đưa lên:
đạo đức.
Một bên dễ làm người:
co lại.
Một bên giúp:
đứng thẳng hơn.
38. ĐỪNG NHẦM QUÝ VỚI HOẢNG SỢ
Hoảng sợ nói:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 753
“Chuyện gì cũng đáng sợ.”
Quý nói:
“Hành vi bất thiện này có hậu quả, nên tôi không làm.”
Một bên:
mù.
Một bên:
có trí.
39. CÔNG THỨC THỨ NHẤT: TÀM – QUÝ – DỪNG
TÀM
Việc này có xứng đáng để mình làm không?
QUÝ
Hậu quả của nó là gì?
DỪNG
Nếu bất thiện:
đừng làm.
Công thức:
TÀM → QUÝ → DỪNG.
40. CÔNG THỨC THỨ HAI: KHÔNG AI THẤY – TÔI VẪN BIẾT
Đây là câu dễ nhớ:
KHÔNG AI THẤY – TÔI VẪN BIẾT.
KHÔNG AI PHẠT – NGHIỆP VẪN CÓ HẬU QUẢ.
Cho nên:
giữ mình
không cần:
camera.
41. CÔNG THỨC THỨ BA: XỨNG KHÔNG? – HẠI KHÔNG? – LÀM KHÔNG?
Trước một việc,
hỏi:
“VIỆC NÀY CÓ XỨNG VỚI PHẨM CHẤT MÌNH MUỐN GIỮ KHÔNG?”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 754
“NÓ CÓ GÂY HẠI KHÔNG?”
Nếu không xứng,
có hại:
KHÔNG LÀM.
42. CÔNG THỨC THỨ TƯ: NHẬN – DỪNG – SỬA – NGỪNG LẶP
Nếu đã sai:
NHẬN.
DỪNG.
SỬA.
NGỪNG LẶP.
Đừng biến tàm quý thành:
tự hành hạ.
Hãy biến nó thành:
CHUYỂN HÓA.
43. CÔNG THỨC THỨ NĂM: GIỚI Ở NGOÀI – TÀM QUÝ Ở TRONG
Giới giống:
hàng rào.
Tàm quý giống:
người canh cửa.
Nếu chỉ có hàng rào
mà không có người giữ,
mình dễ tìm:
lỗ để chui.
Nếu có tàm quý,
ngay cả khi không ai nhìn,
mình vẫn:
tự giữ.
44. BÀI THỰC HÀNH MỘT NGÀY
Hôm nay,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 755
trước một việc mình hơi phân vân,
hãy hỏi đúng hai câu:
“TÔI CÓ THẤY HỔ THẸN NẾU LÀM VIỆC NÀY KHÔNG?”
“VIỆC NÀY CÓ HẬU QUẢ GÌ CHO MÌNH VÀ NGƯỜI KHÁC?”
Chỉ hai câu.
Không cần dài.
Nếu tâm sáng lên và biết:
không nên,
hãy:
dừng.
45. BÀI THỰC HÀNH BẢY NGÀY
NGÀY 1 – TÀM TRONG LỜI NÓI
Không nói một câu biết rõ chỉ nhằm làm người khác đau.
NGÀY 2 – QUÝ TRONG LỜI NÓI
Trước khi kể chuyện người khác, nghĩ hậu quả.
NGÀY 3 – TÀM TRONG TÀI VẬT
Không lấy một thứ không thuộc về mình.
NGÀY 4 – QUÝ TRONG CÔNG VIỆC
Không làm cẩu thả việc có thể gây hại người.
NGÀY 5 – TÀM TRONG VIỆC HỌC PHÁP
Không gắn “Phật dạy” vào câu chưa có nguồn.
NGÀY 6 – QUÝ TRONG MẠNG XÃ HỘI
Không chia sẻ một tin gây hại khi chưa kiểm.
NGÀY 7 – NHÌN LẠI
Hỏi:
“Trong tuần này, có việc xấu nào tôi đã dừng được vì tàm hoặc quý không?”
46. THỰC HÀNH BUỔI SÁNG
Mỗi sáng có thể đọc:
Hôm nay tôi nhớ giữ tàm và quý.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 756
Tôi không chỉ hỏi việc gì có lợi cho mình.
Tôi hỏi việc gì là đúng.
Điều bất thiện dù không ai thấy, tôi tập không làm.
Trước khi hành động, tôi nhớ hậu quả đối với mình và người.
Nếu sai, tôi nhận và sửa, không tự hủy mình.
47. THỰC HÀNH BUỔI TỐI
Trước khi ngủ hỏi:
Hôm nay có việc nào tôi biết sai mà vẫn làm không?
Có câu nào tôi dừng được vì thấy không xứng đáng để nói không?
Có việc nào tôi dừng vì thấy hậu quả không lành không?
Tôi có dùng chữ “không ai biết” để cho phép mình làm sai không?
Nếu hôm nay tôi làm sai, tôi có thể sửa phần nào vào ngày mai?
48. CÂU GHI NHỚ THỨ NHẤT
Người có đạo đức thật không chỉ sống đúng khi có người nhìn.
49. CÂU GHI NHỚ THỨ HAI
Tàm nói: “Việc này không xứng với mình”; quý nói: “Việc này sẽ có hậu quả”.
50. CÂU GHI NHỚ THỨ BA
Không ai phát hiện không có nghĩa việc sai trở thành đúng.
51. CÂU GHI NHỚ THỨ TƯ
Tàm không phải ghét mình; tàm là không muốn hạ phẩm chất của mình bằng hành vi xấu.
52. CÂU GHI NHỚ THỨ NĂM
Quý không phải hoảng sợ; quý là thấy hậu quả đủ rõ để biết dừng.
53. CÂU GHI NHỚ THỨ SÁU
Một xã hội có rất nhiều luật vẫn khó an nếu con người không còn hàng rào đạo đức bên trong.
54. CÂU GHI NHỚ THỨ BẢY
Người không cần camera mà vẫn làm đúng là người đã bắt đầu có người giữ cửa bên trong.
55. CÂU GHI NHỚ THỨ TÁM
Biết sai mà biết hổ thẹn là còn cửa sửa; đáng sợ hơn là làm sai mà thấy chẳng có gì đáng nói.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 757
56. CÂU GHI NHỚ THỨ CHÍN
Hổ thẹn đúng cách không đẩy mình xuống; nó kéo mình ra khỏi việc xấu.
57. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI
Sợ hậu quả đúng cách không làm mình yếu; nó giúp mình đừng tạo ra hậu quả phải hối tiếc.
58. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI MỘT
Đạo đức vững nhất không phải khi người khác canh mình, mà khi chính tâm mình biết tự dừng.
59. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
TÀM – HIRĪ
Biết hổ thẹn với điều xấu.
Biết tự trọng.
Biết:
“Việc này không xứng đáng để tôi làm.”
QUÝ – OTTAPPA
Biết e ngại hậu quả của điều xấu.
Biết:
“Việc này sẽ gây khổ và có hậu quả.”
Hai pháp ấy được Đức Phật gọi là:
HAI PHÁP SÁNG BẢO HỘ THẾ GIAN. (
Access to Insight
)
Nếu có tàm:
mình không muốn làm ác.
Nếu có quý:
mình không coi thường hậu quả của ác.
Và khi cả hai cùng mạnh:
rất nhiều điều xấu có thể:
DỪNG TRƯỚC KHI THÀNH HÀNH ĐỘNG.
Nguồn: Kinh Lokapāla – Lokapāla Sutta, Tăng Chi Bộ Kinh – Aṅguttara Nikāya, Chương Hai Pháp – Duka Nipāta, kinh số 9, mã tra cứu quốc tế AN 2.9, PTS A I 51, nguyên bản Kinh tạng
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 758
Pāli. (Access to Insight)
60. CÂU HỎI LIVESTREAM
1. Theo quý vị, tàm và quý khác nhau ở điểm nào?
2. Có bao giờ mình không làm một việc sai chỉ vì trong lòng nghĩ: “Việc này không xứng để mình làm” không?
3. Nếu không có camera và không ai biết, điều gì giữ mình không làm sai?
4. Có khi nào mình chỉ sợ bị phát hiện nhưng chưa thật sự thấy việc ấy là sai không?
5. Theo quý vị, vì sao Đức Phật gọi tàm và quý là hai pháp bảo hộ cả thế gian?
6. Có phải người biết hổ thẹn với lỗi mình là người yếu không, hay đó chính là dấu hiệu lương tâm còn sáng?
7. Tàm khác với mặc cảm tự ti như thế nào?
8. Quý khác với hoảng sợ như thế nào?
9. Khi định nói xấu một người, nếu nhớ hậu quả của lời nói thì mình có dễ dừng hơn không?
10. Có câu nào mình từng nói trong sân mà nếu lúc ấy nhớ tàm quý thì có lẽ đã không nói không?
11. Người có quyền lực càng lớn có cần tàm quý càng mạnh không? Vì sao?
12. Người xuất gia được kính trọng nhiều có cần tự giữ tàm quý mạnh hơn không?
13. Nếu một câu Phật pháp chưa có nguồn nhưng rất hay, tàm quý của người giảng nên hoạt động thế nào?
14. Theo quý vị, một người làm sai nhưng biết nhận, xin lỗi và sửa có đáng quý hơn người luôn tìm cách che lỗi không?
15. Nếu hôm nay chỉ nhớ hai câu, quý vị có thể nhớ: “Tàm – việc này có xứng không? Quý – hậu quả việc này là gì?” không?
61. CÂU KẾT ĐỂ ĐỌC TRÊN LIVESTREAM
Kính thưa quý vị,
nhiều khi người ta nghĩ:
muốn xã hội tốt,
phải có thật nhiều:
luật.
camera.
người kiểm tra.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 759
hình phạt.
Những thứ đó có vai trò.
Nhưng Đức Phật chỉ một lớp sâu hơn:
CON NGƯỜI CẦN MỘT HÀNG RÀO Ở BÊN TRONG.
Không ai nhìn,
mình vẫn biết:
việc này sai.
Có thể lấy,
mình vẫn không lấy.
Có thể nói dối mà không ai biết,
mình vẫn không nói.
Có thể làm người kia đau để trả đũa,
mình vẫn dừng.
Tại sao?
Vì:
TÀM.
Mình nghĩ:
“Việc này không xứng để mình làm.”
Và vì:
QUÝ.
Mình nghĩ:
“Việc này sẽ có hậu quả.”
Hai câu rất ngắn.
Nhưng nếu một người giữ được,
họ bớt tạo:
rất nhiều nghiệp xấu.
Nếu một gia đình giữ được,
gia đình bớt:
tổn thương.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 760
Nếu một cộng đồng giữ được,
cộng đồng bớt:
hỗn loạn.
Nếu xã hội còn giữ được,
thì đạo đức còn:
nền.
Đó là lý do Đức Phật gọi tàm và quý:
HAI PHÁP SÁNG BẢO HỘ THẾ GIAN.
Vậy công thức bài hôm nay xin nhớ:
TÀM → QUÝ → DỪNG.
Trước một việc,
hỏi:
“VIỆC NÀY CÓ XỨNG ĐỂ TÔI LÀM KHÔNG?”
Rồi hỏi:
“NẾU TÔI LÀM, HẬU QUẢ LÀ GÌ?”
Nếu thấy:
bất thiện,
gây hại,
không xứng,
thì:
DỪNG.
Và nếu mình đã làm sai,
đừng dùng tàm quý để:
đánh mình.
Hãy dùng tàm quý để:
NHẬN.
DỪNG.
SỬA.
KHÔNG LẶP.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 761
Người biết lỗi mà sửa:
đang đi về phía sáng.
Người làm sai mà không còn thấy gì đáng hổ thẹn,
mới là điều thật sự đáng lo.
Cho nên có thể mang theo một câu cả ngày:
“KHÔNG AI THẤY – NHƯNG TÔI VẪN BIẾT.”
Và chính chỗ ấy,
đạo đức bắt đầu từ:
bên trong.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 762
MỤC 029 - Bài 029 — BỐN NIỀM VUI CỦA NGƯỜI TẠI GIA – CÓ CỦA ĐÚNG PHÁP, BIẾT DÙNG, KHÔNG NỢ VÀ SỐNG KHÔNG LỖI 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
Đức Phật dạy cư sĩ Cấp Cô Độc:
“Có bốn loại an lạc này, này Gia chủ, người tại gia thọ hưởng các dục thâu hoạch được, tùy thời gian, tùy thời cơ khởi lên cho vị ấy. Thế nào là bốn? Lạc sở hữu, lạc thọ dụng, lạc không mắc nợ, lạc không phạm tội.” (SuttaCentral)
Đức Phật giải thích:
Lạc sở hữu là niềm vui khi biết tài sản mình có được nhờ nỗ lực, sức lao động, mồ hôi và được thâu hoạch đúng pháp.
Lạc thọ dụng là niềm vui khi biết mình sử dụng tài sản chân chánh ấy và làm các việc phước đức.
Lạc không mắc nợ là niềm vui khi biết mình không mắc nợ ai dù ít hay nhiều.
Lạc không phạm tội là niềm vui khi biết thân hành, khẩu hành và ý hành của mình không phạm lỗi. (SuttaCentral)
Cuối bài kinh, Đức Phật còn chỉ rõ rằng những niềm vui về tài sản và không mắc nợ vẫn rất nhỏ nếu so với lạc không phạm tội. (Access to Insight)
2. NGUỒN KINH
Tên kinh tiếng Việt: Kinh Không Nợ
Tên Pāli: Ānaṇya Sutta
Thuộc: Tăng Chi Bộ Kinh – Aṅguttara Nikāya
Chương: Chương Bốn Pháp – Catukka Nipāta
Số kinh: 62
Mã tra cứu quốc tế: AN 4.62
Mã PTS: A II 69
Người được Đức Phật giảng: Gia chủ Anāthapiṇḍika – Cấp Cô Độc
Bản dịch tiếng Việt: Hòa thượng Thích Minh Châu
Nguyên bản: Kinh tạng Pāli. SuttaCentral xác nhận bản Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu tại AN 4.62 – Ānaṇyasutta; các bản đối chiếu cũng ghi đây là bài kinh Đức Phật giảng cho cư sĩ Cấp Cô Độc về bốn loại an lạc của người tại gia. (SuttaCentral)
Khi cần trả lời thật ngắn:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 763
“Đây là Kinh Không Nợ – Ānaṇya Sutta, Tăng Chi Bộ Kinh – Aṅguttara Nikāya, Chương Bốn Pháp, kinh số 62, mã quốc tế AN 4.62, bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, nguyên bản Kinh tạng Pāli.”
3. BỐN TỪ KHÓA CHÍNH VIỆT – PĀLI – NGHĨA
LẠC SỞ HỮU – ATTHISUKHA – NIỀM VUI KHI CÓ TÀI SẢN CHÂN CHÁNH
Atthi có nghĩa gần là:
có.
sở hữu.
Sukha là:
an lạc,
niềm vui,
sự dễ chịu.
Nhưng Đức Phật không nói:
cứ có tài sản là có lạc sở hữu.
Ngài đặt điều kiện rất rõ:
TÀI SẢN PHẢI ĐƯỢC LÀM RA ĐÚNG PHÁP.
Bản kinh mô tả tài sản ấy là tài sản thu hoạch nhờ:
nỗ lực.
tinh tấn.
sức mạnh cánh tay.
mồ hôi.
và:
thâu hoạch đúng pháp. (SuttaCentral)
Điểm này rất quan trọng.
Không phải:
CÓ NHIỀU LÀ ĐỦ.
Mà phải:
CÓ ĐÚNG.
4. LẠC THỌ DỤNG – BHOGASUKHA – NIỀM VUI KHI BIẾT SỬ DỤNG TÀI SẢN ĐÚNG
Bhoga là:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 764
tài sản,
của cải,
phương tiện vật chất.
Sukha là:
niềm vui,
an lạc.
Lạc thọ dụng nghĩa là:
mình không chỉ:
kiếm được,
mà còn biết:
DÙNG ĐÚNG.
Bản kinh nói người thiện nam tử thọ hưởng tài sản chân chánh ấy và làm các việc phước đức. (SuttaCentral)
Tài sản nếu chỉ:
cất.
giữ.
sợ mất.
không dám dùng.
không biết chia sẻ.
thì chưa chắc đem lại:
hạnh phúc.
5. LẠC KHÔNG MẮC NỢ – ĀNAṆYASUKHA – NIỀM VUI KHÔNG MANG NỢ
Ānaṇya có nghĩa:
không mắc nợ.
Ānaṇyasukha là:
niềm vui của trạng thái không mắc nợ.
Đức Phật nói rất giản dị:
người thiện gia nam tử nghĩ:
“Ta không có mắc nợ ai một điều gì, ít hay nhiều.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 765
Do nghĩ như vậy:
vị ấy được:
lạc,
được:
hỷ. (SuttaCentral)
Không nợ:
tâm nhẹ.
Không phải:
đi ngủ vẫn nghĩ ngày mai ai đòi.
Không phải:
điện thoại reo là sợ.
Không phải:
thu nhập vừa có đã phải chia hết cho khoản vay.
Bài kinh nhìn thấy một sự thật rất đời thường:
NỢ CÓ THỂ TRỞ THÀNH GÁNH NẶNG CỦA TÂM.
6. LẠC KHÔNG PHẠM TỘI – ANAVAJJASUKHA – NIỀM VUI CỦA ĐỜI SỐNG KHÔNG ĐÁNG CHÊ TRÁCH
Anavajja có nghĩa gần:
không lỗi,
không đáng chê trách,
không phạm điều bất thiện.
Anavajjasukha là:
niềm vui của đời sống không lỗi.
Kinh nói vị Thánh đệ tử thành tựu:
thân hành không phạm tội,
khẩu hành không phạm tội,
ý hành không phạm tội.
Vị ấy nghĩ đến đời sống như vậy và được:
lạc,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 766
được:
hỷ. (SuttaCentral)
Đây là loại hạnh phúc:
SÂU NHẤT TRONG BỐN LOẠI.
Bởi cuối bài kinh, Đức Phật nói các niềm vui kia không bằng một phần rất nhỏ so với lạc không phạm tội. (Access to Insight)
7. GIẢI CỤM THỨ NHẤT – “TÀI SẢN DO NỖ LỰC TINH TẤN”
Kính thưa quý vị,
Đức Phật không phủ nhận:
người tại gia cần làm việc.
Không phủ nhận:
tài sản.
Không nói:
có tiền là xấu.
Điểm Ngài nhấn là:
TÀI SẢN PHẢI ĐẾN TỪ CON ĐƯỜNG CHÂN CHÁNH.
Không phải:
gian lận.
Không phải:
lừa đảo.
Không phải:
lợi dụng.
Không phải:
làm người khác khổ để mình giàu.
Bản kinh gọi đó là tài sản:
thâu hoạch đúng pháp. (SuttaCentral)
8. “DO SỨC MẠNH CÁNH TAY, DO MỒ HÔI ĐỔ RA”
Hình ảnh này rất đẹp.
Nó nói đến:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 767
CÔNG SỨC THẬT.
Mình làm.
Mình lao động.
Mình chịu khó.
Mình học nghề.
Mình kinh doanh chân chính.
Mình chăm chỉ.
Tài sản ấy khi nhìn lại:
tâm có thể vui vì:
“Tôi không phải lấy của ai.”
Đó là:
lạc sở hữu.
9. CÓ TÀI SẢN NHƯNG KHÔNG ĐÚNG PHÁP – CHƯA PHẢI NIỀM VUI ĐỨC PHẬT ĐANG NÓI
Một người có rất nhiều tiền.
Nhưng tiền đến từ:
lừa.
gian.
hại người.
tham nhũng.
chiếm đoạt.
thì bên ngoài:
có của.
Nhưng bên trong:
có thể phải:
sợ.
che.
nói dối.
lo bị phát hiện.
Như vậy:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 768
CÓ TÀI SẢN
khác với:
CÓ TÀI SẢN ĐÚNG PHÁP.
Đây là điểm phải giảng thật rõ.
10. VÍ DỤ 1 – NGƯỜI BÁN HÀNG
Hai người cùng bán một món.
Người thứ nhất:
nói đúng chất lượng.
nói đúng giá.
không lừa.
Người thứ hai:
biết hàng lỗi nhưng che.
Cả hai đều:
thu tiền.
Nhưng nghiệp của hai cách kiếm:
khác nhau.
AN 4.62 đặt nền hạnh phúc ở:
tài sản được thu hoạch đúng pháp. (SuttaCentral)
11. VÍ DỤ 2 – NGƯỜI LÀM CÔNG
Mình được trả:
một ngày công.
Nhưng chỉ làm:
một nửa.
Thời gian còn lại:
cố tình gian dối.
Có thể chẳng ai biết.
Nhưng chính mình:
biết.
Lạc sở hữu không chỉ nằm ở:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 769
số tiền.
Mà nằm ở cảm giác:
“TÔI KIẾM ĐƯỢC NÓ MỘT CÁCH ĐÀNG HOÀNG.”
12. VÍ DỤ 3 – NGƯỜI LÀM KINH DOANH
Kinh doanh:
có lời
không sai.
Muốn phát triển:
không sai.
Nhưng nếu lợi nhuận chỉ có bằng cách:
lừa khách.
ép người yếu.
bán thứ gây hại mà che giấu.
thì phải nhìn lại.
Tài sản chân chánh phải đi cùng:
CHÁNH MẠNG.
13. GIẢI CỤM THỨ HAI – “THỌ HƯỞNG TÀI SẢN”
Có người:
kiếm cả đời.
Nhưng không dám dùng.
Không dám chăm thân.
Không dám giúp cha mẹ.
Không dám ăn một bữa tử tế.
Không dám làm việc thiện.
Chỉ:
giữ.
Đức Phật không ca ngợi:
sự keo kiệt.
Tài sản đúng pháp còn cần:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 770
ĐƯỢC SỬ DỤNG ĐÚNG.
14. BIẾT DÙNG TÀI SẢN LÀ MỘT LOẠI TRÍ TUỆ
Kiếm được tiền:
một năng lực.
Giữ được tiền:
một năng lực.
Dùng tiền đúng:
lại là:
một năng lực khác.
Có người:
kiếm rất giỏi.
Nhưng tiêu vì:
sĩ diện.
tham.
đua.
nghiện.
Cuối cùng:
khổ.
Cho nên:
KIẾM ĐÚNG CHƯA ĐỦ.
CÒN PHẢI DÙNG ĐÚNG.
15. DÙNG CHO ĐỜI SỐNG CHÍNH ĐÁNG
Ăn uống.
chỗ ở.
chăm sức khỏe.
nuôi gia đình.
phụng dưỡng cha mẹ.
học hành.
công việc.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 771
những nhu cầu hợp lý.
Đó không phải:
tham hưởng thụ
chỉ vì mình dùng tài sản.
Điểm là:
DÙNG CÓ TRÍ.
16. DÙNG TÀI SẢN ĐỂ LÀM PHƯỚC
Bản kinh nói rõ người thiện nam tử:
thọ hưởng tài sản
và:
làm các việc phước đức. (SuttaCentral)
Như vậy của cải không chỉ:
chảy vào mình.
Nó còn có thể:
chảy ra thành thiện.
Một phần giúp:
người.
Một phần giúp:
cộng đồng.
Một phần hỗ trợ:
thiện sự.
17. VÍ DỤ 4 – CÓ TIỀN NHƯNG CHA MẸ THIẾU THỐN
Mình mua thêm:
món thứ mười.
Nhưng cha mẹ thiếu:
thuốc.
Thiếu:
đồ ăn.
Thiếu:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 772
sự chăm sóc.
Đây là lúc cần hỏi:
“TÔI ĐANG THỌ DỤNG TÀI SẢN CÓ TRÍ KHÔNG?”
Tài sản không chỉ để:
thỏa cái muốn.
18. VÍ DỤ 5 – TIẾT KIỆM QUÁ MỨC ĐẾN MỨC LÀM KHỔ THÂN
Có tiền.
Nhưng đau bệnh:
không khám.
Cần thuốc:
không mua.
Chỉ vì:
sợ mất tiền.
Đó chưa chắc là:
biết đủ.
Có thể là:
chấp tài sản.
Tài sản phải:
phục vụ đời sống chân chánh.
Không phải đời sống:
làm nô lệ cho tài sản.
19. VÍ DỤ 6 – DÙNG TÀI SẢN ĐỂ KHOE
Mua một món không phải vì:
cần.
Mà chỉ vì:
người khác phải thấy mình có.
Đây là lúc tài sản đang phục vụ:
CÁI TÔI.
Không nhất thiết món đồ là xấu.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 773
Nhưng động cơ:
đáng nhìn.
20. GIẢI CỤM THỨ BA – “KHÔNG MẮC NỢ AI, ÍT HAY NHIỀU”
Đây là câu rất thực tế.
Nợ nhỏ:
cũng là nợ.
Nợ lớn:
cũng là nợ.
Nếu có thể sống không nợ:
tâm nhẹ.
Nhưng bài kinh không có nghĩa:
mọi hình thức vay mượn trong mọi hoàn cảnh đều là tội.
Điều kinh trực tiếp nói là:
TRẠNG THÁI KHÔNG MẮC NỢ ĐEM LẠI MỘT LOẠI AN LẠC.
(SuttaCentral)
21. NỢ LÀM TÂM NẶNG Ở ĐÂU?
Mỗi tháng:
đến hạn.
Thu nhập chưa tới:
khoản trả đã chờ.
Muốn nghỉ:
không dám nghỉ.
Muốn đổi việc:
không dám đổi.
Một món mua bằng:
niềm vui một ngày
có thể trở thành:
nghĩa vụ vài năm.
Vì vậy trước khi vay,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 774
phải có:
TRÍ.
22. KHÔNG PHẢI MỌI KHOẢN NỢ ĐỀU GIỐNG NHAU
Có khoản vay để:
làm ăn hợp pháp.
học tập.
nhà ở.
giải quyết nhu cầu thật.
Có khoản nợ sinh vì:
muốn hơn người.
mua để khoe.
cờ bạc.
tiêu xài không kiểm soát.
Đời sống thực tế cần:
phân biệt.
Nhưng dù nguyên nhân gì,
bài kinh vẫn nhắc một điều:
ĐƯỢC KHÔNG NỢ – LÀ MỘT NIỀM VUI.
23. VÍ DỤ 7 – MUA MỘT MÓN VƯỢT KHẢ NĂNG
Thu nhập:
một mức.
Món muốn mua:
gấp rất nhiều lần.
Tâm nói:
“Cứ vay rồi tính.”
Hãy hỏi:
“Niềm vui sở hữu món này kéo dài bao lâu?”
“Gánh nợ kéo dài bao lâu?”
Đây là trí trước:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 775
một cái muốn.
24. VÍ DỤ 8 – NỢ VÌ SĨ DIỆN
Có đám tiệc.
Không đủ điều kiện.
Nhưng sợ:
người ta chê.
Vay để làm thật lớn.
Sau một ngày:
khách về.
Khoản nợ:
ở lại.
Đây là ví dụ rất rõ về:
CÁI TÔI CÓ THỂ TẠO NỢ.
25. VÍ DỤ 9 – NỢ NHƯNG KHÔNG MUỐN TRẢ
Có khả năng trả.
Nhưng nghĩ:
“Họ có đòi đâu.”
Đó không còn chỉ là:
khó khăn tài chính.
Mà đi sang:
đạo đức.
Người học Phật phải nhớ:
CÁI GÌ MÌNH ĐÃ NHẬN VỚI TRÁCH NHIỆM HOÀN TRẢ – THÌ PHẢI CÓ Ý THỨC HOÀN TRẢ.
26. KHÔNG NỢ KHÔNG CHỈ CÓ NỢ TIỀN TRONG ĐỜI SỐNG ỨNG DỤNG
Bản kinh nói trực tiếp về:
nợ.
Ở phần ứng dụng rộng hơn, mình còn có thể tự hỏi:
mình có nợ:
một lời xin lỗi?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 776
một lời hứa?
một trách nhiệm chưa làm?
Đây là:
PHẦN DIỄN GIẢI ỨNG DỤNG.
Không phải nguyên văn kinh.
Nhưng nó giúp mình nhìn:
những việc chưa hoàn thành đang làm tâm nặng.
27. GIẢI CỤM THỨ TƯ – “THÂN HÀNH KHÔNG PHẠM TỘI”
Đây là:
hạnh phúc của thân không làm điều đáng hối.
Không:
giết hại cố ý.
trộm cắp.
xâm phạm.
làm những hành vi bất thiện.
Một người tối về đặt lưng xuống,
nghĩ:
“Hôm nay thân mình không cố tình làm hại ai.”
Có một loại:
an.
Không cần mua.
28. “KHẨU HÀNH KHÔNG PHẠM TỘI”
Miệng không:
dối.
chia rẽ.
đâm.
hạ.
phá.
Một ngày nói rất ít,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 777
nhưng không tạo khẩu nghiệp đáng hối,
có thể ngủ:
rất yên.
Đó là:
LẠC KHÔNG PHẠM TỘI.
29. “Ý HÀNH KHÔNG PHẠM TỘI”
Đây là tầng sâu.
Bên ngoài không làm.
Nhưng bên trong có:
tham.
sân.
ý hại.
Người tu còn phải:
nhìn.
Bài kinh đưa hạnh phúc đạo đức tới cả:
ý hành. (SuttaCentral)
30. TẠI SAO LẠC KHÔNG PHẠM TỘI CAO HƠN?
Bởi tài sản:
có thể mất.
Thứ mình đang hưởng:
có thể hết.
Không nợ hôm nay:
ngày mai có thể phát sinh nghĩa vụ mới.
Nhưng một tâm biết:
“Tôi không cố ý làm điều đáng hổ thẹn,”
có một loại bình an:
rất sâu.
Cuối AN 4.62, bài kệ đánh giá các loại lạc kia không bằng một phần nhỏ của lạc không phạm tội. (Access to Insight)
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 778
31. VÍ DỤ 10 – KIẾM ĐƯỢC NHIỀU NHƯNG PHẢI NÓI DỐI CẢ NGÀY
Tiền tăng.
Nhưng tâm:
không an.
Điện thoại reo:
lo.
Ai hỏi:
sợ.
Giấy tờ:
sợ kiểm.
Như vậy:
lạc sở hữu
đã bị phá bởi:
đời sống có lỗi.
32. VÍ DỤ 11 – KIẾM ÍT HƠN NHƯNG NGỦ YÊN
Một người kiếm vừa đủ.
Không giàu lớn.
Nhưng:
không lừa.
không nợ quá sức.
không hại.
đêm ngủ:
an.
Kinh giúp mình thấy:
HẠNH PHÚC KHÔNG CHỈ ĐƯỢC ĐO BẰNG SỐ TÀI SẢN.
33. VÍ DỤ 12 – TRẢ XONG MỘT KHOẢN NỢ
Khoản nợ theo nhiều năm.
Ngày trả xong:
tài khoản có thể ít đi.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 779
Nhưng tâm:
nhẹ.
Đây chính là điều rất đời mà Đức Phật gọi:
LẠC KHÔNG MẮC NỢ.
34. VÍ DỤ 13 – LÀM MỘT VIỆC THIỆN BẰNG TÀI SẢN MÌNH LÀM RA
Mình lao động chân chánh.
Có một phần dư.
Giúp người bệnh.
Giúp cha mẹ.
Làm một thiện sự.
Tài sản từ:
công sức
đã đi thành:
PHƯỚC.
Đó là lạc thọ dụng rất đẹp.
35. VÍ DỤ 14 – CÓ CỦA NHƯNG KHÔNG DÁM CHO
Sợ:
mất.
Sợ:
thiếu.
Sợ:
người khác hơn.
Có thật nhiều
nhưng tâm:
luôn thiếu.
Đây là nghịch lý:
TÀI SẢN NHIỀU – TÂM VẪN NGHÈO.
Biết thọ dụng và biết chia sẻ giúp:
phá phần chấp ấy.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 780
36. VÍ DỤ 15 – KHÔNG CÓ NHIỀU NHƯNG CÓ LẠC KHÔNG PHẠM TỘI
Một người không có:
tài sản lớn.
Nhưng sống:
chân thật.
không lấy của ai.
không hại ai.
không gian lận.
Tối ngủ:
tâm không hối.
Theo thứ tự giá trị trong bài kinh,
đây là niềm vui:
rất đáng quý. (Access to Insight)
37. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ GÌ?
Kính thưa quý vị,
AN 4.62 cho thấy đạo Phật không hề bắt người tại gia phải giả vờ rằng:
vật chất không quan trọng gì cả.
Người tại gia cần:
ăn.
ở.
nuôi gia đình.
làm việc.
có phương tiện.
Đức Phật nói rất thực tế về niềm vui khi có tài sản do lao động chân chánh, biết sử dụng tài sản và không mắc nợ. Nhưng Ngài cũng đặt trên những niềm vui ấy một giá trị cao hơn: sống không lỗi nơi thân, lời và ý. (SuttaCentral)
Đó là cái nhìn:
KHÔNG PHỦ NHẬN VẬT CHẤT.
NHƯNG KHÔNG ĐỂ VẬT CHẤT ĐỨNG CAO HƠN ĐẠO ĐỨC.
38. CÓ CỦA NHƯNG PHẢI “ĐÚNG PHÁP”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 781
Đây là chữ phải nhấn mạnh.
Không phải:
“Phật dạy người ta phải giàu.”
Cũng không phải:
“Có nhiều tài sản là có phước hơn người.”
Lời kinh chỉ nói về:
một loại niềm vui của người tại gia
khi họ có tài sản:
DO NỖ LỰC CHÂN CHÁNH VÀ THÂU HOẠCH ĐÚNG PHÁP.
(SuttaCentral)
39. DÙNG TÀI SẢN NHƯNG KHÔNG ĐỂ TÀI SẢN DÙNG MÌNH
Mình có tiền:
để dùng.
Nếu mỗi ngày chỉ:
sợ mất.
so.
đếm.
tham thêm.
thì tiền đang:
dùng tâm mình.
Có của mà không tự do:
chưa chắc là lạc.
40. KHÔNG NỢ NHƯNG ĐỪNG BIẾN THÀNH KIÊU MẠN
Trả hết nợ:
rất vui.
Nhưng không nên nhìn người đang khó khăn rồi:
khinh.
Có người nợ do:
bệnh.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 782
tai nạn.
hoàn cảnh.
sai lầm cũ.
Mình học:
trí tài chính.
Nhưng vẫn giữ:
TỪ.
41. ĐANG CÓ NỢ THÌ HỌC GÌ TỪ BÀI KINH?
Không cần:
xấu hổ đến tuyệt vọng.
Bài kinh cho mình thấy:
KHÔNG NỢ LÀ MỘT MỤC TIÊU ĐÁNG QUÝ.
Nếu đang nợ:
biết số thật.
đừng tạo thêm nợ không cần.
ưu tiên trả có kế hoạch.
không vay mới chỉ để thỏa sĩ diện.
sống gọn hơn nếu cần.
Đây là:
phần ứng dụng thực tế từ tinh thần bài kinh.
42. NGHÈO KHÔNG PHẢI LÀ TỘI – GIÀU KHÔNG TỰ ĐỘNG LÀ PHƯỚC
Tiêu chuẩn đạo đức trong bài không phải:
số tiền.
Mà:
TÀI SẢN ĐẾN BẰNG CÁCH NÀO?
ĐƯỢC DÙNG RA SAO?
CÓ MANG NỢ QUÁ SỨC KHÔNG?
THÂN – MIỆNG – Ý CÓ LỖI KHÔNG?
Đây là cách nhìn rất cân bằng.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 783
43. CÔNG THỨC THỨ NHẤT: KIẾM ĐÚNG – DÙNG ĐÚNG – NỢ ÍT – SỐNG SẠCH
KIẾM ĐÚNG
Tài sản đúng pháp.
DÙNG ĐÚNG
Nuôi sống và làm điều thiện.
NỢ ÍT
Hướng tới đời sống không bị nợ trói.
SỐNG SẠCH
Thân, khẩu, ý không đáng hối.
Công thức:
KIẾM ĐÚNG → DÙNG ĐÚNG → KHÔNG NỢ → KHÔNG LỖI.
44. CÔNG THỨC THỨ HAI: BỐN CÂU HỎI TRƯỚC MỘT QUYẾT ĐỊNH TÀI CHÍNH
MỘT
Tiền này đến có đúng pháp không?
HAI
Tôi dùng nó cho việc gì?
BA
Việc này có làm tôi mắc nợ quá sức không?
BỐN
Làm xong tôi có phải hổ thẹn về thân, lời hay ý không?
Chỉ bốn câu này:
đã đủ soi rất nhiều quyết định.
45. CÔNG THỨC THỨ BA: CÓ – DÙNG – TRẢ – SẠCH
CÓ
Có bằng lao động chân chánh.
DÙNG
Dùng hợp lý.
TRẢ
Có nghĩa vụ thì trả.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 784
SẠCH
Giữ thân khẩu ý không lỗi.
Công thức:
CÓ → DÙNG → TRẢ → SẠCH.
46. CÔNG THỨC THỨ TƯ: ĐỪNG ĐỔI AN TÂM LẤY TÀI SẢN
Một món lợi rất lớn
nhưng phải:
nói dối.
hại người.
lo sợ.
thì hãy hỏi:
“TÔI ĐANG MUA TÀI SẢN BẰNG GIÁ CỦA BÌNH AN HAY KHÔNG?”
Đây là câu rất đáng nhớ.
47. CÔNG THỨC THỨ NĂM: TÀI SẢN LÀ PHƯƠNG TIỆN – ĐẠO ĐỨC LÀ NỀN
Tài sản:
giúp đời sống.
Nhưng đạo đức:
giữ đời sống khỏi hư.
Cho nên:
CÓ TÀI SẢN NHƯNG ĐỪNG BÁN GIỚI ĐỂ LẤY TÀI SẢN.
48. BÀI THỰC HÀNH MỘT NGÀY
Hôm nay nhìn lại:
một khoản thu.
một khoản chi.
một khoản nợ.
một hành động thân – khẩu – ý.
Hỏi:
Khoản thu này có chân chánh không?
Khoản chi này có cần không?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 785
Khoản nợ này có thể giảm thế nào?
Hôm nay có việc gì làm tôi phải hối tiếc không?
Chỉ bốn câu.
Đó là AN 4.62 đi vào:
một ngày sống.
49. BÀI THỰC HÀNH BẢY NGÀY
NGÀY 1 – NHÌN NGUỒN THU
Tiền mình đang nhận đến từ đâu?
Có đúng pháp không?
NGÀY 2 – NHÌN CHI TIÊU
Chọn một khoản chỉ vì sĩ diện và thử không chi.
NGÀY 3 – NHÌN NỢ
Ghi rõ những nghĩa vụ tài chính đang có.
NGÀY 4 – KHÔNG TẠO NỢ MỚI KHÔNG CẦN
Hoãn một món muốn mua bằng vay.
NGÀY 5 – THỌ DỤNG ĐÚNG
Dùng một phần tài sản để chăm nhu cầu thật.
NGÀY 6 – LÀM PHƯỚC
Làm một thiện sự trong khả năng.
NGÀY 7 – LẠC KHÔNG LỖI
Kiểm thân – lời – ý trong tuần.
Hỏi:
“Niềm vui nào làm tâm tôi nhẹ nhất?”
50. THỰC HÀNH BUỔI SÁNG
Mỗi sáng có thể đọc:
Hôm nay tôi cố gắng kiếm sống chân chánh.
Tài sản có được, tôi học dùng có trí.
Tôi không vay chỉ để thỏa sĩ diện.
Có nghĩa vụ, tôi nhớ trách nhiệm hoàn trả.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 786
Tôi không đổi sự trong sạch của thân, lời và ý lấy một món lợi.
Tài sản là phương tiện; đạo đức mới là nền.
51. THỰC HÀNH BUỔI TỐI
Trước khi ngủ hỏi:
Hôm nay tôi kiếm được gì và bằng cách nào?
Tôi đã chi vì nhu cầu hay vì tham và sĩ diện?
Tôi có tạo thêm một khoản nợ không cần thiết không?
Tôi có làm một việc thiện bằng tài sản của mình không?
Thân tôi hôm nay có làm điều đáng hối không?
Miệng tôi có nói điều đáng hối không?
Tâm tôi có nuôi điều gì cần sửa không?
52. CÂU GHI NHỚ THỨ NHẤT
Có tài sản không đáng hổ thẹn; điều cần hỏi là tài sản ấy đến bằng con đường nào.
53. CÂU GHI NHỚ THỨ HAI
Kiếm được tiền là một năng lực; dùng tiền không làm hại mình và người là một loại trí tuệ khác.
54. CÂU GHI NHỚ THỨ BA
Một món đồ có thể đem vui vài ngày; một khoản nợ có thể lấy bình an nhiều năm.
55. CÂU GHI NHỚ THỨ TƯ
Không mắc nợ là một loại giàu mà nhiều người chỉ hiểu khi từng mang nợ.
56. CÂU GHI NHỚ THỨ NĂM
Tài sản đúng pháp giúp mình ngẩng đầu; tài sản bất chính có thể buộc mình sống cả đời trong che giấu.
57. CÂU GHI NHỚ THỨ SÁU
Có tiền mà không dám dùng đúng việc là bị tiền giữ; biết dùng tiền đúng mới thật sự là mình đang sử dụng tài sản.
58. CÂU GHI NHỚ THỨ BẢY
Phước không chỉ nằm ở việc có bao nhiêu; còn nằm ở cách mình dùng phần mình đang có.
59. CÂU GHI NHỚ THỨ TÁM
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 787
Trả được một món nợ không chỉ giảm một con số; nhiều khi nó trả lại một phần tự do cho tâm.
60. CÂU GHI NHỚ THỨ CHÍN
Một khoản lợi làm mình mất ngủ vì hổ thẹn có thể là khoản lợi quá đắt.
61. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI
Đức Phật nhìn thấy giá trị của tài sản chân chánh, nhưng Ngài đặt đời sống không lỗi cao hơn niềm vui vật chất. (Access to Insight)
62. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI MỘT
Giàu mà sống không ngay thẳng chưa chắc an; vừa đủ mà thân khẩu ý không hối có thể ngủ rất yên.
63. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
LẠC SỞ HỮU
Có tài sản do:
NỖ LỰC CHÂN CHÁNH – THÂU HOẠCH ĐÚNG PHÁP.
LẠC THỌ DỤNG
Có tài sản rồi:
BIẾT DÙNG VÀ BIẾT LÀM PHƯỚC.
LẠC KHÔNG MẮC NỢ
Sống mà:
KHÔNG BỊ NỢ TRÓI.
LẠC KHÔNG PHẠM TỘI
Thân:
không lỗi.
Lời:
không lỗi.
Ý:
không lỗi.
Và đây là phần quan trọng nhất:
LẠC KHÔNG PHẠM TỘI ĐƯỢC ĐỨC PHẬT ĐÁNH GIÁ CAO HƠN HẲN NHỮNG NIỀM VUI VẬT CHẤT CÒN LẠI. (
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 788
Access to Insight
)
Nguồn: Kinh Không Nợ – Ānaṇya Sutta, Tăng Chi Bộ Kinh – Aṅguttara Nikāya, Chương Bốn Pháp, kinh số 62, mã tra cứu quốc tế AN 4.62, PTS A II 69; Đức Phật giảng cho Gia chủ Cấp Cô Độc – Anāthapiṇḍika; bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu; nguyên bản Kinh tạng Pāli. (SuttaCentral)
64. CÂU HỎI LIVESTREAM
1. Trong bốn loại an lạc này, quý vị thấy loại nào khó có nhất: sở hữu, thọ dụng, không nợ hay không lỗi?
2. Một người có rất nhiều tài sản nhưng phần lớn tài sản đến từ gian dối có được gọi là “lạc sở hữu” theo đúng tinh thần bài kinh không?
3. Theo quý vị, tại sao Đức Phật phải nhấn mạnh “thâu hoạch đúng pháp”?
4. Có bao giờ mình kiếm tiền rất vất vả nhưng lại tiêu chỉ vì sĩ diện không?
5. Một người chỉ biết tích lũy nhưng không dám chăm cha mẹ, chăm thân hay làm thiện sự có thật sự biết thọ dụng tài sản không?
6. Quý vị từng cảm nhận niềm vui khi trả xong một khoản nợ chưa?
7. Có món gì mình từng vay để mua rồi sau này thấy niềm vui quá ngắn so với thời gian trả nợ không?
8. Theo quý vị, vì sao “không mắc nợ” lại được Đức Phật gọi là một loại lạc riêng?
9. Có phải mọi khoản vay đều là sai không, hay điều quan trọng là vay có trí và có trách nhiệm?
10. Nếu có tài sản nhưng mỗi ngày phải nói dối để giữ nó, tâm có thật sự an không?
11. Theo quý vị, tại sao lạc không phạm tội lại được đặt cao hơn niềm vui của tài sản?
12. Có bao giờ mình làm một việc không ai biết nhưng đêm về chính mình thấy không yên không?
13. Một người kiếm ít hơn nhưng sống chân thật có thể hạnh phúc hơn một người kiếm rất nhiều bằng bất chính không?
14. Trước khi mua một món bằng tiền vay, mình nên hỏi những câu gì?
15. Nếu hôm nay chỉ nhớ một công thức, quý vị có thể nhớ: “Kiếm đúng – dùng đúng – không nợ – không lỗi” không?
65. CÂU KẾT ĐỂ ĐỌC TRÊN LIVESTREAM
Kính thưa quý vị,
nói đến đạo Phật,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 789
nhiều người nghĩ:
đã tu thì không nên nói đến tài sản.
Nhưng Kinh Không Nợ cho thấy Đức Phật nhìn đời sống người tại gia rất thực tế.
Người tại gia:
phải sống.
phải làm việc.
phải nuôi gia đình.
phải có phương tiện.
Cho nên Ngài nói đến:
LẠC SỞ HỮU.
Nhưng sở hữu thế nào?
DO NỖ LỰC CHÂN CHÁNH.
DO MỒ HÔI CỦA MÌNH.
THÂU HOẠCH ĐÚNG PHÁP.
Có rồi:
không chỉ ngồi giữ.
Phải biết:
THỌ DỤNG.
Biết chăm đời sống.
Biết lo trách nhiệm.
Biết làm phước.
Rồi Đức Phật nói đến một niềm vui rất đời:
KHÔNG MẮC NỢ.
Không ai đòi.
Không phải lo.
Không phải lấy thu nhập ngày mai để trả cho cái muốn của ngày hôm qua.
Tâm:
nhẹ.
Nhưng cuối cùng Đức Phật chỉ một niềm vui cao hơn cả:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 790
LẠC KHÔNG PHẠM TỘI.
Thân không làm điều đáng hối.
Miệng không nói điều đáng hối.
Ý không nuôi điều đáng hổ thẹn.
Tối nằm xuống:
không cần sợ ai biết.
Không cần xóa dấu vết.
Không cần bịa thêm câu chuyện.
Không cần chạy trốn:
chính mình.
Đó là:
một loại giàu rất sâu.
Cho nên bài kinh hôm nay không dạy:
“Đừng có tài sản.”
Mà dạy:
CÓ – CHO ĐÚNG.
KIẾM – CHO ĐÚNG.
DÙNG – CHO ĐÚNG.
VAY – PHẢI CÓ TRÍ.
VÀ ĐỪNG BAO GIỜ BÁN SỰ TRONG SẠCH CỦA MÌNH ĐỂ ĐỔI LẤY MỘT MÓN LỢI.
Công thức xin nhớ:
KIẾM ĐÚNG → DÙNG ĐÚNG → KHÔNG NỢ → KHÔNG LỖI.
Và nếu phải chọn giữa:
một khoản lợi rất lớn
với:
một đêm ngủ mà tâm không hổ thẹn,
hãy nhớ lời kinh:
LẠC KHÔNG PHẠM TỘI LÀ NIỀM AN LẠC ĐƯỢC ĐỨC PHẬT ĐẶT CAO HƠN NHỮNG NIỀM VUI VẬT CHẤT KIA. (
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 791
Access to Insight
)
Kinh Không Nợ – Ānaṇya Sutta, Tăng Chi Bộ Kinh – Aṅguttara Nikāya, Chương Bốn Pháp, kinh số 62, mã quốc tế AN 4.62.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 792
MỤC 030 - Bài 030 — BỐN PHÁP GIÚP NGƯỜI TẠI GIA AN LẠC NGAY TRONG HIỆN TẠI SIÊNG NĂNG – BIẾT GIỮ GÌN – GẦN NGƯỜI LÀNH – SỐNG THU CHI QUÂN BÌNH 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
Khi Dīghajāṇu, một người thuộc dòng họ Koliya, thưa với Đức Phật rằng người tại gia còn sống với gia đình, thọ hưởng các dục, muốn được Ngài chỉ dạy những pháp đưa đến hạnh phúc và an lạc ngay trong đời này và cả đời sau, Đức Phật dạy bốn pháp giúp người tại gia được lợi ích và an lạc trong hiện tại:
“Đầy đủ sự tháo vát; đầy đủ sự phòng hộ; làm bạn với thiện; sống thăng bằng điều hòa.”
Bốn pháp ấy thường được trình bày bằng tiếng Pāli là:
Uṭṭhānasampadā – đầy đủ sự nỗ lực, siêng năng và tháo vát.
Ārakkhasampadā – đầy đủ sự bảo hộ, biết giữ gìn tài sản chân chánh.
Kalyāṇamittatā – có thiện bạn hữu, gần gũi người lành.
Samajīvikatā – sống thăng bằng, biết điều hòa thu nhập và chi tiêu.
Đây là lời dạy trực tiếp trong Kinh Dīghajāṇu – Dīghajāṇu Sutta, Tăng Chi Bộ Kinh, AN 8.54. (SuttaCentral)
2. NGUỒN KINH
Tên kinh tiếng Việt: Kinh Dīghajāṇu
Tên Pāli: Dīghajāṇu Sutta
Bài kinh cũng thường được biết đến với tên:
Kinh Vyagghapajja – Vyagghapajja Sutta
do Dīghajāṇu thuộc dòng họ Vyagghapajja.
Thuộc: Tăng Chi Bộ Kinh – Aṅguttara Nikāya
Chương: Chương Tám Pháp – Aṭṭhaka Nipāta
Số kinh: Kinh số 54
Mã tra cứu quốc tế: AN 8.54
Người thỉnh pháp: Dīghajāṇu, người Koliya
Đối tượng: Người tại gia
Bản dịch tiếng Việt: Hòa thượng Thích Minh Châu
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 793
Nguyên bản: Kinh tạng Pāli
Bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu được SuttaCentral lưu tại mã AN 8.54 – Dīghajāṇusutta. Phần đầu bài kinh ghi Dīghajāṇu thỉnh Đức Phật dạy những pháp đưa đến hạnh phúc, an lạc cho người tại gia trong hiện tại và tương lai. (SuttaCentral)
Khi cần trả lời thật ngắn:
“Đây là Kinh Dīghajāṇu – Dīghajāṇu Sutta, còn gọi Kinh Vyagghapajja, thuộc Tăng Chi Bộ Kinh – Aṅguttara Nikāya, Chương Tám Pháp, kinh số 54, mã quốc tế AN 8.54, bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, nguyên bản Kinh tạng Pāli.”
3. BỐI CẢNH BÀI KINH
Dīghajāṇu đến đảnh lễ Đức Phật rồi thưa rằng:
người tại gia như ông sống:
có gia đình.
có đời sống vật chất.
có trách nhiệm.
có nhu cầu đời thường.
Ông không xin Đức Phật dạy một pháp chỉ dành riêng cho người đã rời bỏ đời sống gia đình.
Ông xin một con đường:
SỐNG NGAY GIỮA ĐỜI MÀ VẪN CÓ HẠNH PHÚC VÀ AN LẠC.
Đức Phật đáp rất thực tế.
Ngài không nói:
người tại gia cứ bỏ hết công việc.
Không nói:
không cần quan tâm tài sản.
Không nói:
không cần quản lý cuộc sống.
Ngược lại,
Ngài chỉ thẳng bốn điều:
LÀM VIỆC CHO TỐT.
GIỮ CÁI MÌNH LÀM RA CHO TỐT.
CHỌN NGƯỜI MÀ GẦN CHO TỐT.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 794
VÀ BIẾT SỐNG TRONG KHẢ NĂNG CỦA MÌNH.
Đây là một bài kinh cực kỳ thực tế cho đời sống tại gia. (SuttaCentral)
4. TỪ KHÓA THỨ NHẤT
ĐẦY ĐỦ SỰ NỖ LỰC – UṬṬHĀNASAMPADĀ
Uṭṭhāna có nghĩa gần là:
đứng dậy.
nỗ lực.
tinh cần.
siêng năng.
Sampadā là:
sự đầy đủ.
sự thành tựu.
Có thể hiểu:
UṬṬHĀNASAMPADĀ – THÀNH TỰU SỰ SIÊNG NĂNG, THÁO VÁT VÀ NỖ LỰC.
Đức Phật mô tả người tại gia làm một nghề nghiệp thích hợp và phải:
có kỹ năng.
không biếng nhác.
biết phương pháp làm việc.
có khả năng tổ chức và hoàn thành công việc.
Đây không phải chỉ là:
“LÀM NHIỀU.”
Mà là:
LÀM CÓ NĂNG LỰC.
5. SIÊNG NĂNG KHÔNG CHỈ LÀ LÀM THẬT CỰC
Có người:
làm rất nhiều giờ.
Nhưng:
không học nghề.
không cải tiến.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 795
không biết sắp xếp.
không biết việc nào quan trọng.
Thế là:
mệt nhiều
nhưng:
hiệu quả ít.
Tinh thần uṭṭhānasampadā không chỉ là:
có sức lao động.
Nó còn gồm:
KHẢ NĂNG LÀM VIỆC MỘT CÁCH KHÉO LÉO.
Người có nghề:
học nghề.
Người kinh doanh:
học cách kinh doanh chân chính.
Người làm văn phòng:
học chuyên môn.
Người làm nông:
hiểu việc mình đang làm.
Người làm nội dung:
học cách kiểm nguồn và trình bày đúng.
6. “THÁO VÁT” NGHĨA LÀ GÌ?
Nói thật dễ:
gặp một vấn đề,
không chỉ ngồi than.
Mà hỏi:
“Giải pháp ở đâu?”
Thiếu kỹ năng:
học.
Thiếu thông tin:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 796
tìm.
Làm sai:
sửa.
Cách cũ không hiệu quả:
đổi cách.
Đó là:
THÁO VÁT.
Không phải:
lách luật.
Không phải:
gian.
Mà:
BIẾT DÙNG TRÍ ĐỂ LÀM VIỆC CHÂN CHÁNH CHO TỐT HƠN.
7. LƯỜI BIẾNG CÓ THỂ LÀM PHƯỚC DUYÊN HIỆN TẠI SUY GIẢM
Có điều kiện.
Có sức khỏe.
Có cơ hội.
Nhưng cứ:
“Mai làm.”
“Để lúc khác.”
“Mệt quá.”
Một ngày thành:
một tháng.
Một tháng thành:
một năm.
Đức Phật đưa sự siêng năng thành một trong những điều kiện an lạc của đời sống tại gia.
Điều này rất thực tế:
KHÔNG THỂ CHỈ CẦU AN MÀ KHÔNG CHỊU LÀM PHẦN VIỆC CỦA MÌNH.
8. VÍ DỤ 1 – NGƯỜI ĐI LÀM
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 797
Hai người cùng một công việc.
Người thứ nhất:
đi đúng giờ.
học thêm.
làm kỹ.
biết trách nhiệm.
Người thứ hai:
làm cho qua.
hay trễ.
không chịu học.
Khi cơ hội đến,
kết quả khác nhau.
Không phải mọi chuyện đều do:
may.
Có một phần rất rõ là:
THÓI QUEN NỖ LỰC.
9. VÍ DỤ 2 – NGƯỜI BUÔN BÁN
Mình mở hàng.
Nhưng:
không biết tính chi phí.
không biết hàng nào lời lỗ.
không kiểm hàng.
không phục vụ khách tốt.
Rồi nói:
“Sao tôi không có duyên?”
Có khi điều cần sửa trước không phải:
duyên.
Mà là:
CÁCH LÀM VIỆC.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 798
Phật pháp không tách:
trí tuệ đời sống
khỏi:
trách nhiệm tu tập.
10. VÍ DỤ 3 – NGƯỜI LÀM NỘI DUNG PHẬT PHÁP
Muốn một bài giảng tốt.
Không thể chỉ:
nghĩ ý hay.
Còn phải:
tìm kinh.
kiểm nguồn.
đọc ngữ cảnh.
soạn cho dễ hiểu.
kiểm lỗi.
Đó cũng là:
uṭṭhānasampadā.
Siêng năng trong việc:
BẢO VỆ SỰ CHÍNH XÁC.
11. TỪ KHÓA THỨ HAI
ĐẦY ĐỦ SỰ PHÒNG HỘ – ĀRAKKHASAMPADĀ
Ārakkha nghĩa là:
bảo vệ.
phòng hộ.
giữ gìn.
Sampadā là:
đầy đủ,
thành tựu.
Vậy:
ĀRAKKHASAMPADĀ – BIẾT BẢO VỆ VÀ GIỮ GÌN NHỮNG GÌ MÌNH ĐÃ LÀM RA CHÂN CHÁNH.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 799
Đức Phật không chỉ dạy:
làm ra tài sản.
Mà còn:
GIỮ ĐƯỢC TÀI SẢN.
Bởi kiếm được mà không biết giữ,
công sức có thể:
trôi mất.
12. GIỮ TÀI SẢN KHÔNG PHẢI THAM
Đây là điều cần phân biệt.
Tham là:
nắm giữ vì ái.
Keo kiệt:
không dám chia sẻ điều nên chia sẻ.
Nhưng biết giữ gìn tài sản chân chánh:
là:
TRÁCH NHIỆM.
Một người làm lụng mười năm
rồi vì:
một quyết định bốc đồng
mất hết,
thì không thể nói:
“Tôi đang buông.”
Có khi đó là:
THIẾU TRÍ.
13. ĐỨC PHẬT NHẮC ĐẾN NHỮNG NGUY CƠ LÀM TÀI SẢN MẤT
Trong bài kinh, việc phòng hộ tài sản liên quan tới tài sản chân chánh không để bị thất thoát vì những nguy cơ như:
vua chúa hay chính quyền tịch thu bất hợp lý trong bối cảnh cổ đại,
trộm cướp,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 800
lửa,
nước,
hoặc người thừa kế không đáng tin.
Tinh thần chung có thể hiểu:
CÁI MÌNH LÀM RA CẦN ĐƯỢC GIỮ BẰNG TRÍ.
14. ỨNG DỤNG HIỆN ĐẠI CỦA “PHÒNG HỘ”
Ngày nay có thể áp dụng:
giữ tài khoản.
giữ giấy tờ.
giữ mật khẩu.
không cho người lạ mã xác minh.
không ký giấy chưa đọc.
không chuyển tiền chỉ vì một tin nhắn gây hoảng.
không đầu tư điều mình không hiểu.
đề phòng lừa đảo.
Đây là phần:
ỨNG DỤNG TỪ TINH THẦN KINH.
Không phải nguyên văn lời Phật.
Nhưng rất phù hợp với nguyên tắc:
ārakkhasampadā – biết bảo hộ tài sản.
15. VÍ DỤ 4 – KIẾM ĐƯỢC NHƯNG KHÔNG BIẾT GIỮ
Một người làm rất vất vả.
Nhưng ai mời đầu tư gì cũng:
đưa tiền.
Ai hứa lợi nhuận cao cũng:
tin.
Đó không phải:
từ bi.
Cũng không phải:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 801
tin người là tốt.
Mà có thể là:
THIẾU PHÒNG HỘ.
Người học Phật vẫn cần:
tỉnh.
16. VÍ DỤ 5 – CHO MƯỢN VÌ NGẠI
Người quen hỏi:
“Cho tôi mượn đi.”
Mình biết khoản này nếu mất:
gia đình sẽ khó.
Nhưng vì:
ngại nói không,
vẫn đưa.
Đến khi không lấy lại được:
sân.
Có khi ngay từ đầu cần:
TRÍ + RANH GIỚI.
Giúp người không có nghĩa:
đưa toàn bộ khả năng tài chính của mình vào nguy hiểm.
17. VÍ DỤ 6 – KHÔNG BIẾT MÌNH CÓ BAO NHIÊU
Thu nhập:
không biết.
Chi:
không biết.
Nợ:
không rõ.
Mỗi tháng chỉ nhìn:
còn tiền hay hết tiền.
Đây là một đời sống rất khó:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 802
phòng hộ.
Muốn giữ:
trước hết phải:
BIẾT MÌNH ĐANG CÓ GÌ.
18. TỪ KHÓA THỨ BA
THIỆN HỮU – KALYĀṆAMITTATĀ
Kalyāṇa là:
lành,
tốt đẹp,
thiện.
Mitta là:
bạn.
Kalyāṇamittatā là:
CÓ SỰ GẦN GŨI, GIAO DU VỚI NGƯỜI LÀNH.
Điều này không trùng với việc chỉ nói:
“Bạn tốt rất quan trọng.”
Trong AN 8.54,
thiện hữu được đặt ngay giữa:
ĐỜI SỐNG KINH TẾ CỦA NGƯỜI TẠI GIA.
Tại sao?
Bởi bạn bè có thể ảnh hưởng trực tiếp đến:
cách tiêu tiền.
cách sống.
cách làm ăn.
thói quen.
đạo đức.
19. BẠN XẤU CÓ THỂ LÀM TÀI SẢN ĐI RẤT NHANH
Một người vốn sống:
bình thường.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 803
Gặp nhóm thích:
cờ bạc.
nhậu nhẹt.
khoe của.
tiêu để hơn nhau.
Chẳng bao lâu:
thu nhập không đổi,
nhưng chi tăng.
Rồi:
nợ.
Cho nên thiện hữu không chỉ giúp:
tu tâm.
Còn giúp:
ĐỜI SỐNG THỰC TẾ KHÔNG BỊ KÉO LỆCH.
20. THIỆN HỮU TRONG BÀI KINH CÓ TIÊU CHUẨN
Người đáng gần là người có:
niềm tin.
giới hạnh.
bố thí.
trí tuệ
và giúp mình học những phẩm chất ấy.
Đây không phải:
bạn chỉ làm mình vui.
Mà:
NGƯỜI LÀM PHẦN TỐT TRONG MÌNH LỚN LÊN.
21. VÍ DỤ 7 – HAI NHÓM BẠN
Nhóm thứ nhất:
mỗi tuần rủ:
mua sắm.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 804
ăn chơi.
so người.
tiêu tiền vượt khả năng.
Nhóm thứ hai:
nói:
“Không cần đâu, để dành đi.”
“Việc này không nên vay.”
“Thôi đừng gian.”
Sau vài năm,
hai môi trường có thể tạo:
hai cuộc đời rất khác.
22. VÍ DỤ 8 – BẠN KHÔNG RỦ MÌNH KIẾM LỢI BẤT CHÍNH
Có người nói:
“Cách này lời nhanh lắm, chỉ cần giấu một chút.”
Một thiện hữu sẽ nói:
“Đừng lấy món lợi này nếu phải nói dối.”
Có khi bạn lành giúp mình:
mất một món lợi,
nhưng giữ:
CẢ MỘT ĐỜI SỐNG KHÔNG HỐI.
23. TỪ KHÓA THỨ TƯ
SỐNG CÂN BẰNG – SAMAJĪVIKATĀ
Sama nghĩa là:
cân bằng,
điều hòa,
không quá lệch.
Jīvikā là:
đời sống,
sinh kế,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 805
cách sống.
Samajīvikatā có thể hiểu:
SỐNG ĐIỀU HÒA GIỮA THU VÀ CHI.
Đây là phần cực kỳ thực tế.
24. ĐỨC PHẬT DẠY KHÔNG ĐƯỢC SỐNG QUÁ CAO HOẶC QUÁ THẤP SO VỚI THU NHẬP
Bài kinh dùng hình ảnh một người cầm cân có thể biết:
bên này thấp,
bên kia cao.
Người tại gia cũng phải:
biết thu nhập.
biết chi tiêu.
Không để:
chi quá lớn so với thu.
Nhưng cũng không vì keo kiệt mà sống khổ một cách vô lý.
Tinh thần là:
QUÂN BÌNH. (
SuttaCentral
)
25. THU MƯỜI – TIÊU MƯỜI HAI – KHỔ ĐẾN RẤT NHANH
Nếu thu:
10.
Chi:
12.
Phần thiếu:
phải đến từ đâu?
Nợ.
rút tiết kiệm.
vay người.
thẻ tín dụng.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 806
Nếu kéo dài:
tâm rất khó an.
Không phải vì:
tiền là tất cả.
Mà vì:
MẤT CÂN BẰNG TÀI CHÍNH TẠO NHIỀU ÁP LỰC THẬT.
26. THU MƯỜI – TIÊU HAI VÌ QUÁ SỢ – CŨNG CHƯA CHẮC ĐÚNG
Có người có đủ khả năng.
Nhưng:
không dám ăn đúng.
không chữa bệnh.
không chăm cha mẹ.
không cho con học.
Chỉ:
giữ.
Đây không hẳn là:
samajīvikatā.
Sống cân bằng không phải:
CÀNG ÍT CHI CÀNG TỐT.
Mà:
CHI ĐÚNG MỨC, ĐÚNG VIỆC, ĐÚNG KHẢ NĂNG.
27. VÍ DỤ 9 – TĂNG THU NHẬP RỒI TĂNG LUÔN MỨC SỐNG
Thu nhập:
tăng 20%.
Chi tiêu:
tăng 30%.
Cuối cùng:
vẫn thiếu.
Đây là một kiểu:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 807
càng kiếm nhiều càng thấy không đủ.
Bài kinh nhắc:
không chỉ tăng thu.
Còn phải:
BIẾT ĐIỀU HÒA ĐỜI SỐNG.
28. VÍ DỤ 10 – MUA VÌ NGƯỜI KHÁC CÓ
Mình không cần.
Nhưng thấy người ta có.
Thế là:
mua.
Đó không phải nhu cầu.
Nhiều khi đó là:
SO SÁNH.
Một phần mất cân bằng tài chính bắt đầu từ:
mắt nhìn người khác
thay vì:
nhìn khả năng của mình.
29. VÍ DỤ 11 – CHI CHO THỨ CẦN, CẮT THỨ KHÔNG CẦN
Có hai khoản:
thuốc cần.
món đồ khoe.
Nếu tài chính giới hạn,
trí biết:
ưu tiên thuốc.
Đó là:
SỐNG CÓ THỨ TỰ.
Không phải cái muốn nào cũng ngang:
cái cần.
30. VÍ DỤ 12 – CÓ THU NHẬP NHƯNG KHÔNG DÀNH PHẦN DỰ PHÒNG
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 808
Tháng nào có:
dùng hết tháng đó.
Một biến cố nhỏ:
không còn chỗ xoay.
Tinh thần phòng hộ và sống quân bình giúp mình nghĩ:
“KHÔNG PHẢI TOÀN BỘ CÁI CÓ HÔM NAY ĐỀU PHẢI TIÊU HÔM NAY.”
Đó là:
trí nhìn xa.
31. GHÉP NGHĨA TOÀN BỘ BỐN PHÁP
Bốn pháp có thể hiểu rất dễ:
MỘT – UṬṬHĀNASAMPADĀ
SIÊNG NĂNG VÀ GIỎI VIỆC.
HAI – ĀRAKKHASAMPADĀ
BIẾT GIỮ NHỮNG GÌ MÌNH LÀM RA.
BA – KALYĀṆAMITTATĀ
GẦN NGƯỜI LÀNH ĐỂ KHÔNG BỊ KÉO VỀ PHÍA XẤU.
BỐN – SAMAJĪVIKATĀ
SỐNG TRONG KHẢ NĂNG, BIẾT CÂN ĐỐI THU CHI.
Đây là bốn nền rất thực tế cho:
HẠNH PHÚC CỦA NGƯỜI TẠI GIA TRONG HIỆN TẠI. (
SuttaCentral
)
32. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ GÌ?
Kính thưa quý vị,
bài kinh này cho thấy một điều rất quan trọng:
PHẬT PHÁP KHÔNG TÁCH ĐỜI SỐNG TÂM LINH KHỎI ĐỜI SỐNG THỰC TẾ.
Một người tại gia muốn an,
không thể chỉ:
tụng kinh
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 809
mà:
công việc bỏ bê.
Không thể chỉ:
cầu phước
mà:
tiền bạc quản lý tùy tiện.
Không thể nói:
“Tôi có niềm tin”
nhưng:
chọn bạn kéo mình vào việc xấu.
Không thể nói:
“Tùy duyên”
rồi:
thu một mà tiêu hai.
Phật pháp ở đây rất tỉnh:
TU TÂM NHƯNG CŨNG PHẢI SỐNG CÓ TRÍ.
33. BỐN PHÁP NÀY LIÊN KẾT VỚI NHAU
Nếu siêng năng mà:
không biết giữ,
tài sản mất.
Biết giữ mà:
gặp bạn xấu,
cũng có thể mất.
Có bạn tốt nhưng:
tiêu vượt thu,
vẫn khó.
Sống tiết kiệm nhưng:
không chịu làm,
cũng không ổn.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 810
Bốn pháp giống như:
BỐN CHÂN CỦA MỘT CHIẾC BÀN.
Thiếu một chân,
đời sống dễ:
nghiêng.
34. SIÊNG NĂNG MÀ KHÔNG CÓ TRÍ – DỄ KIỆT SỨC
Không phải cứ:
làm ngày làm đêm
là đúng.
Cần hỏi:
Việc nào thật sự tạo giá trị?
Việc nào không cần?
Có thể làm tốt hơn không?
Siêng năng phải đi với:
KHÉO.
35. PHÒNG HỘ MÀ KHÔNG CÓ TỪ – DỄ THÀNH KEO KIỆT
Giữ tài sản:
đúng.
Nhưng nếu không bao giờ:
giúp ai.
không lo cha mẹ.
không làm thiện.
chỉ sợ mất,
thì phải nhìn lại.
Phòng hộ tài sản không phải:
THỜ TÀI SẢN.
36. THIỆN HỮU MÀ KHÔNG TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM – CŨNG KHÔNG ĐỦ
Bạn tốt có thể:
nhắc.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 811
Nhưng mình phải:
làm.
Không thể nói:
“Tôi có bạn tốt rồi nên đời sẽ tốt.”
Không.
Thiện hữu:
là duyên.
Hành động:
vẫn là phần của mình.
37. SỐNG QUÂN BÌNH KHÔNG PHẢI SỐNG NGHÈO
Samajīvikatā không dạy:
có tiền cũng không được dùng.
Mà:
MỨC SỐNG PHẢI HỢP KHẢ NĂNG.
Có nhiều:
dùng có trí.
Có ít:
sống gọn.
Không vì:
sĩ diện
mà:
ép cuộc sống vượt quá sức mình.
38. BỐN THỨ LÀM TÀI SẢN DỄ SUY GIẢM
Trong cùng bài kinh, Đức Phật còn nói tới những con đường khiến tài sản bị tiêu tán, như:
đắm say nữ sắc hay quan hệ tình dục bất chính,
say rượu,
cờ bạc,
và giao du với bạn xấu.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 812
Ngược lại, tránh những con đường ấy là điều kiện bảo vệ sự thịnh vượng của người tại gia. (SuttaCentral)
Điều này cho thấy:
TÀI SẢN KHÔNG CHỈ MẤT VÌ KIẾM ÍT.
Nó còn có thể mất vì:
THÓI QUEN XẤU.
39. VÍ DỤ 13 – CỜ BẠC
Có người nghĩ:
“Chỉ một lần để gỡ.”
Thua:
muốn gỡ.
Thắng:
muốn thắng thêm.
Tài sản đi.
Tâm cũng đi.
Đây là điều Đức Phật đã nhìn thấy từ rất lâu:
CÓ NHỮNG THÚ VUI KHÔNG CHỈ LẤY TIỀN – CÒN LẤY LUÔN SỰ TỰ CHỦ.
40. VÍ DỤ 14 – RƯỢU VÀ SỰ PHÓNG DẬT
Một khoản nhỏ mỗi ngày,
cộng thành:
một khoản lớn.
Nhưng tổn thất không chỉ là:
tiền.
Còn:
sức khỏe.
quyết định sai.
xung đột.
mất năng suất.
Cho nên phải nhìn:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 813
CHI PHÍ THẬT KHÔNG CHỈ NẰM TRÊN HÓA ĐƠN.
41. VÍ DỤ 15 – BẠN XẤU VÀ NHỮNG QUYẾT ĐỊNH ĐẮT GIÁ
Một mình mình không định:
đánh bạc.
Nhưng bạn rủ.
Không định:
vay mua món đắt.
Bạn nói:
“Phải có mới bằng người ta.”
Rồi làm.
Bạn có thể:
không trả khoản nợ thay mình.
Nhưng lời họ đã:
góp phần tạo duyên.
Vì vậy:
CHỌN BẠN CŨNG LÀ CHỌN MỘT PHẦN TƯƠNG LAI.
42. CÔNG THỨC THỨ NHẤT
LÀM – GIỮ – GẦN – CÂN
Có thể rút toàn bộ bốn pháp thành bốn chữ:
LÀM
Làm việc siêng năng, có kỹ năng.
GIỮ
Giữ tài sản chân chánh bằng trí.
GẦN
Gần người lành.
CÂN
Cân đối thu và chi.
Công thức:
LÀM → GIỮ → GẦN → CÂN.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 814
43. CÔNG THỨC THỨ HAI
KIẾM ĐƯỢC CHƯA ĐỦ
KIẾM ĐƯỢC
nhờ siêng năng.
GIỮ ĐƯỢC
nhờ phòng hộ.
KHÔNG BỊ KÉO LỆCH
nhờ thiện hữu.
DÙNG ĐƯỢC LÂU
nhờ sống quân bình.
Đây là chuỗi rất dễ nhớ.
44. CÔNG THỨC THỨ BA
BỐN CÂU HỎI CUỐI THÁNG
MỘT
Tháng này tôi đã làm việc có trách nhiệm chưa?
HAI
Tài sản có bị thất thoát vì thiếu cẩn trọng không?
BA
Người tôi thường gần đang kéo tôi theo hướng nào?
BỐN
Chi tiêu có vượt thu nhập không?
Bốn câu này rất thực tế.
45. CÔNG THỨC THỨ TƯ
CẦN – KHẢ NĂNG – HẬU QUẢ
Trước một khoản chi lớn:
hỏi:
CẦN KHÔNG?
CÓ KHẢ NĂNG KHÔNG?
HẬU QUẢ SAU KHI MUA LÀ GÌ?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 815
Nếu phải vay quá sức chỉ vì:
sĩ diện,
hãy:
dừng.
46. CÔNG THỨC THỨ NĂM
KHÔNG KIẾM BẰNG GIAN – KHÔNG GIỮ BẰNG THAM – KHÔNG TIÊU BẰNG SI
Một câu dễ nhớ:
KIẾM BẰNG CHÁNH.
GIỮ BẰNG TRÍ.
DÙNG BẰNG BIẾT ĐỦ.
Đó là cách đưa Pháp vào:
đời sống tài chính.
47. ỨNG DỤNG 1 – MỖI THÁNG BIẾT RÕ BA CON SỐ
Ít nhất cần biết:
THU BAO NHIÊU.
CHI BAO NHIÊU.
CÒN NỢ BAO NHIÊU.
Nếu ba con số ấy còn:
mơ hồ,
rất khó sống:
quân bình.
Đây là phần ứng dụng hiện đại,
không phải nguyên văn kinh.
Nhưng đi thẳng từ nguyên tắc:
samajīvikatā.
48. ỨNG DỤNG 2 – PHÂN BIỆT “CẦN” VÀ “MUỐN”
Món nào là:
nhu cầu.
Món nào chỉ là:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 816
ham muốn.
Không cấm cái muốn.
Nhưng phải:
biết tên nó.
Một cái muốn được gọi đúng là:
muốn
đã yếu hơn một cái muốn giả làm:
cần.
49. ỨNG DỤNG 3 – CÓ MỘT KHOẢN DỰ PHÒNG
Khi có thu nhập,
đừng để tất cả:
ra hết.
Nếu có thể,
giữ một phần cho:
biến cố.
sức khỏe.
việc cần.
Đó là ứng dụng của:
PHÒNG HỘ.
50. ỨNG DỤNG 4 – KIỂM NGƯỜI ẢNH HƯỞNG TỚI TÀI CHÍNH CỦA MÌNH
Ai thường làm mình:
muốn mua?
muốn khoe?
muốn vay?
muốn đầu tư liều?
Ai thường nhắc mình:
cẩn thận?
sống vừa?
đừng gian?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 817
Nhìn được điều này là:
thấy sức mạnh của:
kalyāṇamittatā.
51. ỨNG DỤNG 5 – HỌC THÊM MỘT KỸ NĂNG
Nếu thu nhập còn thấp,
không chỉ hỏi:
“Làm sao tiết kiệm?”
Cũng có thể hỏi:
“TÔI CÓ THỂ HỌC GÌ ĐỂ LÀM VIỆC TỐT HƠN?”
Đó là:
uṭṭhānasampadā.
52. ỨNG DỤNG 6 – KHÔNG ĐẦU TƯ ĐIỀU MÌNH KHÔNG HIỂU
Người khác khoe:
lợi lớn.
Không có nghĩa:
mình phải vào.
Trước khi đưa tài sản vào một nơi,
cần hiểu:
rủi ro.
cơ chế.
pháp lý.
khả năng mất.
Đây là:
phòng hộ bằng trí.
53. ỨNG DỤNG 7 – SỐNG GỌN KHI THU NHẬP GIẢM
Thu nhập giảm.
Nếu vẫn cố giữ mức chi cũ vì:
sĩ diện,
nợ dễ tăng.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 818
Samajīvikatā dạy:
THAY ĐỔI MỨC SỐNG THEO KHẢ NĂNG THỰC.
Không có gì đáng xấu hổ khi:
sống gọn hơn.
Đáng lo hơn là:
cố chứng minh rồi:
mắc nợ.
54. ỨNG DỤNG 8 – KHI THU NHẬP TĂNG
Không cần ngay lập tức:
nâng mọi khoản chi.
Có thể dùng phần tăng để:
giảm nợ.
dự phòng.
học thêm.
làm thiện.
Đó là:
tài sản đi cùng trí.
55. BÀI THỰC HÀNH MỘT NGÀY
Hôm nay làm bốn việc:
MỘT
Hoàn thành một việc đang trì hoãn.
HAI
Kiểm một chỗ tài sản đang có nguy cơ thất thoát.
BA
Nói chuyện với một người có ảnh hưởng lành.
BỐN
Bỏ một khoản chi không cần.
Bốn việc rất nhỏ.
Nhưng đủ chạm:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 819
cả bốn pháp.
56. BÀI THỰC HÀNH BẢY NGÀY
NGÀY 1 – SIÊNG NĂNG
Làm trọn một việc quan trọng.
NGÀY 2 – KỸ NĂNG
Học thêm một điều phục vụ công việc.
NGÀY 3 – PHÒNG HỘ
Kiểm giấy tờ, tài khoản hoặc một rủi ro tài chính.
NGÀY 4 – THIỆN HỮU
Giảm một cuộc giao du kéo mình vào chuyện xấu.
NGÀY 5 – THU CHI
Ghi lại toàn bộ chi trong ngày.
NGÀY 6 – BIẾT ĐỦ
Không mua một món chỉ vì người khác có.
NGÀY 7 – NHÌN LẠI
Hỏi:
“Trong bốn pháp, phần nào của tôi đang yếu nhất?”
57. THỰC HÀNH BUỔI SÁNG
Có thể đọc:
Hôm nay tôi làm việc bằng sự siêng năng và trách nhiệm.
Tôi giữ gìn tài sản chân chánh bằng trí.
Tôi chọn gần người làm thiện pháp trong tôi tăng trưởng.
Tôi sống theo khả năng thật, không theo sĩ diện.
Tôi không gọi sự phung phí là hưởng thụ.
Tôi không gọi sự keo kiệt là biết đủ.
Tôi tập sống quân bình.
58. THỰC HÀNH BUỔI TỐI
Trước khi ngủ hỏi:
Hôm nay tôi đã làm hết trách nhiệm chưa?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 820
Tôi có để thất thoát điều gì vì thiếu cẩn trọng không?
Người tôi gần hôm nay làm tâm tôi tốt hơn hay xấu hơn?
Tôi có chi điều gì vượt khả năng chỉ vì thích hoặc sĩ diện không?
Có khoản nào tôi có thể điều chỉnh từ ngày mai không?
59. CÂU GHI NHỚ THỨ NHẤT
Siêng năng không chỉ là làm nhiều; siêng năng đúng còn phải làm có kỹ năng và có phương pháp.
60. CÂU GHI NHỚ THỨ HAI
Kiếm được tài sản là một việc; giữ được tài sản chân chánh là một việc khác.
61. CÂU GHI NHỚ THỨ BA
Buông chấp không đồng nghĩa sống cẩu thả với tài sản do chính mình lao động chân chánh mà có.
62. CÂU GHI NHỚ THỨ TƯ
Một người bạn có thể không lấy tiền của mình, nhưng có thể đưa mình đến những thói quen làm tiền tự rời khỏi mình.
63. CÂU GHI NHỚ THỨ NĂM
Thu nhập tăng mà cái muốn tăng nhanh hơn thì cảm giác thiếu vẫn còn nguyên.
64. CÂU GHI NHỚ THỨ SÁU
Sống quân bình không phải càng ít chi càng tốt; là biết chi điều cần trong giới hạn mình có.
65. CÂU GHI NHỚ THỨ BẢY
Đừng lấy mức sống của người khác làm thước đo cho khả năng của mình.
66. CÂU GHI NHỚ THỨ TÁM
Một quyết định tài chính khôn ngoan hôm nay có thể bảo vệ nhiều tháng bình an về sau.
67. CÂU GHI NHỚ THỨ CHÍN
Người tại gia muốn an không chỉ cần kiếm tiền; còn phải học giữ, học dùng và học chọn môi trường sống.
68. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI
Không phải cứ làm nhiều là khá; phải xem công sức có đi đúng chỗ không.
69. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI MỘT
Một đời sống có trí là đời sống biết mình đang có bao nhiêu, cần bao nhiêu và có thể dùng bao nhiêu.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 821
70. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI HAI
Biết đủ giúp mình không dùng tiền để mua hình ảnh trong mắt người khác.
71. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
UṬṬHĀNASAMPADĀ
SIÊNG NĂNG – THÁO VÁT – GIỎI VIỆC.
ĀRAKKHASAMPADĀ
BIẾT PHÒNG HỘ – GIỮ GÌN TÀI SẢN CHÂN CHÁNH.
KALYĀṆAMITTATĀ
GẦN THIỆN HỮU – XA MÔI TRƯỜNG KÉO MÌNH VỀ BẤT THIỆN.
SAMAJĪVIKATĀ
SỐNG CÂN BẰNG – BIẾT THU, BIẾT CHI, KHÔNG SỐNG VƯỢT KHẢ NĂNG.
Bốn pháp có thể gom thành:
LÀM → GIỮ → GẦN → CÂN.
Làm cho tốt.
Giữ cho khéo.
Gần người lành.
Sống quân bình.
Đây là bốn điều Đức Phật dạy người tại gia để hướng tới lợi ích và an lạc ngay trong đời hiện tại. (SuttaCentral)
Nguồn: Kinh Dīghajāṇu – Dīghajāṇu Sutta, còn được gọi Kinh Vyagghapajja; Tăng Chi Bộ Kinh – Aṅguttara Nikāya; Chương Tám Pháp – Aṭṭhaka Nipāta; kinh số 54; mã tra cứu quốc tế AN 8.54; bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu; nguyên bản Kinh tạng Pāli. (SuttaCentral)
72. CÂU HỎI LIVESTREAM
1. Trong bốn điều này, quý vị thấy mình yếu nhất ở siêng năng, giữ tài sản, chọn bạn hay cân đối thu chi?
2. Có bao giờ mình làm rất cực nhưng vì không có phương pháp nên vẫn không hiệu quả không?
3. Theo quý vị, siêng năng và làm việc quá sức khác nhau ở đâu?
4. Kiếm được nhiều nhưng mất vì thiếu cẩn trọng có phải là một loại thiếu trí không?
5. Có khi nào mình từng mất tài sản chỉ vì tin người quá nhanh không?
6. Theo quý vị, giữ tài sản có trái với tinh thần buông xả của đạo Phật không?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 822
7. Có người bạn nào từng giúp quý vị tránh một quyết định tài chính sai không?
8. Có nhóm bạn nào mỗi lần gặp xong mình lại tiêu nhiều hơn khả năng không?
9. Theo quý vị, tại sao Đức Phật đặt thiện hữu vào cùng một bài kinh nói về đời sống kinh tế của người tại gia?
10. Có bao giờ thu nhập tăng nhưng mình vẫn thiếu vì mức chi tăng nhanh hơn không?
11. Mình có biết chính xác mỗi tháng thu và chi bao nhiêu không?
12. Có món nào quý vị từng mua chỉ vì thấy người khác có rồi sau đó thấy không thật sự cần không?
13. Sống quân bình có phải là không được hưởng thụ gì không?
14. Nếu thu nhập giảm, điều gì khó hơn: giảm chi hay giảm sĩ diện?
15. Nếu hôm nay chỉ nhớ bốn chữ, quý vị có thể nhớ: “Làm – Giữ – Gần – Cân” không?
73. CÂU KẾT ĐỂ ĐỌC TRÊN LIVESTREAM
Kính thưa quý vị,
có những bài kinh nói rất sâu về:
vô thường.
vô ngã.
giải thoát.
Nhưng cũng có những bài Đức Phật bước rất gần vào:
đời sống người tại gia.
Ngài biết người tại gia phải:
làm việc.
kiếm sống.
nuôi gia đình.
giữ tài sản.
giao du.
chi tiêu.
Và chính những việc tưởng rất đời ấy
nếu không có trí
sẽ sinh:
rất nhiều khổ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 823
Cho nên Đức Phật dạy Dīghajāṇu bốn điều.
Điều thứ nhất:
SIÊNG NĂNG.
Không lười.
Nhưng cũng không làm mù quáng.
Phải học nghề.
Phải có kỹ năng.
Phải biết việc mình đang làm.
Điều thứ hai:
PHÒNG HỘ.
Làm ra rồi:
biết giữ.
Không để:
một phút nhẹ dạ
lấy đi:
mười năm công sức.
Điều thứ ba:
THIỆN HỮU.
Bởi có người:
không lấy một đồng nào của mình,
nhưng lại kéo mình vào:
một lối sống
làm cả tài sản lẫn đạo đức
đi xuống.
Và điều thứ tư:
SỐNG QUÂN BÌNH.
Không lấy:
mức sống của người khác
làm:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 824
khả năng của mình.
Không vì:
sĩ diện
mà:
vay.
Không vì:
tham
mà:
tiêu.
Nhưng cũng không vì:
sợ mất
mà:
keo kiệt với những nhu cầu chính đáng.
Vậy bốn chữ hôm nay xin nhớ:
LÀM.
GIỮ.
GẦN.
CÂN.
Làm:
cho có trách nhiệm.
Giữ:
cho có trí.
Gần:
người lành.
Cân:
đời sống theo khả năng.
Đó là Phật pháp:
không chỉ ở bàn thờ.
Không chỉ trong thời tụng.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 825
Mà đi vào:
cách mình làm việc.
cách mình giữ một đồng.
cách mình chọn một người bạn.
và cách mình quyết định:
hôm nay nên tiêu hay nên dừng.
Khi bốn phần ấy có trí hơn,
đời sống tại gia có thêm:
MỘT NỀN AN.
Và trên nền an ấy,
việc tu tâm cũng:
dễ vững hơn.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 826
MỤC 031 - Bài 031 — SÁU PHƯƠNG TRONG ĐỜI SỐNG – GIỮ TRỌN BỔN PHẬN, CÁC MỐI QUAN HỆ SẼ TRỞ THÀNH NƠI TU 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
Trong Kinh Giáo Thọ Thi-ca-la-việt, Đức Phật dạy người thanh niên Siṅgālaka rằng việc lễ sáu phương không chỉ là đứng quay về Đông, Nam, Tây, Bắc, dưới và trên để lễ bái.
Người đệ tử bậc Thánh phải hiểu sáu phương bằng chính những mối quan hệ trong cuộc đời:
Phương Đông là cha mẹ.
Phương Nam là thầy tổ.
Phương Tây là vợ chồng.
Phương Bắc là bạn bè và những người đồng hành.
Phương dưới là người làm công, người giúp việc, người thuộc quyền trách nhiệm của mình.
Phương trên là các vị Sa-môn, Bà-la-môn, những bậc tu hành chân chánh.
Đức Phật không chỉ dạy một phía phải làm bổn phận. Mỗi phương đều có trách nhiệm qua lại: người này sống đúng với người kia, và người kia cũng đáp lại bằng những bổn phận tương xứng. Đây là phần giáo giới nổi bật của DN 31 – Siṅgāla Sutta, bản Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu. (SuttaCentral)
2. NGUỒN KINH
Tên kinh tiếng Việt: Kinh Giáo Thọ Thi-ca-la-việt
Tên Pāli: Siṅgāla Sutta; cũng thường gặp tên Sigālovāda Sutta
Thuộc: Trường Bộ Kinh – Dīgha Nikāya
Số kinh: Kinh số 31
Mã tra cứu quốc tế: DN 31
Người được Đức Phật giáo giới: Siṅgālaka – Thi-ca-la-việt, một thanh niên gia chủ
Địa điểm: Thành Rājagaha – Vương Xá
Bản dịch tiếng Việt: Hòa thượng Thích Minh Châu
Nguyên bản: Kinh tạng Pāli
SuttaCentral xác nhận DN 31 – Siṅgālasutta, bản dịch Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu; phần mở đầu kể Siṅgālaka lễ sáu phương theo lời cha dặn, rồi Đức Phật giải nghĩa lại sáu phương thành những mối quan hệ đạo đức trong đời sống. (SuttaCentral)
Khi cần trả lời thật ngắn:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 827
“Đây là Kinh Giáo Thọ Thi-ca-la-việt – Siṅgāla Sutta, thuộc Trường Bộ Kinh – Dīgha Nikāya, kinh số 31, mã quốc tế DN 31, bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, nguyên bản Kinh tạng Pāli.”
3. BỐI CẢNH BÀI KINH
Một buổi sáng, Đức Phật thấy thanh niên Siṅgālaka ra khỏi thành Vương Xá, quần áo và tóc còn ướt, chắp tay lễ sáu phương.
Đức Phật hỏi:
“Vì sao con lễ các phương như vậy?”
Siṅgālaka thưa rằng trước khi mất, cha đã dặn:
“Con hãy lễ các phương.”
Vì kính cha, anh làm theo.
Đức Phật không chê lòng hiếu ấy.
Ngài không nói:
“Con làm sai hết.”
Ngài chuyển nghi thức ấy thành:
MỘT BÀI HỌC SỐNG.
Ngài chỉ cho Siṅgālaka rằng một người đệ tử bậc Thánh “lễ sáu phương” bằng cách:
LÀM TRÒN BỔN PHẬN TRONG SÁU MỐI QUAN HỆ LỚN.
Đây là một nét rất đẹp của bài kinh: từ một nghi thức bên ngoài, Đức Phật đưa người nghe vào đạo đức sống hằng ngày. (SuttaCentral)
4. TỪ KHÓA VIỆT – PĀLI – NGHĨA
PHƯƠNG – DISĀ – HƯỚNG
Disā là:
phương.
hướng.
Trong bài kinh, sáu phương không chỉ còn là:
Đông.
Tây.
Nam.
Bắc.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 828
Trên.
Dưới.
Đức Phật dùng sáu hướng ấy để tượng trưng cho:
SÁU NHÓM QUAN HỆ CĂN BẢN TRONG ĐỜI SỐNG.
Như vậy:
lễ phương
không chỉ bằng:
chắp tay.
Mà bằng:
HÀNH VI ĐÚNG.
5. GIA CHỦ – GAHAPATI / GAHAPATIPUTTA – NGƯỜI SỐNG ĐỜI TẠI GIA
Siṅgālaka là:
một thanh niên tại gia.
Điều này rất quan trọng.
Kinh DN 31 không phải bài chỉ dành cho:
Tỷ-kheo.
Mà đi sâu vào:
gia đình.
hôn nhân.
bạn bè.
thầy trò.
lao động.
người tu.
Đây là một trong những bài kinh đặc biệt thực tế về đời sống đạo đức của người cư sĩ. (SuttaCentral)
6. BỔN PHẬN – KICCA / PAṬIPATTI – ĐIỀU MÌNH CÓ TRÁCH NHIỆM THỰC HIỆN
Bài kinh không chỉ nói:
“TÔI CÓ QUYỀN GÌ?”
Mà hỏi:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 829
“TÔI CÓ TRÁCH NHIỆM GÌ?”
Đây là điều rất đáng suy nghĩ.
Trong một gia đình,
nếu ai cũng chỉ hỏi:
“Người kia phải làm gì cho tôi?”
thì rất dễ:
tranh.
Nhưng nếu mình hỏi trước:
“Phần của tôi là gì?”
mối quan hệ có cơ hội:
lành hơn.
7. HAI CHIỀU – KHÔNG PHẢI MỘT BÊN PHỤC TÙNG MỘT BÊN
Điểm đặc biệt của DN 31 là:
MỖI MỐI QUAN HỆ ĐỀU CÓ BỔN PHẬN HAI PHÍA.
Con có bổn phận với cha mẹ.
Cha mẹ cũng có bổn phận với con.
Học trò có bổn phận với thầy.
Thầy cũng có bổn phận với trò.
Chồng có bổn phận với vợ.
Vợ cũng có bổn phận với chồng.
Chủ có bổn phận với người làm.
Người làm cũng có bổn phận với chủ.
Người cư sĩ có bổn phận với người tu.
Người tu cũng có bổn phận hướng dẫn cư sĩ đúng pháp.
Đây không phải một hệ thống:
CHỈ ĐÒI NGƯỜI DƯỚI PHỤC VỤ NGƯỜI TRÊN.
Mà là:
TRÁCH NHIỆM TƯƠNG HỖ.
(Access to Insight)
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 830
8. PHƯƠNG ĐÔNG – CHA MẸ
Đức Phật đặt:
CHA MẸ Ở PHƯƠNG ĐÔNG.
Phương Đông là nơi:
mặt trời mọc.
Cha mẹ cũng là những người:
đưa mình vào đời.
Không cần diễn giải quá huyền bí.
Chỉ cần thấy:
cha mẹ là:
MỘT DUYÊN RẤT LỚN CỦA ĐỜI MÌNH.
9. BỔN PHẬN CỦA CON ĐỐI VỚI CHA MẸ
Trong DN 31, người con phụng dưỡng cha mẹ bằng những bổn phận như:
cha mẹ đã nuôi mình, mình sẽ phụng dưỡng lại;
làm những bổn phận cần làm cho cha mẹ;
gìn giữ truyền thống gia đình phù hợp;
sống xứng đáng với gia sản, sự tin cậy và di sản cha mẹ trao;
khi cha mẹ qua đời, tưởng niệm và làm các thiện sự thích hợp để hồi hướng. (Access to Insight)
Điểm quan trọng là:
HIẾU KHÔNG CHỈ NẰM TRONG LỜI NÓI.
Mà phải đi ra:
việc làm.
10. “CHA MẸ NUÔI TA – TA NUÔI LẠI CHA MẸ”
Đây là một câu rất đời.
Khi mình còn nhỏ:
không tự ăn được.
không tự mặc được.
không tự kiếm sống được.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 831
Có người phải:
chăm.
Khi cha mẹ già:
vai có thể đổi.
Cha mẹ từng:
dắt mình.
Một ngày mình:
dắt cha mẹ.
Cha mẹ từng:
chờ mình ăn.
Một ngày mình:
chờ cha mẹ ăn.
Hiếu không cần nói thật lớn.
Có khi chỉ là:
KIÊN NHẪN VỚI MỘT NGƯỜI ĐÃ GIÀ.
11. VÍ DỤ 1 – CHA MẸ GIÀ NÓI LẶP
Mẹ kể:
một chuyện mười lần.
Con nói:
“Mẹ nói hoài!”
Nếu quán:
mình còn nhỏ cũng từng hỏi:
một câu hàng chục lần,
tâm có thể mềm hơn.
Không phải người con không được:
mệt.
Nhưng đừng lấy cái mệt làm lý do:
LÀM NGƯỜI GIÀ ĐAU THÊM.
12. VÍ DỤ 2 – CHA MẸ KHÔNG RÀNH CÔNG NGHỆ
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 832
Cha hỏi:
“Nút này bấm đâu?”
Mình đã chỉ mấy lần.
Tâm nóng.
Nhưng thử nhớ:
có rất nhiều thứ mình từng không biết,
cha mẹ cũng đã:
dạy lại.
Một chút kiên nhẫn lúc cha mẹ già:
có thể là:
MỘT CÁCH LỄ PHƯƠNG ĐÔNG.
13. HIẾU KHÔNG CÓ NGHĨA CHA MẸ NÓI GÌ CŨNG LÀM
Điều này phải phân biệt.
Cha mẹ là người đáng kính.
Nhưng nếu một yêu cầu:
trái pháp luật.
trái giới.
gây hại.
thì người con không cần:
làm điều sai.
Kính:
không đồng nghĩa:
BỎ TRÍ.
Có thể:
thưa mềm.
giải thích.
giữ ranh giới.
Nhưng không cần:
bất kính.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 833
14. BỔN PHẬN CỦA CHA MẸ ĐỐI VỚI CON
DN 31 không dừng ở chữ:
“con phải hiếu.”
Đức Phật cũng chỉ trách nhiệm của cha mẹ:
ngăn con làm điều ác;
khuyến khích con làm điều thiện;
dạy nghề, dạy kỹ năng;
giúp con ổn định đời sống gia đình theo bối cảnh xã hội thời ấy;
trao lại tài sản thích hợp vào thời điểm phù hợp. (Access to Insight)
Điều này rất quan trọng.
Cha mẹ không chỉ có:
QUYỀN.
Cha mẹ còn có:
TRÁCH NHIỆM.
15. VÍ DỤ 3 – CHA MẸ CHỈ LO CON HỌC GIỎI
Con điểm cao.
Nhưng:
nói dối.
ích kỷ.
không biết trách nhiệm.
Nếu cha mẹ chỉ vui vì:
thành tích
mà bỏ:
đạo đức,
phần giáo dưỡng vẫn:
thiếu.
Kinh đặt điều đầu tiên rất rõ:
NGĂN CON KHỎI ĐIỀU ÁC.
HƯỚNG CON VỀ ĐIỀU THIỆN.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 834
16. VÍ DỤ 4 – CHA MẸ KHÔNG DẠY CON KỸ NĂNG SỐNG
Con lớn:
không biết làm việc.
không biết tự lập.
không biết quản lý đời sống.
Rồi cha mẹ phải lo:
mãi.
DN 31 nhắc cha mẹ có trách nhiệm:
DẠY NGHỀ VÀ KHẢ NĂNG SỐNG.
Thương con không phải:
làm thay hết.
Có khi thương là:
DẠY CON TỰ ĐỨNG.
17. PHƯƠNG NAM – THẦY TỔ
Đức Phật đặt:
THẦY Ở PHƯƠNG NAM.
Mối quan hệ thầy trò trong bài kinh cũng là:
hai chiều.
Học trò không chỉ:
đòi thầy dạy hay.
Thầy cũng không chỉ:
đòi trò kính.
Cả hai đều:
có phần.
18. BỔN PHẬN CỦA HỌC TRÒ
Người học trò đối với thầy cần:
biết kính trọng;
chăm chỉ học;
lắng nghe;
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 835
phụ giúp thích hợp;
nỗ lực nắm vững điều được dạy. (Access to Insight)
Nói đơn giản:
HỌC TRÒ PHẢI THẬT SỰ HỌC.
Không thể:
không học.
không làm.
rồi nói:
“Thầy dạy không hiệu quả.”
19. BỔN PHẬN CỦA THẦY
Người thầy cũng phải:
dạy kỹ;
giúp trò hiểu;
truyền đạt đầy đủ;
giới thiệu trò vào những mối quan hệ thích hợp;
giúp trò có sự an toàn và khả năng đứng vững bằng điều đã học. (Access to Insight)
Một thầy tốt không chỉ muốn học trò:
kính mình.
Mà muốn học trò:
TRƯỞNG THÀNH.
20. VÍ DỤ 5 – HỌC PHẬT CHỈ MUỐN NGHE CÁI HỢP Ý
Thầy nói:
“Chỗ này con đang sân.”
Mình khó chịu.
Chỉ thích thầy:
khen.
Như vậy mình tìm:
người nuôi cái tôi
chứ chưa chắc tìm:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 836
người dạy.
Học thật phải chấp nhận:
CÓ LÚC BỊ CHỈ LỖI.
21. VÍ DỤ 6 – NGƯỜI THẦY GIỮ KIẾN THỨC ĐỂ TRÒ LỆ THUỘC
Nếu một người dạy chỉ muốn:
học trò không bao giờ tự đứng,
luôn phải lệ thuộc,
thì phải nhìn lại.
Tinh thần DN 31 là:
DẠY CHO NGƯỜI HỌC NẮM ĐƯỢC ĐIỀU CẦN HỌC.
Không phải:
giữ học trò yếu để mình luôn quan trọng.
22. PHƯƠNG TÂY – VỢ CHỒNG
Trong DN 31, phương Tây tượng trưng cho:
QUAN HỆ VỢ CHỒNG.
Đây là phần rất quan trọng vì Đức Phật đặt:
tôn trọng,
chung thủy,
trách nhiệm,
quản lý gia đình
vào chính đời sống hôn nhân. (Access to Insight)
23. BỔN PHẬN CỦA NGƯỜI CHỒNG
Theo cấu trúc bài kinh, người chồng đối với vợ cần:
tôn trọng;
không khinh thường;
chung thủy;
chia sẻ trách nhiệm và quyền hạn trong gia đình;
quan tâm, chăm sóc bằng những điều thích hợp. (Access to Insight)
Điểm đáng chú ý:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 837
KHÔNG KHINH THƯỜNG.
Một người nói:
“Cô chỉ là vợ tôi.”
đã sai ngay ở:
tâm thế.
Hôn nhân không phải:
MỘT NGƯỜI LÀ CHỦ CỦA MỘT NGƯỜI.
24. BỔN PHẬN CỦA NGƯỜI VỢ
Bài kinh cũng trình bày những trách nhiệm của người vợ như:
quản lý công việc trong gia đình khéo léo;
đối xử tốt với những người có liên hệ;
chung thủy;
giữ gìn tài sản;
siêng năng và khéo léo trong công việc. (Access to Insight)
Điều cốt lõi là:
HAI NGƯỜI CÙNG BẢO VỆ GIA ĐÌNH.
25. VÍ DỤ 7 – VỢ CHỒNG CÓ TIỀN RIÊNG NHƯNG GIẤU NHAU
Nếu sự che giấu liên quan đến:
nợ.
chi lớn.
tài sản chung.
thì niềm tin rất dễ:
vỡ.
Một gia đình bền không chỉ nhờ:
thương.
Mà còn cần:
TRUNG THỰC VÀ TRÁCH NHIỆM.
26. VÍ DỤ 8 – CHỒNG KIẾM TIỀN RỒI COI MÌNH CÓ QUYỀN NÓI GÌ CŨNG ĐƯỢC
Kiếm tiền là:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 838
đóng góp.
Không phải:
giấy phép làm tổn thương.
Người kia ở nhà chăm con,
quản gia đình,
cũng là:
đóng góp.
Tôn trọng phải:
hai chiều.
27. VÍ DỤ 9 – VỢ CHỒNG DÙNG ĐIỂM YẾU CỦA NHAU ĐỂ ĐÂM KHI CÃI
Người sống gần nhau:
biết rất nhiều chuyện riêng.
Nếu mỗi lần sân lại:
đem bí mật ra làm vũ khí,
niềm tin sẽ chết dần.
Lễ phương Tây bằng Pháp là:
ĐỪNG BIẾN SỰ THÂN THIẾT THÀNH KHO VŨ KHÍ.
28. PHƯƠNG BẮC – BẠN BÈ VÀ NGƯỜI ĐỒNG HÀNH
Phương Bắc tượng trưng:
BẠN BÈ, ĐỒNG SỰ, NGƯỜI QUEN THÂN.
Bài kinh nhấn mạnh những cách đối xử như:
rộng lượng.
lời nói thân thiện.
giúp đỡ.
đối xử bình đẳng.
thành thật. (Access to Insight)
29. BỔN PHẬN ĐỐI VỚI BẠN
Bạn không phải chỉ để:
vui.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 839
Mình phải biết:
chia sẻ.
nói tử tế.
giúp lúc cần.
không lợi dụng.
không hai mặt.
Đó là:
TÌNH BẠN CÓ ĐẠO ĐỨC.
30. BẠN ĐÁP LẠI THẾ NÀO?
Người bạn chân chính trong cấu trúc bài kinh sẽ:
bảo vệ mình khi mình sơ suất;
giúp bảo vệ tài sản và lợi ích chính đáng;
là chỗ nương khi mình gặp sợ hãi, khó khăn;
không bỏ mình lúc hoạn nạn;
tôn trọng người thân của mình. (Access to Insight)
Bạn thật thường biết rõ nhất khi:
MÌNH GẶP NẠN.
Không phải khi:
mình đang có tất cả.
31. VÍ DỤ 10 – BẠN CHỈ TỚI KHI MÌNH CÓ LỢI CHO HỌ
Khi mình:
có tiền.
có quan hệ.
có lợi.
họ rất gần.
Khi mình:
khó.
không còn giúp được.
họ biến mất.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 840
Đó là lúc nhìn ra:
MỐI QUAN HỆ DỰA TRÊN LỢI ÍCH
khác:
TÌNH BẠN CÓ NGHĨA.
32. VÍ DỤ 11 – BẠN BIẾT MÌNH ĐANG SAI MÀ VẪN BÊNH
Bênh người:
không đồng nghĩa:
bạn tốt.
Nếu mình sai,
bạn tốt có thể nói:
“Việc này bạn chưa đúng.”
Một người cứu mình khỏi:
một nghiệp xấu
có thể quý hơn:
mười người giúp mình thắng:
một cuộc cãi.
33. PHƯƠNG DƯỚI – NGƯỜI LÀM CÔNG, NGƯỜI GIÚP VIỆC, NGƯỜI THUỘC TRÁCH NHIỆM QUẢN LÝ
Đây là phần rất tiến bộ của bài kinh.
Người có quyền sử dụng lao động của người khác không được chỉ nghĩ:
“HỌ PHẢI LÀM CHO TÔI.”
Mà phải hỏi:
“TÔI PHẢI ĐỐI XỬ VỚI HỌ THẾ NÀO?”
DN 31 trình bày rõ trách nhiệm hai phía. (Access to Insight)
34. BỔN PHẬN CỦA NGƯỜI CHỦ
Người chủ phải:
giao việc phù hợp với khả năng;
cung cấp thức ăn và tiền công thích đáng theo bối cảnh;
chăm sóc khi người làm bệnh;
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 841
chia sẻ những lợi ích thích hợp;
cho nghỉ ngơi đúng lúc. (Access to Insight)
Điểm rất đáng học:
KHÔNG PHẢI CÓ QUYỀN TRẢ LƯƠNG LÀ CÓ QUYỀN VẮT KIỆT NGƯỜI KHÁC.
35. “GIAO VIỆC THEO KHẢ NĂNG”
Một người khỏe:
việc khác.
Một người già:
việc khác.
Một người có chuyên môn:
việc khác.
Nếu biết người không làm nổi
mà vẫn ép,
rồi chê:
“Vô dụng,”
đó là:
thiếu trí trong quản lý.
36. “CHĂM KHI BỆNH”
Người làm cũng là:
con người.
Không phải:
công cụ.
Khi họ bệnh,
nếu chỉ nói:
“Không làm thì nghỉ luôn,”
mà không có chút quan tâm nào,
thì mối quan hệ chỉ còn:
mua – bán lạnh lùng.
Kinh đưa:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 842
LÒNG NGƯỜI
vào:
quan hệ lao động.
37. BỔN PHẬN CỦA NGƯỜI LÀM
Người làm đáp lại bằng cách:
làm việc siêng năng;
không lấy trộm;
hoàn thành công việc tốt;
giữ danh dự và uy tín cho nơi mình làm;
có trách nhiệm trong công việc. (Access to Insight)
Như vậy:
chủ phải tử tế.
Người làm cũng phải:
có trách nhiệm.
Không ai được dùng đạo lý để:
trốn bổn phận của mình.
38. VÍ DỤ 12 – CHỦ TRẢ LƯƠNG TRỄ DÙ CÓ KHẢ NĂNG
Người làm:
đợi tiền ăn.
đợi tiền nhà.
đợi trả hóa đơn.
Chủ có khả năng nhưng cố ý:
trì.
Đó không chỉ là:
quản lý kém.
Còn có thể là:
thiếu trách nhiệm với đời sống của người đang làm cho mình.
39. VÍ DỤ 13 – NGƯỜI LÀM CỐ TÌNH ĂN CẮP THỜI GIAN
Được trả đủ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 843
Nhưng cố tình:
không làm.
giả làm.
lấy đồ.
gian thời gian.
Thì cũng không đúng.
Bổn phận:
hai chiều.
40. VÍ DỤ 14 – NGƯỜI CHỦ KHÔNG CHO NGƯỜI LÀM NGHỈ
Làm liên tục.
Kiệt sức.
Rồi sai.
Chủ trách:
“Sao làm dở vậy?”
Có khi vấn đề là:
KHÔNG CÓ ĐIỀU KIỆN LÀM VIỆC HỢP LÝ.
DN 31 đã nói đến:
cho nghỉ đúng lúc. (Access to Insight)
41. PHƯƠNG TRÊN – NGƯỜI TU HÀNH CHÂN CHÁNH
Phương trên tượng trưng:
CÁC VỊ SA-MÔN, BÀ-LA-MÔN, NHỮNG NGƯỜI SỐNG ĐỜI TU HÀNH.
Người tại gia có cách hộ trì.
Nhưng người tu cũng có:
TRÁCH NHIỆM ĐẠO ĐỨC VỚI NGƯỜI HỘ TRÌ.
Đây là phần rất quan trọng. (Access to Insight)
42. BỔN PHẬN CỦA CƯ SĨ ĐỐI VỚI NGƯỜI TU
Người cư sĩ nên đối xử bằng:
thân hành từ ái;
lời nói từ ái;
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 844
ý nghĩ từ ái;
mở cửa tiếp đón đúng mức;
hộ trì những nhu yếu thích hợp. (Access to Insight)
Không phải:
mê tín.
Không phải:
thần thánh hóa người tu.
Mà là:
HỘ TRÌ NGƯỜI ĐANG SỐNG ĐỜI PHẠM HẠNH CHÂN CHÁNH.
43. BỔN PHẬN CỦA NGƯỜI TU ĐỐI VỚI CƯ SĨ
Người tu phải:
ngăn người cư sĩ khỏi điều ác;
khuyến khích họ làm điều thiện;
thương tưởng bằng tâm lành;
giảng những điều họ chưa được nghe;
làm sáng tỏ điều họ đã nghe;
chỉ con đường đưa đến cảnh giới lành và sự tiến bộ tâm linh. (Access to Insight)
Đây là điểm rất quan trọng:
NHẬN SỰ HỘ TRÌ – PHẢI CÓ TRÁCH NHIỆM HƯỚNG DẪN BẰNG CHÁNH PHÁP.
44. NGƯỜI TU KHÔNG CHỈ NHẬN
Nếu cư sĩ:
cúng dường.
chăm sóc.
tin tưởng.
Mà người tu chỉ:
nhận,
không hướng họ về:
giới.
thiện.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 845
Pháp.
trí,
thì phải:
nhìn lại bổn phận.
DN 31 nhắc rất rõ sự:
TƯƠNG HỖ.
45. VÍ DỤ 15 – PHẬT TỬ HỎI ĐIỀU SAI
Nếu biết:
trả lời đúng Pháp.
Nếu chưa biết:
nói chưa biết.
Không vì sợ mất lòng mà:
nói theo điều họ muốn nghe.
Đó là một cách người tu:
GIÚP CƯ SĨ TRÁNH ĐIỀU SAI.
46. VÍ DỤ 16 – PHẬT TỬ CÚNG DƯỜNG RỒI MUỐN CHI PHỐI
Cư sĩ hộ trì:
rất quý.
Nhưng cúng dường không biến thành:
quyền sở hữu người tu.
Người tu cũng không nên vì:
lợi dưỡng
mà:
chiều điều sai.
Hai phía đều phải:
giữ đúng vai.
47. GHÉP NGHĨA TOÀN BỘ SÁU PHƯƠNG
Có thể hiểu thật dễ:
PHƯƠNG ĐÔNG – CHA MẸ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 846
Hiếu và giáo dưỡng.
PHƯƠNG NAM – THẦY TRÒ.
Kính học và tận tâm dạy.
PHƯƠNG TÂY – VỢ CHỒNG.
Tôn trọng, chung thủy và cùng giữ gia đình.
PHƯƠNG BẮC – BẠN BÈ.
Chân thành, giúp đỡ và không bỏ nhau khi hoạn nạn.
PHƯƠNG DƯỚI – CHỦ VÀ NGƯỜI LÀM.
Đối xử công bằng và làm việc có trách nhiệm.
PHƯƠNG TRÊN – CƯ SĨ VÀ NGƯỜI TU.
Hộ trì đúng pháp và hướng dẫn đúng Chánh pháp.
Đó chính là:
LỄ SÁU PHƯƠNG BẰNG CÁCH SỐNG. (
SuttaCentral
)
48. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ GÌ?
Kính thưa quý vị,
điều rất sâu trong bài kinh này là:
ĐẠO ĐỨC KHÔNG CHỈ NẰM TRONG CHÙA.
Nó nằm ở:
cách mình nói với mẹ.
cách mình dạy con.
cách mình đối xử với vợ chồng.
cách mình trả công người làm.
cách mình giữ tình bạn.
cách người tu đáp lại lòng kính của Phật tử.
Một người có thể lễ Phật:
rất nhiều.
Nhưng về nhà:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 847
bất hiếu.
khinh vợ.
đánh chồng.
lừa bạn.
ép người làm.
thì phải hỏi:
PHÁP ĐÃ ĐI VÀO SÁU PHƯƠNG CỦA MÌNH CHƯA?
49. LỄ KHÔNG CHỈ BẰNG THÂN
Chắp tay:
đẹp.
Cúi đầu:
đẹp.
Nhưng Đức Phật đưa chữ lễ sâu hơn:
LỄ BẰNG TRÁCH NHIỆM.
Con lễ cha mẹ:
bằng phụng dưỡng.
Trò lễ thầy:
bằng học thật.
Chồng lễ phương Tây:
bằng tôn trọng và chung thủy.
Chủ lễ phương dưới:
bằng đối xử công bằng với người làm.
Cư sĩ lễ phương trên:
bằng hộ trì đúng pháp.
Đó là:
LỄ BẰNG ĐỜI SỐNG.
50. MỐI QUAN HỆ HỎNG THƯỜNG DO AI CŨNG NHÌN PHẦN NGƯỜI KIA
Vợ nói:
“Chồng phải thế này.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 848
Chồng nói:
“Vợ phải thế kia.”
Con nói:
“Cha mẹ phải hiểu con.”
Cha mẹ nói:
“Con phải nghe.”
Chủ nói:
“Người làm phải có trách nhiệm.”
Người làm nói:
“Chủ phải tốt.”
Ai cũng:
đúng một phần.
Nhưng câu hỏi tu là:
“PHẦN CỦA TÔI TÔI ĐÃ LÀM CHƯA?”
Đó mới là chỗ:
mình có thể bắt đầu.
51. BỔN PHẬN KHÔNG CÓ NGHĨA CHỊU ĐỰNG XÂM HẠI
Điều này cần nói rõ trong ứng dụng hiện đại.
Nếu một mối quan hệ có:
bạo lực.
xâm hại.
đe dọa.
lạm dụng.
thì “làm bổn phận” không có nghĩa:
ở lại để tiếp tục bị hại.
Giữ an toàn,
tìm hỗ trợ thích hợp,
dùng pháp luật khi cần
không trái với:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 849
đạo đức.
Tinh thần bài kinh là:
SỐNG CÓ TRÁCH NHIỆM.
Không phải:
CHO PHÉP XÂM HẠI.
52. TÔN TRỌNG KHÔNG PHẢI PHỤC TÙNG MÙ QUÁNG
Tôn trọng cha mẹ:
không có nghĩa làm việc sai.
Kính thầy:
không có nghĩa bỏ trí.
Thương vợ chồng:
không có nghĩa để kiểm soát.
Kính người tu:
không có nghĩa tin mọi lời không cần kiểm.
Tôn trọng có trí là:
KÍNH NGƯỜI – NHƯNG GIỮ PHÁP.
53. CÔNG THỨC THỨ NHẤT
ĐỪNG CHỈ HỎI QUYỀN – HÃY HỎI BỔN PHẬN
Khi một mối quan hệ có vấn đề,
trước khi hỏi:
“Người kia phải làm gì cho tôi?”
hãy hỏi:
“PHẦN CỦA TÔI LÀ GÌ?”
Công thức:
QUYỀN → DỪNG.
BỔN PHẬN → SOI.
54. CÔNG THỨC THỨ HAI
SÁU PHƯƠNG – SÁU CÂU HỎI
PHƯƠNG ĐÔNG
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 850
Tôi đang đối xử với cha mẹ thế nào?
PHƯƠNG NAM
Tôi đang học và kính thầy thế nào?
PHƯƠNG TÂY
Tôi đang đối xử với người bạn đời thế nào?
PHƯƠNG BẮC
Tôi có đang là một người bạn chân thành không?
PHƯƠNG DƯỚI
Tôi có đối xử công bằng với người làm cho mình không?
PHƯƠNG TRÊN
Tôi đang hộ trì và học Pháp đúng cách không?
Đây là:
BẢN ĐỒ TỰ SOI.
55. CÔNG THỨC THỨ BA
TÔN TRỌNG – TRÁCH NHIỆM – TƯƠNG HỖ
Mọi phương đều cần:
TÔN TRỌNG.
Không khinh.
TRÁCH NHIỆM.
Làm phần mình.
TƯƠNG HỖ.
Không biến mối quan hệ thành một chiều.
Công thức:
TÔN TRỌNG → TRÁCH NHIỆM → TƯƠNG HỖ.
56. CÔNG THỨC THỨ TƯ
ĐÚNG VAI – ĐÚNG PHẦN – ĐÚNG PHÁP
ĐÚNG VAI
Mình đang là con, cha mẹ, thầy, trò, bạn, chủ, người làm hay cư sĩ?
ĐÚNG PHẦN
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 851
Trách nhiệm của vai ấy là gì?
ĐÚNG PHÁP
Làm trách nhiệm ấy mà không gây bất thiện.
Công thức:
ĐÚNG VAI → ĐÚNG PHẦN → ĐÚNG PHÁP.
57. CÔNG THỨC THỨ NĂM
LỄ BẰNG HÀNH
Không chỉ:
chắp tay.
Mà:
HIẾU VỚI CHA MẸ.
KÍNH HỌC VỚI THẦY.
CHUNG THỦY VỚI BẠN ĐỜI.
CHÂN THÀNH VỚI BẠN.
CÔNG BẰNG VỚI NGƯỜI LÀM.
HỘ TRÌ VÀ HỌC PHÁP ĐÚNG.
Đó là:
LỄ SÁU PHƯƠNG BẰNG HÀNH ĐỘNG.
58. ỨNG DỤNG 1 – MỖI TUẦN CHỌN MỘT PHƯƠNG ĐỂ SỬA
Không cần sửa hết một ngày.
Tuần này:
cha mẹ.
Tuần sau:
bạn đời.
Tuần sau nữa:
bạn bè.
Rồi:
công việc.
Mỗi tuần hỏi:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 852
“Tôi có thể làm tròn phần nào hơn?”
59. ỨNG DỤNG 2 – TRƯỚC KHI TRÁCH NGƯỜI THÂN
Hỏi:
“PHẦN TÔI ĐÃ LÀM ĐỦ CHƯA?”
Không phải để:
tự nhận hết lỗi.
Mà để tránh:
chỉ nhìn ra ngoài.
60. ỨNG DỤNG 3 – VỚI CHA MẸ
Mỗi ngày hoặc mỗi tuần,
làm một điều cụ thể:
gọi hỏi.
đưa đi khám.
mua món cần.
ngồi nghe.
Không chỉ nói:
“Con thương.”
Hãy để tình thương thành:
VIỆC.
61. ỨNG DỤNG 4 – VỚI CON
Không chỉ hỏi:
“Con được bao nhiêu điểm?”
Hỏi thêm:
“Hôm nay con có làm điều gì tử tế không?”
Cha mẹ không chỉ nuôi:
nghề nghiệp tương lai.
Còn nuôi:
PHẨM CHẤT.
62. ỨNG DỤNG 5 – VỚI THẦY
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 853
Học một bài:
làm thật.
Đừng hỏi:
mười câu
rồi không thực hành:
một câu.
Kính thầy sâu nhất có khi là:
HỌC CHO ĐÚNG.
63. ỨNG DỤNG 6 – VỚI NGƯỜI BẠN ĐỜI
Mỗi khi cãi,
không dùng:
bí mật.
điểm yếu.
quá khứ đau.
làm vũ khí.
Có thể bất đồng.
Nhưng giữ:
NHÂN PHẨM CỦA NHAU.
64. ỨNG DỤNG 7 – VỚI BẠN
Đừng chỉ xuất hiện khi:
vui.
Một tin nhắn hỏi:
“Bạn có ổn không?”
lúc người kia khó,
có khi quý hơn:
mười buổi tiệc.
65. ỨNG DỤNG 8 – VỚI NGƯỜI LÀM CHO MÌNH
Hỏi:
“Công việc tôi giao có hợp lý không?”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 854
“Tiền công có đúng không?”
“Họ có được nghỉ không?”
“Khi bệnh tôi đối xử thế nào?”
Đó là:
đưa Pháp vào quản lý.
66. ỨNG DỤNG 9 – KHI MÌNH LÀ NGƯỜI LÀM
Hỏi:
“Tôi có làm xứng với phần mình nhận không?”
Đừng chỉ nhìn:
chủ.
Mình cũng có:
trách nhiệm.
67. ỨNG DỤNG 10 – VỚI NGƯỜI TU
Phật tử không cần:
tâng bốc.
Người tu không cần:
đòi hỏi.
Cư sĩ hộ trì bằng:
tâm lành.
Người tu đáp bằng:
PHÁP.
Đó là một quan hệ:
rất đẹp khi cả hai đúng phần.
68. BÀI THỰC HÀNH MỘT NGÀY
Hôm nay chọn một phương.
Ví dụ:
PHƯƠNG ĐÔNG – CHA MẸ.
Làm một việc cụ thể:
gọi.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 855
hỏi.
chăm.
xin lỗi.
giúp.
Không cần lớn.
Cuối ngày hỏi:
“Hôm nay tôi đã lễ phương Đông bằng hành động chưa?”
69. BÀI THỰC HÀNH SÁU NGÀY – SÁU PHƯƠNG
NGÀY 1 – PHƯƠNG ĐÔNG
Làm một việc hiếu với cha mẹ.
NGÀY 2 – PHƯƠNG NAM
Ôn lại một điều thầy đã dạy và thực hành.
NGÀY 3 – PHƯƠNG TÂY
Nói một lời tôn trọng với người bạn đời; bỏ một câu làm tổn thương.
NGÀY 4 – PHƯƠNG BẮC
Giúp một người bạn mà không tính lợi.
NGÀY 5 – PHƯƠNG DƯỚI
Đối xử công bằng với người đang làm việc cho mình; nếu mình là người làm, làm tròn việc.
NGÀY 6 – PHƯƠNG TRÊN
Hộ trì một thiện pháp, đọc một đoạn kinh đúng nguồn hoặc thỉnh hỏi Pháp với tâm chân thành.
70. THỰC HÀNH BUỔI SÁNG
Có thể đọc:
Hôm nay tôi không chỉ đòi người khác làm tròn bổn phận với tôi.
Tôi nhìn phần của mình trước.
Tôi nhớ cha mẹ.
Tôi kính người đã dạy mình.
Tôi tôn trọng người bạn đời.
Tôi chân thành với bạn.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 856
Tôi công bằng với người làm.
Tôi hộ trì và học Chánh pháp bằng trí.
Tôi tập lễ sáu phương bằng chính cách mình sống.
71. THỰC HÀNH BUỔI TỐI
Trước khi ngủ hỏi:
Hôm nay tôi có nói nặng với cha mẹ không?
Tôi có thực hành điều tốt mình đã được dạy không?
Tôi có làm người bạn đời mất phẩm giá vì một câu nói không?
Tôi có chân thành với bạn không?
Tôi có đối xử công bằng với người làm hoặc làm tròn trách nhiệm của người làm không?
Tôi có học và hộ trì Chánh pháp đúng cách không?
Phương nào trong đời tôi đang bị bỏ quên nhất?
72. CÂU GHI NHỚ THỨ NHẤT
Lễ cha mẹ sâu nhất không nằm ở một cái lạy, mà ở cách mình đối xử với cha mẹ khi họ già và khó chiều.
73. CÂU GHI NHỚ THỨ HAI
Cha mẹ có quyền được kính, nhưng cũng có trách nhiệm hướng con khỏi điều xấu và đưa con về điều thiện.
74. CÂU GHI NHỚ THỨ BA
Kính thầy không chỉ bằng lời xưng tụng; kính thầy còn bằng việc thật sự học và thực hành điều đúng.
75. CÂU GHI NHỚ THỨ TƯ
Người thầy tốt không chỉ muốn trò kính mình; họ muốn trò đủ khả năng đứng vững bằng điều đã học.
76. CÂU GHI NHỚ THỨ NĂM
Hôn nhân không bền chỉ nhờ tình cảm; còn cần tôn trọng, chung thủy và trách nhiệm hai chiều.
77. CÂU GHI NHỚ THỨ SÁU
Đừng dùng điều người bạn đời từng tin tưởng kể cho mình làm vũ khí khi giận.
78. CÂU GHI NHỚ THỨ BẢY
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 857
Bạn thật không chỉ cùng mình lúc vui; họ còn giữ mình khỏi việc xấu và không bỏ mình lúc khó.
79. CÂU GHI NHỚ THỨ TÁM
Có quyền thuê người làm không có nghĩa có quyền xem họ như một công cụ.
80. CÂU GHI NHỚ THỨ CHÍN
Người làm được đối xử tử tế vẫn phải giữ trách nhiệm; đạo đức hai chiều mới làm quan hệ bền.
81. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI
Cư sĩ hộ trì người tu bằng vật chất đúng pháp; người tu đáp lại bằng Chánh pháp và đời sống đáng tin.
82. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI MỘT
Nếu ai cũng chỉ biết mình có quyền gì mà quên mình có bổn phận gì, sáu phương rất dễ mất cân bằng.
83. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI HAI
Đạo Phật không chỉ dạy cách ngồi yên với tâm; còn dạy cách sống tử tế với những người đứng quanh mình.
84. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI BA
Một người có thể thuộc nhiều kinh nhưng nếu đối xử tệ với cha mẹ, gia đình, bạn bè và người làm thì vẫn còn những phương rất lớn chưa được tu.
85. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
PHƯƠNG ĐÔNG – CHA MẸ
HIẾU VÀ GIÁO DƯỠNG.
PHƯƠNG NAM – THẦY TRÒ
KÍNH HỌC VÀ TẬN TÂM DẠY.
PHƯƠNG TÂY – VỢ CHỒNG
TÔN TRỌNG – CHUNG THỦY – CÙNG GIỮ GIA ĐÌNH.
PHƯƠNG BẮC – BẠN BÈ
CHÂN THÀNH – GIÚP ĐỠ – KHÔNG BỎ NHAU KHI KHÓ.
PHƯƠNG DƯỚI – CHỦ VÀ NGƯỜI LÀM
CÔNG BẰNG – TRÁCH NHIỆM – NHÂN ÁI.
PHƯƠNG TRÊN – CƯ SĨ VÀ NGƯỜI TU
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 858
HỘ TRÌ ĐÚNG PHÁP – HƯỚNG DẪN BẰNG CHÁNH PHÁP.
Đức Phật biến việc lễ sáu phương từ một nghi thức thành một bản đồ đạo đức cho đời sống. (SuttaCentral)
Nguồn: Kinh Giáo Thọ Thi-ca-la-việt – Siṅgāla Sutta, còn thường gọi Sigālovāda Sutta; Trường Bộ Kinh – Dīgha Nikāya; kinh số 31; mã tra cứu quốc tế DN 31; bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu; nguyên bản Kinh tạng Pāli. (SuttaCentral)
86. CÂU HỎI LIVESTREAM
1. Trong sáu phương, quý vị thấy phương nào của mình đang cần sửa nhất?
2. Có phải hiếu chỉ là cho cha mẹ tiền không, hay còn là thái độ khi cha mẹ già, chậm và khó tính?
3. Cha mẹ có bổn phận với con hay chỉ con mới có bổn phận với cha mẹ?
4. Theo quý vị, tại sao Đức Phật đặt cả trách nhiệm của cha mẹ lẫn trách nhiệm của con trong cùng bài kinh?
5. Học trò kính thầy nhưng không chịu học thì đã làm tròn phương Nam chưa?
6. Người thầy chỉ thích được kính nhưng không dạy trò trưởng thành thì phần bổn phận đã đủ chưa?
7. Trong hôn nhân, điều gì khó hơn: thương nhau hay tôn trọng nhau khi đang giận?
8. Có bao giờ mình dùng bí mật của người bạn đời làm vũ khí trong lúc cãi nhau không?
9. Bạn thật là người luôn bênh mình hay người dám nói khi mình sai?
10. Có người bạn nào từng ở lại với quý vị khi mình không còn gì để họ được lợi không?
11. Người chủ có trách nhiệm gì ngoài việc trả tiền công?
12. Người làm có quyền đòi hỏi công bằng nhưng cũng phải có trách nhiệm gì với công việc?
13. Phật tử cúng dường có quyền chi phối người tu không?
14. Người tu nhận sự hộ trì của Phật tử thì có bổn phận gì đối với họ?
15. Theo quý vị, lễ sáu phương bằng chắp tay và lễ sáu phương bằng đời sống khác nhau thế nào?
16. Có phải nhiều xung đột xảy ra vì ai cũng nhớ quyền của mình nhưng quên phần mình phải làm?
17. Nếu hôm nay chỉ sửa một phương, quý vị muốn sửa phương nào trước?
18. Nếu chỉ nhớ một câu, quý vị có thể nhớ: “Đừng chỉ hỏi người kia phải làm gì cho tôi; hãy hỏi phần của tôi đã làm chưa” không?
87. CÂU KẾT ĐỂ ĐỌC TRÊN LIVESTREAM
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 859
Kính thưa quý vị,
có một điều rất đẹp trong bài kinh này.
Người thanh niên Siṅgālaka đứng lễ:
Đông.
Tây.
Nam.
Bắc.
Trên.
Dưới.
Nếu Đức Phật chỉ nói:
“Đừng lễ nữa,”
thì bài học có thể dừng ở:
một nghi thức.
Nhưng Ngài làm điều sâu hơn.
Ngài nói bằng ý nghĩa rằng:
MUỐN LỄ PHƯƠNG ĐÔNG – HÃY SỐNG CHO CÓ HIẾU VỚI CHA MẸ.
MUỐN LỄ PHƯƠNG NAM – HÃY KÍNH HỌC VÀ LÀM ĐÚNG VỚI THẦY.
MUỐN LỄ PHƯƠNG TÂY – HÃY TÔN TRỌNG NGƯỜI BẠN ĐỜI.
MUỐN LỄ PHƯƠNG BẮC – HÃY SỐNG CHO XỨNG ĐÁNG VỚI BẠN.
MUỐN LỄ PHƯƠNG DƯỚI – HÃY ĐỐI XỬ CÔNG BẰNG VỚI NGƯỜI LÀM.
MUỐN LỄ PHƯƠNG TRÊN – HÃY HỘ TRÌ VÀ HỌC CHÁNH PHÁP CHO ĐÚNG.
Như vậy,
đạo không chỉ nằm ở:
tay chắp.
Đạo nằm ở:
CÁCH MÌNH SỐNG VỚI NGƯỜI.
Một người lạy cha mẹ rất đẹp
nhưng mỗi ngày nói cha mẹ đau:
phương Đông còn:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 860
chưa trọn.
Một học trò nói kính thầy
nhưng không chịu học:
phương Nam còn:
thiếu.
Một người nói thương vợ thương chồng
nhưng khinh thường, phản bội:
phương Tây đã:
lung lay.
Một người nói bạn bè nghĩa khí
nhưng lúc bạn khó thì biến mất:
phương Bắc chưa:
vững.
Một người trả lương nhưng ép người làm tới kiệt sức:
phương dưới còn:
bất an.
Một người tu nhận sự kính trọng rất nhiều
nhưng không đưa người hộ trì về giới, thiện và Chánh pháp:
phương trên cũng:
chưa trọn.
Cho nên công thức bài hôm nay xin nhớ:
ĐÚNG VAI → ĐÚNG PHẦN → ĐÚNG PHÁP.
Và một câu sâu hơn:
ĐỪNG CHỈ HỎI NGƯỜI KHÁC PHẢI LÀM GÌ CHO MÌNH.
HÃY HỎI: PHẦN CỦA MÌNH – MÌNH ĐÃ LÀM CHƯA?
Nếu mỗi người chịu quay về:
làm trọn phần mình,
gia đình bớt:
đổ lỗi.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 861
thầy trò bớt:
xa.
vợ chồng bớt:
tổn thương.
bạn bè bớt:
lợi dụng.
chủ – người làm bớt:
bất công.
cư sĩ – người tu bớt:
lệch vai.
Đó là lúc sáu phương không còn là:
sáu hướng ngoài trời.
Sáu phương trở thành:
SÁU NƠI ĐỂ MÌNH TU NGAY TRONG CUỘC ĐỜI.
Nguồn: Kinh Giáo Thọ Thi-ca-la-việt – Siṅgāla Sutta, Trường Bộ Kinh – Dīgha Nikāya, DN 31, bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, nguyên bản Kinh tạng Pāli. (SuttaCentral)
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 862
MỤC 032 - Bài 032 — TRƯỚC KHI LÀM – ĐANG KHI LÀM – SAU KHI LÀM, HÃY SOI LẠI THÂN, KHẨU, Ý NHƯ SOI GƯƠNG 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
Đức Phật hỏi Tôn giả Rāhula:
“Này Rāhula, cái gương dùng để làm gì?”
Tôn giả Rāhula thưa:
“Bạch Thế Tôn, dùng để phản tỉnh.”
Đức Phật dạy:
“Cũng vậy, này Rāhula, sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành thân nghiệp; sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành khẩu nghiệp; sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành ý nghiệp.”
Ngài tiếp tục hướng dẫn rất rõ:
trước khi muốn làm một hành động bằng thân,
phải xem hành động ấy có thể đưa đến:
khổ cho mình,
khổ cho người,
hay khổ cho cả hai
hay không.
Nếu thấy nó đưa tới khổ và là bất thiện:
KHÔNG NÊN LÀM.
Nếu thấy không đưa tới khổ và thuộc về thiện:
CÓ THỂ LÀM.
Không chỉ trước khi làm.
Trong khi đang làm:
cũng phải tiếp tục kiểm.
Và sau khi làm:
cũng phải nhìn lại kết quả.
Đức Phật áp dụng nguyên tắc ấy cho:
THÂN.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 863
LỜI NÓI.
Ý NGHĨ.
Đây là cốt lõi của Kinh Giáo Giới La-hầu-la ở Ambalaṭṭhikā – Ambalaṭṭhikarāhulovāda Sutta, Trung Bộ Kinh, MN 61. (SuttaCentral)
2. NGUỒN KINH
Tên kinh tiếng Việt: Kinh Giáo Giới La-hầu-la ở Ambalaṭṭhikā
Tên Pāli: Ambalaṭṭhikarāhulovāda Sutta
Thuộc: Trung Bộ Kinh – Majjhima Nikāya
Số kinh: 61
Mã tra cứu quốc tế: MN 61
Người được Đức Phật giáo giới: Tôn giả Rāhula – La-hầu-la
Địa điểm: Ambalaṭṭhikā, gần Trúc Lâm – Veḷuvana, thành Rājagaha – Vương Xá
Bản dịch tiếng Việt: Hòa thượng Thích Minh Châu
Nguyên bản: Kinh tạng Pāli
SuttaCentral lưu bản Việt Hòa thượng Thích Minh Châu tại MN 61 – Ambalaṭṭhikarāhulovādasutta và tóm tắt bài kinh là lời Đức Phật dạy Rāhula về sự chân thật và việc phản tỉnh động cơ, hành động của mình. (SuttaCentral)
Khi cần trả lời thật ngắn:
“Đây là Kinh Giáo Giới La-hầu-la ở Ambalaṭṭhikā – Ambalaṭṭhikarāhulovāda Sutta, Trung Bộ Kinh – Majjhima Nikāya, kinh số 61, mã quốc tế MN 61, bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, nguyên bản Kinh tạng Pāli.”
3. BỐI CẢNH BÀI KINH
Đức Phật đến thăm Tôn giả Rāhula tại Ambalaṭṭhikā.
Tôn giả Rāhula chuẩn bị:
chỗ ngồi,
nước rửa chân
để đón Đức Phật.
Sau khi ngồi xuống, Đức Phật dùng ngay:
MỘT CHÚT NƯỚC.
CÁI CHẬU NƯỚC.
CÁI GƯƠNG.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 864
để dạy Rāhula.
Ngài bắt đầu bằng một lời dạy rất nghiêm khắc về:
SỰ CHÂN THẬT.
Ngài dạy rằng người không biết hổ thẹn khi cố ý nói dối thì rất dễ đi xa trong bất thiện, và Rāhula phải tập:
không nói dối có chủ ý, ngay cả nói chơi. (Access to Insight)
Sau đó Đức Phật hỏi:
“Cái gương dùng để làm gì?”
Rāhula đáp:
“Dùng để phản tỉnh.”
Từ hình ảnh ấy,
Ngài đưa ra một phương pháp tu cực kỳ thực tế:
TRƯỚC KHI LÀM – SOI.
ĐANG LÀM – SOI.
LÀM XONG – SOI LẠI.
Không chỉ soi:
việc người khác.
Mà:
SOI CHÍNH MÌNH.
4. TỪ KHÓA VIỆT – PĀLI – NGHĨA
PHẢN TỈNH – PACCAVEKKHAṆĀ – XEM XÉT, SOI LẠI, QUÁN SÁT KỸ
Paccavekkhaṇā có nghĩa gần:
xem xét lại.
phản tỉnh.
quan sát kỹ.
soi xét.
Nói thật dễ:
DỪNG LẠI ĐỂ XEM MÌNH ĐANG LÀM GÌ.
Không phải:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 865
làm rồi thôi.
Không phải:
nói rồi mặc.
Không phải:
nghĩ gì cũng chạy theo.
Mà biết hỏi:
“Việc này đi về đâu?”
5. CÁI GƯƠNG – ĀDĀSA – VẬT DÙNG ĐỂ SOI
Đức Phật dùng hình ảnh:
CÁI GƯƠNG.
Gương không:
chửi mình.
Gương không:
khen mình.
Gương chỉ:
cho thấy.
Mặt dính bụi:
thấy bụi.
Tóc lệch:
thấy lệch.
Phản tỉnh cũng vậy.
Không phải để:
tự ghét.
Mà để:
THẤY CHỖ CẦN SỬA.
Đây là điểm rất quan trọng.
6. THÂN NGHIỆP – KĀYAKAMMA – HÀNH ĐỘNG BẰNG THÂN
Kāya là:
thân.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 866
Kamma là:
nghiệp,
hành động có chủ ý.
Kāyakamma là:
hành động có chủ ý bằng thân.
Ví dụ:
đánh.
lấy.
cho.
giúp.
chăm sóc.
phá hoại.
Trước khi thân làm:
TÂM PHẢI SOI.
7. KHẨU NGHIỆP – VACĪKAMMA – HÀNH ĐỘNG BẰNG LỜI
Vacī là:
lời nói.
Vacīkamma là:
hành động bằng lời.
Một câu nói:
cũng là hành động.
Nó có thể:
cứu người.
làm người yên.
dạy người.
nhưng cũng có thể:
làm nhục.
chia rẽ.
lừa.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 867
làm người khác đau nhiều năm.
Vì vậy Đức Phật dạy:
LỜI NÓI CŨNG PHẢI SOI.
8. Ý NGHIỆP – MANOKAMMA – HÀNH ĐỘNG BẰNG Ý
Mano là:
tâm,
ý.
Manokamma là:
nghiệp ý.
Đây là phần sâu.
Trước khi thân làm,
lời nói ra,
thường đã có:
một ý.
Muốn trả đũa.
Muốn lấy lợi.
Muốn giúp.
Muốn hại.
Vì vậy không chỉ kiểm:
CÁI ĐÃ LỘ RA NGOÀI.
Mà còn phải nhìn:
CÁI ĐANG HÌNH THÀNH BÊN TRONG.
9. KHỔ CHO MÌNH – ATTABYĀBĀDHA – TỔN HẠI CHO CHÍNH MÌNH
Đức Phật dạy Rāhula phải xét:
hành động ấy có đưa tới:
TỔN HẠI CHO MÌNH KHÔNG?
Có những việc tưởng:
lợi ngay.
Nhưng làm xong:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 868
sợ.
hối.
mất ngủ.
mất danh dự.
gánh hậu quả.
Một món lợi trước mắt
có thể là:
một cái khổ dài.
10. KHỔ CHO NGƯỜI – PARABYĀBĀDHA – TỔN HẠI CHO NGƯỜI KHÁC
Không chỉ hỏi:
“Tôi có lợi không?”
Còn phải hỏi:
“NGƯỜI KHÁC CÓ BỊ HẠI KHÔNG?”
Đây là đạo đức rất rõ.
Một quyết định làm mình có lợi
nhưng:
người khác bị lừa,
bị tổn thương,
bị mất quyền lợi,
thì phải:
xem lại.
11. KHỔ CHO CẢ HAI – UBHAYABYĀBĀDHA – HẠI MÌNH VÀ HẠI NGƯỜI
Có việc:
ban đầu mình tưởng chỉ làm:
người khác đau.
Nhưng cuối cùng:
mình cũng khổ.
Ví dụ:
trả thù.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 869
Mình làm người kia đau.
Nhưng sau đó:
mối quan hệ đổ.
tâm hận sâu.
nghiệp xấu tăng.
Như vậy:
CẢ HAI ĐỀU KHỔ.
12. BẤT THIỆN – AKUSALA – KHÔNG KHÉO, ĐƯA ĐẾN KHỔ
Akusala là:
bất thiện.
không khéo.
không lành.
Đức Phật không chỉ hỏi:
“Việc này có hợp ý tôi không?”
Mà hỏi:
“NÓ CÓ ĐƯA TỚI KHỔ KHÔNG?”
Đây là tiêu chuẩn rất thực tế.
13. THIỆN – KUSALA – LÀNH, KHÉO, ĐƯA TỚI LỢI ÍCH
Kusala là:
thiện.
khéo.
lành.
Điều thiện không chỉ:
nghe đẹp.
Nó phải hướng tới:
bớt hại.
bớt khổ.
tăng chân thật.
tăng từ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 870
tăng trí.
14. GIẢI CỤM THỨ NHẤT
“CÁI GƯƠNG DÙNG ĐỂ PHẢN TỈNH”
Kính thưa quý vị,
mỗi sáng mình soi gương để thấy:
mặt.
Nhưng có khi cả năm:
không soi:
TÂM.
Người kia nói sai:
mình thấy.
Người kia sân:
mình thấy.
Người kia tham:
mình thấy.
Nhưng:
sân của mình?
tham của mình?
lời mình?
Đức Phật dạy:
QUAY GƯƠNG LẠI.
Đó là bước đầu của tu.
15. PHẢN TỈNH KHÔNG PHẢI TỰ KẾT ÁN
Gương thấy:
mặt bẩn.
Mình không đập:
cái mặt.
Mình:
rửa.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 871
Tương tự,
thấy mình sai:
không cần:
“Tôi tệ quá.”
Mà:
“CHỖ NÀY SAI – SỬA.”
Đó mới là:
phản tỉnh có trí.
16. GƯƠNG KHÔNG ĐỔ LỖI
Một cái gương không nói:
“Tại người kia nên mặt bạn bẩn.”
Nó chỉ:
cho thấy.
Tu cũng vậy.
Người kia có thể:
tạo duyên.
Nhưng cuối cùng phải nhìn:
“TÔI ĐANG LÀM GÌ?”
Đây là tinh thần rất quan trọng của MN 61.
17. GIAI ĐOẠN MỘT
TRƯỚC KHI LÀM – SOI Ý ĐỊNH
Đức Phật dạy Rāhula rằng trước khi muốn làm một thân hành,
phải phản tỉnh:
“Thân nghiệp này ta muốn làm có thể đưa đến tự hại, hại người hay hại cả hai hay không?”
Nếu có:
không nên làm.
Nếu không đưa đến tổn hại và là thiện:
có thể làm. (Access to Insight)
Đây là:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 872
PHÒNG NGHIỆP TRƯỚC KHI NGHIỆP XẢY RA.
18. VÍ DỤ 1 – TRƯỚC KHI GỬI MỘT TIN NHẮN TRONG CƠN SÂN
Tin nhắn đã viết xong.
Ngón tay sắp:
gửi.
Hãy dừng.
Hỏi:
“Câu này có làm mình hối không?”
“Có làm người kia đau không?”
“Có làm cả hai khổ thêm không?”
Nếu câu trả lời là:
có,
ĐỪNG GỬI.
Đó chính là MN 61 giữa đời sống hiện đại.
19. VÍ DỤ 2 – TRƯỚC KHI NÓI DỐI
Mình sắp nói một câu không thật để:
được lợi.
Trước khi nói:
soi.
“Nếu lời này bị biết, hậu quả gì?”
“Tôi đang làm hại niềm tin của ai?”
“Tâm mình sau đó có yên không?”
Nếu thấy:
bất thiện,
DỪNG.
20. VÍ DỤ 3 – TRƯỚC KHI MUA MỘT MÓN VƯỢT KHẢ NĂNG
Đây không phải nguyên văn tình huống trong kinh,
mà là:
ứng dụng.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 873
Trước khi bấm mua,
hỏi:
“Việc này có làm mình mắc nợ và khổ lâu không?”
“Có ảnh hưởng gia đình không?”
Như vậy phản tỉnh không chỉ áp dụng:
việc đạo đức lớn.
Mà cả:
những quyết định đời thường.
21. VÍ DỤ 4 – TRƯỚC KHI KỂ CHUYỆN RIÊNG CỦA NGƯỜI KHÁC
Chuyện rất hấp dẫn.
Mọi người đang chờ nghe.
Nhưng hãy hỏi:
“Nếu người ấy biết mình kể, họ có đau không?”
“Việc kể này có lợi ích thật không?”
Nếu chỉ để:
vui miệng,
hãy:
DỪNG.
22. GIAI ĐOẠN HAI
ĐANG KHI LÀM – TIẾP TỤC SOI
Đây là phần cực hay.
Đức Phật không nói:
“Đã quyết định rồi thì cứ làm.”
Không.
Trong lúc đang làm,
nếu phát hiện hành động ấy đang gây:
khổ cho mình,
cho người,
hay cả hai,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 874
thì phải:
DỪNG LẠI.
(Access to Insight)
Điều này nghĩa là:
QUYẾT ĐỊNH BAN ĐẦU CÓ THỂ ĐƯỢC SỬA.
23. VÍ DỤ 5 – ĐANG TRANH LUẬN THÌ NHẬN RA MÌNH ĐÃ CHUYỂN TỪ GIẢI QUYẾT SANG HƠN THUA
Ban đầu:
muốn nói rõ.
Sau vài phút:
giọng cao.
muốn thắng.
muốn làm người kia câm.
Đó là lúc:
SOI GIỮA HÀNH ĐỘNG.
Có thể nói:
“Tôi đang nóng. Mình dừng ở đây.”
Không cần:
cãi cho tới cùng.
24. VÍ DỤ 6 – ĐANG NÓI CHUYỆN THÌ THẤY NGƯỜI KIA ĐAU
Mình đang góp ý.
Ban đầu nghĩ:
tốt.
Nhưng nhìn người kia:
đang bị làm nhục.
Nếu mục tiêu ban đầu là:
giúp,
thì phải:
đổi cách.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 875
Đang làm không tốt:
SỬA NGAY.
Đó là phản tỉnh sống.
25. VÍ DỤ 7 – ĐANG LÀM VIỆC THIỆN NHƯNG CÁI TÔI BẮT ĐẦU LỚN
Ban đầu:
giúp người.
Sau đó:
mong họ nhớ ơn.
Muốn mọi người biết.
Thấy vậy:
không cần bỏ thiện sự.
Nhưng phải:
SỬA TÂM.
Đang làm:
vẫn soi.
26. VÍ DỤ 8 – ĐANG LIVESTREAM THÌ GẶP MỘT NGƯỜI KHIÊU KHÍCH
Ban đầu:
trả lời Pháp.
Nhưng vài câu sau:
tâm muốn chứng minh.
Đó là lúc phải nhận:
“Tôi đang bị kéo.”
Có thể:
dừng trả lời.
chuyển chủ đề.
đưa nguồn.
Không để:
một người
kéo toàn bộ buổi nói chuyện vào:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 876
sân.
27. GIAI ĐOẠN BA
SAU KHI LÀM – SOI KẾT QUẢ
Đây là phần rất quan trọng.
Làm xong:
không phải hết.
Đức Phật dạy Rāhula phải nhìn lại:
hành động vừa làm có gây hại cho mình, cho người hay cho cả hai không? (Access to Insight)
Nếu không hại,
là thiện,
có thể:
hoan hỷ và tiếp tục tu tập.
Nếu phát hiện hành động bằng thân hoặc lời là bất thiện:
phải:
nhận lỗi,
bày tỏ,
sám hối đúng cách
và tự phòng hộ để không tái phạm. (Access to Insight)
28. SAU KHI LÀM SAI – KHÔNG CHE
Đây là điểm rất đẹp.
Đức Phật không dạy:
“Người tu không bao giờ được sai.”
Ngài dạy:
nếu sai:
NHẬN.
BÀY TỎ.
SỬA.
PHÒNG HỘ VỀ SAU.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 877
Đây là con đường của:
người thật.
29. VÍ DỤ 9 – NÓI NẶNG XONG MỚI THẤY SAI
Đừng nói:
“Thôi nói rồi.”
Hãy:
xin lỗi.
Nhận đúng phần mình.
Không nói:
“Tôi xin lỗi nhưng tại bạn…”
Một lời xin lỗi đúng là:
THẤY LỖI MÌNH.
30. VÍ DỤ 10 – ĐĂNG MỘT THÔNG TIN SAI
Phát hiện:
nguồn sai.
Đừng:
xóa lặng lẽ rồi coi như chưa có.
Nếu nhiều người đã đọc,
nên:
ĐÍNH CHÍNH.
Đây là cách áp dụng tinh thần:
sau khi làm – soi và sửa.
31. VÍ DỤ 11 – ĐẦU TƯ XONG MỚI NHẬN RA MÌNH QUÁ THAM
Không cần:
tự hành hạ.
Nhưng phải nhìn:
“Tôi đã bỏ qua dấu hiệu gì?”
“Tôi có tin vì muốn lời nhanh không?”
Một lỗi nếu được:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 878
phản tỉnh đúng
có thể thành:
BÀI HỌC.
Nếu không soi,
nó rất dễ:
lặp.
32. VÍ DỤ 12 – LÀM VIỆC TỐT VÀ THẤY KẾT QUẢ TỐT
Không phải soi chỉ để:
bắt lỗi.
Nếu một hành động:
không hại,
có lợi,
thuộc thiện,
thì Đức Phật dạy có thể:
hoan hỷ
và tiếp tục:
tu tập điều lành. (Access to Insight)
Đây là điểm quan trọng.
Gương không chỉ cho thấy:
vết bẩn.
Cũng cho thấy:
CHỖ ĐANG SẠCH.
33. PHẢN TỈNH THÂN NGHIỆP
Trước khi thân làm:
hỏi:
Có hại không?
Đang làm:
hỏi:
Có đang gây hại không?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 879
Sau khi làm:
hỏi:
Kết quả ra sao?
Công thức:
TRƯỚC – TRONG – SAU.
34. PHẢN TỈNH KHẨU NGHIỆP
Trước khi nói:
Câu này có thật không?
Có hại không?
Đang nói:
Giọng mình có chuyển thành sân không?
Sau khi nói:
Người kia hiểu hơn hay tổn thương hơn?
Đây là cách:
ĐƯA CHÁNH NIỆM VÀO MIỆNG.
35. PHẢN TỈNH Ý NGHIỆP
Ý rất khó vì:
không ai ngoài mình thấy.
Nhưng chính vì vậy:
càng phải soi.
Một ý nghĩ sinh:
“Tôi muốn họ đau.”
Biết:
ý hại.
Một ý nghĩ sinh:
“Tôi muốn lấy phần không thuộc về mình.”
Biết:
tham.
Không nhất thiết làm theo.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 880
Đó là:
SOI NGHIỆP TỪ GỐC.
36. ĐIỂM ĐẶC BIỆT VỚI Ý NGHIỆP
Trong MN 61, với hành động tâm bất thiện đã xảy ra, Đức Phật hướng Rāhula tới việc cảm thấy hổ thẹn, ghê sợ điều bất thiện và phòng hộ trong tương lai; với tâm hành thiện, vị ấy có thể sống hoan hỷ và tiếp tục tu tập. (Access to Insight)
Ý nghĩa thực hành:
THẤY Ý XẤU – KHÔNG NUÔI.
THẤY Ý TỐT – NUÔI LỚN.
37. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ GÌ?
Kính thưa quý vị,
bài kinh này dạy một điều cực kỳ thực tế:
ĐỜI SỐNG ĐẠO ĐỨC KHÔNG PHẢI CHỜ TỚI KHI LÀM XONG MỚI BIẾT.
Mình có ba cơ hội:
CƠ HỘI THỨ NHẤT – TRƯỚC KHI LÀM.
Có thể không tạo nghiệp xấu.
CƠ HỘI THỨ HAI – ĐANG KHI LÀM.
Có thể dừng giữa đường.
CƠ HỘI THỨ BA – SAU KHI LÀM.
Có thể nhận lỗi, sửa và không lặp.
Như vậy:
LÚC NÀO CŨNG CÒN CỬA ĐỂ TU.
38. NGƯỜI CÓ TRÍ KHÔNG PHẢI NGƯỜI CHƯA TỪNG SAI
Người có trí là người:
sai sớm thì:
dừng sớm.
Sai rồi thì:
nhận.
Nhận rồi:
sửa.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 881
Sửa rồi:
học.
Đáng sợ không phải:
TỪNG SAI.
Mà là:
SAI – KHÔNG SOI – KHÔNG NHẬN – CỨ LẶP.
39. TẠI SAO ĐỨC PHẬT DẠY RĀHULA VỀ NÓI DỐI TRƯỚC?
Bởi nếu một người không:
trung thực với chính sự thật,
thì rất khó:
phản tỉnh đúng.
Nếu mình sai
nhưng cứ tự nói:
“Tôi đúng,”
thì gương có ở trước mặt:
mình cũng không chịu nhìn.
Vì vậy chân thật là:
NỀN CỦA PHẢN TỈNH.
MN 61 mở đầu bằng lời nhắc rất mạnh rằng Rāhula phải không nói dối có chủ ý, ngay cả nói đùa. (Access to Insight)
40. NÓI DỐI VỚI NGƯỜI ĐÃ NGUY HIỂM – NÓI DỐI VỚI CHÍNH MÌNH CÒN NGUY HIỂM HƠN
Mình nói:
“Tôi đâu có sân.”
nhưng đang sân.
“Tôi làm vì người khác.”
nhưng thật ra muốn danh.
“Tôi cần món này.”
nhưng thật ra chỉ muốn hơn người.
Nếu không thật với mình:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 882
khó tu.
Cho nên phản tỉnh bắt đầu bằng:
DÁM NHÌN SỰ THẬT.
41. VÍ DỤ 13 – “TÔI CHỈ NÓI THẲNG”
Có khi:
thật.
Có khi:
sân đội áo:
thẳng tính.
Soi trước:
“Tôi muốn giúp hay muốn làm họ đau?”
Soi trong:
“Giọng mình đang thế nào?”
Soi sau:
“Lời ấy tạo lợi ích gì?”
Đây là MN 61.
42. VÍ DỤ 14 – “TÔI LÀM VÌ THƯƠNG”
Cha mẹ kiểm soát con.
Nói:
“Vì thương.”
Nhưng hãy soi:
con có đang:
nghẹt thở?
sợ?
mất tự chủ?
Có khi tình thương đang trộn:
CHẤP.
Soi giúp tình thương:
sạch hơn.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 883
43. VÍ DỤ 15 – “TÔI GIÚP NGƯỜI”
Giúp.
Nhưng sau đó:
đòi họ phải nghe mình.
Nếu không nghe:
giận.
Soi lại mới thấy:
thiện sự đang trộn:
SỞ HỮU.
Như vậy sau khi làm vẫn:
còn bài học.
44. VÍ DỤ 16 – “TÔI TU ĐỂ BÌNH AN”
Nếu bình an chỉ khi:
không ai trái ý,
thì cần soi.
Tu có thể đang trở thành:
một cách tìm:
cảm giác dễ chịu
hơn là:
chuyển hóa tham sân si.
Gương Pháp giúp mình:
nhìn đúng động cơ.
45. PHẢN TỈNH KHÔNG PHẢI NGHĨ ĐI NGHĨ LẠI ĐẾN ÁM ẢNH
Điều này phải phân biệt.
Phản tỉnh là:
THẤY → HIỂU → SỬA → ĐI TIẾP.
Không phải:
THẤY → TỰ MẮNG → NHỚ LẠI → TỰ MẮNG TIẾP.
Một bên:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 884
có trí.
Một bên:
tự hành hạ.
Phật pháp dùng lỗi để:
học.
Không dùng lỗi để:
đóng đinh con người.
46. PHẢN TỈNH KHÔNG PHẢI CHỈ SOI SAU MỖI VIỆC LỚN
Có thể tập với:
một câu nói.
một tin nhắn.
một khoản chi.
một quyết định.
một lời hứa.
một lần nổi sân.
một việc thiện.
Càng tập với việc nhỏ,
càng dễ:
dừng được việc lớn.
47. CÔNG THỨC THỨ NHẤT
TRƯỚC – TRONG – SAU
TRƯỚC
VIỆC NÀY CÓ HẠI KHÔNG?
TRONG
NÓ CÓ ĐANG GÂY HẠI KHÔNG?
SAU
KẾT QUẢ LÀ GÌ?
Công thức:
TRƯỚC → TRONG → SAU.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 885
48. CÔNG THỨC THỨ HAI
MÌNH – NGƯỜI – CẢ HAI
Trước một hành động:
hỏi:
HẠI MÌNH KHÔNG?
HẠI NGƯỜI KHÔNG?
HẠI CẢ HAI KHÔNG?
Nếu có:
DỪNG.
Đây là một công thức sát tinh thần MN 61. (Access to Insight)
49. CÔNG THỨC THỨ BA
THÂN – KHẨU – Ý
Mỗi tối kiểm:
THÂN
Tôi đã làm gì?
KHẨU
Tôi đã nói gì?
Ý
Tôi đã nuôi gì?
Ba cửa này là:
BA CỬA ĐỂ SOI NGHIỆP.
50. CÔNG THỨC THỨ TƯ
SAI – NHẬN – SỬA – PHÒNG
Nếu phát hiện sai:
NHẬN.
Không chống chế.
SỬA.
Làm điều có thể sửa.
PHÒNG.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 886
Không để lặp.
Công thức:
SAI → NHẬN → SỬA → PHÒNG.
51. CÔNG THỨC THỨ NĂM
ĐÚNG – HOAN HỶ – TIẾP TỤC
Nếu kiểm lại thấy:
việc ấy:
không hại.
là thiện.
có lợi,
thì:
HOAN HỶ.
Và:
TIẾP TỤC NUÔI.
Không chỉ săn lỗi.
Phải biết:
nuôi phần tốt.
52. CÔNG THỨC THỨ SÁU
GƯƠNG KHÔNG ĐÁNH – GƯƠNG CHỈ CHO THẤY
Câu này rất dễ nhớ:
THẤY LỖI – KHÔNG GHÉT MÌNH.
THẤY ĐÚNG – KHÔNG KIÊU.
CHỈ THẤY ĐỂ SỬA.
Đó là phản tỉnh có trí.
53. ỨNG DỤNG 1 – QUY TẮC MƯỜI GIÂY TRƯỚC LỜI NẶNG
Khi sắp nói:
dừng mười giây.
Hỏi:
“Câu này có thật không?”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 887
“Có cần không?”
“Có làm khổ không?”
Nếu chỉ để:
xả sân,
KHÔNG NÓI.
54. ỨNG DỤNG 2 – VIẾT XONG TIN NHẮN, ĐỌC LẠI MỘT LẦN
Đặc biệt khi:
giận.
Đọc như thể:
mình là người nhận.
Hỏi:
“Mục đích của tôi là giải quyết hay làm đau?”
Đây là:
soi trước khi khẩu nghiệp phát ra.
55. ỨNG DỤNG 3 – ĐANG CÃI THÌ KIỂM THÂN
Mặt nóng?
tim nhanh?
giọng lớn?
Nếu có:
có thể tâm đang:
mất tự chủ.
Dừng.
Không cần chờ:
nói câu không lấy lại được.
56. ỨNG DỤNG 4 – SAU MỘT BUỔI LIVESTREAM
Không chỉ nhìn:
bao nhiêu người xem.
Hỏi thêm:
Tôi có nói câu nào thiếu nguồn không?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 888
Có câu nào vì sân không?
Có chỗ nào cái tôi lớn không?
Có phần nào giúp người thật không?
Đây là:
soi Pháp,
không chỉ soi số liệu.
57. ỨNG DỤNG 5 – SAU MỖI QUYẾT ĐỊNH LỚN
Không chỉ hỏi:
“Tôi lời hay lỗ?”
Hỏi:
“Quyết định ấy làm tâm mình thành người thế nào?”
“Có ai bị hại không?”
Đây là:
đạo đức đi cùng trí.
58. ỨNG DỤNG 6 – VỚI TRẺ EM
Thay vì chỉ hỏi trẻ:
“Con làm sai chưa?”
có thể dạy:
“Trước khi làm, con nghĩ hậu quả.”
“Đang làm thấy không ổn thì dừng.”
“Làm xong nếu sai thì nhận và sửa.”
Đó là cách dạy:
TRÁCH NHIỆM.
Không chỉ:
sợ phạt.
59. ỨNG DỤNG 7 – VỚI NGƯỜI TU
Mỗi ngày có thể soi:
Hôm nay tôi sống có đúng giới không?
Lời nói có làm ai tổn thương không?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 889
Có tham lợi dưỡng không?
Có mạn không?
Không phải để:
tự cao vì mình tu.
Mà để:
GIỮ ĐỜI SỐNG PHẠM HẠNH.
60. BÀI THỰC HÀNH MỘT NGÀY
Hôm nay chọn:
MỘT LỜI NÓI.
Trước khi nói:
soi.
Đang nói:
soi.
Sau khi nói:
soi.
Chỉ một câu thôi.
Cuối ngày hỏi:
“Nếu tôi dùng cách này với mọi lời nói, đời mình sẽ thay đổi thế nào?”
61. BÀI THỰC HÀNH BẢY NGÀY
NGÀY 1 – SOI THÂN TRƯỚC KHI LÀM
Dừng trước một hành động bốc đồng.
NGÀY 2 – SOI LỜI TRƯỚC KHI NÓI
Không nói một câu chỉ để làm đau.
NGÀY 3 – SOI Ý
Bắt một ý hại ngay khi mới sinh.
NGÀY 4 – SOI TRONG KHI LÀM
Đang làm mà thấy bất thiện:
dừng.
NGÀY 5 – SOI SAU KHI LÀM
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 890
Nhận một lỗi thật.
NGÀY 6 – SỬA
Xin lỗi, đính chính hoặc sửa một việc có thể sửa.
NGÀY 7 – HOAN HỶ VỚI THIỆN
Nhìn lại một việc tốt mình đã làm đúng và phát nguyện tiếp tục.
62. THỰC HÀNH BUỔI SÁNG
Có thể đọc:
Hôm nay tôi tập soi thân, khẩu và ý như soi gương.
Trước khi làm, tôi xét hậu quả.
Đang làm, tôi tiếp tục tỉnh.
Làm xong, tôi nhìn lại.
Điều bất thiện, tôi dừng.
Điều sai, tôi nhận và sửa.
Điều thiện, tôi hoan hỷ và tiếp tục.
Tôi không dùng phản tỉnh để tự ghét; tôi dùng phản tỉnh để trưởng thành.
63. THỰC HÀNH BUỔI TỐI
Trước khi ngủ hỏi:
Hôm nay thân tôi đã làm gì?
Lời tôi đã làm ai nhẹ hay nặng?
Ý tôi đã nuôi tham, sân hay từ?
Có việc nào tôi biết không tốt nhưng vẫn làm không?
Tôi có dừng được việc gì khi đang làm không?
Có lỗi nào cần xin lỗi hoặc đính chính không?
Có thiện pháp nào hôm nay đáng được tiếp tục ngày mai không?
64. CÂU GHI NHỚ THỨ NHẤT
Người biết soi mình trước khi làm sẽ bớt phải hối tiếc sau khi làm.
65. CÂU GHI NHỚ THỨ HAI
Một quyết định đã bắt đầu vẫn có thể dừng nếu trong lúc làm mình nhận ra nó đang gây hại.
66. CÂU GHI NHỚ THỨ BA
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 891
Sai rồi mà nhận được lỗi thì lỗi có thể trở thành bài học; sai rồi mà che thì lỗi rất dễ thành thói quen.
67. CÂU GHI NHỚ THỨ TƯ
Gương không làm mình sạch; thấy rồi mình phải tự rửa. Phản tỉnh cũng vậy.
68. CÂU GHI NHỚ THỨ NĂM
Tu không phải chỉ nhìn điều người khác làm sai; tu là đủ can đảm quay gương về phía mình.
69. CÂU GHI NHỚ THỨ SÁU
Trước khi miệng làm người khác đau, thường đã có một ý trong tâm xin phép cho câu ấy đi ra. Hãy nhìn ngay chỗ đó.
70. CÂU GHI NHỚ THỨ BẢY
Không phải mọi điều mình định làm đều phải làm đến cùng; thấy sai giữa đường thì dừng chính là trí.
71. CÂU GHI NHỚ THỨ TÁM
Phản tỉnh không phải ngồi nghiền nát lỗi cũ; phản tỉnh là hiểu lỗi để lỗi không phải lặp lại.
72. CÂU GHI NHỚ THỨ CHÍN
Chân thật với người là quý; chân thật với chính động cơ của mình còn khó hơn.
73. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI
Một việc thiện cũng nên soi để xem trong đó có đang lẫn tham danh, chấp công hay mong được trả ơn không.
74. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI MỘT
Người tu không sợ thấy lỗi; người tu chỉ nên sợ thấy lỗi mà không chịu sửa.
75. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI HAI
Ba thời điểm cứu mình khỏi nghiệp bất thiện là: trước khi làm, đang khi làm và sau khi làm.
76. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
TRƯỚC KHI LÀM – SOI.
Hỏi:
CÓ HẠI MÌNH KHÔNG?
CÓ HẠI NGƯỜI KHÔNG?
CÓ HẠI CẢ HAI KHÔNG?
Nếu có:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 892
KHÔNG LÀM.
ĐANG KHI LÀM – SOI.
Nếu nhận ra:
đang gây hại,
DỪNG.
SAU KHI LÀM – SOI.
Nếu bất thiện:
NHẬN → SỬA → PHÒNG HỘ KHÔNG LẶP.
Nếu thiện:
HOAN HỶ → TIẾP TỤC NUÔI LỚN.
Và nhớ ba cửa:
THÂN.
KHẨU.
Ý.
Đức Phật dạy Rāhula dùng sự phản tỉnh nhiều lần đối với cả ba loại hành động, giống như người ta dùng gương để soi. (Access to Insight)
Nguồn: Kinh Giáo Giới La-hầu-la ở Ambalaṭṭhikā – Ambalaṭṭhikarāhulovāda Sutta; Trung Bộ Kinh – Majjhima Nikāya; kinh số 61; mã tra cứu quốc tế MN 61; bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu; nguyên bản Kinh tạng Pāli. (SuttaCentral)
77. CÂU HỎI LIVESTREAM
1. Quý vị thường soi lỗi mình trước khi làm hay chỉ sau khi đã xảy ra chuyện?
2. Có bao giờ chỉ cần dừng mười giây trước một câu nói là quý vị đã tránh được một cuộc cãi rất lớn không?
3. Theo quý vị, tại sao Đức Phật lại dùng hình ảnh cái gương để dạy Rāhula?
4. Một người luôn thấy lỗi người khác nhưng không nhìn thân, khẩu, ý mình thì đã thật sự phản tỉnh chưa?
5. Có việc nào quý vị từng bắt đầu nhưng giữa chừng nhận ra sai và đủ can đảm dừng lại không?
6. Theo quý vị, dừng giữa đường vì nhận ra sai là thất bại hay là trí tuệ?
7. Có lời nào quý vị từng nói xong rồi ước gì mình đã soi trước khi nói không?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 893
8. Khi một việc có lợi cho mình nhưng làm người khác khổ, mình nên xét thế nào theo tinh thần MN 61?
9. Có bao giờ mình làm việc thiện nhưng sau đó phát hiện mình đang mong người khác biết ơn không?
10. Khi phát hiện sai, điều gì khó hơn: nhận lỗi hay sửa lỗi?
11. Tại sao người không chân thật với chính mình lại khó tu phản tỉnh?
12. Theo quý vị, xin lỗi có phải là một phần của sự phản tỉnh sau hành động không?
13. Một người nói “tôi chỉ nói thật” nhưng lời ấy đầy ý muốn làm đau người khác thì nên soi phần nào?
14. Mỗi tối nếu chỉ soi ba cửa thân – khẩu – ý, quý vị nghĩ đời sống sau một năm có khác không?
15. Phản tỉnh khác tự trách mình ở điểm nào?
16. Nếu một việc thiện không hại mình, không hại người và có lợi ích, có nên biết hoan hỷ với nó không?
17. Nếu hôm nay chỉ nhớ một công thức, quý vị có thể nhớ: “Trước – Trong – Sau” không?
18. Và nếu thêm một công thức nữa: “Sai – Nhận – Sửa – Phòng”, quý vị có thấy dễ áp dụng không?
78. CÂU KẾT ĐỂ ĐỌC TRÊN LIVESTREAM
Kính thưa quý vị,
mỗi ngày mình soi gương:
có khi vài lần.
Ra ngoài:
soi.
Đi làm:
soi.
Lên hình:
soi.
Nhưng có một cái gương quan trọng hơn rất nhiều:
GƯƠNG SOI THÂN – KHẨU – Ý.
Đức Phật hỏi Rāhula:
“Cái gương dùng để làm gì?”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 894
Rāhula thưa:
“Dùng để phản tỉnh.”
Và Đức Phật dạy:
thân nghiệp,
khẩu nghiệp,
ý nghiệp
đều phải:
PHẢN TỈNH NHIỀU LẦN.
Không phải chỉ:
làm xong mới hối.
Mà:
TRƯỚC KHI LÀM – SOI.
Nếu việc này:
hại mình,
hại người,
hại cả hai,
đừng làm.
ĐANG KHI LÀM – SOI.
Nếu ban đầu tưởng đúng
nhưng đang làm mới thấy:
gây hại,
thì:
dừng.
Không cần vì sĩ diện mà:
sai tới cùng.
SAU KHI LÀM – SOI.
Nếu đúng:
hoan hỷ.
Tiếp tục.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 895
Nếu sai:
nhận.
sửa.
học.
phòng hộ để:
không lặp.
Đây là một pháp tu rất gần.
Không cần đợi:
lên thiền đường.
Ngay lúc sắp gửi một tin nhắn:
tu được.
Ngay lúc đang cãi:
tu được.
Ngay sau một lời lỡ nói:
tu được.
Ngay khi nhận ra:
“Tôi đang muốn thắng hơn là muốn hiểu,”
tu được.
Cho nên xin nhớ:
NGƯỜI TU KHÔNG PHẢI NGƯỜI CHƯA BAO GIỜ SAI.
Mà là người:
NGÀY CÀNG THẤY SAI SỚM HƠN.
DỪNG SỚM HƠN.
NHẬN NHANH HƠN.
SỬA THẬT HƠN.
Và xin mang theo hai công thức:
TRƯỚC → TRONG → SAU.
và:
SAI → NHẬN → SỬA → PHÒNG.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 896
Nếu một ngày mình soi được như vậy,
thì cái gương ngoài kia chỉ giúp:
sửa khuôn mặt.
Còn cái gương Pháp này giúp:
SỬA CẢ CÁCH MÌNH SỐNG.
Nguồn: Kinh Giáo Giới La-hầu-la ở Ambalaṭṭhikā – Ambalaṭṭhikarāhulovāda Sutta, Trung Bộ Kinh – Majjhima Nikāya, MN 61, bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, nguyên bản Kinh tạng Pāli. (SuttaCentral)
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 897
MỤC 033 - Bài 033 — TÂM TỪ VÔ LƯỢNG – KHÔNG LỪA DỐI, KHÔNG KHINH THƯỜNG, KHÔNG MONG AI KHỔ 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
Đức Phật dạy:
“Mong rằng tất cả chúng sanh Được an lạc, an ổn, Mong rằng tâm chúng được hạnh phúc.”
Ngài lại dạy:
“Chớ có lường gạt người, Chớ có khinh miệt ai Tại bất cứ chỗ nào. Chớ vì giận hờn nhau, Chớ vì tưởng chống đối, Lại mong muốn cho nhau Phải chịu cảnh khổ đau.”
Và Đức Phật dạy tiếp:
“Như tấm lòng người mẹ Đối với con của mình, Trọn đời lo che chở Con độc nhất mình sanh, Cũng vậy đối tất cả Các hữu tình chúng sanh, Hãy tu tập tâm ý Không hạn lượng, rộng lớn.”
Đây là những lời trọng tâm của Kinh Từ Bi – Mettā Sutta, thuộc Kinh Tập – Sutta Nipāta 1.8, đồng thời cũng được truyền trong Tiểu Tụng – Khuddakapāṭha 9. Bản Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu có đầy đủ các đoạn về không lừa dối, không khinh miệt, không mong người khác khổ và tu tập tâm từ vô lượng. (SuttaCentral)
2. NGUỒN KINH
Tên kinh tiếng Việt: Kinh Từ Bi
Tên Pāli: Mettā Sutta hoặc thường gọi Karaṇīya Mettā Sutta
Thuộc: Kinh Tập – Sutta Nipāta
Phẩm: Phẩm Rắn – Uragavagga
Số kinh: Kinh số 8 của phẩm thứ nhất
Mã tra cứu quốc tế: Snp 1.8
Các kệ tương ứng trên SuttaCentral: bắt đầu từ khoảng kệ 143 trở đi
Bản kinh song song: Khuddakapāṭha 9 – Kp 9, Tiểu Tụng
Thuộc bộ lớn: Tiểu Bộ Kinh – Khuddaka Nikāya
Bản dịch tiếng Việt: Hòa thượng Thích Minh Châu
Nguyên bản: Kinh tạng Pāli
SuttaCentral xác nhận Snp 1.8 – Mettāsutta và Kp 9 – Mettāsutta là hai bản truyền của bài kinh này; bản Việt Hòa thượng Thích Minh Châu được lưu ở cả hai mã. (SuttaCentral)
Khi cần trả lời thật ngắn:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 898
“Đây là Kinh Từ Bi – Mettā Sutta, Kinh Tập – Sutta Nipāta, phẩm thứ nhất, kinh số 8, mã quốc tế Snp 1.8; đồng thời có bản song song ở Tiểu Tụng, Kp 9; bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, nguyên bản Kinh tạng Pāli.”
3. BỐI CẢNH VÀ Ý CHÍNH CỦA BÀI KINH
Kinh Từ Bi không chỉ dạy:
“Hãy thương mọi người.”
Bài kinh còn chỉ rất rõ người muốn tu tập tâm từ phải xây nền từ:
sống có khả năng.
ngay thẳng.
chân thật.
dễ dạy.
nhu hòa.
biết đủ.
sống giản dị.
các căn an tịnh.
khôn ngoan.
không làm điều mà người trí quở trách. (SuttaCentral)
Sau nền đạo đức ấy,
Đức Phật mới đưa tâm ra:
TẤT CẢ CHÚNG SANH.
Không phân biệt:
mạnh hay yếu.
lớn hay nhỏ.
thấy được hay không thấy được.
ở gần hay ở xa.
đã sanh hay đang tìm chỗ sanh.
Rồi Ngài dạy:
KHÔNG LỪA.
KHÔNG KHINH.
KHÔNG VÌ GIẬN MÀ MONG NGƯỜI KHÁC KHỔ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 899
Sau đó mới đưa tới hình ảnh:
TÂM NGƯỜI MẸ BẢO VỆ ĐỨA CON ĐỘC NHẤT.
Và mở tâm ấy:
KHÔNG HẠN LƯỢNG.
Đây là một lộ trình rất rõ. (SuttaCentral)
4. TỪ KHÓA VIỆT – PĀLI – NGHĨA
TÂM TỪ – METTĀ – LÒNG THIỆN Ý, MONG CHÚNG SANH ĐƯỢC AN LẠC
Mettā thường được dịch là:
từ.
từ tâm.
tâm từ.
lòng từ ái.
Ý căn bản là:
MONG CHÚNG SANH ĐƯỢC AN LẠC.
Không phải:
chiếm hữu.
Không phải:
thích riêng một người.
Không phải:
đòi người khác đáp lại.
Tâm từ không nói:
“Tôi thương anh nên anh phải thương lại tôi.”
Tâm từ nói:
“MONG NGƯỜI NÀY KHÔNG KHỔ.”
Đó là khác biệt rất lớn.
5. AN LẠC – SUKHITATTA – ĐƯỢC HẠNH PHÚC, ĐƯỢC AN ỔN
Một lời nguyện nổi bật trong kinh là:
“Mong tất cả chúng sanh được an lạc.”
Không chỉ:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 900
người mình thương.
Không chỉ:
người cùng quan điểm.
Không chỉ:
người đối xử tốt với mình.
Mà:
TẤT CẢ.
Đây là chỗ tâm từ vượt khỏi:
tình cảm có điều kiện.
6. TẤT CẢ CHÚNG SANH – SABBE SATTĀ – MỌI HỮU TÌNH
Sabbe là:
tất cả.
Sattā là:
chúng sanh,
hữu tình.
Chữ:
TẤT CẢ
rất quan trọng.
Nếu mình nói:
“Tôi có tâm từ với người tốt thôi.”
thì tâm ấy vẫn còn:
phân loại rất mạnh.
Bài kinh mở rộng tới:
cả người mình chưa từng gặp.
7. KHÔNG LỪA DỐI – NA PARO PARAṂ NIKUBBETHA – ĐỪNG LỪA GẠT NHAU
Tâm từ không chỉ là:
ngồi niệm.
Nếu miệng nói:
“Mong mọi người an lạc,”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 901
nhưng đời sống:
lừa người,
thì lời và hành:
không gặp nhau.
Cho nên kinh dạy rất cụ thể:
ĐỪNG LỪA DỐI.
Tâm từ phải đi ra:
đạo đức.
8. KHÔNG KHINH MIỆT – NĀTIMAÑÑETHA – ĐỪNG XEM THƯỜNG NGƯỜI KHÁC
Một người nghèo:
không đáng khinh.
Một người học ít:
không đáng khinh.
Một người đang sai:
cần được sửa,
nhưng không cần:
bị hạ nhục.
Tâm từ không thể lớn nếu:
cái mạn cứ lớn.
Cho nên:
MUỐN TỪ – PHẢI BỚT KHINH.
9. GIẬN HỜN – BYĀROSA – BẤT MÃN, SÂN HẬN
Bài kinh nhìn thẳng vào:
SÂN.
Không giả vờ rằng:
người tu không bao giờ giận.
Nhưng khi giận,
đừng đi tiếp tới:
MONG NGƯỜI KHÁC KHỔ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 902
Đó là ranh giới cực kỳ quan trọng.
10. MONG NGƯỜI KHÁC KHỔ – NĀÑÑAMAÑÑASSA DUKKHAMICCHEYYA – ĐỪNG MUỐN ĐAU KHỔ CHO NHAU
Đây là một trong những câu rất mạnh của bài kinh.
Có khi mình không:
đánh.
không chửi.
Nhưng trong đầu:
“Mong họ thất bại.”
“Mong họ bị như tôi.”
“Mong họ khổ mới biết.”
Đó là:
ý hại.
Tâm từ đi ngược lại:
KHÔNG MUỐN KHỔ CHO NGƯỜI.
Ngay cả khi mình:
không đồng ý.
11. NGƯỜI MẸ – MĀTĀ – HÌNH ẢNH TÌNH THƯƠNG BẢO HỘ
Đức Phật dùng hình ảnh:
NGƯỜI MẸ BẢO VỆ ĐỨA CON ĐỘC NHẤT.
Không phải để nói:
mình phải có tình cảm giống hệt mẹ con đối với từng người.
Mà để chỉ:
MỨC ĐỘ KHÔNG HẠI VÀ Ý MUỐN BẢO HỘ.
Người mẹ trong hình ảnh ấy:
không mong con khổ.
Không muốn con bị hại.
Tâm từ cũng hướng:
như vậy.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 903
12. KHÔNG HẠN LƯỢNG – APPAMĀṆA – KHÔNG ĐO LƯỜNG, KHÔNG GIỚI HẠN
Tâm thường nói:
“Người này đáng thương.”
“Người kia không.”
Nhưng appamāṇa là:
KHÔNG HẠN LƯỢNG.
Không lấy:
thân – sơ,
thích – ghét,
lợi – hại
làm biên giới tuyệt đối cho lòng từ.
13. KHÔNG HẬN, KHÔNG THÙ – AVERA, ASAPATTA – KHÔNG OÁN HẬN, KHÔNG ĐỐI ĐỊCH
Kinh dạy tâm từ được trải:
trên.
dưới.
xung quanh.
không bị ngăn ngại,
không oán,
không thù. (Access to Insight)
Đây là:
TỪ KHÔNG CHỈ Ở MIỆNG.
Mà là:
tâm không muốn biến ai thành:
kẻ phải chịu khổ vì mình.
14. GIẢI CỤM THỨ NHẤT
“MONG TẤT CẢ CHÚNG SANH ĐƯỢC AN LẠC”
Kính thưa quý vị,
câu này nghe:
rất đẹp.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 904
Nhưng nếu thực hành thật,
không dễ.
Mong người thương:
an lạc,
dễ.
Mong người giúp mình:
an lạc,
dễ.
Nhưng người từng:
nói xấu mình?
lừa mình?
làm mình đau?
Tâm có còn nói được:
“Mong họ bớt khổ, bớt tham sân si”
hay không?
Đó mới là:
chỗ tu.
15. TÂM TỪ KHÔNG CÓ NGHĨA PHẢI THÍCH MỌI NGƯỜI
Đây là điều cần phân biệt.
Mình có thể:
không hợp một người.
Không muốn:
sống gần.
Không muốn:
làm việc chung.
Nhưng vẫn có thể:
KHÔNG MUỐN HỌ KHỔ.
Đó là tâm từ.
Từ không nhất thiết là:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 905
gần.
Có lúc từ là:
GIỮ KHOẢNG CÁCH MÀ KHÔNG NUÔI HẬN.
16. TÂM TỪ KHÔNG CÓ NGHĨA TIN MỌI NGƯỜI
Một người đã:
lừa nhiều lần.
Mình không cần:
giao tài sản tiếp.
Một người bạo lực:
mình không cần:
ở gần.
Từ tâm không phải:
NGÂY THƠ.
Có thể:
mong người ấy bớt khổ
nhưng vẫn:
giữ ranh giới.
17. TÂM TỪ KHÔNG CÓ NGHĨA CHẤP NHẬN HÀNH VI SAI
Một người làm việc xấu.
Tâm từ không nói:
“Thôi cứ để họ làm.”
Mà có thể mong:
“MONG HỌ DỪNG ĐIỀU XẤU, VÌ ĐIỀU XẤU ĐANG LÀM KHỔ HỌ VÀ NGƯỜI.”
Từ với:
con người.
Không dung dưỡng:
hành vi bất thiện.
18. VÍ DỤ 1 – NGƯỜI TỪNG NÓI XẤU MÌNH
Tâm bình thường nói:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 906
“Mong họ bị người khác nói lại.”
Tâm từ tập:
“Tôi không đồng ý việc họ làm. Nhưng mong họ bớt sân, bớt tạo khẩu nghiệp.”
Câu thứ hai:
khó hơn.
Nhưng sạch hơn.
19. VÍ DỤ 2 – NGƯỜI CẠNH TRANH VỚI MÌNH
Người kia thành công.
Tâm ganh:
“Mong họ thất bại.”
Tâm từ:
“Mong thành quả chân chánh của họ được tốt; mong tôi cũng biết nỗ lực phần mình.”
Từ tâm cắt:
ganh.
20. VÍ DỤ 3 – NGƯỜI KHÔNG CÙNG QUAN ĐIỂM
Một người bất đồng với mình.
Không cần:
ghét.
Không cần:
hạ nhân phẩm.
Có thể nói:
“Tôi không đồng ý điều ấy.”
Nhưng vẫn giữ:
KHÔNG MONG NGƯỜI ẤY KHỔ.
Đó là:
từ có trí.
21. GIẢI CỤM THỨ HAI
“CHỚ CÓ LƯỜNG GẠT NGƯỜI”
Tâm từ bắt đầu từ:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 907
chân thật.
Nếu mình bán hàng:
không lừa.
Nếu mình nói Pháp:
không gắn nguồn sai.
Nếu mình hứa:
cố giữ.
Nếu không biết:
nói không biết.
Đó là:
TỪ TRONG SỰ CHÂN THẬT.
22. VÍ DỤ 4 – BÁN HÀNG
Biết món hàng có lỗi.
Che lại.
Bán.
Sau đó ngồi niệm:
“Mong chúng sanh an lạc.”
Hai việc đang:
ngược nhau.
Tâm từ phải đi ra:
KHÔNG GÂY HẠI BẰNG SỰ GIAN DỐI.
23. VÍ DỤ 5 – MỘT NGƯỜI HỎI KINH
Không nhớ.
Nếu vì sợ mất mặt mà:
bịa nguồn,
đó không phải:
từ với người nghe.
Bởi người nghe có thể:
học sai.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 908
Từ ở đây là:
“Tôi chưa nhớ chính xác, cần kiểm lại.”
Một câu thật:
có thể là:
MỘT HÀNH ĐỘNG TỪ.
24. GIẢI CỤM THỨ BA
“CHỚ CÓ KHINH MIỆT AI”
Cái mạn thường tìm:
một người thấp hơn.
Người học nhiều:
khinh người học ít.
Người giàu:
khinh người nghèo.
Người tu lâu:
khinh người mới.
Người giữ giới tốt:
khinh người đang yếu.
Nhưng:
KHINH NGƯỜI KHÔNG LÀM MÌNH CAO HƠN.
Nó chỉ làm:
tâm mình cứng hơn.
25. VÍ DỤ 6 – NGƯỜI MỚI HỌC PHẬT HỎI CÂU RẤT CĂN BẢN
Họ hỏi:
“Nghiệp là gì?”
Một người học lâu có thể nghĩ:
“Cái này cũng không biết.”
Nhưng mình cũng từng:
không biết.
Từ tâm nói:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 909
“GIẢI THÍCH CHO HỌ HIỂU.”
Không làm họ:
xấu hổ vì chưa biết.
26. VÍ DỤ 7 – NGƯỜI NGHÈO
Một người có hoàn cảnh khó.
Đừng lập tức:
“Chắc họ lười.”
Mình chưa biết:
đời họ.
Tâm từ không biến:
hoàn cảnh người khác
thành:
lý do để khinh.
27. VÍ DỤ 8 – NGƯỜI ĐANG PHẠM SAI LẦM
Có thể nói:
“Việc này sai.”
Nhưng đừng nói:
“Con người này không còn gì tốt.”
Một hành vi:
không nhất thiết là:
toàn bộ người ấy.
Từ tâm cho người ta:
CỬA SỬA.
28. GIẢI CỤM THỨ TƯ
“CHỚ VÌ GIẬN HỜN MÀ MONG NGƯỜI KHÁC KHỔ”
Đây có lẽ là:
một trong những phần khó nhất.
Khi mình bị đau,
tâm rất dễ muốn:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 910
người kia đau tương đương.
Nhưng Đức Phật chặn ngay chỗ đó:
ĐỪNG MONG KHỔ CHO NHAU.
Không phải vì:
người kia vô tội.
Mà vì:
Ý MUỐN HỌ KHỔ ĐANG LÀM TÂM MÌNH THÀNH SÂN.
29. VÍ DỤ 9 – BỊ PHẢN BỘI
Tâm nói:
“Mong họ bị người khác phản bội.”
Nhưng nếu điều đó xảy ra,
thế gian có thêm:
một người đau.
Tâm từ không cần:
quay lại mối quan hệ.
Chỉ tập:
“Mong họ hiểu hậu quả việc họ làm và không tiếp tục làm người khác đau.”
Đây là:
từ + trí.
30. VÍ DỤ 10 – BỊ LỪA TIỀN
Mình có thể:
đòi lại.
báo cơ quan chức năng.
giữ chứng cứ.
bảo vệ quyền lợi.
Nhưng không nhất thiết:
mỗi ngày ngồi tưởng tượng người kia gặp tai họa.
Từ không làm mình:
mất quyền tự bảo vệ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 911
Nó chỉ giúp:
KHÔNG TỰ ĐỐT TÂM BẰNG HẬN.
31. VÍ DỤ 11 – BỊ BÌNH LUẬN ÁC TRÊN MẠNG
Người kia viết:
một câu rất nặng.
Mình có thể:
xóa.
chặn nếu cần quản trị.
đính chính.
Nhưng đừng:
cầu họ khổ.
Một người đang đầy sân
có khi bản thân họ đã:
khổ.
Từ tâm có thể nghĩ:
“Mong họ bớt sân.”
32. GIẢI CỤM THỨ NĂM
“NHƯ NGƯỜI MẸ BẢO VỆ CON ĐỘC NHẤT”
Đây là hình ảnh:
rất sâu.
Người mẹ chân thật không hỏi:
“Con có trả ơn mẹ không?”
trước khi cứu con.
Đó là:
tâm bảo hộ.
Đức Phật dùng hình ảnh ấy để chỉ:
TÂM KHÔNG HẠI.
Không phải để biến mọi người thành:
người thân riêng của mình.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 912
Mà để mở:
Ý MUỐN CHÚNG SANH ĐƯỢC AN TOÀN.
33. TÂM TỪ KHÔNG PHẢI TÌNH YÊU SỞ HỮU
Tình sở hữu nói:
“Người này là của tôi.”
Từ nói:
“Mong người này được an.”
Sở hữu muốn:
giữ.
Từ muốn:
lợi ích.
Sở hữu dễ sinh:
ghen.
Từ hướng tới:
không hại.
Đây là khác biệt rất quan trọng.
34. VÍ DỤ 12 – CHA MẸ THƯƠNG CON
Thương con không có nghĩa:
điều gì con muốn cũng cho.
Nếu con muốn:
điều hại,
cha mẹ phải:
ngăn.
Tâm từ đôi khi nói:
“KHÔNG.”
Không phải chỉ:
“Được.”
35. VÍ DỤ 13 – THƯƠNG MỘT NGƯỜI ĐANG NGHIỆN
Cho thêm tiền để họ:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 913
tiếp tục nghiện
chưa chắc là:
từ.
Có khi từ là:
giữ tiền.
đưa đi điều trị.
đặt ranh giới.
Tâm từ phải đi với:
TRÍ.
36. GIẢI CỤM THỨ SÁU
“HÃY TU TẬP TÂM Ý KHÔNG HẠN LƯỢNG”
Đây là:
đích thực hành của bài.
Không chỉ đọc:
“Mong chúng sanh an lạc.”
Mà:
TU TẬP.
Lặp lại.
Mở rộng.
Nhìn sân.
Thay ý hại.
Mỗi ngày:
một chút.
37. TÂM TỪ PHẢI MỞ RỘNG THEO BỐN PHƯƠNG
Bài kinh nói tới việc trải tâm từ:
phía trên.
phía dưới.
xung quanh.
không hạn chế.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 914
không oán.
không thù. (Access to Insight)
Nói thật dễ:
KHÔNG CHỈ GỬI TÂM TỪ VỀ MỘT HƯỚNG.
Mà:
mở rộng.
38. TỪ VỚI NGƯỜI MÌNH THƯƠNG – DỄ
Có thể bắt đầu:
cha mẹ.
người thân.
người đã giúp mình.
Nói thầm:
“Mong người này được an lành.”
Tâm dễ:
mở.
Nhưng đó chưa phải:
toàn bộ bài.
39. TỪ VỚI NGƯỜI TRUNG TÍNH – KHÓ HƠN MỘT CHÚT
Người giao hàng.
người đi ngoài đường.
người mình không quen.
Tập:
“Mong họ được an.”
Mình bắt đầu phá:
TÍNH CHỈ THƯƠNG NGƯỜI LIÊN QUAN TỚI MÌNH.
40. TỪ VỚI NGƯỜI KHÓ CHỊU – ĐÂY MỚI LÀ BÀI KIỂM
Không cần bắt đầu với:
người làm mình tổn thương sâu nhất.
Có thể chọn:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 915
người hơi khó chịu.
Tập:
“Mong họ bớt khổ. Mong họ bớt sân. Mong họ sống thiện hơn.”
Không cần:
giả vờ thích.
Chỉ:
BỎ Ý MUỐN HỌ KHỔ.
Đó đã là:
một bước rất lớn.
41. TÂM TỪ KHÔNG PHẢI CỐ ÉP CẢM XÚC
Nếu đang giận sâu mà nói:
“Tôi thương họ lắm,”
nhưng trong lòng:
không thật,
không cần ép.
Có thể bắt đầu thấp hơn:
“Tôi chưa thương nổi. Nhưng tôi không muốn tạo thêm ý hại.”
Đây là:
thật.
Và vẫn đi đúng hướng.
42. TÂM TỪ VỚI CHÍNH MÌNH
Bài kinh nhấn mạnh tâm từ với:
tất cả chúng sanh.
Mình cũng là:
một chúng sanh.
Vì vậy trong thực hành,
không cần:
ghét mình.
Biết mình sai:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 916
sửa.
Biết mình mệt:
nghỉ đúng.
Biết mình tham sân:
tu.
Không biến tu thành:
TỰ HÀNH HẠ.
43. NHƯNG TỪ VỚI MÌNH KHÔNG PHẢI CHIỀU MỌI HAM MUỐN
“Tôi thương mình nên tôi muốn gì cũng làm.”
Không phải.
Nếu một cái muốn:
hại mình,
tâm từ với mình có thể là:
KHÔNG CHIỀU.
Giống như mẹ thương con:
không cho con uống độc.
44. TÂM TỪ VỚI THÂN
Thân mệt:
biết nghỉ.
Thân bệnh:
đi khám.
Không ép thân vì:
sĩ diện.
Không phá thân bằng:
thói quen xấu.
Đó cũng là:
từ có trí.
45. TÂM TỪ VỚI LỜI NÓI
Trước khi nói,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 917
hỏi:
“Câu này có cần làm người khác đau tới mức này không?”
Có lúc sự thật:
cần nói.
Nhưng nói sự thật không đồng nghĩa:
PHẢI NÓI BẰNG SÂN.
Từ tâm tìm:
cách nói ít hại hơn.
46. TÂM TỪ VỚI NGƯỜI SAI
Muốn họ:
sửa.
Không muốn họ:
bị hủy.
Đây là chỗ rất sâu.
Có thể nói:
“Việc này phải dừng.”
Nhưng không cần:
“Con người này đáng khổ.”
Từ phân biệt:
NGƯỜI
và:
HÀNH VI.
47. TÂM TỪ VỚI NGƯỜI GÂY HẠI
Đây là mức khó.
Mình cần:
bảo vệ.
rời xa.
tìm trợ giúp.
dùng pháp luật nếu cần.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 918
Nhưng phần tâm có thể tập:
“Mong người này dừng hành vi xấu và không tiếp tục tạo thêm khổ.”
Đó là tâm từ:
không ngây thơ.
48. TÂM TỪ VÀ CÔNG LÝ KHÔNG ĐỐI NGHỊCH
Có người nghĩ:
từ là:
không xử lý.
Không.
Một hành vi phạm pháp:
có thể phải chịu trách nhiệm.
Nhưng quá trình xử lý không nhất thiết phải được nuôi bằng:
THÙ HẬN.
Có thể mong:
sự việc được xử đúng
và:
người gây hại biết sửa.
49. TÂM TỪ VÀ KHIÊM HẠ
Khinh người:
làm từ nhỏ lại.
Mạn nói:
“Tôi tốt hơn.”
Từ nói:
“Người này cũng là một chúng sanh đang chịu tác động của vô minh, tham và sân.”
Nhìn vậy,
tâm bớt:
cứng.
50. TÂM TỪ VÀ CHÁNH NGỮ
Một người tu từ mà:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 919
hay chửi.
hay mỉa.
hay hạ người,
cần:
xem lại.
Từ tâm phải đi xuống:
CÁI MIỆNG.
Không chỉ ở:
thời thiền.
51. TÂM TỪ VÀ CHÁNH NGHIỆP
Mong chúng sanh an
nhưng hành động:
gây hại,
không khớp.
Tâm từ phải đi xuống:
CÁI TAY.
Không đánh.
không lấy.
không xâm phạm.
không phá.
52. TÂM TỪ VÀ CHÁNH MẠNG
Kiếm sống bằng một nghề:
làm người khác khổ,
rồi tụng kinh từ:
phải nhìn lại.
Từ tâm không nên:
tách khỏi cách kiếm sống.
53. VÍ DỤ 14 – NGƯỜI BÁN HÀNG KHÔNG MUỐN KHÁCH BỊ HẠI
Mình có thể:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 920
kiếm lời.
Nhưng không bán thứ biết rõ:
nguy hiểm
mà giấu.
Đó là:
TỪ TRONG KINH DOANH.
54. VÍ DỤ 15 – NGƯỜI LÀM CHỦ
Không chỉ hỏi:
“Nhân viên làm được bao nhiêu?”
Cũng hỏi:
“Họ có đang bị ép quá sức không?”
Tâm từ đi vào:
quản lý.
55. VÍ DỤ 16 – TRÊN LIVESTREAM
Có người hỏi một câu:
rất ngây ngô.
Đừng:
cười họ.
Có thể nhiều người đang:
không biết giống vậy.
Trả lời một người bằng từ
có thể giúp:
cả phòng.
56. VÍ DỤ 17 – KHI NGƯỜI KHÁC NÓI SAI PHẬT PHÁP
Đừng nghĩ:
“Người này dốt.”
Có thể nói:
“Chỗ này nguồn kinh cho thấy khác.”
Sửa:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 921
nội dung.
Không cần:
hạ con người.
Đó là:
từ + trí.
57. VÍ DỤ 18 – KHI MÌNH GIỎI HƠN MỘT NGƯỜI Ở MỘT VIỆC
Giỏi hơn:
một việc.
Không có nghĩa:
hơn toàn bộ con người.
Từ tâm giúp:
KHÔNG DÙNG NĂNG LỰC LÀM LÝ DO ĐỂ KHINH.
58. VÍ DỤ 19 – NGƯỜI THÂN LÀM MÌNH MỆT
Từ không có nghĩa:
chịu mọi thứ.
Có thể nói:
“Tôi thương, nhưng việc này tôi không thể tiếp tục.”
Ranh giới:
có thể là:
MỘT PHẦN CỦA TỪ.
59. VÍ DỤ 20 – MÌNH ĐÃ GIẬN MỘT NGƯỜI NHIỀU NĂM
Không cần bắt đầu bằng:
“Tôi tha thứ hết.”
Có thể bắt đầu:
“Tôi không muốn tiếp tục cầu họ khổ nữa.”
Một bước rất nhỏ.
Nhưng đó là:
MỞ CỬA CHO TỪ.
60. CÔNG THỨC THỨ NHẤT
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 922
KHÔNG LỪA – KHÔNG KHINH – KHÔNG HẠI
Ba chữ cực dễ nhớ:
KHÔNG LỪA.
KHÔNG KHINH.
KHÔNG MONG HẠI.
Đó là nền rất rõ của tâm từ trong bài kinh.
61. CÔNG THỨC THỨ HAI
THẤY NGƯỜI – NHỚ HỌ CŨNG MUỐN AN
Khi sân,
nhắc:
“Người này cũng muốn được an và không muốn khổ.”
Không có nghĩa:
họ đúng.
Chỉ giúp:
tâm bớt biến họ thành:
KẺ THÙ TUYỆT ĐỐI.
62. CÔNG THỨC THỨ BA
TỪ + TRÍ + RANH GIỚI
TỪ
Không mong người khổ.
TRÍ
Biết đúng sai.
RANH GIỚI
Không để hành vi gây hại tiếp tục.
Công thức:
TỪ → TRÍ → RANH GIỚI.
63. CÔNG THỨC THỨ TƯ
NGƯỜI – HÀNH VI – HẬU QUẢ
Khi ai sai:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 923
NGƯỜI
không cần bị khinh.
HÀNH VI
phải được nhìn đúng.
HẬU QUẢ
phải được xử lý thích hợp.
Đây là cách giữ:
từ mà không:
mù.
64. CÔNG THỨC THỨ NĂM
THÂN – KHẨU – Ý ĐỀU PHẢI CÓ TỪ
THÂN
không cố ý hại.
KHẨU
không dùng lời làm nhục.
Ý
không mong người khổ.
Công thức:
THÂN TỪ → KHẨU TỪ → Ý TỪ.
65. CÔNG THỨC THỨ SÁU
TỪ NGƯỜI DỄ ĐẾN NGƯỜI KHÓ
Thực hành theo thứ tự:
MÌNH.
NGƯỜI THƯƠNG.
NGƯỜI TRUNG TÍNH.
NGƯỜI KHÓ CHỊU.
TẤT CẢ CHÚNG SANH.
Không cần ép:
quá nhanh.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 924
66. BÀI THỰC HÀNH MỘT NGÀY
Hôm nay chọn:
MỘT NGƯỜI MÌNH HƠI KHÓ CHỊU.
Không chọn người gây tổn thương quá sâu nếu tâm chưa sẵn sàng.
Nhắc thầm:
“Mong người này bớt khổ.”
“Mong họ bớt tham sân si.”
“Mong tôi không tạo thêm khổ cho họ.”
Không cần:
cảm xúc lớn.
Chỉ tập:
KHÔNG MONG HẠI.
67. BÀI THỰC HÀNH BẢY NGÀY
NGÀY 1 – TỪ VỚI MÌNH
Không tự mắng mình bằng những lời độc.
NGÀY 2 – TỪ VỚI NGƯỜI THÂN
Nói một lời làm họ nhẹ.
NGÀY 3 – TỪ VỚI NGƯỜI TRUNG TÍNH
Chúc thầm một người xa lạ được bình an.
NGÀY 4 – KHÔNG LỪA
Giữ chân thật trong một việc có lợi cho mình.
NGÀY 5 – KHÔNG KHINH
Không hạ một người đang yếu hơn mình.
NGÀY 6 – KHÔNG MONG HẠI
Khi nhớ người mình khó chịu, không cầu họ khổ.
NGÀY 7 – MỞ RỘNG
Ngồi yên vài phút và nghĩ:
“Mong tất cả chúng sanh được an lành.”
68. THỰC HÀNH BUỔI SÁNG
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 925
Có thể đọc:
Mong tôi được an lành và sống không gây hại.
Mong người thân của tôi được an lành.
Mong người tôi không quen được an lành.
Mong người tôi đang khó chịu cũng bớt khổ và bớt tham sân si.
Hôm nay tôi tập không lừa, không khinh và không mong ai khổ.
Tôi giữ tâm từ nhưng không bỏ trí và ranh giới.
69. THỰC HÀNH BUỔI TỐI
Trước khi ngủ hỏi:
Hôm nay tôi có lừa ai không?
Tôi có khinh ai không?
Tôi có mong một người nào đó bị khổ không?
Tôi có nói sự thật bằng sân không?
Tôi có giữ được một ranh giới mà không nuôi hận không?
Tôi đã làm một người nào nhẹ hơn chưa?
70. CÂU GHI NHỚ THỨ NHẤT
Tâm từ không bắt đầu ở câu “tôi thương tất cả”; nó bắt đầu ở chỗ tôi không muốn lừa, khinh và làm hại người trước mặt mình.
71. CÂU GHI NHỚ THỨ HAI
Không thích một người không đồng nghĩa phải mong người ấy khổ.
72. CÂU GHI NHỚ THỨ BA
Tâm từ không làm mình yếu; nó chỉ lấy ý muốn gây đau ra khỏi cách mình xử lý vấn đề.
73. CÂU GHI NHỚ THỨ TƯ
Có thể giữ khoảng cách với một người mà vẫn không nuôi thù đối với họ.
74. CÂU GHI NHỚ THỨ NĂM
Tha thứ chưa làm được thì trước hết tập đừng cầu người kia khổ thêm.
75. CÂU GHI NHỚ THỨ SÁU
Người đang sai cần được ngăn điều sai; không nhất thiết cần bị hạ nhục.
76. CÂU GHI NHỚ THỨ BẢY
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 926
Tâm từ không phải yêu hành vi xấu; tâm từ mong người làm điều xấu đủ sáng để dừng điều xấu.
77. CÂU GHI NHỚ THỨ TÁM
Lời nói có từ không nhất thiết luôn mềm; nhưng ngay cả khi cứng rắn, nó không lấy làm đau người làm mục tiêu.
78. CÂU GHI NHỚ THỨ CHÍN
Mỗi lần mình vui vì người khác khổ, sân đang thắng một phần trong tâm mình.
79. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI
Mỗi lần mình có thể nói “mong họ bớt sân” thay vì “mong họ gặp họa”, tâm đã đi một bước rất xa.
80. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI MỘT
Tâm từ rộng không phải vì mình quen nhiều người; mà vì lòng mình bớt chia chúng sanh thành người đáng được an và người đáng phải khổ.
81. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI HAI
Từ mà thiếu trí dễ thành nuông chiều; trí mà thiếu từ dễ thành lạnh và cứng.
82. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
KHÔNG LỪA.
KHÔNG KHINH.
KHÔNG VÌ GIẬN MÀ MONG NGƯỜI KHÁC KHỔ.
MONG TẤT CẢ CHÚNG SANH ĐƯỢC AN LÀNH.
MỞ TÂM NHƯ NGƯỜI MẸ BẢO HỘ ĐỨA CON ĐỘC NHẤT.
TRẢI TÂM TỪ TRÊN – DƯỚI – XUNG QUANH, KHÔNG HẠN LƯỢNG, KHÔNG OÁN, KHÔNG THÙ.
Đó là những điểm cốt lõi được nêu trong Kinh Từ Bi – Mettā Sutta, Snp 1.8, và bản song song Kp 9. (SuttaCentral)
Công thức dễ nhớ:
KHÔNG LỪA → KHÔNG KHINH → KHÔNG HẠI → MỞ TỪ.
Nguồn: Kinh Từ Bi – Mettā Sutta, thường gọi Karaṇīya Mettā Sutta; Kinh Tập – Sutta Nipāta, phẩm thứ nhất, kinh số 8, mã tra cứu quốc tế Snp 1.8; bản song song Tiểu Tụng – Khuddakapāṭha, Kp 9; thuộc Tiểu Bộ Kinh – Khuddaka Nikāya; bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu; nguyên bản Kinh tạng Pāli. (SuttaCentral)
83. CÂU HỎI LIVESTREAM
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 927
1. Theo quý vị, tâm từ có phải là phải thích tất cả mọi người không?
2. Có thể không muốn gần một người nhưng vẫn không mong người ấy khổ không?
3. Tại sao Đức Phật đặt “không lừa dối” và “không khinh miệt” ngay trong bài kinh về tâm từ?
4. Có bao giờ quý vị nói “mong chúng sanh an lạc” nhưng trong lòng lại đang mong một người cụ thể thất bại không?
5. Nếu một người làm sai, mình có thể ngăn họ mà không khinh họ không?
6. Theo quý vị, tâm từ và việc đặt ranh giới có mâu thuẫn nhau không?
7. Một người từng làm mình đau, nếu chưa thể thương họ, mình có thể bắt đầu bằng việc không mong họ khổ được không?
8. Có bao giờ mình vui khi nghe tin người mình ghét gặp chuyện không? Tâm ấy đang được nuôi bằng gì?
9. Theo quý vị, tại sao Đức Phật dùng hình ảnh người mẹ bảo vệ đứa con độc nhất để nói về tâm từ?
10. Tâm từ khác tình yêu sở hữu ở đâu?
11. Cha mẹ thật sự thương con có phải lúc nào cũng chiều con không?
12. Có khi nào nói “không” lại là một biểu hiện của tâm từ có trí không?
13. Nếu người khác lừa mình, mình có thể vừa bảo vệ quyền lợi vừa không mong họ gặp tai họa không?
14. Theo quý vị, một lời nói sửa sai người khác nhưng có ý làm nhục họ có còn là lời có từ không?
15. Người tu có thể giảng rất đúng nhưng nếu thường xuyên khinh người hỏi thì tâm từ đã trọn chưa?
16. Trong ba điều “không lừa – không khinh – không mong hại”, quý vị thấy phần nào khó nhất?
17. Có người nào hiện nay quý vị chưa thể tha thứ nhưng có thể bắt đầu bằng một lời nguyện: “Mong người ấy bớt tham sân si” không?
18. Nếu hôm nay chỉ nhớ một công thức, quý vị có thể nhớ: “Không lừa – Không khinh – Không hại – Mở từ” không?
84. CÂU KẾT ĐỂ ĐỌC TRÊN LIVESTREAM
Kính thưa quý vị,
nói tới tâm từ,
mình rất dễ nghĩ tới:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 928
một cảm giác thật đẹp.
Một giọng thật nhẹ.
Một lời:
“Mong tất cả chúng sanh an lạc.”
Nhưng Kinh Từ Bi cho thấy tâm từ không chỉ nằm trong:
cảm xúc.
Nó phải đi xuống:
CÁCH MÌNH SỐNG.
Đức Phật dạy:
ĐỪNG LỪA NHAU.
Bởi nếu mình lừa người,
mình đang làm họ:
bất an.
Ngài dạy:
ĐỪNG KHINH MIỆT AI.
Bởi khi mình khinh người,
tâm mình đã dựng:
một bức tường.
Ngài dạy:
ĐỪNG VÌ GIẬN MÀ MONG NHAU KHỔ.
Đây là chỗ khó nhất.
Người từng thương mình:
mình mong họ an,
dễ.
Người từng giúp mình:
dễ.
Nhưng người từng làm mình đau?
Đây mới là:
đề thi.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 929
Không cần giả vờ:
“Tôi thương họ lắm.”
Nếu chưa thương được,
hãy bắt đầu thật:
“TÔI CHƯA THƯƠNG ĐƯỢC, NHƯNG TÔI KHÔNG MUỐN NUÔI Ý MONG HỌ KHỔ.”
Đó đã là:
một bước.
Rồi đi thêm:
“Mong họ bớt sân.”
“Mong họ bớt tham.”
“Mong họ đủ trí để không tiếp tục làm người khác đau.”
Đó là:
tâm từ có trí.
Tâm từ không bắt mình:
ở gần người gây hại.
Không bắt mình:
giao tài sản cho người hay lừa.
Không bắt mình:
im trước điều sai.
Không bắt mình:
bỏ pháp luật.
Tâm từ chỉ nói:
KHI GIẢI QUYẾT CÁI SAI – ĐỪNG BIẾN MÌNH THÀNH NGƯỜI MUỐN GÂY KHỔ.
Đây là một ranh giới rất đẹp.
Vậy bài hôm nay xin nhớ:
KHÔNG LỪA.
KHÔNG KHINH.
KHÔNG MONG HẠI.
MỞ TÂM.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 930
Và nếu có một người nào đó khiến mình rất khó chịu,
mình có thể tập một câu:
“MONG NGƯỜI NÀY BỚT THAM, BỚT SÂN, BỚT SI, ĐỂ HỌ BỚT KHỔ VÀ CŨNG BỚT LÀM NGƯỜI KHÁC KHỔ.”
Không cần:
họ nghe.
Không cần:
họ biết.
Đây là việc:
MÌNH ĐANG LÀM VỚI TÂM MÌNH.
Khi tâm thôi mong người khác khổ,
người đầu tiên bớt bị đốt bởi sân
chính là:
MÌNH.
Và từ chỗ ấy,
lời Phật:
“Hãy tu tập từ tâm trong tất cả thế giới, không hạn lượng, rộng lớn, không oán, không thù”
không còn chỉ là một bài kệ đẹp. (SuttaCentral)
Nó trở thành:
CÁCH MÌNH NHÌN MỘT NGƯỜI MÌNH THƯƠNG.
CÁCH MÌNH ĐỐI XỬ VỚI MỘT NGƯỜI XA LẠ.
VÀ ĐẶC BIỆT – CÁCH MÌNH GIỮ TÂM TRƯỚC MỘT NGƯỜI MÌNH CHƯA THỂ THƯƠNG.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 931
MỤC 034 - Bài 034 — NĂM CÁCH XỬ LÝ Ý NGHĨ BẤT THIỆN – KHI TÂM CỨ NGHĨ MÃI MỘT CHUYỆN KHÔNG BUÔNG ĐƯỢC 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
Đức Phật dạy rằng khi một vị Tỷ-kheo chuyên tâm tu tập tâm tăng thượng mà những ý nghĩ bất thiện liên hệ đến tham, sân và si khởi lên, có năm phương pháp cần được thực hành tuần tự để làm chúng lắng xuống. (SuttaCentral)
Năm phương pháp ấy có thể trình bày thuần tiếng Việt như sau:
Thứ nhất: Đổi sang một đối tượng thiện khác, giống như người thợ mộc dùng một cái nêm nhỏ thích hợp để đánh bật cái nêm không thích hợp.
Thứ hai: Nếu ý nghĩ bất thiện vẫn còn, hãy nhìn thật rõ sự nguy hiểm, đáng chê trách và hậu quả khổ đau của nó.
Thứ ba: Nếu vẫn còn, hãy không nhớ đến, không chú ý đến nó nữa; giống như người không muốn nhìn một vật trước mặt thì quay đi hoặc nhắm mắt lại.
Thứ tư: Nếu vẫn chưa dừng, hãy nhìn vào nguyên nhân, tiến trình và sức đẩy đang làm cho dòng suy nghĩ ấy tiếp tục, để nó mất dần năng lượng.
Thứ năm: Nếu bốn cách trên đều chưa đủ, phải dùng ý chí mạnh để chế ngự tâm bất thiện, giống như người mạnh nắm lấy người yếu hơn mà chế ngự. (SuttaCentral)
Khi thực hành thuần thục, vị ấy có khả năng:
nghĩ điều mình muốn nghĩ,
không nghĩ điều mình không muốn nghĩ,
và tâm dần được:
an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh. (SuttaCentral)
2. NGUỒN KINH
Tên kinh tiếng Việt: Kinh An Trú Tầm
Tên Pāli: Vitakkasaṇṭhāna Sutta
Thuộc: Trung Bộ Kinh – Majjhima Nikāya
Số kinh: Kinh số 20
Mã tra cứu quốc tế: MN 20
Địa điểm: Sāvatthī – Xá-vệ, Jetavana – Kỳ Viên, tinh xá của ông Anāthapiṇḍika – Cấp Cô Độc
Đối tượng được Đức Phật giảng: Các Tỷ-kheo
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 932
Nguyên bản: Kinh tạng Pāli
SuttaCentral định danh bài kinh là MN 20 – Vitakkasaṇṭhānasutta và tóm tắt đây là bài kinh thực hành trong đó Đức Phật trình bày năm phương pháp khác nhau để làm lắng xuống những ý nghĩ bất thiện. (SuttaCentral)
Khi cần trả lời thật ngắn:
“Đây là Kinh An Trú Tầm – Vitakkasaṇṭhāna Sutta, thuộc Trung Bộ Kinh – Majjhima Nikāya, kinh số 20, mã tra cứu quốc tế MN 20, nguyên bản Kinh tạng Pāli.”
3. TỪ KHÓA VIỆT – PĀLI – NGHĨA
TẦM – VITAKKA – DÒNG SUY NGHĨ, Ý NGHĨ HƯỚNG TÂM TỚI MỘT ĐỐI TƯỢNG
Vitakka trong bài kinh có thể hiểu gần là:
ý nghĩ.
dòng suy nghĩ.
sự hướng tâm về một nội dung.
Không phải mọi ý nghĩ đều xấu.
Có:
ý thiện.
ý bất thiện.
Điều cần tu là:
BIẾT Ý NÀO ĐANG ĐƯA TÂM ĐI ĐÂU.
4. BẤT THIỆN – AKUSALA – KHÔNG LÀNH, KHÔNG KHÉO
Akusala là:
bất thiện.
không lành.
không khéo.
Trong bài kinh, Đức Phật nói trực tiếp tới những ý nghĩ liên hệ với:
THAM.
SÂN.
SI. (
SuttaCentral
)
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 933
Đây là ba dấu hiệu rất quan trọng.
Nếu một dòng suy nghĩ càng nghĩ càng:
tham hơn.
sân hơn.
si hơn.
thì phải biết:
TÂM ĐANG ĐI SAI HƯỚNG.
5. THAM – LOBHA / KĀMA – MUỐN NẮM, MUỐN CÓ, MUỐN HƯỞNG
Một ý nghĩ có thể bắt đầu rất nhỏ:
“Cái này đẹp.”
Rồi thành:
“Tôi muốn.”
Rồi:
“Tôi phải có.”
Rồi:
“Không có tôi không chịu được.”
Từ một cái muốn,
tâm có thể quay:
cả ngày.
Đó là lúc cần:
áp dụng Pháp.
6. SÂN – DOSA / BYĀPĀDA – GIẬN, GHÉT, MUỐN ĐẨY RA HOẶC MUỐN HẠI
Một câu người khác nói:
chỉ vài giây.
Nhưng tâm phát lại:
một trăm lần.
Mỗi lần phát lại:
sân được tưới thêm.
Đến tối,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 934
người kia có thể đã quên.
Nhưng mình:
vẫn đang giận.
Kinh MN 20 rất phù hợp với trường hợp này.
7. SI – MOHA – MỜ MỊT, KHÔNG THẤY ĐÚNG
Có những dòng suy nghĩ:
không hẳn tham.
không hẳn sân.
Nhưng:
mơ hồ.
tưởng tượng.
suy diễn.
quay vòng.
không đưa tới hiểu biết.
Càng nghĩ:
càng rối.
Đó cũng là lúc cần:
DỪNG CÁCH NGHĨ HIỆN TẠI.
8. AN TRÚ TẦM – VITAKKASAṆṬHĀNA – LÀM CHO DÒNG TẦM ĐƯỢC LẮNG, ĐƯỢC DỪNG
Tên bài kinh có ý liên hệ đến:
việc làm cho các dòng suy nghĩ bất thiện:
LẮNG XUỐNG.
Không phải:
cấm tâm không được nghĩ gì.
Mà:
HỌC KHẢ NĂNG KHÔNG ĐỂ MỌI Ý NGHĨ MUỐN ĐI ĐÂU THÌ ĐI.
Đây là:
tự chủ tâm.
9. PHƯƠNG PHÁP THỨ NHẤT
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 935
ĐỔI ĐỐI TƯỢNG – LẤY THIỆN THAY BẤT THIỆN
Đức Phật dạy rằng khi một đối tượng đang làm phát sinh những ý nghĩ bất thiện liên hệ tham, sân, si, người tu nên hướng tâm sang một đối tượng khác liên hệ với thiện. Ngài dùng hình ảnh người thợ lành nghề dùng một cái nêm thích hợp để đánh bật một cái nêm khác. (SuttaCentral)
Nói thật dễ:
ĐỪNG CHỈ BẢO TÂM “ĐỪNG NGHĨ”.
Hãy:
CHO TÂM MỘT THỨ KHÁC ĐỂ NGHĨ.
10. TẠI SAO CHỈ NÓI “ĐỪNG NGHĨ NỮA” THƯỜNG KHÓ?
Thử nói:
“Không được nghĩ đến người đó.”
Tâm lập tức:
nghĩ người đó.
Thử nói:
“Không được nhớ chuyện ấy.”
Tâm lại:
nhớ.
Vì vậy bước đầu của Đức Phật rất thực tế:
ĐỔI ĐỀ MỤC.
Không để khoảng trống cho dòng cũ tiếp tục chạy.
11. VÍ DỤ 1 – ĐANG SÂN MỘT NGƯỜI
Tâm cứ nghĩ:
“Họ sai.”
“Họ quá đáng.”
“Tôi phải nói cho họ biết.”
Bước thứ nhất:
đổi đối tượng.
Có thể:
niệm Phật.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 936
đọc một bài kệ.
quán tâm từ.
nhớ một việc thiện.
đi làm việc cần làm.
Đây không phải:
trốn vấn đề.
Mà:
TẠM NGẮT NHIÊN LIỆU CHO SÂN.
Khi tâm dịu hơn,
mới xử lý việc.
12. VÍ DỤ 2 – CỨ MUỐN MUA MỘT MÓN KHÔNG CẦN
Cứ xem:
hình.
giá.
video.
đánh giá.
Tâm muốn càng mạnh.
Thay vì tiếp tục nhìn,
hãy đổi:
sang việc khác.
Đóng trang.
đi bộ.
đọc kinh.
làm việc.
Tâm không được:
tiếp tục ăn cùng một loại thức ăn.
13. VÍ DỤ 3 – NGHĨ MÃI MỘT LỜI CHÊ
Người kia nói:
“Bạn chưa làm tốt.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 937
Tâm phát lại.
Thay đối tượng bằng câu hỏi:
“TRONG ĐIỀU HỌ NÓI CÓ PHẦN NÀO TÔI CÓ THỂ HỌC?”
Từ:
sân
chuyển sang:
học.
Đó cũng là đổi sang:
một hướng thiện.
14. VÍ DỤ 4 – NHỚ MỘT NGƯỜI ĐÃ LÀM MÌNH ĐAU
Đầu tiên chưa cần:
ép mình tha thứ.
Có thể đổi sang:
hơi thở.
việc thiện.
một câu kinh.
một người đang cần mình.
Mục đích:
KHÔNG CHO DÒNG SÂN CHIẾM TRỌN TÂM.
15. PHƯƠNG PHÁP THỨ NHẤT CÓ THỂ GỌN THÀNH
BẤT THIỆN ĐẾN → ĐỔI SANG THIỆN.
Sân:
đổi sang từ.
Tham:
đổi sang quán hậu quả hoặc biết đủ.
Tán loạn:
đổi sang hơi thở.
Ý hại:
đổi sang không hại.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 938
Công thức:
ĐỔI ĐỀ MỤC.
16. PHƯƠNG PHÁP THỨ HAI
NHÌN SỰ NGUY HIỂM CỦA Ý NGHĨ BẤT THIỆN
Nếu đổi đối tượng rồi mà dòng bất thiện vẫn quay lại,
Đức Phật dạy:
HÃY NHÌN SỰ NGUY HIỂM CỦA NÓ.
Bài kinh dùng hình ảnh rất mạnh: giống như một người trẻ, thích sạch sẽ, sẽ ghê sợ nếu xác rắn, chó hay người chết bị treo trên cổ mình; người tu cũng cần thấy ý nghĩ bất thiện là điều đáng chán ngán vì hậu quả của nó. (SuttaCentral)
17. TẠI SAO PHẢI NHÌN HẬU QUẢ?
Bởi khi sân đang mạnh,
tâm chỉ nhìn:
CÁI HẢ TRƯỚC MẮT.
Không nhìn:
HẬU QUẢ SAU ĐÓ.
Khi tham mạnh,
tâm chỉ nhìn:
“Tôi sẽ có.”
Không nhìn:
“Có rồi tôi mất gì?”
Cho nên phải kéo:
hậu quả
vào trước mắt.
18. VÍ DỤ 5 – MUỐN NÓI MỘT CÂU THẬT ĐAU
Hãy tưởng tượng:
nói xong.
Người kia:
đau.
Họ nói lại.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 939
Quan hệ:
vỡ.
Một câu được chụp lại.
Nhiều người đọc.
Mình hối.
Khi thấy cả chuỗi,
cơn muốn nói có thể:
yếu đi.
Đó là:
QUÁN NGUY HIỂM.
19. VÍ DỤ 6 – MUỐN TRẢ ĐŨA
Tâm nói:
“Làm cho họ đau tôi mới hết tức.”
Hãy hỏi:
“Sau đó thì sao?”
Họ trả lại?
Mình tạo thêm oán?
Tâm mình thành gì?
Khổ có thật sự chấm dứt không?
Đây là cách đưa:
TRÍ
vào:
SÂN.
20. VÍ DỤ 7 – THAM MỘT MÓN LỢI KHÔNG CHÂN CHÁNH
Đừng chỉ nhìn:
số tiền.
Nhìn thêm:
phải nói dối không?
phải che không?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 940
sợ bị phát hiện không?
ai bị hại?
tâm có yên không?
Khi thấy đủ giá,
món lợi có thể:
không còn hấp dẫn như lúc đầu.
21. VÍ DỤ 8 – CỨ NGHĨ XẤU VỀ MỘT NGƯỜI
Hãy nhìn hậu quả:
mỗi ngày mình dành:
một giờ
cho người mình ghét.
Một tháng:
ba mươi giờ.
Một năm:
hàng trăm giờ.
Người ấy có thể:
không biết.
Nhưng chính mình đang:
trả giá bằng thời gian của mình.
Nhìn ra điều này,
tâm bắt đầu hỏi:
“TÔI CÓ MUỐN TIẾP TỤC NUÔI NÓ KHÔNG?”
22. PHƯƠNG PHÁP THỨ HAI CÓ THỂ GỌN THÀNH
THẤY NGỌT – PHẢI NHÌN ĐẮNG.
Sân cho:
cảm giác hả.
Nhưng hậu quả:
đắng.
Tham cho:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 941
cảm giác hấp dẫn.
Nhưng hậu quả:
có thể nặng.
Công thức:
NHÌN HẬU QUẢ.
23. PHƯƠNG PHÁP THỨ BA
KHÔNG NHỚ – KHÔNG CHÚ Ý – QUAY TÂM ĐI
Nếu đã nhìn sự nguy hiểm mà ý nghĩ bất thiện vẫn tiếp tục,
Đức Phật dạy:
KHÔNG NHỚ ĐẾN.
KHÔNG TÁC Ý ĐẾN.
Ngài ví như một người có mắt không muốn nhìn các vật nằm trước mặt thì:
nhắm mắt
hoặc:
nhìn sang hướng khác. (SuttaCentral)
24. KHÔNG CHÚ Ý KHÁC VỚI CHỐI BỎ SỰ THẬT
Đây là điều phải phân biệt.
Nếu nhà cháy:
không thể nói:
“Tôi không chú ý.”
Phải:
xử lý.
Nhưng nếu sự việc đã qua
và tâm chỉ:
phát lại,
thì việc tiếp tục chú ý không còn:
giải quyết gì.
Lúc ấy:
QUAY ĐI LÀ TRÍ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 942
25. VÍ DỤ 9 – ĐỌC ĐI ĐỌC LẠI MỘT BÌNH LUẬN XẤU
Đã đọc.
Đã hiểu.
Đã xử lý nếu cần.
Nhưng vẫn mở lại:
mười lần.
Mỗi lần đọc:
sân lại sinh.
Lúc này rất đơn giản:
ĐỪNG MỞ LẠI.
Đó chính là:
không tác ý.
26. VÍ DỤ 10 – VÀO TRANG CỦA NGƯỜI MÌNH GHÉT ĐỂ XEM HỌ LÀM GÌ
Xem xong:
khó chịu.
Ngày mai:
lại xem.
Rồi nói:
“Sao tôi không buông được?”
Một phần rất rõ là:
MÌNH ĐANG TỰ ĐƯA ĐỐI TƯỢNG VÀO TÂM.
Phương pháp thứ ba:
NGỪNG CHO TÂM ĂN THỨ ẤY.
27. VÍ DỤ 11 – MỘT CHUYỆN CŨ KHÔNG CẦN GIẢI QUYẾT NỮA
Đã:
xin lỗi.
đã:
sửa.
đã:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 943
kết thúc.
Nhưng cứ:
đào.
Lúc này có thể nói:
“Việc này đã được xử lý. Tôi không nuôi tiếp.”
Rồi quay lại:
việc đang làm.
Đây không phải:
trốn.
Mà là:
KHÔNG TIẾP TỤC NUÔI CÁI ĐÃ HẾT VAI TRÒ.
28. VÍ DỤ 12 – MỘT HÌNH ẢNH LÀM THAM TĂNG
Nếu cứ nhìn:
tham cứ tăng.
Phương pháp rất thực tế:
RỜI MẮT KHỎI ĐỐI TƯỢNG.
Đóng.
đi.
đổi nơi.
Không cần chứng minh:
“Tôi đủ mạnh để cứ nhìn mà không tham.”
Có lúc trí là:
KHÔNG NHÌN NỮA.
29. PHƯƠNG PHÁP THỨ BA CÓ THỂ GỌN THÀNH
KHÔNG GIẢI QUYẾT ĐƯỢC GÌ THÊM → NGỪNG CHO NÓ SỰ CHÚ Ý.
Công thức:
QUAY TÂM.
30. PHƯƠNG PHÁP THỨ TƯ
NHÌN CÁI GÌ ĐANG NUÔI DÒNG SUY NGHĨ
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 944
Nếu đã không chú ý mà dòng suy nghĩ vẫn cứ tự quay lại,
Đức Phật dạy một bước sâu hơn: hãy chú ý đến việc làm lắng sự tạo tác của những ý nghĩ ấy, tức nhìn vào sức đẩy hay tiến trình đang tiếp tục tạo ra chúng. SuttaCentral ghi chú rằng ở đây có thể hiểu là nhận diện thứ đang cung cấp năng lượng cho dòng tư tưởng để làm nó mất sức. (SuttaCentral)
Nói thật dễ:
ĐỪNG CHỈ HỎI “TÔI ĐANG NGHĨ GÌ?”
Hãy hỏi:
“VÌ SAO TÂM CỨ QUAY LẠI CHỖ NÀY?”
31. TÌM CÁI ĐANG NUÔI Ý NGHĨ
Có thể là:
tự ái.
sợ mất.
muốn được công nhận.
ganh.
cảm giác bị phản bội.
mong người khác xin lỗi.
muốn thắng.
Khi thấy:
gốc,
dòng suy nghĩ đôi khi tự:
yếu.
32. VÍ DỤ 13 – CỨ NGHĨ “TẠI SAO HỌ KHÔNG KÍNH TÔI?”
Bên ngoài tưởng:
đang giận người kia.
Nhưng soi sâu:
có thể gốc là:
MUỐN ĐƯỢC KÍNH.
Thấy được:
“Tôi đang bảo vệ hình ảnh của tôi,”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 945
sân có thể giảm.
Vấn đề không còn chỉ là:
người kia.
33. VÍ DỤ 14 – CỨ NHỚ MỘT NGƯỜI CŨ
Tưởng:
vì thương.
Nhưng nhìn sâu:
có thể là:
cô đơn.
sợ không còn ai.
chấp một hình ảnh cũ.
Không phải lúc nào cũng vậy.
Nhưng khi tìm được thứ đang:
nuôi dòng nhớ,
mình bắt đầu xử lý:
GỐC.
34. VÍ DỤ 15 – CỨ MUỐN CHỨNG MINH MÌNH ĐÚNG
Tranh luận đã xong.
Vẫn nghĩ:
“Lẽ ra tôi phải nói thêm câu đó.”
Soi:
tại sao?
Có thể là:
CÁI TÔI CHƯA CHẤP NHẬN VIỆC KHÔNG THẮNG.
Thấy gốc này,
câu chuyện có thể:
xẹp xuống.
35. VÍ DỤ 16 – CỨ LO MỘT CHUYỆN TƯƠNG LAI
Hỏi:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 946
“Có việc gì cụ thể tôi có thể làm bây giờ không?”
Nếu có:
làm.
Nếu không:
tiếp tục nghĩ có giải quyết được không?
Nhiều lúc thứ đang nuôi lo là:
MONG KIỂM SOÁT ĐIỀU CHƯA THỂ KIỂM SOÁT.
Thấy vậy,
tâm có cơ hội:
buông bớt.
36. PHƯƠNG PHÁP THỨ TƯ KHÔNG PHẢI PHÂN TÍCH VÔ TẬN
Điều này phải cẩn thận.
Mục tiêu là:
THẤY NGUYÊN NHÂN ĐỂ DÒNG NGHĨ YẾU.
Không phải:
ngồi phân tích chuyện ấy thêm năm giờ.
Nếu việc phân tích làm:
sân tăng,
lo tăng,
thì chính phân tích đã trở thành:
NHIÊN LIỆU MỚI.
37. PHƯƠNG PHÁP THỨ TƯ CÓ THỂ GỌN THÀNH
TÌM NHIÊN LIỆU.
Tâm đang:
sân vì gì?
tham vì gì?
lo vì gì?
chấp gì?
muốn gì?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 947
Công thức:
THẤY GỐC → RÚT NHIÊN LIỆU.
38. PHƯƠNG PHÁP THỨ NĂM
DÙNG Ý CHÍ MẠNH ĐỂ CHẾ NGỰ
Nếu bốn phương pháp trên vẫn chưa đủ,
Đức Phật dạy một biện pháp mạnh cuối cùng:
dùng quyết tâm để chế ngự tâm bất thiện.
Ngài dùng hình ảnh người mạnh nắm lấy người yếu hơn mà áp chế. Đây là phương án sau cùng trong chuỗi năm cách, không phải bước đầu tiên cho mọi trường hợp. (SuttaCentral)
Nói thật dễ:
CÓ LÚC PHẢI NÓI RÕ VỚI TÂM: DỪNG.
39. TẠI SAO PHƯƠNG PHÁP MẠNH LẠI ĐỂ CUỐI?
Bởi Đức Phật không bắt đầu bằng:
ÉP.
Ngài cho bốn bước trước:
đổi.
thấy nguy hiểm.
không chú ý.
thấy nguyên nhân.
Chỉ khi vẫn không đủ:
mới dùng lực mạnh.
Điều này cho thấy:
XỬ LÝ TÂM CŨNG CẦN PHƯƠNG PHÁP.
Không phải cái gì cũng:
cắn răng chịu.
40. VÍ DỤ 17 – SẮP LÀM VIỆC BIẾT RÕ LÀ SAI
Tâm vẫn thúc:
“Làm đi.”
Mình đã:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 948
đổi ý.
quán hậu quả.
rời đối tượng.
thấy gốc tham.
Nhưng vẫn rất mạnh.
Lúc này phải:
KHÔNG LÀM.
Dù tâm còn muốn.
Đây là:
ý chí đạo đức.
41. VÍ DỤ 18 – SẮP GỌI ĐIỆN ĐỂ CHỬI
Đã nghĩ cả giờ.
Tâm cứ thúc:
“Gọi đi.”
Lúc ấy:
tắt điện thoại.
đặt xa.
không gọi.
Có khi tâm chưa:
hết sân.
Nhưng:
NGHIỆP XẤU ĐÃ ĐƯỢC CHẶN.
Đó đã là:
một chiến thắng quan trọng.
42. VÍ DỤ 19 – ĐANG MUỐN MỞ LẠI THỨ MÌNH BIẾT SẼ LÀM TÂM XẤU ĐI
Đừng thương lượng nữa.
Đứng dậy.
rời chỗ.
đóng máy.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 949
đổi môi trường.
Có những lúc:
THÂN PHẢI HỖ TRỢ TÂM.
43. VÍ DỤ 20 – CƠN SÂN MUỐN BÙNG RA
Không phải lúc nào cũng có thời gian:
phân tích dài.
Nếu sắp làm người khác bị hại:
DỪNG THÂN TRƯỚC.
Không đánh.
Không ném.
Không lái xe trong sân.
Không gửi.
Không nói.
Rồi sau đó:
xử lý tâm.
44. PHƯƠNG PHÁP THỨ NĂM CÓ THỂ GỌN THÀNH
KHI ĐÃ BIẾT RÕ BẤT THIỆN – KHÔNG CHO NÓ THÀNH HÀNH ĐỘNG.
Công thức:
CHẾ NGỰ.
45. GHÉP NGHĨA TOÀN BỘ NĂM PHƯƠNG PHÁP
Khi ý nghĩ bất thiện liên hệ tham, sân hoặc si cứ quay lại:
MỘT – ĐỔI
ĐỔI SANG MỘT ĐỐI TƯỢNG THIỆN.
HAI – THẤY
THẤY SỰ NGUY HIỂM VÀ HẬU QUẢ CỦA NÓ.
BA – QUAY
KHÔNG TIẾP TỤC CHÚ Ý.
BỐN – SOI GỐC
NHÌN THỨ ĐANG NUÔI DÒNG SUY NGHĨ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 950
NĂM – CHẶN
DÙNG Ý CHÍ MẠNH KHÔNG CHO BẤT THIỆN TIẾP TỤC CHI PHỐI.
Đây là năm bước cốt lõi của MN 20. (SuttaCentral)
46. CÔNG THỨC DỄ NHỚ NHẤT
ĐỔI → THẤY → QUAY → SOI → CHẶN.
Đây có thể là công thức thực hành cho toàn bài.
47. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ GÌ?
Kính thưa quý vị,
một điều rất quan trọng trong bài kinh này là:
KHÔNG PHẢI Ý NGHĨ NÀO XUẤT HIỆN CŨNG PHẢI ĐƯỢC MÌNH NGHE THEO.
Một ý nghĩ nói:
“Trả đũa đi.”
Không có nghĩa:
phải trả.
Một ý nghĩ nói:
“Mua đi.”
Không có nghĩa:
phải mua.
Một ý nghĩ nói:
“Bạn không thể chịu nổi.”
Không có nghĩa:
đúng.
Một ý nghĩ nói:
“Họ ghét bạn.”
Không có nghĩa:
sự thật.
Người tu học:
CÓ QUYỀN CHỌN CÁI GÌ ĐƯỢC NUÔI TRONG TÂM.
48. Ý NGHĨ KHỞI LÊN KHÔNG ĐỒNG NGHĨA MÌNH LÀ Ý NGHĨ ĐÓ
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 951
Một ý sân sinh.
Không có nghĩa:
“Tôi là người xấu.”
Một ý tham sinh.
Không có nghĩa:
“Tôi hết tu được.”
Điều cần nhìn:
MÌNH LÀM GÌ SAU KHI NÓ SINH.
Nuôi?
hay:
xử lý?
Đó mới là:
chỗ tu.
49. ĐỪNG TỰ TRÁCH VÌ TÂM CÓ Ý NGHĨ
Nếu cứ nói:
“Sao tôi lại nghĩ như vậy?”
rồi ghét mình,
mình tạo thêm:
một lớp khổ.
MN 20 quan tâm tới:
PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ.
Không phải:
tự kết án.
Ý bất thiện xuất hiện:
biết.
Rồi:
dùng Pháp.
50. MỘT CÁCH KHÔNG HIỆU QUẢ – CỨ NGỒI TRANH CÃI VỚI Ý NGHĨ
Tâm nói:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 952
“Họ ghét tôi.”
Mình nói:
“Không, họ không ghét.”
Tâm nói:
“Có.”
Rồi cả giờ:
đấu.
Đôi khi tốt hơn là:
ĐỔI ĐỀ MỤC.
Bởi không phải ý nghĩ nào cũng đáng:
tranh luận.
51. MỘT CÁCH KHÔNG HIỆU QUẢ KHÁC – CỨ CHỜ TÂM TỰ HẾT
Có dòng suy nghĩ:
nếu không nuôi,
nó hết.
Nhưng có dòng:
càng để càng mạnh.
MN 20 cho thấy:
PHẢI BIẾT DÙNG ĐÚNG CÔNG CỤ.
Không phải:
thụ động.
52. CÁCH THỨ NHẤT PHÙ HỢP KHI NÀO?
Khi tâm còn:
khá linh hoạt.
Đổi đối tượng được.
Ví dụ:
đang sân nhẹ.
đang thèm nhẹ.
đang lo nhẹ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 953
Hãy:
ĐỔI.
Đừng chờ nó thành:
bão.
53. CÁCH THỨ HAI PHÙ HỢP KHI NÀO?
Khi cái bất thiện còn hấp dẫn.
Tâm vẫn nghĩ:
“Làm cũng được mà.”
Lúc này:
NHÌN GIÁ PHẢI TRẢ.
Để sự hấp dẫn:
giảm.
54. CÁCH THỨ BA PHÙ HỢP KHI NÀO?
Khi vấn đề đã:
không còn cần xử lý,
nhưng tâm cứ:
nhắc.
Lúc ấy:
KHÔNG CHO SỰ CHÚ Ý.
55. CÁCH THỨ TƯ PHÙ HỢP KHI NÀO?
Khi cùng một dòng suy nghĩ cứ:
quay lại nhiều lần.
Lúc ấy cần hỏi:
“GỐC Ở ĐÂU?”
Có thể vấn đề không nằm ở:
sự việc.
Mà ở:
cái tôi.
sợ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 954
tham.
cô đơn.
56. CÁCH THỨ NĂM PHÙ HỢP KHI NÀO?
Khi bất thiện đang:
rất mạnh
và có nguy cơ thành:
hành vi gây hại.
Lúc ấy:
ƯU TIÊN CHẶN HÀNH ĐỘNG.
Tâm xử lý tiếp:
sau.
57. CẢ NĂM CÁCH KHÔNG PHẢI LÚC NÀO CŨNG PHẢI DÙNG HẾT
Nếu bước một:
đủ,
dừng ở bước một.
Không cần:
làm đủ nghi thức.
Nếu bước hai:
tâm lắng,
đủ.
Đây là:
HỘP CÔNG CỤ.
Không phải:
một chuỗi bắt buộc phải dùng đủ trong mọi tình huống.
58. VÍ DỤ TỔNG HỢP 1 – BỊ NÓI XẤU
BƯỚC 1 – ĐỔI
Quay sang:
việc thiện,
hơi thở,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 955
câu kinh.
BƯỚC 2 – THẤY
Nếu cứ sân:
nhìn hậu quả của việc trả đũa.
BƯỚC 3 – QUAY
Ngừng đọc lại bình luận.
BƯỚC 4 – SOI GỐC
Hỏi:
“Tôi đau vì lời họ hay vì cái tôi muốn được công nhận?”
BƯỚC 5 – CHẶN
Nếu vẫn muốn trả thù:
KHÔNG GỬI – KHÔNG NÓI – KHÔNG HÀNH ĐỘNG.
Đây là MN 20 đi thẳng vào đời sống.
59. VÍ DỤ TỔNG HỢP 2 – THAM MUA MỘT MÓN
ĐỔI
Đóng trang.
THẤY
Nhìn khoản nợ và hậu quả.
QUAY
Không xem quảng cáo nữa.
SOI
Hỏi:
“Tôi thật sự cần hay chỉ muốn chứng minh?”
CHẶN
Không bấm mua.
60. VÍ DỤ TỔNG HỢP 3 – MỘT MỐI HẬN CŨ
ĐỔI
Quán từ hoặc làm việc thiện.
THẤY
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 956
Nhìn số năm bình an mình đã mất.
QUAY
Ngừng tìm thông tin về họ.
SOI
Nhìn điều mình vẫn đòi:
xin lỗi?
công nhận?
trả giá?
CHẶN
Không để ý hận biến thành hành vi trả đũa.
61. VÍ DỤ TỔNG HỢP 4 – CỨ LO MỘT CHUYỆN TƯƠNG LAI
ĐỔI
Quay về việc cần làm hôm nay.
THẤY
Nhìn sự kiệt sức do lo.
QUAY
Ngừng đọc thêm những thứ làm lo tăng.
SOI
Hỏi:
“Tôi đang muốn kiểm soát điều gì chưa tới?”
CHẶN
Đặt thời gian dừng suy nghĩ và quay về sinh hoạt.
62. VÍ DỤ TỔNG HỢP 5 – MUỐN NÓI CHO THẮNG
ĐỔI
Nhớ mục tiêu:
giải quyết.
THẤY
Nhìn hậu quả nếu làm người kia mất mặt.
QUAY
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 957
Không tiếp tục nghĩ câu phản công.
SOI
Nhìn cái tôi:
“Tôi phải thắng.”
CHẶN
Im nếu cần.
Đây là:
TU NGAY TRONG CUỘC NÓI CHUYỆN.
63. KHI Ý NGHĨ LIÊN QUAN MỘT VIỆC THẬT SỰ CẦN GIẢI QUYẾT
Không nên dùng MN 20 thành:
cách trốn trách nhiệm.
Ví dụ:
có khoản nợ cần trả.
có bệnh cần khám.
có giấy tờ cần xử lý.
có mâu thuẫn cần nói.
Lúc ấy:
LÀM VIỆC CẦN LÀM.
Điều cần bỏ là:
DÒNG SUY NGHĨ BẤT THIỆN KHÔNG GIÚP GIẢI QUYẾT.
64. PHÂN BIỆT “SUY NGHĨ GIẢI QUYẾT” VÀ “SUY NGHĨ QUAY VÒNG”
SUY NGHĨ GIẢI QUYẾT
Có:
mục tiêu.
thông tin.
quyết định.
hành động.
SUY NGHĨ QUAY VÒNG
Cùng câu đó.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 958
cùng hình đó.
cùng sân đó.
không đi tới:
giải pháp.
Đây là điểm rất quan trọng.
65. CÔNG THỨC THỨ NHẤT
ĐỔI – THẤY – QUAY – SOI – CHẶN
ĐỔI
Đưa tâm sang thiện.
THẤY
Thấy nguy hiểm.
QUAY
Không chú ý nữa.
SOI
Tìm nhiên liệu.
CHẶN
Không cho bất thiện điều khiển hành động.
66. CÔNG THỨC THỨ HAI
THAM – SÂN – SI: KIỂM BA GỐC
Khi một dòng suy nghĩ tới,
hỏi:
“NÓ ĐANG NUÔI THAM KHÔNG?”
“NÓ ĐANG NUÔI SÂN KHÔNG?”
“NÓ ĐANG NUÔI SI KHÔNG?”
Nếu có:
XỬ LÝ.
67. CÔNG THỨC THỨ BA
Ý NGHĨ – KHÔNG PHẢI MỆNH LỆNH
Một câu rất dễ nhớ:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 959
“TÔI CÓ MỘT Ý NGHĨ”
KHÁC VỚI
“TÔI PHẢI LÀM THEO Ý NGHĨ.”
Đây là khoảng tự do của người tu.
68. CÔNG THỨC THỨ TƯ
ĐỪNG NUÔI CÁI MÌNH MUỐN HẾT
Muốn bớt sân
mà mỗi ngày:
đọc lại lời xúc phạm,
thì khó.
Muốn bớt tham
mà cả ngày:
xem đối tượng tham,
thì khó.
Muốn bớt ganh
mà ngày nào cũng:
so,
thì khó.
Công thức:
MUỐN NÓ YẾU → ĐỪNG CHO NÓ ĂN.
69. CÔNG THỨC THỨ NĂM
GỐC – NHIÊN LIỆU – HÀNH ĐỘNG
Hỏi ba câu:
GỐC LÀ GÌ?
NHIÊN LIỆU NÀO ĐANG NUÔI NÓ?
HÀNH ĐỘNG NÀO CẮT NHIÊN LIỆU?
Đây là một cách ứng dụng rất mạnh.
70. CÔNG THỨC THỨ SÁU
TÂM CHƯA HẾT – THÂN VẪN CÓ THỂ DỪNG
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 960
Đây là câu rất quan trọng.
Có lúc:
sân chưa hết.
Nhưng miệng:
có thể không chửi.
Tham chưa hết.
Nhưng tay:
có thể không lấy.
Ý hại chưa hết.
Nhưng thân:
có thể không đánh.
Cho nên:
KHÔNG CẦN CHỜ TÂM HOÀN HẢO MỚI GIỮ GIỚI.
71. BÀI THỰC HÀNH MỘT NGÀY
Hôm nay chọn:
MỘT DÒNG SUY NGHĨ QUAY LẠI NHIỀU NHẤT.
Khi nó xuất hiện,
đừng lập tức theo.
Hỏi:
“Đây là tham, sân hay si?”
Sau đó thử:
BƯỚC MỘT – ĐỔI.
Nếu chưa đủ:
BƯỚC HAI – NHÌN HẬU QUẢ.
Nếu vẫn còn:
BƯỚC BA – KHÔNG CHÚ Ý.
Nếu lại quay:
BƯỚC BỐN – TÌM GỐC.
Nếu có nguy cơ thành việc xấu:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 961
BƯỚC NĂM – CHẶN.
Cuối ngày ghi nhớ:
“Cách nào hiệu quả nhất với tâm tôi?”
72. BÀI THỰC HÀNH NĂM NGÀY
NGÀY 1 – ĐỔI
Mỗi khi sân nhẹ:
đổi sang một đề mục thiện.
NGÀY 2 – THẤY
Khi tham:
nhìn hậu quả.
NGÀY 3 – QUAY
Không tiếp tục xem thứ làm phiền não tăng.
NGÀY 4 – SOI
Tìm một cái gốc đằng sau một dòng suy nghĩ lặp.
NGÀY 5 – CHẶN
Dừng một hành động biết rõ là bất thiện dù tâm vẫn còn muốn.
73. THỰC HÀNH BUỔI SÁNG
Có thể đọc:
Hôm nay tôi nhớ rằng ý nghĩ không phải mệnh lệnh.
Khi tham, sân, si khởi lên, tôi không vội đi theo.
Tôi có thể đổi đề mục.
Tôi có thể nhìn hậu quả.
Tôi có thể ngừng chú ý.
Tôi có thể soi nguyên nhân.
Và khi cần, tôi có thể dứt khoát không cho bất thiện thành hành động.
74. THỰC HÀNH BUỔI TỐI
Trước khi ngủ hỏi:
Hôm nay dòng suy nghĩ nào quay lại nhiều nhất?
Nó liên hệ tham, sân hay si?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 962
Tôi có nuôi nó bằng cách đọc, nhìn hay nhớ lại không?
Tôi đã thử đổi đối tượng chưa?
Tôi có nhìn hậu quả của nó không?
Gốc của nó có thể là gì?
Hôm nay có việc bất thiện nào tôi đã dừng được dù tâm còn muốn không?
75. CÂU GHI NHỚ THỨ NHẤT
Ý nghĩ bước vào tâm không có nghĩa mình phải mời nó ở lại cả ngày.
76. CÂU GHI NHỚ THỨ HAI
Đừng chỉ nói “đừng nghĩ nữa”; hãy cho tâm một đối tượng lành hơn để đi tới.
77. CÂU GHI NHỚ THỨ BA
Một cơn sân thường hấp dẫn vì nó chỉ cho mình thấy cái hả trước mắt và giấu cái khổ phía sau.
78. CÂU GHI NHỚ THỨ TƯ
Có những chuyện không buông được vì ngày nào mình cũng tự mở cửa cho nó bước vào lại.
79. CÂU GHI NHỚ THỨ NĂM
Đừng liên tục nhìn thứ làm tham tăng rồi hỏi tại sao mình không hết tham.
80. CÂU GHI NHỚ THỨ SÁU
Đừng đọc lại lời làm mình sân hàng chục lần rồi mong tâm tự bình an.
81. CÂU GHI NHỚ THỨ BẢY
Có khi vấn đề không phải người kia nói gì, mà là cái tôi trong mình đang cần họ công nhận điều gì.
82. CÂU GHI NHỚ THỨ TÁM
Thấy được nhiên liệu của một dòng suy nghĩ là bắt đầu rút quyền lực khỏi nó.
83. CÂU GHI NHỚ THỨ CHÍN
Tâm chưa hết sân vẫn có thể giữ miệng; tâm chưa hết tham vẫn có thể giữ tay.
84. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI
Người mạnh không phải người chưa bao giờ có ý nghĩ xấu; người mạnh là người ngày càng ít để ý nghĩ xấu quyết định hành động.
85. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI MỘT
Không phải chuyện gì xuất hiện trong đầu cũng xứng đáng được mình ngồi nghe.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 963
86. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI HAI
Muốn một dòng suy nghĩ yếu đi, trước hết hãy ngừng cung cấp thức ăn cho nó.
87. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI BA
Có lúc buông không phải là cảm xúc đã hết; buông bắt đầu từ việc mình không tiếp tục nuôi nó.
88. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
Khi ý nghĩ bất thiện liên hệ:
THAM.
SÂN.
SI
cứ quay lại,
xin nhớ năm bước của Kinh An Trú Tầm – MN 20:
MỘT – ĐỔI
ĐỔI SANG ĐỀ MỤC THIỆN.
HAI – THẤY
NHÌN SỰ NGUY HIỂM VÀ HẬU QUẢ.
BA – QUAY
KHÔNG NHỚ, KHÔNG CHÚ Ý THÊM.
BỐN – SOI
NHÌN CÁI ĐANG NUÔI DÒNG SUY NGHĨ.
NĂM – CHẶN
DÙNG Ý CHÍ KHÔNG CHO BẤT THIỆN TIẾP TỤC CHI PHỐI.
Công thức:
ĐỔI → THẤY → QUAY → SOI → CHẶN.
Khi năm cách ấy được tu tập thành thục, bài kinh mô tả người tu dần làm chủ sự chú ý của mình, tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm và định tĩnh. (SuttaCentral)
Nguồn: Kinh An Trú Tầm – Vitakkasaṇṭhāna Sutta; Trung Bộ Kinh – Majjhima Nikāya; kinh số 20; mã tra cứu quốc tế MN 20; nguyên bản Kinh tạng Pāli. (SuttaCentral)
89. CÂU HỎI LIVESTREAM
1. Quý vị có một dòng suy nghĩ nào biết rõ là làm mình khổ nhưng vẫn cứ nghĩ lại không?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 964
2. Khi sân, quý vị thường đổi đề mục hay ngồi nghĩ thêm về người làm mình sân?
3. Có bao giờ chỉ cần đóng một trang mạng hoặc không đọc lại một bình luận là tâm đã nhẹ đi rất nhiều không?
4. Theo quý vị, tại sao Đức Phật đặt việc đổi sang một đề mục thiện làm phương pháp đầu tiên?
5. Có phải càng nói “đừng nghĩ” thì đôi khi tâm càng nghĩ không?
6. Khi một cái muốn rất mạnh, nhìn hậu quả lâu dài có làm sức hấp dẫn của nó giảm không?
7. Có món gì mình từng rất muốn nhưng nếu lúc ấy nhìn rõ hậu quả thì có lẽ đã không lấy không?
8. Có lời xúc phạm nào quý vị tự phát lại trong đầu nhiều hơn số lần người kia thật sự nói không?
9. Theo quý vị, khác nhau thế nào giữa “không chú ý thêm” và “trốn tránh một vấn đề cần giải quyết”?
10. Có phải một việc đã giải quyết xong nhưng mình vẫn có thể tự làm nó sống lại bằng cách nhớ đi nhớ lại không?
11. Có dòng sân nào thật ra được nuôi bởi nhu cầu được kính, được công nhận hoặc được thắng không?
12. Khi thấy gốc của một cơn sân, quý vị có thấy cơn sân khác đi không?
13. Có lúc nào tâm chưa hết muốn nhưng mình vẫn có thể quyết định không làm điều sai không?
14. Theo quý vị, tại sao phương pháp mạnh nhất lại được Đức Phật đặt sau cùng chứ không phải đầu tiên?
15. Một người có ý nghĩ bất thiện khởi lên nhưng không nuôi và không làm theo có giống người chủ động tu hơn người tự ghét mình vì có ý nghĩ ấy không?
16. Quý vị có phân biệt được suy nghĩ để giải quyết vấn đề với suy nghĩ quay vòng làm mình mệt không?
17. Nếu chỉ nhớ năm chữ, quý vị có thể nhớ: “Đổi – Thấy – Quay – Soi – Chặn” không?
18. Trong năm cách ấy, quý vị thấy cách nào mình cần tập nhiều nhất ngay hiện nay?
90. CÂU KẾT ĐỂ ĐỌC TRÊN LIVESTREAM
Kính thưa quý vị,
có khi người làm mình khổ
không còn đứng trước mặt mình.
Chuyện làm mình đau
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 965
đã xảy ra:
một tháng.
một năm.
thậm chí:
mười năm trước.
Nhưng tâm mình vẫn:
mở cửa.
mời chuyện ấy vào.
cho nó ngồi xuống.
rồi tự kể lại từ đầu.
Có khi một người chỉ nói:
một câu.
Nhưng mình nói lại câu ấy trong đầu:
một ngàn lần.
Vậy đến một lúc,
mình phải hỏi:
“NGƯỜI KIA ĐANG LÀM TÔI KHỔ – HAY TÂM TÔI ĐANG TIẾP TỤC NUÔI CÁI HỌ ĐÃ LÀM?”
Kinh An Trú Tầm cho một câu trả lời rất thực tế.
Đức Phật không chỉ nói:
“Buông đi.”
Ngài cho:
PHƯƠNG PHÁP.
Nếu một ý nghĩ bất thiện đến:
BƯỚC MỘT – ĐỔI.
Đưa tâm sang:
một pháp thiện.
Nếu nó vẫn tới:
BƯỚC HAI – THẤY.
Nhìn cho rõ:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 966
nó đang lấy của mình cái gì.
Sự bình an?
giấc ngủ?
thời gian?
một mối quan hệ?
giới hạnh?
Nếu vẫn chưa hết:
BƯỚC BA – QUAY.
Đừng tiếp tục:
đọc lại.
xem lại.
tìm lại.
nghe lại.
tự nhắc lại.
Đừng cho nó:
ăn.
Nếu nó vẫn quay về:
BƯỚC BỐN – SOI.
Hỏi:
“Gốc thật sự của chuyện này là gì?”
Tôi đang:
tự ái?
ganh?
sợ mất?
muốn thắng?
muốn được xin lỗi?
muốn được công nhận?
Thấy được gốc,
nhiều khi câu chuyện:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 967
nhỏ lại.
Và nếu tất cả những điều đó vẫn chưa đủ,
mà tâm đang đẩy mình đến một hành vi bất thiện,
thì:
BƯỚC NĂM – CHẶN.
Không gửi.
Không nói.
Không đánh.
Không lấy.
Không làm.
Tâm chưa hết:
không sao.
Nhưng nghiệp xấu:
ĐÃ ĐƯỢC CHẶN Ở CỬA.
Cho nên bài hôm nay xin nhớ:
ĐỔI → THẤY → QUAY → SOI → CHẶN.
Và nhớ thêm một câu:
Ý NGHĨ KHÔNG PHẢI MỆNH LỆNH.
Nó xuất hiện:
không có nghĩa mình phải theo.
Nó nói:
không có nghĩa mình phải nghe.
Nó thúc:
không có nghĩa tay mình phải làm.
Đó chính là chỗ:
MÌNH BẮT ĐẦU LẤY LẠI QUYỀN ĐỐI VỚI TÂM MÌNH.
Khi chưa tu,
tâm nghĩ gì:
mình chạy theo đó.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 968
Khi bắt đầu tu,
tâm nghĩ:
mình biết.
Rồi mình hỏi:
“Ý này thiện hay bất thiện?”
Nếu thiện:
nuôi.
Nếu bất thiện:
dùng Pháp.
Đó là lý do cuối bài kinh, Đức Phật mô tả người đã thuần thục những cách này có khả năng hướng tâm tới điều nên hướng và không hướng tâm tới điều không nên hướng; tâm trở nên an trú, an tịnh và định tĩnh. (SuttaCentral)
ĐỪNG SỢ VÌ TÂM CÓ VỌNG TƯỞNG.
HÃY HỌC CÁCH KHÔNG NUÔI VỌNG TƯỞNG.
ĐỪNG TỰ GHÉT MÌNH VÌ MỘT Ý BẤT THIỆN.
HÃY DÙNG CHÁNH PHÁP ĐỂ KHÔNG CHO NÓ THÀNH LỜI, THÀNH VIỆC, THÀNH THÓI QUEN.
Đó là cách đưa Kinh An Trú Tầm – Vitakkasaṇṭhāna Sutta, MN 20 vào ngay từng phút của đời sống. (SuttaCentral)
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 969
MỤC 035 - Bài 035 — NĂM UẨN KHÔNG PHẢI “TÔI” – THẤY VÔ NGÃ ĐỂ BỚT CHẤP, BỚT KHỔ 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
Đức Phật dạy năm vị Tỷ-kheo:
“Sắc là vô ngã. Thọ là vô ngã. Tưởng là vô ngã. Các hành là vô ngã. Thức là vô ngã.”
Ngài tiếp tục chỉ rõ:
nếu sắc thật sự là tự ngã,
thì sắc sẽ không đưa tới bệnh hoạn, biến đổi ngoài ý muốn,
và mình có thể ra lệnh:
“Sắc của tôi phải như thế này, đừng như thế kia.”
Nhưng thực tế không phải vậy.
Cũng như thế với:
thọ,
tưởng,
hành,
thức. (SuttaCentral)
Đức Phật lại hỏi:
“Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý để xem là: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ hay không?”
Các vị Tỷ-kheo thưa:
“Thưa không, bạch Thế Tôn.” (SuttaCentral)
2. NGUỒN KINH
Tên kinh tiếng Việt: Kinh Năm Vị – thường được biết rộng rãi là Kinh Vô Ngã Tướng
Tên Pāli: Anattalakkhaṇa Sutta
Thuộc: Tương Ưng Bộ Kinh – Saṃyutta Nikāya
Tương Ưng: Tương Ưng Uẩn – Khandha Saṃyutta
Số kinh: 59
Mã tra cứu quốc tế: SN 22.59
Địa điểm: Isipatana – vườn Lộc Uyển, Bārāṇasī
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 970
Đối tượng nghe pháp: Năm vị Tỷ-kheo đầu tiên
Bản dịch tiếng Việt: Hòa thượng Thích Minh Châu
Nguyên bản: Kinh tạng Pāli. SuttaCentral lưu bản Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu tại SN 22.59 – Anattalakkhaṇasutta. (SuttaCentral)
Khi cần trả lời thật ngắn:
“Đây là Kinh Vô Ngã Tướng – Anattalakkhaṇa Sutta, Tương Ưng Bộ Kinh – Saṃyutta Nikāya, Tương Ưng Uẩn, kinh số 59, mã quốc tế SN 22.59, bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, nguyên bản Kinh tạng Pāli.” (SuttaCentral)
3. TỪ KHÓA VIỆT – PĀLI – NGHĨA
VÔ NGÃ – ANATTĀ – KHÔNG PHẢI MỘT CÁI “TÔI” ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ, BẤT BIẾN
Anattā thường được dịch là:
vô ngã.
không phải tự ngã.
Điều này không có nghĩa:
“Không có gì hết.”
Cũng không có nghĩa:
“Không cần chịu trách nhiệm.”
Mà bài kinh đang chỉ:
NĂM UẨN MÀ MÌNH ĐANG CHẤP LÀ “TÔI” KHÔNG THẬT SỰ NẰM TRONG QUYỀN ĐIỀU KHIỂN TUYỆT ĐỐI CỦA MÌNH.
Chúng:
sinh.
đổi.
già.
bệnh.
mất.
Không chịu đứng yên theo ý mình. (SuttaCentral)
4. NĂM UẨN – PAÑCAKKHANDHA – NĂM NHÓM TẠO NÊN KINH NGHIỆM CON NGƯỜI
Năm uẩn là:
SẮC – RŪPA.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 971
THỌ – VEDANĀ.
TƯỞNG – SAÑÑĀ.
HÀNH – SAṄKHĀRA.
THỨC – VIÑÑĀṆA.
Đức Phật lần lượt xét cả năm và đều chỉ:
VÔ NGÃ. (
SuttaCentral
)
5. SẮC – RŪPA – THÂN THỂ VÀ PHẦN VẬT CHẤT
Rūpa là:
sắc.
Trong ứng dụng dễ hiểu:
thân này,
hình dáng,
tóc,
da,
xương,
các phần vật chất của thân.
Mình thường nói:
“Thân tôi.”
Nhưng thử hỏi:
NÓ CÓ HOÀN TOÀN NGHE LỜI MÌNH KHÔNG?
Nếu thật sự là:
“tôi”
và hoàn toàn thuộc quyền mình,
thì mình có thể ra lệnh:
“Đừng già.”
“Đừng đau.”
“Đừng bệnh.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 972
Nhưng không được.
Đây chính là cách Đức Phật đưa người nghe nhìn vào tính không tự chủ của sắc. (SuttaCentral)
6. THỌ – VEDANĀ – CẢM GIÁC DỄ CHỊU, KHÓ CHỊU, TRUNG TÍNH
Vedanā là:
thọ.
cảm giác.
Có lúc:
vui.
Có lúc:
khó chịu.
Có lúc:
bình thường.
Nếu thọ là:
một cái tôi hoàn toàn tự chủ,
mình có thể nói:
“Từ nay chỉ vui, không buồn.”
Nhưng không được.
Cảm giác:
đến rồi đi.
Đó là lý do không nên nắm một cảm giác thành:
“ĐÂY LÀ TÔI.”
7. TƯỞNG – SAÑÑĀ – NHẬN DIỆN, GHI DẤU, GỌI TÊN
Saññā là:
tưởng.
Nó giúp mình nhận ra:
người.
màu.
hình.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 973
tên.
ký ức.
Nhưng tưởng có thể:
đúng.
sai.
nhớ thiếu.
nhớ lệch.
Nếu mình lấy mọi tưởng làm:
“Tôi chắc chắn đúng,”
rất dễ:
chấp.
8. HÀNH – SAṄKHĀRA – CÁC TẠO TÁC, Ý HƯỚNG, KHUYNH HƯỚNG TÂM
Saṅkhāra trong ngữ cảnh năm uẩn thường chỉ:
các hành,
các tạo tác tâm,
ý muốn,
khuynh hướng,
phản ứng.
Ví dụ:
muốn.
ghét.
chọn.
quyết.
thúc đẩy.
Nhưng các hành này cũng:
đổi.
Một ngày mình muốn.
Ngày khác:
không muốn nữa.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 974
Vậy nếu mình chấp:
“Tôi chính là cái muốn này,”
thì khi nó đổi,
mình rất dễ:
khủng hoảng.
9. THỨC – VIÑÑĀṆA – SỰ NHẬN BIẾT
Viññāṇa là:
thức,
sự nhận biết.
Mắt có nhãn thức.
Tai có nhĩ thức.
Các thức sinh theo điều kiện.
Đức Phật cũng chỉ:
THỨC LÀ VÔ NGÃ. (
SuttaCentral
)
10. GIẢI CỤM THỨ NHẤT
“SẮC LÀ VÔ NGÔ
Kính thưa quý vị,
đây là chỗ rất dễ ứng dụng.
Mình nhìn gương:
thấy già.
Tâm nói:
“Tôi xấu đi.”
Nhưng bài kinh nhắc:
THÂN ĐANG ĐỔI.
Không nhất thiết phải biến:
sự thay đổi của thân
thành:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 975
bản án về giá trị của mình.
Thân già:
là thân già.
Không có nghĩa:
GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC CỦA MÌNH GIẢM.
11. VÍ DỤ 1 – TÓC BẠC
Tóc bạc.
Nếu chấp thân mạnh:
tâm buồn.
Nếu thấy:
“Sắc đang biến đổi,”
tâm nhẹ hơn.
Không phải bỏ chăm sóc thân.
Vẫn có thể:
gọn gàng.
sạch sẽ.
chữa bệnh.
Nhưng không cần:
đánh đồng thân với toàn bộ cái “tôi”.
12. VÍ DỤ 2 – BỆNH
Bệnh:
là thật.
Không phủ nhận.
Nhưng nếu thêm:
“Tại sao thân tôi phản bội tôi?”
thì khổ tăng.
Thấy theo Pháp:
THÂN VỐN KHÔNG NẰM DƯỚI QUYỀN KIỂM SOÁT TUYỆT ĐỐI.
Điều này không làm bệnh hết.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 976
Nhưng có thể làm:
CHẤP GIẢM.
13. GIẢI CỤM THỨ HAI
“THỌ LÀ VÔ NGÔ
Một cảm giác vui sinh.
Tâm nói:
“Tôi phải giữ.”
Một cảm giác buồn sinh.
Tâm nói:
“Tôi phải đẩy.”
Nhưng thọ:
đến rồi đi.
Nếu thấy như vậy,
mình không cần:
bám vui.
cũng không cần:
hoảng vì buồn.
14. VÍ DỤ 3 – MỘT NGÀY RẤT BUỒN
Nếu nói:
“Tôi là người bất hạnh,”
mình biến:
một trạng thái
thành:
căn cước.
Nếu nói:
“Hiện giờ đang có cảm thọ buồn,”
tâm đã khác.
Buồn:
có thể đi.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 977
Không cần lấy nó làm:
“TÔI.”
15. VÍ DỤ 4 – MỘT NIỀM VUI RẤT LỚN
Được khen.
được nhiều người xem.
được thành công.
Thọ vui sinh.
Nếu chấp:
“Đây là tôi.”
thì khi niềm vui mất,
khổ sẽ mạnh.
Thấy:
“Thọ vui đang có,”
mình tận hưởng mà:
BỚT DÍNH.
16. GIẢI CỤM THỨ BA
“TƯỞNG LÀ VÔ NGÔ
Mình nhớ:
một chuyện.
Nhưng ký ức không phải lúc nào cũng:
đầy đủ.
Có khi mình nhớ phần:
mình đau.
quên phần:
mình đã nói gì.
Nếu chấp tưởng:
rất dễ nghĩ:
“Tôi nhớ vậy là chắc chắn đúng.”
Nhưng tưởng:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 978
cũng là pháp biến đổi.
17. VÍ DỤ 5 – MÂU THUẪN CŨ
Hai người cùng nhớ:
một chuyện
nhưng khác nhau.
Mỗi người nói:
“Tôi nhớ rõ lắm.”
Đây là lúc phải:
khiêm.
Có thể trí nhớ:
không hoàn toàn chính xác.
Thấy tưởng không phải tự ngã giúp:
BỚT CỨNG VỚI KÝ ỨC CỦA MÌNH.
18. GIẢI CỤM THỨ TƯ
“HÀNH LÀ VÔ NGÔ
Có một cơn sân sinh.
Nếu nói:
“Tôi là người sân,”
mình dính.
Nếu nói:
“Một hành sân đang sinh,”
mình có khoảng cách.
Khoảng cách ấy giúp:
KHÔNG NHẤT THIẾT LÀM THEO.
19. VÍ DỤ 6 – CÁI MUỐN
Hôm nay rất muốn:
một món.
Ba tháng sau:
không còn thích.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 979
Vậy cái muốn đó có phải:
một cái tôi bất biến không?
Không.
Nó:
đến.
đổi.
mất.
Thấy vậy,
tham có thể:
nhẹ.
20. GIẢI CỤM THỨ NĂM
“THỨC LÀ VÔ NGÔ
Nhận biết:
sinh tùy duyên.
Thấy:
do mắt và sắc.
Nghe:
do tai và tiếng.
Kinh nghiệm nhận biết:
luôn thay đổi.
Vậy lấy một dòng thức biến đổi làm:
“tôi bất biến”
là điều Đức Phật bảo phải quán lại. (SuttaCentral)
21. GIẢI CỤM QUAN TRỌNG
“CÁI GÌ VÔ THƯỜNG, KHỔ, CHỊU SỰ BIẾN HOẠI…”
Đức Phật dẫn năm vị Tỷ-kheo qua một chuỗi rất rõ:
VÔ THƯỜNG.
Rồi:
CÁI VÔ THƯỜNG CÓ DỄ CHỊU MÃI KHÔNG?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 980
Không.
Rồi:
CÁI VÔ THƯỜNG, KHỔ, BIẾN HOẠI CÓ HỢP ĐỂ GỌI “CỦA TÔI, LÀ TÔI, TỰ NGÃ CỦA TÔI” KHÔNG?
Các vị trả lời:
KHÔNG. (
SuttaCentral
)
Đây là mạch lý luận chính của bài kinh.
22. BA CÂU CHẤP RẤT QUAN TRỌNG
Bài kinh chỉ ba kiểu chấp:
“CÁI NÀY LÀ CỦA TÔI.”
“CÁI NÀY LÀ TÔI.”
“CÁI NÀY LÀ TỰ NGÃ CỦA TÔI.” (
SuttaCentral
)
Ba câu này có thể đi vào:
thân.
cảm giác.
quan điểm.
ký ức.
thành công.
danh tiếng.
23. “CỦA TÔI” – MAMĀYITA – CHẤP SỞ HỮU
Một vật:
“Của tôi.”
Một người:
“Người của tôi.”
Một ý kiến:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 981
“Quan điểm của tôi.”
Từ “của tôi” rất dễ sinh:
SỢ MẤT.
Càng nắm:
càng lo.
24. “LÀ TÔI” – ASMI – ĐỒNG HÓA
Nếu nói:
“Tôi là người thành công,”
khi thất bại:
đau mạnh.
Nếu nói:
“Tôi là người đẹp,”
khi già:
đau mạnh.
Nếu nói:
“Tôi là người luôn đúng,”
khi bị sửa:
sân mạnh.
Chấp “tôi” càng cứng,
thay đổi càng:
đau.
25. “TỰ NGÃ CỦA TÔI” – ATTĀ – CÁI MÀ MÌNH TƯỞNG LÀ BẢN THỂ CỐ ĐỊNH
Bài kinh không cho năm uẩn vai trò:
một tự ngã bất biến.
Bởi cả năm:
đều vô thường,
chịu biến đổi,
không hoàn toàn tự chủ. (SuttaCentral)
26. GHÉP NGHĨA TOÀN BÀI
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 982
Có thể hiểu thật dễ:
Thân, cảm giác, nhận thức, các tạo tác tâm và thức đều biến đổi, không hoàn toàn nằm trong quyền điều khiển của mình. Vì vậy không nên chấp chúng là “của tôi”, “là tôi” hay “tự ngã của tôi”. Khi thấy như thật bằng trí tuệ, sự chán lìa đối với chấp thủ phát sinh, tham ái suy giảm và tâm đi về giải thoát. (SuttaCentral)
Công thức:
THẤY BIẾN ĐỔI → BỚT NHẬN LÀ “TÔI” → BỚT NẮM → BỚT KHỔ.
27. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ GÌ?
Kính thưa quý vị,
mình khổ rất nhiều vì:
MUỐN CÁI ĐANG ĐỔI PHẢI ĐỨNG YÊN.
Muốn:
thân không già.
cảm giác vui không mất.
người thương không thay.
ý kiến mình không bị bác.
danh không giảm.
nhưng pháp hữu vi:
không nghe.
Vậy khổ nằm ở đâu?
Một phần lớn nằm ở:
CHẤP CÁI ĐANG ĐỔI THÀNH “TÔI” VÀ “CỦA TÔI”.
28. VÍ DỤ 7 – NGOẠI HÌNH
Một người từng rất đẹp.
Sau nhiều năm:
thay đổi.
Nếu toàn bộ giá trị đời mình đặt ở:
ngoại hình,
thì vô thường trở thành:
đại khổ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 983
Nếu thấy:
“Sắc vô thường,”
mình vẫn chăm sóc thân,
nhưng không lấy thân làm:
TOÀN BỘ MÌNH.
29. VÍ DỤ 8 – DANH TIẾNG
Hôm nay:
được khen.
Ngày mai:
bị chê.
Nếu danh tiếng là:
“tôi,”
mỗi bình luận sẽ:
đánh trúng cái tôi.
Nếu thấy danh cũng:
đổi,
tâm bớt:
lệ thuộc.
30. VÍ DỤ 9 – SỐ NGƯỜI XEM
Hôm nay:
nhiều.
Ngày mai:
ít.
Nếu nói:
“Số người xem là giá trị của tôi,”
tâm sẽ lên xuống theo:
con số.
Nếu thấy:
đó chỉ là dữ liệu thay đổi,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 984
mình có thể:
học từ dữ liệu
mà không biến nó thành:
BẢN NGÃ.
31. VÍ DỤ 10 – TIỀN
Có tiền:
vui.
Mất tiền:
khổ.
Một phần vì:
“tiền của tôi.”
Tài sản cần được:
quản lý.
Nhưng nếu chấp quá mạnh,
mất một phần tài sản có thể thành:
cảm giác mất cả chính mình.
Thấy vô ngã giúp:
QUẢN LÝ MÀ BỚT ĐỒNG HÓA.
32. VÍ DỤ 11 – CON CÁI
Cha mẹ thường nghĩ:
“Con của tôi.”
Đúng về quan hệ.
Nhưng nếu từ đó thành:
“Con phải sống theo ý tôi,”
chấp sở hữu tăng.
Con là:
một con người có nhân duyên riêng.
Thương:
không nhất thiết là:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 985
SỞ HỮU.
33. VÍ DỤ 12 – QUAN ĐIỂM
Một ý kiến vừa sinh:
mình nói:
“Quan điểm của tôi.”
Người khác bác:
tâm nóng.
Tại sao?
Vì không còn là:
một ý kiến.
Nó đã thành:
“TÔI.”
Nếu chỉ xem:
“Đây là một cách hiểu hiện tại,”
mình dễ sửa hơn.
34. VÍ DỤ 13 – MỘT CƠN SÂN
Sân sinh.
Nếu đồng hóa:
“Tôi sân, tôi phải nói,”
nghiệp đi tiếp.
Nếu thấy:
“Sân đang sinh trong hành uẩn,”
mình có cơ hội:
không theo.
Đây là ứng dụng rất thực tế của vô ngã.
35. VÍ DỤ 14 – MỘT CẢM GIÁC ĐAU
Đau:
là thọ.
Nếu thêm:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 986
“Tại sao tôi lại phải đau?”
khổ tâm tăng.
Nếu thấy:
“Một cảm thọ đau đang có,”
đau thân vẫn có,
nhưng phần chấp:
có thể giảm.
36. VÍ DỤ 15 – KÝ ỨC
Một ký ức xấu trở lại.
Nếu nói:
“Đây là đời tôi,”
nó bao phủ hiện tại.
Nếu thấy:
“Một tưởng cũ đang sinh,”
mình có thể:
nhìn nó
mà không thành:
nó.
37. VÔ NGÃ KHÔNG CÓ NGHĨA KHÔNG CÓ NHÂN QUẢ
Đây là điều phải nói rõ.
Không nên hiểu vô ngã thành:
“Không có tôi, vậy làm gì cũng được.”
Sai.
Hành động vẫn có:
hậu quả.
Nghiệp vẫn có:
quả.
Trách nhiệm đạo đức vẫn:
còn.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 987
Vô ngã nhằm phá:
CHẤP NGÃ.
Không phải phá:
NHÂN QUẢ.
38. VÔ NGÃ KHÔNG CÓ NGHĨA KHÔNG CẦN CHĂM THÂN
Thân vô ngã:
không có nghĩa:
mặc bệnh.
Không ăn.
không ngủ.
không chữa.
Ngược lại,
thấy thân là pháp duyên sinh
thì càng biết:
CHĂM ĐÚNG NHƯNG KHÔNG CHẤP.
39. VÔ NGÃ KHÔNG CÓ NGHĨA KHÔNG CÓ CÁ TÍNH
Mỗi người vẫn có:
tên.
tính cách.
khả năng.
vai trò.
Nhưng những thứ ấy:
không phải tự ngã bất biến.
Chúng:
đổi theo duyên.
40. VÔ NGÃ KHÔNG PHẢI LÀ MỘT CÂU ĐỂ TRANH LUẬN
Không cần dùng:
“vô ngã”
để thắng người khác.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 988
Mục đích là:
BỚT CHẤP.
Nếu nói vô ngã
mà cái tôi tranh luận ngày càng lớn,
thì phải:
nhìn lại.
41. DẤU HIỆU HIỂU VÔ NGÃ ĐÚNG
Không phải:
nói triết lý hay.
Mà:
bị chê bớt sân.
mất đồ bớt loạn.
già bớt sợ.
ý kiến bị sửa bớt tự ái.
người khác không theo ý mình bớt kiểm soát.
Đó là:
VÔ NGÃ ĐI VÀO ĐỜI.
42. CÔNG THỨC THỨ NHẤT
NÓ CÓ NGHE LỜI TÔI TUYỆT ĐỐI KHÔNG?
Khi chấp một thứ,
hỏi:
“NẾU THẬT SỰ LÀ TÔI, TẠI SAO TÔI KHÔNG RA LỆNH NÓ ĐỪNG ĐỔI?”
Thân:
không nghe.
Thọ:
không nghe.
Tưởng:
không nghe.
Hành:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 989
không nghe.
Thức:
không nghe hoàn toàn.
Câu hỏi này đi rất sát logic SN 22.59. (SuttaCentral)
43. CÔNG THỨC THỨ HAI
VÔ THƯỜNG → KHÔNG NẮM LÀ “TÔI”
Một pháp:
đang đổi.
Nếu nắm:
“tôi,”
khổ.
Nếu thấy:
“đang đổi,”
nhẹ.
Công thức:
ĐỔI → THẤY → BỚT CHẤP.
44. CÔNG THỨC THỨ BA
CỦA TÔI – TÔI – TỰ NGÃ CỦA TÔI
Khi đau,
hỏi:
“Tôi đang chấp ở chữ nào?”
CỦA TÔI?
LÀ TÔI?
PHẢI THEO TÔI?
Nhìn được chữ chấp,
đã có cửa:
buông.
45. CÔNG THỨC THỨ TƯ
THÂN ĐANG ĐỔI – THỌ ĐANG ĐỔI – TÂM ĐANG ĐỔI
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 990
Khi khổ,
nhắc:
THÂN ĐANG ĐỔI.
CẢM GIÁC ĐANG ĐỔI.
Ý NGHĨ ĐANG ĐỔI.
CÁI MUỐN ĐANG ĐỔI.
Không cần ép:
buông ngay.
Chỉ thấy:
KHÔNG CÓ GÌ ĐỨNG YÊN.
46. CÔNG THỨC THỨ NĂM
THẤY – KHÔNG ĐỒNG HÓA – KHÔNG NẮM
THẤY
Một pháp đang sinh.
KHÔNG ĐỒNG HÓA
Không vội nói:
“Đây là tôi.”
KHÔNG NẮM
Không giữ:
“Phải ở như vậy.”
Công thức:
THẤY → KHÔNG ĐỒNG HÓA → KHÔNG NẮM.
47. ỨNG DỤNG 1 – KHI GIÀ
Nhìn:
tóc bạc.
da nhăn.
sức giảm.
Nói:
“SẮC ĐANG VÔ THƯỜNG.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 991
Không nói:
“Đời tôi hết giá trị.”
Đây là khác biệt.
48. ỨNG DỤNG 2 – KHI BUỒN
Nói:
“THỌ BUỒN ĐANG CÓ.”
Không cần nói:
“Tôi là người bất hạnh.”
Để cảm thọ có:
cửa đi.
49. ỨNG DỤNG 3 – KHI SÂN
Nói:
“MỘT HÀNH SÂN ĐANG KHỞI.”
Không cần:
“Tôi phải nói.”
Nhìn được:
đã có khoảng cách.
50. ỨNG DỤNG 4 – KHI BỊ SỬA Ý KIẾN
Thay vì:
“Họ bác tôi,”
hãy thử:
“Một quan điểm của tôi đang được kiểm lại.”
Cái tôi giảm,
trí tăng.
51. ỨNG DỤNG 5 – KHI MẤT MỘT VẬT
Buồn:
có.
Nhưng nhắc:
“Vật này từng đến rồi giờ đang rời.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 992
Không biến:
mất vật
thành:
mất chính mình.
52. ỨNG DỤNG 6 – KHI ĐƯỢC KHEN
Nghe:
vui.
Nhưng nhắc:
“Thọ vui đang sinh.”
Không dựng:
“Tôi là người hơn.”
Như vậy:
khen đi qua nhẹ hơn.
53. ỨNG DỤNG 7 – KHI BỊ CHÊ
Nghe:
khó chịu.
Nhắc:
“Một thọ khó chịu đang có.”
Sau đó:
kiểm nội dung.
Đúng:
sửa.
Sai:
bỏ.
Không cần biến:
một câu chê
thành:
bản ngã bị thương.
54. BÀI THỰC HÀNH MỘT NGÀY
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 993
Hôm nay mỗi khi nói:
“Của tôi,”
hãy dừng một giây.
Hỏi:
“THỨ NÀY CÓ ĐỨNG YÊN THEO Ý TÔI KHÔNG?”
Thân tôi?
tiền tôi?
ý kiến tôi?
danh tôi?
người thân tôi?
Không cần bỏ hết.
Chỉ:
NHÌN CHẤP.
55. BÀI THỰC HÀNH NĂM NGÀY
NGÀY 1 – SẮC
Quan sát một thay đổi của thân.
NGÀY 2 – THỌ
Nhìn một cảm giác vui hoặc buồn sinh rồi đổi.
NGÀY 3 – TƯỞNG
Nhìn một ký ức và nhớ rằng ký ức không phải toàn bộ sự thật.
NGÀY 4 – HÀNH
Nhìn một cái muốn hoặc cơn sân sinh rồi yếu đi.
NGÀY 5 – THỨC
Quan sát sự nhận biết thay đổi theo đối tượng.
Cuối ngày hỏi:
“Trong năm uẩn, tôi đang chấp cái nào mạnh nhất là ‘tôi’?”
56. THỰC HÀNH BUỔI SÁNG
Có thể đọc:
Thân này đang thay đổi.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 994
Cảm giác đang thay đổi.
Nhận thức đang thay đổi.
Các ý muốn và phản ứng đang thay đổi.
Sự nhận biết cũng sinh theo duyên.
Tôi tập không nắm năm uẩn thành “của tôi, là tôi, tự ngã của tôi”.
Tôi vẫn sống có trách nhiệm, nhưng bớt chấp vào những gì đang biến đổi.
57. THỰC HÀNH BUỔI TỐI
Trước khi ngủ hỏi:
Hôm nay tôi chấp thân ở đâu?
Tôi chấp cảm giác nào muốn nó phải ở mãi?
Tôi có chấp một ký ức là sự thật tuyệt đối không?
Tôi có lấy một cơn sân làm “tôi” không?
Tôi có biến một ý kiến thành bản ngã không?
Có lúc nào hôm nay tôi thấy được một pháp đang đổi và tâm nhẹ đi không?
58. CÂU GHI NHỚ THỨ NHẤT
Cái gì thật sự thuộc quyền mình tuyệt đối thì phải nghe lời mình tuyệt đối; năm uẩn thì không như vậy.
59. CÂU GHI NHỚ THỨ HAI
Thân già không có nghĩa phẩm giá mình già theo.
60. CÂU GHI NHỚ THỨ BA
Một cảm giác buồn không phải toàn bộ con người mình.
61. CÂU GHI NHỚ THỨ TƯ
Một ý nghĩ không phải “tôi”; một cơn sân cũng không phải “tôi”.
62. CÂU GHI NHỚ THỨ NĂM
Càng đồng hóa với cái vô thường, càng dễ bị vô thường làm đau.
63. CÂU GHI NHỚ THỨ SÁU
Không phải bỏ thân mới là vô ngã; chăm thân mà không lấy thân làm toàn bộ mình mới là chỗ cần học.
64. CÂU GHI NHỚ THỨ BẢY
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 995
Không chấp ý kiến không có nghĩa không có quan điểm; chỉ là biết quan điểm có thể cần sửa.
65. CÂU GHI NHỚ THỨ TÁM
Không chấp người thân không có nghĩa không thương; thương mà bớt sở hữu mới là tình thương nhẹ hơn.
66. CÂU GHI NHỚ THỨ CHÍN
Từ “của tôi” đi càng sâu, nỗi sợ mất thường càng lớn.
67. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI
Vô ngã không xóa trách nhiệm; vô ngã xóa bớt ảo tưởng rằng mọi thứ phải vận hành theo cái tôi.
68. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI MỘT
Thấy năm uẩn là vô ngã không phải để nói hay; là để bớt tự ái, bớt sở hữu và bớt khổ.
69. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI HAI
Cái gì đang đổi thì đừng bắt nó gánh vai trò của một cái “tôi” bất biến.
70. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
SẮC – RŪPA
VÔ NGÃ.
THỌ – VEDANĀ
VÔ NGÃ.
TƯỞNG – SAÑÑĀ
VÔ NGÃ.
HÀNH – SAṄKHĀRA
VÔ NGÃ.
THỨC – VIÑÑĀṆA
VÔ NGÃ.
Và với những gì:
vô thường,
chịu biến đổi,
không hoàn toàn tự chủ,
Đức Phật dạy không nên xem là:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 996
“CÁI NÀY LÀ CỦA TÔI.”
“CÁI NÀY LÀ TÔI.”
“CÁI NÀY LÀ TỰ NGÃ CỦA TÔI.” (
SuttaCentral
)
Công thức dễ nhớ:
THẤY BIẾN ĐỔI → BỚT NHẬN LÀ “TÔI” → BỚT NẮM → BỚT KHỔ.
Nguồn: Kinh Vô Ngã Tướng – Anattalakkhaṇa Sutta; Tương Ưng Bộ Kinh – Saṃyutta Nikāya; Tương Ưng Uẩn – Khandha Saṃyutta; kinh số 59; mã tra cứu quốc tế SN 22.59; bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu; nguyên bản Kinh tạng Pāli. (SuttaCentral)
71. CÂU HỎI LIVESTREAM
1. Nếu thân thật sự là “tôi” hoàn toàn, tại sao mình không thể ra lệnh cho thân đừng già?
2. Có bao giờ quý vị biến một ngày buồn thành câu “đời tôi bất hạnh” không?
3. Một cảm giác vui mất đi có làm mình khổ nhiều vì mình muốn nó phải ở lại không?
4. Theo quý vị, ký ức của mình có phải lúc nào cũng hoàn toàn chính xác không?
5. Có bao giờ mình lấy một cơn sân rồi nói “tính tôi là vậy” không?
6. Nếu một cái muốn ba tháng sau không còn, nó có thật sự là một cái “tôi” bất biến không?
7. Tại sao Đức Phật lại hỏi năm vị Tỷ-kheo rằng cái gì vô thường, chịu biến hoại có hợp lý để gọi là “của tôi, là tôi, tự ngã của tôi” hay không? (SuttaCentral)
8. Vô ngã có phải là phủ nhận nhân quả không?
9. Vô ngã có phải là không cần chăm sóc thân không?
10. Một người bị chê mà rất đau có thể đang chấp điều gì là “tôi”?
11. Số người xem, tiền bạc, danh tiếng có nên trở thành thước đo bản ngã không?
12. Cha mẹ thương con nhưng muốn con phải sống hoàn toàn theo ý mình có thể đang chấp “con của tôi” ở mức nào?
13. Không chấp ý kiến có giúp mình học nhanh hơn không?
14. Có phải càng chấp “của tôi” thì càng sợ mất không?
15. Khi nói “sân đang có” thay vì “tôi là người sân”, tâm có khác không?
16. Theo quý vị, hiểu vô ngã đúng sẽ làm mình vô trách nhiệm hay ngược lại làm mình bớt cái tôi để sống sáng hơn?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 997
17. Trong năm uẩn, quý vị thấy mình đang chấp mạnh nhất ở sắc, thọ, tưởng, hành hay thức?
18. Nếu hôm nay chỉ nhớ một công thức, quý vị có thể nhớ: “Thấy biến đổi – bớt nhận là tôi – bớt nắm – bớt khổ” không?
72. CÂU KẾT ĐỂ ĐỌC TRÊN LIVESTREAM
Kính thưa quý vị,
một trong những cái khổ sâu nhất của con người là:
MUỐN CÁI ĐANG ĐỔI PHẢI ĐỪNG ĐỔI.
Muốn thân:
đừng già.
Muốn cảm giác vui:
đừng mất.
Muốn người thương:
đừng thay.
Muốn ý kiến mình:
đừng bị bác.
Muốn danh:
đừng giảm.
Muốn tài sản:
đừng mất.
Nhưng năm uẩn:
không ký một lời hứa như vậy với mình.
Đức Phật chỉ rất thẳng:
SẮC VÔ NGÃ.
THỌ VÔ NGÃ.
TƯỞNG VÔ NGÃ.
HÀNH VÔ NGÃ.
THỨC VÔ NGÃ.
Và Ngài hỏi:
nếu một pháp:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 998
vô thường,
chịu biến đổi,
không nằm hoàn toàn trong quyền mình,
thì có nên nắm nó thành:
“của tôi,”
“là tôi,”
“tự ngã của tôi”
hay không? (SuttaCentral)
Năm vị Tỷ-kheo thưa:
KHÔNG.
Vậy ứng dụng vào đời sống thế nào?
Khi tóc bạc:
“SẮC ĐANG ĐỔI.”
Không cần:
“Tôi hết giá trị.”
Khi buồn:
“THỌ BUỒN ĐANG CÓ.”
Không cần:
“Tôi là người bất hạnh.”
Khi sân:
“MỘT HÀNH SÂN ĐANG SINH.”
Không cần:
“Tôi phải làm theo.”
Khi một ý kiến bị sửa:
“MỘT QUAN ĐIỂM ĐANG ĐƯỢC KIỂM.”
Không cần:
“Họ đang hạ tôi.”
Khi một vật mất:
“MỘT PHÁP ĐANG RỜI KHỎI ĐIỀU KIỆN CŨ.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 999
Không cần:
“Tôi mất chính mình.”
Đó không phải là:
lạnh lùng.
Đó là:
THƯƠNG MÀ BỚT SỞ HỮU.
SỐNG MÀ BỚT ĐỒNG HÓA.
CHĂM THÂN MÀ BỚT CHẤP THÂN.
CÓ Ý KIẾN MÀ BỚT CHẤP Ý KIẾN.
CÓ TÀI SẢN MÀ BỚT BIẾN TÀI SẢN THÀNH BẢN NGÃ.
Vậy bài hôm nay xin nhớ:
THẤY BIẾN ĐỔI → BỚT NHẬN LÀ “TÔI” → BỚT NẮM → BỚT KHỔ.
Và ba câu cần soi mỗi khi tâm khổ:
“TÔI ĐANG CHẤP CÁI NÀY LÀ CỦA TÔI PHẢI KHÔNG?”
“TÔI ĐANG CHẤP CÁI NÀY LÀ TÔI PHẢI KHÔNG?”
“TÔI ĐANG MUỐN NÓ PHẢI THEO Ý TÔI PHẢI KHÔNG?”
Chỉ cần thấy được chỗ:
CHẤP,
đã có một khe sáng để:
BUÔNG.
Đó là cách đưa Kinh Vô Ngã Tướng – Anattalakkhaṇa Sutta, SN 22.59 ra khỏi trang kinh và đi thẳng vào đời sống hằng ngày. (SuttaCentral)
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1000
MỤC 036 - Bài 036 — OÁN KHÔNG THỂ DẬP TẮT OÁN – CHỈ CÓ KHÔNG OÁN MỚI LÀM OÁN LẮNG XUỐNG 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
Đức Phật dạy:
“Hận thù không thể dập tắt hận thù bằng hận thù. Chỉ có không hận thù mới dập tắt được hận thù. Đó là pháp muôn đời.”
Nguyên văn Pāli:
“Na hi verena verāni sammantīdha kudācanaṃ; averena ca sammanti, esa dhammo sanantano.” (Ancient Buddhist Texts)
Đây là Kinh Pháp Cú – Dhammapada, kệ số 5, thuộc Phẩm Song Yếu – Yamakavagga, bài kệ thứ 5. (SuttaCentral)
2. NGUỒN KINH
Tên kinh tiếng Việt: Kinh Pháp Cú
Tên Pāli: Dhammapada
Thuộc: Tiểu Bộ Kinh – Khuddaka Nikāya
Phẩm: Phẩm Song Yếu
Tên Pāli của phẩm: Yamakavagga
Số kệ: Kệ số 5
Mã tra cứu quốc tế: Dhp 5
Nguyên bản: Kinh tạng Pāli
Kinh Pháp Cú bản Pāli gồm 423 bài kệ, được sắp xếp theo các phẩm; kệ này nằm trong phẩm đầu tiên, Yamakavagga – Phẩm Song Yếu. (SuttaCentral)
Khi cần trả lời thật ngắn trên livestream:
“Câu ‘oán không diệt được oán, chỉ có không oán mới diệt được oán’ nằm trong Kinh Pháp Cú – Dhammapada, Phẩm Song Yếu – Yamakavagga, kệ số 5, mã quốc tế Dhp 5, nguyên bản Kinh tạng Pāli.”
3. NGUYÊN VĂN PĀLI TỪNG DÒNG
DÒNG 1
Na hi verena verāni
Có thể hiểu:
Oán không thể được dập bằng oán.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1001
DÒNG 2
Sammantīdha kudācanaṃ
Có thể hiểu:
Ở đời này, không bao giờ bằng cách ấy mà oán lắng xuống.
DÒNG 3
Averena ca sammanti
Có thể hiểu:
Chỉ bằng không oán thì oán mới lắng xuống.
DÒNG 4
Esa dhammo sanantano
Có thể hiểu:
Đó là nguyên lý lâu đời, pháp thường hằng trong ý nghĩa đạo đức này.
Bản Pāli chuẩn của bốn dòng trên được ghi tại Dhammapada 5. (Ancient Buddhist Texts)
4. TỪ KHÓA VIỆT – PĀLI – NGHĨA
OÁN – VERA – HẬN THÙ, ĐỐI ĐỊCH, THÙ HẬN
Vera có nghĩa:
oán.
hận.
thù.
đối địch.
Không chỉ là:
cơn giận thoáng qua.
Mà có thể là:
MỘT TÂM MUỐN NGƯỜI KIA PHẢI ĐAU.
Mình nhớ chuyện cũ.
Mình muốn:
trả lại.
Mình mong:
người ấy gặp điều xấu.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1002
Đó là:
oán.
5. KHÔNG OÁN – AVERA – KHÔNG NUÔI HẬN THÙ
Avera có thể hiểu là:
không oán.
không thù.
không nuôi ý đối địch.
Điều này không có nghĩa:
KHÔNG BIẾT ĐÚNG SAI.
Không có nghĩa:
AI LÀM GÌ CŨNG BỎ QUA.
Mà là:
XỬ LÝ CÁI SAI MÀ KHÔNG DÙNG HẬN THÙ LÀM NHIÊN LIỆU.
Đây là điểm rất quan trọng.
6. LẮNG XUỐNG – SAMMANTI – DỪNG, LẶNG, NGUÔI
Sammanti có nghĩa gần:
lắng.
dừng.
nguôi.
chấm dứt.
Đức Phật không nói:
oán sẽ:
thắng oán.
Ngài nói:
OÁN CHỈ TẠO THÊM OÁN.
Muốn một vòng oán:
dừng,
phải có người:
KHÔNG TIẾP TỤC ĐỔ THÊM OÁN VÀO.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1003
7. KHÔNG BAO GIỜ – KUDĀCANAṂ – KHÔNG BAO GIỜ, KHÔNG LÚC NÀO
Chữ này rất mạnh.
Không phải:
“Thỉnh thoảng oán không dập được oán.”
Mà là:
KHÔNG BAO GIỜ.
Nếu dùng sân để trị sân,
mình có thể:
ép người kia im.
Nhưng trong tâm họ:
oán có thể:
tăng.
Vòng tranh chấp chưa chắc:
hết.
8. PHÁP LÂU ĐỜI – DHAMMO SANANTANO – NGUYÊN LÝ TỪ LÂU
Dhamma ở đây có thể hiểu:
nguyên lý.
pháp.
Sanantano:
lâu đời,
từ xưa.
Ý là:
ĐÂY KHÔNG PHẢI MỘT MẸO ỨNG XỬ NHẤT THỜI.
Mà là:
một nguyên tắc sâu về cách thù hận vận hành.
9. GHÉP NGHĨA TOÀN KỆ
Có thể hiểu thật dễ:
Nếu một người làm mình đau rồi mình dùng chính hận thù để làm họ đau lại, vòng oán chưa kết thúc mà chỉ đổi người cầm mũi tên. Chỉ khi một bên không tiếp tục nuôi hận, không trả hận bằng hận, vòng ấy mới có cơ hội dừng. Đó là một nguyên lý căn bản mà Đức Phật nêu
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1004
trong Kinh Pháp Cú, kệ số 5. (Ancient Buddhist Texts)
Công thức:
HẬN + HẬN = HẬN TĂNG.
HẬN + KHÔNG HẬN = CÓ CỬA DỪNG.
10. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ GÌ?
Kính thưa quý vị,
mình thường nghĩ:
“Họ làm tôi đau, tôi phải làm họ đau lại thì mới công bằng.”
Nhưng nếu người kia cũng nghĩ:
“Bạn làm tôi đau, tôi phải trả lại,”
thì bao giờ:
hết?
Một người đánh:
người kia đánh lại.
Người kia nói xấu:
mình nói xấu lại.
Người kia xúc phạm:
mình xúc phạm mạnh hơn.
Ai cũng nói:
“Tôi chỉ trả lại.”
Cuối cùng:
KHÔNG AI CÒN NHỚ AI BẮT ĐẦU.
Chỉ còn:
oán.
11. OÁN KHÔNG THỂ DẬP OÁN VÌ SAO?
Bởi tâm sân khi bị đáp lại bằng sân:
thường không nghĩ:
“Tôi sai rồi.”
Mà nghĩ:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1005
“Thấy chưa, họ đúng là kẻ xấu.”
Như vậy phản ứng của mình có thể trở thành:
BẰNG CHỨNG MỚI CHO CƠN OÁN CỦA NGƯỜI KIA.
Rồi vòng lặp:
tiếp tục.
12. VÍ DỤ 1 – NGƯỜI TA NÓI XẤU MÌNH
Mình nghe:
rất đau.
Tâm nói:
“Họ nói tôi, tôi sẽ kể chuyện họ.”
Mình kể.
Người kia nghe.
Họ lại:
kể thêm.
Rồi hai bên:
kéo người khác vào.
Một việc giữa:
hai người
trở thành:
hai nhóm.
Đây là:
OÁN NUÔI OÁN.
13. VÍ DỤ 2 – VỢ CHỒNG
Người này nói:
một câu nặng.
Người kia nghĩ:
“Đã nói vậy thì tôi nói gấp đôi.”
Rồi:
mỗi người đem chuyện cũ ra.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1006
Một câu hiện tại biến thành:
mười năm quá khứ.
Nếu không có ai:
dừng,
vòng ấy rất khó kết thúc.
14. VÍ DỤ 3 – ANH CHỊ EM TRONG GIA ĐÌNH
Một người nghĩ:
“Ngày xưa anh đã làm tôi thiệt.”
Nhiều năm sau có dịp:
trả.
Rồi người kia:
không nhớ lỗi cũ,
chỉ nhớ:
mình vừa bị trả.
Vậy:
oán cũ chưa hết,
oán mới lại sinh.
15. VÍ DỤ 4 – TRÊN MẠNG XÃ HỘI
Một người bình luận:
rất ác.
Mình đáp:
ác hơn.
Người kia chụp lại.
chia sẻ.
Bạn của họ vào.
Bạn của mình vào.
Một câu bình luận có thể trở thành:
HÀNG TRĂM CÂU SÂN.
Không ai:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1007
an.
16. VÍ DỤ 5 – TRONG CỘNG ĐỒNG
Hai nhóm bất đồng.
Ban đầu là:
một việc.
Sau đó:
mỗi bên chỉ nhớ lỗi của bên kia.
Không ai chịu:
dừng.
Thế là:
con cháu có khi còn gánh:
mối hận của người trước.
Đây là sức phá hoại của:
VERA – OÁN.
17. “KHÔNG OÁN” KHÔNG CÓ NGHĨA KHÔNG ĐƯỢC TỰ BẢO VỆ
Điều này phải nói thật rõ.
Nếu người khác:
xâm hại.
đe dọa.
lừa đảo.
vi phạm pháp luật.
mình có thể:
rời đi.
báo cơ quan chức năng.
giữ bằng chứng.
đặt ranh giới.
đòi lại quyền lợi theo pháp luật.
Không oán không có nghĩa:
CHỊU HẠI.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1008
Nó chỉ có nghĩa:
ĐỪNG LẤY Ý MUỐN GÂY KHỔ CHO HỌ LÀM MỤC ĐÍCH.
18. KHÔNG OÁN KHÔNG CÓ NGHĨA PHỦ NHẬN LỖI
Người kia sai:
thì sai.
Không cần:
nói sai thành đúng.
Không cần:
“Tôi từ bi nên thôi coi như không có.”
Có thể nói:
“VIỆC NÀY SAI.”
Nhưng không thêm:
“VÌ THẾ TÔI MUỐN NGƯỜI NÀY KHỔ.”
Đó là hai việc khác nhau.
19. KHÔNG OÁN KHÔNG CÓ NGHĨA PHẢI QUAY LẠI MỐI QUAN HỆ
Có những quan hệ:
đã quá độc hại.
Không oán có thể là:
RỜI XA.
Không trả thù.
Không nói xấu.
Không tiếp tục liên hệ.
Chúc người kia:
biết sửa.
Rồi:
đi tiếp.
Đó vẫn là:
không oán.
20. KHÔNG OÁN KHÔNG CÓ NGHĨA PHẢI QUÊN
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1009
Có việc cần:
nhớ.
Để tránh:
lặp lại.
Nhưng nhớ khác với:
NUÔI HẬN.
Nhớ:
“Người này từng lừa, tôi cần cẩn thận.”
khác với:
“Tôi sẽ sống để chờ ngày họ khổ.”
Một bên:
trí.
Một bên:
oán.
21. KHÔNG OÁN KHÔNG CÓ NGHĨA KHÔNG CÓ CÔNG LÝ
Công lý:
xử lý hành vi.
Oán:
muốn người kia đau vì mình ghét.
Hai thứ không giống nhau.
Có thể:
đòi sự thật.
đòi trách nhiệm.
đòi sự bồi thường thích hợp.
Nhưng tâm vẫn tập:
KHÔNG THÙ.
22. VÍ DỤ 6 – NGƯỜI LỪA MÌNH
Mình có thể:
đòi tiền.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1010
kiện.
báo.
cảnh báo người khác bằng thông tin đúng.
Nhưng không cần:
bịa thêm.
không cần:
mong họ bị tai họa.
Đó là:
CÔNG LÝ KHÔNG NUÔI OÁN.
23. VÍ DỤ 7 – BỊ CHÊ TRƯỚC ĐÁM ĐÔNG
Tâm muốn:
làm người kia mất mặt lại.
Nếu đáp trả bằng:
hạ nhục,
vòng oán mở.
Nếu nói:
“Điều anh nói có phần nào đúng, tôi sẽ kiểm. Phần nào không đúng, tôi xin đính chính.”
mình vừa:
bảo vệ sự thật
vừa không:
đổ thêm sân.
24. VÍ DỤ 8 – BỊ NGƯỜI KHÁC CƯỚP CÔNG
Có thể:
đưa bằng chứng.
nói rõ.
bảo vệ quyền lợi.
Không cần:
đi kể mọi chuyện riêng của họ để trả.
Đó là:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1011
PHÂN BIỆT GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ TRẢ THÙ.
25. OÁN LÀM KHỔ NGƯỜI NÀO TRƯỚC?
Mình thường nghĩ:
“Tôi giận để họ khổ.”
Nhưng lúc giận:
ai mất ngủ?
ai tim nhanh?
ai nghĩ đi nghĩ lại?
ai đang mang người kia trong đầu?
Trước hết:
MÌNH.
Người kia có khi đang:
ăn ngon,
ngủ ngon.
Còn mình:
ôm họ trong tâm bằng oán.
26. VÍ DỤ 9 – NGƯỜI KIA ĐÃ QUÊN
Chuyện xảy ra:
năm năm.
Người kia:
quên.
Mình:
mỗi tuần nhớ.
Như vậy:
một hành vi của họ
đã được mình tự:
kéo dài năm năm.
Đó là lúc phải hỏi:
“TÔI CÓ MUỐN TIẾP TỤC CHO HỌ Ở TRONG TÂM MÌNH NHƯ VẬY KHÔNG?”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1012
27. OÁN CÓ THỂ TRỞ THÀNH CĂN CƯỚC
Ban đầu:
“Họ làm tôi đau.”
Sau một thời gian:
“Tôi là người bị họ làm đau.”
Rồi câu chuyện trở thành:
toàn bộ cách mình nhìn mình.
Đây là lúc oán không còn chỉ là:
một cảm xúc.
Nó thành:
CÁI TÔI.
Buông oán lúc ấy còn là:
buông một phần căn cước.
28. TẠI SAO BUÔNG OÁN KHÓ?
Vì tâm sợ:
“Nếu tôi hết giận, có nghĩa họ đúng.”
Không.
Buông oán không làm:
hành vi sai thành đúng.
Chỉ làm:
TÂM MÌNH KHÔNG TIẾP TỤC BỊ HÀNH VI SAI ẤY ĐIỀU KHIỂN.
Đây là điểm rất quan trọng.
29. BUÔNG OÁN KHÔNG PHẢI TRAO PHẦN THẮNG CHO NGƯỜI KIA
Có người nghĩ:
“Tôi phải giận để họ biết.”
Nhưng nhiều lúc:
người kia không biết.
Chỉ mình:
mệt.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1013
Không oán không phải:
thua.
Có khi đó là:
LẤY LẠI QUYỀN BÌNH AN CHO CHÍNH MÌNH.
30. VÍ DỤ 10 – NGƯỜI CŨ
Một người bỏ mình.
Mình nghĩ:
“Tôi phải sống thật tốt để họ tiếc.”
Nghe có vẻ mạnh.
Nhưng đời mình vẫn:
xoay quanh họ.
Nếu thật sự buông:
mình sống tốt vì:
ĐÓ LÀ CON ĐƯỜNG TỐT.
Không cần:
họ tiếc.
Đó là mức sâu hơn của:
không oán.
31. OÁN VÀ CÁI TÔI
Tâm thường nói:
“Họ dám làm vậy với tôi.”
Chữ:
“TÔI”
làm sân mạnh.
Nếu đổi cách nhìn:
“Một hành vi sai đã xảy ra. Tôi cần xử lý đúng.”
trí có chỗ:
vào.
32. OÁN VÀ KÝ ỨC
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1014
Ký ức tự nó:
không phải oán.
Nhưng mỗi lần nhớ,
mình có thể:
đổ thêm sân.
Hay:
nhìn bằng trí.
Một ký ức được kể lại bằng:
hận
khác hẳn ký ức được nhìn bằng:
BÀI HỌC.
33. OÁN VÀ LỜI NÓI
Tâm oán thường tìm:
miệng.
Rồi miệng:
nói.
Một lần kể:
sân tăng.
Hai lần kể:
sân tăng.
Mười lần kể:
câu chuyện thành:
rất thật trong tâm.
Cho nên muốn bớt oán:
GIẢM KỂ LẠI BẰNG SÂN.
34. OÁN VÀ MẠNG XÃ HỘI
Ngày trước giận:
nói với vài người.
Ngày nay giận:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1015
đăng lên mạng,
hàng ngàn người đọc.
Một phút sân có thể thành:
dấu vết lâu dài.
Vì vậy trước khi đăng:
hãy hỏi:
“TÔI ĐANG GIẢI QUYẾT HAY ĐANG TRẢ ĐŨA?”
35. VÍ DỤ 11 – VIẾT BÀI BÓC PHỐT
Có trường hợp cảnh báo cộng đồng là:
cần.
Nhưng phải:
đúng sự thật.
đủ bằng chứng.
không thêm.
không bịa.
không biến thành:
nhục mạ.
Nếu mục đích đã chuyển sang:
“Tôi muốn họ chết danh,”
oán đã chen vào.
36. OÁN VÀ SỰ TỰ HỦY
Một người làm mình:
đau một lần.
Mình ghét họ:
mười năm.
Họ gây:
một vết thương.
Mình tự:
xé nó lại hàng ngàn lần.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1016
Đây là cách oán:
KÉO DÀI KHỔ.
37. PHẢI LÀM GÌ KHI CHƯA THỂ HẾT OÁN?
Đừng ép:
“Tôi thương họ rồi.”
Nếu chưa:
thật.
Có thể bắt đầu:
“TÔI CHƯA THỂ THƯƠNG, NHƯNG TÔI KHÔNG MUỐN TẠO THÊM OÁN.”
Đây là bước:
rất chân thật.
38. BƯỚC THỨ NHẤT – KHÔNG TRẢ NGAY
Khi sân đang mạnh:
ĐỪNG TRẢ LỜI NGAY.
Không gửi.
Không gọi.
Không đăng.
Không quyết định lớn.
Đầu tiên:
CHẶN OÁN THÀNH HÀNH ĐỘNG.
39. BƯỚC THỨ HAI – TÁCH SỰ VIỆC KHỎI Ý MUỐN TRẢ THÙ
Hỏi:
“Việc gì thật sự cần xử lý?”
Tiền?
lời nói sai?
ranh giới?
pháp lý?
Rồi:
xử lý việc ấy.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1017
Không thêm:
“TÔI PHẢI LÀM HỌ ĐAU.”
40. BƯỚC THỨ BA – NHÌN HẬU QUẢ CỦA TRẢ THÙ
Nếu mình trả:
họ sẽ làm gì?
Gia đình?
công việc?
pháp luật?
nghiệp?
tâm?
Hãy nhìn:
TOÀN BỘ GIÁ PHẢI TRẢ.
Nhiều cơn sân yếu đi khi:
trí nhìn xa.
41. BƯỚC THỨ TƯ – KHÔNG TIẾP TỤC NUÔI
Không:
đọc lại.
xem lại.
kể lại
nếu những việc ấy chỉ làm:
sân tăng
mà không còn giúp giải quyết.
Muốn oán yếu:
ĐỪNG CHO OÁN ĂN.
42. BƯỚC THỨ NĂM – TẬP MỘT CÂU KHÔNG OÁN
Có thể chưa nói:
“Mong họ hạnh phúc.”
Nếu quá khó.
Bắt đầu:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1018
“Mong họ dừng điều xấu.”
“Mong họ bớt sân.”
“Mong tôi không tạo thêm nghiệp với họ.”
Đây là bước:
từ oán sang:
không oán.
43. BƯỚC THỨ SÁU – GIỮ RANH GIỚI
Nếu người ấy vẫn:
gây hại,
đừng vì muốn “không oán” mà:
cho họ tiếp tục.
Có thể:
chặn.
rời.
không giao việc.
không giao tiền.
không để họ xâm phạm.
KHÔNG OÁN VÀ RANH GIỚI CÓ THỂ ĐI CÙNG NHAU.
44. CÔNG THỨC THỨ NHẤT
OÁN + OÁN = OÁN TĂNG
Người kia sân.
Mình sân lại.
Hai sân:
không thành:
từ.
Công thức:
OÁN → TRẢ OÁN → OÁN MỚI.
45. CÔNG THỨC THỨ HAI
OÁN + KHÔNG OÁN = CỬA DỪNG
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1019
Một bên không trả bằng:
hận.
Vòng oán mất:
một nguồn nhiên liệu.
Công thức:
OÁN → KHÔNG TRẢ OÁN → CÓ CỬA LẮNG.
Đây là tinh thần trực tiếp của Dhp 5. (Ancient Buddhist Texts)
46. CÔNG THỨC THỨ BA
SỰ VIỆC – TRÁCH NHIỆM – KHÔNG TRẢ THÙ
SỰ VIỆC
Chuyện gì đã xảy ra?
TRÁCH NHIỆM
Ai cần chịu trách nhiệm?
KHÔNG TRẢ THÙ
Không thêm ý muốn gây đau.
Công thức:
THẤY ĐÚNG → XỬ LÝ ĐÚNG → KHÔNG NUÔI OÁN.
47. CÔNG THỨC THỨ TƯ
DỪNG THÂN – DỪNG MIỆNG – RỒI DỪNG TÂM
Khi sân mạnh:
THÂN KHÔNG ĐÁNH.
MIỆNG KHÔNG CHỬI.
Sau đó:
TÂM TẬP KHÔNG NUÔI.
Đừng chờ tâm hết sân mới:
giữ giới.
48. CÔNG THỨC THỨ NĂM
KHÔNG QUÊN BÀI HỌC – NHƯNG BỎ Ý MUỐN GÂY KHỔ
Có thể:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1020
nhớ bài học.
giữ bằng chứng.
giữ khoảng cách.
Nhưng bỏ:
Ý MUỐN HỌ PHẢI KHỔ.
Đây là cách rất thực tế để hiểu:
avera – không oán.
49. CÔNG THỨC THỨ SÁU
KHÔNG OÁN KHÔNG PHẢI YẾU – LÀ KHÔNG ĐỂ NGƯỜI KIA ĐIỀU KHIỂN TÂM MÌNH
Nếu họ làm mình:
ghét mười năm,
họ đã chiếm:
mười năm tâm mình.
Buông oán:
LẤY TÂM VỀ.
Đây là câu rất dễ nhớ.
50. ỨNG DỤNG 1 – KHI BỊ NÓI XẤU
Đừng trả bằng:
nói xấu.
Nếu cần:
đính chính.
đưa chứng cứ.
rồi dừng.
Công thức:
ĐÍNH CHÍNH – KHÔNG TRẢ ĐŨA.
51. ỨNG DỤNG 2 – KHI BỊ BÌNH LUẬN ÁC
Hỏi:
Có cần trả lời không?
Nếu có:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1021
trả lời nội dung.
Không công kích:
con người.
Nếu không cần:
bỏ.
Đừng để một bình luận:
điều khiển cả ngày.
52. ỨNG DỤNG 3 – KHI NGƯỜI THÂN LÀM MÌNH ĐAU
Đừng gom:
mười năm lỗi
vào:
một cuộc cãi.
Xử lý:
việc hiện tại.
Nếu cần nói chuyện cũ:
nói để hiểu,
không phải:
làm vũ khí.
53. ỨNG DỤNG 4 – KHI BỊ LỪA
Giữ bằng chứng.
ngăn thiệt hại tiếp.
đòi quyền lợi.
Nhưng đừng:
lừa lại.
Đó chính là:
KHÔNG DÙNG CÁI SAI CỦA HỌ LÀM GIẤY PHÉP CHO CÁI SAI CỦA MÌNH.
54. ỨNG DỤNG 5 – KHI BỊ PHẢN BỘI
Có thể:
rời.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1022
Không cần:
quay lại.
Nhưng đừng xây đời mình quanh:
mong họ trả giá.
Sống tốt vì:
MÌNH MUỐN ĐI VỀ PHÍA THIỆN.
Không phải:
để người kia đau.
55. ỨNG DỤNG 6 – KHI NHỚ LẠI CHUYỆN CŨ
Hỏi:
“Việc này còn gì cần giải quyết không?”
Nếu có:
làm.
Nếu không:
nhắc:
“TÔI KHÔNG CẦN NUÔI THÊM.”
Rồi quay:
về hiện tại.
56. ỨNG DỤNG 7 – KHI THẤY NGƯỜI MÌNH GHÉT GẶP KHÓ
Quan sát tâm.
Nếu vui:
“Đáng đời.”
biết:
oán còn.
Không cần tự ghét.
Chỉ nhận:
“TÂM ĐANG CÓ OÁN.”
Rồi tập:
“Mong họ học được điều cần học và không tạo thêm khổ.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1023
57. ỨNG DỤNG 8 – KHI GIẢNG PHÁP
Không dùng Pháp để:
đánh người.
Không nói:
“Kinh này đúng là dành cho mấy người kia.”
Trước hết hỏi:
“OÁN TRONG TÔI Ở ĐÂU?”
Đó mới là:
học Pháp.
58. BÀI THỰC HÀNH MỘT NGÀY
Hôm nay chọn:
một người mình đang khó chịu.
Không cần:
thương họ ngay.
Chỉ tập ba điều:
KHÔNG NÓI XẤU THÊM.
KHÔNG MONG HỌ KHỔ.
KHÔNG TẠO HÀNH ĐỘNG TRẢ ĐŨA.
Cuối ngày hỏi:
“Tâm tôi có nhẹ hơn chút nào không?”
59. BÀI THỰC HÀNH BẢY NGÀY
NGÀY 1 – NHẬN OÁN
Viết ra một người mình còn oán.
NGÀY 2 – DỪNG MIỆNG
Không kể lại lỗi của họ nếu không cần thiết.
NGÀY 3 – DỪNG NUÔI
Không xem lại thứ làm sân tăng.
NGÀY 4 – PHÂN BIỆT
Việc gì cần xử lý?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1024
Việc gì chỉ là trả thù?
NGÀY 5 – RANH GIỚI
Thiết lập một giới hạn cần thiết mà không dùng sân.
NGÀY 6 – KHÔNG MONG HẠI
Tập câu:
“Mong người ấy dừng điều xấu và bớt tạo khổ.”
NGÀY 7 – NHÌN LẠI
Hỏi:
“Tôi đang giữ bài học hay đang giữ oán?”
60. THỰC HÀNH BUỔI SÁNG
Có thể đọc:
Hôm nay nếu ai làm tôi khó chịu, tôi tập không trả oán bằng oán.
Tôi vẫn phân biệt đúng sai.
Tôi vẫn giữ ranh giới.
Tôi vẫn bảo vệ điều cần bảo vệ.
Nhưng tôi không lấy hận thù làm cách xử lý hận thù.
Tôi nhớ lời Phật: oán không dập được oán; chỉ không oán mới làm oán lắng xuống.
61. THỰC HÀNH BUỔI TỐI
Trước khi ngủ hỏi:
Hôm nay tôi có trả một lời sân bằng một lời sân không?
Tôi có mong người nào đó phải khổ không?
Tôi có kể lại chuyện cũ chỉ để nuôi sân không?
Tôi có đặt được một ranh giới mà không trả thù không?
Có chuyện nào hôm nay tôi đã chọn dừng thay vì thắng không?
Oán trong tôi hôm nay tăng hay giảm?
62. CÂU GHI NHỚ THỨ NHẤT
Người kia có thể ném cho mình một mũi tên; mình không bắt buộc phải nhặt nó lên ném lại.
63. CÂU GHI NHỚ THỨ HAI
Trả được một câu chưa chắc là thắng; có khi dừng được một vòng oán mới là thắng.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1025
64. CÂU GHI NHỚ THỨ BA
Không oán không làm điều sai của người khác thành đúng; nó chỉ ngăn cái sai của họ sinh thêm cái sai trong mình.
65. CÂU GHI NHỚ THỨ TƯ
Tha oán không nhất thiết là quay lại; đôi khi là rời đi mà không mang theo lòng trả thù.
66. CÂU GHI NHỚ THỨ NĂM
Có thể nhớ bài học mà không cần giữ hận.
67. CÂU GHI NHỚ THỨ SÁU
Công lý xử lý hành vi; oán muốn người kia đau. Đừng nhầm hai thứ.
68. CÂU GHI NHỚ THỨ BẢY
Một người làm mình đau một lần; đừng để oán khiến mình tự làm đau mình thêm hàng ngàn lần.
69. CÂU GHI NHỚ THỨ TÁM
Khi mình thôi mong họ khổ, người đầu tiên được nhẹ chính là tâm mình.
70. CÂU GHI NHỚ THỨ CHÍN
Không phải vì người kia xứng đáng được mình hết giận; nhiều khi vì tâm mình xứng đáng được bình an.
71. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI
Đừng dùng lỗi của người khác làm lý do cho nghiệp xấu của mình.
72. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI MỘT
Nếu mình phải làm người khác đau mới thấy mình được chữa lành, thì vết thương ấy chưa thật sự được chữa.
73. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI HAI
Buông oán không phải quên sự thật; là nhớ sự thật mà không tiếp tục đổ độc vào tâm.
74. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI BA
Người mạnh không phải người trả được tất cả; người mạnh có khi là người có khả năng dừng đúng chỗ.
75. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
Đức Phật dạy:
“Na hi verena verāni sammantīdha kudācanaṃ; averena ca sammanti, esa dhammo sanantano.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1026
Nghĩa:
OÁN KHÔNG THỂ DẬP OÁN.
CHỈ CÓ KHÔNG OÁN MỚI LÀM OÁN LẮNG XUỐNG.
ĐÓ LÀ MỘT NGUYÊN LÝ LÂU ĐỜI. (
Ancient Buddhist Texts
)
Công thức dễ nhớ:
OÁN + OÁN = OÁN TĂNG.
OÁN + KHÔNG OÁN = CÓ CỬA DỪNG.
Và xin nhớ:
KHÔNG OÁN KHÔNG CÓ NGHĨA KHÔNG RANH GIỚI.
KHÔNG OÁN KHÔNG CÓ NGHĨA KHÔNG CÔNG LÝ.
KHÔNG OÁN KHÔNG CÓ NGHĨA KHÔNG NHỚ BÀI HỌC.
Nó chỉ có nghĩa:
KHÔNG DÙNG HẬN THÙ ĐỂ CHỮA HẬN THÙ.
Nguồn: Kinh Pháp Cú – Dhammapada; Tiểu Bộ Kinh – Khuddaka Nikāya; Phẩm Song Yếu – Yamakavagga; kệ số 5; mã tra cứu quốc tế Dhp 5; nguyên bản Kinh tạng Pāli. (SuttaCentral)
76. CÂU HỎI LIVESTREAM
1. Quý vị có từng nghĩ “người ta làm tôi sao thì tôi trả lại vậy” không?
2. Nếu cả hai bên đều nghĩ như vậy thì vòng oán dừng ở đâu?
3. Theo quý vị, không oán có đồng nghĩa với không được bảo vệ mình không?
4. Có thể kiện một người nhưng không nuôi hận họ không?
5. Có thể rời khỏi một mối quan hệ mà không mong người kia gặp tai họa không?
6. Có chuyện nào xảy ra đã rất lâu nhưng mình vẫn tự kể lại và làm sân sống lại không?
7. Người kia có khi đã quên, nhưng mình vẫn nhớ mỗi ngày; như vậy ai đang chịu khổ nhiều hơn?
8. Có phải buông oán đồng nghĩa người kia thắng không?
9. Một người sai có thể bị yêu cầu chịu trách nhiệm mà mình vẫn không cần mong họ khổ không?
10. Theo quý vị, khác nhau thế nào giữa công lý và trả thù?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1027
11. Có bao giờ quý vị trả một câu sân rồi sau đó mọi chuyện lớn hơn rất nhiều không?
12. Có khi im lặng đúng lúc lại mạnh hơn một câu đáp trả không?
13. Nếu chưa thể thương người mình ghét, mình có thể bắt đầu bằng việc không mong họ khổ được không?
14. Có thể giữ bài học nhưng bỏ lòng hận không?
15. Khi mình cứ xem lại trang của người mình ghét, có phải mình đang tự nuôi oán không?
16. Theo quý vị, tại sao Đức Phật dùng chữ “không bao giờ” khi nói oán không dập được oán?
17. Trong một mối oán hiện tại, phần nào thực sự cần xử lý và phần nào chỉ là cái tôi muốn trả lại?
18. Nếu hôm nay chỉ nhớ một công thức, quý vị có thể nhớ: “Oán cộng oán bằng oán tăng; oán gặp không oán mới có cửa dừng” không?
77. CÂU KẾT ĐỂ ĐỌC TRÊN LIVESTREAM
Kính thưa quý vị,
có khi mình nghĩ:
“Người ta làm tôi đau, tôi trả lại mới công bằng.”
Nhưng nếu người kia lại nghĩ:
“Bạn làm tôi đau, tôi phải trả lại,”
thì:
bao giờ hết?
Một câu:
trả một câu.
Một việc:
trả một việc.
Một đời:
trả một đời.
Rồi người sau lại tiếp tục:
gánh oán của người trước.
Đức Phật nói một câu rất ngắn:
“OÁN KHÔNG THỂ DẬP TẮT OÁN.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1028
Không phải:
ngày xưa đúng,
bây giờ không đúng.
Mà tâm sân vẫn vận hành như vậy.
Lửa:
không dập lửa bằng:
đổ thêm dầu.
Oán cũng vậy.
Một người phải:
dừng.
Nhưng dừng ở đây không phải:
yếu.
Không phải:
để người khác tiếp tục hại.
Mình vẫn có thể:
nói sự thật.
đặt ranh giới.
rời đi.
giữ bằng chứng.
đòi quyền lợi.
dùng pháp luật.
Nhưng cái mình không làm là:
LẤY MONG MUỐN GÂY KHỔ LÀM NHIÊN LIỆU.
Đó là:
avera – không oán.
Nếu chưa thể thương người ấy,
không sao.
Hãy bắt đầu:
“Tôi không muốn tạo thêm oán.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1029
Nếu chưa thể chúc họ hạnh phúc,
hãy bắt đầu:
“Mong họ dừng điều xấu.”
Nếu chưa thể tha thứ hết,
hãy bắt đầu:
“Tôi không muốn sống thêm mười năm chỉ để nhớ họ bằng hận.”
Và nhớ:
BUÔNG OÁN KHÔNG PHẢI TRAO PHẦN THẮNG CHO NGƯỜI KIA.
Đó là:
LẤY LẠI TÂM MÌNH.
Một người từng làm mình khổ:
một ngày.
Đừng để họ tiếp tục sống trong tâm mình:
mười năm.
Một câu họ nói:
một lần.
Đừng tự nói lại câu đó:
một ngàn lần.
Một việc họ làm sai:
đừng để nó sinh:
một việc sai khác từ mình.
Đó chính là chỗ lời Phật đi vào đời sống:
HỌ SAI – MÌNH KHÔNG CẦN SAI THEO.
HỌ SÂN – MÌNH KHÔNG CẦN NUÔI SÂN THEO.
HỌ TẠO OÁN – MÌNH CÓ THỂ LÀ NƠI VÒNG OÁN DỪNG LẠI.
Vậy xin nhớ bài kệ:
“Na hi verena verāni sammantīdha kudācanaṃ; averena ca sammanti, esa dhammo sanantano.”
OÁN KHÔNG DẬP ĐƯỢC OÁN.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1030
CHỈ KHÔNG OÁN MỚI LÀM OÁN LẮNG XUỐNG.
Nguồn: Kinh Pháp Cú – Dhammapada, Phẩm Song Yếu – Yamakavagga, kệ số 5, mã quốc tế Dhp 5, nguyên bản Kinh tạng Pāli. (Ancient Buddhist Texts)
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1031
MỤC 037 - Bài 037 — KHÔNG TRUY TÌM QUÁ KHỨ – KHÔNG ƯỚC VỌNG TƯƠNG LAI – HÃY THẤY RÕ PHÁP HIỆN TẠI 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
Đức Phật dạy:
“Quá khứ không truy tìm, Tương lai không ước vọng. Quá khứ đã đoạn tận, Tương lai lại chưa đến. Chỉ có pháp hiện tại, Tuệ quán chính ở đây. Không động, không rung chuyển, Biết vậy nên tu tập.”
Ngài dạy tiếp:
“Hôm nay nhiệt tâm làm, Ai biết chết ngày mai? Không ai điều đình được Với đại quân thần chết. Trú như vậy nhiệt tâm, Đêm ngày không mệt mỏi, Xứng gọi Nhất Dạ Hiền, Bậc an tịnh, trầm lặng.”
Đây là phần kệ cốt lõi của Kinh Nhất Dạ Hiền Giả – Bhaddekaratta Sutta, Trung Bộ Kinh – Majjhima Nikāya, kinh số 131, mã quốc tế MN 131. Bản Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu ghi rõ đây là bài kinh Đức Phật giảng tại Kỳ Viên, Xá-vệ. (SuttaCentral)
2. NGUỒN KINH
Tên kinh tiếng Việt: Kinh Nhất Dạ Hiền Giả
Tên Pāli: Bhaddekaratta Sutta
Thuộc: Trung Bộ Kinh – Majjhima Nikāya
Số kinh: Kinh số 131
Mã tra cứu quốc tế: MN 131
Địa điểm: Sāvatthī – Xá-vệ, Jetavana – Kỳ Viên, tịnh xá của Anāthapiṇḍika – Cấp Cô Độc
Đối tượng Đức Phật giảng: Các Tỷ-kheo
Bản dịch tiếng Việt: Hòa thượng Thích Minh Châu
Nguyên bản: Kinh tạng Pāli
SuttaCentral định danh bài kinh là MN 131 – Bhaddekarattasutta và mô tả đây là bài kinh mở đầu bằng một bài kệ ngắn nhưng rất mạnh về việc không chạy theo quá khứ, không mong cầu tương lai và thấy rõ các pháp ngay trong hiện tại. (SuttaCentral)
Khi cần trả lời thật ngắn:
“Đây là Kinh Nhất Dạ Hiền Giả – Bhaddekaratta Sutta, Trung Bộ Kinh – Majjhima Nikāya, kinh số 131, mã quốc tế MN 131, bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, nguyên bản Kinh tạng Pāli.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1032
3. NGUYÊN VĂN PĀLI TRỌNG TÂM
Bài kệ Pāli nổi tiếng bắt đầu bằng:
“Atītaṃ nānvāgameyya, nappaṭikaṅkhe anāgataṃ; yadatītaṃ pahīnaṃ taṃ, appattañca anāgataṃ.”
Và tiếp theo:
“Paccuppannañca yo dhammaṃ, tattha tattha vipassati; asaṃhīraṃ asaṃkuppaṃ, taṃ vidvā manubrūhaye.”
Có thể hiểu gần theo tiếng Việt:
Quá khứ đừng truy tìm. Tương lai đừng mong cầu. Quá khứ đã đi qua. Tương lai chưa đến. Pháp nào đang có mặt hiện tại, hãy thấy rõ pháp ấy bằng tuệ. Không bị kéo đi, không dao động, biết vậy thì hãy tu tập.
Tinh thần này cũng được lặp lại trong các bài kinh liên hệ như MN 132 và MN 134. (SuttaCentral)
4. TỪ KHÓA VIỆT – PĀLI – NGHĨA
QUÁ KHỨ – ATĪTA – CÁI ĐÃ ĐI QUA
Atīta là:
quá khứ.
điều đã qua.
điều không còn đứng trong hiện tại.
Mình có thể:
nhớ.
học.
rút kinh nghiệm.
Nhưng Đức Phật dạy:
ĐỪNG TRUY TÌM.
Điểm này rất quan trọng.
Không phải:
CẤM NHỚ QUÁ KHỨ.
Mà là:
ĐỪNG ĐỂ TÂM CHẠY THEO QUÁ KHỨ VỚI CHẤP, TIẾC, HẬN, THAM VÀ ĐỒNG HÓA.
5. TRUY TÌM – ANVĀGAMA – CHẠY THEO, ĐI THEO, BÁM THEO
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1033
“Truy tìm quá khứ” không chỉ là:
nhớ.
Mà là:
TÂM BỊ KÉO VỀ ĐÓ.
Ví dụ:
“Ngày xưa tôi đã từng…”
“Giá như lúc đó…”
“Tại sao người ấy làm tôi như vậy…”
“Tôi sẽ không bao giờ quên…”
Nhớ một lần:
không sao.
Nhưng nếu tâm cứ sống lại:
mười năm trước,
thì quá khứ đã đi qua
nhưng tâm:
CHƯA ĐI QUA.
6. TƯƠNG LAI – ANĀGATA – CÁI CHƯA ĐẾN
Anāgata là:
tương lai.
điều chưa đến.
Đức Phật không nói:
KHÔNG ĐƯỢC LẬP KẾ HOẠCH.
Nếu cần:
vẫn lập kế hoạch.
vẫn chuẩn bị.
vẫn làm việc.
Nhưng không để tâm sống trong:
TƯỞNG TƯỢNG VỀ CÁI CHƯA XẢY RA.
7. ƯỚC VỌNG – PAṬIKAṄKHĀ – MONG NGÓNG, TRÔNG ĐỢI
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1034
Tâm thường nói:
“Khi nào tôi có cái này, tôi mới an.”
“Khi người kia thay đổi, tôi mới vui.”
“Khi hết nợ, tôi mới sống.”
“Khi có nhiều người biết đến, tôi mới thấy mình có giá trị.”
Thế là:
hạnh phúc luôn nằm:
Ở NGÀY MAI.
Mà ngày mai đến,
tâm lại tìm:
một ngày mai khác.
8. HIỆN TẠI – PACCUPPANNA – CÁI ĐANG CÓ MẶT
Paccuppanna là:
hiện tại.
cái đang xảy ra.
Đây là nơi duy nhất mình có thể:
THẤY.
TU.
SỬA.
LÀM.
Quá khứ:
không sửa trực tiếp được.
Tương lai:
chưa cầm được.
Nhưng hiện tại:
ĐANG Ở TRONG TAY MÌNH MỘT PHẦN.
9. PHÁP – DHAMMA – HIỆN TƯỢNG, ĐIỀU ĐANG SINH KHỞI
Trong câu:
“Pháp hiện tại”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1035
có thể hiểu:
các hiện tượng đang có mặt.
Thân đang:
thế nào?
Thọ đang:
thế nào?
Tâm đang:
thế nào?
Tham có không?
Sân có không?
Lo có không?
Đây là:
ĐỀ MỤC TU THẬT.
Không phải:
câu chuyện tưởng tượng.
10. TUỆ QUÁN – VIPASSATI – THẤY RÕ, QUÁN SÁT BẰNG TRÍ
Vipassati là:
thấy rõ.
quán sát.
Không chỉ:
nhìn.
Mà:
THẤY NHƯ THẬT.
Thấy:
đang sinh.
đang đổi.
đang mất.
Thấy:
tâm đang tham.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1036
tâm đang sân.
Không tô màu.
Không che.
Đây là:
tuệ.
11. KHÔNG BỊ KÉO ĐI – ASAṂHĪRA – KHÔNG BỊ CUỐN THEO
Một lời khen:
kéo tâm lên.
Một lời chê:
kéo tâm xuống.
Một ký ức:
kéo về quá khứ.
Một nỗi sợ:
kéo sang tương lai.
Người tu tập hiện tại học:
KHÔNG ĐỂ TÂM BỊ KÉO ĐI QUÁ XA.
12. KHÔNG DAO ĐỘNG – ASAṂKUPPA – KHÔNG RUNG CHUYỂN
Không có nghĩa:
trở thành đá.
Mà là:
TÂM CÓ CHỖ ĐỨNG.
Biết:
cái gì đang xảy ra.
Không lập tức bị:
tham,
sân,
sợ,
tưởng
cuốn đi.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1037
13. GIẢI CỤM THỨ NHẤT
“QUÁ KHỨ KHÔNG TRUY TÌM”
Kính thưa quý vị,
quá khứ rất lạ.
Nó:
KHÔNG CÒN.
Nhưng nó vẫn có thể:
làm mình khóc hôm nay.
Tại sao?
Không phải vì quá khứ:
đang xảy ra.
Mà vì:
TÂM ĐANG ĐEM QUÁ KHỨ VÀO HIỆN TẠI.
Đây là chỗ cần thấy.
14. QUÁ KHỨ CÓ THỂ ĐƯỢC NHỚ NHƯ BÀI HỌC – KHÔNG NHẤT THIẾT PHẢI ĐƯỢC SỐNG LẠI
Một việc sai:
nhớ để sửa.
Một người từng lừa:
nhớ để cẩn thận.
Một lỗi:
nhớ để không lặp.
Đây là:
TRÍ.
Nhưng nếu cứ nhớ:
để giận.
để tiếc.
để tự trách.
thì quá khứ đang:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1038
ĂN HIỆN TẠI.
15. VÍ DỤ 1 – “GIÁ NHƯ NGÀY XƯA…”
“Giá như tôi không làm vậy.”
Có ích nếu câu đó dẫn tới:
“TỪ NAY TÔI SẼ LÀM KHÁC.”
Nhưng nếu chỉ:
“Giá như…”
mười năm,
không đổi gì,
thì đó là:
khổ.
Công thức:
NHỚ → HỌC → SỬA → DỪNG.
16. VÍ DỤ 2 – NGƯỜI TỪNG LÀM MÌNH ĐAU
Mỗi lần nhớ,
tâm kể lại:
toàn bộ câu chuyện.
Mặt nóng.
tim nhanh.
sân trở lại.
Người kia:
không có mặt.
Nhưng thân mình đang:
chịu hậu quả.
Đây là lúc lời kinh:
“QUÁ KHỨ KHÔNG TRUY TÌM”
trở nên rất thật.
17. VÍ DỤ 3 – THỜI VINH QUANG CŨ
Không chỉ đau mới làm mình mắc kẹt trong quá khứ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1039
Cả:
THÀNH CÔNG CŨ.
Một người từng:
rất nổi tiếng.
rất giàu.
rất đẹp.
rất được kính.
Hôm nay khác.
Nếu cứ sống bằng:
“Ngày xưa tôi…”
thì hiện tại:
không được sống.
18. VÍ DỤ 4 – LỖI CỦA CHÍNH MÌNH
Mình làm sai.
Đã:
nhận.
xin lỗi.
sửa.
Nhưng mỗi tối vẫn:
tự kết án.
Đó không còn là:
trách nhiệm.
Có thể đã chuyển thành:
BÁM LỖI.
Phật pháp không dạy:
sai rồi quên.
Nhưng cũng không dạy:
sai rồi tự đánh mình cả đời.
19. GIẢI CỤM THỨ HAI
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1040
“TƯƠNG LAI KHÔNG ƯỚC VỌNG”
Tâm rất thích nói:
“Mai sẽ…”
Một chút:
cần.
Nhưng nếu toàn bộ đời sống nằm ở:
“sau này,”
thì hôm nay bị:
bỏ.
Đức Phật không dạy:
không chuẩn bị.
Mà dạy:
ĐỪNG BỊ CÁI CHƯA ĐẾN NUỐT MẤT CÁI ĐANG CÓ.
20. VÍ DỤ 5 – LO CHUYỆN CHƯA XẢY RA
“Nếu mất việc thì sao?”
“Nếu bệnh thì sao?”
“Nếu người ta bỏ tôi thì sao?”
Hỏi:
“HIỆN GIỜ CÓ VIỆC GÌ TÔI CÓ THỂ LÀM KHÔNG?”
Nếu có:
làm.
Nếu không:
tiếp tục lo có làm tương lai tốt hơn không?
Đây là cách đưa tâm về:
hiện tại.
21. VÍ DỤ 6 – CHỜ MỌI THỨ HOÀN HẢO MỚI TU
“Khi hết bận tôi sẽ tu.”
“Khi con lớn tôi sẽ tu.”
“Khi nghỉ hưu tôi sẽ tu.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1041
Nhưng bài kinh nhắc:
“AI BIẾT CHẾT NGÀY MAI?”
Cho nên:
tu không nên để:
hẹn mãi.
22. VÍ DỤ 7 – CHỜ GIÀU MỚI SỐNG
Một người làm:
ngày đêm.
Không ăn đúng.
không ngủ.
không gặp gia đình.
Nói:
“Vài năm nữa tôi sẽ sống.”
Nhưng có chắc:
vài năm nữa
đúng như mình nghĩ?
Bài kinh không bảo:
đừng làm việc.
Mà nhắc:
ĐỪNG HY SINH TOÀN BỘ HIỆN TẠI CHO MỘT TƯƠNG LAI TƯỞNG TƯỢNG.
23. VÍ DỤ 8 – CHỜ NGƯỜI KHÁC THAY ĐỔI
“Khi chồng tôi thay đổi tôi mới an.”
“Khi con tôi nghe lời tôi mới an.”
“Khi họ xin lỗi tôi mới buông.”
Như vậy:
bình an của mình đang nằm:
TRONG TAY NGƯỜI KHÁC.
Có phần nào mình làm được:
làm.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1042
Phần không làm được:
thấy.
24. GIẢI CỤM THỨ BA
“QUÁ KHỨ ĐÃ ĐOẠN TẬN”
Không có nghĩa:
nghiệp quá khứ không có quả.
Không phải.
Ý ở đây là:
SỰ KIỆN QUÁ KHỨ ĐÃ QUA.
Nó không còn:
đang xảy ra như một sự kiện hiện tại.
Mình chỉ có:
ký ức,
dấu vết,
hậu quả.
Vì vậy phản ứng với:
ký ức
cần khác phản ứng với:
một nguy hiểm đang xảy ra.
25. GIẢI CỤM THỨ TƯ
“TƯƠNG LAI LẠI CHƯA ĐẾN”
Rất nhiều cái khổ nằm trong:
“NẾU.”
Nếu mai thế này.
Nếu người kia thế kia.
Nếu chuyện kia xảy ra.
Nhưng:
CHƯA ĐẾN.
Nếu cần chuẩn bị:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1043
chuẩn bị.
Nhưng đừng lấy:
điều chưa xảy ra
làm:
sự thật đang có.
26. PHÂN BIỆT KẾ HOẠCH VÀ LO ÂU
KẾ HOẠCH
Hỏi:
“Tôi làm gì?”
Có:
bước.
thời gian.
hành động.
LO ÂU
Hỏi mãi:
“Nếu sao?”
Không có:
hành động.
Công thức:
KẾ HOẠCH → HÀNH ĐỘNG.
LO VÒNG → KIỆT SỨC.
27. PHÂN BIỆT NHỚ VÀ MẮC KẸT
NHỚ
Biết chuyện cũ.
Rút bài học.
MẮC KẸT
Tâm sống lại.
Cảm xúc cũ lặp.
Không có:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1044
học mới.
Đây là khác biệt rất quan trọng.
28. GIẢI CỤM THỨ NĂM
“CHỈ CÓ PHÁP HIỆN TẠI – TUỆ QUÁN CHÍNH Ở ĐÂY”
Đây là:
trọng tâm.
Không chạy theo:
hôm qua.
Không bay sang:
ngày mai.
Hỏi:
“NGAY BÂY GIỜ CÓ GÌ?”
Hơi thở?
đau?
sân?
tham?
lo?
việc cần làm?
Đó là nơi:
TUỆ CÓ THỂ LÀM VIỆC.
29. VÍ DỤ 9 – ĐANG RỬA CHÉN
Thân:
rửa chén.
Tâm:
cãi chuyện hôm qua.
Vậy thân ở:
hiện tại.
Tâm ở:
quá khứ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1045
Thực hành:
biết nước.
biết tay.
biết hơi thở.
Không cần làm rửa chén thành:
nghi lễ.
Chỉ:
Ở ĐÓ.
30. VÍ DỤ 10 – ĐANG ĂN
Miệng ăn.
Mắt xem điện thoại.
Tâm nghĩ việc mai.
Không biết:
mình vừa ăn gì.
Một bữa ăn:
đã mất khỏi trải nghiệm.
Hiện tại không phải:
điều gì cao siêu.
Nó bắt đầu ở:
BIẾT MÌNH ĐANG LÀM GÌ.
31. VÍ DỤ 11 – ĐANG NGHE NGƯỜI THÂN
Người ấy nói.
Mình đã:
soạn câu trả lời trong đầu.
Không thật sự nghe.
Hiện tại ở đây là:
NGHE.
Không phải:
chờ tới lượt mình nói.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1046
32. VÍ DỤ 12 – ĐANG TỤNG KINH
Miệng tụng:
đúng.
Tâm nghĩ:
công việc.
tiền.
người khác.
Thực hành là:
ĐƯA TÂM VỀ CÂU ĐANG TỤNG.
Đó là:
hiện pháp.
33. HIỆN TẠI KHÔNG CÓ NGHĨA CHỈ TÌM CẢM GIÁC DỄ CHỊU
Có người nghĩ:
“Sống hiện tại là tận hưởng.”
Chưa đủ.
Hiện tại có thể là:
đau.
buồn.
việc khó.
trách nhiệm.
Tuệ quán hiện tại là:
THẤY ĐÚNG CẢ CÁI DỄ CHỊU LẪN KHÓ CHỊU.
34. HIỆN TẠI KHÔNG CÓ NGHĨA BỎ MẶC HẬU QUẢ TƯƠNG LAI
“Tôi sống hiện tại nên tiêu hết.”
Không đúng tinh thần kinh.
Một hành động hiện tại có:
hậu quả.
Sống hiện tại bằng trí là:
LÀM ĐÚNG NGAY BÂY GIỜ ĐỂ TƯƠNG LAI CÓ DUYÊN TỐT HƠN.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1047
35. HIỆN TẠI KHÔNG CÓ NGHĨA KHÔNG HỌC TỪ QUÁ KHỨ
Quá khứ là:
thầy.
Nhưng không phải:
nhà tù.
Học:
CÓ.
Sống lại:
KHÔNG CẦN.
36. CÂU “AI BIẾT CHẾT NGÀY MAI?” MUỐN CHỈ GÌ?
Không phải để:
sợ chết.
Mà để:
BỚT TRÌ HOÃN ĐIỀU CẦN LÀM.
Xin lỗi:
nếu cần.
Tu:
hôm nay.
Giữ giới:
hôm nay.
Thương:
hôm nay.
Sửa lỗi:
hôm nay.
Không đợi:
một ngày hoàn hảo.
37. VÍ DỤ 13 – MUỐN XIN LỖI CHA MẸ
Nghĩ:
“Mai gọi.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1048
Mai:
bận.
Rồi:
tuần sau.
Bài kinh nhắc:
AI BIẾT NGÀY MAI?
Nếu một việc thiện có thể làm:
hôm nay,
đừng trì hoãn quá lâu.
38. VÍ DỤ 14 – MUỐN DỪNG MỘT THÓI QUEN XẤU
“Đầu tháng sau tôi bỏ.”
Tại sao không:
BẮT ĐẦU BỚT NGAY HÔM NAY?
Tâm rất hay dùng:
tương lai
để tránh:
hiện tại.
39. VÍ DỤ 15 – MUỐN TU
Không cần:
một giờ.
Có thể:
năm phút.
Không cần:
đợi yên.
Có thể:
biết một hơi thở.
Tu không nhất thiết bắt đầu bằng:
rất nhiều.
Mà:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1049
BẮT ĐẦU THẬT.
40. “HÔM NAY NHIỆT TÂM LÀM” – Ý NGHĨA THỰC HÀNH
Không phải:
làm việc đến kiệt sức.
Mà:
TINH TẤN VỚI VIỆC CẦN TU NGAY HÔM NAY.
Một cơn sân:
xử lý.
Một lời nói sai:
sửa.
Một việc thiện:
làm.
Một giờ tu:
giữ.
Đó là:
nhiệt tâm.
41. “ĐÊM NGÀY KHÔNG MỆT MỎI” KHÔNG CÓ NGHĨA KHÔNG ĐƯỢC NGỦ
Không nên hiểu chữ kinh một cách máy móc.
Tinh thần là:
KHÔNG PHÓNG DẬT.
Không có nghĩa:
phá sức khỏe.
Đức Phật không dạy:
không ngủ.
Mà dạy:
không để đời trôi trong:
lười,
quên,
trì hoãn.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1050
42. “NHẤT DẠ HIỀN GIẢ” KHÔNG CHỈ CÓ NGHĨA MỘT ĐÊM
Tên Bhaddekaratta đã được dịch theo nhiều cách.
Trong bản Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu:
NHẤT DẠ HIỀN GIẢ.
Điểm thực hành quan trọng hơn tên dịch là:
NGƯỜI BIẾT SỐNG ĐÚNG VỚI HIỆN TẠI, KHÔNG BỊ QUÁ KHỨ VÀ TƯƠNG LAI KÉO ĐI.
43. VÍ DỤ 16 – SAU MỘT BUỔI LIVESTREAM KHÔNG NHƯ Ý
Quá khứ:
buổi live đã xong.
Có thể:
xem lại.
rút kinh nghiệm.
Nhưng nếu cả đêm:
“Sao ít người quá?”
“Sao tôi nói câu đó?”
thì quá khứ đang ăn:
giấc ngủ hiện tại.
Cách đúng:
PHÂN TÍCH → RÚT KINH NGHIỆM → DỪNG.
44. VÍ DỤ 17 – TRƯỚC MỘT BUỔI LIVESTREAM
Tương lai:
chưa tới.
Tâm nghĩ:
“Không biết hôm nay có đông không.”
“Không biết có ai hỏi khó không.”
Có thể chuẩn bị:
nội dung.
nguồn.
thời gian.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1051
Rồi:
TRỞ VỀ VIỆC ĐANG LÀM.
Đó là:
không ước vọng tương lai theo kiểu bị kéo đi.
45. VÍ DỤ 18 – TÀI CHÍNH
Quá khứ:
một quyết định tiền bạc sai.
Học:
được.
Nhưng nếu cứ:
tự trách,
không làm kế hoạch mới,
thì không ích.
Tương lai:
lo mất tiền.
Nhưng không kiểm chi tiêu hiện tại,
cũng không ích.
Pháp hiện tại hỏi:
HÔM NAY TÔI CÓ THỂ LÀM GÌ?
46. VÍ DỤ 19 – SỨC KHỎE
Lo:
“Sau này tôi bệnh nặng thì sao?”
Có ích nhất không phải:
lo.
Mà:
hôm nay:
ăn đúng hơn.
ngủ đúng hơn.
đi khám nếu cần.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1052
vận động phù hợp.
Đây là:
HIỆN TẠI CÓ TRÍ.
47. VÍ DỤ 20 – MỐI QUAN HỆ
Quá khứ:
họ từng làm sai.
Tương lai:
sợ họ sẽ lặp.
Hiện tại:
họ đang làm gì?
Mình đang:
thấy gì?
ranh giới nào cần?
Đừng để:
quá khứ
hoặc:
nỗi sợ tương lai
che mất:
DỮ KIỆN HIỆN TẠI.
48. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ GÌ?
Kính thưa quý vị,
bài kinh này không nói:
“QUÁ KHỨ VÔ ÍCH.”
Không nói:
“TƯƠNG LAI KHÔNG CẦN.”
Mà chỉ:
ĐỪNG ĐỂ TÂM BỊ CHẤP VÀO QUÁ KHỨ.
ĐỪNG ĐỂ TÂM BỊ MONG CẦU VÀO TƯƠNG LAI.
HÃY THẤY PHÁP ĐANG CÓ MẶT BẰNG TRÍ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1053
Đây là:
một con đường trở lại:
SỰ THẬT ĐANG XẢY RA.
49. CÔNG THỨC THỨ NHẤT
QUÁ KHỨ – HỌC – KHÔNG Ở
Quá khứ:
HỌC.
Nhưng:
KHÔNG Ở LUÔN TRONG ĐÓ.
Công thức:
NHỚ → HỌC → BUÔNG.
50. CÔNG THỨC THỨ HAI
TƯƠNG LAI – CHUẨN BỊ – KHÔNG SỐNG TRƯỚC
Tương lai:
CHUẨN BỊ.
Nhưng:
ĐỪNG SỐNG TRƯỚC TRONG ĐẦU.
Công thức:
DỰ LIỆU → KẾ HOẠCH → TRỞ VỀ HIỆN TẠI.
51. CÔNG THỨC THỨ BA
HIỆN TẠI – THẤY – LÀM
Ngay bây giờ:
THẤY GÌ?
CẦN LÀM GÌ?
Rồi:
LÀM.
Công thức:
THẤY → CHỌN → LÀM.
52. CÔNG THỨC THỨ TƯ
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1054
VIỆC ĐÃ QUA – VIỆC CHƯA TỚI – VIỆC ĐANG CÓ
Ba câu hỏi:
CÁI NÀY ĐÃ QUA CHƯA?
Nếu đã qua:
học.
CÁI NÀY ĐÃ TỚI CHƯA?
Nếu chưa tới:
chuẩn bị vừa đủ.
NGAY BÂY GIỜ CÓ GÌ?
Đó là:
nơi tu.
53. CÔNG THỨC THỨ NĂM
HỐI – LO – BIẾT
Quá khứ thường kéo bằng:
HỐI.
Tương lai thường kéo bằng:
LO.
Hiện tại cần:
BIẾT.
Công thức:
HỐI → HỌC.
LO → CHUẨN BỊ.
HIỆN TẠI → BIẾT VÀ LÀM.
54. CÔNG THỨC THỨ SÁU
HÔM NAY
Nếu việc thiện:
LÀM HÔM NAY.
Nếu lỗi:
SỬA HÔM NAY.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1055
Nếu cần xin lỗi:
XIN LỖI HÔM NAY.
Nếu cần tu:
TU HÔM NAY.
Không biết:
ngày mai.
55. ỨNG DỤNG 1 – KHI TÂM NHỚ QUÁ KHỨ
Hỏi:
“TÔI ĐANG HỌC HAY ĐANG SỐNG LẠI?”
Nếu đang học:
tiếp.
Nếu đang sống lại:
trở về:
hơi thở.
thân.
việc hiện tại.
56. ỨNG DỤNG 2 – KHI TÂM LO TƯƠNG LAI
Hỏi:
“CÓ VIỆC NÀO LÀM NGAY ĐƯỢC KHÔNG?”
Nếu có:
làm.
Nếu không:
ghi lại.
đặt lịch.
rồi:
QUAY VỀ HIỆN TẠI.
57. ỨNG DỤNG 3 – KHI TỰ TRÁCH
Hỏi:
“Lỗi này đã được sửa phần nào chưa?”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1056
Nếu chưa:
sửa.
Nếu đã:
đừng dùng:
tự hành hạ
thay cho:
trách nhiệm.
58. ỨNG DỤNG 4 – KHI MONG MỘT ĐIỀU
Hỏi:
“Tôi có đang nghĩ chỉ khi điều này xảy ra tôi mới hạnh phúc không?”
Nếu có:
tâm đang:
đưa bình an sang tương lai.
Nhìn lại:
HÔM NAY CÓ ĐIỀU GÌ ĐANG ĐỦ?
59. ỨNG DỤNG 5 – KHI SỢ MẤT
Tương lai chưa tới.
Thay vì:
sợ cả ngày,
hỏi:
“Tôi cần bảo vệ điều gì hôm nay?”
Bảo hiểm?
giấy tờ?
sức khỏe?
tài khoản?
mối quan hệ?
Làm:
phần cần.
Rồi dừng:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1057
phần tưởng tượng.
60. ỨNG DỤNG 6 – KHI ĐANG LÀM MỘT VIỆC
Chỉ làm:
việc đó.
Ăn:
biết ăn.
đi:
biết đi.
nghe:
biết nghe.
tụng:
biết tụng.
Không phải lúc nào cũng làm được trọn.
Nhưng mỗi lần nhớ:
TRỞ VỀ.
61. ỨNG DỤNG 7 – VỚI NGƯỜI THÂN
Đừng dùng:
lỗi cũ
để phá:
cuộc nói chuyện hôm nay.
Nếu chuyện cũ cần giải quyết:
nói rõ.
Nhưng đừng:
lôi toàn bộ quá khứ vào mỗi lần bất đồng.
62. ỨNG DỤNG 8 – TRONG TU TẬP
Không nghĩ:
“Ngày xưa tôi tu tốt lắm.”
Không nghĩ:
“Mai tôi sẽ tu nhiều.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1058
Hỏi:
“HÔM NAY TÂM TÔI ĐANG THẾ NÀO?”
Đó mới là:
đề mục thật.
63. BÀI THỰC HÀNH MỘT NGÀY
Hôm nay mỗi khi tâm chạy,
chỉ hỏi:
“QUÁ KHỨ?”
“TƯƠNG LAI?”
“HIỆN TẠI?”
Nếu quá khứ:
“Đã qua.”
Nếu tương lai:
“Chưa tới.”
Rồi hỏi:
“NGAY BÂY GIỜ TÔI CẦN LÀM GÌ?”
Đó là bài tập cả ngày.
64. BÀI THỰC HÀNH BẢY NGÀY
NGÀY 1 – NHẬN QUÁ KHỨ
Nhìn một ký ức mình hay sống lại.
NGÀY 2 – HỌC
Rút đúng một bài học từ ký ức ấy.
NGÀY 3 – DỪNG TRUY TÌM
Khi tâm quay lại không cần thiết:
trở về hiện tại.
NGÀY 4 – NHẬN TƯƠNG LAI
Viết một điều mình lo nhiều.
NGÀY 5 – CHUẨN BỊ
Làm một việc cụ thể có thể làm.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1059
NGÀY 6 – HIỆN TẠI
Chọn một giờ sống thật có mặt với việc đang làm.
NGÀY 7 – HÔM NAY
Làm một thiện pháp đã trì hoãn lâu.
65. THỰC HÀNH BUỔI SÁNG
Có thể đọc:
Quá khứ đã qua, tôi học nhưng không ở mãi trong đó.
Tương lai chưa đến, tôi chuẩn bị nhưng không sống trước trong tưởng tượng.
Hôm nay là nơi tôi có thể tu.
Việc thiện cần làm, tôi cố gắng làm hôm nay.
Lỗi cần sửa, tôi sửa hôm nay.
Tâm đang tham, sân hay lo, tôi biết ngay trong hiện tại.
Tôi tập thấy pháp đang có mặt mà không để quá khứ và tương lai kéo tâm đi.
66. THỰC HÀNH BUỔI TỐI
Trước khi ngủ hỏi:
Hôm nay tôi đã sống lại chuyện cũ bao nhiêu lần?
Những lần ấy có giúp tôi học thêm gì không?
Tôi đã lo điều gì chưa xảy ra?
Có việc nào tôi thật sự có thể làm mà tôi chưa làm không?
Có lúc nào hôm nay tôi thật sự biết mình đang làm gì không?
Có thiện pháp nào tôi đã làm hôm nay thay vì tiếp tục hẹn ngày mai không?
67. CÂU GHI NHỚ THỨ NHẤT
Quá khứ là nơi để học, không phải nơi để sống mãi.
68. CÂU GHI NHỚ THỨ HAI
Tương lai là nơi để chuẩn bị, không phải nơi để gửi toàn bộ bình an của mình vào đó.
69. CÂU GHI NHỚ THỨ BA
Một việc đã qua chỉ sống lại khi tâm mình tiếp tục đưa nó vào hiện tại.
70. CÂU GHI NHỚ THỨ TƯ
Một điều chưa xảy ra không nên được đối xử như thể nó đã là sự thật.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1060
71. CÂU GHI NHỚ THỨ NĂM
Lo mà có hành động thích hợp là chuẩn bị; lo mà chỉ quay vòng là đang tự làm mình kiệt sức.
72. CÂU GHI NHỚ THỨ SÁU
Nhớ để học là trí; nhớ để tự đốt mình mãi là chấp.
73. CÂU GHI NHỚ THỨ BẢY
Hạnh phúc luôn để ở “khi nào…” thì hiện tại sẽ luôn thiếu.
74. CÂU GHI NHỚ THỨ TÁM
Không ai sửa được hôm qua, nhưng rất nhiều hậu quả của hôm qua có thể được chuyển hướng bằng cách mình sống hôm nay.
75. CÂU GHI NHỚ THỨ CHÍN
Không ai nắm chắc ngày mai, nên điều thiện đừng trì hoãn vô hạn.
76. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI
Sống hiện tại không phải sống bất cần; là làm việc hiện tại bằng trí để tương lai bớt khổ.
77. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI MỘT
Một hơi thở mình thật sự biết có thể quý hơn một giờ tâm chạy hết chuyện cũ tới chuyện chưa tới.
78. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI HAI
Thân luôn ở hiện tại; chỉ có tâm là rất hay sống ở nơi khác.
79. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI BA
Ngày mai chưa tới, nhưng hôm nay đang đi qua.
80. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI BỐN
Nếu có điều cần thương, thương hôm nay; có điều cần sửa, sửa hôm nay; có pháp cần tu, tu hôm nay.
81. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
Đức Phật dạy:
QUÁ KHỨ KHÔNG TRUY TÌM.
TƯƠNG LAI KHÔNG ƯỚC VỌNG.
QUÁ KHỨ ĐÃ QUA.
TƯƠNG LAI CHƯA ĐẾN.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1061
PHÁP HIỆN TẠI – HÃY THẤY RÕ BẰNG TUỆ.
Và:
HÔM NAY HÃY NHIỆT TÂM TU TẬP.
Bởi:
AI BIẾT CHẾT NGÀY MAI?
Đó là phần kệ trung tâm của Kinh Nhất Dạ Hiền Giả – Bhaddekaratta Sutta, MN 131. (SuttaCentral)
Công thức dễ nhớ:
QUÁ KHỨ → HỌC → BUÔNG.
TƯƠNG LAI → CHUẨN BỊ → KHÔNG LO VÒNG.
HIỆN TẠI → THẤY → LÀM.
Nguồn: Kinh Nhất Dạ Hiền Giả – Bhaddekaratta Sutta; Trung Bộ Kinh – Majjhima Nikāya; kinh số 131; mã tra cứu quốc tế MN 131; bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu; nguyên bản Kinh tạng Pāli. (SuttaCentral)
82. CÂU HỎI LIVESTREAM
1. Quý vị có một chuyện quá khứ nào mình vẫn đang sống lại nhiều hơn là học từ nó không?
2. Theo quý vị, khác nhau thế nào giữa nhớ quá khứ để học và truy tìm quá khứ để khổ?
3. Có bao giờ mình tự trách một lỗi đã sửa rồi suốt nhiều năm không?
4. Có thành công cũ nào mình vẫn bám vào đến mức khó sống với hiện tại không?
5. Quý vị thường lo điều gì trong tương lai nhất?
6. Điều mình đang lo có việc cụ thể nào làm ngay hôm nay được không?
7. Nếu không có gì làm được ngay, việc nghĩ thêm có thật sự làm tương lai tốt hơn không?
8. Có bao giờ mình nói “khi nào hết bận tôi sẽ tu” rồi nhiều năm vẫn chưa hết bận không?
9. Theo quý vị, tại sao Đức Phật nhắc “ai biết chết ngày mai”?
10. Câu ấy nhằm làm mình sợ chết hay nhắc mình đừng trì hoãn thiện pháp?
11. Sống hiện tại có phải là không cần kế hoạch tương lai không?
12. Lập kế hoạch khác lo âu ở điểm nào?
13. Có bao giờ thân đang ăn mà tâm lại đang ở cuộc cãi hôm qua không?
14. Có bao giờ người thân đang nói mà tâm mình đã chạy sang câu mình sắp đáp chưa?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1062
15. Nếu một người cứ đợi người khác thay đổi rồi mình mới bình an, bình an ấy đang nằm trong tay ai?
16. Có thiện pháp nào quý vị đã trì hoãn quá lâu mà có thể bắt đầu ngay hôm nay không?
17. Khi tâm chạy về quá khứ, quý vị có thể hỏi: “Tôi đang học hay đang sống lại?” không?
18. Khi tâm chạy tới tương lai, quý vị có thể hỏi: “Có việc gì tôi làm được ngay bây giờ?” không?
19. Trong ba phần quá khứ – tương lai – hiện tại, tâm quý vị thường bị kéo mạnh nhất về đâu?
20. Nếu hôm nay chỉ nhớ một công thức, quý vị có thể nhớ: “Quá khứ học rồi buông – tương lai chuẩn bị rồi trở về – hiện tại thấy và làm” không?
83. CÂU KẾT ĐỂ ĐỌC TRÊN LIVESTREAM
Kính thưa quý vị,
có một điều rất lạ.
Thân mình:
chỉ có thể sống:
HÔM NAY.
Nhưng tâm mình lại có thể:
sống ở mười năm trước.
Hoặc:
sống ở mười năm sau.
Một chuyện cũ:
đã hết.
Nhưng mình nhớ lại.
rồi đau lại.
rồi sân lại.
rồi khóc lại.
Thế là:
quá khứ đã qua,
nhưng khổ:
ĐƯỢC LÀM MỚI TRONG HIỆN TẠI.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1063
Rồi tương lai:
chưa tới.
Nhưng tâm tưởng tượng:
“Lỡ thế này…”
“Lỡ thế kia…”
Thế là:
một cái khổ chưa từng xảy ra
cũng có thể làm mình:
mất ngủ hôm nay.
Cho nên Đức Phật dạy:
“QUÁ KHỨ KHÔNG TRUY TÌM.”
Không có nghĩa:
quên hết.
Mà:
nhớ điều cần nhớ.
học điều cần học.
sửa điều cần sửa.
rồi:
ĐỪNG Ở MÃI TRONG ĐÓ.
Ngài dạy:
“TƯƠNG LAI KHÔNG ƯỚC VỌNG.”
Không có nghĩa:
không chuẩn bị.
Mà:
chuẩn bị điều cần chuẩn bị.
rồi:
ĐỪNG SỐNG TRƯỚC CẢ MỘT CUỘC ĐỜI TRONG ĐẦU.
Và Đức Phật đưa mình về:
PHÁP HIỆN TẠI.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1064
Ngay bây giờ:
tâm có sân không?
Có tham không?
Có lo không?
Có một việc cần làm không?
Có một người cần mình nói lời tử tế không?
Có một lỗi cần sửa không?
Có một hơi thở mình đang bỏ quên không?
Đó là:
NƠI TU.
Không phải:
hôm qua.
Không phải:
ngày mai.
Mà:
NGAY CHỖ NÀY.
Và rồi Đức Phật nhắc một câu rất mạnh:
“HÔM NAY NHIỆT TÂM LÀM – AI BIẾT CHẾT NGÀY MAI?”
Không phải để mình:
hoảng.
Mà để mình:
ĐỪNG TRÌ HOÃN ĐIỀU THIỆN.
Có người cần xin lỗi:
đừng chờ mãi.
Có cha mẹ cần gọi:
đừng chờ mãi.
Có giới cần giữ:
đừng chờ mãi.
Có pháp cần tu:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1065
đừng chờ mãi.
Có lỗi cần sửa:
đừng chờ mãi.
Vì ngày mai:
CHƯA TỚI.
Nhưng hôm nay:
ĐANG TRÔI.
Cho nên bài hôm nay xin nhớ ba công thức:
QUÁ KHỨ → HỌC → BUÔNG.
TƯƠNG LAI → CHUẨN BỊ → TRỞ VỀ.
HIỆN TẠI → THẤY → LÀM.
Và một câu rất ngắn:
“ĐÃ QUA – ĐỪNG SỐNG LẠI.”
“CHƯA TỚI – ĐỪNG SỐNG TRƯỚC.”
“ĐANG CÓ – HÃY THẤY CHO RÕ.”
Khi tâm trở về được như vậy,
mình không mất:
quá khứ.
Không mất:
tương lai.
Mà mình lấy lại:
HIỆN TẠI.
Và hiện tại chính là nơi duy nhất mình có thể:
TU.
THƯƠNG.
SỬA.
GIỮ GIỚI.
TẠO THIỆN.
VÀ CHUYỂN HÓA KHỔ ĐAU.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1066
Nguồn: Kinh Nhất Dạ Hiền Giả – Bhaddekaratta Sutta, Trung Bộ Kinh – Majjhima Nikāya, kinh số 131, mã quốc tế MN 131, bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, nguyên bản Kinh tạng Pāli. (SuttaCentral)
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1067
MỤC 038 - Bài 038 — MŨI TÊN THỨ NHẤT LÀ CÁI ĐAU PHẢI CHỊU – MŨI TÊN THỨ HAI LÀ PHẦN TÂM TỰ BẮN THÊM 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
Đức Phật dạy rằng người phàm không được học Chánh pháp, khi bị một cảm thọ đau khổ chạm đến, thường:
sầu muộn,
than vãn,
khóc lóc,
đấm ngực,
rơi vào rối loạn.
Như vậy người ấy cảm nhận hai loại đau khổ:
đau nơi thân
và:
đau nơi tâm.
Đức Phật dùng hình ảnh:
giống như một người bị bắn một mũi tên, rồi ngay sau đó lại bị bắn thêm mũi tên thứ hai.
Ngược lại, bậc Thánh đệ tử có học, khi bị khổ thọ chạm đến, vẫn cảm nhận cảm giác đau nơi thân, nhưng không nhất thiết phải tiếp tục tạo thêm sầu muộn, than khóc và rối loạn trong tâm.
Vị ấy giống như:
người chỉ bị trúng một mũi tên, không bị bắn thêm mũi tên thứ hai. (SuttaCentral)
2. NGUỒN KINH
Tên kinh tiếng Việt: Kinh Với Mũi Tên, thường gọi Kinh Mũi Tên
Tên Pāli theo SuttaCentral: Salla Sutta
Tên thường gặp trong nhiều bản Anh ngữ: Sallatha Sutta
Thuộc: Tương Ưng Bộ Kinh – Saṃyutta Nikāya
Tương Ưng: Tương Ưng Thọ – Vedanā Saṃyutta
Số kinh: Kinh số 6
Mã tra cứu quốc tế: SN 36.6
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1068
Bản dịch tiếng Việt: Hòa thượng Thích Minh Châu
Nguyên bản: Kinh tạng Pāli
Bản Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu được SuttaCentral lưu tại SN 36.6 – Sallasutta, với nhan đề tiếng Việt “Với Mũi Tên”. Access to Insight cũng định danh SN 36.6 với tên Sallatha Sutta – The Arrow. (SuttaCentral)
Khi có người hỏi thật ngắn:
“Đây là Kinh Với Mũi Tên – Salla Sutta, thường cũng gặp tên Sallatha Sutta, thuộc Tương Ưng Bộ Kinh – Saṃyutta Nikāya, Tương Ưng Thọ – Vedanā Saṃyutta, kinh số 6, mã quốc tế SN 36.6, bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, nguyên bản Kinh tạng Pāli.”
3. ĐIỀU CẦN PHÂN BIỆT NGAY TỪ ĐẦU
Bài kinh này không dạy rằng người tu sẽ không còn cảm thấy đau.
Đức Phật nói rất rõ:
bậc Thánh đệ tử vẫn có:
lạc thọ,
khổ thọ,
bất khổ bất lạc thọ.
Điểm khác nhau nằm ở:
CÁCH TÂM PHẢN ỨNG VỚI CẢM THỌ.
Người phàm khi đau có thể sinh thêm:
sầu.
than.
khóc.
sân.
rối loạn.
Bậc có học Chánh pháp vẫn nhận cảm giác đau, nhưng không nhất thiết chồng thêm toàn bộ khổ tâm ấy lên cảm giác ban đầu. (SuttaCentral)
4. TỪ KHÓA VIỆT – PĀLI – NGHĨA
THỌ – VEDANĀ – CẢM GIÁC
Vedanā là:
thọ,
cảm giác.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1069
Có ba loại cơ bản:
LẠC THỌ.
KHỔ THỌ.
BẤT KHỔ BẤT LẠC THỌ.
Bài kinh SN 36.6 đặt trọng tâm vào việc người có học và người chưa học khác nhau ra sao khi các loại cảm thọ ấy sinh khởi. (SuttaCentral)
5. KHỔ THỌ – DUKKHA VEDANĀ – CẢM GIÁC ĐAU KHỔ
Khổ thọ có thể là:
đau thân.
khó chịu.
nóng.
lạnh.
mỏi.
bệnh.
hoặc những cảm giác không dễ chịu khác.
Điều cần nhớ:
CẢM GIÁC ĐAU LÀ MỘT VIỆC.
TÂM PHẢN ỨNG VỚI CÁI ĐAU LÀ MỘT VIỆC KHÁC.
Hai việc có thể đi cùng,
nhưng không phải:
hoàn toàn giống nhau.
6. MŨI TÊN – SALLA – VẬT NHỌN GÂY ĐAU, HÌNH ẢNH VÍ DỤ TRONG KINH
Salla có nghĩa gần:
mũi tên,
mũi nhọn,
vật đâm.
Đức Phật dùng hình ảnh rất dễ hiểu:
MŨI TÊN THỨ NHẤT
là cái đau đang có.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1070
MŨI TÊN THỨ HAI
là phần tâm tiếp tục tạo thêm đau khổ bằng:
sầu.
than.
sân.
hoảng.
chống đối.
câu chuyện trong đầu.
Đây là cách diễn giải ứng dụng từ hình ảnh của kinh, không phải một câu Pāli nguyên văn gọi riêng từng loại là “mũi tên thứ nhất” và “mũi tên thứ hai”. Bài kinh trực tiếp dùng ví dụ người bị bắn một mũi tên rồi bị bắn thêm một mũi thứ hai để mô tả hai lớp đau thân và tâm. (SuttaCentral)
7. MŨI TÊN THỨ NHẤT – ĐIỀU ĐÃ XẢY RA
Kính thưa quý vị,
có những chuyện:
mình không chọn.
Thân bệnh.
Người khác nói một câu.
Mất một món đồ.
Một cơn đau xuất hiện.
Thời tiết nóng.
Cơ thể già.
Một người rời đi.
Một sự việc đã xảy ra.
Đó có thể được ví như:
MŨI TÊN THỨ NHẤT.
Nó:
đã tới.
Không cần giả vờ:
không đau.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1071
8. MŨI TÊN THỨ HAI – PHẦN TÂM TỰ THÊM
Sau cái đau thứ nhất,
tâm có thể nói:
“Tại sao lại là tôi?”
“Chắc tôi sẽ khổ mãi.”
“Không ai khổ như tôi.”
“Tôi không chịu nổi.”
“Đời tôi hết rồi.”
“Người kia phải trả giá.”
“Tôi không thể nào sống được nếu chuyện này tiếp tục.”
Đó là lúc:
CÁI ĐAU BAN ĐẦU ĐƯỢC CHỒNG THÊM MỘT LỚP KHỔ TÂM.
Đây chính là ý nghĩa thực hành rất gần với hình ảnh hai mũi tên trong SN 36.6. (Access to Insight)
9. GIẢI CỤM THỨ NHẤT
“NGƯỜI PHÀM KHI BỊ KHỔ THỌ CHẠM ĐẾN…”
Đức Phật không nói:
người phàm:
xấu.
Ngài chỉ mô tả:
MỘT CƠ CHẾ TÂM.
Đau đến.
Tâm không hiểu thọ.
Rồi:
phản ứng.
Từ đau:
sinh sân.
Từ sân:
sinh chống đối.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1072
Từ chống đối:
sinh thêm khổ.
10. “SẦU MUỘN – THAN VÃN – KHÓC LÓC – RỐI LOẠN”
Đây là phần tâm:
đi tiếp.
Một cơn đau thân:
có thể chỉ ở:
một vùng.
Nhưng tâm có thể làm:
toàn bộ đời sống
thành:
“Tôi đang khổ.”
Đức Phật phân biệt rất rõ giữa:
cảm giác đau
và:
phản ứng tâm lý được chồng lên trên nó. (SuttaCentral)
11. VÍ DỤ 1 – ĐAU LƯNG
Mũi tên thứ nhất:
LƯNG ĐANG ĐAU.
Mũi tên thứ hai:
“Chắc từ nay tôi sẽ đau suốt đời.”
“Tôi không làm gì được nữa.”
“Sao thân này tệ quá.”
Câu đầu là:
dữ kiện.
Các câu sau có thể là:
dự đoán,
sợ,
sân.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1073
Không phải lúc nào cũng là sự thật.
12. ĐIỀU NÀY KHÔNG CÓ NGHĨA ĐAU THÌ KHÔNG ĐI KHÁM
Đây là chỗ cần nói thật rõ.
Mũi tên thứ nhất là đau thân.
Nếu cần:
ĐI KHÁM.
UỐNG THUỐC ĐÚNG CHỈ ĐỊNH.
NGHỈ NGƠI.
ĐIỀU TRỊ.
Bài kinh không dạy:
“Đau thì chỉ ngồi nhìn.”
Mà dạy mình phân biệt:
XỬ LÝ CÁI ĐAU
với:
TỰ TẠO THÊM KHỔ TÂM.
13. VÍ DỤ 2 – MẤT NGỦ MỘT ĐÊM
Mũi tên thứ nhất:
HÔM NAY KHÓ NGỦ.
Mũi tên thứ hai:
“Mai chắc chắn tôi hỏng hết.”
“Tôi sẽ bệnh nặng.”
“Tại sao tôi không bao giờ ngủ được?”
Một đêm khó ngủ
có thể biến thành:
một đêm cộng thêm:
hoảng.
14. VÍ DỤ 3 – MỘT NGƯỜI KHÔNG TRẢ LỜI TIN NHẮN
Mũi tên thứ nhất:
CHƯA CÓ TRẢ LỜI.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1074
Mũi tên thứ hai:
“Họ coi thường tôi.”
“Họ ghét tôi.”
“Tôi không có giá trị.”
Trong khi mình chưa biết:
lý do thật.
Một sự kiện nhỏ
đã được tâm:
thêm rất nhiều.
15. VÍ DỤ 4 – BỊ CHÊ
Mũi tên thứ nhất:
MỘT CÂU CHÊ.
Mũi tên thứ hai:
“Tôi dở.”
“Mọi người đều nghĩ tôi dở.”
“Tôi không nên làm nữa.”
“Người kia cố tình hạ tôi.”
Một câu người khác nói
đã được tâm biến thành:
cả một bản án.
16. VÍ DỤ 5 – VIDEO ÍT NGƯỜI XEM
Mũi tên thứ nhất:
SỐ NGƯỜI XEM HÔM NAY THẤP.
Mũi tên thứ hai:
“Không ai cần nghe tôi nữa.”
“Kênh của tôi hết rồi.”
“Tôi không có giá trị.”
Dữ liệu:
là dữ liệu.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1075
Bản ngã diễn giải:
là phần khác.
17. VÍ DỤ 6 – MẤT MỘT KHOẢN TIỀN
Mũi tên thứ nhất:
MỘT KHOẢN TIỀN ĐÃ MẤT.
Việc cần làm:
xem nguyên nhân.
bảo vệ phần còn lại.
sửa sai.
Mũi tên thứ hai:
“Đời tôi tiêu rồi.”
“Tôi ngu nhất.”
“Tôi không bao giờ gượng lại được.”
Đó là:
khổ được chồng lên khổ.
18. VÍ DỤ 7 – MỘT NGƯỜI RỜI KHỎI MÌNH
Mũi tên thứ nhất:
MỐI QUAN HỆ ĐÃ THAY ĐỔI.
Đau:
thật.
Nhưng mũi tên thứ hai có thể là:
“Không ai sẽ thương tôi nữa.”
“Tôi không thể sống thiếu họ.”
“Tôi phải làm họ đau lại.”
Những câu ấy có thể kéo khổ:
dài hơn rất nhiều.
19. VÍ DỤ 8 – CƠ THỂ GIÀ
Mũi tên thứ nhất:
THÂN ĐANG GIÀ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1076
Mũi tên thứ hai:
“Tôi hết giá trị.”
“Tôi xấu.”
“Không ai cần tôi.”
Thân già:
là một tiến trình.
Giá trị đạo đức:
không đồng nghĩa với:
tuổi của thân.
20. VÍ DỤ 9 – BỊ BỆNH
Bệnh:
là mũi tên thứ nhất.
Nhưng tâm có thể thêm:
“Tại sao tôi?”
“Chắc tôi tạo nghiệp nặng.”
“Tôi đáng bị như vậy.”
Nếu không có căn cứ,
những câu ấy chỉ làm:
khổ tăng.
Phật pháp không dạy mình:
đoán nghiệp cụ thể của chính mình hay người khác một cách tùy tiện.
21. VÍ DỤ 10 – MỘT LỜI ÁC TRÊN MẠNG
Người ta viết:
một câu.
Đó là:
mũi tên thứ nhất.
Mình:
đọc lại mười lần.
chụp lại.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1077
gửi cho mười người.
kể lại cả ngày.
Mỗi lần kể:
sân lại sinh.
Từ một mũi tên của người khác,
mình đang:
TỰ LÀM THÊM NHIỀU MŨI.
22. GIẢI CỤM THỨ HAI
“BỊ BẮN THÊM MŨI TÊN THỨ HAI”
Đây là hình ảnh cốt lõi.
Người kia bắn:
một mũi.
Mình không cần:
bắn tiếp vào chính mình.
Thân đau:
một phần.
Tâm nói:
“Tôi không chịu được,”
thêm:
một phần.
Sự việc khó:
một phần.
Tâm chống:
“Nó không được xảy ra,”
thêm:
một phần.
Đây là chỗ tu.
23. MŨI TÊN THỨ HAI KHÔNG PHẢI LÚC NÀO CŨNG DO MÌNH CỐ Ý
Điều này rất quan trọng.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1078
Không nên nghe bài kinh rồi nói với người đang khổ:
“Bạn tự làm khổ mình.”
Câu ấy có thể:
rất thiếu từ.
Phản ứng tâm nhiều khi:
tự động.
do thói quen.
do quá khứ.
do chưa được học cách nhìn cảm thọ.
Cho nên học bài này là để:
SOI MÌNH.
Không phải để:
TRÁCH NGƯỜI ĐANG ĐAU.
24. BẬC CÓ HỌC CŨNG VẪN CÓ KHỔ THỌ
Đây là điều rất quý.
Đức Phật không hứa:
người tu sẽ không:
đau.
Không:
bệnh.
Không:
già.
Không:
gặp chuyện trái ý.
Ngài chỉ cho:
CÓ THỂ ĐAU MÀ KHÔNG NHẤT THIẾT PHẢI CHỒNG THÊM TOÀN BỘ KHỔ TÂM LÊN ĐÓ.
Bản Việt SN 36.6 ghi rất rõ bậc đa văn Thánh đệ tử vẫn cảm thọ, nhưng khi khổ thọ đến thì “chỉ cảm thọ về thân, không phải cảm thọ về tâm” theo hình ảnh một mũi tên thay vì hai. (SuttaCentral)
25. KHÔNG CÓ NGHĨA BẬC TU HỌC TRỞ THÀNH VÔ CẢM
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1079
Không khóc:
không phải tiêu chuẩn duy nhất.
Không buồn:
không phải điều phải ép.
Điểm chính là:
KHÔNG BỊ CẢM THỌ TRÓI BUỘC VÀ KÉO ĐI BẰNG THAM – SÂN – SI.
Bài kinh còn nói tới việc người chưa học không hiểu rõ sự sinh khởi, đoạn diệt, vị ngọt, nguy hiểm và lối thoát khỏi các cảm thọ, nên bị chúng trói buộc; bậc có học thì khác. (SuttaCentral)
26. “SÂN HẬN ĐỐI VỚI KHỔ THỌ”
Đây là một điểm rất sâu.
Đau:
đã đau.
Rồi mình:
GHÉT CÁI ĐAU.
Tâm nói:
“Nó phải biến mất ngay.”
Nếu chưa biến mất:
sân tăng.
Thế là:
khổ thọ
gặp:
sân.
Đó là một hình thức mũi tên thứ hai.
27. VÍ DỤ 11 – ĐAU ĐẦU
Đau đầu:
mũi thứ nhất.
Tâm:
“Tôi ghét cái đầu này.”
“Sao nó không chịu hết?”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1080
Mỗi phút:
căng thêm.
Có thể thử:
“ĐANG CÓ CẢM GIÁC ĐAU.”
“TÔI SẼ XỬ LÝ ĐIỀU CẦN XỬ LÝ.”
“KHÔNG CẦN GHÉT THÊM.”
Đó là thực hành.
28. PHÂN BIỆT CHẤP NHẬN VÀ ĐẦU HÀNG
Chấp nhận:
“ĐÂY LÀ SỰ THẬT ĐANG CÓ.”
Đầu hàng:
“THÔI KHÔNG LÀM GÌ.”
Hai thứ khác nhau.
Đau:
chấp nhận là đang đau.
Rồi:
chữa.
Bị lừa:
chấp nhận là đã bị lừa.
Rồi:
xử lý.
Không cần phủ nhận sự thật để:
“tích cực”.
29. PHÂN BIỆT CẢM THỌ VÀ CÂU CHUYỆN
Cảm thọ:
“Đau.”
Câu chuyện:
“Đau này sẽ không bao giờ hết.”
Cảm thọ:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1081
“Buồn.”
Câu chuyện:
“Đời tôi chẳng còn gì.”
Cảm thọ:
“Khó chịu.”
Câu chuyện:
“Người kia cố tình phá đời tôi.”
Tập phân biệt hai tầng này là:
rất quan trọng.
30. PHÂN BIỆT SỰ KIỆN VÀ BẢN NGÃ
Sự kiện:
“Tôi bị từ chối.”
Bản ngã thêm:
“Tôi là người không đáng được chọn.”
Sự kiện:
“Tôi làm sai bài này.”
Bản ngã thêm:
“Tôi là người dở.”
Sự kiện:
“Buổi này ít người.”
Bản ngã thêm:
“Tôi không có giá trị.”
Mũi thứ hai nhiều khi đến từ:
ĐỒNG HÓA SỰ VIỆC VỚI CON NGƯỜI.
31. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ GÌ?
Kính thưa quý vị,
đời sống không cho mình quyền chọn:
tất cả.
Mình không chọn được:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1082
thân không già.
người khác luôn tử tế.
mọi việc đều thuận.
không bao giờ bệnh.
không bao giờ mất.
Nhưng Phật pháp chỉ ra:
CÓ MỘT PHẦN MÌNH CÓ THỂ TU.
Đó là:
CÁCH TÂM GẶP CÁI ĐAU.
Mũi đầu:
có khi không tránh.
Mũi thứ hai:
có thể học cách bớt bắn.
32. CÔNG THỨC THỨ NHẤT
ĐAU – BIẾT ĐAU – ĐỪNG THÊM
Ba bước:
ĐAU
nhận.
BIẾT
đây là cảm thọ.
ĐỪNG THÊM
không vội xây cả câu chuyện.
Công thức:
ĐAU → BIẾT → KHÔNG THÊM.
33. CÔNG THỨC THỨ HAI
SỰ VIỆC – CẢM THỌ – CÂU CHUYỆN
Hỏi:
SỰ VIỆC GÌ ĐANG XẢY RA?
TÔI ĐANG CẢM THẤY GÌ?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1083
TÔI ĐANG KỂ THÊM CÂU GÌ?
Ba câu này giúp:
tách mũi thứ nhất
và:
mũi thứ hai.
34. CÔNG THỨC THỨ BA
THÂN ĐAU – TÂM ĐỪNG ĐÁNH THÊM
Một câu rất dễ nhớ:
THÂN ĐAU – ĐỪNG LẤY TÂM ĐÁNH THÊM VÀO THÂN.
Có cái đau:
đã đủ.
Không cần:
sân với nó.
35. CÔNG THỨC THỨ TƯ
XỬ LÝ – KHÔNG THẢM HỌA HÓA
Một chuyện xảy ra.
Hỏi:
“CẦN XỬ LÝ GÌ?”
Không hỏi ngay:
“ĐỜI TÔI SẼ RA SAO?”
Trước hết:
xử lý phần thật.
Đừng biến:
một vấn đề
thành:
toàn bộ tương lai.
36. CÔNG THỨC THỨ NĂM
CẢM GIÁC – KHÔNG PHẢI BẢN ÁN
Đau:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1084
không phải:
“Tôi hỏng.”
Buồn:
không phải:
“Đời tôi thất bại.”
Sợ:
không phải:
“Chắc chắn nguy hiểm sẽ xảy ra.”
Công thức:
CẢM GIÁC LÀ CẢM GIÁC – KHÔNG PHẢI BẢN ÁN.
37. CÔNG THỨC THỨ SÁU
MŨI MỘT – CHỮA; MŨI HAI – BUÔNG
Nếu mũi thứ nhất là:
bệnh,
CHỮA.
Nếu mũi thứ hai là:
oán,
BUÔNG.
Nếu mũi thứ nhất là:
thiệt hại,
XỬ LÝ.
Nếu mũi thứ hai là:
tự kết án,
DỪNG.
Công thức:
MŨI MỘT → XỬ LÝ.
MŨI HAI → KHÔNG NUÔI.
38. VÍ DỤ 12 – THẤT BẠI MỘT LẦN
Mũi thứ nhất:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1085
VIỆC NÀY KHÔNG THÀNH.
Mũi thứ hai:
“Tôi là người thất bại.”
Thay bằng:
“Việc này chưa thành. Tôi xem nguyên nhân.”
Một câu khác đi,
tâm khác đi.
39. VÍ DỤ 13 – BỊ NGƯỜI THÂN HIỂU LẦM
Mũi thứ nhất:
HỌ HIỂU SAI.
Mũi thứ hai:
“Không ai hiểu tôi cả.”
Một người:
không phải:
mọi người.
Một chuyện:
không phải:
cả đời.
Đây là cách tâm thường:
phóng đại.
40. VÍ DỤ 14 – MỘT NGÀY MỆT
Mũi thứ nhất:
HÔM NAY MỆT.
Mũi thứ hai:
“Tôi lúc nào cũng mệt.”
Từ:
hôm nay
biến thành:
lúc nào cũng.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1086
Đó là cách tâm tự:
mở rộng khổ.
41. VÍ DỤ 15 – MỘT LẦN NÓI SAI
Mũi thứ nhất:
MÌNH ĐÃ NÓI SAI.
Việc cần:
đính chính.
Mũi thứ hai:
“Tôi không xứng đáng nói nữa.”
Không cần.
Sai:
sửa.
Đó là:
trí.
42. VÍ DỤ 16 – MỘT NGƯỜI BỎ THEO DÕI
Mũi thứ nhất:
MỘT NGƯỜI BỎ THEO DÕI.
Mũi thứ hai:
“Mọi người đang bỏ tôi.”
Không có dữ kiện.
Chỉ là:
tâm phóng đại.
43. VÍ DỤ 17 – BỊ KẸT XE
Mũi thứ nhất:
ĐƯỜNG ĐANG KẸT.
Mũi thứ hai:
còi.
chửi.
sân.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1087
tự làm tim mình nhanh.
Kẹt xe:
chưa hết.
Khổ:
đã tăng.
44. VÍ DỤ 18 – TRỜI NÓNG
Mũi thứ nhất:
NÓNG.
Mũi thứ hai:
“Tôi ghét thời tiết này.”
“Sao hôm nay tệ thế.”
Một thời tiết
thành:
một ngày tệ
vì:
tâm gắn nhãn.
45. VÍ DỤ 19 – ĐỢI AI ĐÓ TRỄ
Mũi thứ nhất:
NGƯỜI KIA TRỄ.
Mũi thứ hai:
“Họ không tôn trọng tôi.”
Có thể:
đúng.
Có thể:
không.
Trước khi biết,
đừng bắn:
mũi thứ hai.
46. VÍ DỤ 20 – ĐAU DO TUỔI GIÀ
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1088
Mũi thứ nhất:
THÂN CÓ KHỔ THỌ.
Mũi thứ hai:
“Tôi vô dụng.”
Hai thứ:
không giống nhau.
Thân giảm khả năng
không đồng nghĩa:
trí,
từ,
giới,
phẩm chất
đều mất.
47. KHI CẢM THỌ DỄ CHỊU – BÀI KINH CŨNG DẠY PHẢI CÓ TRÍ
SN 36.6 không chỉ nói về khổ thọ.
Bài kinh mở rộng tới:
lạc thọ,
khổ thọ,
bất khổ bất lạc thọ.
Người chưa học có thể bị các cảm thọ trói buộc vì không thấy rõ sự sinh khởi, chấm dứt, vị ngọt, nguy hiểm và lối thoát của chúng; bậc có học không bị trói buộc theo cách ấy. (SuttaCentral)
Điều này có nghĩa:
KHÔNG CHỈ KHỔ MỚI TRÓI.
LẠC CŨNG CÓ THỂ TRÓI NẾU MÌNH NẮM.
48. VÍ DỤ 21 – ĐƯỢC KHEN
Lạc thọ sinh.
Nếu chỉ:
biết vui,
không sao.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1089
Nếu thêm:
“Tôi phải được khen mãi.”
thì:
trói.
Khi bị chê:
khổ rất mạnh.
49. VÍ DỤ 22 – CÓ MÓN NGON
Ăn:
ngon.
Lạc thọ.
Nếu tâm:
“Ngày mai phải có nữa.”
tham đã:
nối vào lạc.
Bài học không phải:
đừng ăn ngon.
Mà:
ĐỪNG ĐỂ LẠC THỌ TRỞ THÀNH DÂY TRÓI.
50. VÍ DỤ 23 – BUỔI LIVESTREAM RẤT ĐÔNG
Vui:
được.
Nhưng nếu:
“Ngày mai phải đông như vậy.”
thì lạc hôm nay
đã sinh:
sợ cho ngày mai.
Thọ vui:
đã thành:
trói.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1090
51. BẤT KHỔ BẤT LẠC THỌ CŨNG CẦN THẤY
Có những lúc:
không vui.
không buồn.
Tâm dễ:
lơ.
chán.
tìm kích thích.
Đức Phật cũng đưa loại thọ trung tính vào bài kinh; người có học thấy rõ nó, không để vô minh tồn tại theo cùng cách người chưa học. (SuttaCentral)
52. MŨI TÊN THỨ HAI THƯỜNG ĐƯỢC BẮN BẰNG BA THỨ
MỘT – SÂN
“Tôi ghét cái này.”
HAI – SỢ
“Chắc nó sẽ tệ hơn.”
BA – CHẤP
“Điều này không được xảy ra với tôi.”
Nhìn được ba thứ này,
mình đã thấy:
nơi mũi thứ hai bắt đầu.
53. ĐỪNG ÉP MÌNH “KHÔNG ĐƯỢC BUỒN”
Nếu người thân mất,
buồn có thể:
tự nhiên.
Nếu tổn thất lớn,
đau:
có thật.
Đừng biến bài kinh thành:
một mũi tên thứ ba:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1091
“Tôi tu mà sao còn buồn?”
Đó lại là:
tự trách.
Hãy:
biết buồn.
không nuôi thêm.
để thọ:
đổi.
54. ĐỪNG DÙNG BÀI KINH ĐỂ PHỦ NHẬN CẢM XÚC NGƯỜI KHÁC
Khi ai đó đau,
đừng nói:
“Đó là mũi tên thứ hai của chị đó.”
trong khi họ đang cần:
được lắng nghe.
Từ bi trước.
Rồi khi thích hợp:
mới chia sẻ Pháp.
Kinh để:
CHỮA.
Không phải:
ĐỂ THẮNG NGƯỜI ĐANG KHỔ.
55. CÁCH THỰC HÀNH KHI MŨI TÊN THỨ NHẤT XUẤT HIỆN
BƯỚC 1 – GỌI TÊN SỰ THẬT
“Đang đau.”
“Đang buồn.”
“Đang khó chịu.”
Không thêm:
phán xét.
56. BƯỚC 2 – TÁCH THÂN VÀ TÂM
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1092
Hỏi:
“PHẦN NÀO LÀ CẢM GIÁC THẬT?”
“PHẦN NÀO LÀ CÂU CHUYỆN?”
Ví dụ:
đau 6/10:
cảm giác.
“Tôi sẽ không bao giờ khỏe”:
câu chuyện.
57. BƯỚC 3 – XỬ LÝ PHẦN XỬ LÝ ĐƯỢC
Bệnh:
khám.
nợ:
lập kế hoạch.
mâu thuẫn:
nói chuyện.
sai:
sửa.
Không dùng thiền:
thay cho trách nhiệm.
58. BƯỚC 4 – DỪNG PHẦN PHÓNG ĐẠI
Khi thấy:
“luôn luôn,”
“không bao giờ,”
“cả đời,”
“mọi người,”
hãy kiểm lại.
Tâm rất thích:
lấy một việc
biến thành:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1093
tất cả.
59. BƯỚC 5 – THỞ VÀ Ở VỚI CẢM THỌ
Không cần:
đuổi ngay.
Có thể:
thở.
biết.
quan sát.
Cảm thọ:
đang đổi.
Không phải:
một khối bất biến.
60. BƯỚC 6 – KHÔNG SÂN VỚI CÁI ĐANG ĐAU
Có thể nói:
“Tôi không thích cảm giác này, nhưng tôi không cần ghét nó thêm.”
Đây là một câu:
rất thực tế.
61. BƯỚC 7 – NHỚ RẰNG THỌ CÓ SINH VÀ CÓ DIỆT
SN 36.6 nhấn mạnh bậc có học hiểu rõ sự sinh khởi và đoạn diệt của cảm thọ, cùng vị ngọt, nguy hiểm và lối thoát khỏi chúng. (SuttaCentral)
Điều này giúp mình nhớ:
THỌ KHÔNG PHẢI MỘT BẢN ÁN VĨNH VIỄN.
62. CÔNG THỨC THỨ BẢY
TÊN – TÁCH – XỬ – BUÔNG
TÊN
Gọi đúng cảm giác.
TÁCH
Tách sự thật khỏi câu chuyện.
XỬ
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1094
Xử lý việc cần.
BUÔNG
Không nuôi phần thêm.
Công thức:
TÊN → TÁCH → XỬ → BUÔNG.
63. CÔNG THỨC THỨ TÁM
MỘT MŨI ĐỦ RỒI
Một câu dễ nhớ:
“MỘT MŨI ĐỦ RỒI – ĐỪNG TỰ BẮN THÊM.”
Đây không phải nguyên văn kinh,
mà là:
công thức ứng dụng từ hình ảnh SN 36.6.
64. BÀI THỰC HÀNH MỘT NGÀY
Hôm nay,
mỗi khi khó chịu,
hỏi:
“MŨI THỨ NHẤT LÀ GÌ?”
Rồi:
“MŨI THỨ HAI TÔI ĐANG THÊM LÀ GÌ?”
Ví dụ:
Mũi một:
“Người ấy chưa gọi.”
Mũi hai:
“Họ không thương tôi.”
Mũi một:
“Lưng đau.”
Mũi hai:
“Tôi sẽ khổ mãi.”
Chỉ cần phân biệt:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1095
đã là một bài tu.
65. BÀI THỰC HÀNH BẢY NGÀY
NGÀY 1 – THÂN
Nhìn một cảm giác khó chịu mà không lập tức ghét.
NGÀY 2 – LỜI NÓI
Khi bị chê, tách câu người kia nói khỏi câu tâm mình tự thêm.
NGÀY 3 – LO
Khi lo, phân biệt dữ kiện và dự đoán.
NGÀY 4 – SÂN
Khi khó chịu, không nói “tại sao lại là tôi”.
NGÀY 5 – LẠC
Khi vui, biết vui mà không đòi nó ở mãi.
NGÀY 6 – TRUNG TÍNH
Nhìn một lúc bình thường mà không phải tìm kích thích.
NGÀY 7 – NHÌN LẠI
Hỏi:
“Mũi tên thứ hai của tôi thường là sân, sợ hay chấp?”
66. THỰC HÀNH BUỔI SÁNG
Có thể đọc:
Hôm nay tôi biết đời có những mũi tên thứ nhất không tránh được.
Khi đau, tôi nhận là đau.
Khi khó chịu, tôi nhận là khó chịu.
Tôi xử lý điều cần xử lý.
Nhưng tôi tập không bắn thêm mũi tên thứ hai bằng sân, sợ, tự trách hay phóng đại.
Một cảm thọ không phải toàn bộ cuộc đời tôi.
Tôi tập biết thọ mà không bị thọ trói.
67. THỰC HÀNH BUỔI TỐI
Trước khi ngủ hỏi:
Hôm nay mũi tên thứ nhất của tôi là gì?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1096
Tôi đã tự bắn thêm mũi tên thứ hai ở đâu?
Tôi có phóng đại một chuyện nhỏ thành “cả đời” không?
Tôi có ghét một cảm giác đau đến mức làm nó nặng hơn không?
Tôi có bị một lạc thọ trói vì muốn nó lặp lại không?
Có lần nào hôm nay tôi chỉ biết cảm thọ rồi để nó đi không?
68. CÂU GHI NHỚ THỨ NHẤT
Cái đau đầu tiên có khi không do mình chọn; phần khổ mình chồng thêm lên nó là chỗ mình có thể học tu.
69. CÂU GHI NHỚ THỨ HAI
Một cảm giác đau không nhất thiết phải trở thành một câu chuyện đau cả đời.
70. CÂU GHI NHỚ THỨ BA
Đừng lấy một ngày khó làm bằng chứng rằng cả cuộc đời sẽ khó.
71. CÂU GHI NHỚ THỨ TƯ
Đừng lấy một người không hiểu mình làm bằng chứng rằng không ai hiểu mình.
72. CÂU GHI NHỚ THỨ NĂM
Đừng lấy một thất bại biến thành căn cước “tôi là người thất bại”.
73. CÂU GHI NHỚ THỨ SÁU
Đau thân đã đủ; tâm không cần ghét thân thêm.
74. CÂU GHI NHỚ THỨ BẢY
Chấp nhận sự thật không phải đầu hàng; chấp nhận là thấy đúng để xử lý đúng.
75. CÂU GHI NHỚ THỨ TÁM
Mình có thể chữa một cái đau mà không cần căm ghét cái đau ấy.
76. CÂU GHI NHỚ THỨ CHÍN
Cảm giác là một pháp đang sinh; nó không phải một lời tiên tri về tương lai.
77. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI
Khi tâm nói “không bao giờ”, “luôn luôn”, “mọi người”, hãy kiểm xem mình có đang bắn mũi thứ hai không.
78. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI MỘT
Người có tu không nhất thiết ít đau hơn người khác về thân; điều khác là họ học cách không để tâm làm cái đau thành hai lần.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1097
79. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI HAI
Mũi tên thứ hai có thể được bắn bằng sân, bằng sợ, bằng tự trách, bằng phóng đại hoặc bằng chấp “chuyện này không được xảy ra với tôi”.
80. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI BA
Một mũi tên đã đủ đau; trí tuệ bắt đầu khi mình ngừng tự bắn thêm.
81. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
Đức Phật dạy trong SN 36.6:
người chưa học Chánh pháp khi khổ thọ chạm tới dễ sinh:
sầu,
than,
khóc,
rối loạn
và do đó cảm nhận:
ĐAU THÂN + ĐAU TÂM.
Ngài ví như:
BỊ BẮN MỘT MŨI TÊN RỒI BỊ BẮN THÊM MŨI THỨ HAI.
Bậc Thánh đệ tử có học vẫn cảm nhận khổ thọ, nhưng không tiếp tục phản ứng theo cách ấy; vị ấy giống như người:
CHỈ BỊ MỘT MŨI TÊN. (
SuttaCentral
)
Công thức dễ nhớ:
MŨI MỘT → ĐIỀU ĐÃ XẢY RA.
MŨI HAI → PHẦN TÂM TỰ THÊM.
Và:
TÊN → TÁCH → XỬ → BUÔNG.
Nguồn: Kinh Với Mũi Tên – Salla Sutta, thường gặp tên Sallatha Sutta; Tương Ưng Bộ Kinh – Saṃyutta Nikāya; Tương Ưng Thọ – Vedanā Saṃyutta; kinh số 6; mã tra cứu quốc tế SN 36.6; bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu; nguyên bản Kinh tạng Pāli. (SuttaCentral)
82. CÂU HỎI LIVESTREAM
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1098
1. Quý vị có từng nhận ra một cái đau thật chỉ có một phần nhưng tâm mình đã làm nó lớn thêm rất nhiều không?
2. Theo quý vị, mũi tên thứ nhất và mũi tên thứ hai khác nhau thế nào?
3. Khi thân bệnh, câu “tôi sẽ khổ mãi” là cảm giác hay là câu chuyện của tâm?
4. Có bao giờ người khác chỉ nói một câu nhưng mình tự nói lại câu ấy trong đầu cả trăm lần không?
5. Một người chưa trả lời tin nhắn có phải đồng nghĩa họ coi thường mình không?
6. Một buổi livestream ít người có đồng nghĩa mình không có giá trị không?
7. Có khi nào mình đau vì cái đau ít hơn đau vì câu “tại sao lại là tôi” không?
8. Theo quý vị, chấp nhận khổ thọ có phải là không chữa bệnh không?
9. Có thể vừa chấp nhận “đang đau” vừa đi khám và điều trị không?
10. Khi mình nói “tôi tu mà sao vẫn còn buồn”, có phải mình đang tự bắn thêm một mũi khác không?
11. Có nên dùng bài kinh này để nói với người đang đau rằng “chị tự làm khổ chị” không? Vì sao?
12. Theo quý vị, tại sao Đức Phật vẫn nói bậc có học cảm nhận khổ thọ?
13. Một lạc thọ có thể làm mình bị trói như thế nào?
14. Được khen rồi muốn được khen mãi có phải là một kiểu bị lạc thọ trói không?
15. Khi một chuyện xảy ra, làm sao phân biệt dữ kiện và phần tâm tự thêm?
16. Mũi tên thứ hai của quý vị thường đến dưới dạng sân, sợ, tự trách hay phóng đại?
17. Có chuyện nào hiện nay quý vị có thể nói: “Mũi thứ nhất tôi không đổi được, nhưng mũi thứ hai tôi sẽ tập không bắn thêm” không?
18. Nếu hôm nay chỉ nhớ một câu, quý vị có thể nhớ: “Một mũi đã đủ – đừng tự bắn thêm mũi thứ hai” không?
83. CÂU KẾT ĐỂ ĐỌC TRÊN LIVESTREAM
Kính thưa quý vị,
đời sống có những mũi tên
mình không thể:
né hết.
Thân này:
sẽ có lúc đau.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1099
Người khác:
sẽ có lúc nói trái ý.
Một việc:
sẽ có lúc không thành.
Một mối quan hệ:
có thể thay đổi.
Một món đồ:
có thể mất.
Một người:
có thể rời đi.
Đó là:
MŨI TÊN THỨ NHẤT.
Nhưng rồi tâm mình rất nhanh:
cầm thêm một mũi khác.
Đau lưng,
tâm nói:
“Tôi sẽ đau suốt đời.”
Một người chê,
tâm nói:
“Không ai tôn trọng tôi.”
Một việc thất bại,
tâm nói:
“Tôi là người thất bại.”
Một ngày ít người xem,
tâm nói:
“Không ai cần nghe tôi nữa.”
Một người chưa gọi,
tâm nói:
“Họ hết thương tôi.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1100
Một khoản tiền mất,
tâm nói:
“Đời tôi hết.”
Mũi đầu:
đã đau.
Nhưng mũi thứ hai:
MÌNH ĐANG TỰ BẮN THÊM.
Cho nên Kinh Mũi Tên không dạy:
“Người tu không đau.”
Đức Phật nói rất thực tế:
bậc có học vẫn:
cảm thọ.
Nhưng khác ở chỗ:
KHÔNG NHẤT THIẾT PHẢI LẤY CÁI ĐAU THÂN THÀNH CẢ MỘT CÁI ĐAU TRONG TÂM. (
SuttaCentral
)
Vậy khi đau,
đầu tiên:
GỌI ĐÚNG.
“Đang đau.”
Không:
“Đời tôi khổ.”
Khi buồn:
“Đang có thọ buồn.”
Không:
“Tôi là người bất hạnh.”
Khi bị chê:
“Có một câu chê.”
Không:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1101
“Mọi người đều chống tôi.”
Sau đó hỏi:
“VIỆC GÌ TÔI CẦN XỬ LÝ?”
Bệnh:
chữa.
Nợ:
lập kế hoạch.
Sai:
sửa.
Mất:
bảo vệ phần còn.
Mâu thuẫn:
nói rõ.
Nhưng phần còn lại:
ĐỪNG THẢM HỌA HÓA.
ĐỪNG TỰ KẾT ÁN.
ĐỪNG SÂN VỚI CẢM THỌ.
ĐỪNG LẤY MỘT VIỆC BIẾN THÀNH CẢ ĐỜI.
Vậy công thức bài hôm nay xin nhớ:
MŨI MỘT → XỬ LÝ.
MŨI HAI → ĐỪNG NUÔI.
Và thêm một công thức:
TÊN → TÁCH → XỬ → BUÔNG.
Tên:
“Đây là đau.”
Tách:
“Đâu là cảm giác, đâu là câu chuyện?”
Xử:
“Việc gì cần làm?”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1102
Buông:
“Phần nào chỉ là tâm đang thêm?”
Nếu mình tập được như vậy,
đời vẫn có:
mưa.
nắng.
già.
bệnh.
được.
mất.
khen.
chê.
Nhưng tâm có thêm:
MỘT KHOẢNG TỰ DO.
Không phải tự do vì:
không có mũi tên nào bay tới.
Mà là tự do vì:
MỘT MŨI TÊN ĐÃ TỚI – MÌNH KHÔNG NHẤT THIẾT PHẢI TỰ BẮN THÊM MŨI THỨ HAI.
Đó là cách đưa Kinh Với Mũi Tên – Salla Sutta, SN 36.6 vào ngay từng cơn đau, từng lời chê, từng lần thất vọng và từng phút khó chịu trong đời sống.
Nguồn: Tương Ưng Bộ Kinh – Saṃyutta Nikāya, Tương Ưng Thọ – Vedanā Saṃyutta, Kinh Với Mũi Tên – Salla Sutta/Sallatha Sutta, SN 36.6, bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, nguyên bản Kinh tạng Pāli. (SuttaCentral)
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1103
MỤC 039 - Bài 039 — BIẾT BẢO HỘ CHÍNH MÌNH LÀ ĐANG BẢO HỘ NGƯỜI KHÁC – BIẾT BẢO HỘ NGƯỜI KHÁC CŨNG LÀ ĐANG BẢO HỘ CHÍNH MÌNH 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
Đức Phật dạy:
“Này các Tỷ-kheo, trong khi bảo hộ chính mình, người ấy bảo hộ người khác; trong khi bảo hộ người khác, người ấy bảo hộ chính mình.”
Nguyên văn Pāli:
“Attānaṁ, bhikkhave, rakkhanto paraṁ rakkhati; paraṁ rakkhanto attānaṁ rakkhati.”
Rồi Đức Phật giải thích rất rõ:
“Thế nào là trong khi bảo hộ chính mình, người ấy bảo hộ người khác? Do thực hành, do tu tập, do làm cho sung mãn.”
Và:
“Thế nào là trong khi bảo hộ người khác, người ấy bảo hộ chính mình? Do nhẫn nại, do không làm hại, do tâm từ, do lòng thương tưởng.” (The Buddha’s Words)
Đây là lời Phật trong Kinh Sedaka – Sedaka Sutta, Tương Ưng Bộ Kinh – Saṃyutta Nikāya, Tương Ưng Niệm Xứ – Satipaṭṭhāna Saṃyutta, kinh số 19, mã quốc tế SN 47.19. SuttaCentral cũng định danh chính xác bài kinh ở mã SN 47.19 và mã PTS là S V 169. (SuttaCentral)
2. NGUỒN KINH
Tên kinh tiếng Việt: Kinh Sedaka
Tên Pāli: Sedaka Sutta
Thuộc: Tương Ưng Bộ Kinh – Saṃyutta Nikāya
Tương Ưng: Tương Ưng Niệm Xứ – Satipaṭṭhāna Saṃyutta
Số kinh: 19
Mã tra cứu quốc tế: SN 47.19
Mã PTS: S V 169
Địa điểm: Sedaka, một thị trấn thuộc xứ Sumbha
Đối tượng Đức Phật giảng: Các Tỷ-kheo
Nguyên bản: Kinh tạng Pāli. (SuttaCentral)
Khi có người hỏi trên livestream:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1104
“Câu ‘bảo hộ mình là bảo hộ người, bảo hộ người là bảo hộ mình’ nằm ở đâu?”
có thể trả lời:
“Đây là Kinh Sedaka – Sedaka Sutta, Tương Ưng Bộ Kinh – Saṃyutta Nikāya, Tương Ưng Niệm Xứ – Satipaṭṭhāna Saṃyutta, kinh số 19, mã tra cứu quốc tế SN 47.19, PTS S V 169, nguyên bản Kinh tạng Pāli.” (SuttaCentral)
3. BỐI CẢNH BÀI KINH
Đức Phật kể một câu chuyện.
Ngày xưa có một người biểu diễn nhào lộn dựng một cây tre cao.
Ông bảo người học trò tên Medakathālikā leo lên cây tre rồi đứng trên vai mình.
Người thầy nói đại ý:
“Con hãy bảo vệ thầy, thầy sẽ bảo vệ con. Hai thầy trò bảo vệ lẫn nhau thì sẽ biểu diễn được tài nghệ, kiếm được tiền và xuống khỏi cây tre an toàn.”
Nhưng người học trò trả lời:
“Thưa thầy, không nên làm như vậy. Thầy hãy bảo vệ chính thầy, con sẽ bảo vệ chính con. Khi mỗi người tự giữ mình, chúng ta sẽ biểu diễn được tài nghệ, có thu nhập và xuống khỏi cây tre an toàn.” (The Buddha’s Words)
Đức Phật nói:
CÁCH NGƯỜI HỌC TRÒ NÓI LÀ ĐÚNG.
Rồi Ngài chuyển câu chuyện biểu diễn ấy thành:
MỘT BÀI PHÁP RẤT SÂU.
4. TẠI SAO ĐỨC PHẬT DÙNG HÌNH ẢNH HAI NGƯỜI ĐỨNG TRÊN CÂY TRE?
Bởi ở trên cao,
nếu một người:
mất thăng bằng,
người kia cũng:
nguy hiểm.
Nếu người ở dưới cứ nhìn lên lo:
“Người kia có đứng đúng không?”
mà quên:
chính thân mình,
cả hai có thể:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1105
ngã.
Nếu người ở trên chỉ lo:
điều khiển người dưới,
mà không giữ:
thân mình,
cũng có thể:
ngã.
Cho nên trước hết:
MỖI NGƯỜI PHẢI GIỮ CHÍNH MÌNH.
Nhưng điều kỳ diệu là:
khi từng người giữ mình cho đúng,
họ lại đang:
BẢO VỆ CẢ NGƯỜI KIA.
Đây chính là hình ảnh Đức Phật dùng để dẫn vào pháp tu chánh niệm. (The Buddha’s Words)
5. TỪ KHÓA VIỆT – PĀLI – NGHĨA
BẢO HỘ – RAKKHATI – GIỮ GÌN, BẢO VỆ
Rakkhati nghĩa là:
giữ.
bảo vệ.
bảo hộ.
Trong bài kinh,
Đức Phật không chỉ nói bảo vệ:
thân thể.
Mà sâu hơn là:
GIỮ TÂM.
GIỮ HÀNH VI.
GIỮ CHÁNH NIỆM.
KHÔNG ĐỂ THAM – SÂN – SI ĐẨY MÌNH VÀO VIỆC GÂY HẠI.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1106
6. CHÍNH MÌNH – ATTĀNAṂ – BẢN THÂN MÌNH TRONG NGỮ CẢNH THỰC HÀNH
Attānaṁ ở đây có nghĩa thông thường là:
chính mình,
bản thân mình.
Câu kinh không phải là một luận thuyết xác nhận một “tự ngã thường còn”.
Đây đơn giản là cách nói thực hành:
“HÃY TỰ GIỮ LẤY MÌNH.”
Giống như nói:
“Tôi phải giữ thân, lời và tâm mình cho đúng.”
7. NGƯỜI KHÁC – PARAṂ – NGƯỜI KHÁC
Paraṁ là:
người khác.
Đây có thể là:
cha mẹ.
con cái.
vợ chồng.
bạn bè.
người làm chung.
người nghe mình giảng.
người mình không thích.
Thậm chí:
người đang làm mình sân.
Pháp này không chỉ áp dụng:
với người thương.
8. NIỆM XỨ – SATIPAṬṬHĀNA – SỰ THIẾT LẬP CHÁNH NIỆM
Sati là:
niệm,
sự nhớ biết,
tỉnh thức.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1107
Paṭṭhāna trong thuật ngữ satipaṭṭhāna được hiểu theo hướng thiết lập hay nền tảng của niệm.
Trong SN 47.19, Đức Phật nói:
“Với ý nghĩ ‘Ta sẽ bảo hộ chính mình’, các niệm xứ cần được tu tập.”
Và:
“Với ý nghĩ ‘Ta sẽ bảo hộ người khác’, các niệm xứ cũng cần được tu tập.” (Words of the Buddha)
Điểm này rất sâu:
BẢO VỆ NGƯỜI KHÁC KHÔNG CHỈ BẰNG VIỆC NHÌN NGƯỜI KHÁC.
Mà bắt đầu bằng:
TÂM MÌNH CÓ TỈNH HAY KHÔNG.
9. TU TẬP – BHĀVANĀ – LÀM CHO PHÁT TRIỂN
Bhāvanā nghĩa là:
tu tập,
làm cho phát triển,
làm cho lớn lên.
Đức Phật nói việc bảo hộ mình để bảo hộ người khác được thực hiện bằng:
āsevanā – thực hành, thường xuyên tiếp xúc và áp dụng;
bhāvanā – tu tập, phát triển;
bahulīkamma – làm nhiều lần, làm cho sung mãn. (The Buddha’s Words)
Điều này có nghĩa:
CHÁNH NIỆM KHÔNG PHẢI HIỂU MỘT LẦN LÀ XONG.
Phải:
tập.
tập lại.
làm nhiều.
10. NHẪN – KHANTI – KHẢ NĂNG CHỊU ĐỰNG, KHÔNG PHẢN ỨNG VỘI VÀNG
Đức Phật nói khi bảo hộ người khác,
mình bảo hộ chính mình bằng:
KHANTI – NHẪN.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1108
Nhẫn không phải:
chịu để người khác hại mãi.
Nhẫn là:
KHÔNG VỘI DÙNG SÂN TRẢ SÂN.
Bị chạm:
không lập tức đánh.
Bị nói:
không lập tức chửi.
Bị trái ý:
không lập tức trả đũa.
Đó là:
khanti. (Words of the Buddha)
11. KHÔNG LÀM HẠI – AV IHIṂSĀ – KHÔNG BẠO HẠI
Avihiṁsā là:
không làm hại,
không gây tổn thương,
không bạo hại.
Đức Phật đặt điều này ngay trong câu trả lời:
BẢO HỘ NGƯỜI KHÁC BẰNG KHÔNG HẠI – CHÍNH LÀ BẢO HỘ MÌNH.
Tại sao?
Bởi khi không làm hại người,
mình không tạo thêm:
oán.
hận.
hậu quả.
nghiệp bất thiện.
Đó là bảo hộ:
CẢ HAI PHÍA. (
The Buddha’s Words
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1109
)
12. TÂM TỪ – METTACITTATĀ – TÂM CÓ LÒNG THIỆN Ý
Mettā là:
tâm từ,
thiện ý.
Citta là:
tâm.
Mettacittatā là:
trạng thái tâm có từ.
Nói thật dễ:
KHÔNG MUỐN NGƯỜI KHÁC KHỔ.
Có thể:
không đồng ý.
Có thể:
giữ ranh giới.
Nhưng không nuôi:
“Mong họ bị đau.”
Đức Phật liệt tâm từ vào những cách mà người bảo hộ người khác lại đang bảo hộ chính mình. (Words of the Buddha)
13. LÒNG THƯƠNG TƯỞNG – ANUDAYATĀ – QUAN TÂM, CẢM THÔNG, THƯƠNG XÓT
Anudayatā có nghĩa gần:
lòng thương tưởng,
sự cảm thông,
quan tâm tới lợi ích của người khác.
Không phải chỉ nói:
“Tôi thương.”
Mà:
CÂN NHẮC HÀNH ĐỘNG CỦA MÌNH CÓ LÀM NGƯỜI KIA KHỔ KHÔNG.
Đây là lòng thương:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1110
có trách nhiệm.
14. GHÉP NGHĨA CÂU KINH THỨ NHẤT
“Bảo hộ mình thì bảo hộ người.”
Có thể hiểu:
khi mình chăm tu tập chánh niệm,
biết rõ thân tâm,
bớt để tham sân si điều khiển,
mình tự nhiên:
ít làm đau người.
Ít nói lời sân.
Ít quyết định bốc đồng.
Ít gây hậu quả.
Cho nên:
TU MÌNH KHÔNG CHỈ LỢI MÌNH.
Mà:
NGƯỜI SỐNG QUANH MÌNH CŨNG ĐƯỢC HƯỞNG LỢI.
Đây là ý được Đức Phật trực tiếp nối với việc thực hành, tu tập và làm cho sung mãn các niệm xứ. (The Buddha’s Words)
15. GHÉP NGHĨA CÂU KINH THỨ HAI
“Bảo hộ người thì bảo hộ mình.”
Có thể hiểu:
khi mình đối với người bằng:
nhẫn,
không hại,
tâm từ,
lòng thương,
mình không chỉ giúp:
họ bớt khổ.
Mình cũng giữ được:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1111
giới.
tâm.
phẩm chất.
không tạo thêm:
nghiệp xấu.
Cho nên:
LÒNG TỬ TẾ VỚI NGƯỜI KHÁC KHÔNG PHẢI CHỈ LÀ CHO RA.
Nó cũng đang:
GIỮ CHÍNH TÂM MÌNH.
16. LỜI PHẬT MUỐN CHỈ GÌ?
Kính thưa quý vị,
mình thường nghĩ:
muốn bảo vệ người mình thương,
phải:
lo cho họ.
nhắc họ.
kiểm soát họ.
sửa họ.
Nhưng bài kinh này chỉ một tầng sâu hơn:
TRƯỚC HẾT – MÌNH PHẢI GIỮ MÌNH.
Nếu cha mẹ không giữ được sân,
dạy con bằng:
sân.
Nếu người giảng không giữ được mạn,
hướng dẫn người bằng:
mạn.
Nếu người chồng không giữ được tham,
gia đình:
khổ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1112
Nếu người vợ không giữ được khẩu nghiệp,
gia đình:
khổ.
Nếu người chủ không giữ được lòng tham,
người làm:
khổ.
Nếu người có quyền không giữ được mình,
rất nhiều người:
khổ.
Cho nên:
TỰ TU LÀ MỘT HÌNH THỨC TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI RẤT SÂU.
17. VÍ DỤ 1 – CHA MẸ ĐANG SÂN
Con làm sai.
Cha mẹ muốn:
dạy.
Nhưng nếu tâm đang:
sân 100%,
lời dạy rất dễ biến thành:
nhục mạ.
Nếu cha mẹ trước hết:
GIỮ MÌNH.
thở.
đợi.
biết sân đang có.
Sau đó mới:
nói.
Thì cha mẹ vừa:
bảo vệ tâm mình
vừa:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1113
bảo vệ con khỏi một vết thương không cần thiết.
Đó là:
BẢO HỘ MÌNH → BẢO HỘ NGƯỜI.
18. VÍ DỤ 2 – NGƯỜI CON CHĂM CHA MẸ GIÀ
Cha mẹ:
nói lặp.
khó tính.
quên.
Nếu con không giữ:
tâm,
rất dễ nói:
“Mẹ nói hoài!”
Nhưng tập:
khanti – nhẫn.
Không hại bằng lời.
Có lòng thương.
Thì người con vừa bảo hộ:
cha mẹ
vừa bảo hộ:
KHẨU NGHIỆP CỦA MÌNH.
19. VÍ DỤ 3 – VỢ CHỒNG CÃI NHAU
Người kia:
nâng giọng.
Mình nâng:
cao hơn.
Đó là:
cả hai mất bảo hộ.
Nếu một người đủ chánh niệm nói:
“Tôi đang nóng. Mình nói lại sau.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1114
Thì họ đang:
bảo hộ chính mình.
Và cùng lúc:
BẢO HỘ CẢ MỐI QUAN HỆ.
20. VÍ DỤ 4 – BỊ BÌNH LUẬN XẤU TRÊN LIVESTREAM
Một người viết:
một câu rất nặng.
Nếu mình bị kéo:
trả bằng sân,
một người sân
thành:
hai người sân.
Nếu nhận ra:
“Tâm đang nóng,”
rồi trả lời bằng:
nguồn kinh,
hoặc:
không trả nếu không cần,
mình vừa:
giữ tâm
vừa:
giữ cả không khí của phòng.
Đây là:
TỰ HỘ → HỘ NGƯỜI.
21. VÍ DỤ 5 – NGƯỜI GIẢNG PHẬT PHÁP
Người giảng có trách nhiệm rất lớn.
Nếu không giữ:
tâm cầu danh,
tâm tự tôn,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1115
tâm muốn thắng,
thì Chánh pháp dễ bị dùng thành:
công cụ nâng mình.
Nhưng nếu trước khi nói luôn trở về:
“TÔI ĐANG NƯƠNG LỜI PHẬT.”
“PHẦN NÀO LÀ KINH?”
“PHẦN NÀO LÀ DIỄN GIẢI?”
thì người giảng vừa:
bảo vệ mình khỏi nói quá
vừa:
bảo vệ người nghe khỏi học sai.
22. VÍ DỤ 6 – NGƯỜI LÀM Y TẾ
Một người chăm bệnh nhân.
Nếu không biết chăm:
sự mệt mỏi và tâm mình,
họ có thể:
kiệt sức.
rồi cáu.
rồi đối xử lạnh.
Biết nghỉ đúng,
giữ tâm,
giữ nghề nghiệp,
không chỉ là:
lo cho mình.
Mà còn giúp:
NGƯỜI BỆNH ĐƯỢC CHĂM TỐT HƠN.
23. VÍ DỤ 7 – NGƯỜI LÁI XE
Khi lái xe,
giữ:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1116
tỉnh.
không dùng điện thoại.
không lái khi quá buồn ngủ.
đó là bảo hộ:
mình.
Nhưng cũng là:
BẢO HỘ NHỮNG NGƯỜI KHÁC TRÊN ĐƯỜNG.
Một ví dụ rất rõ:
tự giữ mình
chính là:
giữ người.
24. VÍ DỤ 8 – NGƯỜI BỊ SÂN
Một người làm mình:
tức.
Nếu mình giữ được:
tay không đánh.
miệng không chửi.
tâm không để ý hại lớn thêm.
Mình đang bảo vệ:
người kia.
Nhưng đồng thời:
MÌNH ĐANG BẢO VỆ CHÍNH MÌNH KHỎI NGHIỆP BẤT THIỆN.
Đó chính là cấu trúc lời Phật:
bảo hộ người → bảo hộ mình.
25. VÍ DỤ 9 – KHÔNG NÓI CHUYỆN RIÊNG CỦA NGƯỜI KHÁC
Người ấy từng tin mình.
Sau này mình giận.
Nếu giữ lại điều bí mật:
mình đang bảo hộ:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1117
họ.
Nhưng mình cũng đang:
GIỮ PHẨM CHẤT CỦA CHÍNH MÌNH.
Không biến sân thành:
phản bội.
26. VÍ DỤ 10 – NGƯỜI CHỦ TRẢ LƯƠNG ĐÚNG HẠN
Trả đúng:
bảo hộ người làm.
Họ có:
tiền ăn.
tiền nhà.
trách nhiệm gia đình.
Nhưng người chủ cũng đang:
bảo hộ chính mình khỏi:
bất công.
mất uy tín.
mâu thuẫn.
Đây là:
HỘ NGƯỜI → HỘ MÌNH.
27. VÍ DỤ 11 – KHÔNG LỪA KHÁCH HÀNG
Mình nói thật chất lượng hàng.
Khách:
được bảo vệ.
Mình:
có thể lời ít hơn một chút.
Nhưng bảo vệ:
UY TÍN.
LƯƠNG TÂM.
NGHIỆP.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1118
Đó là pháp này trong:
kinh doanh.
28. VÍ DỤ 12 – KHÔNG ĐĂNG TIN CHƯA KIỂM
Một tin nghe:
rất hấp dẫn.
Nếu chia sẻ ngay,
có thể làm người khác:
hiểu sai.
sợ.
phán xét.
Nếu dừng:
kiểm nguồn,
mình đang bảo vệ:
người đọc.
Và cũng bảo vệ:
UY TÍN CỦA CHÍNH MÌNH.
29. “BẢO HỘ MÌNH” KHÔNG CÓ NGHĨA ÍCH KỶ
Đây là chỗ rất dễ hiểu lầm.
Bài kinh không nói:
“Mặc kệ người khác, chỉ lo cho mình.”
Ngược lại,
Đức Phật nói ngay sau đó:
BẢO HỘ MÌNH → BẢO HỘ NGƯỜI.
Và:
BẢO HỘ NGƯỜI → BẢO HỘ MÌNH.
Hai chiều:
không tách.
(The Buddha’s Words)
30. TỰ CHĂM SÓC VÀ ÍCH KỶ KHÁC NHAU
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1119
TỰ CHĂM SÓC CÓ TRÍ
Nghỉ để:
không kiệt sức.
Giữ sức để:
làm việc lâu dài.
Giữ tâm để:
không làm người khác đau.
ÍCH KỶ
Chỉ nghĩ:
lợi mình.
không quan tâm người khác bị gì.
Hai thứ:
không giống nhau.
31. VÍ DỤ 13 – NGƯỜI CHĂM NGƯỜI BỆNH
Nếu nghĩ:
“Tôi phải chăm 24 tiếng, không được nghỉ,”
rồi kiệt sức,
cuối cùng:
cả hai đều khổ.
Biết:
ăn.
ngủ.
nhờ hỗ trợ.
không phải:
bỏ người bệnh.
Mà là:
GIỮ NGƯỜI CHĂM ĐỂ VIỆC CHĂM ĐƯỢC BỀN.
32. BẢO HỘ NGƯỜI KHÁC KHÔNG CÓ NGHĨA KIỂM SOÁT HỌ
Một người nói:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1120
“Tôi làm vậy để bảo vệ bạn.”
Rồi:
kiểm điện thoại.
quyết định thay.
cấm mọi thứ.
đó chưa chắc là:
bảo hộ.
Có thể là:
KIỂM SOÁT.
Pháp này bắt đầu từ:
chánh niệm,
nhẫn,
không hại,
tâm từ,
thương tưởng.
Không bắt đầu từ:
quyền sở hữu.
33. VÍ DỤ 14 – CHA MẸ KIỂM SOÁT CON TRƯỞNG THÀNH
Nói:
“Mẹ thương con nên con phải làm theo mẹ.”
Nhưng nếu con đã trưởng thành,
việc gì cũng quyết thay,
tình thương có thể đã lẫn:
chấp.
Bảo hộ đúng là:
giúp con:
thấy.
hiểu.
có kỹ năng.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1121
rồi:
tự chịu trách nhiệm phù hợp.
34. BẢO HỘ NGƯỜI KHÁC CÓ KHI LÀ NÓI “KHÔNG”
Nếu một người muốn mượn tài sản để làm:
việc hại,
mình từ chối.
Đó có thể là:
bảo hộ.
Nếu con muốn làm:
việc nguy hiểm,
cha mẹ ngăn.
Đó có thể là:
bảo hộ.
Từ không đồng nghĩa:
CHIỀU.
35. NHẪN KHÔNG CÓ NGHĨA CHỊU BẠO HÀNH
Khanti – nhẫn trong bài kinh không nên bị hiểu là:
ở lại trong nguy hiểm.
Nếu có:
bạo lực.
đe dọa.
xâm hại.
cần:
rời nơi nguy hiểm.
tìm sự giúp đỡ.
dùng những biện pháp bảo vệ thích hợp.
Nhẫn là:
KHÔNG DÙNG SÂN LÀM CHỦ TÂM.
Không phải:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1122
CHO NGƯỜI KHÁC QUYỀN HẠI MÌNH.
36. KHÔNG HẠI KHÔNG CÓ NGHĨA KHÔNG CÓ RANH GIỚI
Mình có thể nói:
“Tôi không chấp nhận cách anh nói với tôi.”
Đó là:
ranh giới.
Không cần:
chửi lại.
Có thể:
rời.
Không cần:
trả thù.
Đó là:
AV IHIṂSĀ – KHÔNG HẠI CÓ TRÍ.
37. TÂM TỪ KHÔNG CÓ NGHĨA ĐỂ NGƯỜI KHÁC LÀM SAI
Tâm từ nói:
“Mong người này bớt khổ.”
Nếu họ làm điều xấu,
tâm từ còn có thể nói:
“Mong họ dừng việc này.”
Ngăn điều bất thiện có khi:
là:
THƯƠNG CẢ NGƯỜI BỊ HẠI LẪN NGƯỜI ĐANG TẠO NGHIỆP.
38. LÒNG THƯƠNG TƯỞNG KHÔNG PHẢI GÁNH HẾT CUỘC ĐỜI NGƯỜI KHÁC
Mình có thể:
giúp.
Nhưng không thể:
tu thay.
sống thay.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1123
chịu trách nhiệm thay toàn bộ.
Người biểu diễn trên cây tre trong bài kinh nói rất rõ:
MỖI NGƯỜI TRƯỚC HẾT PHẢI GIỮ CHÍNH MÌNH.
Đây là một bài học rất sâu về:
ranh giới trách nhiệm. (The Buddha’s Words)
39. VÍ DỤ 15 – CÓ NGƯỜI KHÔNG CHỊU TU
Mình:
khuyên.
đưa kinh.
giải thích.
Nhưng họ:
không muốn.
Nếu mình tức:
“Sao họ không nghe tôi?”
thì chính mình:
mất tâm.
Phần mình:
CHIA SẺ ĐÚNG.
Phần họ:
HỌ TỰ CHỌN.
Đó là:
giữ mình
và tôn trọng trách nhiệm của người.
40. VÍ DỤ 16 – MUỐN CỨU MỘT NGƯỜI KHỎI MỌI HẬU QUẢ
Có khi mình thương
nên:
che lỗi.
trả nợ thay mãi.
nói dối giúp.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1124
Nếu như vậy làm họ:
không chịu trách nhiệm,
chưa chắc là:
bảo hộ.
Có lúc để một người:
chịu hậu quả hợp lý
mới giúp họ:
học.
41. CHÁNH NIỆM BẢO VỆ NGƯỜI KHÁC NHƯ THẾ NÀO?
Khi mình có chánh niệm:
nhận ra sân trước khi nói.
nhận ra tham trước khi lấy.
nhận ra mạn trước khi khinh.
nhận ra sợ trước khi phản ứng.
Vậy người khác được:
bớt nhận hậu quả từ phiền não của mình.
Cho nên:
CHÁNH NIỆM LÀ MỘT CÁCH TỬ TẾ VỚI NGƯỜI XUNG QUANH.
Đây là một suy luận trực tiếp từ cấu trúc lời dạy của SN 47.19 rằng tu tập, phát triển và thường xuyên thực hành niệm xứ là cách bảo hộ mình và qua đó bảo hộ người. (The Buddha’s Words)
42. VÍ DỤ 17 – SÂN Ở NƠI LÀM VIỆC
Sếp nói:
một câu.
Tâm nóng.
Nếu không chánh niệm:
mình trút sang:
đồng nghiệp.
về nhà trút sang:
gia đình.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1125
Một cơn sân ở công ty
đi qua:
năm người.
Nếu biết:
“SÂN ĐANG CÓ,”
dừng tại mình,
mình đã:
BẢO HỘ RẤT NHIỀU NGƯỜI MÀ HỌ KHÔNG HỀ BIẾT.
43. VÍ DỤ 18 – CHA MẸ MANG STRESS VỀ NHÀ
Công việc khó.
Tâm mệt.
Con chỉ làm:
một lỗi nhỏ.
Cha mẹ bùng:
rất lớn.
Nếu trước khi bước vào nhà biết:
“Tôi đang rất căng,”
thì có thể:
nghỉ vài phút.
Đó là:
GIỮ MÌNH ĐỂ KHÔNG LÀM CON CHỊU THAY PHẦN CĂNG THẲNG CỦA MÌNH.
44. VÍ DỤ 19 – NGƯỜI TU ĐANG MỆT
Mệt.
Nếu cố tiếp người quá nhiều,
tâm dễ:
cáu.
Biết mình đang mệt,
xin nghỉ hợp lý,
không nhất thiết là:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1126
thiếu từ bi.
Có thể là:
PHÒNG HỘ ĐỂ KHÔNG NÓI RA NHỮNG LỜI THIẾU CHÁNH NIỆM.
45. VÍ DỤ 20 – KHI TRẢ LỜI CÂU HỎI KHÓ
Không biết:
nói không biết.
Cần kiểm:
nói cần kiểm.
Đó là:
tự giữ mình khỏi:
nói sai.
Và:
bảo hộ người hỏi khỏi:
học sai.
Một câu:
“Chỗ này tôi cần kiểm lại nguồn kinh”
có thể là:
MỘT HÀNH ĐỘNG BẢO HỘ CẢ HAI.
46. BẢO HỘ MÌNH BẰNG GIỚI
Không giết:
bảo hộ sinh mạng người.
Cũng bảo hộ:
mình khỏi nghiệp sát.
Không lấy:
bảo hộ tài sản người.
Cũng bảo hộ:
mình khỏi trộm.
Không tà hạnh:
bảo hộ gia đình người.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1127
Cũng bảo hộ:
phẩm hạnh mình.
Không nói dối:
bảo hộ niềm tin người.
Cũng bảo hộ:
uy tín mình.
Như vậy:
GIỚI CŨNG CÓ CẤU TRÚC HAI CHIỀU.
47. BẢO HỘ MÌNH BẰNG CHÁNH NIỆM
Giới ngăn:
việc xấu.
Chánh niệm giúp:
thấy nó trước khi thành việc.
Ví dụ:
trước khi chửi,
biết:
sân.
trước khi khoe,
biết:
mạn.
trước khi nói dối,
biết:
sợ.
Đó là:
TỰ GIỮ TỪ GỐC.
48. BẢO HỘ NGƯỜI BẰNG NHẪN
Một người nói:
sai.
Nếu mình lập tức:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1128
đánh họ bằng lời,
họ đau.
Mình tạo nghiệp.
Nếu đủ nhẫn để:
đợi tâm lắng,
mình có thể sửa:
nội dung
mà không phá:
con người.
Đó là:
KHANTI.
49. BẢO HỘ NGƯỜI BẰNG KHÔNG HẠI
Có thể thắng:
một cuộc cãi
bằng cách làm người kia:
mất mặt.
Nhưng có thật sự cần không?
Nếu mục tiêu là:
giải quyết vấn đề,
hãy chọn:
CÁCH ÍT GÂY HẠI NHẤT MÀ VẪN GIỮ ĐƯỢC SỰ THẬT.
Đó là:
avihiṁsā có trí.
50. BẢO HỘ NGƯỜI BẰNG TÂM TỪ
Khi sửa người,
nhắc:
“Mục tiêu của tôi là giúp việc tốt lên, không phải chứng minh tôi hơn.”
Chỉ một câu ấy
có thể thay đổi:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1129
giọng.
từ.
ánh mắt.
Đó là:
METTACITTATĀ.
51. BẢO HỘ NGƯỜI BẰNG LÒNG THƯƠNG
Một người đang:
khó.
Trước khi phán xét:
hỏi:
“Tôi có biết hết hoàn cảnh không?”
Không phải để:
bỏ tiêu chuẩn đúng sai.
Mà để:
BỚT LÀM ĐAU NGƯỜI BẰNG NHỮNG KẾT LUẬN QUÁ NHANH.
Đó là:
anudayatā.
52. LỜI DẠY NÀY KHÔNG PHẢI “AI LO THÂN NẤY”
Điều quan trọng nhất:
người học trò trong câu chuyện nói:
“Thầy tự giữ thầy, con tự giữ con.”
Nhưng Đức Phật không kết luận:
“Vậy ai lo người nấy.”
Ngài kết luận:
TỰ BẢO HỘ → BẢO HỘ NGƯỜI.
BẢO HỘ NGƯỜI → BẢO HỘ MÌNH. (
The Buddha’s Words
)
Đây chính là chỗ:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1130
Phật pháp vượt khỏi:
ích kỷ.
53. CÔNG THỨC THỨ NHẤT
GIỮ MÌNH – NGƯỜI BỚT KHỔ
Khi sân:
giữ miệng.
Khi tham:
giữ tay.
Khi mạn:
giữ lời.
Khi loạn:
giữ tâm.
Công thức:
GIỮ MÌNH → NGƯỜI BỚT NHẬN PHIỀN NÃO TỪ MÌNH.
54. CÔNG THỨC THỨ HAI
GIỮ NGƯỜI – MÌNH BỚT TẠO NGHIỆP
Đối với người bằng:
nhẫn.
không hại.
tâm từ.
thương tưởng.
Công thức:
GIỮ NGƯỜI KHỎI BỊ HẠI → GIỮ MÌNH KHỎI NGHIỆP XẤU.
55. CÔNG THỨC THỨ BA
NIỆM – NHẪN – KHÔNG HẠI – TỪ – THƯƠNG
Có thể nhớ năm chữ:
NIỆM.
NHẪN.
KHÔNG HẠI.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1131
TỪ.
THƯƠNG.
Niệm:
để giữ mình.
Bốn pháp sau:
để đối với người.
Nhưng cuối cùng:
CẢ HAI CÙNG ĐƯỢC GIỮ.
56. CÔNG THỨC THỨ TƯ
TÂM TÔI – LỜI TÔI – HẬU QUẢ CỦA NGƯỜI
Trước khi phản ứng:
hỏi:
“TÂM TÔI ĐANG THẾ NÀO?”
“LỜI TÔI SẮP NÓI LÀ GÌ?”
“NGƯỜI KIA SẼ NHẬN CÁI GÌ TỪ TÂM NÀY?”
Ba câu này:
rất thực tế.
57. CÔNG THỨC THỨ NĂM
KHÔNG GÁNH THAY – KHÔNG BỎ MẶC
Hai cực:
GÁNH HẾT CUỘC ĐỜI NGƯỜI KHÁC.
và:
MẶC KỆ NGƯỜI KHÁC.
Pháp này đi ở giữa:
TÔI GIỮ PHẦN TÔI.
TÔI GIÚP PHẦN TÔI CÓ THỂ.
NGƯỜI KIA VẪN CÓ PHẦN TRÁCH NHIỆM CỦA HỌ.
58. CÔNG THỨC THỨ SÁU
TRƯỚC HẾT KHÔNG TRỞ THÀNH NGUYÊN NHÂN KHỔ THÊM
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1132
Khi không thể:
giải quyết hết khổ của ai đó,
ít nhất:
ĐỪNG TẠO THÊM.
Người đang buồn:
đừng mắng thêm.
Người đang bệnh:
đừng làm họ sợ thêm.
Người đang sai:
sửa nhưng đừng hạ nhục thêm.
Đây là:
một cách bảo hộ rất thật.
59. ỨNG DỤNG 1 – TRƯỚC KHI GIẢNG
Hỏi:
“Tâm tôi có đang muốn được khen không?”
“Nguồn này đã chắc chưa?”
“Tôi đang nói theo lời Phật hay theo ý riêng?”
Đó là:
TỰ BẢO HỘ.
Và nhờ vậy:
người nghe cũng được:
BẢO HỘ.
60. ỨNG DỤNG 2 – TRƯỚC KHI TRẢ LỜI BÌNH LUẬN
Ba bước:
ĐỌC.
BIẾT TÂM.
RỒI MỚI TRẢ.
Nếu sân:
đợi.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1133
Đó là:
giữ mình.
Và cũng:
giữ người.
61. ỨNG DỤNG 3 – TRƯỚC KHI KHUYÊN NGƯỜI
Hỏi:
“Họ đang cần lời khuyên hay đang cần được nghe?”
Có khi bảo hộ người không phải:
nói nhiều.
Mà là:
NGHE.
62. ỨNG DỤNG 4 – KHI MUỐN SỬA AI
Trước hết:
TỰ KIỂM GIỌNG.
Nếu giọng đã:
khinh,
sân,
mỉa,
thì dù nội dung đúng,
người kia có thể chỉ nghe:
SỰ TỔN THƯƠNG.
63. ỨNG DỤNG 5 – KHI MÌNH QUÁ MỆT
Đừng đợi đến lúc:
bùng.
Nghỉ đúng.
Ăn đúng.
ngủ đúng.
giảm việc nếu cần.
Không phải chỉ:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1134
vì mình.
Mà vì khi quá kiệt,
người xung quanh thường:
nhận hậu quả.
64. ỨNG DỤNG 6 – KHI MỘT NGƯỜI ĐANG SÂN VỚI MÌNH
Đừng lập tức:
đối đầu sân bằng sân.
Giữ:
khoảng cách.
giọng.
thân.
Nếu nguy hiểm:
rời.
Đó là:
NHẪN + KHÔNG HẠI + BẢO HỘ.
65. ỨNG DỤNG 7 – KHI NGƯỜI KHÁC LÀM SAI
Có thể:
nói rõ.
Nhưng nhắc:
“TÔI MUỐN SỬA VIỆC – KHÔNG PHẢI HỦY NGƯỜI.”
Đó là tâm từ có:
trí.
66. ỨNG DỤNG 8 – KHI MÌNH SAI
Nhận.
sửa.
Không che.
Vì che lỗi để giữ hình ảnh
có thể làm:
nhiều người khác chịu hậu quả.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1135
Tự bảo hộ thật không phải:
bảo vệ cái tôi.
Mà:
BẢO VỆ PHẨM HẠNH.
67. BÀI THỰC HÀNH MỘT NGÀY
Hôm nay chọn một nguyên tắc:
“TRƯỚC KHI MUỐN BẢO HỘ AI – TÔI KIỂM TÂM MÌNH TRƯỚC.”
Mỗi khi định:
khuyên.
mắng.
sửa.
tranh luận.
hãy hỏi:
“Tâm tôi hiện giờ có tham, sân, mạn hay sợ không?”
Nếu quá mạnh:
ĐỢI.
Chỉ một ngày tập như vậy
đã rất lớn.
68. BÀI THỰC HÀNH NĂM NGÀY
NGÀY 1 – CHÁNH NIỆM
Nhìn tâm mình trước mỗi phản ứng mạnh.
NGÀY 2 – NHẪN
Dừng một lời đáp trả đang nóng.
NGÀY 3 – KHÔNG HẠI
Không dùng một bí mật hay điểm yếu của người khác để làm họ đau.
NGÀY 4 – TÂM TỪ
Khi sửa ai, nhắc: “Mong việc tốt lên, không mong họ đau.”
NGÀY 5 – THƯƠNG TƯỞNG
Lắng nghe một người trước khi kết luận về họ.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1136
69. THỰC HÀNH BUỔI SÁNG
Có thể đọc:
Hôm nay tôi tập bảo hộ chính mình bằng chánh niệm.
Khi tham khởi, tôi biết tham.
Khi sân khởi, tôi biết sân.
Khi mạn khởi, tôi biết mạn.
Tôi không để phiền não trong tôi trở thành nỗi khổ của người khác.
Tôi đối với người bằng nhẫn, không làm hại, tâm từ và lòng thương tưởng.
Khi bảo hộ người khác bằng thiện pháp, tôi cũng đang bảo hộ tâm mình.
70. THỰC HÀNH BUỔI TỐI
Trước khi ngủ hỏi:
Hôm nay có ai phải nhận cơn sân của tôi không?
Có lần nào tôi giữ được mình nên người khác bớt khổ không?
Tôi có dùng lời nói làm hại ai không?
Tôi có nhẫn được một lần không?
Tôi có giữ một ranh giới mà không trả đũa không?
Tôi có giúp một người mà không cố kiểm soát họ không?
Tôi đã bảo hộ chính mình bằng chánh niệm ở chỗ nào?
71. CÂU GHI NHỚ THỨ NHẤT
Tâm mình không được giữ thì người sống gần mình thường là những người nhận hậu quả đầu tiên.
72. CÂU GHI NHỚ THỨ HAI
Tu tâm không chỉ là việc riêng của mình; người sống quanh mình cũng được hưởng kết quả từ một tâm bớt tham, bớt sân và bớt si.
73. CÂU GHI NHỚ THỨ BA
Có khi cách tốt nhất để bảo vệ người mình thương là trước hết đừng đem phiền não của mình trút lên họ.
74. CÂU GHI NHỚ THỨ TƯ
Nhẫn một câu không phải lúc nào cũng là thua; có khi là cứu cả hai người khỏi một chuỗi khẩu nghiệp.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1137
75. CÂU GHI NHỚ THỨ NĂM
Không làm hại người là đang bảo vệ người; đồng thời cũng bảo vệ mình khỏi hậu quả của việc làm hại.
76. CÂU GHI NHỚ THỨ SÁU
Tâm từ không chỉ làm người khác dễ chịu; nó giữ chính tâm mình khỏi trở thành tâm muốn gây đau.
77. CÂU GHI NHỚ THỨ BẢY
Thương người không có nghĩa gánh hết cuộc đời họ; mỗi người vẫn cần học cách tự đứng trên phần cây tre của mình.
78. CÂU GHI NHỚ THỨ TÁM
Bảo hộ không phải kiểm soát; bảo hộ là giúp điều lành có cơ hội lớn lên mà không xâm phạm trách nhiệm của nhau.
79. CÂU GHI NHỚ THỨ CHÍN
Người giữ được mình lúc đang sân đang bảo vệ nhiều người hơn chính họ tưởng.
80. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI
Một lời chưa nói trong cơn sân có thể là một thiện nghiệp rất lớn.
81. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI MỘT
Muốn người khác bình an nhưng mình không chịu tu tâm thì sự bình an mình đem tới cho họ rất khó bền.
82. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI HAI
Tự chăm sóc đúng không phải ích kỷ nếu nhờ đó mình sống tỉnh hơn, tử tế hơn và không làm người khác phải gánh sự kiệt sức của mình.
83. CÂU GHI NHỚ THỨ MƯỜI BA
Đừng chỉ hỏi “tôi phải bảo vệ họ thế nào”; hãy hỏi thêm “tôi phải tu mình thế nào để chính tôi không trở thành nguyên nhân làm họ khổ”.
84. CÂU GHI NHỚ TRỌNG TÂM
Đức Phật dạy:
“Attānaṁ, bhikkhave, rakkhanto paraṁ rakkhati; paraṁ rakkhanto attānaṁ rakkhati.”
Nghĩa:
BẢO HỘ CHÍNH MÌNH – BẢO HỘ NGƯỜI KHÁC.
BẢO HỘ NGƯỜI KHÁC – BẢO HỘ CHÍNH MÌNH.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1138
Và Đức Phật giải thích:
BẢO HỘ MÌNH BẰNG GÌ?
THỰC HÀNH.
TU TẬP.
LÀM CHO CHÁNH NIỆM ĐƯỢC SUNG MÃN.
BẢO HỘ NGƯỜI BẰNG GÌ?
NHẪN – KHANTI.
KHÔNG LÀM HẠI – AV IHIṂSĀ.
TÂM TỪ – METTACITTATĀ.
LÒNG THƯƠNG TƯỞNG – ANUDAYATĀ. (
The Buddha’s Words
)
Công thức dễ nhớ:
GIỮ TÂM MÌNH → NGƯỜI BỚT KHỔ.
GIỮ NGƯỜI KHỎI BỊ HẠI → MÌNH BỚT TẠO NGHIỆP.
Và năm chữ:
NIỆM → NHẪN → KHÔNG HẠI → TỪ → THƯƠNG.
Nguồn: Kinh Sedaka – Sedaka Sutta; Tương Ưng Bộ Kinh – Saṃyutta Nikāya; Tương Ưng Niệm Xứ – Satipaṭṭhāna Saṃyutta; kinh số 19; mã tra cứu quốc tế SN 47.19; PTS S V 169; nguyên bản Kinh tạng Pāli. (SuttaCentral)
85. CÂU HỎI LIVESTREAM
1. Theo quý vị, tại sao Đức Phật nói bảo hộ mình lại là bảo hộ người khác?
2. Có bao giờ quý vị đang mệt hoặc đang sân rồi vô tình làm người thân chịu hậu quả không?
3. Nếu cha mẹ giữ được sân trước khi dạy con, người con được bảo hộ như thế nào?
4. Một người tu chánh niệm tốt có thể làm người sống quanh họ bớt khổ bằng những cách nào?
5. Theo quý vị, bảo hộ chính mình có giống ích kỷ không?
6. Tự chăm sóc để không kiệt sức khác ích kỷ ở điểm nào?
7. Tại sao Đức Phật nói bảo hộ người khác bằng nhẫn?
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1139
8. Một lần nhẫn không nói câu làm đau người khác có phải cũng đang bảo hộ chính khẩu nghiệp của mình không?
9. Không làm hại người có thể bảo hộ chính mình khỏi những hậu quả nào?
10. Tâm từ bảo hộ người khác thế nào? Và bảo hộ chính mình thế nào?
11. Thương người có phải là phải chiều mọi điều họ muốn không?
12. Có khi nào nói “không” lại là một cách bảo hộ người khác không?
13. Bảo hộ khác kiểm soát ở điểm nào?
14. Cha mẹ nói “vì thương nên con phải làm theo mẹ” có phải lúc nào cũng là bảo hộ đúng không?
15. Người giảng Phật pháp tự kiểm nguồn kinh trước khi nói đang bảo hộ ai?
16. Khi người giảng nói “chỗ này tôi chưa chắc, tôi cần kiểm lại”, đó có phải là một hình thức tự bảo hộ và bảo hộ người nghe không?
17. Có phải một người không giữ được tâm mình thì càng có quyền lực, càng có thể làm nhiều người khổ hơn không?
18. Khi mình đang giận, ai thường là người nhận hậu quả đầu tiên: người xa lạ hay người sống gần mình?
19. Theo quý vị, câu chuyện hai người biểu diễn trên cây tre muốn chỉ điều gì về trách nhiệm của mỗi người?
20. Nếu hôm nay chỉ nhớ một câu, quý vị có thể nhớ: “Giữ tâm mình là giữ người; không làm hại người là giữ chính mình” không?
86. CÂU KẾT ĐỂ ĐỌC TRÊN LIVESTREAM
Kính thưa quý vị,
câu chuyện Đức Phật kể rất đơn giản.
Hai người:
đứng trên một cây tre.
Một người ở dưới.
Một người đứng trên vai.
Người thầy nói:
“Con bảo vệ thầy, thầy bảo vệ con.”
Người học trò lại nói:
“Thầy tự giữ thầy, con tự giữ con.”
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1140
Nghe qua,
mình tưởng:
người học trò ích kỷ.
Nhưng Đức Phật nói:
NGƯỜI HỌC TRÒ NÓI ĐÚNG.
Tại sao?
Bởi nếu mỗi người không giữ được chính mình,
cả hai:
có thể ngã.
Đó cũng chính là đời sống của mình.
Mình nói:
“Tôi thương con.”
Nhưng nếu mình không giữ:
cơn sân,
chính con lại nhận:
cơn sân đó.
Mình nói:
“Tôi thương vợ, thương chồng.”
Nhưng nếu mình không giữ:
cái miệng,
người thương lại là người:
đau nhất.
Mình nói:
“Tôi thương Phật tử.”
Nhưng nếu mình không giữ:
cái tôi,
cái danh,
cái muốn được kính,
người nghe có thể nhận:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1141
chính cái ngã của mình thay vì nhận Pháp.
Cho nên lời Đức Phật rất sâu:
BẢO HỘ MÌNH – LÀ BẢO HỘ NGƯỜI.
Mình tu chánh niệm:
người khác bớt bị cơn sân của mình làm đau.
Mình giữ giới:
người khác bớt bị hành động của mình xâm phạm.
Mình biết dừng trước một lời độc:
người khác bớt mang vết thương.
Mình biết kiểm nguồn trước khi nói:
người khác bớt học sai.
Mình biết nghỉ khi đã quá kiệt:
người thân bớt phải nhận phần mệt mỏi mình trút ra.
Đó là:
GIỮ MÌNH ĐỂ GIỮ NGƯỜI.
Nhưng Đức Phật còn dạy chiều ngược lại:
BẢO HỘ NGƯỜI – LÀ BẢO HỘ MÌNH.
Khi mình:
nhẫn,
mình giữ tâm khỏi sân.
Khi mình:
không hại,
mình giữ mình khỏi nghiệp hại.
Khi mình:
có tâm từ,
mình giữ tâm khỏi thù.
Khi mình:
thương tưởng người,
mình giữ cái tôi khỏi trở thành quá cứng.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1142
Cho nên:
GIÚP NGƯỜI KHÔNG HẠI – MÌNH CŨNG KHÔNG HẠI.
GIỮ NGƯỜI KHỎI ĐAU – MÌNH CŨNG GIỮ TÂM MÌNH KHỎI THÀNH NGƯỜI MUỐN GÂY ĐAU.
Và đây là điều rất quan trọng:
bảo hộ không phải:
KIỂM SOÁT.
Không phải:
“Tôi thương nên bạn phải nghe tôi.”
Không phải:
“Tôi cứu bạn nên bạn phải sống theo ý tôi.”
Người học trò trong kinh nhắc:
MỖI NGƯỜI PHẢI GIỮ PHẦN CỦA CHÍNH MÌNH.
Mình có thể:
khuyên.
giúp.
đưa tay.
chia sẻ Pháp.
Nhưng không thể:
tu thay.
thở thay.
sống thay.
chuyển nghiệp thay toàn bộ.
Cho nên công thức hôm nay xin nhớ:
PHẦN CỦA TÔI – TÔI GIỮ.
PHẦN CÓ THỂ GIÚP NGƯỜI – TÔI GIÚP.
NHƯNG KHÔNG DÙNG THƯƠNG YÊU ĐỂ KIỂM SOÁT.
Và bốn pháp Đức Phật dạy để bảo hộ người:
NHẪN.
KHÔNG HẠI.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1143
TÂM TỪ.
LÒNG THƯƠNG TƯỞNG.
Khi người khác làm mình sân,
trước khi nói,
hãy nhớ:
“NẾU TÔI GIỮ ĐƯỢC TÂM NÀY – TÔI ĐANG GIỮ CẢ HAI NGƯỜI.”
Khi mình muốn nói một câu làm đau,
hãy nhớ:
“NẾU TÔI KHÔNG LÀM HỌ ĐAU – TÔI CŨNG ĐANG GIỮ CHÍNH NGHIỆP CỦA MÌNH.”
Và khi mình tu chánh niệm,
đừng nghĩ:
“Đây chỉ là chuyện của riêng tôi.”
Một người bớt sân:
cả gia đình có thể:
bớt khổ.
Một người bớt tham:
nhiều người có thể:
bớt bị lợi dụng.
Một người bớt mạn:
nhiều người có thể:
bớt bị khinh.
Một người nói Pháp bớt cái tôi:
nhiều người có thể:
nghe Chánh pháp rõ hơn.
Cho nên lời Phật trong SN 47.19 thật ngắn mà rất lớn:
“BẢO HỘ CHÍNH MÌNH, NGƯỜI ẤY BẢO HỘ NGƯỜI KHÁC; BẢO HỘ NGƯỜI KHÁC, NGƯỜI ẤY BẢO HỘ CHÍNH MÌNH.” (
The Buddha’s Words
)
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1144
Nguồn: Kinh Sedaka – Sedaka Sutta, Tương Ưng Bộ Kinh – Saṃyutta Nikāya, Tương Ưng Niệm Xứ – Satipaṭṭhāna Saṃyutta, kinh số 19, mã quốc tế SN 47.19, PTS S V 169, nguyên bản Kinh tạng Pāli. (SuttaCentral)
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1145
MỤC 040 - Bài 040 — BÀI KẾT TẬP 1 KHÔNG LÀM ĐIỀU ÁC – SIÊNG LÀM ĐIỀU LÀNH – GIỮ TÂM TRONG SẠCH 1. CÂU KINH – LỜI PHẬT
Đức Phật dạy:
“Không làm mọi điều ác, Thành tựu các hạnh lành, Tâm ý giữ trong sạch, Chính lời chư Phật dạy.”
Nguyên văn Pāli:
“Sabbapāpassa akaraṇaṁ, kusalassa upasampadā; sacittapariyodapanaṁ, etaṁ buddhāna sāsanaṁ.”
Đây là Kinh Pháp Cú – Dhammapada, Phẩm Phật Đà – Buddhavagga, kệ số 183, mã tra cứu quốc tế Dhp 183. Bản Pāli ghi rõ ba ý: không làm điều bất thiện, thành tựu điều thiện và làm trong sạch tâm mình. (Ancient Buddhist Texts)
2. NGUỒN KINH
Tên kinh: Kinh Pháp Cú
Tên Pāli: Dhammapada
Thuộc: Tiểu Bộ Kinh – Khuddaka Nikāya
Phẩm: Phẩm Phật Đà – Buddhavagga
Kệ: 183
Mã tra cứu quốc tế: Dhp 183
Nguyên bản: Kinh tạng Pāli. (SuttaCentral)
Khi có người hỏi thật ngắn:
“Đây là Kinh Pháp Cú – Dhammapada, Phẩm Phật Đà – Buddhavagga, kệ số 183, mã quốc tế Dhp 183, nguyên bản Kinh tạng Pāli.”
3. TỪ KHÓA VIỆT – PĀLI – NGHĨA
KHÔNG LÀM ĐIỀU ÁC – SABBAPĀPASSA AKARAṆAṂ
Pāpa là:
điều ác,
điều bất thiện,
điều gây khổ.
Akaraṇaṁ là:
không làm.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1146
Nói thật dễ:
BIẾT ĐIỀU GÌ GÂY KHỔ – TẬP KHÔNG LÀM.
Không phải chỉ tránh những lỗi thật lớn.
Mà ngay trong:
một câu nói,
một ý sân,
một lần gian dối,
một việc làm tổn thương người,
mình cũng tập:
DỪNG.
THÀNH TỰU ĐIỀU THIỆN – KUSALASSA UPASAMPADĀ
Kusala là:
thiện,
lành,
khéo.
Upasampadā ở đây mang nghĩa:
thành tựu,
làm cho đầy đủ.
Tu không chỉ là:
“TÔI KHÔNG LÀM XẤU.”
Còn phải:
LÀM ĐIỀU LÀNH.
Biết thương.
Biết nhẫn.
Biết bố thí.
Biết giữ giới.
Biết nói lời chân thật.
Biết phụng dưỡng.
Biết giúp người.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1147
Biết sửa lỗi.
GIỮ TÂM TRONG SẠCH – SACITTAPARIYODAPANAṂ
Sa-citta:
tâm của chính mình.
Pariyodapana:
làm cho trong sạch,
thanh tịnh.
Đây là tầng sâu nhất.
Bởi mình có thể:
không đánh ai,
nhưng tâm vẫn:
hận.
Không lấy của ai,
nhưng tâm vẫn:
tham.
Không nói ra,
nhưng bên trong vẫn:
muốn người khác khổ.
Cho nên cuối cùng:
PHÁP QUAY VỀ TÂM.
4. GHÉP NGHĨA TOÀN CÂU
Toàn bộ bài kệ có thể hiểu thật gần:
VIỆC XẤU – ĐỪNG LÀM.
VIỆC LÀNH – HÃY LÀM.
TÂM MÌNH – HÃY TU CHO TRONG SẠCH.
Ba câu ấy rất ngắn.
Nhưng gần như có thể dùng làm:
SỢI CHỈ ĐỎ ĐỂ NHÌN LẠI 39 BÀI TRƯỚC.
5. NHÌN LẠI 39 BÀI ĐÃ ĐI QUA
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1148
Kính thưa quý vị,
ba mươi chín bài trước tuy đi qua rất nhiều bài kinh và rất nhiều hoàn cảnh khác nhau, nhưng cuối cùng đều đưa mình về những việc rất gần.
Có bài dạy:
GIỮ TÂM.
Đừng để tham, sân, si muốn kéo đi đâu thì kéo.
Có bài dạy:
GIỮ LỜI.
Trước khi nói,
hãy nhìn hậu quả.
Có bài dạy:
GIỮ HÀNH ĐỘNG.
Trước khi làm,
đang khi làm,
sau khi làm
đều phải biết soi lại.
Có bài dạy:
GIỮ GIỚI.
Không phải vì sợ người khác biết,
mà vì chính mình biết:
điều gì nên,
điều gì không nên.
6. CÓ NHỮNG BÀI DẠY MÌNH SỐNG ĐÚNG GIỮA ĐỜI
Người tại gia vẫn cần:
làm việc.
tài sản.
gia đình.
bạn bè.
trách nhiệm.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1149
Đức Phật không tách người tu ra khỏi:
đời sống thực tế.
Ngài dạy:
siêng năng.
biết gìn giữ.
sống quân bình.
không mắc nợ quá sức.
gần thiện hữu.
kiếm sống chân chánh.
biết dùng tài sản đúng.
Nhưng trên tất cả:
ĐỪNG ĐÁNH ĐỔI ĐẠO ĐỨC ĐỂ LẤY MỘT MÓN LỢI.
7. CÓ NHỮNG BÀI DẠY MÌNH TU NGAY TRONG CÁC MỐI QUAN HỆ
Cha mẹ.
con cái.
thầy trò.
vợ chồng.
bạn bè.
người làm công.
người tu.
người hộ trì.
Mỗi mối quan hệ đều là:
MỘT CHỖ TU.
Đừng chỉ hỏi:
“Người kia phải làm gì cho tôi?”
Hãy hỏi:
“PHẦN CỦA TÔI – TÔI ĐÃ LÀM ĐÚNG CHƯA?”
8. CÓ NHỮNG BÀI DẠY MÌNH XỬ LÝ KHỔ ĐAU
Đời có:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1150
được.
mất.
khen.
chê.
bệnh.
già.
chia lìa.
Không phải điều gì mình cũng:
điều khiển được.
Nhưng mình có thể học:
ĐỪNG TỰ BẮN THÊM MŨI TÊN THỨ HAI.
Một cái đau đã tới:
xử lý cái đau.
Đừng lấy:
sân,
sợ,
tự trách,
phóng đại
làm cái đau thành:
hai lần.
9. CÓ NHỮNG BÀI DẠY MÌNH BUÔNG OÁN
Người khác làm mình đau:
đó là việc phải nhìn.
Nhưng nếu lấy:
hận
trả:
hận,
thì vòng khổ:
chưa dừng.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1151
Cho nên mình học:
KHÔNG DÙNG CÁI SAI CỦA NGƯỜI KHÁC LÀM GIẤY PHÉP CHO CÁI SAI CỦA MÌNH.
Có thể:
giữ ranh giới.
nói sự thật.
bảo vệ quyền lợi.
Nhưng đừng:
nuôi lòng trả thù.
10. CÓ NHỮNG BÀI DẠY MÌNH MỞ TÂM TỪ
Không lừa.
Không khinh.
Không mong người khác khổ.
Không nhất thiết phải:
thích tất cả mọi người.
Nhưng có thể tập:
KHÔNG MUỐN LÀM KHỔ THÊM.
Tâm từ không bỏ:
trí.
Tâm từ không bỏ:
ranh giới.
Tâm từ chỉ bỏ:
Ý MUỐN GÂY HẠI.
11. CÓ NHỮNG BÀI DẠY MÌNH TRỞ VỀ HIỆN TẠI
Quá khứ:
đã qua.
Học:
rồi buông.
Tương lai:
chưa tới.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1152
Chuẩn bị:
rồi trở về.
Ngay bây giờ:
TÂM ĐANG THẾ NÀO?
VIỆC GÌ CẦN LÀM?
PHÁP GÌ CẦN TU?
Đó là chỗ mình thật sự có thể:
chuyển hóa.
12. CÓ NHỮNG BÀI DẠY MÌNH NHÌN NĂM UẨN
Thân:
đổi.
Cảm giác:
đổi.
Nhận thức:
đổi.
ý muốn:
đổi.
sự nhận biết:
đổi.
Cái gì đang đổi
thì đừng bắt nó làm:
MỘT CÁI “TÔI” BẤT BIẾN.
Thấy được như vậy:
mình bớt:
nắm.
Bớt nắm:
bớt khổ.
13. CÓ NHỮNG BÀI DẠY MÌNH ĐỪNG TIN MỌI Ý NGHĨ
Tâm nói:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1153
“Trả đũa đi.”
Không nhất thiết:
làm.
Tâm nói:
“Tôi không chịu được.”
Không nhất thiết:
đúng.
Tâm nói:
“Người kia phải thế này.”
Không nhất thiết:
họ sẽ thế.
Cho nên mình học:
ĐỔI.
THẤY.
QUAY.
SOI.
CHẶN.
Ý nghĩ:
KHÔNG PHẢI MỆNH LỆNH.
14. CÓ NHỮNG BÀI DẠY MÌNH TỰ BẢO HỘ
Giữ mình bằng:
chánh niệm.
Bảo hộ người bằng:
nhẫn.
không hại.
tâm từ.
lòng thương tưởng.
Và rồi mình hiểu:
TU MÌNH KHÔNG PHẢI CHỈ LỢI CHO MÌNH.
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1154
Một người bớt sân,
gia đình:
bớt khổ.
Một người bớt tham,
người khác:
bớt bị lợi dụng.
Một người bớt cái tôi,
người bên cạnh:
bớt bị tổn thương.
15. BA MƯƠI CHÍN BÀI – CUỐI CÙNG QUAY VỀ BA VIỆC
Có thể gom lại thật ngắn:
THỨ NHẤT
ĐỪNG TẠO THÊM KHỔ.
Đó là:
không làm điều ác.
THỨ HAI
HÃY TẠO THÊM ĐIỀU LÀNH.
Đó là:
thành tựu thiện pháp.
THỨ BA
QUAY VỀ SỬA CHÍNH TÂM MÌNH.
Đó là:
giữ tâm ý trong sạch.
Và Đức Phật kết lại:
“ĐÂY LÀ LỜI CHƯ PHẬT DẠY.” (
Ancient Buddhist Texts
)
16. CÔNG THỨC TỔNG KẾT TẬP 1
Xin nhớ sáu chữ:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1155
DỪNG ÁC.
LÀM LÀNH.
SẠCH TÂM.
Nếu muốn đầy đủ hơn:
THẤY → DỪNG → SỬA → LÀM THIỆN → BUÔNG CHẤP → GIỮ TÂM.
Đó là con đường thực hành xuyên suốt tập sách này.
17. MỘT CÂU TỰ HỎI MỖI NGÀY
Trước khi ngủ,
không cần nhớ hết bốn mươi bài.
Chỉ cần hỏi ba câu:
“HÔM NAY TÔI ĐÃ BỚT ĐƯỢC MỘT ĐIỀU BẤT THIỆN NÀO?”
“HÔM NAY TÔI ĐÃ LÀM ĐƯỢC MỘT ĐIỀU LÀNH NÀO?”
“HÔM NAY TÂM TÔI ĐÃ SẠCH HƠN HAY NẶNG HƠN HÔM QUA?”
Nếu mỗi ngày trả lời được ba câu này,
cuốn sách đã bắt đầu:
ĐI RA KHỎI TRANG GIẤY.
18. CÂU HỎI LIVESTREAM CUỐI TẬP
1. Trong 39 bài đã học, bài nào làm quý vị nhớ nhất?
2. Có lời kinh nào quý vị đã thật sự đem vào một hoàn cảnh đời sống chưa?
3. Trong ba việc “dừng ác – làm lành – sạch tâm”, quý vị thấy mình đang cần tu phần nào nhất?
4. Có phải học nhiều kinh nhưng không sửa thân, khẩu, ý thì vẫn chưa đủ không?
5. Nếu chỉ mang theo một câu sau khi đọc xong tập sách này, quý vị muốn mang theo câu nào?
19. LỜI KẾT TẬP 1
Kính thưa quý vị,
bốn mươi bài trong tập sách nhỏ này
không nhằm để mình:
thuộc thật nhiều.
Không nhằm để:
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1156
nói cho hay.
Không nhằm để:
biết nhiều hơn người khác.
Mỗi lời kinh chỉ thật sự có ý nghĩa
khi nó giúp mình:
BỚT MỘT CHÚT THAM.
BỚT MỘT CHÚT SÂN.
BỚT MỘT CHÚT SI.
BỚT LÀM KHỔ MÌNH.
BỚT LÀM KHỔ NGƯỜI.
Nếu đọc một bài
mà hôm ấy mình:
bớt nói một lời ác,
thì lời kinh:
đã sống.
Nếu nhớ một câu
mà lúc đang sân mình:
dừng được,
thì lời kinh:
đã sống.
Nếu hiểu một pháp
mà mình biết:
xin lỗi,
biết:
buông,
biết:
giữ giới,
biết:
thương,
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1157
thì lời kinh:
đã đi vào đời.
Cho nên cuối tập sách,
xin không giữ lại thật nhiều chữ.
Xin chỉ giữ lại lời Phật:
KHÔNG LÀM MỌI ĐIỀU ÁC.
THÀNH TỰU CÁC HẠNH LÀNH.
GIỮ TÂM Ý TRONG SẠCH.
Và khi chưa làm được trọn,
thì:
LÀM TỪNG CHÚT.
Hôm nay bớt một lỗi.
Ngày mai thêm một thiện.
Mỗi ngày nhìn lại một chút tâm mình.
Không cần tự nhận:
mình tu giỏi.
Chỉ cần thành thật thấy:
HÔM NAY MÌNH CÓ BỚT LÀM KHỔ MÌNH VÀ NGƯỜI HƠN HÔM QUA HAY KHÔNG.
Nếu có,
thì mình đang:
đi.
Chậm cũng được.
Nhưng:
ĐI ĐÚNG HƯỚNG.
Nguồn lời kinh kết tập: Kinh Pháp Cú – Dhammapada, Tiểu Bộ Kinh – Khuddaka Nikāya, Phẩm Phật Đà – Buddhavagga, kệ số 183, mã quốc tế Dhp 183, nguyên bản Kinh tạng Pāli. (Ancient Buddhist Texts)
HẾT TẬP 1
NƯƠNG LỜI PHẬT MÀ SỐNG - Trang 1158