Bốn Công Thức Xuyên Suốt Con Đường Tu

TẢI BẢN GỐC

BỐN CÔNG THỨC
XUYÊN SUỐT CON ĐƯỜNG TU

TỪ KINH ĐIỂN ĐẾN ĐỜI SỐNG
TỪ THẤY – TỈNH – BUÔNG ĐẾN GIỚI – ĐỊNH – TUỆ

THÍCH NỮ DIỆU AN

Biên soạn và hệ thống hóa thực hành

LƯU Ý VỀ NGUỒN VÀ PHƯƠNG PHÁP TRÌNH BÀY

Cuốn sách được biên soạn nhằm phục vụ học Phật, thực hành và chia sẻ giáo pháp. Các trích dẫn kinh điển cần được hiểu theo nguồn được ghi trong từng chương hoặc phụ lục nguồn.

Bốn công thức cốt lõi là cách hệ thống hóa thực hành của cuốn sách để dễ nhớ và dễ ứng dụng. Không mặc nhiên xem toàn bộ các công thức là lời nguyên văn của Đức Phật nếu kinh không có đúng cấu trúc ấy.

Khi văn bản ghi “Lời kinh/Trích kinh”, đó là phần cần đối chiếu theo bản dịch được chọn. Khi ghi “Đại ý theo kinh”, đó là diễn giải. Khi ghi “Cô đọng thực hành của cuốn sách”, đó là cách hệ thống hóa của tác giả/biên soạn.

Các thuật ngữ Pāli/Sanskrit được kèm tiếng Việt khi cần. Phần Nikāya/Pāli, Đại thừa, luận thư và truyền thống tông phái được phân biệt theo ngữ cảnh, không xem mọi hệ diễn đạt là hoàn toàn đồng nhất.

BỐN CÔNG THỨC CỐT LÕI

CÔNG THỨC PHẬT: PHẬT = THẤY → TỈNH → BUÔNG → SÁNG

CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC: ĐỊNH LỰC = THẬT THÀ → CHỮ TÍN → VIỆC LÀNH → GIỚI → ĐỊNH → TUỆ → LỰC

CÔNG THỨC BUÔNG: BUÔNG = NHẬN → SOI → THẤY → KHÔNG DÍNH → KHÔNG CHẤP → BUÔNG → AN

CÔNG THỨC TAM TẠNG: BỎ ÁC → LÀM LÀNH → LÀM SẠCH TÂM (theo tinh thần Pháp Cú 183)

Câu nhớ: Mỗi lần thấy được mình, tỉnh được một niệm, buông được một chấp, là mình đang đi thêm một bước về phía giác ngộ.

MỤC LỤC

PHẦN I – BỐN CÔNG THỨC VÀ NỀN TẢNG CON ĐƯỜNG

Chương 1. BỐN CÔNG THỨC NỐI THÀNH MỘT CON ĐƯỜNG

Chương 2. ĐỊNH LỰC – TỪ SỐNG THẬT ĐẾN KHẢ NĂNG TRỞ VỀ

Chương 3. BUÔNG – NHẬN, SOI, THẤY, KHÔNG DÍNH, KHÔNG CHẤP, BUÔNG, AN

Chương 4. CÔNG THỨC PHẬT – THẤY, TỈNH, BUÔNG, SÁNG

Chương 5. CÔNG THỨC TAM TẠNG – BỎ ÁC, LÀM LÀNH, LÀM SẠCH TÂM

Chương 6. THẬT THÀ VÀ SỐNG TỐT – NỀN CỦA MỘT ĐỜI TU

Chương 7. TỪ GIỚI ĐẾN ĐỊNH, TỪ ĐỊNH ĐẾN TUỆ

Chương 8. ĐẠI NGUYỆN – CHO SỰ TU MỘT HƯỚNG LỚN HƠN CÁI TÔI

Chương 9. BỐN CÔNG THỨC HỢP THÀNH MỘT DÒNG SỐNG

Chương 10. TỪ HIỂU PHÁP ĐẾN SỐNG PHÁP

Chương 11. TỪ NỘI LỰC ĐẾN TỰ DO NỘI TÂM

Chương 12. TỪ TỰ DO NỘI TÂM ĐẾN TÂM VỮNG GIỮA BIẾN ĐỘNG

Chương 13. TÂM CÓ GỐC – ĐỜI CÓ GIÓ MÀ KHÔNG DỄ ĐỔ

Chương 14. ĐỨC HẠNH – SỨC MẠNH KHÔNG CẦN PHÔ BÀY

Chương 15. HƯƠNG ĐỨC HẠNH – THỨ CÒN LẠI SAU LỜI NÓI

Chương 16. TỪ HƯƠNG ĐỨC HẠNH ĐẾN PHÁP THÍ

PHẦN II – NHÌN THẲNG VÀO TÂM: KHỔ – ÁI – CHẤP – CON ĐƯỜNG THOÁT

Chương 17. TỨ NIỆM XỨ TRONG ĐỜI THƯỜNG

Chương 18. XÚC – THỌ – ÁI: NƠI PHẢN ỨNG BẮT ĐẦU

Chương 19. CHẤP THỦ – KHI “THÍCH” TRỞ THÀNH “PHẢI CÓ”

Chương 20. VÔ THƯỜNG – THẤY CÁI ĐANG ĐỔI ĐỂ BỚT NẮM

Chương 21. VÔ NGÃ – KHÔNG BIẾN NĂM UẨN THÀNH MỘT CÁI TÔI BẤT BIẾN

Chương 22. TỨ CHÁNH CẦN – KHÔNG CHỈ BỎ ÁC MÀ CÒN BIẾT NUÔI THIỆN

Chương 23. BÁT CHÁNH ĐẠO – CON ĐƯỜNG TÁM MẶT CỦA MỘT ĐỜI SỐNG ĐÚNG

Chương 24. MỘT ĐỜI THỰC HÀNH – ĐEM ĐẠO VÀO MỌI HOÀN CẢNH

Chương 25. TỨ DIỆU ĐẾ – BẢN ĐỒ CỦA KHỔ, NGUYÊN NHÂN, CHẤM DỨT VÀ CON ĐƯỜNG

Chương 26. TỨ NIỆM XỨ – ĐÀO SÂU NỀN TẢNG KINH ĐIỂN

Chương 27. DUYÊN KHỞI – THẤY ĐIỀU KIỆN ĐỂ BIẾT CHỖ CÓ THỂ CHUYỂN

Chương 28. THẤT GIÁC CHI – NHỮNG YẾU TỐ ĐƯA TÂM VỀ HƯỚNG GIÁC NGỘ

Chương 29. BÁT PHONG – ĐƯỢC MẤT, DANH SUY, KHEN CHÊ, VUI KHỔ

PHẦN III – CÁC NĂNG LỰC TU TẬP

Chương 30. NGŨ UẨN – SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC

Chương 31. NĂM TRIỀN CÁI – NHỮNG VẬT CẢN CHE TÂM

Chương 32. NGŨ CĂN – NGŨ LỰC: TÍN, TẤN, NIỆM, ĐỊNH, TUỆ

Chương 33. TỨ VÔ LƯỢNG TÂM – TỪ, BI, HỶ, XẢ

Chương 34. HỘ TRÌ SÁU CĂN – CĂN GẶP CẢNH MÀ KHÔNG ĐỂ THAM SÂN KÉO ĐI

Chương 35. NGHIỆP VÀ TÁC Ý – TU NGAY NƠI Ý ĐỊNH ĐANG HÌNH THÀNH

Chương 36. TAM HỌC – GIỚI, ĐỊNH, TUỆ

Chương 37. ĀNĀPĀNASATI – NIỆM HƠI THỞ THEO MƯỜI SÁU BƯỚC

Chương 38. APPAMĀDA VÀ MARAṆASATI – KHÔNG PHÓNG DẬT VÀ NHỚ SỰ CHẾT

Chương 39. BA MƯƠI BẢY PHẨM TRỢ ĐẠO – BẢN ĐỒ BẢY NHÓM PHÁP TRỢ GIÁC NGỘ

PHẦN IV – CON ĐƯỜNG ĐẠI THỪA: TRÍ TUỆ, ĐẠI BI VÀ HẠNH NGUYỆN

Chương 40. BỒ-ĐỀ TÂM – GIÁC NGỘ KHÔNG CHỈ CHO RIÊNG MÌNH

Chương 41. LỤC BA-LA-MẬT – SÁU CON ĐƯỜNG ĐƯA HẠNH ĐI SÂU

Chương 42. BÁT-NHÃ VÀ TÁNH KHÔNG – DUYÊN SINH NÊN KHÔNG TỰ TÍNH

Chương 43. KINH KIM CANG VÀ PHÁP VÔ TRỤ – LÀM MÀ KHÔNG DỰNG CHỖ BÁM

Chương 44. TỨ HOẰNG THỆ NGUYỆN – ĐẠI NGUYỆN VÀ GIỚI HẠN CỦA CÁI TÔI

Chương 45. TỨ NHIẾP PHÁP – BỐ THÍ, ÁI NGỮ, LỢI HÀNH, ĐỒNG SỰ

Chương 46. PHƯƠNG TIỆN THIỆN XẢO – THÍCH ỨNG MÀ KHÔNG RỜI TRÍ, BI VÀ GIỚI

Chương 47. HỒI HƯỚNG – LÀM THIỆN MÀ KHÔNG ĐÓNG CÔNG ĐỨC VÀO BẢN NGÃ

Chương 48. TỨ Y PHÁP – NƯƠNG PHÁP MÀ KHÔNG RƠI VÀO CHẤP NGƯỜI, CHẤP CHỮ

Chương 49. NHỊ ĐẾ – SỰ THẬT QUY ƯỚC VÀ SỰ THẬT TỐI HẬU

Chương 50. PHẬT TÁNH VÀ NHƯ LAI TẠNG – NGUỒN, Ý NGHĨA VÀ CÁC CÁCH GIẢI THÍCH

Chương 51. NHƯ LAI TẠNG VÀ TÂM THANH TỊNH – “BỊ CHE” KHÔNG PHẢI MỘT CÁI NGÃ BẤT BIẾN

PHẦN V – NHỮNG HƯỚNG SOI CHIẾU VÀ PHÁP HÀNH CHUYÊN BIỆT

Chương 52. TAM GIẢI THOÁT MÔN – KHÔNG, VÔ TƯỚNG, VÔ NGUYỆN

Chương 53. TỨ VÔ ÚY – VÔ ÚY CỦA ĐỨC PHẬT VÀ TINH THẦN KHÔNG SỢ TRONG ĐỜI SỐNG

Chương 54. THẬP THIỆN NGHIỆP ĐẠO – MƯỜI CON ĐƯỜNG LÀM THÂN KHẨU Ý TRONG SẠCH

Chương 55. TÀM VÀ QUÝ – HAI SỨC MẠNH BẢO VỆ LƯƠNG TÂM ĐẠO ĐỨC

Chương 56. THIỆN TRI THỨC – NGƯỜI BẠN LÀNH CỦA CẢ CON ĐƯỜNG

Chương 57. CHÁNH TÍN VÀ SADDHĀ – TIN MÀ KHÔNG MÙ, XÉT MÀ KHÔNG NGÃ MẠN

Chương 58. NGŨ GIỚI VÀ NGUYÊN TẮC BẤT HẠI

Chương 59. TAM CĂN BẤT THIỆN VÀ TAM CĂN THIỆN – THAM, SÂN, SI / VÔ THAM, VÔ SÂN, VÔ SI

Chương 60. BỐN LOẠI THỨC ĂN – ĐOÀN THỰC, XÚC THỰC, TƯ NIỆM THỰC, THỨC THỰC

Chương 61. BẢY TÀI SẢN CỦA BẬC THÁNH – TÍN, GIỚI, TÀM, QUÝ, ĐA VĂN, XẢ, TUỆ

Chương 62. THIỂU DỤC VÀ TRI TÚC – ÍT MUỐN KHÔNG PHẢI SỐNG NGHÈO, BIẾT ĐỦ KHÔNG PHẢI NGỪNG TIẾN

Chương 63. NHƯ LÝ TÁC Ý – NHÌN MỘT VIỆC THEO CÁCH MỞ ĐƯỜNG CHO TUỆ

Chương 64. DUY THỨC – CÁCH TÂM NHẬN, GỌI TÊN, GHI NHỚ VÀ PHẢN ỨNG VỚI CẢNH

Chương 65. THIỀN TÔNG – TRỰC CHỈ NHÂN TÂM NHƯNG KHÔNG PHỦ NHẬN KINH ĐIỂN

Chương 66. TỊNH ĐỘ – TÍN, NGUYỆN, HẠNH, NIỆM PHẬT VÀ ĐẠI NGUYỆN KHÔNG RỜI NHÂN QUẢ

Chương 67. NIẾT-BÀN – KHÔNG PHẢI CHẾT, KHÔNG PHẢI HƯ VÔ

Chương 68. NHẤT THỪA TRONG KINH PHÁP HOA – NHIỀU CỬA VÀO, KHÔNG BIẾN PHƯƠNG TIỆN THÀNH TRANH CHẤP

Chương 69. DUY-MA-CẬT – NHẬP THẾ MÀ KHÔNG ĐỂ THẾ GIAN DẮT TÂM

PHẦN VI – SỐNG PHÁP VỚI NGƯỜI KHÁC VÀ TRONG MỘT NGÀY BÌNH THƯỜNG

Chương 70. LỤC HÒA KÍNH – SỐNG CHUNG MÀ KHÔNG NUÔI THÊM THAM, SÂN VÀ NGÃ CHẤP

Chương 71. MỘT NGÀY TU TRỌN VẸN – TỪ LÚC MỞ MẮT ĐẾN KHI ĐẶT LƯNG

PHẦN VII – KHI ĐỜI BẮT ĐẦU LẤY ĐI

Chương 72. GẶP NGHỊCH DUYÊN – ĐỪNG HỎI “SAO LẠI LÀ TÔI?”, HÃY HỎI “PHÁP NÀO ĐANG ĐƯỢC KIỂM?”

Chương 73. BỆNH – THÂN CÓ THỂ ĐAU, NHƯNG ĐỪNG ĐỂ CÁI ĐAU TRỞ THÀNH TOÀN BỘ CON NGƯỜI MÌNH

Chương 74. GIÀ – MẤT DẦN SỨC KHÔNG CÓ NGHĨA MẤT DẦN GIÁ TRỊ

Chương 75. CHẾT – KHÔNG ĐỢI ĐẾN HƠI THỞ CUỐI MỚI HỌC BUÔNG

PHẦN VIII – KHÔNG CÒN MANG PHÁP TRÊN LƯNG

Chương 76. MỘT CON ĐƯỜNG DUY NHẤT – GIỚI, ĐỊNH, TUỆ, BỐN CÔNG THỨC VÀ ĐẠI NGUYỆN

Chương 77. GẶP MỘT VIỆC THÌ DÙNG PHÁP NÀO?

Chương 78. NHỮNG CHỖ DỄ HIỂU SAI NHẤT TRÊN ĐƯỜNG TU

Chương 79. LÀM SAO BIẾT MÌNH ĐANG TIẾN BỘ HAY CHỈ ĐỔI MỘT KIỂU CHẤP KHÁC?

Chương 80. BẢN ĐỒ TOÀN BỘ CON ĐƯỜNG – TỪ NGƯỜI MỚI BẮT ĐẦU ĐẾN KHI PHÁP THÀNH NẾP SỐNG

Chương 81. ĐẾN LÚC KHÔNG CÒN CHẤP CẢ CÔNG THỨC – PHÁP LÀ CHIẾC BÈ

Chương 82. LỜI KẾT – ĐỪNG MANG CẢ CUỐN SÁCH TRÊN LƯNG; HÃY ĐỂ PHÁP ĐI VÀO CÁCH MÌNH SỐNG

PHẦN I
BỐN CÔNG THỨC VÀ NỀN TẢNG CON ĐƯỜNG

CHƯƠNG 1
BỐN CÔNG THỨC NỐI THÀNH MỘT CON ĐƯỜNG

Phật pháp rất rộng, nhưng khi đưa vào đời sống, điều quan trọng nhất không phải là chúng ta biết bao nhiêu thuật ngữ, mà là khi một sự việc xảy đến, chúng ta xử lý chính cái tâm của mình như thế nào. Khi được khen, tâm mình làm gì? Khi bị chê, tâm mình làm gì? Khi có lợi, tâm mình làm gì? Khi mất lợi, tâm mình làm gì? Khi người mình thương còn ở bên, tâm mình làm gì? Khi người đó đổi thay, tâm mình làm gì? Chính những lúc ấy mới là nơi Phật pháp đi vào đời sống.

1. THẤY LÀ ĐIỂM KHỞI ĐẦU

Nếu không thấy được chính mình thì rất khó tu. Tâm đang sân mà mình tưởng mình đang đúng, thì mình không sửa được sân. Tâm đang tham mà mình tưởng mình chỉ đang cố gắng, thì mình không nhận ra tham. Tâm đang chấp mà mình tưởng mình chỉ đang giữ lập trường, thì mình không nhìn thấy chấp.

Cho nên bước đầu tiên là phải quay lại nhìn chính mình. Thấy thân. Thấy cảm thọ. Thấy tâm. Thấy những gì đang khởi lên trong tâm. Đó là nền của sự tỉnh thức.

2. THẤY RỒI PHẢI TỈNH

Tỉnh là không lập tức chạy theo phản ứng cũ. Người ta nói một câu khó nghe. Nếu không tỉnh, mình phản ứng ngay. Nếu có tỉnh, mình nhận ra: “Tâm sân đang khởi.” Khoảnh khắc nhận ra ấy tạo ra một khoảng dừng. Chính khoảng dừng ấy làm cho mình có quyền lựa chọn.

3. TỈNH RỒI MỚI BUÔNG

Buông không phải là vứt bỏ tất cả. Buông là bỏ cái tâm đang nắm. Có người vẫn còn sống trong một căn nhà nhưng đã buông được. Có người đã rời căn nhà đó mười năm mà tâm vẫn chưa buông. Có người không còn gặp người cũ nhưng ngày nào cũng sống với người cũ trong tâm.

Cho nên buông không phải là khoảng cách địa lý. Buông là khoảng cách giữa tâm mình và sự dính mắc.

4. BUÔNG RỒI TÂM MỚI SÁNG

Mỗi lần buông được một phần tham, sân, si và chấp thủ, tâm sáng thêm một phần. Vì vậy:

PHẬT = THẤY → TỈNH → BUÔNG → SÁNG.

Không nên hiểu rằng chỉ buông một lần là thành Phật. Nên hiểu rằng: Mỗi lần thấy được một mê lầm, tỉnh khỏi một phản ứng và buông được một chấp trước, ta đang đi thêm một bước về hướng giác ngộ.

5. MUỐN BUÔNG ĐƯỢC PHẢI CÓ ĐỊNH LỰC

Nếu tâm hôm nay thế này, ngày mai thế khác, ai nói gì cũng bị kéo đi, gặp thuận thì vui, gặp nghịch thì chao đảo, thì rất khó buông. Định lực không chỉ là khả năng ngồi thiền lâu. Định lực còn là sức đứng vững của tâm. Định lực được nuôi từ những điều rất đời thường:

THẬT THÀ → CHỮ TÍN → VIỆC LÀNH → GIỚI → ĐỊNH → TUỆ → LỰC.

Sống thật lâu ngày thì tâm bớt chia hai. Giữ chữ tín lâu ngày thì tâm bớt lỏng lẻo. Làm thiện lâu ngày thì thân, khẩu, ý được giữ gìn. Đó là nền của giới. Có giới thì tâm bớt hối hận. Tâm bớt hối hận thì dễ định. Có định thì thấy rõ hơn. Thấy rõ thì tuệ sinh. Có tuệ thì mới biết điều gì nên giữ và điều gì phải buông.

6. TAM TẠNG KINH ĐIỂN CÓ THỂ ĐEM VỀ MỘT TRỤC THỰC HÀNH

Kinh Pháp Cú, kệ 183 dạy:

“Không làm các điều ác, thành tựu các hạnh lành, giữ tâm ý trong sạch, đó là lời chư Phật dạy.” Đem vào đời sống:

BỎ ÁC → GIỚI.

LÀM LÀNH → THIỆN.

LÀM SẠCH TÂM → ĐỊNH VÀ TUỆ.

Từ định và tuệ thì thấy rõ. Thấy rõ thì tỉnh. Tỉnh thì không dính. Không dính thì không chấp. Không chấp thì biết buông. Buông thì tâm an. Tâm an thì trí sáng. Trí sáng thì tiến về hướng giác ngộ.

7. CÔNG THỨC TỔNG

SỐNG THẬT → GIỮ TÍN → LÀM LÀNH → GIỮ GIỚI → TÂM ĐỊNH → TUỆ SÁNG → THẤY RÕ → KHÔNG DÍNH → KHÔNG CHẤP → BIẾT BUÔNG → TÂM AN → ĐI VỀ GIÁC NGỘ.

CÂU KẾT

Tu không phải chỉ để biết nhiều hơn. Tu là để khi một việc xảy đến, mình thấy nó rõ hơn, phản ứng chậm hơn, dính ít hơn, buông nhanh hơn, sống thiện hơn và bình an hơn.

CHƯƠNG 2
ĐỊNH LỰC – TỪ SỐNG THẬT ĐẾN KHẢ NĂNG TRỞ VỀ

Định lực không chỉ là khả năng ngồi thiền lâu. Một người có thể ngồi rất yên, nhưng khi bước ra đời sống, chỉ một lời chê cũng làm tâm chao đảo, một chút mất mát cũng làm tâm khổ nhiều ngày, thì định ấy chưa thật sự trở thành lực. Định lực phải đi vào đời sống. Định lực là khi tâm có sức đứng.

Được khen nhưng không bay lên. Bị chê nhưng không rơi xuống. Có người thương nhưng không đánh mất mình. Người đổi thay nhưng mình không tan vỡ. Có lợi nhưng không quá tham. Mất lợi nhưng không hoảng loạn. Thuận duyên không tự mãn. Nghịch duyên không bỏ đường tu. Đó là lực.

I. ĐỊNH LỰC BẮT ĐẦU TỪ SỰ THẬT THÀ

Một người sống không thật thì tâm bị chia thành nhiều phần. Bên trong nghĩ một kiểu. Bên ngoài nói một kiểu. Với người này nói thế này. Với người kia lại nói khác. Làm một việc rồi phải lo che giấu. Nói một điều rồi phải nhớ mình đã nói gì để ngày sau không mâu thuẫn.

Một cái tâm như vậy rất khó định. Người thật thà thì khác. Biết thì nói biết. Không biết thì nói không biết. Sai thì nhận sai. Làm được thì nói làm được. Không làm được thì nói chưa làm được. Thật thà làm tâm bớt phân chia. Tâm bớt phân chia thì năng lượng bắt đầu được gom lại.

Vì vậy, trong công thức thực hành:

THẬT THÀ → CHỮ TÍN.

II. THẬT THÀ LÂU NGÀY SINH CHỮ TÍN

Chữ tín không chỉ là để người khác tin mình. Trong tu tập, điều quan trọng hơn là:

MÌNH CÓ TIN ĐƯỢC CHÍNH MÌNH HAY KHÔNG.

Nói sẽ làm thì cố làm. Hứa sẽ giữ thì cố giữ. Đã phát nguyện thì cố sống đúng với điều đã nguyện. Mỗi lần giữ được một lời với chính mình, tâm có thêm một chút lực. Mỗi lần hứa rồi bỏ, tâm mất đi một chút niềm tin vào chính nó. Vì vậy: Muốn định lực mạnh, đừng hứa với mình quá nhiều.

Hứa ít thôi. Nhưng điều gì đã hứa thì cố làm cho trọn. Chữ tín được tích lũy lâu ngày làm tâm thành một khối. Giống như từng hạt cát rời thì dễ bị gió cuốn. Nhưng khi chúng kết lại thành một khối, chúng có sức nặng. Tâm cũng vậy.

III. CHỮ TÍN PHẢI ĐI VÀO THIỆN PHÁP

Chữ tín tự nó chưa đủ. Một người có thể rất kiên định nhưng kiên định trong điều bất thiện. Cho nên chữ tín phải được đặt vào việc đúng và việc lành.

THẬT → TÍN → THIỆN.

Làm việc lợi mình, lợi người. Không gây hại. Biết bố thí. Biết giữ lời. Biết nhẫn. Biết giúp đỡ đúng cách. Biết dừng những hành động làm tăng tham, sân, si. Đây là nơi chữ tín gặp giới.

IV. VIỆC LÀNH NUÔI GIỚI

Sống thiện thì thân, khẩu, ý được giữ gìn. Không sát hại. Không lấy của không cho. Không tà hạnh. Không nói dối. Không để đời sống chìm trong những nguyên nhân làm mất sự tỉnh thức. Giới không phải hàng rào để làm con người mất tự do. Giới là hàng rào bảo vệ năng lượng của tâm.

Không sát hại bảo vệ lòng từ. Không trộm cắp bảo vệ sự ngay thẳng. Không tà hạnh bảo vệ sự trong sạch của quan hệ. Không nói dối bảo vệ sự thống nhất giữa tâm và lời. Không say nghiện bảo vệ khả năng tỉnh thức. Giới làm tâm bớt hối hận. Tâm bớt hối hận thì nhẹ. Tâm nhẹ thì dễ an.

Tâm an thì dễ định. Vì vậy nền kinh điển cần giữ chuẩn là:

GIỚI → ĐỊNH → TUỆ.

V. GIỚI GIÚP TÂM ÍT HỐI HẬN

Một người làm điều sai thường phải mang theo cái sai của mình. Sợ bị phát hiện. Sợ hậu quả. Sợ mất danh. Sợ mất lợi. Hoặc dù không sợ ai, bên trong vẫn biết mình đang sống trái với điều mình cho là đúng. Tâm như vậy rất khó định. Người giữ giới không có nghĩa là không bao giờ sai.

Nhưng khi sai thì biết nhận. Biết sửa. Biết sám hối. Biết trở lại. Nhờ vậy tâm ít phải mang những gánh nặng không cần thiết. Có thể nhớ:

THẬT → TÍN → THIỆN → GIỚI → ÍT HỐI → AN → ĐỊNH.

VI. ĐỊNH LÀ KHẢ NĂNG ĐẶT TÂM ĐÚNG CHỖ

Định không chỉ là ngồi bất động. Định còn là khả năng đặt tâm vào việc đang làm và giữ tâm ở đó. Đang niệm Phật thì biết câu Phật hiệu. Đang nghe pháp thì nghe pháp. Đang làm việc thì biết mình đang làm việc. Đang ăn thì biết mình đang ăn. Đang đi thì biết mình đang đi.

Đang sân thì biết tâm sân đang khởi. Thân ở một nơi mà tâm chạy mười nơi thì rất mệt. Định là gom tâm trở lại:

VIỆC NÀY – NGAY BÂY GIỜ.

VII. ĐỊNH LỰC LÀ SỨC ĐỨNG CỦA TÂM

Có người nói một câu khó nghe. Tâm yếu thì phản ứng ngay. Tâm có lực thì xuất hiện một khoảng dừng. Trong khoảng dừng ấy, mình nhìn được: “Tâm đang sân.” “Cái tôi đang bị chạm.” “Mình đang muốn đáp trả.” Chính khoảng dừng ấy là nơi tuệ có thể xuất hiện. Định lực không phải là không có cảm xúc.

Người có định lực vẫn biết đau. Vẫn có thể buồn. Vẫn có thể khóc. Nhưng đau không kéo họ đi hết. Buồn không khiến họ phá giới. Thất vọng không khiến họ trả thù. Bị chê không khiến họ đánh mất phẩm chất. Định lực không phải là không động. Định lực là:

ĐỘNG NHƯNG KHÔNG ĐỔ.

Cây thật vẫn lay trong gió. Nhưng rễ sâu nên không bật gốc. Tâm người tu cũng vậy.

VIII. ĐỊNH LỰC LÀ KHẢ NĂNG TRỞ VỀ

Tâm đi thì biết tâm đi. Biết rồi trở về. Lại đi thì lại trở về. Không nản. Không tự trách. Cứ trở về. Mỗi lần trở về là một lần định lực được huân tập. Niệm Phật cũng vậy. Không phải người tu là người không bao giờ vọng niệm. Điều quan trọng là vọng niệm khởi lên mình có biết hay không.

Vọng khởi. Biết. Không chạy theo. Trở về câu Phật hiệu. Đó là tu. Vì vậy có thể nhớ:

ĐỊNH LỰC = KHẢ NĂNG TRỞ VỀ.

IX. ĐỊNH LÀM NỀN CHO TUỆ

Nước động thì khó soi rõ. Nước lắng thì thấy hình. Tâm cũng vậy. Khi tâm đang sân dữ, rất khó thấy đúng. Khi tham đang mạnh, rất khó thấy nguy hiểm. Khi sợ đang mạnh, rất khó thấy toàn cảnh. Khi tự ái đang mạnh, rất khó nhìn lỗi mình. Định giúp tâm đủ yên để tuệ thấy.

Tuệ thấy: Cái gì đang sinh. Cái gì đang diệt. Cái gì là tham. Cái gì là thương. Cái gì là lòng tốt. Cái gì là dính mắc đội lốt lòng tốt. Cái gì nên giữ. Cái gì cần buông. Có định thì tuệ dễ sáng. Có tuệ thì chấp dễ yếu. Chấp yếu thì buông dễ hơn.

X. MUỐN BUÔNG LỚN PHẢI TẬP BUÔNG NHỎ

Người ta thường đợi tới khi gặp biến cố lớn rồi mới muốn buông. Nhưng tâm chưa có lực thì rất khó buông. Muốn ngày mai đứng vững trước việc lớn, hôm nay phải tập với những việc nhỏ. Mất một lời khen – tập buông. Không được ưu tiên – tập buông. Một ý kiến không được chấp nhận – tập buông.

Người khác hiểu sai mình – tập buông. Một lịch trình thay đổi – tập buông. Một món đồ không theo ý – tập buông. Mỗi lần như vậy là một lần tập cơ cho tâm. Đến khi việc lớn xảy ra, tâm đã có sức.

XI. ĐO ĐỊNH LỰC BẰNG KHẢ NĂNG HỒI PHỤC

Không nhất thiết đo người tu bằng việc: “Còn sân hay không?” Có thể đo bằng: Sân có ngắn hơn không? Sân có nhẹ hơn không? Sân có ít làm hại người hơn không? Mình có nhận ra sớm hơn không? Mình có buông nhanh hơn không? Ngày trước một chuyện làm khổ một tháng. Bây giờ chỉ còn một tuần.

Sau này còn một ngày. Rồi một giờ. Rồi vừa khởi đã thấy. Đó là tiến bộ. Định lực không phải làm cho cuộc đời không còn gió. Định lực là làm cho tâm có khả năng trở về yên nhanh hơn sau khi gió đi qua.

XII. THẬT THÀ VỚI NGƯỜI CHƯA ĐỦ, PHẢI THẬT VỚI TÂM

Thực thà trong tu tập không chỉ là không nói dối người khác. Khó hơn là không nói dối chính mình. Mình sân nhưng lại nói: “Tôi chỉ đang bảo vệ chính nghĩa.” Mình tham nhưng nói: “Tôi chỉ đang có chí tiến thủ.” Mình muốn được khen nhưng nói: “Tôi hoàn toàn vì người khác.”

Mình tự ái nhưng nói: “Người kia sai hoàn toàn.” Người tu phải đủ thật để nhìn động cơ của mình. Không cần tự trách. Chỉ cần thấy. Có thể một việc có 70% thiện và 30% muốn được công nhận. Thấy 30% đó rồi sửa dần. Đó là tuệ. Không tự lừa mình thì tâm rất mạnh.

XIII. CHỮ TÍN VỚI CHÍNH MÌNH LÀ MỘT NGUỒN LỰC

Người thất tín với người khác thì mất lòng tin của người khác. Người thất tín với chính mình thì mất lực. Vì vậy hãy bắt đầu bằng những lời nguyện nhỏ nhưng thật. “Hôm nay tôi không nói xấu người này.” “Hôm nay tôi niệm Phật mười phút.” “Hôm nay nếu bị chạm, tôi thở ba hơi trước khi nói.”

“Hôm nay tôi giữ một việc thiện cho trọn.” Một lời nhỏ được giữ còn quý hơn một lời nguyện rất lớn nhưng ngày mai đã bỏ. Từng lần giữ được lời với mình, tâm ngày càng chắc.

XIV. ĐỊNH LỰC KHÔNG CHỈ Ở TRÊN BỒ ĐOÀN

Ngồi thiền là nơi rèn định. Đời sống là nơi thử định. Có thể nhớ:

ĐỊNH TRONG KHI NGỒI LÀ TẬP.

ĐỊNH TRONG KHI SỐNG LÀ THI.

Một người ngồi một giờ nhưng ai chạm cũng sân cả ngày thì định chưa xuyên sâu vào đời sống. Một người ngồi ít hơn nhưng biết giữ thân, giữ lời, giữ tâm, biết dừng trước phản ứng, biết trở về, thì lực ấy đã bắt đầu đi vào cuộc đời. Không phải phủ nhận thiền. Mà là đưa thiền ra khỏi bồ đoàn.

XV. ĐỊNH LỰC ĐƯỢC XÂY BẰNG CẢ MỘT ĐỜI SỐNG

Một câu nói thật là một viên gạch. Một lần giữ lời là một viên gạch. Một việc thiện là một viên gạch. Một lần giữ giới khi có cơ hội phạm là một viên gạch. Một lần không đáp trả sân bằng sân là một viên gạch. Một lần quay về câu Phật hiệu là một viên gạch. Một lần buông được cái tôi là một viên gạch.

Ngày này qua ngày khác, những viên gạch nhỏ kết lại. Đến một ngày người khác nhìn thấy một người có sức đứng. Nhưng cái lực đó không tự nhiên có. Nó là kết quả của hàng ngàn lần sống đúng. Vì vậy:

ĐỊNH LỰC KHÔNG ĐƯỢC TẠO TRONG MỘT GIỜ NGỒI THIỀN.

ĐỊNH LỰC ĐƯỢC TẠO BẰNG CẢ MỘT ĐỜI SỐNG NHẤT QUÁN.

XVI. BỐN CÔNG THỨC KHÓA VÀO NHAU

CÔNG THỨC PHẬT:

THẤY → TỈNH → BUÔNG → SÁNG.

CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC:

THẬT → TÍN → THIỆN → GIỚI → ĐỊNH → TUỆ → LỰC.

CÔNG THỨC BUÔNG:

NHẬN → SOI → THẤY → KHÔNG DÍNH → KHÔNG CHẤP → BUÔNG → AN.

CÔNG THỨC TAM TẠNG:

BỎ ÁC → LÀM LÀNH → LÀM SẠCH TÂM.

Bốn công thức hợp lại thành một con đường: THẬT

↓

TÍN

↓

THIỆN

↓

GIỚI

↓

ÍT HỐI – TÂM NHẸ

↓

ĐỊNH

↓

TUỆ

↓

THẤY

↓

TỈNH

↓

KHÔNG DÍNH

↓

KHÔNG CHẤP

↓

BUÔNG

↓

AN

↓

SÁNG

↓

ĐI VỀ HƯỚNG GIÁC NGỘ.

XVII. CÂU KẾT CỦA CHƯƠNG

Định lực không phải làm cho cuộc đời đứng yên. Định lực là dù cuộc đời thay đổi, tâm mình vẫn biết đường trở về. Người đổi – biết trở về. Duyên đổi – biết trở về. Tiền bạc đổi – biết trở về. Chỗ ở đổi – biết trở về. Thân thể đổi – biết trở về. Tâm chao – biết trở về. Trở về giới.

Trở về điều thiện. Trở về câu Phật hiệu. Trở về hơi thở. Trở về cái thấy. Trở về sự thật. Trở về đại nguyện. Đó là định lực.

CHƯƠNG 3
BUÔNG – NHẬN, SOI, THẤY, KHÔNG DÍNH, KHÔNG CHẤP, BUÔNG, AN

Buông là một chữ ai cũng có thể nói. Người đang đau, người ta nói: “Buông đi.” Người bị phụ lòng, người ta nói: “Quên đi.” Người mất một mối quan hệ, người ta nói: “Hết duyên rồi.” Người bị xúc phạm, người ta nói: “Đừng chấp.” Những lời ấy có thể đúng, nhưng người đang đau vẫn sẽ hỏi:

“Buông bằng cách nào?” Buông không phải là một mệnh lệnh. Buông là một tiến trình của trí tuệ.

CÔNG THỨC BUÔNG:

NHẬN → SOI → THẤY → KHÔNG DÍNH → KHÔNG CHẤP → BUÔNG → AN.

I. NHẬN

Đang buồn thì nhận mình đang buồn. Đang giận thì nhận mình đang giận. Đang ghen thì nhận mình đang ghen. Đang tiếc thì nhận mình đang tiếc. Đang tự ái thì nhận mình đang tự ái. Đang muốn một người quay lại thì nhận rằng tâm mình vẫn còn muốn. Không cần giả vờ thanh tịnh.

Người tu chỉ chuyển hóa được những gì mình chịu nhìn. Nhận không phải kết tội mình. Nhận chỉ là thành thật: “À, tâm tôi đang như vậy.” Cái thấy đó đã là ánh sáng đầu tiên.

II. SOI

Soi là đi sâu hơn bề mặt. Một món đồ có thể không chỉ là món đồ. Nó có thể chứa ký ức. Một căn nhà có thể không chỉ là căn nhà. Nó có thể chứa cảm giác mình từng thuộc về. Một người có thể không chỉ là một người. Họ có thể đại diện cho cảm giác được yêu, được cần, được công nhận.

Vì vậy phải hỏi: “Tôi thật sự đang đau vì điều gì?” “Tôi đang nắm cái gì?” “Tôi đang đòi điều gì ở người kia?” “Tôi đang đòi điều gì ở quá khứ?” “Tôi đang muốn điều gì phải khác đi?” Soi khác nghĩ quẩn. Nghĩ quẩn là lặp lại: “Ai đúng?” “Ai sai?” “Tại sao họ làm vậy?” “Nếu ngày đó…” “Giá như…” Soi là quay lại chính tâm mình và tìm cái gốc của sự dính mắc.

III. THẤY

Thấy là nhìn sự việc đúng như nó đang là. Người đã đổi – thấy người đã đổi. Duyên đã hết – thấy duyên đã hết. Vật đã cho – thấy vật đã cho. Lời đã nói – thấy lời đã qua. Cái gì không còn thuộc quyền mình – thấy nó không còn thuộc quyền mình. Con người không chỉ khổ vì việc xảy ra.

Con người còn khổ vì không chịu cho việc đã xảy ra được là việc đã xảy ra. Người ta đã đi nhưng mình vẫn muốn họ đừng đi. Người ta đã đổi nhưng mình vẫn muốn họ trở về như cũ. Quá khứ đã qua nhưng mình vẫn muốn viết lại. Thấy không phải đồng ý với cái sai. Thấy là không phủ nhận sự thật.

Các pháp vô thường. Một cảm xúc vô thường. Một mối quan hệ vô thường. Một danh phận vô thường. Một lời khen vô thường. Một lời chê vô thường. Một thân thể vô thường. Thấy vô thường không phải để bi quan. Thấy vô thường để bớt đòi cái vô thường phải đứng yên. Câu nhớ:

KHỔ TĂNG LÊN KHI TA BẮT CÁI VÔ THƯỜNG PHẢI ĐỨNG YÊN.

IV. KHÔNG DÍNH

Không dính không có nghĩa là không thấy, không nghe, không biết. Mắt vẫn thấy. Tai vẫn nghe. Tâm vẫn nhận biết. Nhưng không để cái thấy, cái nghe kéo mình thành một chuỗi suy diễn. Trong Kinh Bāhiya – Kinh Phật Tự Thuyết, Udāna 1.10, Đức Phật dạy theo tinh thần: Trong cái được thấy chỉ là cái được thấy.

Trong cái được nghe chỉ là cái được nghe. Trong cái được cảm nhận chỉ là cái được cảm nhận. Trong cái được nhận thức chỉ là cái được nhận thức. Một người nói: “Bạn nói nhiều quá.” Cái được nghe chỉ là một câu nói. Nhưng tâm có thể thêm: “Họ coi thường tôi.” “Họ ghét tôi.”

“Chắc ai cũng nghĩ như vậy.” “Tôi chẳng có giá trị.” Một câu trở thành mười câu. Đó là dính. Không dính là nghe rồi nhìn lại: “Nếu lời này có phần đúng, tôi sửa.” “Nếu không đúng, tôi để nó là lời của người khác.” Không dính là không cộng thêm cái tôi vào dữ kiện.

V. KHÔNG CHẤP

Không chấp sâu hơn không dính. Không dính là không chạy theo. Không chấp là không nắm và không đồng hóa. Trong Kinh Vô Ngã Tướng – Tương Ưng Bộ 22.59, Đức Phật hướng dẫn quán năm uẩn: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.”

Cái khổ thường mạnh lên cùng ba chữ: “Của tôi.” Người của tôi. Nhà của tôi. Ý kiến của tôi. Danh dự của tôi. Công lao của tôi. Chùa của tôi. Phải theo ý tôi. Không chấp không có nghĩa bỏ trách nhiệm. Mình vẫn chăm sóc việc thuộc phần mình. Nhưng không bắt sự vật và con người phải thuộc quyền sở hữu của tâm mình mãi mãi.

Câu nhớ:

BUÔNG KHÔNG PHẢI BỎ TRÁCH NHIỆM.

BUÔNG LÀ BỎ QUYỀN SỞ HỮU TRONG TÂM.

VI. BUÔNG

Buông không phải là nói: “Kệ.” “Kệ” có khi là giận. “Kệ” có khi là bất lực. “Kệ” có khi chỉ là đè cảm xúc xuống. Buông thật là: “Tôi biết chuyện này đã từng quan trọng, nhưng tôi không tiếp tục mang nó.” Người cũ vẫn có thể nằm trong ký ức. Nhưng không còn điều khiển hiện tại.

Lời xúc phạm vẫn được nhớ. Nhưng không còn phải nhắc lại. Một căn nhà từng gắn bó vẫn tồn tại. Nhưng tâm không còn sống trong căn nhà đó. Buông không xóa trí nhớ. Buông xóa sự ràng buộc của trí nhớ. Dấu hiệu buông không phải là quên. Dấu hiệu buông là:

NHỚ MÀ TÂM KHÔNG CÒN BỊ ĐIỀU KHIỂN.

VII. AN

An không phải thứ có thể ép tâm phải có. An là kết quả của bớt nắm. Muốn an nhưng vẫn bắt người khác phải theo ý mình thì khó an. Muốn an nhưng quá khứ phải được sửa lại thì khó an. Muốn an nhưng ai cũng phải hiểu mình thì khó an. Muốn an nhưng danh tiếng không được chạm thì khó an.

An tới khi tâm bớt đòi. Vì vậy:

NHẬN → SOI → THẤY → KHÔNG DÍNH → KHÔNG CHẤP → BUÔNG → AN.

VIII. BUÔNG KHÔNG PHẢI CHỈ MỘT LẦN

Có những chuyện phải buông nhiều lần. Sáng buông được. Chiều nhớ lại. Lại buông. Tối nghĩ lại. Lại buông. Ngày mai gặp hình ảnh cũ. Lại buông. Điều đó không có nghĩa mình thất bại. Nó chỉ có nghĩa dấu ấn cũ còn mạnh. Mỗi lần tâm quay về lối cũ, mình lại đưa nó trở về. Đó chính là định lực.

Không có định lực thì buông khó bền. Có định lực thì: Thấy sớm hơn. Dính nhẹ hơn. Buông nhanh hơn. Trở về sớm hơn.

IX. BỐN THƯỚC ĐO CỦA BUÔNG

1. Thời gian khổ có ngắn hơn không?

2. Mức độ khổ có nhẹ hơn không?

3. Mình có nhận ra sớm hơn không?

4. Mình có trở về nhanh hơn không?

Ngày trước một chuyện làm khổ ba tháng. Bây giờ ba tuần. Sau này ba ngày. Rồi ba giờ. Đó là tiến bộ. Đừng chỉ hỏi: “Tại sao tôi vẫn còn buồn?” Hãy hỏi: “Nỗi buồn có ngắn hơn, nhẹ hơn và ít điều khiển mình hơn không?”

X. BẢY THỨ KHÓ BUÔNG

1. KHÓ BUÔNG NGƯỜI

Mình không chỉ nắm người. Mình có thể nắm cảm giác được yêu. Nắm vai trò. Nắm ký ức. Nắm hy vọng. Nắm tương lai từng tưởng tượng. Vì vậy muốn buông một người phải hỏi: “Tôi thật sự đang nắm điều gì?”

2. KHÓ BUÔNG VẬT

Một món đồ có thể chứa ký ức. Một căn nhà có thể chứa cả một đoạn đời. Khi vật đã cho, quyền sở hữu đã sang người nhận. Nhưng thiện tâm lúc mình cho không mất. Có thể tự nhắc: “Vật đã cho là của người nhận. Thiện tâm ngày tôi cho vẫn là phần thiện tôi đã gieo.”

3. KHÓ BUÔNG CÔNG LAO

Mình không đòi lại vật. Nhưng muốn người khác nhớ: “Ngày xưa tôi đã giúp anh.” Đó cũng là một loại nắm. Làm thiện sâu hơn là làm xong rồi tập khép việc. Không dùng việc thiện cũ để mua lòng biết ơn tương lai.

4. KHÓ BUÔNG DANH DỰ

Một lời chê đôi khi làm đau hơn mất tiền. Vì nó chạm hình ảnh mình có về chính mình. Khi bị chê, hãy hỏi: “Có phần nào đúng để sửa không?” Nếu đúng, sửa. Nếu không đúng, để nó thuộc về người nói. Danh dự thật nằm trong cách mình sống, không nằm hoàn toàn trong miệng người khác.

5. KHÓ BUÔNG CÁI ĐÚNG

Có khi mình đúng thật. Nhưng không phải lúc nào cũng cần thắng. Có lúc người khác không hiểu cũng được. Buông nhu cầu phải được công nhận đúng là một dạng tự do.

6. KHÓ BUÔNG TƯƠNG LAI

Mình thường tự vẽ một kịch bản: Người này sẽ ở mãi. Ngôi chùa sẽ phát triển thế này. Đệ tử sẽ thế kia. Cuộc sống sẽ theo hướng nọ. Khi đời đi khác kịch bản, mình đau. Buông tương lai là làm hết phần hiện tại nhưng không ép kết quả phải đúng với tưởng tượng.

7. KHÓ BUÔNG HÌNH ẢNH CŨ CỦA CHÍNH MÌNH

“Tôi từng giàu.” “Tôi từng được kính trọng.” “Tôi từng có rất nhiều.” Nếu luôn lấy con người cũ để đo con người hiện tại, mình sẽ khổ. Buông sâu là không bắt bản thân hôm nay phải tiếp tục giống phiên bản của ngày xưa.

XI. BUÔNG VÀ TỪ BI

Buông không làm mình lạnh. Khi bớt sở hữu, mình có thể thương tự do hơn. Thương một người mà không bắt họ phải thuộc về mình. Giúp một người mà không bắt họ phải biết ơn. Dạy một đệ tử mà không bắt họ phải ở mãi. Làm Phật sự mà không bắt công trình phải thuộc danh của mình.

Từ bi sâu có thể nói: “Tôi mong người được tốt, kể cả khi con đường tốt của người không đi qua tôi.”

XII. BUÔNG VÀ TRÁCH NHIỆM

Buông không phải buông xuôi. Không phải nợ không trả. Không phải việc không làm. Không phải lấy vô thường làm lý do để bỏ bổn phận. Buông đúng là:

BIẾT PHẦN MÌNH → LÀM HẾT LÒNG → KHÔNG ÉP KẾT QUẢ → CHẤP NHẬN DUYÊN → AN.

Chăm người bệnh thì chăm hết lòng. Nhưng không thể bắt thân họ không vô thường. Làm chùa thì làm hết sức. Nhưng không thể bắt mọi duyên đều thuận. Dạy người thì chỉ hết lòng. Nhưng không thể bắt họ phải trở thành đúng hình ảnh mình muốn. Câu nhớ: LÀM HẾT PHẦN MÌNH.

BUÔNG PHẦN KHÔNG THUỘC QUYỀN MÌNH.

XIII. BUÔNG KHI BỊ TỔN THƯƠNG

Công thức:

DỪNG → THỞ → NHẬN CẢM XÚC → KHÔNG PHẢN ỨNG NGAY → SOI GỐC → CHỌN LỜI THIỆN → BUÔNG PHẦN CÒN LẠI.

Khi sân mạnh, lời thường chạy trước trí. Một khoảng dừng cho trí tuệ có chỗ đi vào. Câu nhớ:

NỬA GIÂY TỈNH CÓ THỂ CỨU MỘT NGÀY HỐI HẬN.

XIV. BUÔNG TRONG NIỆM PHẬT

Khi vọng niệm khởi:

VỌNG KHỞI → BIẾT → KHÔNG THEO → BUÔNG → TRỞ VỀ PHẬT HIỆU.

Không cần ghét vọng. Ghét vọng lại sinh thêm một vọng. Chỉ cần biết: “Tâm đã đi.” Rồi trở về:

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.

Lại đi. Lại trở về. Mỗi lần trở về là một lần huân tập định lực.

XV. BUÔNG TRƯỚC TÁM NGỌN GIÓ

Được – mất. Danh thơm – tiếng xấu. Khen – chê. Vui – khổ. Các pháp thế gian vẫn tới. Tu không phải làm cho tám ngọn gió ngừng thổi. Tu là mọc rễ. Rễ là: Giới. Định. Tuệ. Chánh kiến. Đại nguyện. Câu Phật hiệu. Có rễ rồi, gió vẫn thổi nhưng tâm không bay theo. Câu nhớ:

TU KHÔNG PHẢI XIN ĐỜI HẾT GIÓ.

TU LÀ MỌC RỄ.

XVI. BUÔNG KHÔNG ĐỒNG NGHĨA PHẢI THA THỨ NGAY

Có những tổn thương cần thời gian. Không cần ép mình: “Tôi phải tha thứ ngay.” Có thể bắt đầu bằng: Không trả thù. Không tiếp tục làm hại. Tạo khoảng cách an toàn. Chăm sóc tâm. Nhìn sự việc. Khi trí tuệ và lòng từ đủ chín, tha thứ có thể đến. Tha thứ cũng không có nghĩa phải quay lại mối quan hệ cũ.

Có thể không hận mà vẫn nói: “Duyên này không phù hợp.”

XVII. BUÔNG VÀ TỰ TRỌNG

Không chấp không có nghĩa để người khác muốn làm gì cũng được. Người tu vẫn cần ranh giới. Ai xúc phạm liên tục, mình có thể rời. Ai lợi dụng, mình có thể từ chối. Ai phá nề nếp, mình có thể ngăn. Không sân vẫn có thể nói “không”. Từ bi không đồng nghĩa yếu đuối. Câu nhớ:

KHÔNG CHẤP NGƯỜI KHÔNG CÓ NGHĨA KHÔNG ĐẶT GIỚI HẠN VỚI HÀNH VI.

XVIII. BUÔNG VÀ TRI TÚC

Nhiều sự không buông được bắt đầu từ một chữ: “Chưa đủ.” Thêm tiền. Thêm danh. Thêm sự công nhận. Thêm người thương. Thêm người theo dõi. Thêm tài sản. Không có điểm dừng thì tâm không nghỉ. Tri túc là biết đâu là đủ cho mục đích đúng. Không phải nghèo mới tri túc. Người giàu vẫn có thể tri túc.

Người nghèo vẫn có thể tham. Tri túc là trạng thái tâm biết dùng, biết dừng và biết phân biệt nhu cầu với tham muốn.

XIX. BẢY CÂU HỎI TRƯỚC KHI BUÔNG

1. Tôi đang đau vì chuyện gì?

2. Tôi thật sự đang nắm cái gì?

3. Cái đó còn thuộc quyền tôi không?

4. Tôi có đang đòi quá khứ phải khác đi không?

5. Phần trách nhiệm của tôi là gì?

6. Phần nào thuộc về người khác hoặc thuộc về nhân duyên?

7. Nếu tôi không nắm nữa, tôi thật sự mất điều gì?

XX. BÀI QUÁN NGẮN

Hít vào: “Tôi biết tâm đang nặng.” Thở ra: “Tôi không cần giải quyết tất cả ngay.” Hít vào: “Tôi thấy điều mình đang nắm.” Thở ra: “Tôi cho phép mình nới lỏng.” Hít vào: “Cái gì thuộc phần tôi, tôi làm.” Thở ra: “Cái gì không thuộc phần tôi, tôi trả về nhân duyên.” Đây là bài thực hành được hệ thống để dễ áp dụng, không phải nguyên văn kinh.

XXI. BUÔNG LÀ TỰ DO NỘI TÂM

Buông không phải thua người khác. Buông là không để người khác tiếp tục điều khiển tâm mình. Buông không làm quá khứ biến mất. Buông làm quá khứ mất quyền quản hiện tại. Buông không làm người đã làm mình đau trở thành người tốt. Buông làm mình không tiếp tục chịu khổ vì hành vi cũ của họ.

Buông không làm cuộc đời hoàn hảo. Buông làm tâm có khoảng rộng để sống tiếp.

CÔNG THỨC CHỐT:

NHẬN → SOI → THẤY → KHÔNG DÍNH → KHÔNG CHẤP → BUÔNG → AN.

CÂU KẾT:

Buông không phải quên. Buông là nhớ nhưng không còn bị kéo. Buông không phải bỏ người. Buông là bỏ cái nắm. Buông không phải bỏ trách nhiệm. Buông là làm trọn phần mình rồi trả phần còn lại về cho nhân duyên. Buông không phải làm cho đời hết đổi thay. Buông là khi đời đổi thay, tâm mình vẫn còn đường trở về.

CHƯƠNG 4
CÔNG THỨC PHẬT – THẤY, TỈNH, BUÔNG, SÁNG

Phật – Buddha – nghĩa là bậc giác ngộ, bậc tỉnh thức. Nếu đem chữ Phật trở về với đời sống thực hành, có thể ghi nhớ bằng công thức:

PHẬT = THẤY → TỈNH → BUÔNG → SÁNG.

Đây là công thức thực hành được hệ thống hóa để dễ nhớ, không phải một bài kệ nguyên văn của Đức Phật.

I. THẤY – CỬA ĐẦU TIÊN CỦA SỰ TU TẬP

Muốn đi về phía giác ngộ, trước tiên phải thấy được chính mình. Con người nhìn người khác rất dễ. Người khác tham, mình thấy. Người khác sân, mình thấy. Người khác chấp, mình thấy. Nhưng tới chính mình thì khó. Mình sân nhưng nói: “Tôi chỉ đang bảo vệ điều đúng.” Mình tham nhưng nói:

“Tôi chỉ đang cố gắng.” Mình tự ái nhưng nói: “Tôi đang giữ phẩm giá.” Mình muốn được công nhận nhưng nói: “Tôi chỉ muốn người ta hiểu.” Mình dính một người nhưng nói: “Tôi chỉ thương.” Cho nên người tu phải học cách quay cái đèn từ ngoài vào trong. Có tham thì thấy tham.

Có sân thì thấy sân. Có si thì thấy si. Có lòng tốt thì thấy lòng tốt. Có động cơ pha trộn thì thấy động cơ pha trộn. Thấy không phải để kết tội mình. Thấy để hiểu mình và sửa mình. Câu nhớ:

PHẬT PHÁP BẮT ĐẦU KHÔNG PHẢI TỪ CHỖ THẤY NGƯỜI KHÁC SAI, MÀ TỪ CHỖ THẤY ĐƯỢC CHÍNH CÁI TÂM MÌNH ĐANG LÀM GÌ.

II. THẤY CHƯA ĐỦ – PHẢI TỈNH

Có người biết mình đang sân nhưng vẫn sân tiếp. Biết mình đang chấp nhưng vẫn cố chấp. Biết mình đang tham nhưng vẫn lao theo. Đó là thấy mà chưa tỉnh. Tỉnh là khi mình không để cái thấy trôi qua vô ích. Người ta nói một câu khó nghe. Tâm nổi. Tỉnh là: Biết. Dừng. Không phản ứng ngay.

Không gửi tin nhắn ngay. Không quyết định ngay. Không trả đũa ngay. Tỉnh tạo ra một khoảng giữa kích thích và phản ứng. Trong khoảng ấy, mình có quyền lựa chọn. Công thức phụ:

KÍCH THÍCH → BIẾT → DỪNG → CHỌN.

Người có tỉnh không phải lúc nào cũng im lặng. Có khi trả lời. Có khi im. Có khi rời đi. Có khi đặt giới hạn. Tỉnh là không để phản ứng cũ chọn thay mình.

III. TỈNH VÀ BUÔNG KHÁC NHAU

Tỉnh là không bị kéo ngay. Buông là không mang theo lâu. Một người xúc phạm mình. Mình tỉnh nên không đáp trả lúc đó. Nhưng về nhà vẫn nghĩ ba ngày. Vậy là có tỉnh lúc đầu nhưng chưa buông sau đó. Buông là: Biết chuyện đã xảy ra. Không phủ nhận. Nhưng không tiếp tục mang.

Một chuyện có thể chỉ kéo dài ba phút. Nhưng tâm có thể mang ba năm. Khi đó cái làm mình khổ không còn là ba phút ban đầu. Mà là ba năm mình tiếp tục giữ.

IV. BUÔNG LÀ DẤU HIỆU CÁI THẤY ĐÃ ĐI VÀO TÂM

Biết vô thường mà vẫn bắt mọi thứ đứng yên thì cái biết chưa đi vào đời sống. Biết không nên chấp mà vẫn giữ rất chặt thì cái biết chưa giải thoát. Tuệ thật phải làm yếu sự nắm giữ. Câu nhớ:

BIẾT NHIỀU CHƯA CHẮC SÁNG.

BUÔNG ĐƯỢC MỚI CHO THẤY CÁI BIẾT ĐÃ BẮT ĐẦU ĐI VÀO TÂM.

V. SÁNG LÀ GÌ?

Sáng không phải hào quang. Không nhất thiết là cảnh giới đặc biệt. Sáng là khi trí tuệ bớt bị tham, sân, si che lấp. Một việc ngày xưa nhìn bằng tự ái. Bây giờ nhìn bằng sự thật. Đó là sáng. Một lời chê ngày xưa làm mình suy sụp. Bây giờ nghe rồi hỏi: “Có gì đúng để sửa?”

Đó là sáng. Một món đồ ngày xưa nghĩ: “Của tôi.” Bây giờ thấy: “Đã cho thì thuộc về người nhận.” Đó là sáng. Một người thay đổi. Ngày xưa chỉ thấy họ làm mình đau. Bây giờ thấy cả nhân duyên, hoàn cảnh, giới hạn, phần mình và phần họ. Đó là sáng. Trí tuệ không nhất thiết là thấy nhiều hơn.

Trí tuệ là thấy đúng hơn. Câu nhớ:

TRÍ TUỆ KHÔNG ĐO BẰNG SỐ CHỮ MÌNH NHỚ.

TRÍ TUỆ ĐO BẰNG MỨC ĐỘ MÌNH THẤY ĐÚNG VÀ SỐNG ĐÚNG.

VI. PHẬT KHÔNG PHẢI MỘT CÁI TÔI MỚI

Người chưa tu có thể chấp: “Tôi giàu.” “Tôi giỏi.” “Tôi hơn người.” Người tu đôi khi lại chấp: “Tôi tu lâu.” “Tôi hiểu pháp.” “Tôi có định.” “Tôi có căn cơ.” Nếu vậy, cái tôi chỉ đổi áo. Ngày xưa mặc áo đời. Bây giờ mặc áo đạo. Đi về phía Phật không phải xây một cái tôi thánh thiện hơn.

Mà là thấy cái tôi đang nắm và bớt nắm. Làm Phật sự nhưng không được ghi nhận thì buồn. Đó là cái tôi trong Phật sự. Bố thí mà người nhận không cảm ơn thì giận. Đó là cái tôi trong bố thí. Giảng pháp mà ai góp ý thì tự ái. Đó là cái tôi trong việc giảng. Giữ giới rồi khinh người khác.

Đó là cái tôi trong giới. Pháp thiện nào cũng cần được soi bằng trí tuệ.

VII. PHÁP CÚ 183 VÀ CÔNG THỨC PHẬT

Kinh Pháp Cú, kệ 183:

“Không làm các điều ác, thành tựu các hạnh lành, giữ tâm ý trong sạch, đó là lời chư Phật dạy.” Đem vào thực hành:

BỎ ÁC → LÀM LÀNH → LÀM SẠCH TÂM → THẤY → TỈNH → BUÔNG → SÁNG.

Không làm ác để thân khẩu bớt tạo nghiệp bất thiện. Làm lành để nuôi nền thiện. Làm sạch tâm để tham, sân, si nhẹ dần. Từ đó mới có khả năng thấy rõ, tỉnh, buông và sáng.

VIII. GIỚI – ĐỊNH – TUỆ VÀ CÔNG THỨC PHẬT

Giới giúp tâm bớt hối hận và bớt tán loạn. Định giúp tâm đủ yên để thấy. Tuệ giúp thấy đúng. Thấy đúng giúp buông. Buông giúp tâm sáng. Có thể nhớ:

GIỚI → ĐỊNH → TUỆ → THẤY → BUÔNG → SÁNG.

IX. THẤY KHÔNG PHẢI CHỈ THẤY CÁI XẤU

Người tu không nên biến việc soi tâm thành tự ghét mình. Hôm nay sân ít hơn. Thấy. Hôm nay giữ được lời. Thấy. Hôm nay buông nhanh hơn. Thấy. Hôm nay vẫn còn chấp. Cũng thấy. Không tâng bốc. Không đè mình xuống. Chỉ thấy đúng. Câu nhớ:

THẤY MÌNH KHÔNG PHẢI ĐỂ GHÉT MÌNH.

THẤY MÌNH ĐỂ HIỂU MÌNH VÀ SỬA MÌNH.

X. BA CÂU HỎI ĐỂ SOI TÂM

1. Bây giờ tôi đang cảm thấy gì?

2. Bây giờ tôi đang muốn gì?

3. Bây giờ tôi đang nắm gì?

Ví dụ: “Tôi đang buồn.” “Tôi muốn người kia xin lỗi.” “Tôi đang nắm cái đúng của mình.” Hoặc: “Tôi đang sợ.” “Tôi muốn tương lai chắc chắn.” “Tôi đang nắm một kịch bản.” Ba câu hỏi đơn giản này giúp người mới nhìn được tâm.

XI. TỈNH TRONG LỜI NÓI

Trước khi nói, có thể hỏi: Lời này có đúng không? Có cần nói không? Có đúng lúc không? Cách nói này có làm tăng khổ không? Không phải điều đúng nào cũng cần nói ngay. Không phải điều cần nói nào cũng có thể nói bằng bất kỳ cách nào. Tỉnh là biết chọn nội dung, thời điểm và cách nói.

XII. TỈNH TRONG TIỀN BẠC

Có tiền thì soi tâm. Mua một thứ: “Cần hay muốn?” Giúp một người: “Giúp thật hay đang muốn được nhớ ơn?” Làm Phật sự: “Đây là việc cần hay có phần sĩ diện?” Không có tiền cũng soi: “Tôi đang thiếu thật hay đang so sánh?” Tỉnh trong tiền bạc không phải bỏ tiền. Tỉnh là tiền không dẫn tâm đi.

XIII. TỈNH TRONG TÌNH CẢM

Thương một người, hãy hỏi: “Thương hay sở hữu?” “Giúp hay kiểm soát?” “Quan tâm hay muốn họ sống theo ý mình?” “Cho hay đang mua sự biết ơn?” Một mối quan hệ có thể trở thành một đạo tràng rất lớn nếu mình biết soi tâm.

XIV. TỈNH TRONG PHẬT SỰ

Làm chùa. Làm sách. Giảng pháp. Livestream. Làm bất kỳ thiện sự nào cũng cần soi động cơ. Có thiện thì biết thiện. Có chút cầu danh thì biết cầu danh. Có hơn thua thì biết hơn thua. Không nhất thiết bỏ việc. Chỉ cần làm động cơ ngày càng sạch hơn.

XV. BUÔNG CẢ CÔNG LAO

Buông không chỉ là buông cái xấu. Đôi khi phải buông cả cái tốt mình đã làm. Làm thiện xong không giữ công. Giảng hay xong không giữ lời khen. Có người cảm ơn thì hoan hỷ rồi để qua. Có người chê thì xem lại rồi để qua. Nếu giữ cái tốt thành: “Tôi tốt.” thì cái tốt lại trở thành một chỗ cho cái tôi bám.

XVI. KHIÊM HẠ KHÔNG PHẢI TỰ HẠ THẤP

Khiêm hạ không có nghĩa nói mình dở trong khi mình có khả năng. Có khả năng thì biết mình có khả năng. Nhưng không dùng khả năng ấy để coi thường người khác. Một bài giảng hay có rất nhiều nhân duyên: Có kinh. Có thầy. Có người nghe. Có trải nghiệm. Có sức khỏe. Có phương tiện.

Có thời gian. Thấy nhiều duyên thì bớt cái tôi. Câu nhớ:

BIẾT MÌNH CÓ KHẢ NĂNG NHƯNG KHÔNG LẤY KHẢ NĂNG LÀM LÝ DO ĐỂ COI THƯỜNG NGƯỜI KHÁC.

XVII. SÁNG KHÔNG PHẢI LÚC NÀO CŨNG DỄ CHỊU

Có những sự thật rất đau. Thấy một mối quan hệ không còn phù hợp. Đau. Thấy một người không còn như mình tưởng. Đau. Thấy mình từng tự lừa mình. Đau. Thấy mình từng cho quá nhiều vì muốn được thương. Đau. Nhưng cái đau của thấy thật có thể dẫn đến tự do. Cái dễ chịu của tự lừa mình có thể kéo dài khổ.

Câu nhớ:

TRÍ TUỆ KHÔNG PHẢI LÚC NÀO CŨNG LÀM MÌNH VUI NGAY.

NHƯNG TRÍ TUỆ LÀM MÌNH BỚT SỐNG SAI.

XVIII. MỖI NGÀY MỘT CHÚT PHẬT

Đừng nghĩ hôm nay phải thành Phật ngay. Mỗi ngày chỉ cần:

1. Thấy một tâm bất thiện.

2. Dừng một phản ứng cũ.

3. Làm một việc thiện.

4. Buông một điều không cần nắm.

5. Trở về một lần với câu Phật hiệu hoặc hơi thở.

Ngày nào cũng làm. Đó là đi về hướng giác.

XIX. NIỆM PHẬT VÀ CÔNG THỨC PHẬT

Khi niệm:

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.

Vọng niệm khởi. THẤY vọng. TỈNH. Không theo. BUÔNG vọng. TRỞ VỀ Phật hiệu. Tâm SÁNG lại nơi câu niệm. Vì vậy công thức:

THẤY → TỈNH → BUÔNG → SÁNG

có thể được thực hành ngay trong pháp niệm Phật.

XX. CHỖ NÀO CÓ TÂM, CHỖ ĐÓ CÓ CHỖ TU

Đang nấu ăn. Có người nói một câu. Tâm nổi. Thấy. Tỉnh. Buông. Đó là tu. Đang livestream. Có người chê. Thấy. Tỉnh. Xem lại. Buông. Đó là tu. Đang làm Phật sự. Không được ghi nhận. Thấy tâm buồn. Tỉnh. Buông công. Đó là tu. Đạo tràng lớn nhất là chính cái tâm này.

XXI. ĐỪNG VỘI TÌM CẢNH GIỚI

Đừng chỉ hỏi: “Bao giờ tôi thấy ánh sáng?” “Bao giờ tôi có cảnh giới?” “Bao giờ tôi có cảm giác đặc biệt?” Hãy hỏi: “Tôi bớt tham chưa?” “Tôi bớt sân chưa?” “Tôi bớt si chưa?” “Tôi biết nhận lỗi hơn chưa?” “Tôi buông nhanh hơn chưa?” “Tôi thương người mà bớt sở hữu chưa?”

Đó là những dấu hiệu thực tế hơn. Câu nhớ:

ĐỪNG VỘI HỎI MÌNH THẤY CẢNH GÌ.

HÃY HỎI MÌNH BỚT THAM, BỚT SÂN, BỚT SI ĐƯỢC BAO NHIÊU.

XXII. PHẬT VÀ TÁM NGỌN GIÓ

Người ta khen. Thấy tâm vui. Tỉnh. Không phồng. Người ta chê. Thấy tâm khó chịu. Tỉnh. Không co. Có lợi. Thấy tham. Tỉnh. Không lao. Mất lợi. Thấy sợ. Tỉnh. Không loạn. Tám ngọn gió không cần ngừng. Tâm chỉ cần biết gió đang thổi.

XXIII. PHẬT VÀ ĐẠI NGUYỆN

Người có đại nguyện thì những chuyện nhỏ tự nhỏ đi. Nếu đại nguyện là hoằng dương Chánh pháp, giúp người biết tu, biết hành, biết buông, thì lời khen chê không còn chiếm hết tâm. Đại nguyện là cái trục. Cảnh là những thứ quay quanh trục. Mất trục thì cảnh kéo đi. Còn trục thì tâm có thể chao nhưng biết trở lại.

XXIV. BÀI THỰC HÀNH MỘT PHÚT

Khi có chuyện: THẤY: “Tâm tôi đang thế nào?” TỈNH: “Tôi chưa cần phản ứng ngay.” BUÔNG: “Phần nào không cần nắm, tôi thả xuống.” SÁNG: “Việc đúng nhất và thiện nhất lúc này là gì?”

XXV. BỐN CÂU HỎI TRƯỚC KHI HÀNH ĐỘNG

1. Tôi đang làm việc này từ tham, sân, sợ hay thiện tâm?

2. Việc này có làm tăng khổ cho mình hoặc người không?

3. Có cách nào thiện hơn không?

4. Sau khi làm, tâm mình sáng hơn hay nặng hơn?

XXVI. BỐN CÔNG THỨC KHÓA VÀO NHAU

CÔNG THỨC PHẬT:

THẤY → TỈNH → BUÔNG → SÁNG.

CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC:

THẬT → TÍN → THIỆN → GIỚI → ĐỊNH → TUỆ → LỰC.

CÔNG THỨC BUÔNG:

NHẬN → SOI → THẤY → KHÔNG DÍNH → KHÔNG CHẤP → BUÔNG → AN.

CÔNG THỨC TAM TẠNG:

BỎ ÁC → LÀM LÀNH → LÀM SẠCH TÂM.

TỔNG HỢP:

THẬT → TÍN → THIỆN → GIỚI → ĐỊNH → TUỆ → THẤY → TỈNH → KHÔNG DÍNH → KHÔNG CHẤP → BUÔNG → AN → SÁNG → ĐI VỀ HƯỚNG GIÁC NGỘ.

XXVII. CÂU KẾT

Phật không phải là một chữ để mình đặt thật xa. Phật là hướng tỉnh thức mà từng niệm của mình có thể quay về. Mỗi lần thấy được tâm, dừng được một phản ứng, buông được một chấp, làm được một việc thiện, tâm sáng thêm một chút. Không cần tự nhận mình cao. Chỉ cần hôm nay bớt mê hơn hôm qua.

Đường Phật không bắt đầu bằng chuyện mình cao tới đâu. Đường Phật bắt đầu bằng việc hôm nay mình bớt mê hơn hôm qua một chút.

CHƯƠNG 5
CÔNG THỨC TAM TẠNG – BỎ ÁC, LÀM LÀNH, LÀM SẠCH TÂM

Tam Tạng Kinh Điển rất rộng. Có kinh nói về giới. Có kinh nói về định. Có kinh nói về tuệ. Có kinh nói về nghiệp. Có kinh nói về vô thường, khổ, vô ngã. Có kinh nói về từ bi, bố thí, nhẫn nhục, tinh tấn. Có kinh nói về con đường giải thoát. Nhưng đối với người thực hành, nếu cần một nguyên tắc cực kỳ cô đọng để nhớ, có thể lấy Kinh Pháp Cú, kệ 183 làm một trục:

“Không làm các điều ác, thành tựu các hạnh lành, giữ tâm ý trong sạch, đó là lời chư Phật dạy.” Không nên hiểu rằng toàn bộ Tam Tạng chỉ có bốn câu này. Nên hiểu rằng Pháp Cú 183 cô đọng một nguyên tắc thực hành rất căn bản:

BỎ ÁC → LÀM LÀNH → LÀM SẠCH TÂM.

I. BỎ ÁC

Bỏ ác không chỉ là không làm những việc xấu lớn. Còn phải thấy những bất thiện rất nhỏ: Một câu nói làm người khác đau. Một ý muốn trả đũa. Một lần nói dối để bảo vệ cái tôi. Một lần vì ganh mà vui khi người khác thất bại. Một lần vì tự ái mà dùng lời cay độc. Người tu có trí không đợi bất thiện thành hành động lớn mới dừng.

Phải thấy ngay khi nó mới khởi trong tâm. Sân vừa khởi thì thấy sân. Nếu không thấy, sân thành suy nghĩ. Nuôi tiếp, sân thành lời. Nuôi nữa, sân thành hành động. Vì vậy bỏ ác bắt đầu bằng:

THẤY BẤT THIỆN KHI NÓ CÒN NHỎ.

II. BỎ ÁC NỐI VỚI CÔNG THỨC PHẬT

Tâm bất thiện khởi. THẤY. TỈNH. KHÔNG NUÔI. Đó là bỏ ác ngay từ gốc. Vì vậy:

THẤY → TỈNH

không chỉ là công thức giác. Nó còn là phương pháp ngăn bất thiện.

III. LÀM LÀNH KHÔNG CHỈ CẦN TIỀN

Một người không có nhiều vật chất vẫn có thể làm rất nhiều thiện. Một lời nói giúp người khác bớt tuyệt vọng là thiện. Nhịn một câu có thể gây đổ vỡ là thiện. Nhường người mệt một chỗ ngồi là thiện. Không truyền tiếp một chuyện xấu về người khác là thiện. Biết mình sai và xin lỗi là thiện.

Khuyên người quay về điều đúng là thiện. Lắng nghe một người khổ mà không phán xét là thiện. Giữ lời là thiện. Sống thật là thiện. Không lợi dụng người đang yếu thế là thiện. Vì vậy:

ĐỪNG CHỜ GIÀU MỚI LÀM PHƯỚC.

CÓ NHỮNG VIỆC THIỆN KHÔNG CẦN MỘT ĐỒNG TIỀN NÀO.

IV. LÀM LÀNH CHƯA PHẢI PHẦN CUỐI

Có người làm rất nhiều việc thiện nhưng tâm vẫn khổ. Vì làm xong còn giữ công. Cho rồi muốn người ta nhớ. Giúp rồi muốn người ta mang ơn. Làm Phật sự rồi muốn được ghi nhận. Giảng pháp rồi muốn được khen. Vì vậy Pháp Cú 183 không dừng ở làm lành. Còn bước sâu hơn:

GIỮ TÂM Ý TRONG SẠCH.

Bố thí nhưng bớt cầu danh. Giúp người nhưng bớt mong báo đáp. Giữ giới nhưng bớt khinh người chưa giữ. Học pháp nhưng bớt muốn hơn người. Tu nhưng bớt cái “tôi tu”. Đó là thanh lọc tâm. Câu nhớ:

BỎ ÁC LÀ SỬA HÀNH VI.

LÀM LÀNH LÀ XÂY ĐỜI SỐNG.

LÀM SẠCH TÂM LÀ SỬA TẬN GỐC CON NGƯỜI BÊN TRONG.

V. PHÁP CÚ 183 VÀ GIỚI – ĐỊNH – TUỆ

Có thể hệ thống theo hướng thực hành:

BỎ ÁC → GIỚI.

LÀM LÀNH → THIỆN NGHIỆP.

LÀM SẠCH TÂM → ĐỊNH – TUỆ.

Giới làm nền cho tâm bớt hối hận và bớt tán loạn. Định giúp tâm có khả năng đứng lại. Tuệ giúp nhìn đúng những gì đang làm tâm nhiễm.

VI. BỐN CÔNG THỨC LÀ MỘT HỆ THỐNG

CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC:

THẬT → TÍN → THIỆN → GIỚI → ĐỊNH → TUỆ → LỰC.

CÔNG THỨC PHẬT:

THẤY → TỈNH → BUÔNG → SÁNG.

CÔNG THỨC BUÔNG:

NHẬN → SOI → THẤY → KHÔNG DÍNH → KHÔNG CHẤP → BUÔNG → AN.

CÔNG THỨC TAM TẠNG:

BỎ ÁC → LÀM LÀNH → LÀM SẠCH TÂM.

Gộp lại: THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ THẤY

→ TỈNH

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN

→ SÁNG

→ ĐI VỀ HƯỚNG GIÁC NGỘ.

VII. MỘT VIỆC – BA CÁCH HÀNH PHÁP CÚ 183

Ví dụ có người nói nặng mình. BỎ ÁC: Không chửi lại. LÀM LÀNH: Nếu cần trả lời thì dùng lời có ích. LÀM SẠCH TÂM: Không nuôi sân sau đó. Một sự việc đã có đủ ba phần thực hành. Nếu không chửi lại nhưng về nhà giận ba tháng, mới làm được phần đầu. Nếu không chửi lại, nói lời hiền, nhưng trong lòng vẫn mong người kia gặp quả xấu, tâm vẫn chưa sạch.

Vì vậy phải tu từ hành vi vào tới tâm.

VIII. MỘT VÍ DỤ VỀ SỰ GIÚP ĐỠ

Có người cần giúp. Không lừa họ: BỎ ÁC. Giúp trong khả năng: LÀM LÀNH. Giúp xong không kể công: LÀM SẠCH TÂM.

IX. MỘT VÍ DỤ TRÊN LIVESTREAM

Có người khen. Không tự mãn: LÀM SẠCH TÂM. Tiếp tục nói điều hữu ích: LÀM LÀNH. Có người chê. Không trả lời bằng lời ác: BỎ ÁC. Nếu lời chê đúng thì sửa: LÀM LÀNH. Nếu lời chê sai thì không ôm giận: LÀM SẠCH TÂM.

X. BA CÂU HỎI DÙNG CHO MỌI HOÀN CẢNH

1. Có điều bất thiện nào cần dừng không?

2. Có điều thiện nào cần làm không?

3. Có cái nhiễm nào trong tâm cần làm sạch không?

Ba câu này có thể dùng cho chuyện gia đình, tiền bạc, tình cảm, con cái, Phật sự, công việc, lời khen, lời chê và mọi duyên trong đời sống.

XI. ĐỪNG ĐÓNG KHUNG CON NGƯỜI BẰNG CHỮ “ÁC”

Nên phân biệt: “Hành vi này bất thiện.” “Tâm này đang bị sân chi phối.” “Lời này đang gây hại.” Không nhất thiết đóng khung: “Con người này vĩnh viễn là người xấu.” Con người còn có khả năng thay đổi. Mình cũng vậy. Hôm nay sai. Ngày mai có thể sửa. Đó là lý do người tu vẫn phân biệt thiện – bất thiện nhưng không đóng cửa con đường chuyển hóa của người khác.

XII. LÀM LÀNH KHÔNG PHẢI LÀ LÀM NGƯỜI KHÁC VỪA LÒNG

Không phải điều gì làm người khác vui cũng là thiện. Bao che sai trái để người thân khỏi buồn chưa chắc là thiện. Cho người khác điều đang làm họ nghiện nặng hơn chưa chắc là thiện. Nói dối để được lòng người chưa chắc là thiện. Thiện phải có trí tuệ. Thiện đúng hướng phải làm:

bớt tham, bớt sân, bớt si, bớt gây hại, tăng hiểu biết, tăng lòng từ, tăng trách nhiệm, tăng khả năng tự chủ. Câu nhớ:

TỐT KHÔNG PHẢI CHỈ LÀ LÀM NGƯỜI KHÁC VỪA LÒNG.

TỐT LÀ LÀM ĐIỀU THỰC SỰ ĐƯA MÌNH VÀ NGƯỜI VỀ PHÍA THIỆN.

XIII. CÓ LÚC THIỆN LÀ GIÚP – CÓ LÚC THIỆN LÀ TỪ CHỐI

Thấy người khổ không có nghĩa phải gánh tất cả. Có lúc thiện là giúp tiền. Có lúc thiện là chỉ phương pháp. Có lúc thiện là để người khác tự chịu trách nhiệm. Có lúc thiện là nói “không”. Có lúc thiện là giữ khoảng cách. Có lúc thiện là không làm thay. Vì vậy từ bi phải đi cùng trí tuệ.

XIV. LÀM SẠCH TÂM LÀ MỘT TIẾN TRÌNH

Có thể nhớ:

NHIỄM KHỞI → BIẾT → KHÔNG NUÔI → CHUYỂN HÓA → TRỞ VỀ.

Sân khởi. Biết. Không nuôi. Trở về. Tham khởi. Biết. Không chạy theo. Trở về. Ghen khởi. Biết. Không biến thành hành vi gây hại. Trở về. Đó là làm sạch tâm.

XV. TU GIỐNG NHƯ QUÉT PHÒNG

Bụi vẫn có thể vào phòng. Không vì vậy mà bỏ quét. Tâm cũng vậy. Vọng niệm vẫn khởi. Không có nghĩa tu thất bại. Cái quan trọng là biết dọn. Câu nhớ:

TU KHÔNG PHẢI XÂY MỘT CĂN PHÒNG MÀ BỤI KHÔNG BAO GIỜ VÀO.

TU LÀ BIẾT BỤI VÀO THÌ QUÉT.

XVI. TU CÀNG SÂU CÀNG THẤY NHỮNG HẠT BỤI NHỎ

Ngày trước chỉ thấy cơn sân lớn. Sau này thấy cả một chút khó chịu. Ngày trước chỉ thấy lòng tham lớn. Sau này thấy một chút muốn được công nhận. Ngày trước chỉ thấy lời nói dối rõ ràng. Sau này thấy cả cách mình tô đẹp hình ảnh bản thân. Không phải tu càng lâu càng xấu.

Mà là ánh sáng mạnh hơn nên bụi nhỏ cũng nhìn thấy. Câu nhớ:

TU CÀNG SÂU KHÔNG PHẢI CÀNG THẤY MÌNH HOÀN HẢO.

NHIỀU KHI CÀNG THẤY NHỮNG HẠT BỤI TINH VI MÀ NGÀY TRƯỚC MÌNH KHÔNG NHÌN THẤY.

XVII. PHÁP CÚ 183 VÀ BÁT CHÁNH ĐẠO

Ba câu thực hành rất ngắn, nhưng muốn sống được trọn vẹn thì cả con đường phải đi vào. Chánh kiến giúp thấy đúng. Chánh tư duy giúp hướng tâm đúng. Chánh ngữ giúp lời nói đúng. Chánh nghiệp giúp hành động đúng. Chánh mạng giúp đời sống chân chính. Chánh tinh tấn giúp ngăn và bỏ bất thiện, sinh và nuôi thiện.

Chánh niệm giúp biết rõ thân tâm. Chánh định giúp tâm vững. Vì vậy:

PHÁP CÚ 183 RẤT NGẮN, NHƯNG SỐNG TRỌN NÓ LÀ CẢ MỘT CON ĐƯỜNG TU.

XVIII. CÔNG THỨC TINH TẤN

Tinh thần Tứ Chánh Cần có thể nhớ thật gần:

CÁI XẤU CHƯA TỚI → NGĂN.

CÁI XẤU ĐÃ TỚI → BỎ.

CÁI TỐT CHƯA CÓ → LÀM CHO SINH.

CÁI TỐT ĐÃ CÓ → NUÔI CHO LỚN.

Công thức: NGĂN ÁC CHƯA SINH

→ BỎ ÁC ĐÃ SINH

→ SINH THIỆN CHƯA CÓ

→ NUÔI LỚN THIỆN ĐÃ CÓ.

XIX. THẬT THÀ VÀ SỐNG TỐT

Có thể nói thật gần rằng cả đời người hãy tập:

THẬT THÀ + SỐNG TỐT.

Nhưng cần hiểu đúng. Thật không có nghĩa nghĩ gì nói hết bất kể người khác đau. Tốt không có nghĩa làm mọi người vừa lòng. Thật phải đi với từ bi. Tốt phải đi với trí tuệ. Vì vậy có thể nhớ thêm:

THẬT + THIỆN + TRÍ = ĐỜI SỐNG CÓ NỀN.

Thật để không giả. Thiện để không hại. Trí để không mù quáng.

XX. MỘT NGÀY THỰC HÀNH PHÁP CÚ 183

Buổi sáng có người làm mình khó chịu. Không nói lời ác: BỎ ÁC. Nói nhẹ hơn: LÀM LÀNH. Nhìn lại vì sao mình bị chạm: LÀM SẠCH TÂM. Buổi trưa gặp người cần giúp. Giúp trong khả năng: LÀM LÀNH. Giúp xong không kể công: LÀM SẠCH TÂM. Buổi chiều có người khen. Không kiêu: LÀM SẠCH TÂM.

Buổi tối nhớ chuyện cũ. Nhận. Soi. Không dính. Buông. LÀM SẠCH TÂM. Một ngày bình thường như vậy đã chứa rất nhiều sự tu tập.

XXI. NHẬT KÝ TU TẬP BA DÒNG

Mỗi tối có thể ghi:

1. Hôm nay tôi đã dừng được một điều bất thiện nào?

2. Hôm nay tôi đã làm được một điều thiện nào?

3. Hôm nay tôi đã nhìn thấy và làm nhẹ được một chấp niệm nào?

Chỉ ba dòng mỗi ngày. Một năm nhìn lại, ta có thể thấy tâm mình đã thay đổi thế nào.

XXII. LÀM THIỆN KHÔNG NÊN THÀNH GIAO DỊCH

Không nên chỉ nghĩ: “Tôi làm việc này để đổi lấy việc kia.” Làm thiện có thể có quả lành. Nhưng càng tu sâu, mình càng học cách làm thiện vì: ĐÓ LÀ ĐIỀU ĐÚNG. Tôi sống thật không chỉ để người khác tin tôi. Tôi sống thật vì không muốn tâm mình chia hai. Tôi làm thiện không chỉ để được phước.

Tôi làm thiện vì không muốn gieo thêm khổ.

XXIII. NGƯỜI TU VẪN CÓ THỂ SAI

Tu không có nghĩa từ ngày hôm nay không bao giờ mắc lỗi nữa. Điều quan trọng là: Sai có thấy không? Thấy có nhận không? Nhận có sửa không? Sửa rồi có lặp ít hơn không? Câu nhớ:

NGƯỜI TU KHÔNG PHẢI LÀ NGƯỜI CHƯA TỪNG SAI.

NGƯỜI TU LÀ NGƯỜI NGÀY CÀNG ÍT BẢO VỆ CÁI SAI CỦA MÌNH.

XXIV. LÀM SẠCH TÂM KHÔNG PHẢI GHÉT CHÍNH MÌNH

Sân khởi. Không cần ghét mình. Chỉ cần biết: “Có sân.” Không nuôi. Buông. Phật pháp dùng trí tuệ để thanh lọc tâm, không dùng sự thù ghét chính mình. Trung thực. Tinh tấn. Sửa. Rồi đi tiếp.

XXV. TAM NGHIỆP

Bỏ ác, làm lành và làm sạch tâm phải đi qua: THÂN – KHẨU – Ý. Thân không làm hại. Lời không làm hại. Tâm không nuôi hại. Có thể nhớ:

THÂN LÀNH + LỜI LÀNH + TÂM LÀNH = ĐỜI SỐNG LÀNH.

XXVI. ĐỪNG CHỈ NÓI PHÁP – HÃY SỐNG PHÁP

Không cần phải hoàn hảo mới được chia sẻ Phật pháp. Nhưng điều mình nói phải là điều mình đang thật sự thực hành. Có thể nói: “Cái này tôi cũng đang tập.” Đó là sự chân thật. Người giảng không nhất thiết đứng trên người nghe. Có thể cùng người nghe đi trên một con đường.

XXVII. TAM TẠNG PHẢI TRỞ THÀNH ĐỜI SỐNG

Tam Tạng không phải chỉ nằm trên kệ sách. Khi một niệm ác khởi mà mình biết dừng: Pháp đang sống. Khi có một việc thiện có thể làm mà mình làm: Pháp đang sống. Khi một chấp niệm được thấy rồi buông: Pháp đang sống. Học kinh để biết đường. Giữ giới để không đi sai. Làm thiện để nuôi đường.

Định để đứng vững. Tuệ để thấy rõ. Buông để nhẹ. Giác để sáng.

XXVIII. CÔNG THỨC CHỐT

TAM TẠNG KINH ĐIỂN – ĐƯA VÀO ĐỜI SỐNG:

BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

KẾT NỐI VỚI BỐN CÔNG THỨC:

THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ THẤY

→ TỈNH

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN

→ SÁNG

→ ĐI VỀ HƯỚNG GIÁC NGỘ.

CÂU KẾT:

Học Phật không phải để trong đầu có thêm thật nhiều chữ. Học Phật là để thân bớt làm điều gây khổ, miệng bớt nói điều gây khổ, tâm bớt nuôi điều gây khổ. Bỏ được một điều ác – Pháp đã đi vào đời. Làm được một điều lành – Pháp đã đi vào đời. Nhìn thấy một chấp niệm rồi buông được – Pháp đã đi vào tâm.

Đến cuối cùng, Tam Tạng phải từ trang kinh bước vào chính cách chúng ta sống từng ngày.

CHƯƠNG 6
THẬT THÀ VÀ SỐNG TỐT – NỀN CỦA MỘT ĐỜI TU

Có những lúc người ta học Phật rất nhiều rồi lại quên mất một điều rất đơn giản: Tu là để sống cho đúng hơn, thật hơn, lành hơn và sáng hơn. Có thể học rất nhiều danh từ: Vô thường. Vô ngã. Duyên sinh. Bát Chánh Đạo. Tam học. Tứ niệm xứ. Nhưng nếu trong đời sống vẫn dối, vẫn làm người khác tổn thương, vẫn hơn thua, vẫn không giữ lời, vẫn biết sai mà bảo vệ cái sai, thì kiến thức ấy chưa đi tới chỗ chuyển hóa.

Vì vậy có thể nói thật gần:

CẢ ĐỜI HÃY TẬP THẬT THÀ VÀ SỐNG TỐT.

Nhưng cần hiểu cho chuẩn:

THẬT THÀ KHÔNG ĐỦ NẾU KHÔNG CÓ TỪ BI.

SỐNG TỐT KHÔNG ĐỦ NẾU KHÔNG CÓ TRÍ TUỆ.

Vì vậy công thức đầy đủ hơn là:

THẬT + THIỆN + TRÍ.

Thật để không giả. Thiện để không hại. Trí để biết điều gì thật sự lợi ích.

I. THẬT THÀ KHÔNG CHỈ LÀ KHÔNG NÓI DỐI

Thật thà sâu hơn việc nói thật với người khác. Thật còn là:

DÁM NHÌN ĐÚNG TÂM MÌNH.

Đang giận – biết mình đang giận. Đang ghen – biết mình đang ghen. Đang muốn được công nhận – biết mình đang muốn được công nhận. Đang giúp người nhưng có phần muốn người ta nhớ ơn – biết. Không cần ghét mình. Chỉ cần biết thật. Người tu chỉ sửa được những gì mình chịu nhìn.

II. TỰ DỐI MÌNH LÀM TÂM YẾU

Có một loại dối rất khó thấy: TỰ DỐI CHÍNH MÌNH. Mình biết mình làm vì tự ái nhưng nói: “Tôi vì chính nghĩa.” Mình biết mình sợ mất quyền kiểm soát nhưng nói: “Tôi chỉ lo cho người khác.” Mình biết mình muốn được khen nhưng nói: “Tôi đâu cần ai công nhận.” Khi một phần tâm biết sự thật còn phần khác dựng câu chuyện khác, tâm bị chia.

Tâm bị chia thì năng lượng bị tán. Vì vậy:

TÂM CÀNG THẬT, NĂNG LƯỢNG CÀNG ÍT BỊ PHÂN TÁN.

III. THẬT THÀ KHÔNG CÓ NGHĨA NGHĨ GÌ NÓI HẾT

Có người nói: “Tôi thẳng tính, nghĩ gì nói nấy.” Nhưng lời nói làm người khác đau. Đó chưa chắc là Chánh ngữ. Lời nói thiện không chỉ cần đúng. Còn cần: Đúng lúc. Đúng cách. Có ích. Không làm tăng khổ một cách vô ích. Vì vậy có thể nhớ:

THẬT + ĐÚNG LÚC + ĐÚNG CÁCH = LỜI NÓI CÓ TRÍ.

Không phải điều gì đúng cũng cần nói ngay. Có cái đúng mà nói sai lúc thì thành hại.

IV. THẬT THÀ SINH CHỮ TÍN

Khi không tự lừa mình, mình bắt đầu xây sự nhất quán. Nói sẽ làm thì cố làm. Nói sẽ giữ thì cố giữ. Đã phát nguyện thì cố sống đúng với lời nguyện. Mỗi lần giữ được một lời với chính mình, tâm có thêm một chút lực. Vì vậy chữ tín không chỉ là: “Người khác tin mình.” Quan trọng hơn là:

“Mình có tin được chính lời mình không?” Muốn tâm có lực, trước hết phải làm cho chính mình tin được mình.

V. CHỮ TÍN KHÔNG PHẢI CỐ CHẤP

Có người nói: “Tôi đã nói rồi, nhất định không đổi.” Nhưng sau đó biết mình sai mà vẫn giữ. Đó không phải chữ tín. Đó là cố chấp. Chữ tín trong Chánh pháp là: GIỮ ĐIỀU ĐÚNG.

NẾU THẤY SAI THÌ ĐỦ THẬT ĐỂ SỬA.

Chữ tín phải đi cùng trí tuệ.

VI. SỐNG TỐT LÀ GÌ?

Sống tốt không chỉ là dễ tính. Không chỉ là hay cho. Không chỉ là không gây chuyện. Sống tốt theo hướng Chánh pháp phải làm: Bớt tham. Bớt sân. Bớt si. Bớt gây hại. Tăng từ. Tăng trí. Tăng trách nhiệm. Tăng khả năng tự chủ. Vì vậy:

TỐT KHÔNG PHẢI CHỈ LÀ LÀM NGƯỜI KHÁC VỪA LÒNG.

TỐT LÀ LÀM ĐIỀU THỰC SỰ ĐƯA MÌNH VÀ NGƯỜI VỀ PHÍA THIỆN.

VII. TỪ BI PHẢI ĐI CÙNG TRÍ TUỆ

Có lúc thiện là giúp. Có lúc thiện là từ chối. Có lúc thiện là để người khác tự chịu trách nhiệm. Có lúc thiện là nói “không”. Có lúc thiện là đặt giới hạn. Có lúc thiện là nói một lời khó nghe nhưng đúng. Có thể nhớ:

TỪ BI KHÔNG CÓ TRÍ DỄ THÀNH NUÔNG CHIỀU.

TRÍ KHÔNG CÓ TỪ DỄ THÀNH LẠNH.

TỪ VÀ TRÍ PHẢI ĐI CÙNG NHAU.

VIII. SỐNG TỐT PHẢI ĐI QUA THÂN – KHẨU – Ý

Sống tốt không chỉ là ý định. Phải nhìn cả tam nghiệp: THÂN: Hành động có gây hại không? KHẨU: Lời nói có làm tăng khổ không? Ý: Bên trong có đang nuôi tham, sân, hại không? Có thể nhớ:

THÂN LÀNH + LỜI LÀNH + TÂM LÀNH = ĐỜI SỐNG LÀNH.

IX. SỐNG THIỆN LÀ NỀN CỦA GIỚI

Khi thân, khẩu, ý được giữ, giới bắt đầu vững. Giới không chỉ là điều cấm. Giới là cơ chế bảo vệ tâm. Không sát hại: Bảo vệ lòng từ. Không lấy của không cho: Bảo vệ sự ngay thẳng. Không tà hạnh: Bảo vệ các mối quan hệ. Không nói dối: Bảo vệ sự thống nhất giữa tâm và lời.

Không say nghiện: Bảo vệ khả năng tỉnh thức. Vì vậy:

GIỚI KHÔNG CHỈ BẢO VỆ NGƯỜI KHÁC KHỎI MÌNH.

GIỚI CÒN BẢO VỆ TÂM MÌNH KHỎI HỐI HẬN.

X. GIỚI LÀM TÂM ÍT HỐI

Làm sai rồi che giấu, tâm bất an. Nói dối rồi phải giữ lời dối, tâm bất an. Làm hại người rồi sợ hậu quả, tâm bất an. Tâm bất an rất khó định. Ngược lại, người sống tương đối ngay thẳng, có sai thì nhận và sửa, tâm nhẹ hơn. Tâm nhẹ thì dễ an. An thì dễ định. Có thể nhớ:

GIỚI → ÍT HỐI → NHẸ → AN → ĐỊNH.

XI. GIỚI SINH ĐỊNH KHÔNG PHẢI CƠ CHẾ THẦN BÍ

Giữ giới không phải giữ xong rồi tự nhiên có phép lạ. Giới giúp tâm: Ít xung đột. Ít che giấu. Ít hối hận. Ít hậu quả kéo. Từ đó tâm có điều kiện đứng yên hơn. Muốn ngồi yên, trước hết phải sống bớt làm tâm mình bất an.

XII. ĐỊNH KHÔNG PHẢI ĐÍCH CUỐI

Định giúp tâm yên. Nhưng mục đích sâu hơn là thấy rõ. Định giống như nước lắng. Tuệ giống như nhìn thấy đáy. Không lắng thì khó thấy. Nhưng lắng mà không nhìn thì cũng chưa đủ. Có thể nhớ: GIỚI GIỮ TÂM. ĐỊNH GOM TÂM. TUỆ SOI TÂM.

XIII. THẬT THÀ LÀ MỘT CỬA CỦA TUỆ

Tuệ chỉ có thể làm việc khi mình chịu nhìn sự thật. Biết mình sai mà còn tìm cách biện hộ, tuệ khó vào. Dám nói: “Việc này tôi sai.” đã là một bước sáng. Nhận sai không phải yếu. Phải có lực mới dám nhìn thật. Có thể nhớ:

MỘT CHỮ “TÔI SAI” ĐÚNG LÚC CÓ THỂ LÀ MỘT BƯỚC ĐỊNH LỰC RẤT LỚN.

XIV. ĐẠO ĐỨC THẬT BẮT ĐẦU Ở NƠI KHÔNG CÓ KHÁN GIẢ

Nếu chỉ sống tốt khi người khác nhìn thì cái tốt còn phụ thuộc bên ngoài. Thiện sâu hơn là: Không ai nhìn vẫn giữ giới. Không ai biết vẫn không dối. Không ai khen vẫn làm đúng. Không ai ghi nhận vẫn không làm hại. Đó là nội lực. Câu nhớ:

ĐẠO ĐỨC THẬT BẮT ĐẦU Ở NƠI KHÔNG CÓ KHÁN GIẢ.

XV. THẬT THÀ KHÔNG CÓ NGHĨA PHẢI KỂ HẾT MỌI CHUYỆN RIÊNG

Không nói hết không đồng nghĩa nói dối. Có chuyện thuộc riêng tư. Có chuyện nói ra gây hại. Có chuyện chưa đúng thời. Chánh ngữ yêu cầu không dựng điều sai, không nhất thiết buộc mình phơi hết mọi chuyện.

XVI. SỐNG TỐT KHÔNG PHẢI SỐNG ĐỂ AI CŨNG THÍCH

Giữ giới có khi người khác không thích. Nói “không” với việc sai có khi người ta giận. Không cho thêm một điều có hại có khi bị trách. Vì vậy thiện không đo bằng: “Người khác có thích tôi không?” Mà bằng: “Việc này có đúng không?” “Có lợi ích thật không?” “Có làm bớt khổ không?”

Câu nhớ:

ĐỪNG LẤY SỰ VỪA LÒNG CỦA NGƯỜI KHÁC LÀM THƯỚC ĐO ĐẠO ĐỨC.

XVII. THẬT THÀ VÀ KHIÊM HẠ

Khiêm hạ không có nghĩa phủ nhận khả năng. Có khả năng thì biết mình có. Nhưng không lấy khả năng làm lý do để coi thường người khác. Có thể nói: “Tôi có duyên và khả năng ở phần này, nhưng còn rất nhiều điều phải học.” Đó vừa thật vừa khiêm. Khiêm hạ là biết khả năng mà không biến khả năng thành cái tôi.

XVIII. CÔNG THỨC THẬT – TỐT – TỈNH – BUÔNG

Có thể nhớ:

THẬT ĐỂ KHÔNG TỰ LỪA.

TỐT ĐỂ KHÔNG LÀM HẠI.

TỈNH ĐỂ KHÔNG BỊ KÉO.

BUÔNG ĐỂ KHÔNG MANG.

Công thức:

THẬT → TỐT → TỈNH → BUÔNG.

XIX. MỘT NGÀY SỐNG THẬT VÀ TỐT

Buổi sáng có người hỏi việc mình chưa biết. Không bịa: THẬT. Buổi trưa có người nhờ việc mình có thể và nên giúp. Giúp: THIỆN. Buổi chiều có người chạm tự ái. Thấy. Dừng: TỈNH. Buổi tối nhớ chuyện cũ. Không nhai lại. Buông: TU. Một ngày bình thường như vậy đã có cả một con đường thực hành.

XX. BỐN KIỂM TRA TRƯỚC KHI HÀNH ĐỘNG

1. Có thật không?

2. Có thiện không?

3. Có đúng cách không?

4. Làm xong tâm có nhẹ không?

Bốn câu hỏi này có thể dùng để soi nhiều quyết định trong đời sống.

XXI. SỐNG TỐT VỚI HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI

Thiện không chỉ nhìn cái vui ngay bây giờ. Còn phải nhìn hậu quả. Cho người khác điều họ muốn ngay chưa chắc tốt nếu làm họ phụ thuộc lâu dài. Nói một câu làm họ vui chưa chắc tốt nếu câu đó củng cố sai lầm. Vì vậy:

TỐT THẬT KHÔNG CHỈ CỨU CẢM GIÁC HÔM NAY.

TỐT THẬT CÒN NUÔI ĐIỀU LÀNH CHO NGÀY MAI.

XXII. THẬT THÀ VÀ NHÂN QUẢ

Mỗi lời nói. Mỗi hành động. Mỗi ý được nuôi đều tạo dấu. Thật thà là gieo nhân ngay thẳng. Làm thiện là gieo nhân thiện. Định lực không tự nhiên có. Định lực là kết quả của rất nhiều nhân nhỏ: Một lần giữ lời. Một lần không dối. Một lần không đáp trả bằng lời ác. Một lần không lấy điều không thuộc mình.

Một lần nhận lỗi. Một lần sửa lỗi. Những điều nhỏ lặp lại lâu ngày kết thành một khối lực.

XXIII. ĐỊNH LỰC LÀ KẾT QUẢ CỦA SỰ NHẤT QUÁN

Có thể nhớ:

NGHĨ ĐÚNG + NÓI ĐÚNG + LÀM ĐÚNG + GIỮ LÂU = NỘI LỰC.

Định lực không tự nhiên rơi xuống. Nó sinh từ sự nhất quán của đời sống.

XXIV. KHI GIỮ ĐIỀU ĐÚNG LÀM MÌNH BẤT LỢI

Nói thật khi có lợi thì dễ. Nói thật khi mất lợi thì khó. Nhận sai khi không mất mặt thì dễ. Nhận sai khi ảnh hưởng danh dự thì khó. Giữ giới khi không có cám dỗ thì dễ. Giữ giới khi một cơ hội lớn nằm trước mặt mới là thử thách. Có thể nhớ:

CHỮ TÍN CHỈ THẬT SỰ THÀNH LỰC KHI MÌNH VẪN GIỮ ĐIỀU ĐÚNG LÚC GIỮ ĐIỀU ĐÚNG LÀM MÌNH THIỆT.

XXV. LÀM THIỆN RỒI BUÔNG KẾT QUẢ

Giúp được thì giúp. Người nhớ ơn, hoan hỷ. Người quên, buông. Không biến việc thiện thành món nợ. Làm điều đúng rồi trả kết quả về nhân duyên. Đó là tự do.

XXVI. LÒNG TỐT PHẢI CÓ RANH GIỚI

Có người sống rất tốt nhưng thiếu ranh giới. Giúp quá mức. Làm thay quá nhiều. Nhận quá nhiều trách nhiệm. Rồi mệt. Rồi sinh sân. Vấn đề không phải vì tốt. Mà vì lòng tốt thiếu trí. Có thể nhớ:

LÒNG TỐT CÓ TRÍ THÌ BỀN.

LÒNG TỐT KHÔNG RANH GIỚI DỄ BIẾN THÀNH MỆT MỎI.

Một người thiện vẫn có thể nói: “Phần này tôi giúp.” “Phần này bạn tự làm.” “Việc này tôi đồng ý.” “Việc kia tôi không thể.”

XXVII. TỐT VỚI NGƯỜI CŨNG PHẢI TỐT VỚI CHÍNH MÌNH

Chăm sóc thân tâm vừa đủ không phải ích kỷ. Người đã cạn kiệt rất khó giúp người lâu dài. Biết nghỉ. Biết giữ sức. Biết từ chối trách nhiệm không thuộc phần mình. Đó cũng là thiện.

XXVIII. SÁM HỐI BẮT ĐẦU BẰNG THẬT

Nếu không nhận lỗi, sám hối dễ thành hình thức. Sám hối thật là: THẤY LỖI

→ NHẬN LỖI

→ DỪNG LỖI

→ SỬA LỖI

→ LÀM THIỆN THAY THẾ.

Công thức:

SÁM HỐI = THẤY + NHẬN + DỪNG + SỬA + LÀM LẠI.

Mỗi lần sửa được một lỗi, chữ tín với chính mình tăng lên.

XXIX. NGƯỜI TU KHÔNG CẦN TRÔNG HOÀN HẢO

Người tu không cần dựng một hình ảnh không lỗi. Có lỗi thì nhận. Có chấp thì thấy. Có yếu thì biết. Có khả năng thì cũng biết. Không tự tâng. Không tự dìm. Chỉ thấy thật. Đó là nền của trí tuệ.

XXX. CÔNG THỨC SỐNG TỐT THẬT

THẬT TRONG TÂM. THIỆN TRONG Ý. ĐÚNG TRONG LỜI.

LÀNH TRONG HÀNH ĐỘNG.

VỮNG TRONG GIỚI. YÊN TRONG ĐỊNH. SÁNG TRONG TUỆ.

XXXI. TỪ THẬT THÀ ĐẾN GIÁC NGỘ

Có thể nối con đường như sau: THẬT

→ KHÔNG TỰ LỪA

→ THẤY ĐÚNG HƠN

→ SỬA DỄ HƠN

→ HÀNH VI THIỆN HƠN

→ GIỚI VỮNG HƠN

→ TÂM ÍT HỐI

→ DỄ ĐỊNH

→ TUỆ DỄ SÁNG

→ THẤY CHẤP

→ BUÔNG

→ AN

→ SÁNG.

Không có gì huyền bí. Đó là sự chuyển hóa từng bước của đời sống.

XXXII. THẬT THÀ LÀ NỀN, KHÔNG PHẢI ĐÍCH CUỐI

Thật thà không tự động làm một người giác ngộ. Có người rất thật nhưng còn sân. Có người thật nhưng nói lời thô. Có người thật nhưng chưa có chánh kiến. Vì vậy câu chuẩn là:

THẬT THÀ LÀ NỀN CỦA SỰ NHẤT QUÁN.

SỐNG THIỆN LÀ NỀN CỦA GIỚI.

GIỚI LÀM NỀN CHO ĐỊNH.

ĐỊNH HỖ TRỢ TUỆ.

TUỆ GIÚP THẤY VÀ BUÔNG.

XXXIII. BỐN CÔNG THỨC KHÓA VÀO NHAU

CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC:

THẬT → TÍN → THIỆN → GIỚI → ĐỊNH → TUỆ → LỰC.

CÔNG THỨC PHẬT:

THẤY → TỈNH → BUÔNG → SÁNG.

CÔNG THỨC BUÔNG:

NHẬN → SOI → THẤY → KHÔNG DÍNH → KHÔNG CHẤP → BUÔNG → AN.

CÔNG THỨC TAM TẠNG:

BỎ ÁC → LÀM LÀNH → LÀM SẠCH TÂM.

Gộp lại: THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ THẤY

→ TỈNH

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN

→ SÁNG

→ ĐI VỀ HƯỚNG GIÁC NGỘ.

XXXIV. CÂU KẾT

Tu không bắt đầu từ việc làm cho mình trông giống một người tu. Tu bắt đầu từ việc sống thật, sống thiện và dám sửa chính mình. Thật để tâm không chia hai. Thiện để thân khẩu ý không gieo thêm khổ. Giới để giữ đường. Định để đứng vững. Tuệ để thấy rõ. Buông để nhẹ. Sáng để đi về giác.

Cuối cùng, một đời tu có thể được nhớ rất giản dị: SỐNG THẬT HƠN. SỐNG THIỆN HƠN. TỈNH HƠN. NHẸ HƠN.

XXI. SỨC MẠNH THẬT KHÔNG PHẢI KHỐNG CHẾ NGƯỜI KHÁC

Làm người khác nghe mình có thể là quyền lực. Nội lực là: Sân lên mà không bị sân sai khiến. Tham lên mà không bị tham sai khiến. Sợ lên mà vẫn giữ điều đúng. Cái khó nhất không phải thắng một người ở bên ngoài. Cái khó nhất là khi một niệm bất thiện nổi lên, mình vẫn không giao tay lái cho nó.

Đó mới là sức mạnh thật.

QUYỀN LỰC = CÓ KHẢ NĂNG TÁC ĐỘNG NGƯỜI KHÁC.

NỘI LỰC = CÓ KHẢ NĂNG LÀM CHỦ CHÍNH MÌNH.

Thắng được người khác là một loại sức mạnh. Không để tham, sân, si thắng mình mới là sức mạnh của người tu.

XXII. ĐỊNH LỰC KHÔNG PHẢI KHÔNG CÓ SÓNG

Người có định lực không phải người không bao giờ buồn, sân hay sợ. Có sóng là một chuyện. Bị sóng cuốn đi là chuyện khác. Định lực là: Tâm động nhưng biết tâm động. Buồn nhưng biết buồn. Sân nhưng biết sân. Sợ nhưng biết sợ. Biết rồi không để cảm xúc quyết định tất cả.

ĐỊNH LỰC KHÔNG PHẢI TÂM KHÔNG BAO GIỜ ĐỘNG.

ĐỊNH LỰC LÀ TÂM ĐỘNG RỒI BIẾT ĐƯỜNG TRỞ VỀ.

Thước đo của tiến bộ: Thấy sớm hơn. Dừng nhanh hơn. Gây hại ít hơn. Trở về nhanh hơn.

XXIII. ĐỊNH LỰC ĐƯỢC THỬ TRONG NGHỊCH DUYÊN

Lúc thuận thì dễ sống tốt. Nghịch duyên mới thử được sức tu. Bị vu oan mà không dựng chuyện đáp lại. Có món lợi lớn mà biết sai nên không lấy. Bị xúc phạm mà vẫn giữ lời nói không ác. Đó là lực. Đừng chỉ hỏi: “Tôi tu được bao nhiêu năm?” Hãy hỏi: “Khi nghịch duyên đến, cái tôi còn kéo tôi đi bao xa?”

XXIV. ĐỊNH LỰC VÀ CHỮ TÍN

Chữ tín làm cho tâm không đổi hướng tùy tiện. Điều đúng thì giữ. Điều sai thì dám sửa. Đã sửa thì không xấu hổ vì mình từng sai.

CHỮ TÍN + THỜI GIAN + NGHỊCH DUYÊN = PHÉP THỬ CỦA NỘI LỰC.

XXV. SỨC MẠNH CỦA NGƯỜI BIẾT NHẬN SAI

Dám nói: “Việc này tôi sai.” rồi sửa mà không sụp đổ là một loại nội lực. Người yếu thường phải bảo vệ hình ảnh mình đúng. Người có nội lực có thể nhìn thẳng vào cái sai mà vẫn đứng được.

XXVI. ĐỊNH LỰC VÀ SỰ IM LẶNG

Im không phải lúc nào cũng là định. Có người im nhưng trong lòng đang sân. Im có định là: Biết mình đang sân. Biết nói lúc này dễ gây hại. Chủ động dừng. Đợi tâm sáng hơn rồi mới nói.

IM LẶNG DO SỢ KHÁC IM LẶNG DO TRÍ.

XXVII. ĐỊNH LỰC VÀ LỜI NÓI

Một lời nói có lực nên có: THẬT. ĐÚNG. CẦN. ĐÚNG LÚC. LÀNH. Định lực tạo khoảng dừng để trí tuệ chọn lời.

XXVIII. ĐỊNH LỰC TRONG TÌNH CẢM

Vẫn thương nhưng còn mình. Vẫn quan tâm nhưng còn giới hạn. Vẫn cho nhưng không mua tình. Vẫn nhớ nhưng không mất đường. Vẫn đau nhưng không tự hủy. Đó là tình cảm có trí.

XXIX. ĐỊNH LỰC TRONG VẬT CHẤT

Có tiền không xấu. Không có tiền chưa chắc thanh cao. Câu hỏi là: Mình sử dụng vật chất hay vật chất sử dụng tâm mình?

ĐỊNH LỰC KHÔNG ĐO BẰNG MÌNH CÓ BAO NHIÊU.

NÓ ĐO BẰNG BAO NHIÊU THỨ CÓ THỂ TỚI MÀ KHÔNG MUA ĐƯỢC TÂM MÌNH.

XXX. ĐỊNH LỰC TRƯỚC LỜI KHEN

Được khen thì biết vui. Nhưng không phồng. Nhận lời khen. Xem điều gì đúng. Rồi để qua. Đừng chống lời khen. Cũng đừng ăn lời khen cả ngày.

XXXI. ĐỊNH LỰC TRƯỚC LỜI CHÊ

Có lời chê đúng. Có lời chê sai. Người có lực không đánh trả ngay và cũng không sụp xuống. Họ xem xét: Đúng phần nào – lấy phần đó. Sai phần nào – để lại cho người nói.

XXXII. ĐỊNH LỰC VÀ NỖI SỢ

Sợ không làm mình yếu. Bị sợ điều khiển mới làm mình mất tự do. Can đảm không phải không sợ. Can đảm là sợ mà không giao lương tâm cho nỗi sợ.

XXXIII. ĐỊNH LỰC VÀ THAM

Khi tham khởi, hỏi: “Cái này có thật sự cần không?” “Cái giá đạo đức của nó là gì?” “Nếu không có nó, tôi có mất chính mình không?” Biết đủ là một loại lực.

XXXIV. ĐỊNH LỰC VÀ SÂN

Công thức:

BIẾT → DỪNG → KHÔNG NÓI NGAY → SOI.

Biết tâm đang sân. Dừng hành động. Không nói khi tâm đang cháy. Soi xem cái gì thật sự bị chạm. Sau đó mới quyết định. Có khi vẫn phải nói mạnh. Nhưng mạnh mà không độc. Rõ mà không hận.

XXXV. ĐỊNH LỰC VÀ SI

Muốn bớt si phải học, nghe pháp, hỏi, kiểm tra và dám sửa quan điểm. Người có lực không phải người không bao giờ đổi ý. Người có lực là người không vì sĩ diện mà giữ một điều đã thấy là sai.

XXXVI. ĐỊNH LỰC VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

NHẬN → SOI → THẤY → KHÔNG DÍNH → KHÔNG CHẤP → BUÔNG → AN.

Có định lực thì: Thấy nhanh hơn. Dừng sớm hơn. Dính nhẹ hơn. Chấp ngắn hơn. Buông nhanh hơn.

XXXVII. ĐỊNH LỰC VÀ CÔNG THỨC PHẬT

PHẬT = THẤY → TỈNH → BUÔNG → SÁNG.

ĐỊNH LỰC LÀ SỨC ĐỂ ĐỨNG LẠI.

TUỆ LÀ ÁNH SÁNG ĐỂ BIẾT ĐƯỜNG ĐI.

Có sức mà không biết đường thì dễ đi sai. Biết đường mà không có sức thì khó đi.

XXXVIII. ĐỊNH LỰC VÀ PHÁP CÚ 183

“Không làm các điều ác.” Cần lực để dừng. “Thành tựu các hạnh lành.” Cần lực để kiên trì. “Giữ tâm ý trong sạch.” Cần định và tuệ để thanh lọc. Định lực là sức làm cho cái biết trở thành cái sống.

XXXIX. BÀI TẬP XÂY ĐỊNH LỰC MỖI NGÀY

1. Giữ một lời với chính mình.

2. Dừng một phản ứng bất thiện.

3. Làm một việc thiện không cần ai biết.

4. Buông một chuyện nhỏ.

5. Cuối ngày nhìn lại tâm đã bị kéo mạnh nhất ở đâu.

XL. CÔNG THỨC XÂY NỘI LỰC

THẬT

→ GIỮ LỜI

→ LÀM THIỆN

→ GIỮ GIỚI

→ ÍT HỐI

→ TÂM NHẸ

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ THẤY

→ DỪNG

→ BUÔNG

→ LỰC.

CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC CHÍNH:

THẬT THÀ

→ CHỮ TÍN

→ VIỆC LÀNH

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

XLI. CÂU KẾT

Sức mạnh thật không nằm ở việc có bao nhiêu người nghe lời mình. Sức mạnh thật nằm ở lúc tham nổi mà mình không bán điều đúng. Sân nổi mà mình không giao miệng cho sân. Sợ nổi mà mình không giao lương tâm cho sợ. Được khen mà không phồng. Bị chê mà không vỡ. Có thì không kiêu.

Mất thì không sụp. Thương mà không sở hữu. Giúp mà không đòi ơn. Làm thiện mà không giữ công. Sai thì nhận. Đúng thì giữ. Đó là nội lực. Nội lực không sinh trong một ngày. Nó được kết thành từ hàng ngàn lần rất nhỏ: Một lần sống thật. Một lần giữ lời. Một lần làm thiện. Một lần giữ giới.

Một lần không chạy theo sân. Một lần dừng trước tham. Một lần biết sợ nhưng vẫn giữ điều đúng. Một lần nhìn thấy cái tôi rồi buông xuống. Từng lần nhỏ ấy kết lại. Cuối cùng thành một khối. ĐÓ LÀ ĐỊNH LỰC.

CHƯƠNG 7
TỪ GIỚI ĐẾN ĐỊNH, TỪ ĐỊNH ĐẾN TUỆ

I. BA HỌC KHÔNG PHẢI BA MÔN RỜI NHAU

Giới, Định và Tuệ là ba mặt nâng đỡ nhau của một con đường tu. Giới làm cho thân và lời bớt tạo thêm rối ren; Định giúp tâm có sức đứng lại và trở về; Tuệ giúp thấy rõ điều gì đang sinh khổ, điều gì đang nuôi chấp và điều gì cần buông. Nếu tách ba học ra khỏi nhau, người tu dễ rơi vào một phía: giữ hình thức mà thiếu thấy biết, gom tâm mà thiếu nền đạo đức, hoặc nói về trí tuệ nhưng đời sống chưa có sức tự giữ.

II. GIỚI – LÀM SẠCH HƯỚNG HÀNH ĐỘNG

Giới trước hết là sự huấn luyện để thân, khẩu và đời sống không đi theo những tác ý bất thiện. Giữ giới không có nghĩa chưa bao giờ sai; quan trọng là biết dừng, biết nhận, biết sửa và không cố bảo vệ cái sai. Khi bớt làm những việc khiến mình phải che giấu, sợ hãi hay hối tiếc, tâm có cơ hội nhẹ hơn.

III. TỪ GIỚI ĐẾN TÂM ÍT HỐI

Một đời sống ngay thẳng làm giảm nhiều nguyên nhân khiến tâm tự chia đôi. Nói một đằng làm một nẻo, biết sai vẫn làm, hứa rồi liên tục bỏ đều làm tâm mất sức. Vì vậy nền kinh điển Giới → Định → Tuệ rất quan trọng; còn “Thật → Tín → Thiện” là cách cuốn sách hệ thống hóa phần chuẩn bị đời sống để người học dễ thực hành.

IV. ĐỊNH – KHẢ NĂNG TRỞ VỀ

Định không chỉ là ngồi bất động. Trong đời sống, định còn là khả năng biết tâm đang đi rồi đưa tâm trở lại việc cần làm, trở lại hơi thở, câu Phật hiệu, sự thật đang có hoặc nguyên tắc đạo đức mình đã chọn. Tâm có thể động nhưng không nhất thiết đổ. Mỗi lần trở về là một lần năng lực định được huân tập.

V. ĐỊNH KHÔNG TỰ ĐỘNG LÀ TUỆ

Một tâm tương đối yên có thể nhìn rõ hơn, nhưng sự yên tự nó chưa đủ để đoạn chấp. Tuệ cần thấy vô thường, duyên khởi, bất toại nguyện và tính không nên nắm giữ của các pháp theo đúng bối cảnh giáo lý. Vì vậy không nên đồng nhất một trạng thái dễ chịu, tập trung hay yên lặng với giác ngộ.

VI. TUỆ – THẤY ĐÚNG ĐỂ KHÔNG ĐI ĐƯỜNG CŨ

Tuệ giúp nhận ra cái gì là tham, cái gì là thương; cái gì là trách nhiệm, cái gì là dính mắc đội lốt trách nhiệm; cái gì nên giữ, cái gì đang giữ ngược mình. Khi thấy rõ hơn, người tu không chỉ cố nén phản ứng mà hiểu vì sao không cần tiếp tục phản ứng cũ.

VII. TUỆ QUAY LẠI LÀM GIỚI SÂU HƠN

Ban đầu có thể giữ giới vì tin lời Phật dạy hoặc vì sợ hậu quả. Khi Tuệ lớn dần, người tu thấy rõ bất thiện làm hại tâm mình và người khác như thế nào. Lúc ấy Giới không còn chỉ là mệnh lệnh bên ngoài mà trở thành lựa chọn sáng suốt từ bên trong.

VIII. MỘT VÒNG XOẮN ĐI LÊN

Có thể nhớ: GIỚI làm tâm bớt hối; tâm nhẹ dễ ĐỊNH; có Định, TUỆ dễ thấy; có Tuệ, Giới được giữ bằng hiểu biết sâu hơn. Ba học cứ nâng nhau như vậy. Công thức thực hành của sách chỉ nhằm giúp người đọc đem trục kinh điển ấy vào từng ngày sống, không thay thế cấu trúc Giới – Định – Tuệ.

CHƯƠNG 8
ĐẠI NGUYỆN – CHO SỰ TU MỘT HƯỚNG LỚN HƠN CÁI TÔI

Một người có định lực nhưng không có hướng lớn vẫn có thể bị những chuyện nhỏ lấy hết tâm. Hôm nay một người khen. Ngày mai một người chê. Hôm nay thuận. Ngày mai nghịch. Hôm nay có tiền. Ngày mai thiếu. Hôm nay một người ở bên. Ngày mai người ấy đổi. Nếu trong lòng không có một cái trục lớn, mỗi chuyện đến đều có thể trở thành chuyện lớn nhất đời mình.

Người có đại nguyện thì khác. Không phải họ không đau. Không phải họ không buồn. Không phải họ không mệt. Mà họ có chỗ để trở về. Họ biết: “Đời này mình sống để làm gì.” Có thể nhớ:

ĐỊNH LỰC GIÚP TÂM ĐỨNG.

ĐẠI NGUYỆN GIÚP ĐỜI CÓ HƯỚNG.

I. BỐN CÁI GIỮ MỘT ĐỜI TU

GIỚI GIỮ ĐÁY. NGUYỆN GIỮ HƯỚNG. ĐỊNH GIỮ TÂM. TUỆ GIỮ CÁI THẤY. Giới giúp không đi vào việc bất thiện. Nguyện giúp không quên hướng lớn. Định giúp tâm không bị cảnh kéo. Tuệ giúp nhìn đúng đường.

II. ĐẠI NGUYỆN KHÔNG PHẢI LỜI NÓI LỚN

Nói “lợi ích chúng sinh” rất dễ. Sống được với lời đó mới khó. Nói “hoằng pháp” rất dễ. Nhưng bị chê mà không bỏ đường mới khó. Nói “giúp người” rất dễ. Giúp mà không đòi biết ơn mới khó. Vì vậy:

NGUYỆN + HÀNH + THỜI GIAN = LỰC CỦA NGUYỆN.

Phát nguyện là gieo hạt. Hành là tưới. Thời gian là nuôi.

III. ĐẠI NGUYỆN KHÔNG PHẢI TRỐN ĐỜI

Có người đau quá rồi nói: “Từ nay tôi chỉ tu.” Nếu bên dưới là chạy trốn tổn thương thì chưa chắc đó là đại nguyện. Đại nguyện không sinh từ việc ghét cuộc đời. Đại nguyện sinh từ cái thấy: “Đời này ngắn. Tôi muốn dùng thời gian này cho điều có ý nghĩa.”

IV. ĐẠI NGUYỆN VÀ PHÁP CÚ 183

Kinh Pháp Cú, kệ 183 có thể làm nền cho ba lời nguyện rất căn bản:

TÔI NGUYỆN BỚT LÀM ĐIỀU ÁC.

TÔI NGUYỆN TĂNG LÀM ĐIỀU LÀNH.

TÔI NGUYỆN LÀM TÂM MÌNH NGÀY CÀNG TRONG SẠCH.

Ba lời nguyện này đủ để thực hành cả đời. Có thể thêm:

TÔI NGUYỆN ĐIỀU MÌNH HỌC ĐƯỢC KHÔNG CHỈ DÙNG CHO MÌNH, MÀ CÒN BIẾT CHIA SẺ ĐỂ NGƯỜI KHÁC BỚT KHỔ.

V. ĐẠI NGUYỆN PHẢI CÓ GỐC Ở BA NGHIỆP

THÂN KHÔNG LÀM HẠI.

LỜI KHÔNG LÀM HẠI.

TÂM KHÔNG NUÔI HẠI.

Nguyện lớn mà thân khẩu ý không được giữ thì giống dựng mái lớn trên cột yếu. Vì vậy:

ĐẠI NGUYỆN PHẢI CÓ GỐC Ở GIỚI.

Có thể nhớ: GIỚI LÀM GỐC.

THIỆN HẠNH LÀM THÂN.

ĐỊNH LÀM SỨC ĐỨNG.

TUỆ LÀM HƯỚNG SÁNG.

TỪ BI LÀM CÁCH ĐI.

ĐẠI NGUYỆN LÀM TRỤC.

VI. ĐẠI NGUYỆN LỚN ĐƯỢC GIỮ BẰNG KỶ LUẬT NHỎ

Muốn hoằng pháp? Hôm nay nói một câu đúng. Muốn giúp người? Hôm nay đừng làm người trước mặt mình tổn thương vô ích. Muốn xây đạo tràng? Hôm nay giữ một lời. Muốn có định lực? Hôm nay giữ một thời khóa ngắn. Muốn tâm thanh tịnh? Hôm nay thấy một cái chấp. Câu nhớ:

ĐẠI NGUYỆN LỚN ĐƯỢC GIỮ BẰNG KỶ LUẬT NHỎ.

VII. ĐẠI NGUYỆN VÀ CHỮ TÍN

Chữ tín giúp giữ lời hôm nay. Đại nguyện giúp giữ hướng cả đời. Có thể nhớ:

CHỮ TÍN GIỮ LỜI HÔM NAY.

ĐẠI NGUYỆN GIỮ HƯỚNG CẢ ĐỜI.

Nếu đã nguyện sống thiện, khi lợi lớn xuất hiện bằng con đường sai thì nhớ nguyện. Nếu đã nguyện tu, khi một người làm mình đau thì không vì một duyên mà bỏ cả đường.

VIII. ĐẠI NGUYỆN LÀM CHUYỆN NHỎ TRỞ VỀ ĐÚNG KÍCH THƯỚC

Một lời chê chỉ là một lời chê. Một sự mất mát chỉ là một đoạn. Một mối quan hệ chỉ là một duyên. Không phải toàn bộ cuộc đời. Khi có chuyện, hãy hỏi: “Chuyện này có làm mình phải bỏ giới không?” “Có làm mình phải bỏ thiện không?” “Có làm mình phải bỏ đại nguyện không?”

Nếu không, hãy xử lý chuyện đó trong đúng kích thước của nó.

IX. ĐẠI NGUYỆN KHÔNG ĐƯỢC BIẾN THÀNH CÁI TÔI LỚN

Người có nguyện lớn dễ nghĩ: “Tôi có sứ mệnh.” “Tôi đặc biệt.” “Tôi làm việc lớn.” Nếu không soi, đại nguyện lại nuôi bản ngã. Vì vậy:

ĐẠI NGUYỆN LỚN KHÔNG CẦN CÁI TÔI LỚN.

Việc thiện thành được do nhiều duyên: Có pháp. Có người. Có sức khỏe. Có thời gian. Có phương tiện. Có người hỗ trợ. Thấy nhiều duyên thì bớt chấp công.

X. ĐẠI NGUYỆN VÀ TỪ BI – TRÍ TUỆ

Đại nguyện có ý chí mà thiếu từ bi dễ thành cứng. Đại nguyện có từ bi mà thiếu trí dễ thành làm thay, nuông chiều hoặc kiểm soát. Vì vậy:

GIỚI LÀM NGUYỆN SẠCH.

ĐỊNH LÀM NGUYỆN BỀN.

TUỆ LÀM NGUYỆN ĐÚNG.

TỪ BI LÀM NGUYỆN ẤM.

XI. ĐẠI NGUYỆN VÀ BIẾN CỐ

Đại nguyện không ngăn biến cố. Nó giúp mình biết xử lý biến cố mà không mất hướng. Mất tiền: Xử lý, nhưng không bán phẩm chất. Người thay đổi: Đau, nhưng không bỏ đường. Bị chê: Xem lại, nhưng không vì một câu mà ngừng làm việc thiện. Thất bại: Học, sửa và đi tiếp nếu còn duyên.

Câu nhớ:

NGƯỜI CÓ ĐẠI NGUYỆN KHÔNG PHẢI NGƯỜI KHÔNG NGÃ.

LÀ NGƯỜI NGÃ RỒI CÒN NHỚ MÌNH ĐANG ĐI ĐÂU.

XII. ĐẠI NGUYỆN VÀ ĐỊNH LỰC

Định lực giúp tâm không bị cảm xúc kéo. Đại nguyện giúp đời không bị hoàn cảnh đổi hướng. Có thể nhớ: TÂM CÓ THỂ ĐỘNG.

NHƯNG HƯỚNG KHÔNG MẤT.

XIII. GIỮ NGUYỆN – BUÔNG CÁCH

Một điều rất quan trọng: Đại nguyện không có nghĩa một kế hoạch cụ thể phải thành. Phải phân biệt: NGUYỆN LỚN và:

PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN.

Nguyện là hoằng pháp. Hôm nay có thể dùng livestream. Ngày mai có thể dùng sách. Ngày khác có thể dùng website, audio hoặc một hình thức khác. Một phương tiện không thành không có nghĩa đại nguyện chết. Vì vậy: GIỮ NGUYỆN. BUÔNG CÁCH. GIỮ HƯỚNG. ĐỔI PHƯƠNG TIỆN. GIỮ THIỆN.

BUÔNG CÁI TÔI.

XIV. ĐẠI NGUYỆN ĐI TRONG VÔ THƯỜNG

Thân đổi. Hoàn cảnh đổi. Phương tiện đổi. Người đồng hành đổi. Nhưng hướng thiện vẫn có thể giữ. Có thể nhớ:

PHƯƠNG TIỆN CÓ THỂ ĐỔI.

DUYÊN CÓ THỂ ĐỔI.

HƯỚNG THIỆN KHÔNG CẦN ĐỔI.

XV. ĐẠI NGUYỆN VÀ SỰ MỆT MỎI

Có nguyện lớn không có nghĩa phải làm tới kiệt sức. Nếu thân kiệt, tâm rất khó vững. Biết nghỉ. Biết giữ sức. Biết giao việc. Biết chờ duyên. Biết nói: “Hôm nay tới đây.” không phải bỏ nguyện. Đó là cách giữ đường dài. Câu nhớ:

ĐẠI NGUYỆN KHÔNG CẦN MÌNH CHÁY HẾT TRONG MỘT NGÀY.

ĐẠI NGUYỆN CẦN MÌNH CÒN LỬA ĐỂ ĐI ĐƯỜNG DÀI.

XVI. ĐẠI NGUYỆN VÀ NGƯỜI ĐỒNG HÀNH

Không phải ai đi cùng một đoạn cũng đi cả đời. Có người tới. Có người đi. Có người giúp một đoạn. Có người học một đoạn. Người đồng hành là duyên. Đại nguyện là hướng. Duyên đổi, hướng vẫn có thể giữ.

XVII. ĐẠI NGUYỆN VÀ SỰ CÔ ĐƠN

Có lúc một việc đúng chưa được nhiều người hiểu. Không vì thiếu sự công nhận mà vội đổi hướng. Nhưng cũng không lấy câu: “Không ai hiểu tôi” làm lý do để đóng tai trước góp ý. Người có đại nguyện cần:

VỮNG VỚI ĐIỀU ĐÚNG.

MỀM VỚI CÁCH LÀM. MỞ VỚI GÓP Ý.

KHÔNG LỆ THUỘC LỜI KHEN.

XVIII. ĐẠI NGUYỆN VÀ CÔNG THỨC PHẬT

PHẬT = THẤY → TỈNH → BUÔNG → SÁNG.

Đại nguyện giúp mình nhớ vì sao phải thấy, tỉnh, buông và sáng. Thấy để không mê. Tỉnh để không bị kéo. Buông để không mang. Sáng để sống đúng hơn và lợi ích hơn.

XIX. ĐẠI NGUYỆN PHẢI SINH RA THIỆN HÀNH

Một người nói nguyện lớn nhưng hằng ngày không có thiện hành cần xem lại. Đại nguyện phải đi xuống đời sống: Một lời pháp đúng. Một lần giúp người. Một lần không trả đũa. Một lần bố thí. Một lần lắng nghe. Một lần giữ giới. Một lần buông công. Có thể nhớ: ĐẠI NGUYỆN

→ THIỆN HÀNH

→ HUÂN TẬP

→ NỘI LỰC.

XX. ĐẠI NGUYỆN VÀ THÀNH BẠI

Không phải việc đúng nào cũng có kết quả ngay. Có nhân tốt nhưng duyên chưa đủ. Có dự án chưa thành nhưng để lại bài học. Vì vậy đừng chỉ hỏi: “Tôi có thắng không?” Hãy hỏi: “Tôi có làm đúng phần mình không?” Có thể nhớ:

THÀNH CÔNG CỦA KẾT QUẢ KHÔNG PHẢI LÚC NÀO CŨNG NẰM TRONG TAY MÌNH.

NHƯNG SỰ ĐÚNG ĐẮN TRONG CÁCH MÌNH LÀM THÌ PHẦN LỚN PHẢI DO MÌNH GIỮ.

XXI. ĐẠI NGUYỆN VÀ BUÔNG CÔNG

Làm việc lớn rất dễ giữ công. “Cái này tôi làm.” “Nhờ tôi.” “Công của tôi.” Người tu phải thấy chỗ này. Không phủ nhận đóng góp. Nhưng không biến đóng góp thành tài sản của cái tôi. Câu nhớ:

BIẾT CÔNG ĐỂ CHỊU TRÁCH NHIỆM.

BUÔNG CÔNG ĐỂ TÂM NHẸ.

XXII. CÔNG THỨC ĐẠI NGUYỆN

Bản ngắn:

ĐẠI NGUYỆN = HƯỚNG ĐÚNG + GIỮ LÂU + HÀNH THIỆN + KHÔNG BỎ ĐƯỜNG.

Bản đầy đủ: CHÁNH KIẾN

→ PHÁT NGUYỆN

→ GIỮ GIỚI

→ HÀNH THIỆN

→ TINH TẤN

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỢI MÌNH LỢI NGƯỜI.

Đây là công thức thực hành được hệ thống hóa, không phải nguyên văn một bài kinh.

XXIII. BỐN CÔNG THỨC VÀ ĐẠI NGUYỆN

CÔNG THỨC TAM TẠNG:

BỎ ÁC → LÀM LÀNH → LÀM SẠCH TÂM.

CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC:

THẬT → TÍN → THIỆN → GIỚI → ĐỊNH → TUỆ → LỰC.

CÔNG THỨC BUÔNG:

NHẬN → SOI → THẤY → KHÔNG DÍNH → KHÔNG CHẤP → BUÔNG → AN.

CÔNG THỨC PHẬT:

THẤY → TỈNH → BUÔNG → SÁNG.

CÔNG THỨC ĐẠI NGUYỆN:

HƯỚNG ĐÚNG → GIỮ HƯỚNG → HÀNH THIỆN → TINH TẤN → KHÔNG BỎ ĐƯỜNG.

Gộp lại: BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ SỐNG THẬT

→ GIỮ TÍN

→ GIỮ GIỚI

→ TÂM ĐỊNH

→ TUỆ SÁNG

→ THẤY RÕ

→ TỈNH

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN

→ SÁNG

→ GIỮ ĐẠI NGUYỆN

→ LỢI MÌNH

→ LỢI NGƯỜI.

XXIV. BÀI KIỂM TRA ĐẠI NGUYỆN

Mỗi tuần có thể tự hỏi:

1. Việc tôi đang làm có đúng hướng thiện không?

2. Tôi đang làm vì lợi ích hay vì muốn được công nhận?

3. Điều gì đang làm tôi lệch hướng?

4. Tôi có đang dùng mục tiêu lớn để biện hộ cho một cách làm sai không?

5. Tôi có đang ôm quá nhiều việc không?

6. Phương tiện nào nên thay đổi?

7. Điều cốt lõi nào phải giữ?

8. Tuần này tôi đã làm một thiện hành cụ thể nào?

9. Đại nguyện đang làm tôi bớt tham, sân, chấp hay làm cái tôi lớn hơn?

10. Nếu không ai biết và không ai khen, tôi còn muốn làm việc này không?

XXV. CÂU KẾT

Đại nguyện không phải một lời nói rất lớn. Đại nguyện là một hướng rất bền. Không cần ngày nào cũng làm việc lớn. Chỉ cần ngày nào cũng không quên hướng. Bị chê – vẫn giữ hướng. Bị thương – vẫn giữ hướng. Mất một duyên – vẫn giữ hướng. Thành công – không phồng. Thất bại – không bỏ.

Mệt – nghỉ. Khỏe – đi tiếp. Phương tiện đổi – biết đổi. Người đồng hành đổi – biết quý duyên rồi đi tiếp. Cái gì thuộc phần mình – làm hết lòng. Cái gì thuộc nhân duyên – không cưỡng. Giữ giới để nguyện sạch. Giữ định để nguyện bền. Dùng tuệ để nguyện đúng. Dùng từ bi để nguyện ấm.

Buông cái tôi để nguyện rộng.

ĐẠI NGUYỆN KHÔNG LÀM CUỘC ĐỜI HẾT ĐỔI THAY.

ĐẠI NGUYỆN LÀM MÌNH GIỮA ĐỔI THAY VẪN CÒN BIẾT MÌNH ĐANG SỐNG VÌ ĐIỀU GÌ.

CHƯƠNG 9
BỐN CÔNG THỨC HỢP THÀNH MỘT DÒNG SỐNG

Đến đây chúng ta đã có bốn công thức chính và một trục đại nguyện:

1. CÔNG THỨC PHẬT:

THẤY → TỈNH → BUÔNG → SÁNG.

2. CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC:

THẬT → TÍN → THIỆN → GIỚI → ĐỊNH → TUỆ → LỰC.

3. CÔNG THỨC BUÔNG:

NHẬN → SOI → THẤY → KHÔNG DÍNH → KHÔNG CHẤP → BUÔNG → AN.

4. CÔNG THỨC TAM TẠNG – LẤY PHÁP CÚ 183 LÀM TRỤC THỰC HÀNH:

BỎ ÁC → LÀM LÀNH → LÀM SẠCH TÂM.

5. CÔNG THỨC ĐẠI NGUYỆN:

HƯỚNG ĐÚNG → GIỮ HƯỚNG → HÀNH THIỆN → TINH TẤN → KHÔNG BỎ ĐƯỜNG.

Các công thức này không phải năm con đường riêng. Chúng nối lại thành một con đường: THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ THẤY

→ TỈNH

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN

→ SÁNG

→ GIỮ NGUYỆN

→ LỢI MÌNH

→ LỢI NGƯỜI.

I. TU TẬP PHẢI BẮT ĐẦU TỪ CÁI LÀM ĐƯỢC

Người mới học Phật thường thấy những chữ như giác ngộ, vô ngã, giải thoát, thiền định rất xa. Nhưng nếu nói: “Hôm nay sống thật hơn một chút.” Có thể làm. “Hôm nay giữ một lời.” Có thể làm. “Hôm nay bớt một lời ác.” Có thể làm. “Hôm nay làm một việc thiện.” Có thể làm. “Hôm nay thấy một cái chấp.”

Có thể làm. “Hôm nay buông một chuyện nhỏ.” Có thể làm. Tu tập nên bắt đầu từ những bước có thể thực hiện ngay.

II. BA TẦNG THỰC HÀNH

TẦNG 1 – SỐNG: THẬT. TỐT. GIỮ LỜI. KHÔNG HẠI. TẦNG 2 – GIỮ TÂM: GIỚI. ĐỊNH. THẤY. TỈNH.

TẦNG 3 – GIẢI CHẤP:

KHÔNG DÍNH. KHÔNG CHẤP. BUÔNG.

AN.

SÁNG. Khi ba tầng dần vững, đời sống có thể đi sâu hơn vào đại nguyện và lợi tha.

III. THẬT LÀ CỬA VÀO

Không thật thì khó soi mình. Không soi thì khó thấy lỗi. Không thấy lỗi thì khó sửa. Không sửa thì giới khó vững. Giới không vững thì tâm khó yên. Tâm khó yên thì tuệ khó sáng. Vì vậy có thể nhớ: THẬT LÀ CỬA VÀO. GIỚI LÀ NỀN. ĐỊNH LÀ SỨC ĐỨNG. TUỆ LÀ ÁNH SÁNG. BUÔNG LÀ TỰ DO.

NGUYỆN LÀ HƯỚNG ĐI.

IV. TỪ THẬT ĐẾN CHỮ TÍN

Thật mà không bền thì chưa thành lực. Chữ tín làm sự thật được lặp lại. Có thể nhớ:

THẬT + LẶP LẠI = TÍN.

TÍN + THIỆN + THỜI GIAN = NỘI LỰC.

V. THIỆN VÀ GIỚI

Trong công thức thực hành, thiện dẫn người ta về giới. Một người muốn sống thiện sẽ tự nhiên muốn: Không sát hại. Không lấy của không cho. Không tà hạnh. Không nói dối. Không để đời sống rơi vào mất tự chủ. Tuy nhiên cần hiểu chuẩn:

THIỆN LÀ HƯỚNG SỐNG.

GIỚI LÀ KHUÔN BẢO VỆ HƯỚNG THIỆN.

Thiện muốn bền thì cần giới. Giới muốn không cứng thì cần thiện.

VI. GIỚI LÀM GIẢM NHỮNG NGUYÊN NHÂN LÀM TÂM LOẠN

Một lời dối chưa giải quyết. Một việc sai chưa nhận. Một trách nhiệm cố tình bỏ. Một hành vi làm hại người. Tất cả đều kéo tâm. Vì vậy:

GIỚI = GIẢM NHỮNG NGUYÊN NHÂN LÀM TÂM BẤT AN VÀ TÁN LOẠN.

Khi những nguyên nhân ấy giảm, tâm có điều kiện định hơn.

VII. ĐỊNH HỖ TRỢ TUỆ

Định không tự động biến thành tuệ. Nhưng định giúp cái thấy bớt bị cảm xúc làm méo. Đang sân, ta dễ chỉ thấy người khác sai. Đang tham, ta dễ chỉ thấy món lợi. Đang sợ, ta dễ chỉ thấy nguy hiểm. Định giúp tâm lắng hơn. Có thể nhớ:

ĐỊNH KHÔNG LÀM RA SỰ THẬT.

ĐỊNH LÀM MÌNH BỚT RUNG ĐỂ THẤY SỰ THẬT RÕ HƠN.

VIII. TỪ TUỆ ĐẾN THẤY

Biết bằng chữ chưa đủ. Phải thấy trong chính tình huống đang xảy ra. Biết: “Con người vô thường.” chưa chắc đã buông được. Thấy: “Người này thật sự đã thay đổi và mình không thể bắt họ trở lại như xưa.” thì cái chấp bắt đầu yếu. Vì vậy:

TUỆ → THẤY.

IX. THẤY VÀ TỈNH

THẤY = BIẾT ĐANG CÓ GÌ.

TỈNH = KHÔNG GIAO QUYỀN CHO NÓ.

Thấy sân. Tỉnh. Không nói theo sân. Thấy tham. Tỉnh. Không chạy theo tham. Thấy tự ái. Tỉnh. Không phản ứng ngay.

X. KHÔNG DÍNH VÀ KHÔNG CHẤP

Không dính và không chấp không hoàn toàn giống nhau.

DÍNH = TÂM ĐI THEO.

CHẤP = TÂM NHẬN LÀ “TÔI”, “CỦA TÔI”, “PHẢI THEO Ý TÔI”.

Ví dụ có người chê. Không dính: Không nghĩ đi nghĩ lại cả ngày. Không chấp: Không biến lời chê thành: “Người ta chê tôi nên tôi mất giá trị.”

XI. BUÔNG XẢY RA KHI CHẤP YẾU

Nếu chưa thấy mà ép buông, tâm rất mệt. Khi thấy: Cái này vô thường. Cái này không còn thuộc quyền mình. Việc này đã qua. Người này đã đổi. Công này đã làm xong. thì chấp yếu. Chấp yếu thì tay tâm tự mở. Vì vậy:

THẤY ĐÚNG → CHẤP YẾU → BUÔNG DỄ.

XII. AN KHÔNG PHẢI ĐÍCH CUỐI

Buông giúp tâm an. Nhưng an không phải chỉ để mình dễ chịu. Tâm an giúp thấy sáng hơn. Tâm sáng giúp hành động đúng hơn. Có thể nhớ:

BUÔNG → AN → SÁNG → HÀNH ĐÚNG.

XIII. TỪ SÁNG ĐI VÀO ĐẠI NGUYỆN

Khi tâm sáng hơn, ta bắt đầu hiểu nỗi khổ của người khác. Mình từng bị chấp làm khổ, nên thấy người đang chấp thì hiểu. Mình từng bị sân kéo, nên thấy người sân thì thương hơn. Từ hiểu mình sinh hiểu người. Từ tự lợi mở sang lợi tha. Đại nguyện từ đó có thể lớn lên một cách tự nhiên.

XIV. TỰ LỢI VÀ LỢI THA

Nếu chưa biết giữ mình mà lao đi cứu tất cả, rất dễ cạn. Nếu chỉ lo mình mà không quan tâm ai, lòng từ chưa rộng. Vì vậy:

TU MÌNH ĐỂ CÓ CÁI THẬT MÀ CHIA SẺ CHO NGƯỜI.

GIÚP NGƯỜI ĐỂ CÁI TU CỦA MÌNH CÓ CHỖ SỐNG.

XV. BỐN CÔNG THỨC LÀ CÁCH HỆ THỐNG HÓA

Các công thức trong sách là cách hệ thống hóa để dễ nhớ và dễ thực hành. Không nên nói rằng Đức Phật đã dạy nguyên văn bốn công thức theo đúng cấu trúc này. Nền kinh điển của hệ thống gồm: Giới – Định – Tuệ. Pháp Cú 183: tránh ác, làm thiện, thanh lọc tâm. Chánh niệm và tỉnh giác.

Quán vô thường, vô ngã, không chấp thủ. Các thiện pháp và con đường tu tập dẫn đến trí tuệ.

XVI. TÔI ĐANG ĐỨNG Ở ĐÂU TRONG CHUỖI NÀY?

Mỗi người có một điểm cần tu khác nhau. Có người cần học THẬT. Có người cần sửa CHỮ TÍN. Có người cần củng cố GIỚI. Có người cần tập ĐỊNH. Có người học rất nhiều nhưng cần BUÔNG. Có người buông được nhiều nhưng chưa có ĐẠI NGUYỆN. Không cần so với người khác. Chỉ cần hỏi:

“BƯỚC KẾ TIẾP CỦA TÔI LÀ GÌ?”

XVII. CÔNG THỨC BƯỚC KẾ TIẾP

Nếu đang dối: Bước kế tiếp là THẬT. Nếu đang thất tín: Bước kế tiếp là GIỮ MỘT LỜI. Nếu đời sống lộn xộn: Bước kế tiếp là GIỚI. Nếu tâm tán: Bước kế tiếp là GOM TÂM. Nếu đang sân: Bước kế tiếp là DỪNG. Nếu đang chấp: Bước kế tiếp là SOI. Nếu đã thấy: Bước kế tiếp là BUÔNG. Nếu đã an:

Bước kế tiếp là SỐNG SÁNG VÀ LÀM THIỆN. Nếu đã có hướng: Bước kế tiếp là GIỮ NGUYỆN. Câu nhớ:

ĐỪNG HỎI ĐƯỜNG CÒN BAO XA.

HÃY HỎI BƯỚC KẾ TIẾP CÓ ĐÚNG KHÔNG.

XVIII. KHÔNG CẦN LÀM TẤT CẢ CÙNG LÚC

Không cần ngày đầu làm hết cả con đường. Bước nào đứng chắc bước đó. Hôm nay tập thật. Ngày mai giữ một lời. Tuần này tập một giới khó nhất. Sau đó thêm một thời khóa ngắn. Rồi tập buông. Tu không cần gấp. Tu cần đều.

XIX. ĐỀU QUAN TRỌNG HƠN HĂNG NHẤT THỜI

Một ngày tu năm giờ rồi ba ngày bỏ không bằng mỗi ngày hai mươi phút. Một lần phát nguyện cực lớn rồi bỏ không bằng một lời nguyện nhỏ giữ được. Vì vậy: THẬT ĐỀU. THIỆN ĐỀU. GIỮ GIỚI ĐỀU. NIỆM PHẬT ĐỀU. SOI TÂM ĐỀU. BUÔNG ĐỀU. Đó là cách nội lực lớn lên.

XX. MỘT NGÀY ĐI QUA TOÀN BỘ CON ĐƯỜNG

Buổi sáng đã hứa niệm Phật mười phút. Mệt nhưng vẫn giữ. Đó là TÍN. Trong lúc niệm, vọng khởi. Biết. Đó là THẤY. Không theo. Đó là TỈNH. Trở về câu Phật hiệu. Đó là ĐỊNH. Sau đó có người nói một câu khó nghe. Muốn đáp nhưng dừng. Đó là GIỚI và ĐỊNH LỰC. Soi thấy mình tự ái.

Đó là TUỆ. Không ôm cả ngày. Đó là BUÔNG. Tâm nhẹ. Đó là AN. Chiều gặp người cần giúp. Giúp trong khả năng. Đó là THIỆN. Giúp xong không kể công. Đó là LÀM SẠCH TÂM. Tối nhìn lại: “Hôm nay mình đã sống đúng hướng chưa?” Đó là NGUYỆN. Một ngày rất bình thường đã có thể chứa cả con đường tu.

XXI. PHÁP PHẢI TRỞ THÀNH THÓI QUEN CỦA TÂM

Lúc đầu phải nhớ: Nhận. Soi. Thấy. Tỉnh. Buông. Sau một thời gian, tâm phản ứng nhanh hơn theo hướng thiện. Ngày trước bị chạm mười phút sau mới nhớ Pháp. Sau này một phút. Rồi vài giây. Rồi vừa khởi đã biết. Có thể nhớ:

TU LÂU NGÀY LÀ BIẾN ĐIỀU ĐÚNG TỪ CÁI PHẢI NHỚ THÀNH CÁI TÂM TỰ BIẾT QUAY VỀ.

XXII. ĐỊNH LỰC LÀ ĐIỀU ĐÚNG ĐƯỢC LẶP LẠI LÂU NGÀY

Định lực không chỉ sinh từ thời ngồi thiền. Nó sinh từ việc lặp lại: Sự thật. Chữ tín. Việc thiện. Giới. Sự trở về. Sự buông. Có thể nhớ:

ĐỊNH LỰC LÀ ĐIỀU ĐÚNG ĐƯỢC LẶP ĐỦ LÂU ĐẾN MỨC TÂM CÓ SỨC ĐỨNG VỚI NÓ.

XXIII. BỐN CÔNG THỨC VÀ MỘT TRỤC

PHÁP CÚ 183 NÓI MÌNH PHẢI LÀM GÌ:

BỎ ÁC → LÀM LÀNH → LÀM SẠCH TÂM.

CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC NÓI MÌNH XÂY SỨC BẰNG GÌ:

THẬT → TÍN → THIỆN → GIỚI → ĐỊNH → TUỆ → LỰC.

CÔNG THỨC BUÔNG NÓI MÌNH THÁO CHẤP BẰNG CÁCH NÀO:

NHẬN → SOI → THẤY → KHÔNG DÍNH → KHÔNG CHẤP → BUÔNG → AN.

CÔNG THỨC PHẬT NÓI HƯỚNG CHUYỂN HÓA LÀ GÌ:

THẤY → TỈNH → BUÔNG → SÁNG.

ĐẠI NGUYỆN NÓI VÌ SAO MÌNH ĐI ĐƯỜNG ĐÓ LÂU DÀI:

GIỮ HƯỚNG THIỆN → LỢI MÌNH → LỢI NGƯỜI.

XXIV. CẤU TRÚC CUỐN SÁCH

PHẦN I:

BỐN CÔNG THỨC CỐT LÕI.

PHẦN II: XÂY ĐỊNH LỰC. PHẦN III: PHƯƠNG PHÁP BUÔNG. PHẦN IV: TỪ THẤY ĐẾN SÁNG. PHẦN V:

ĐẠI NGUYỆN VÀ ĐỜI SỐNG LỢI THA.

Mỗi phần nên có: Lý giải. Nguồn kinh. Ví dụ đời thường. Công thức. Bài tập thực hành. Câu hỏi tự soi.

XXV. BÀI THỰC HÀNH 14 NGÀY

NGÀY 1: Nhận một điều mình đang tự dối. NGÀY 2: Giữ một lời nhỏ. NGÀY 3: Làm một việc thiện kín đáo. NGÀY 4: Giữ khẩu một ngày. NGÀY 5: Dành ba mươi phút chỉ làm một việc. NGÀY 6: Khi bị chạm, dừng ba hơi thở. NGÀY 7: Nhìn lại một chấp lớn. NGÀY 8: Buông một chuyện nhỏ. NGÀY 9:

Làm thiện mà không kể công. NGÀY 10: Nghe một lời chê và chỉ lấy phần đúng. NGÀY 11: Nhận một lỗi mà không biện hộ. NGÀY 12: Giữ một thời khóa niệm Phật. NGÀY 13: Viết một câu đại nguyện. NGÀY 14: Tự hỏi: “Tâm mình có thật hơn chưa?” “Nhẹ hơn chưa?” “Vững hơn chưa?” “Buông nhanh hơn chưa?”

XXVI. THƯỚC ĐO CỦA CẢ HỆ THỐNG

Đừng chỉ đo bằng: Biết bao nhiêu kinh. Ngồi bao lâu. Có bao nhiêu người khen. Làm bao nhiêu việc lớn. Hãy hỏi: Sống thật hơn chưa? Giữ lời hơn chưa? Ít làm hại hơn chưa? Giới vững hơn chưa? Tâm dễ trở về hơn chưa? Thấy lỗi mình sớm hơn chưa? Buông nhanh hơn chưa? Lời nói lành hơn chưa? Làm thiện bớt cầu công chưa? Đại nguyện có sạch hơn chưa?

XXVII. CÂU KẾT

Tu không phải gom thật nhiều công thức. Công thức chỉ là bản đồ. Việc quan trọng là bước đi. Sống thật một lần. Giữ lời một lần. Dừng sân một lần. Làm thiện một lần. Thấy chấp một lần. Buông một lần. Rồi làm lại. Một ngày. Một tháng. Một năm. Một đời. Từ những lần nhỏ, tâm thành khối.

Từ khối lực, tâm đứng. Từ đứng, tâm thấy. Từ thấy, tâm buông. Từ buông, tâm sáng. Từ sáng, lòng nguyện rộng. Và khi đó, bốn công thức không còn nằm trên giấy.

NÓ TRỞ THÀNH CHÍNH CÁCH MÌNH SỐNG.

CHƯƠNG 10
TỪ HIỂU PHÁP ĐẾN SỐNG PHÁP

Có một khoảng cách rất lớn giữa: HIỂU PHÁP và: SỐNG PHÁP. Hiểu pháp là biết. Sống pháp là khi chuyện tới, mình làm được. Biết vô thường nhưng khi người khác đổi vẫn khổ. Biết không chấp nhưng ai động tới công sức mình vẫn nặng. Biết lời khen chê là pháp thế gian nhưng được khen thì vui cả ngày, bị chê thì buồn cả tuần.

Không phải chưa từng nghe pháp. Mà pháp chưa đi đủ sâu để thành lực.

I. TU LÀ HUÂN TẬP

Một điều đúng nghe một lần chưa chắc thành sức. Phải: NGHE. HIỂU. SOI. HÀNH. LẶP. TRẢI NGHIỆM. Lâu ngày mới thành lực. Có thể nhớ:

TU LÀ HUÂN ĐIỀU ĐÚNG CHO ĐẾN KHI ĐIỀU ĐÚNG KHÔNG CÒN CHỈ LÀ ĐIỀU MÌNH NHỚ, MÀ TRỞ THÀNH ĐIỀU TÂM TỰ BIẾT QUAY VỀ.

II. KINH LÀ BẢN ĐỒ – HÀNH LÀ BƯỚC ĐI

Bản đồ rất quan trọng. Không có bản đồ dễ lạc. Nhưng có bản đồ mà không đi thì không tới. Có thể nhớ: KINH CHỈ ĐƯỜNG. GIỚI GIỮ ĐƯỜNG. ĐỊNH GIÚP ĐI VỮNG.

TUỆ GIÚP NHẬN ĐƯỜNG ĐÚNG.

HÀNH MỚI ĐƯA MÌNH ĐI.

III. MỘT PHÁP HÀNH ĐƯỢC CÒN QUÝ HƠN NHIỀU PHÁP CHỈ NHỚ

Học đúng là cần thiết. Nhưng biết rồi phải hành. Chọn một giới như: KHÔNG NÓI DỐI. Thực hành sâu một thời gian sẽ thấy: Mình dối ở đâu. Tô đẹp mình ở đâu. Che vì sợ ở đâu. Chỉ một giới cũng có thể mở ra rất nhiều tuệ.

IV. GIỚI KHÔNG CHỈ NGĂN HÀNH VI – GIỚI LÀM TÂM HIỆN RA

Khi không giữ giới, tâm khởi gì dễ làm theo ngay. Khi giữ giới, hành động dừng lại. Lúc đó tâm bên dưới hiện rõ. Muốn nói xấu nhưng giữ khẩu. Khi không nói, mình có cơ hội thấy: “Trong tâm đang có ganh.” Vì vậy:

GIỚI GIỮ TAY VÀ MIỆNG LẠI ĐỂ TUỆ CÓ THỜI GIAN NHÌN VÀO TÂM.

V. TỪ GIÁO LÝ CHUNG ĐẾN CÁI NẮM CỤ THỂ

Biết: “Các pháp vô thường” là đúng. Nhưng khi đang chấp một người, phải hỏi: “Tôi đang muốn gì ở người này?” Muốn họ ở lại? Muốn họ hiểu? Muốn họ biết ơn? Muốn họ trở lại như xưa? Pháp chung phải đi vào cái nắm cụ thể. Có thể nhớ: PHÁP CHUNG

→ SOI VIỆC CỤ THỂ

→ THẤY TÂM

→ HÀNH.

VI. CÔNG THỨC NGHE – HIỂU – SOI – HÀNH – NGHIỆM

Công thức: NGHE

→ HIỂU

→ SOI

→ HÀNH

→ NGHIỆM

→ THÀNH LỰC.

Nếu chỉ:

NGHE → HIỂU

thì mới đi nửa đường. Phải đưa Pháp xuống đời sống.

VII. KINH VÀ TRẢI NGHIỆM PHẢI ĐI CÙNG

Trải đời nhiều không thay thế được Chánh kiến. Đọc kinh nhiều cũng không thay thế được việc soi tâm. Có thể nhớ:

KINH ĐỂ CHỈNH CÁI THẤY.

ĐỜI ĐỂ THỬ CÁI THẤY.

Kinh cho nguyên lý.

Đời cho bài kiểm tra.

VIII. PHẬT PHÁP TRƯỚC HẾT ĐỂ SOI MÌNH

Học chữ “nghiệp” rồi thấy người khổ liền nói: “Đó là nghiệp của họ.” Học chữ “chấp” rồi thấy người đau nói: “Chấp quá.” Lời có thể đúng chữ nhưng thiếu từ bi. Pháp trước hết phải quay vào mình. Khi mình sân: “Cái gì đang bị chạm?” Khi mình đau: “Tôi đang nắm gì?” Khi mình khổ:

“Tôi đang đòi cái gì?” Câu nhớ:

PHẬT PHÁP TRƯỚC HẾT LÀ CÁI GƯƠNG SOI MÌNH, KHÔNG PHẢI CÂY THƯỚC ĐO NGƯỜI.

IX. SOI MÌNH TRƯỚC KHI GÓP Ý NGƯỜI

Công thức: SOI MÌNH

→ LÀM SẠCH ĐỘNG CƠ

→ MỚI GÓP Ý NGƯỜI.

Trước khi nói, hỏi: “Tâm tôi có sân không?” “Có muốn thắng không?” “Có hơn thua không?” Nếu có, làm lắng bớt rồi mới nói.

X. HÀNH PHÁP TRONG MỘT CƠN SÂN

Khi có người nói câu làm mình nóng: BƯỚC 1 – NHẬN: “Tâm đang sân.” BƯỚC 2 – GIỚI: Không nói lời ác ngay. BƯỚC 3 – ĐỊNH: Dừng, thở, trở về thân. BƯỚC 4 – SOI: “Tại sao tôi bị chạm?” BƯỚC 5 – TUỆ: “Phần nào đúng? Phần nào là tự ái?” BƯỚC 6 – BUÔNG: Không giữ phần không cần. BƯỚC 7 – THIỆN:

Nếu cần trả lời, chọn lời đúng và lành. Một cơn sân có thể chứa cả con đường tu.

XI. HÀNH PHÁP KHI BỊ MẤT MÁT

Khi mất một món vật: Nhận tiếc. Không giả vờ không tiếc. Hỏi: “Tôi tiếc vật hay tiếc ký ức?” “Cái này còn thuộc quyền tôi không?” “Phần nào cần xử lý thực tế?” Xử lý phần cần làm. Buông phần tâm đang nắm.

XII. HÀNH PHÁP KHI BỊ HIỂU LẦM

Khi bị hiểu lầm, cái tôi thường muốn giải thích ngay. Hãy hỏi: “Có cần giải thích không?” “Ai thật sự cần hiểu?” “Giải thích có ích không?” “Hay tôi chỉ muốn thắng?” Có lúc nên giải thích. Có lúc nên chờ. Có lúc không cần. Câu nhớ:

MỘT LOẠI TỰ DO RẤT LỚN LÀ KHÔNG CẦN SỬA MỌI HÌNH ẢNH CỦA MÌNH TRONG ĐẦU NGƯỜI KHÁC.

XIII. HÀNH PHÁP KHI THÀNH CÔNG

Thành công cũng cần tu. Khi được nhiều lời khen, hãy nhìn nhân duyên: Có sức khỏe. Có cơ hội. Có người hỗ trợ. Có người nghe. Có pháp. Có phương tiện. Không phủ nhận công sức của mình. Nhưng cũng không nghĩ mình một mình tạo ra tất cả. Thấy nhân duyên giúp tâm khiêm hạ.

XIV. HÀNH PHÁP KHI THẤT BẠI

Một việc thất bại không có nghĩa con người mình thất bại. Có thể nhớ:

VIỆC THẤT BẠI ≠ CON NGƯỜI THẤT BẠI.

Hãy xem: Sai ở đâu? Duyên thiếu chỗ nào? Học được gì? Còn nên tiếp tục không? Nếu nên: Sửa. Nếu không: Buông.

XV. PHẬT PHÁP KHÔNG BIẾN MÌNH THÀNH NGƯỜI KHÔNG BAO GIỜ VẤP

Pháp giúp mình:

VẤP → THẤY → NHẬN → SỬA → ĐỨNG LẠI.

Người tu không phải người đã hoàn hảo. Người tu là người đang học cách sửa mình ngày càng thật hơn.

XVI. TIẾN BỘ PHẢI LÀM THAM – SÂN – SI GIẢM

Học pháp nhiều hơn nhưng tâm có nhẹ hơn không? Giữ giới nhiều hơn nhưng có từ bi hơn không? Ngồi lâu hơn nhưng có bớt sân không? Niệm Phật nhiều hơn nhưng có dễ trở về hơn không? Có thể nhớ:

PHÁP TU ĐÚNG PHẢI LÀM THAM, SÂN, SI DẦN MẤT ĐẤT SỐNG.

XVII. ĐỪNG BIẾN CÔNG THỨC THÀNH THỨ ĐỂ HỌC THUỘC

Công thức để dùng. Không phải để khoe thuộc. Khi sân:

NHẬN → DỪNG → SOI → BUÔNG.

Khi bị chê:

DỪNG → LỌC → SỬA → BUÔNG.

Khi tâm loạn:

BIẾT → TRỞ VỀ.

Khi làm thiện:

LÀM → KHÔNG GIỮ CÔNG.

Chỉ cần nhớ đúng công thức lúc cần.

XVIII. CÔNG THỨC CŨNG PHẢI BIẾT BUÔNG

Công thức là chiếc bè. Ban đầu cần. Khi pháp đã thành phản xạ, không cần lúc nào cũng đọc từng bước trong đầu. Công thức để qua sông. Không phải để chấp vào công thức.

XIX. TỪ KỶ LUẬT ĐẾN NỘI LỰC

Công thức: KỶ LUẬT

→ THÓI QUEN

→ PHẨM CHẤT

→ NỘI LỰC.

Ban đầu phải nhớ giữ giờ. Lâu ngày thành nếp. Ban đầu phải nhớ giữ lời. Lâu ngày thành nhân cách. Ban đầu phải nhớ dừng khi sân. Lâu ngày vừa sân đã tự biết dừng.

XX. TỪ HÀNH VI ĐẾN ĐỨC HẠNH

Một lần nói thật là một hành động. Nói thật lâu ngày thành đức tính. Một lần giữ giới là một hành động. Giữ lâu ngày thành phẩm hạnh. Một lần nhẫn là một hành động. Nhẫn nhiều lần thành sức chứa. Một lần buông là một hành động. Buông nhiều lần thành độ nhẹ của tâm. Có thể nhớ:

HÀNH VI LẶP LẠI

→ THÓI QUEN

→ TÍNH CÁCH

→ ĐỨC HẠNH.

XXI. ĐỊNH LỰC LÀ KHÔNG PHẢN BỘI ĐIỀU ĐÚNG

Mỗi lần biết điều đúng và vẫn giữ nó trong lúc khó, tâm có thêm lực. Nói thật khi nói thật bất lợi. Giữ giới khi giữ giới làm mình mất lợi. Không trả đũa khi rất muốn trả đũa. Nhận sai khi cái tôi muốn cãi. Mỗi lần như vậy là một viên đá trong nền nội lực. Có thể nhớ:

CHỮ TÍN SÂU NHẤT LÀ KHÔNG PHẢN BỘI ĐIỀU ĐÚNG MÌNH ĐÃ THẤY.

XXII. TUỆ = THẤY ĐÚNG + LÀM ĐÚNG + BUÔNG ĐÚNG

Tuệ không chỉ thấy: “Tất cả rồi sẽ qua.” Tuệ còn thấy: “Việc này đang thuộc phần tôi.” Vậy phải làm. Làm xong rồi mới buông phần kết quả. Có thể nhớ:

TUỆ = THẤY ĐÚNG + LÀM ĐÚNG + BUÔNG ĐÚNG.

XXIII. TRÁCH NHIỆM TRƯỚC – BUÔNG SAU

Không thể lấy chữ buông để né trách nhiệm. Có nợ thì trả. Có lỗi thì sửa. Cần xin lỗi thì xin lỗi. Có phần việc thì làm. Sau khi làm đúng phần mình, mới buông phần không thuộc quyền. Câu nhớ: TRÁCH NHIỆM TRƯỚC. BUÔNG SAU.

XXIV. LÀM HẾT PHẦN MÌNH – KHÔNG SỐNG THAY PHẦN NGƯỜI

Người có định lực phân biệt: Việc thuộc phần mình: LÀM. Việc thuộc phần người khác: KHÔNG GÁNH THAY. Việc thuộc nhân duyên: KHÔNG CƯỠNG. Câu nhớ: LÀM HẾT PHẦN MÌNH.

KHÔNG SỐNG THAY PHẦN NGƯỜI.

XXV. TU TẬP PHẢI LÀM CON NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH HƠN

Trưởng thành trong cảm xúc. Trưởng thành trong trách nhiệm. Trưởng thành trong quan hệ. Trưởng thành trong lời nói. Trưởng thành trong cách dùng vật chất. Nếu tu lâu mà ngày càng khó nhận sai, cần xem lại. Nếu làm thiện nhiều mà ngày càng muốn công, cần xem lại. Nếu học nhiều mà ngày càng coi thường người, cần xem lại.

Pháp phải làm cái tôi mềm hơn.

XXVI. TỪ “TÔI MUỐN” SANG “ĐIỀU GÌ ĐÚNG?”

Người bình thường thường hỏi: “Tôi muốn gì?” Người tu dần học hỏi: “Điều gì đúng?” Tôi muốn người kia ở. Nhưng điều đúng có thể là để họ đi. Tôi muốn dự án thành. Nhưng điều đúng có thể là dừng. Tôi muốn trả lời. Nhưng điều đúng có thể là im. Tôi muốn giữ. Nhưng điều đúng có thể là buông.

XXVII. TỪ “TÔI ĐÚNG” SANG “SỰ THẬT LÀ GÌ?”

Người tu không cần bảo vệ hình ảnh: “Tôi luôn đúng.” Người tu cần ưu tiên: “Sự thật là gì?” Câu nhớ:

NGƯỜI TU KHÔNG CẦN BẢO VỆ MÌNH ĐÚNG.

NGƯỜI TU CẦN BẢO VỆ ĐIỀU ĐÚNG.

XXVIII. TỪ “TÔI ĐƯỢC GÌ?” SANG “VIỆC NÀY GIEO NHÂN GÌ?”

Một việc có lợi ngay nhưng gieo nhân xấu không đáng. Một việc có thể thiệt ngay nhưng giữ nhân thiện có thể đáng. Trước quyết định, hỏi: “Việc này đang gieo nhân gì trong tâm tôi?” Nói dối có thể được lợi trước mắt nhưng gieo thói quen dối. Nói thật có thể thiệt trước mắt nhưng gieo nội lực.

XXIX. HÀNH PHÁP TRONG CÔNG VIỆC

Khi mệt, phải thật với mình: Mệt thật hay chỉ chán? Nếu mệt thật: Nghỉ. Nếu chỉ chán: Giữ lời và làm phần đã định. Ép thân khi đã kiệt là thiếu trí. Lấy mệt làm lý do bỏ mọi việc là thiếu lực. Tuệ biết phân biệt.

XXX. HÀNH PHÁP TRONG HỌC TẬP

Đừng học quá nhiều thứ cùng lúc. Chọn một chủ đề. Hiểu. Ghi cốt lõi. Hành. Nghiệm. Rồi mới đi tiếp. Câu nhớ:

HỌC PHẬT KHÔNG PHẢI CHẤT CHỮ VÀO ĐẦU.

HỌC LÀ LẤY ĐÚNG ĐIỀU CẦN RỒI TIÊU HÓA THÀNH ĐỜI SỐNG.

XXXI. HÀNH PHÁP TRONG NIỆM PHẬT

Khi niệm:

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.

Tâm chạy. Biết chạy. Không ghét. Buông cảnh. Trở về danh hiệu. Lặp lại. Một ngày danh hiệu chỉ hiện khi ngồi. Sau này đi cũng nhớ. Sợ cũng nhớ. Bị chạm cũng nhớ. Đến lúc cảnh tới mà câu Phật hiệu tự trở thành chỗ về, đó là kết quả của huân tập.

XXXII. HÀNH PHÁP TRONG NGHỈ NGƠI

Nghỉ không phải lúc nào cũng là lười. Tinh tấn không có nghĩa ép thân tới kiệt. Phải thật để phân biệt: Tôi đang cần nghỉ? Hay tôi đang trốn việc? Đây cũng là tu.

XXXIII. BỐN CÔNG THỨC THÀNH BỐN CÂU HỎI

CÔNG THỨC TAM TẠNG HỎI:

“Việc này có điều bất thiện nào cần dừng, điều thiện nào cần làm, và cái nhiễm nào trong tâm cần làm sạch?”

CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC HỎI:

“Tôi có đang giữ được chữ tín, giới và sự nhất quán không?”

CÔNG THỨC BUÔNG HỎI:

“Tôi đang nắm cái gì?”

CÔNG THỨC PHẬT HỎI:

“Tôi có thấy, tỉnh, buông và sáng hơn không?”

XXXIV. BÀI KIỂM TRA CUỐI NGÀY 5 PHÚT

1. Hôm nay tôi có nói hoặc làm điều gì bất thiện cần sửa không?

2. Hôm nay tôi đã làm được một điều thiện nào?

3. Hôm nay tôi có giữ lời với chính mình không?

4. Chuyện gì hôm nay kéo tâm tôi mạnh nhất?

5. Tôi đang nắm điều gì ở chuyện đó?

6. Có phần nào tôi cần xin lỗi, sửa hoặc làm lại không?

7. Phần nào không cần mang sang ngày mai?

8. Ngày mai tôi chỉ cần sửa một điều gì?

Không cần sửa năm mươi thứ cùng lúc. Chỉ cần một điều. Nhưng sửa thật.

XXXV. CÂU KẾT

Phật pháp chỉ thật sự trở thành của mình khi nó đi qua một hoàn cảnh thật. Một câu vô thường chưa thành của mình cho đến khi mất một thứ mà mình biết quán. Một chữ nhẫn chưa thành của mình cho đến khi bị chạm mà mình giữ được lời. Một chữ buông chưa thành của mình cho đến khi tay tâm đang nắm mà mình mở ra.

Một chữ tín chưa thành của mình cho đến khi giữ điều đúng trong lúc khó. Một chữ định chưa thành của mình cho đến khi tâm bị kéo mà biết quay về. Một chữ tuệ chưa thành của mình cho đến khi cái tôi muốn một đằng mà mình vẫn nhìn được sự thật một nẻo. Đừng cầu nghịch duyên.

Nhưng khi nghịch duyên tới, hãy dùng nó để tu.

MỖI NGHỊCH DUYÊN CÓ THỂ LÀ MỘT BÀI THI.

MỖI BÀI THI LÀM ĐÚNG THÊM MỘT LẦN, PHÁP THÀNH LỰC THÊM MỘT LẦN.

Từ hiểu pháp thành sống pháp. Từ sống pháp thành phẩm chất. Từ phẩm chất thành nội lực. Từ nội lực thành tự do.

CHƯƠNG 11
TỪ NỘI LỰC ĐẾN TỰ DO NỘI TÂM

Khi nói đến định lực, người ta thường nghĩ tới sức mạnh. Nhưng sức mạnh lớn nhất của định lực không phải làm mình cứng hơn. Mà là làm mình tự do hơn. Tự do khỏi việc ai nói gì mình cũng phải phản ứng. Tự do khỏi việc ai thương thì vui, ai lạnh thì khổ. Tự do khỏi việc có tiền thì tự tin, thiếu tiền thì mất giá trị.

Tự do khỏi việc được khen thì phồng, bị chê thì co. Tự do khỏi việc quá khứ đã qua nhưng vẫn nắm chân hiện tại. Tự do khỏi việc cái tôi lúc nào cũng phải đúng.

I. TỰ DO NỘI TÂM LÀ GÌ?

Tự do nội tâm không phải muốn gì làm nấy. Nếu ham muốn khởi lên mà mình bắt buộc phải chạy theo ham muốn, đó chưa chắc là tự do. Nếu giận là phải chửi mới chịu được, chưa phải tự do. Nếu buồn là phải bám một người mới chịu được, chưa phải tự do. Nếu ai hiểu lầm là phải giải thích bằng được, chưa phải tự do.

Tự do sâu hơn là:

CÓ CẢM XÚC NHƯNG KHÔNG BẮT BUỘC PHẢI HÀNH ĐỘNG THEO CẢM XÚC.

CÓ HAM MUỐN NHƯNG KHÔNG BẮT BUỘC PHẢI LÀM THEO HAM MUỐN.

CÓ BỊ CHẠM NHƯNG KHÔNG BẮT BUỘC PHẢI PHẢN ỨNG NGAY.

Câu nhớ:

TỰ DO NỘI TÂM KHÔNG PHẢI MUỐN GÌ LÀM NẤY.

TỰ DO NỘI TÂM LÀ KHI MỘT CÁI MUỐN KHỞI LÊN, MÌNH VẪN CÒN QUYỀN CHỌN.

II. CÁI MÌNH NẮM CÓ THỂ QUAY LẠI NẮM MÌNH

Một căn nhà là để ở. Nhưng nếu danh tính của mình dính vào căn nhà, căn nhà bắt đầu nắm tâm. Một mối quan hệ là để thương. Nhưng nếu nghĩ: “Không có người này tôi không sống được,” mối quan hệ bắt đầu nắm tâm. Một lời khen chỉ là một lời. Nhưng nếu cần lời khen để biết mình có giá trị, lời khen bắt đầu nắm tâm.

Câu nhớ:

CÁI MÌNH NẮM QUÁ CHẶT LÂU NGÀY CÓ THỂ QUAY LẠI NẮM MÌNH.

III. BUÔNG LÀ TRẢ TỰ DO LẠI CHO TÂM

Công thức buông:

NHẬN → SOI → THẤY → KHÔNG DÍNH → KHÔNG CHẤP → BUÔNG → AN.

NHẬN: Không để cảm xúc hoạt động trong bóng tối. SOI: Không để câu chuyện bên ngoài che mất cái nắm bên trong. THẤY: Không dựng thực tại theo ý mình. KHÔNG DÍNH: Không để cảnh kéo tâm đi. KHÔNG CHẤP: Không biến cảnh thành “tôi”, “của tôi”, “phải theo ý tôi”. BUÔNG: Thôi nắm.

AN:

Tâm nhẹ khi không còn phải giữ quá nhiều. Có thể nhớ:

BUÔNG = TRẢ TỰ DO LẠI CHO TÂM.

IV. TỰ DO KHỎI NHU CẦU PHẢI ĐƯỢC HIỂU

Con người muốn được hiểu là bình thường. Nhưng nếu ai cũng phải hiểu mình thì rất khổ. Có chuyện cần làm rõ thì làm rõ. Có chuyện nên để thời gian trả lời. Có chuyện không cần mang. Câu nhớ:

CÓ CHUYỆN CẦN GIẢI THÍCH THÌ GIẢI THÍCH.

NHƯNG ĐỪNG BIẾN CẢ ĐỜI THÀNH CÔNG VIỆC ĐI SỬA SUY NGHĨ CỦA THIÊN HẠ VỀ MÌNH.

V. TỰ DO KHỎI LỜI KHEN

Lời khen có thể là niềm vui. Nhưng đừng biến nó thành thứ bắt buộc phải có mỗi ngày. Được khen: Biết vui. Hoan hỷ. Biết nhân duyên. Rồi để qua. Câu nhớ:

LỜI KHEN CÓ THỂ LÀ NIỀM VUI.

NHƯNG ĐỪNG BIẾN NÓ THÀNH DƯỠNG KHÍ.

VI. TỰ DO KHỎI LỜI CHÊ

Khi có lời chê:

NGHE → LỌC → SỬA PHẦN ĐÚNG → BUÔNG PHẦN SAI.

Đừng biến thông tin thành bản án. “Người ta nói tôi dở” khác với: “Tôi là người dở.” Một câu là sự kiện. Một câu là đồng hóa. Định lực giữ mình ở sự kiện. Tuệ ngăn mình đồng hóa.

VII. TỰ DO KHỎI CÁI ĐÚNG CỦA MÌNH

Có người không tham tiền nhiều nhưng rất tham được công nhận là đúng. Mình có thể đúng mà người kia chưa thấy. Không phải lúc nào cũng cần làm họ công nhận ngay. Có thể nhớ: ĐÚNG KHÔNG ĐỦ.

CÒN PHẢI ĐÚNG LÚC VÀ ĐÚNG CÁCH.

VIII. TỰ DO KHỎI CÔNG LAO

Làm thiện rồi giữ công, cái thiện trở thành dây buộc. Không phủ nhận việc mình đã làm. Nhưng không biến việc thiện thành món nợ người khác phải trả. Câu nhớ:

THIỆN ĐÃ LÀM LÀ NHÂN MÌNH ĐÃ GIEO.

ĐỪNG BIẾN NÓ THÀNH HÓA ĐƠN GỬI CHO NGƯỜI KHÁC.

IX. TỰ DO TRONG TÌNH THƯƠNG

Tự do không có nghĩa hết thương. Tự do là thương mà không sở hữu. Người kia có đời sống và nhân duyên của họ. Mình cũng vậy. Tình thương trưởng thành không chỉ hỏi: “Làm sao giữ người này cho tôi?” Mà hỏi: “Điều gì thật sự tốt cho cả hai?”

X. TỰ DO KHỎI QUÁ KHỨ

Quá khứ đã xảy ra. Nhưng tâm có thể làm nó xảy ra lại mỗi ngày. Ta không đổi được chuyện đã xảy ra. Nhưng có thể đổi quyền lực mà chuyện ấy đang có trên tâm mình hôm nay. Không cần quên. Chỉ cần quá khứ không còn quản hiện tại.

XI. TỰ DO KHỎI TƯƠNG LAI

Chuẩn bị cho tương lai là cần. Nhưng không nên đem cả tương lai về ở trong đầu hôm nay. Phần nào cần chuẩn bị: LÀM. Phần nào chưa tới: KHÔNG SỐNG TRƯỚC. Câu nhớ:

CHUẨN BỊ CHO TƯƠNG LAI.

NHƯNG ĐỪNG ĐEM CẢ TƯƠNG LAI VỀ Ở TRONG ĐẦU HÔM NAY.

XII. TỰ DO KHỎI NỖI SỢ MẤT

Có vật mà chỉ lo mất thì chưa thật sự hưởng. Có người mà chỉ sợ người đi thì tình thương trở thành lo. Có danh mà chỉ sợ bị chê thì danh trở thành gánh. Thấy vô thường không phải để sợ hơn. Thấy vô thường để biết:

CÁI GÌ ĐANG CÓ MẶT, HÃY DÙNG ĐÚNG KHI CÒN CÓ MẶT.

XIII. TỰ DO KHỎI NHU CẦU PHẢI ĐẶC BIỆT

Cái tôi thích nghĩ: “Tôi đặc biệt.” “Tôi có căn cơ.” “Tôi hơn người.” Người tu phải soi những chỗ này. Có khả năng thì dùng khả năng. Có duyên thì làm việc. Không cần biến khả năng thành lý do để đứng cao hơn người khác. Câu nhớ:

KHÔNG CẦN TRỞ THÀNH NGƯỜI ĐẶC BIỆT.

CHỈ CẦN TRỞ THÀNH NGƯỜI NGÀY CÀNG CHÂN THẬT, THIỆN LÀNH VÀ TỈNH THỨC.

XIV. TỰ DO KHỎI HÌNH ẢNH “NGƯỜI TU PHẢI HOÀN HẢO”

Người tu vẫn có thể buồn. Vẫn có thể sân. Vẫn có thể mệt. Vẫn có thể sai. Điều quan trọng là xử lý những trạng thái đó thế nào. Buồn: Biết buồn. Sân: Biết sân. Sai: Biết nhận. Mệt: Biết nghỉ. Câu nhớ:

TU KHÔNG PHẢI DIỄN VAI THANH TỊNH.

TU LÀ LÀM CHO TÂM THẬT SỰ BỚT NHIỄM.

XV. TỰ DO VÀ RANH GIỚI

Buông hận không có nghĩa mở cửa cho hành vi gây hại quay lại. Người tu vẫn có thể nói: “Không.” “Việc này tôi không đồng ý.” “Duyên này tôi cần giữ khoảng cách.” Từ bi với người phải đi cùng trí tuệ với chính mình.

XVI. TỰ DO KHÔNG PHẢI BUÔNG HẾT KẾ HOẠCH

Người có tuệ vẫn lập kế hoạch. Nhưng không bắt đời phải theo kế hoạch. Công thức:

LẬP KẾ HOẠCH BẰNG TRÍ.

THỰC HIỆN BẰNG LỰC.

ĐÓN KẾT QUẢ BẰNG TÂM BUÔNG.

XVII. ĐẠI NGUYỆN GIÚP TỰ DO HƠN

Người không có hướng phải lựa chọn lại mỗi ngày. Người có đại nguyện chỉ cần hỏi: “Việc này có đưa mình đúng hướng không?” Nếu không phù hợp giới, thiện và đại nguyện: Không cần chạy theo. Đại nguyện loại bớt những lựa chọn không cần thiết.

XVIII. GIỚI BẢO VỆ TỰ DO

Nhiều người nghĩ giới là mất tự do. Nhưng giới bảo vệ một tự do lớn hơn. Không nói dối: Tự do khỏi việc phải giữ lời dối. Không trộm cắp: Tự do khỏi nỗi sợ hậu quả. Không tà hạnh: Bớt rối trong quan hệ. Không để chất say làm chủ: Giữ quyền lựa chọn. Câu nhớ:

GIỚI KHÔNG LẤY TỰ DO CỦA MÌNH.

GIỚI BẢO VỆ TỰ DO KHỎI NHỮNG HÀNH VI CÓ THỂ BIẾN MÌNH THÀNH NÔ LỆ CỦA HẬU QUẢ.

XIX. ĐỊNH TẠO KHOẢNG DỪNG

Không có khoảng dừng thì ít lựa chọn. Có khoảng dừng thì có tự do. Công thức: CẢNH

→ DỪNG

→ THẤY

→ CHỌN.

Định lực tạo khoảng trống giữa kích thích và phản ứng. Trong khoảng trống ấy, tuệ có thể chọn.

XX. ĐỊNH VÀ TUỆ PHẢI ĐI CÙNG

Có lực mà thiếu tuệ có thể thành lì. Có tuệ mà thiếu lực thì thấy đúng nhưng không làm được. Có thể nhớ:

ĐỊNH CHO MÌNH QUYỀN CHỌN.

TUỆ GIÚP MÌNH CHỌN ĐÚNG.

XXI. TỰ DO TRƯỚC TÁM PHÁP THẾ GIAN

Được và mất. Danh thơm và tiếng xấu. Khen và chê. Vui và khổ. Cảnh có thể làm cảm xúc thay đổi. Nhưng không nên làm phương hướng đạo đức thay đổi. Câu nhớ:

CẢNH CÓ THỂ ĐỔI THỜI TIẾT CỦA CẢM XÚC.

ĐỪNG ĐỂ NÓ ĐỔI LA BÀN CỦA ĐỜI MÌNH.

La bàn là: GIỚI. CHÁNH KIẾN. ĐẠI NGUYỆN. ĐIỀU THIỆN.

XXII. NIỆM PHẬT VÀ TỰ DO

Khi niệm:

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.

Vọng khởi. Biết. Không đuổi. Không theo. Trở về danh hiệu. Có thể nhớ:

VỌNG ĐƯỢC QUYỀN TỚI.

MÌNH KHÔNG BẮT BUỘC PHẢI ĐI THEO.

Mỗi lần trở về là một lần tâm lấy lại quyền làm chủ.

XXIII. TỰ DO KHÔNG PHẢI “TÔI KHÔNG CẦN AI”

Người có tự do nội tâm vẫn cần tình thương và sự tương trợ. Nhưng không bắt một người phải gánh toàn bộ ý nghĩa đời mình. Có thể nhớ: TÔI QUÝ NGƯỜI.

TÔI CÓ THỂ NHỜ GIÚP KHI CẦN.

NHƯNG TÔI KHÔNG GIAO TOÀN BỘ TÂM MÌNH CHO MỘT NGƯỜI QUẢN.

XXIV. TỰ DO KHỎI NHU CẦU KIỂM SOÁT

Hãy chia hai nhóm. PHẦN THUỘC MÌNH: Lời nói. Hành động. Thái độ. Nỗ lực. Giới.

PHẦN KHÔNG HOÀN TOÀN THUỘC MÌNH:

Người khác nghĩ gì. Họ ở hay đi. Kết quả cuối cùng. Biến cố. Nhân duyên. Công thức:

PHẦN MÌNH → HẾT LÒNG.

PHẦN DUYÊN → KHÔNG CƯỠNG.

XXV. TỰ DO KHỎI VIỆC PHẢI THẮNG

Không phải cuộc tranh luận nào cũng đáng tham gia. Có những trận thắng làm tâm thua. Trước khi tranh, hỏi: “Điều này cần bảo vệ không?” “Có ích không?” “Hay chỉ là cái tôi muốn thắng?”

XXVI. TỰ DO KHỎI SO SÁNH

So sánh để học có thể hữu ích. So sánh để hạ mình hoặc nâng mình làm tâm mất lực. Đừng chỉ hỏi: “Tôi hơn ai?” Hãy hỏi: “Hôm nay tôi có bớt mê, bớt chấp, bớt hại hơn hôm qua không?” Đường tu không phải cuộc đua hơn người.

XXVII. TỰ DO VÀ SỰ ĐƠN GIẢN

Tâm càng nhiều chữ “phải” càng nặng. Người này phải hiểu. Người kia phải ở. Việc này phải thành. Mọi thứ phải theo ý. Bỏ bớt những chữ “phải” không thuộc nguyên tắc đạo đức, tâm sẽ nhẹ hơn. Điều đúng vẫn giữ. Điều không thuộc quyền thì bớt ép.

XXVIII. DẤU HIỆU TÂM ĐANG TỰ DO HƠN

1. Không cần phản ứng ngay.

2. Không cần ai cũng hiểu.

3. Không cần thắng mọi tranh luận.

4. Không cần giữ mọi người.

5. Không cần giữ mọi món.

6. Không cần được khen liên tục.

7. Bị chê vẫn nhìn được phần đúng.

8. Sai dám nhận.

9. Có thể nói “không” mà không hận.

10. Có thể rời mà không trả thù.

11. Có thể thương mà không sở hữu.

12. Có thể làm thiện mà không giữ công.

XXIX. BỐN CÔNG THỨC DẪN ĐẾN TỰ DO NỘI TÂM

PHÁP CÚ 183:

BỎ ÁC → LÀM LÀNH → LÀM SẠCH TÂM.

ĐỊNH LỰC:

THẬT → TÍN → THIỆN → GIỚI → ĐỊNH → TUỆ → LỰC.

BUÔNG:

NHẬN → SOI → THẤY → KHÔNG DÍNH → KHÔNG CHẤP → BUÔNG → AN.

PHẬT:

THẤY → TỈNH → BUÔNG → SÁNG.

Kết quả thực tế:

TÂM NGÀY CÀNG CÓ NHIỀU TỰ DO HƠN.

Không phải tự do muốn làm gì thì làm. Mà là tự do không phải làm theo tham, sân và si.

XXX. CÔNG THỨC TỰ DO NỘI TÂM

Bản đầy đủ: TỰ DO NỘI TÂM = THẤY RÕ

→ CÓ KHOẢNG DỪNG

→ CÓ QUYỀN CHỌN

→ CHỌN ĐÚNG

→ KHÔNG CHẤP KẾT QUẢ.

Bản ngắn:

THẤY → DỪNG → CHỌN → BUÔNG.

THẤY: Để không mù. DỪNG: Để không bị kéo. CHỌN: Để sống bằng trí. BUÔNG: Để không mang.

XXXI. BÀI THỰC HÀNH 7 TỰ DO

NGÀY 1: Không giải thích một việc không cần giải thích. NGÀY 2: Nghe một lời chê mà không đáp ngay. NGÀY 3: Làm một việc thiện không kể. NGÀY 4: Nói “không” với một việc không phù hợp mà không sân. NGÀY 5: Buông một món hoặc một chuyện không cần giữ. NGÀY 6: Dành một khoảng thời gian không so sánh mình với ai.

NGÀY 7: Viết ra ba điều không thuộc quyền mình và tập trả chúng về nhân duyên.

XXXII. BÀI QUÁN: CÁI GÌ ĐANG NẮM TÔI?

Hãy hỏi: “Hiện giờ điều gì có thể làm tâm tôi mất bình an nhanh nhất?” Một người? Một món? Một lời? Một danh? Một kết quả? Một nỗi sợ? Rồi hỏi: “Tôi đang nắm nó, hay nó đang nắm tôi?” Nếu nó đang nắm mình, đó chính là nơi cần tu.

XXXIII. CÂU KẾT

Tự do không phải có tất cả. Tự do là có mà không bị cái có trói. Tự do không phải không thương ai. Tự do là thương mà không sở hữu. Tự do không phải không nghe lời khen chê. Tự do là nghe mà không giao giá trị của mình cho miệng người khác. Tự do không phải không có quá khứ.

Tự do là quá khứ không còn quản hiện tại. Tự do không phải không có tương lai. Tự do là tương lai chưa tới không ăn hết ngày hôm nay. Tự do không phải không có cảm xúc. Tự do là cảm xúc không lấy mất quyền chọn. Tự do không phải làm đời theo ý mình. Tự do là đời không theo ý mà mình vẫn giữ được điều đúng.

Và tự do lớn nhất của người tu là:

THAM TỚI – BIẾT MÀ KHÔNG THEO.

SÂN TỚI – BIẾT MÀ KHÔNG THEO.

SI TỚI – BIẾT MÀ KHÔNG ĐỂ NÓ QUYẾT ĐỊNH.

KHI ĐÓ, ĐỊNH LỰC ĐÃ BẮT ĐẦU TRỞ THÀNH TỰ DO.

CHƯƠNG 12
TỪ TỰ DO NỘI TÂM ĐẾN TÂM VỮNG GIỮA BIẾN ĐỘNG

Có một chữ trong đạo nghe rất mạnh: BẤT ĐỘNG. Nhiều người tưởng tâm bất động là: Không buồn. Không vui. Không thương. Không đau. Không phản ứng. Nhưng hiểu như vậy rất dễ biến tu tập thành lạnh lẽo. Bất động theo hướng thực hành không phải không còn cảm xúc. Bất động là:

CÓ CẢM NHƯNG KHÔNG BỊ CẢM XÚC ĐIỀU KHIỂN HOÀN TOÀN.

Có thể buồn nhưng không vì buồn mà làm điều sai. Có thể đau nhưng không vì đau mà trả thù. Có thể thương nhưng không vì thương mà sở hữu. Có thể sợ nhưng không vì sợ mà bán điều đúng. Có thể bị chê nhưng không vì chê mà đổi hướng sống. Câu nhớ:

BẤT ĐỘNG KHÔNG PHẢI TÂM KHÔNG CÓ SÓNG.

BẤT ĐỘNG LÀ SÓNG CÓ LÊN MÀ KHÔNG NHỔ ĐƯỢC CÁI GỐC CỦA TÂM.

I. BẤT ĐỘNG KHÁC VỚI LÌ

Có người không phản ứng vì chai, đóng hoặc đè nén. Đó chưa chắc là định. Có thể phân biệt:

LÌ = KHÔNG MUỐN CẢM.

BẤT ĐỘNG = CÓ CẢM NHƯNG KHÔNG MẤT HƯỚNG.

Người có tâm vững vẫn thấy, nghe, biết và thương. Nhưng không bị cảnh kéo khỏi điều đúng.

II. TÂM BẤT ĐỘNG PHẢI CÓ GỐC

Một cây đứng giữa gió không phải vì cành không lay. Mà vì rễ sâu. Rễ của tâm gồm: GIỚI. ĐỊNH. TUỆ. CHỮ TÍN. CHÁNH KIẾN. ĐẠI NGUYỆN. Không có gốc, cố “không động” dễ biến thành nén.

III. BẤT ĐỘNG VÀ CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC

Công thức định lực: THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

Có lực rồi tâm mới có khả năng đứng trước cảnh.

IV. BẤT ĐỘNG TRƯỚC LỜI KHEN

Được khen: Biết vui. Không cần giả bộ không vui. Nhưng không phồng. Không sống để tìm thêm lời khen. Ngày mai không ai khen vẫn làm điều đúng. Đó là bất động.

V. BẤT ĐỘNG TRƯỚC LỜI CHÊ

Bị chê: Có thể đau. Nhưng không vội đánh trả. Lọc phần đúng. Sửa phần đúng. Buông phần sai. Không đổi phẩm chất vì một lời. Đó là bất động.

VI. BẤT ĐỘNG TRƯỚC ĐƯỢC – MẤT

Có được thì biết dùng. Mất thì biết xử lý. Không để cái được làm mình kiêu. Không để cái mất làm mình sụp. Đó là bất động.

VII. BẤT ĐỘNG TRƯỚC TÁM PHÁP THẾ GIAN

Được – mất. Danh thơm – tiếng xấu. Khen – chê. Khổ – vui. Tám ngọn gió vẫn thổi. Câu nhớ:

TÁM NGỌN GIÓ CÓ THỂ LÀM LÁ RUNG.

NHƯNG KHÔNG NHẤT THIẾT LÀM BẬT GỐC.

Rễ sâu là định lực.

VIII. BẤT ĐỘNG KHÔNG CÓ NGHĨA KHÔNG HÀNH ĐỘNG

Có chuyện cần ngăn thì ngăn. Có người làm sai thì góp ý. Có nguy hiểm thì tránh. Có việc cần xử lý thì xử lý. Bất động là:

TÂM KHÔNG BỊ SÂN DẪN.

Không phải tay chân không làm gì.

TÂM CÓ THỂ YÊN MÀ HÀNH ĐỘNG VẪN RẤT RÕ.

IX. BẤT ĐỘNG VÀ RANH GIỚI

Người tu vẫn có thể nói: “Không.” “Việc này tôi không đồng ý.” “Duyên này không phù hợp.” “Việc này tôi cần giữ khoảng cách.” Khác ở chỗ: Không làm vì hận. Làm vì thấy cần.

X. BẤT ĐỘNG VÀ CÁI TÔI

Cái tôi dễ động khi bị chạm vào: Danh. Quyền. Ý kiến. Công lao. Người mình thương. Hình ảnh của mình. Khi bị chạm, hãy hỏi:

“CÁI GÌ TRONG TÔI ĐANG BỊ ĐỤNG?”

Thấy đúng gốc thì mới buông đúng.

XI. BẤT ĐỘNG VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

Khi cảnh tới: NHẬN: “Tâm đang động.” SOI: “Cái gì bị chạm?” THẤY: “Đây là cảm thọ, ý nghĩ hoặc chấp niệm.” KHÔNG DÍNH: Không chạy theo. KHÔNG CHẤP: Không biến nó thành tôi hoặc của tôi. BUÔNG: Thả phần không cần.

AN:

Trở về. Công thức: NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

XII. BẤT ĐỘNG ĐƯỢC XÂY BẰNG HÀNG NGÀN LẦN NHỎ

Bị chạm mà dừng. Bị chê mà lọc. Được khen mà không phồng. Mất mà không sụp. Thương mà không chiếm. Sợ mà vẫn giữ điều đúng. Mỗi lần như vậy, rễ sâu thêm một chút.

XIII. BẤT ĐỘNG VÀ NIỆM PHẬT

Khi tâm động: Biết. Trở về:

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.

Không cần tranh với vọng. Không cần thắng vọng. Chỉ cần biết đường về. Ngày này qua ngày khác, câu Phật hiệu trở thành một cái trục cho tâm.

XIV. BẤT ĐỘNG VÀ HƠI THỞ

Có thể thực hành: Thở vào: “Tôi biết tâm đang động.” Thở ra: “Tôi chưa cần phản ứng.” Ba hơi thở cũng có thể tạo một khoảng đủ để trí tuệ bước vào.

XV. CHẬM MỘT NHỊP LÀ MỘT LOẠI LỰC

Người tâm yếu thường phản ứng rất nhanh. Người có lực chịu được vài giây chưa làm gì. Câu nhớ:

CHẬM MỘT NHỊP KHÔNG PHẢI YẾU.

NHIỀU KHI ĐÓ LÀ LÚC TRÍ TUỆ KỊP BƯỚC VÀO.

XVI. ĐẠI NGUYỆN GIÚP TÂM ÍT BỊ CHUYỆN NHỎ LÔI ĐI

Một lời chê không lớn hơn đại nguyện. Một người đổi không lớn hơn con đường. Một món mất không lớn hơn phẩm chất. Một thất bại không lớn hơn hướng sống. Đại nguyện làm chuyện nhỏ trở về đúng kích thước.

XVII. BẤT ĐỘNG KHÔNG PHẢI KHÔNG THAY ĐỔI

Nếu thấy sai, phải đổi. Nếu phương pháp không phù hợp, phải đổi. Nếu có thông tin đúng hơn, phải sửa. Bất động không phải cứng đầu. Có thể nhớ:

VỮNG TRONG NGUYÊN TẮC.

MỀM TRONG PHƯƠNG TIỆN.

XVIII. BẤT ĐỘNG TRƯỚC THÀNH CÔNG

Thành công cũng là một bài thi. Được nhiều người nghe vẫn giữ thật. Được khen vẫn biết duyên. Có vật chất vẫn giữ giới. Có quyền vẫn không làm hại. Đó là bất động.

XIX. BẤT ĐỘNG TRƯỚC THẤT BẠI

Một việc không thành không có nghĩa cả con người thất bại. Hãy: NHÌN LẠI. HỌC. SỬA. BUÔNG. Không biến: “Việc này thất bại” thành: “Tôi là người thất bại.”

XX. BẤT ĐỘNG TRƯỚC NGƯỜI RỜI ĐI

Người rời đi. Có thể đau. Nhưng không tự hạ mình để níu. Không trả thù. Không bôi xấu. Không phá giới. Không vì một người mà bỏ cả hướng. Câu nhớ:

NGƯỜI CÓ THỂ RỜI KHỎI ĐỜI MÌNH.

ĐỪNG ĐỂ HỌ MANG LUÔN CÁI TRỤC CỦA ĐỜI MÌNH ĐI.

XXI. BẤT ĐỘNG TRƯỚC NGƯỜI Ở LẠI

Người ở lại cũng là một bài tu. Dễ sinh sở hữu: “Người này là của tôi.” “Phải nghe tôi.” “Phải ở với tôi.” Có mà không chấp mới là khó.

XXII. BẤT ĐỘNG VÀ TỪ BI

Tâm vững giúp lòng từ đúng hơn. Thấy người sân mà không cần sân theo. Thấy người đau mà không chìm cùng. Giúp mà không bị cuốn. Đó là lòng từ có định.

XXIII. BẤT ĐỘNG VÀ TUỆ

Tuệ giúp phân biệt: Cái gì cần dừng. Cái gì cần chịu. Cái gì cần sửa. Cái gì cần buông. Cái gì cần nói. Cái gì cần im. Không có tuệ, bất động dễ thành cứng. Có tuệ, bất động thành sáng.

XXIV. BẤT ĐỘNG VÀ PHÁP CÚ 183

“Không làm các điều ác”: Khi bị chạm vẫn không làm ác. “Thành tựu các hạnh lành”: Gặp duyên vẫn làm thiện. “Giữ tâm ý trong sạch”: Giữa khen chê vẫn biết thanh lọc tâm. Vì vậy Pháp Cú 183 cũng có thể làm nền cho một tâm không bị cảnh sai khiến.

XXV. CÔNG THỨC BẤT ĐỘNG

Bản đầy đủ: CẢNH TỚI

→ BIẾT

→ DỪNG

→ GIỮ GIỚI

→ SOI TÂM

→ THẤY ĐÚNG

→ CHỌN ĐÚNG

→ BUÔNG PHẦN CÒN LẠI.

Bản ngắn:

BIẾT → DỪNG → GIỮ → THẤY → BUÔNG.

BIẾT: Để không mù. DỪNG: Để không phản ứng ngay. GIỮ: Để không phá giới. THẤY: Để tuệ làm việc. BUÔNG: Để trở về an.

XXVI. BẤT ĐỘNG VÀ SỨC CHỨA

Người có lực có sức chứa. Không phải ai nói gì cũng bật lại. Có thể nghe. Có thể đợi. Có thể tiêu hóa. Nhưng sức chứa không phải dung túng. Phải có giới hạn và trí tuệ.

XXVII. BẤT ĐỘNG VÀ TỰ TIN

Tự tin sâu không phải nghĩ mình hơn người. Tự tin là biết: Có thể sai nhưng biết sửa. Có thể ngã nhưng biết đứng. Có thể loạn nhưng biết về. Cái biết mình có đường trở về tạo ra một loại tự tin rất vững.

XXVIII. BẤT ĐỘNG VÀ KHIÊM HẠ

Người có lực không cần chứng minh lực. Câu nhớ:

NỘI LỰC THẬT KHÔNG CẦN QUẢNG CÁO.

Giống rễ cây. Không phô. Nhưng giữ cả cây.

XXIX. VIỆC NHỎ LÀ PHÒNG TẬP CỦA ĐỊNH LỰC

Có thể tập ngay trong: Kẹt xe. Mạng chậm. Người trả lời trễ. Lịch thay đổi. Một món ăn không vừa ý. Một câu khó nghe. Một việc trễ. Câu nhớ:

VIỆC NHỎ LÀ NƠI LUYỆN LỰC CHO VIỆC LỚN.

XXX. BÀI TẬP 7 NGÀY TÂM BẤT ĐỘNG

NGÀY 1: Có việc trái ý, dừng ba hơi thở. NGÀY 2: Nghe một lời chê, không trả lời ngay. NGÀY 3: Có người làm chậm việc, quan sát tâm sốt ruột. NGÀY 4: Một kế hoạch thay đổi, tập thích nghi mà không than quá lâu. NGÀY 5: Được khen, hoan hỷ rồi buông. NGÀY 6: Một chuyện cũ hiện lên, không kể lại thêm.

NGÀY 7: Tự hỏi: “Cảnh nào kéo tâm tôi mạnh nhất?” Chính cảnh đó là chỗ cần tập tiếp.

XXXI. BA MỨC CỦA ĐỊNH LỰC TRONG ĐỜI SỐNG

MỨC 1: Bị kéo rồi mới biết. Chuyện xong mới nhận ra mình sân. MỨC 2: Đang bị kéo thì biết. Đang sân mà nhận ra. Có thể dừng giữa chừng. MỨC 3: Vừa khởi đã biết. Sân mới nhú đã thấy. Tham mới nhú đã thấy. Tự ái mới nhú đã thấy. Đó là tiến trình của tỉnh thức.

XXXII. TỐC ĐỘ TRỞ VỀ LÀ MỘT THƯỚC ĐO ĐỊNH LỰC

Ngày trước một chuyện làm loạn bảy ngày. Sau này một ngày. Rồi một giờ. Rồi vài phút. Rồi vừa động đã biết. Câu nhớ:

ĐỊNH LỰC KHÔNG CHỈ ĐO BẰNG ĐỘ ÍT ĐỘNG.

ĐỊNH LỰC CÒN ĐO BẰNG TỐC ĐỘ TRỞ VỀ.

XXXIII. BẤT ĐỘNG VÀ TỰ DO NỘI TÂM

Có định: Có khoảng dừng. Có khoảng dừng: Có lựa chọn. Có tuệ: Chọn đúng. Có buông: Không mang. Công thức: ĐỊNH

→ KHOẢNG DỪNG

→ LỰA CHỌN

→ TUỆ

→ HÀNH ĐÚNG

→ BUÔNG

→ TỰ DO.

XXXIV. CÂU KẾT

Tâm bất động không phải tâm chết. Nó vẫn biết thương. Vẫn biết đau. Vẫn biết vui. Vẫn biết buồn. Nhưng không còn giao hết quyền cho cảnh. Người đến: Biết quý. Người đi: Biết buông. Có: Biết dùng. Mất: Biết học. Khen: Biết nhận. Chê: Biết lọc. Thành: Không kiêu. Bại: Không sụp. Sai: Biết sửa.

Đúng: Biết giữ. Mệt: Biết nghỉ. Khỏe: Biết hành. Đó không phải một tâm không động. Đó là một tâm có gốc.

VÀ MỘT TÂM CÓ GỐC THÌ GIÓ VẪN THỔI, NHƯNG KHÔNG DỄ BẬT.

CHƯƠNG 13
TÂM CÓ GỐC – ĐỜI CÓ GIÓ MÀ KHÔNG DỄ ĐỔ

Sau khi nói tới tâm bất động, cần đi thêm một bước. Bất động mà thiếu trí dễ thành cứng. Có lực mà thiếu từ dễ thành lạnh. Có nguyên tắc mà thiếu khả năng buông dễ thành chấp. Vì vậy cái tâm cần xây không chỉ là một cái tâm đứng vững. Mà là một cái tâm:

CÓ GỐC NHƯNG VẪN MỀM.

CÓ HƯỚNG NHƯNG BIẾT ĐỔI CÁCH.

CÓ LỰC NHƯNG KHÔNG CẦN ÁP NGƯỜI.

CÓ TRÍ NHƯNG KHÔNG LẠNH.

CÓ TỪ NHƯNG KHÔNG YẾU.

Câu nhớ:

CÂY SỐNG ĐƯỢC LÂU KHÔNG PHẢI VÌ CỨNG NHƯ ĐÁ.

MÀ VÌ RỄ SÂU VÀ BIẾT MỀM THEO GIÓ.

I. TÂM CÓ GỐC LÀ GÌ?

Gốc không phải một lời tuyên bố mạnh. Không phải: “Tôi quyết rồi.” “Tôi không thay đổi.” Gốc là những điều đã đi đủ sâu vào đời sống: Sống thật. Giữ giới. Giữ lời. Có hướng thiện. Biết trở về. Biết điều gì đúng. Biết điều gì không nên làm dù có lợi. Biết đời mình muốn đi về đâu.

Câu nhớ:

GỐC LÀ ĐIỀU ĐÚNG MÀ MÌNH VẪN GIỮ KHI GIỮ NÓ KHÔNG CÒN DỄ NỮA.

II. GỐC KHÁC CHẤP

GỐC = GIỮ ĐIỀU ĐÚNG.

CHẤP = GIỮ Ý MÌNH BẤT KỂ ĐÚNG SAI.

Người có gốc vẫn sửa khi thấy sai. Người chấp không muốn sửa. Người có gốc nghe góp ý. Người chấp xem góp ý là xúc phạm. Người có gốc bảo vệ điều đúng. Người chấp bảo vệ mình đúng. Câu nhớ:

CÓ GỐC KHÔNG CÓ NGHĨA KHÔNG ĐỔI.

CÓ GỐC LÀ BIẾT CÁI GÌ KHÔNG NÊN ĐỔI VÀ CÁI GÌ PHẢI ĐỔI KHI THẤY SAI.

III. MỀM TRONG CÁCH – VỮNG TRONG GỐC

Một cây tre có thể cong theo gió mà không gãy. Người tu cũng vậy. Có lúc phải đổi cách. Có lúc phải lùi. Có lúc phải im. Có lúc phải dừng kế hoạch. Có lúc phải nhường một câu. Nếu điều đúng vẫn còn thì không phải mất gốc. Công thức: MỀM TRONG CÁCH. VỮNG TRONG GỐC.

IV. GIỮ NGUYỆN – BUÔNG CÁCH

Nguyện là hướng. Phương tiện là cách. Ví dụ: Nguyện: Giúp người hiểu Pháp. Phương tiện có thể là: Nói trực tiếp. Livestream. Sách. Audio. Website. Video. Một phương tiện không phù hợp thì đổi. GIỮ NGUYỆN. BUÔNG CÁCH.

V. VÔ THƯỜNG KHÔNG CÓ NGHĨA KHÔNG CÓ HƯỚNG

Thân đổi. Tuổi đổi. Hoàn cảnh đổi. Người đổi. Phương tiện đổi. Nhưng vẫn có thể giữ những hướng căn bản: Không cố ý làm hại. Không bán giới để đổi lợi. Không lấy cái sai làm phương tiện. Không bỏ việc soi tâm. Không bỏ hướng thiện. Câu nhớ:

VÔ THƯỜNG KHÔNG CÓ NGHĨA KHÔNG CÓ HƯỚNG.

VI. GỐC ĐƯỢC XÂY BẰNG NHỮNG NHÂN LẶP LẠI

Một lần nói dối huân thói quen dối. Một lần giữ lời huân chữ tín. Một lần dừng sân huân khả năng dừng. Một lần nhận lỗi huân sự thật. Một lần buông huân khả năng nhẹ. Gốc không tự nhiên có. Gốc được gieo, tưới, thử và sửa qua thời gian.

VII. GỐC VÀ SỰ THẬT

Không có sự thật thì nội lực thiếu nền. Phải thật với: Động cơ. Lỗi. Giới hạn. Sức mình. Cái mình đang chấp. Câu nhớ:

KHÔNG CÓ SỰ THẬT, KHÔNG CÓ NỀN ĐỂ DỰNG NỘI LỰC.

VIII. GỐC VÀ CHỮ TÍN

Thật một lần chưa thành gốc. Phải lặp lại. Chữ tín làm cái thật thành bền. Vì vậy:

ĐỪNG HỨA QUÁ NHIỀU.

HỨA ÍT. GIỮ CHẮC. Câu nhớ:

NGUYỆN NHỎ MÀ GIỮ ĐƯỢC CÒN MẠNH HƠN NGUYỆN LỚN MÀ BỎ.

IX. GỐC VÀ GIỚI

Giới bảo vệ tâm khỏi những việc mà sau đó chính tâm phải trả giá. Có thể nhớ:

GIỚI = HÀNG RÀO BẢO VỆ NỘI LỰC.

Phá giới rồi hối. Nói dối rồi che. Làm hại rồi bất an. Đó là tự cắt rễ. Giữ giới là bảo vệ gốc.

X. GỐC VÀ ĐỊNH

Định là khả năng: Trở về. Ở lại. Không phản ứng quá nhanh. Không đổi hướng quá nhanh. Có khoảng dừng. Câu nhớ:

TÂM CÀNG VỮNG, QUYẾT ĐỊNH CÀNG ÍT BỊ CẢM XÚC NHẤT THỜI GIẢ LÀM CHÂN LÝ.

XI. GỐC VÀ TUỆ

Định giúp đứng. Tuệ kiểm tra mình đang đứng đúng chỗ không. Vì vậy:

ĐỊNH MÀ KHÔNG TUỆ CÓ THỂ THÀNH LÌ.

TUỆ MÀ KHÔNG ĐỊNH CÓ THỂ THÀNH BIẾT ĐÚNG NHƯNG KHÔNG ĐỨNG NỔI.

Định và tuệ phải đi cùng.

XII. GỐC VÀ TỪ BI

Tu sâu không nên làm mình lạnh hơn. Hiểu sâu nên giúp mình: Mềm hơn với con người. Rõ hơn với hành vi. Không đóng khung người. Nhưng vẫn phân biệt đúng sai. Câu nhớ:

HIỂU SÂU PHẢI LÀM MÌNH MỀM HƠN VỚI CON NGƯỜI, NHƯNG RÕ HƠN VỚI HÀNH VI.

XIII. TÂM CÓ GỐC KHÔNG CẦN AI CŨNG ĐỒNG Ý

Người có gốc vẫn nghe góp ý. Nhưng sau khi nghe, họ kiểm tra: Có đúng pháp không? Có đúng giới không? Có thiện không? Có trí không? Có làm tăng tham, sân, si không? Nếu đã xem kỹ, không cần tất cả mọi người đồng ý mới giữ điều đúng.

XIV. CÓ GỐC KHÔNG PHẢI TỰ CÔ LẬP

Người có gốc vẫn cần: Kinh. Giới. Thầy. Pháp hữu lành. Sự góp ý. Đối chiếu. Vì cái tôi rất giỏi giả dạng “lập trường”. Gốc không phải tự cô lập. Gốc là không để người khác sống thay tâm mình.

XV. GỐC VÀ SỰ CÔ ĐƠN

Có lúc làm điều đúng mà ít người hiểu. Người có gốc có thể chịu được một khoảng cô đơn. Không vì cô đơn mà bám sai người. Không vì thiếu người ủng hộ mà làm sai. Nhưng cũng không lấy câu: “Chỉ mình tôi đúng” làm huy chương. Vẫn phải mở và kiểm tra.

XVI. GỐC VÀ TÌNH CẢM

Tình cảm là chỗ thử gốc rất mạnh. Nếu người mình thương muốn mình làm điều trái nguyên tắc, mình làm không? Tình cảm có thể lớn. Nhưng không nên lớn hơn phẩm chất. Câu nhớ:

ĐỪNG VÌ SỢ MẤT MỘT NGƯỜI MÀ LÀM MẤT CHÍNH CON ĐƯỜNG CỦA MÌNH.

XVII. GỐC VÀ VẬT CHẤT

Có món lợi lớn nhưng phải: Nói dối. Làm sai. Làm hại. Nếu từ chối được, đó là nội lực. Câu nhớ:

CÓ NHỮNG THỨ LẤY ĐƯỢC THÌ LỜI.

NHƯNG MẤT MÌNH THÌ VẪN LÀ LỖ.

XVIII. GỐC VÀ DANH

Danh có thể là phương tiện. Nhưng không phải tự ngã. Nếu danh giúp việc thiện, biết dùng. Nếu phải phá giới để giữ danh, nên bỏ danh. Không lấy cái ngọn để đổi cái gốc.

XIX. GỐC VÀ QUYỀN

Quyền là bài thi của giới và từ. Khi có quyền, hãy nhìn: Có dùng quyền để trả thù không? Có ép người không? Có xem thường người yếu không? Có giữ công bằng không? Câu nhớ:

KHÔNG CÓ QUYỀN MÀ HIỀN CHƯA CHẮC KHÓ.

CÓ QUYỀN MÀ VẪN KHÔNG LÀM HẠI MỚI THỬ ĐƯỢC GỐC.

XX. GỐC VÀ THẤT BẠI

Một việc thất bại không có nghĩa cả con người thất bại. Hãy: HỌC. SỬA. ĐI TIẾP.

HOẶC BUÔNG NẾU KHÔNG CÒN PHÙ HỢP.

Gốc không nằm ở việc luôn thắng. Gốc nằm ở việc thất bại không làm mình bỏ điều đúng.

XXI. GỐC VÀ THÀNH CÔNG

Thành công cũng là một bài thi. Được khen vẫn thật. Có danh vẫn giữ giới. Có người nghe vẫn chịu góp ý. Có vật chất vẫn không làm hại. Câu nhớ:

NGHỊCH CẢNH THỬ SỨC ĐỨNG.

THUẬN CẢNH THỬ ĐỘ SẠCH.

XXII. GỐC VÀ SỰ TỈNH THỨC

Gốc không phải một thói quen cứng. Tỉnh giúp kiểm tra. Tuệ giúp điều chỉnh. Có điều hôm qua đúng nhưng hôm nay phương tiện phải đổi. Có gốc là biết đổi cái cần đổi mà không phản bội điều cốt lõi.

XXIII. KIỂM TRA GỐC BẰNG PHÁP CÚ 183

Hãy hỏi: “Điều tôi đang giữ có giúp bớt ác không?” “Có giúp tăng thiện không?” “Có giúp tâm sạch hơn không?” Nếu một “lập trường” làm tâm ngày càng sân, kiêu và gây hại, phải xem lại.

XXIV. TÂM CÓ GỐC VÀ BỐN CÔNG THỨC

PHÁP CÚ 183:

BỎ ÁC → LÀM LÀNH → LÀM SẠCH TÂM.

ĐỊNH LỰC:

THẬT → TÍN → THIỆN → GIỚI → ĐỊNH → TUỆ → LỰC.

BUÔNG:

NHẬN → SOI → THẤY → KHÔNG DÍNH → KHÔNG CHẤP → BUÔNG → AN.

PHẬT:

THẤY → TỈNH → BUÔNG → SÁNG.

ĐẠI NGUYỆN:

GIỮ HƯỚNG → HÀNH THIỆN → KHÔNG BỎ ĐƯỜNG.

Tâm có gốc là kết quả của cả hệ thống.

XXV. CÔNG THỨC TÂM CÓ GỐC

Bản thứ nhất: TÂM CÓ GỐC = THẬT + GIỚI + ĐỊNH + TUỆ + NGUYỆN + KHẢ NĂNG BUÔNG. Bản chuỗi: THẬT

→ GIỮ GIỚI

→ GOM TÂM

→ THẤY ĐÚNG

→ GIỮ HƯỚNG

→ BUÔNG CHẤP

→ ĐỨNG VỮNG.

Bản cực ngắn:

GỐC = ĐÚNG + BỀN + MỀM.

ĐÚNG: Để không đi sai. BỀN: Để không đổi theo cảnh. MỀM: Để không hóa chấp.

XXVI. BA KIỂU TÂM

NGƯỜI KHÔNG GỐC: Cảnh nào mạnh thì đi theo cảnh đó.

NGƯỜI CÓ GỐC NHƯNG CỨNG:

Giữ được mình nhưng khó thích nghi.

NGƯỜI CÓ GỐC VÀ CÓ TUỆ:

Giữ điều đúng, đổi cách khi cần. Mục tiêu là kiểu thứ ba.

XXVII. BÀI KIỂM TRA GỐC

Hãy hỏi: Khi bị chê, tôi đổi hướng hay chỉ xem lại? Khi được khen, tôi có phồng không? Khi có lợi lớn, tôi có đổi nguyên tắc không? Khi người mình thương yêu cầu việc sai, tôi có dám nói không? Khi thấy mình sai, tôi có sửa không? Khi kế hoạch hỏng, tôi có đổi phương tiện mà vẫn giữ nguyện không? Khi một người rời đi, tôi có mất cả hướng đời không? Khi thất bại, tôi có còn giữ được thiện tâm không?

XXVIII. BÀI QUÁN RỄ – THÂN – CÀNH – LÁ

RỄ: Những điều cốt lõi phải giữ. Ví dụ: Giới. Sự thật. Không cố ý làm hại. Đại nguyện. THÂN: Những thói quen đang nâng mình. Ví dụ: Niệm Phật. Giữ lời. Thời khóa. Đọc kinh. CÀNH: Những phương tiện có thể thay đổi. Ví dụ: Cách làm việc. Cách giảng. Lịch. Nền tảng. LÁ: Những thứ đến rồi đi.

Ví dụ: Lời khen. Lời chê. Số người. Danh. Kết quả từng thời điểm. Câu nhớ:

ĐỪNG GIỮ LÁ NHƯ GIỮ RỄ.

XXIX. ĐỪNG HY SINH CÁI GỐC ĐỂ GIỮ CÁI NGỌN

Danh là lá. Giới là rễ. Đừng phá giới để giữ danh. Vật chất là phương tiện. Chữ tín là rễ. Đừng bán chữ tín để lấy một món lợi. Một người là duyên. Đại nguyện là hướng. Đừng bỏ cả đường vì một duyên. Một kế hoạch là cành. Thiện tâm là rễ. Đừng dùng thủ đoạn xấu để cứu một kế hoạch tốt.

Câu nhớ:

ĐỪNG HY SINH CÁI GỐC CHỈ ĐỂ GIỮ MỘT CÁI NGỌN.

XXX. GỐC VÀ BÌNH AN

Tâm có gốc bớt phải quyết định lại tất cả mỗi khi cảnh đổi. Có thể tự hỏi: Có đúng không? Có thiện không? Có phá giới không? Có làm cái tôi lớn không? Có cần buông không? Những câu hỏi này làm tâm bớt rối.

XXXI. GỐC VÀ KHIÊM HẠ

Cây có rễ sâu không cần khoe rễ. Người có lực cũng không cần nói mình có lực. Câu nhớ:

GỐC THẬT KHÔNG CẦN KHOE.

QUẢ SẼ NÓI THAY.

XXXII. TỪ GỐC ĐẾN ĐỨC HẠNH

Thật lâu ngày thành chân thật. Giữ giới lâu ngày thành phẩm hạnh. Nhẫn lâu ngày thành sức chứa. Từ lâu ngày thành cách nhìn người. Buông lâu ngày thành nhẹ. Định lâu ngày thành vững. Tuệ lâu ngày thành sáng. Khi đó Pháp không chỉ là điều mình học. Pháp trở thành con người mình đang sống thành.

XXXIII. CÂU KẾT

Một đời tu không phải làm cho cành lá đứng yên. Gió sẽ tới. Mùa sẽ đổi. Có lá xanh. Có lá rụng. Có cành mọc. Có cành gãy. Người tới. Người đi. Việc thành. Việc bại. Khen có. Chê có. Được có. Mất có. Cái cần tu không phải bắt đời thôi đổi. Cái cần tu là làm cho gốc sâu. Gốc là: THẬT.

THIỆN. GIỚI. ĐỊNH. TUỆ. ĐẠI NGUYỆN. VÀ KHẢ NĂNG BUÔNG. Rễ sâu thì gió tới biết mềm. Gió qua biết đứng lại. Mất lá không mất cây. Gãy cành không mất rễ. Và nếu còn rễ, mùa sau còn có thể nảy mầm.

ĐÓ LÀ SỨC SỐNG CỦA NGƯỜI TU.

CHƯƠNG 14
ĐỨC HẠNH – SỨC MẠNH KHÔNG CẦN PHÔ BÀY

Có một lúc trong con đường tu, câu hỏi không còn chỉ là: “Tôi biết bao nhiêu?” Mà trở thành: “Tôi đã trở thành người như thế nào?” Biết nhiều là tốt. Học nhiều là cần. Nghe pháp là quý. Nhưng cuối cùng, Pháp phải đi vào: Cách nói. Cách phản ứng. Cách giữ lời. Cách đối xử với người.

Cách dùng vật chất. Cách sử dụng quyền. Cách chịu mất. Cách nhận sai. Cách buông. Khi đó, Pháp mới bắt đầu trở thành đức hạnh. Câu nhớ:

ĐỨC HẠNH LÀ PHÁP ĐÃ ĐI TỪ TRANG KINH XUỐNG THÀNH CÁCH SỐNG.

I. ĐỨC HẠNH KHÔNG PHẢI HÌNH ẢNH ĐẠO ĐỨC

Một người có thể nói rất hay, ăn mặc rất chỉnh, nghi lễ rất đầy đủ. Nhưng khi bị chạm thì sân. Khi có lợi thì đổi. Khi có quyền thì ép. Khi sai thì không nhận. Hình ảnh có thể đẹp nhưng đức hạnh chưa chắc sâu. Đức hạnh không phải cái mình trình bày ra. Đức hạnh là cái xuất hiện khi không ai nhắc mình phải làm đúng.

Câu nhớ:

ĐỨC HẠNH THẬT XUẤT HIỆN Ở LÚC KHÔNG CÓ KHÁN GIẢ VÀ KHÔNG CÓ AI NHẮC.

II. ĐỨC HẠNH ĐƯỢC XÂY BẰNG LẶP LẠI

Một lần nói thật chưa thành người chân thật. Một lần bố thí chưa thành người rộng lượng. Một lần nhẫn chưa thành người có sức nhẫn. Một lần giữ giới chưa thành giới hạnh vững. Công thức: HÀNH ĐÚNG

→ LẶP LẠI

→ THÓI QUEN

→ PHẨM CHẤT

→ ĐỨC HẠNH.

III. ĐỨC HẠNH VÀ CHÂN THẬT

Chân thật trước hết là khả năng thấy đúng động cơ của mình. Đang thiện thì biết thiện. Đang cầu danh thì biết cầu danh. Đang giúp người nhưng có chút mong biết ơn thì biết. Không cần tự ghét. Chỉ cần thấy để sửa. Không có chữ thật, những pháp khác rất dễ trở thành hình thức.

IV. ĐỨC HẠNH VÀ CHỮ TÍN

Chữ tín sâu hơn việc người khác tin mình. Đó còn là: Lời mình có trọng lượng vì mình đã sống nhất quán đủ lâu. Nói sẽ làm: Cố làm. Không làm được: Nói lại. Sai: Nhận. Không lẩn. Không đổi lời chỉ để có lợi. Lâu ngày, lời có lực.

V. GIỚI TỪ BÊN NGOÀI ĐI VÀO BÊN TRONG

Lúc đầu: “Không được nói dối.” Sau này: “Tôi không muốn sống kiểu phải dối.” Lúc đầu: “Không được làm hại.” Sau này: “Tâm tôi không muốn gieo khổ.” Câu nhớ:

GIỚI SÂU NHẤT LÀ KHI ĐIỀU ĐÚNG KHÔNG CÒN CHỈ LÀ ĐIỀU BỊ BẮT PHẢI GIỮ, MÀ TRỞ THÀNH ĐIỀU TÂM TỰ MUỐN SỐNG THEO.

VI. ĐỨC HẠNH VÀ KHIÊM HẠ

Khiêm hạ không phải phủ nhận khả năng. Biết mình có gì. Biết những khả năng ấy do nhiều nhân duyên. Không dùng khả năng làm lý do đứng trên người khác. Người giỏi mà không khinh người. Người có danh mà không coi thường người vô danh. Người biết pháp mà không coi thường người mới học.

Đó là khiêm hạ.

VII. ĐỨC HẠNH VÀ KHẢ NĂNG NHẬN LỖI

Người có đức hạnh không có nghĩa không sai. Điều quan trọng là sau khi sai: Có che không? Có đổ không? Có cãi để bảo vệ hình ảnh không? Hay biết nhận và sửa? Câu nhớ:

ĐỨC HẠNH KHÔNG NẰM Ở VIỆC CHƯA TỪNG NGÃ.

NÓ NẰM Ở CÁCH MÌNH ĐỨNG DẬY MÀ KHÔNG DỰNG THÊM MỘT LỜI DỐI ĐỂ CHE CÚ NGÃ.

VIII. ĐỨC HẠNH VÀ LÒNG TỪ

Từ không chỉ là cảm giác thương. Từ phải đi vào hành vi: Không dùng lời làm đau vô ích. Không lợi dụng người yếu. Không vui trên thất bại của người khác. Không dùng cái đúng để đập người. Từ phải đi vào khẩu, thân và cách hành xử.

IX. TỪ BI PHẢI ĐI CÙNG TRÍ TUỆ

Có lúc từ là cho. Có lúc từ là không cho. Có lúc từ là ở lại. Có lúc từ là rời. Có lúc từ là nói nhẹ. Có lúc từ là nói rất rõ. Từ bi không có trí dễ thành nuông chiều. Trí không có từ dễ thành lạnh.

X. ĐỨC HẠNH VÀ NHẪN

Nhẫn không phải dung túng. Nhẫn là không để phản ứng bất thiện đi trước trí. Công thức: BỊ CHẠM

→ DỪNG

→ GIỮ TÂM

→ ĐỢI SÁNG

→ XỬ LÝ.

Nhẫn giữ tâm. Tuệ quyết định việc.

XI. ĐỨC HẠNH VÀ RỘNG LƯỢNG

Bố thí không chỉ là vật chất. Có thể cho: Thời gian. Sự chú ý. Lời tốt. Kiến thức. Sự tha thứ. Cơ hội. Sự an toàn. Nhưng cho có trí. Không cho để mua tình. Không cho để giữ người. Không cho để người khác phụ thuộc. Không cho để nuôi cái tôi.

XII. ĐỨC HẠNH VÀ BUÔNG CÔNG

Làm thiện là một việc. Buông công là một việc khác. Không phủ nhận việc mình đã làm. Nhưng không biến việc thiện thành món nợ người khác phải trả. Câu nhớ:

CÔNG ĐÃ LÀM CÓ THỂ GHI TRONG NHÂN QUẢ.

KHÔNG CẦN GHI MÃI TRONG LÒNG NGƯỜI.

XIII. ĐỨC HẠNH VÀ CÔNG BẰNG

Người thân sai vẫn phải thấy sai. Người mình không thích đúng vẫn phải nhận đúng. Đức hạnh được thử khi mình có dùng cùng một thước đo cho người mình thương và người mình không thích hay không.

XIV. ĐỨC HẠNH VÀ VẬT CHẤT

Vật chất là một bài thử. Khi thiếu: Có dối không? Khi có: Có kiêu không? Khi được giao: Có minh bạch không? Khi cho: Có giữ công không? Khi mất: Có mất phẩm chất không? Vật chất không tự xấu. Nó làm lộ cách tâm sử dụng nó.

XV. ĐỨC HẠNH VÀ QUYỀN

Có quyền là một bài thi lớn. Có dùng quyền để trả thù không? Có ép người không? Có coi thường người yếu không? Có thiên vị không? Có giữ công bằng không? Câu nhớ:

QUYỀN LỰC LÀM LỘ RẤT NHANH CHẤT LƯỢNG CỦA NỘI TÂM.

XVI. ĐỨC HẠNH VÀ DANH

Không có danh thì dễ nói: “Tôi không cần danh.” Có danh rồi mới biết. Được khen vẫn thật không? Có người nể vẫn nghe góp ý không? Có vị trí vẫn giữ giới không? Danh là một bài thi của cái tôi.

XVII. ĐỨC HẠNH VÀ SỰ CÔ ĐƠN

Có lúc giữ điều đúng sẽ ít người thích. Không vì muốn được thuộc về mà làm điều sai. Nhưng cũng không lấy câu: “Chỉ mình tôi đúng” để khinh người. Vẫn mở. Vẫn soi. Vẫn khiêm.

XVIII. ĐỨC HẠNH KHÔNG ĐÒI MỘT ĐỜI HOÀN HẢO

Đức hạnh không có nghĩa không còn lỗi. Mà là hướng chung của đời sống ngày càng sạch: Sai ít hơn. Nhận nhanh hơn. Sửa thật hơn. Hại ít hơn. Thương đúng hơn. Buông nhanh hơn.

XIX. ĐỨC HẠNH VÀ BỐN CÔNG THỨC

PHÁP CÚ 183: BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

ĐỊNH LỰC: THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

BUÔNG: NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

PHẬT: THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

ĐẠI NGUYỆN: GIỮ HƯỚNG

→ HÀNH THIỆN

→ LỢI MÌNH

→ LỢI NGƯỜI.

XX. CÔNG THỨC ĐỨC HẠNH

Bản đầy đủ: ĐỨC HẠNH

= ĐIỀU ĐÚNG ĐƯỢC THẤY

+ ĐƯỢC LÀM + ĐƯỢC LẶP

+ ĐƯỢC GIỮ KHI KHÓ.

Bản chuỗi: THẤY ĐÚNG

→ LÀM ĐÚNG

→ LẶP ĐÚNG

→ THÀNH ĐỨC.

XXI. ĐỨC HẠNH KHÔNG CẦN QUẢNG CÁO

Người thật không cần luôn nói: “Tôi thật.” Người có tín không cần nói: “Tôi uy tín.” Người khiêm không cần nói: “Tôi khiêm.” Người có định không cần nói: “Tôi có định.” Cách sống sẽ nói thay. Câu nhớ:

ĐỨC HẠNH CÀNG THẬT, LỜI QUẢNG CÁO VỀ ĐỨC HẠNH CÀNG ÍT CẦN.

XXII. HƯƠNG ĐỨC HẠNH

Kinh Pháp Cú có các kệ dùng hình ảnh hương thơm để nói về đức hạnh.

Ý nghĩa thực hành có thể hiểu: Hương hoa cần gió. Hương đức hạnh lan bằng chính cách sống. Một người có đức hạnh không cần đi nói khắp nơi. Người ở gần sẽ cảm qua: Cách họ nói. Cách họ xử lý lợi. Cách họ chịu mất. Cách họ nhận lỗi. Cách họ đối xử với người không mang lợi cho họ.

XXIII. MUỐN BIẾT ĐỨC HẠNH, HÃY NHÌN CÁCH ĐỐI XỬ VỚI NGƯỜI KHÔNG THỂ CHO MÌNH LỢI ÍCH

Đối xử tốt với người mình cần có thể dễ. Nhưng hãy nhìn cách mình đối xử với: Người yếu. Người nghèo. Người già. Người phục vụ. Người dưới quyền. Người không có danh. Câu nhớ:

MUỐN BIẾT MỘT NGƯỜI CÓ ĐỨC KHÔNG, ĐỪNG CHỈ NHÌN CÁCH HỌ ĐỐI XỬ VỚI NGƯỜI HỌ CẦN.

HÃY NHÌN CÁCH HỌ ĐỐI XỬ VỚI NGƯỜI KHÔNG CÓ GÌ ĐỂ CHO HỌ.

XXIV. ĐỨC HẠNH VÀ LỜI NÓI SAU LƯNG

Trước mặt người khác, lịch sự tương đối dễ. Sau lưng mới thử tâm. Có việc cần báo thì báo. Có lỗi cần nói thì nói. Nhưng không thêm độc. Không bôi. Không vui vì hạ được người.

XXV. ĐỨC HẠNH VÀ KHẢ NĂNG GIỮ BÍ MẬT

Khi người khác trao chuyện riêng, nếu không có lý do đạo đức hoặc an toàn buộc phải nói, biết giữ là một phần của chữ tín. Khẩu nghiệp là một phần rất lớn của đức hạnh.

XXVI. ĐỨC HẠNH CẦN THỜI GIAN

Một ngày ai cũng có thể cố. Một khoảng ngắn ai cũng có thể diễn. Thời gian mới cho thấy tính. Không cần vội tự kết luận: “Tôi đã có đức.” Cứ sống. Cứ giữ. Cứ sửa. Thời gian sẽ nói.

XXVII. NGHỊCH DUYÊN THỬ ĐỨC HẠNH

Khi bị oan: Còn thật không? Khi bị phụ: Còn thiện không? Khi mất lợi: Còn giới không? Khi bị chê: Còn khiêm không? Khi bị xúc phạm: Còn giữ khẩu không? Khi không ai biết: Còn làm đúng không?

XXVIII. THUẬN DUYÊN CŨNG THỬ ĐỨC HẠNH

Có nhiều người thương: Có sinh kiêu không? Có vật chất: Có phóng dật không? Có người nghe: Có chấp danh không? Có quyền: Có ép không? Có công: Có giữ không? Câu nhớ:

NGHỊCH DUYÊN THỬ SỨC CHỊU.

THUẬN DUYÊN THỬ ĐỘ SẠCH.

XXIX. ĐỨC HẠNH VÀ SỰ NHẤT QUÁN

Không cần hoàn hảo. Nhưng phải có hướng nhất quán. Nói sống thật: Cố sống thật. Nói không làm hại: Cố giảm hại. Nói tu buông: Tập buông. Nói giữ giới: Cố giữ giới. Sự nhất quán làm lời nói có sức.

XXX. ĐỨC HẠNH VÀ VIỆC GIẢNG PHÁP

Người giảng không cần tự trình bày như một người đã hoàn hảo. Có thể nói: “Điều này tôi cũng đang tập.” Đó là chân thật. Điều mình chia sẻ nên là điều mình đang cố sống. Khi lời và đời gần nhau, lời có lực hơn.

XXXI. ĐỨC HẠNH VÀ NHÂN QUẢ

Theo quan niệm nghiệp trong Phật giáo, mỗi hành vi thân, khẩu, ý đều có ý nghĩa trong dòng nhân quả. Vì vậy xây đức hạnh là gieo nhân trong từng ngày: Một lời thật. Một việc thiện. Một lần giữ giới. Một lần buông sân. Một lần nhận lỗi. Không cần đợi tới cuối đời mới xây.

XXXII. MỖI NGÀY MỘT HẠT ĐỨC

Có thể tập: Hôm nay: THẬT. Ngày mai: GIỮ LỜI. Ngày khác: NHẪN. Ngày khác: KHÔNG KỂ CÔNG. Ngày khác: NHẬN SAI. Ngày khác: NÓI MỘT LỜI LÀNH. Ngày khác:

KHÔNG NÓI MỘT LỜI ĐỘC.

Mỗi ngày một hạt. Lâu ngày thành vườn.

XXXIII. BÀI KIỂM TRA ĐỨC HẠNH

Cuối tuần hãy hỏi:

1. Tôi có thật hơn không?

2. Tôi có giữ lời hơn không?

3. Tôi có bớt nói hại không?

4. Tôi có đối xử công bằng hơn không?

5. Tôi có bớt giữ công không?

6. Tôi có dễ nhận sai hơn không?

7. Tôi có tử tế với người không mang lợi cho mình không?

8. Khi có quyền, tôi có dùng đúng không?

9. Khi bị chê, tôi có bớt trả đũa không?

10. Khi được khen, tôi có bớt phồng không?

XXXIV. CÂU KẾT

Một ngày tu có thể không ai biết. Một lần giữ giới có thể không ai thấy. Một lần không nói lời ác có thể chẳng ai khen. Một lần từ chối món lợi không đúng có thể chẳng ai ghi công. Một lần nhận lỗi có thể còn bị người khác tưởng là yếu. Nhưng từng lần như vậy không mất.

Nó đang xây con người bên trong. Từng lần thật. Từng lần thiện. Từng lần giữ. Từng lần nhẫn. Từng lần buông. Từng lần nhận sai. Từng lần không làm hại. Lâu ngày, Pháp không còn nằm ngoài mình. Nó đi vào lời. Đi vào mắt nhìn. Đi vào phản ứng. Đi vào lựa chọn. Đi vào cách đối xử với người.

Và đến lúc đó, mình không cần nói nhiều: “TÔI TU.”

CÁCH SỐNG ĐÃ NÓI THAY.

ĐÓ LÀ ĐỨC HẠNH.

CHƯƠNG 15
HƯƠNG ĐỨC HẠNH – THỨ CÒN LẠI SAU LỜI NÓI

Có những thứ trong đời đến rồi đi rất nhanh. Danh đến rồi đi. Vật chất đến rồi đi. Người đến rồi đi. Cơ hội đến rồi đi. Thành công đến rồi qua. Thất bại đến rồi qua. Ngay cả hình ảnh người khác giữ về mình cũng thay đổi. Vì vậy câu hỏi quan trọng không chỉ là: “Có bao nhiêu người nhớ tên mình?”

Mà còn là: “Khi mình từng có mặt trong đời một người, mình đã để lại điều gì trong tâm họ?” Đó là chỗ nói tới hương đức hạnh.

I. HƯƠNG ĐỨC HẠNH KHÔNG PHẢI DANH TIẾNG

Danh tiếng là:

NGƯỜI TA NÓI GÌ VỀ MÌNH.

Đức hạnh là:

MÌNH THỰC SỰ SỐNG NHƯ THẾ NÀO.

Danh có thể lớn hơn đức. Đức cũng có thể lớn hơn danh. Câu nhớ:

DANH LÀ TIẾNG NGƯỜI NÓI VỀ MÌNH.

ĐỨC LÀ CÁCH MÌNH SỐNG KHI TIẾNG ẤY IM.

II. HÌNH ẢNH HƯƠNG ĐỨC HẠNH TRONG KINH PHÁP CÚ

Kinh Pháp Cú có những kệ dùng hình ảnh hương thơm của hoa và hương của người có đức hạnh.

Ý thực hành rất gần: Một người sống ngay thẳng lâu ngày tạo niềm tin. Một người giữ lời lâu ngày làm lời nói có trọng lượng. Một người không lợi dụng người yếu tạo cảm giác an toàn. Một người có từ và có trí làm người khác cảm thấy được tôn trọng. Đó là thứ hương tỏa ra từ cách sống.

III. HƯƠNG ĐỨC HẠNH BẮT ĐẦU TỪ VIỆC NHỎ

Một lời đúng lúc. Một lần không làm người khác mất mặt. Một lần giữ bí mật. Một lần trả món không thuộc mình. Một lần nhận lỗi. Một lần đối xử tử tế với người không mang lợi cho mình. Một lần có quyền nhưng không dùng quyền để ép. Những việc nhỏ được lặp lâu ngày tạo thành phẩm chất.

IV. HƯƠNG CỦA CHỮ THẬT

Người chân thật không cần kể hết mọi chuyện. Nhưng họ không cố dựng một con người giả. Không biết: Nói chưa biết. Không chắc: Không nói chắc. Sai: Nhận. Không làm được: Không hứa liều. Đó là hương của chữ thật.

V. HƯƠNG CỦA CHỮ TÍN

Chữ tín không thể mua bằng quảng cáo. Phải tích qua thời gian. Nói rồi làm. Không làm được thì báo. Sai thì sửa. Không lẩn. Không lấp. Lâu ngày lời nói có trọng lượng. Đó là hương của tín.

VI. HƯƠNG CỦA LÒNG TỪ

Lòng từ thật không lấy nỗi đau của người khác làm chỗ thỏa mãn cái tôi. Không làm nhục người để chứng minh mình đúng. Không dẫm người đang yếu. Không vui khi người mình không thích gặp nạn. Nếu cần nói lỗi: Nói để sửa. Không nói để hạ.

VII. HƯƠNG CỦA TRÍ TUỆ

Người có trí giúp đúng mức. Không làm thay tất cả. Không tạo phụ thuộc. Không dùng từ bi để bao che cái sai. Trí tuệ thật:

RÕ NHƯNG KHÔNG LẠNH.

Câu nhớ:

TRÍ TUỆ THẬT KHÔNG LÀM NGƯỜI TA NHỎ ĐI.

NÓ LÀM SỰ VIỆC SÁNG LÊN.

VIII. HƯƠNG CỦA KHIÊM HẠ

Khiêm hạ không phải tự hạ. Biết mình có khả năng. Biết khả năng ấy do nhiều duyên. Không lấy khả năng làm lý do đứng trên người khác. Người khiêm thật làm người khác dễ thở vì người ở gần không phải liên tục nâng cái tôi của họ.

IX. HƯƠNG CỦA GIỚI

Người giữ giới làm người quanh mình cảm thấy an toàn hơn. Ở cạnh người không gian dối: Bớt phải đề phòng. Ở cạnh người không lợi dụng: Bớt phải lo. Ở cạnh người giữ lời: Bớt bất an. Câu nhớ:

MỘT NGƯỜI GIỮ GIỚI KHÔNG CHỈ LÀM TÂM MÌNH NHẸ.

HỌ CÒN LÀM NGƯỜI QUANH MÌNH BỚT PHẢI PHÒNG THỦ.

X. HƯƠNG CỦA KHẢ NĂNG NHẬN SAI

Một người có thể nói: “Việc này tôi sai.” mà không sụp là một người có lực. Đặc biệt với người có vị trí, khả năng nhận lỗi tạo ra một môi trường an toàn hơn cho sự thật. Nếu người đứng đầu không bao giờ nhận sai, người dưới dễ học cách che lỗi. Nếu người đứng đầu dám nhận, người khác cũng dễ thật hơn.

XI. HƯƠNG ĐỨC HẠNH CỦA NGƯỜI DẪN DẮT

Người có ảnh hưởng không chỉ dạy bằng lời. Họ còn dạy bằng cách sống. Nếu nói từ bi nhưng hành xử khắc nghiệt, người khác thấy. Nếu nói buông nhưng giữ công, người khác thấy. Nếu nói giới nhưng làm ngược, người khác thấy. Người dẫn dắt không cần hoàn hảo. Nhưng nên thật:

ĐANG TẬP ĐIỀU MÌNH DẠY.

XII. ĐỪNG LẤY ĐỨC HẠNH LÀM THƯƠNG HIỆU

Khi người khác khen mình có đức, cái tôi có thể biến chữ “đức” thành tài sản. Phải luôn quay về: “Hôm nay tôi có còn sống đúng không?” Không sống bằng danh tiếng đạo đức của quá khứ. Sống bằng hành vi hiện tại. Câu nhớ:

ĐỨC KHÔNG PHẢI TẤM BẰNG ĐƯỢC CẤP MỘT LẦN.

ĐỨC LÀ CÁCH MÌNH ĐANG SỐNG HÔM NAY.

XIII. HƯƠNG ĐỨC HẠNH VÀ VẬT CHẤT

Khi được giao vật chất: Có minh bạch không? Có lấy phần không thuộc mình không? Khi cho: Có làm người nhận thấy nhục không? Có dùng việc cho để mua tình không? Vật chất là một bài thử rất rõ của đức.

XIV. HƯƠNG ĐỨC HẠNH VÀ QUYỀN

Có quyền mà không lạm dụng là một hương rất mạnh. Hãy hỏi: Có dùng quyền để trả thù không? Có ưu ái người mình thương một cách bất công không? Có làm người yếu sợ không? Có sử dụng vị trí để được phục vụ không? Có quyền mà vẫn công bằng mới thử được gốc.

XV. HƯƠNG ĐỨC HẠNH VÀ LỜI NÓI

Một câu nói có thể ở trong lòng người rất lâu. Vì vậy trước khi nói, hãy hỏi: “Lời này tôi muốn để lại điều gì?” Câu nhớ:

MIỆNG MÌNH MỖI NGÀY ĐỀU ĐANG ĐỂ LẠI MỘT THỨ MÙI TRONG LÒNG NGƯỜI KHÁC.

XVI. HƯƠNG ĐỨC HẠNH TRONG NHỮNG VIỆC KHÔNG AI BIẾT

Một việc thiện kín đáo. Không kể. Không chụp. Không ai biết. Tâm vẫn vui. Đó là một dấu hiệu thiện đang sâu. Việc thiện công khai không nhất thiết sai. Có lúc cần công khai vì minh bạch hoặc khuyến thiện. Nhưng luôn phải soi động cơ.

XVII. HƯƠNG ĐỨC HẠNH VỚI NGƯỜI TỪNG LÀM MÌNH ĐAU

Không nhất thiết phải gần lại. Không nhất thiết tin lại như cũ. Không cần để người tiếp tục làm hại. Nhưng có thể: Không trả thù. Không bôi thêm. Không cầu họ khổ. Buông hận không có nghĩa xóa ranh giới. Đây là nơi từ bi và trí tuệ gặp nhau.

XVIII. HƯƠNG ĐỨC HẠNH VÀ VIỆC BẢO VỆ NGƯỜI YẾU

Từ bi không chỉ mềm. Có lúc phải đứng ra ngăn việc sai. Nếu có khả năng bảo vệ người yếu bằng cách phù hợp, sự im lặng vì sợ phiền chưa chắc là từ. Có thể mạnh với hành vi mà không hận con người.

XIX. HƯƠNG ĐỨC HẠNH VÀ SỰ BÌNH ĐẲNG

Một phép thử: Mình có thay đổi hoàn toàn cách đối xử khi người đối diện giàu hơn, nổi tiếng hơn hoặc có quyền hơn không? Nếu trước người mạnh thì mềm, trước người yếu thì lớn tiếng, đó là chỗ cần soi. Phẩm giá con người không phụ thuộc họ có thể đem lợi ích gì cho mình.

XX. HƯƠNG ĐỨC HẠNH VÀ SỰ HIẾU HỌC

Người có đức vẫn phải học. Không lấy tuổi, danh hay kinh nghiệm làm lý do không sửa. Nếu người trẻ hơn nói một điều đúng: Biết nhận. Câu nhớ:

NGƯỜI CÀNG CÓ GỐC CÀNG ÍT SỢ HỌC LẠI.

XXI. HƯƠNG ĐỨC HẠNH VÀ SỰ NHẸ NHÀNG

Giữ giới cho mình trước. Không lấy giới làm cây gậy đánh người. Hiểu sâu nên giúp mình bớt phán xét con người, nhưng rõ hơn với hành vi. Đức hạnh thật không nên làm môi trường quanh mình ngày càng ngột ngạt.

XXII. ĐỨC HẠNH TRONG ĐỜI SỐNG NHỎ

Đức còn nằm trong: Đúng giờ. Giữ đồ chung. Không làm phiền vô ích. Biết cảm ơn. Biết xin lỗi. Biết dọn phần mình. Tôn trọng thời gian người khác. Đừng chỉ tìm đạo ở chuyện lớn.

XXIII. ĐẠI NGUYỆN PHẢI ĐƯỢC GIỮ BẰNG ĐỨC HẠNH

Không được dùng mục tiêu thiện để biện hộ cho phương tiện bất thiện. Câu nhớ:

MỤC TIÊU THIỆN KHÔNG LÀM PHƯƠNG TIỆN BẤT THIỆN TRỞ THÀNH THIỆN.

Đại nguyện càng lớn, giới càng phải sạch.

XXIV. VÒNG TRÒN ĐỨC – LỰC

THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ BUÔNG

→ AN

→ ĐỨC

→ LỰC.

Thật sinh tín. Tín đi vào thiện. Thiện được giới bảo vệ. Giới nâng định. Định hỗ trợ tuệ. Tuệ giúp buông. Buông làm tâm nhẹ. Tâm nhẹ dễ sống thiện hơn. Thiện lâu ngày thành đức. Đức lại làm nội lực sâu hơn.

XXV. HƯƠNG ĐỨC HẠNH VÀ CÁI CHẾT

Cuối đời, nhiều thứ phải để lại. Nhà. Vật chất. Danh. Chức. Nhưng cách mình từng sống có thể để lại dấu trong người khác. Một câu dạy đúng. Một việc thiện. Một người từng được mình giúp đứng dậy. Một người yếu từng được mình bảo vệ. Đó là những dấu sống.

XXVI. DI SẢN KHÔNG CHỈ LÀ CÔNG TRÌNH

Công trình là quý. Sách là quý. Đạo tràng là quý. Nhưng chúng là phương tiện. Câu nhớ:

CÔNG TRÌNH LÀ CÁI MÌNH XÂY BÊN NGOÀI.

ĐỨC HẠNH LÀ CÁI MÌNH XÂY TRONG CON NGƯỜI.

Một công trình lớn không nên được xây bằng sân, tranh, dối và hại.

XXVII. MỘT ĐỜI ĐỂ LẠI HƯƠNG GÌ?

Hãy tự hỏi: Người từng sống gần mình sẽ nhớ điều gì? Nhớ mình hay sân? Hay nhớ mình công bằng? Nhớ mình nhiều lời? Hay nhớ mình giữ lời? Nhớ mình làm họ sợ? Hay nhớ họ từng được tôn trọng? Không hỏi để tự kết án. Hỏi để điều chỉnh từ hôm nay.

XXVIII. BÀI THỰC HÀNH 7 HẠT HƯƠNG

NGÀY 1: Nói một lời thật nhưng lành. NGÀY 2: Giữ một lời hứa nhỏ. NGÀY 3: Làm một việc thiện không ai biết. NGÀY 4: Đối xử tử tế với một người không đem lợi ích cho mình. NGÀY 5: Nhận một lỗi mà không biện hộ. NGÀY 6: Không kể lại một công mình đã làm. NGÀY 7: Buông một phần hận, nhưng vẫn giữ ranh giới cần thiết.

XXIX. CÔNG THỨC HƯƠNG ĐỨC HẠNH

Bản đầy đủ: HƯƠNG ĐỨC HẠNH

= ĐIỀU THIỆN ĐƯỢC SỐNG THẬT

+ SỐNG ĐỀU

+ KHÔNG CẦU PHÔ BÀY.

Bản chuỗi: THẬT

→ THIỆN

→ GIỮ

→ LẶP

→ THÀNH ĐỨC

→ TỎA HƯƠNG.

Bản cực ngắn:

ĐỨC ĐỦ SÂU → HƯƠNG TỰ TỎA.

XXX. NGUỒN KINH NỀN VỀ HƯƠNG ĐỨC HẠNH

Kinh Pháp Cú, các kệ 54–56 dùng hình ảnh hương thơm và hương giới đức.

Khi xuất bản nguyên văn, cần chọn một bản dịch cụ thể và dẫn đúng bản dịch. Ý thực hành của phần này là:

HƯƠNG CỦA PHẨM HẠNH KHÔNG CẦN GẮNG QUẢNG BÁ.

CÁCH SỐNG TỰ LÀM NÓ LAN.

XXXI. HƯƠNG ĐỨC HẠNH VÀ BỐN CÔNG THỨC

PHÁP CÚ 183: BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

Đó là nền tạo đức. ĐỊNH LỰC: THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

Đó là sức giữ đức. BUÔNG: NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

Đó là cách không để đức biến thành cái tôi. PHẬT: THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

Đó là hướng làm đức ngày càng sáng. ĐẠI NGUYỆN: GIỮ HƯỚNG

→ HÀNH THIỆN

→ LỢI MÌNH

→ LỢI NGƯỜI.

Đó là cách hương đức đi xa hơn chính mình.

XXXII. CÂU KẾT

Một ngày rồi tên mình cũng có thể ít người nhắc. Một công việc rồi cũng thành chuyện cũ. Một căn nhà rồi cũng đổi chủ. Một vật rất quý rồi cũng sang tay. Một người từng ở bên rồi cũng có thể đi. Nhưng trong những năm mình có mặt ở đời, mình vẫn có thể để lại: Một chút tin vì từng sống thật.

Một chút an vì từng giữ giới. Một chút ấm vì từng có từ. Một chút sáng vì từng nói điều đúng. Một chút lực vì từng giữ lời. Một chút nhẹ vì từng biết buông. Những thứ ấy cộng lại thành: HƯƠNG ĐỨC HẠNH. Không cần chạy theo để người khác biết. CỨ SỐNG ĐÚNG. ĐỦ LÂU. ĐỦ THẬT.

ĐỦ LÀNH.

RỒI NẾU CÓ HƯƠNG, NÓ TỰ TỎA.

CHƯƠNG 16
TỪ HƯƠNG ĐỨC HẠNH ĐẾN PHÁP THÍ

Có một lúc trong con đường tu, ta nhận ra: Học Pháp không chỉ để bớt khổ cho riêng mình. Giữ giới không chỉ để tâm mình nhẹ. Tập định không chỉ để mình yên. Học buông không chỉ để mình đỡ đau. Xây đức hạnh không chỉ để thành một người tốt. Nếu những gì mình đã học, đã trải, đã nghiệm và đã chuyển hóa có thể giúp một người khác:

Bớt mê. Bớt khổ. Bớt sân. Biết trở về. Biết buông. Biết sống thiện hơn. thì cái tu của mình bắt đầu đi sang lợi tha. Một trong những hình thức lợi tha rất quý là: PHÁP THÍ.

I. PHÁP THÍ LÀ GÌ?

Pháp thí có thể hiểu đơn giản là:

CHIA SẺ ĐIỀU ĐÚNG GIÚP NGƯỜI KHÁC HIỂU PHÁP, SỐNG THIỆN HƠN, BỚT MÊ HƠN VÀ BỚT KHỔ HƠN.

Không nhất thiết phải có một bài giảng dài. Một câu đúng lúc cũng có thể là pháp thí. Một lời chỉ cách dừng sân. Một cách trở về hơi thở. Một cách niệm Phật khi tâm loạn. Một câu giúp người thấy cái mình đang chấp. Một lời phân biệt buông với bỏ trách nhiệm. Đều có thể là pháp thí nếu đúng pháp và có lợi ích.

Câu nhớ:

PHÁP THÍ KHÔNG NHẤT THIẾT LÀ NÓI ĐIỀU LỚN.

PHÁP THÍ LÀ TRAO ĐÚNG ĐIỀU NGƯỜI KHÁC ĐANG CẦN ĐỂ BỚT MÊ VÀ BIẾT ĐƯỜNG TU.

II. PHÁP THÍ KHÁC VỚI NÓI NHIỀU

Người nghe có thể nghe rất nhiều nhưng vẫn không biết phải làm gì. Vì vậy pháp thí cần đi vào phương pháp. Hãy hỏi: Người này đang khổ vì gì? Sân? Chấp? Sợ? Mất phương hướng? Thất tín với chính mình? Bị tình cảm kéo? Tự trách? Từ đó đưa đúng pháp.

III. PHÁP THÍ PHẢI CÓ GỐC Ở SỰ THẬT

Biết thì nói biết. Chưa rõ thì nói chưa rõ. Đại ý thì nói đại ý. Lời diễn giải thì nói là lời diễn giải. Công thức hệ thống hóa thì nói là công thức thực hành được hệ thống hóa. Không biến lời mình thành lời Phật. Câu nhớ:

PHÁP THÍ TRƯỚC HẾT PHẢI TRUNG THỰC VỚI NGUỒN.

IV. PHÁP THÍ PHẢI CÓ GIỚI

Không dùng Pháp để công kích người. Không dùng kinh để chứng minh mình hơn. Không dùng danh nghĩa Chánh pháp để hạ nhục người. Nội dung đúng nhưng cách làm hại vẫn phải soi.

V. PHÁP THÍ PHẢI CÓ TỪ BI

Người đang đau không phải lúc nào cũng cần một câu giáo lý ngay. Có lúc cần được lắng nghe trước. Có lúc cần được an tâm trước. Rồi mới soi. Đúng Pháp phải đi cùng đúng thời.

VI. PHÁP THÍ PHẢI CÓ TRÍ TUỆ

Không phải ai cũng cần cùng một câu. Có người cần lời mềm. Có người cần lời rõ. Có người cần kinh. Có người cần ví dụ đời thường. Có người cần một câu. Có người cần một bài dài. Câu nhớ:

PHÁP ĐÚNG MÀ SAI LIỀU LƯỢNG CŨNG KHÓ ĐI VÀO TÂM.

VII. PHÁP THÍ PHẢI CÓ ĐỊNH

Người nói Pháp quá bị khen chê kéo thì lời dễ lệch. Định giúp: Nghe kỹ hơn. Chậm hơn. Không phản ứng quá nhanh. Không dùng pháp để trút sân. Không chạy theo sự công nhận.

VIII. PHÁP THÍ KHÔNG PHẢI THỂ HIỆN KIẾN THỨC

Câu hỏi phải là:

“NGƯỜI NÀY CẦN HIỂU GÌ ĐỂ THỰC HÀNH ĐƯỢC?”

Không phải:

“TÔI BIẾT ĐƯỢC BAO NHIÊU?”

IX. PHÁP THÍ VÀ HƯƠNG ĐỨC HẠNH

Khi lời và đời không đứng quá xa nhau, pháp có lực hơn. Nói giữ lời mà mình đang cố giữ lời. Nói buông mà mình đang tập buông. Nói nhận lỗi mà mình biết xin lỗi. Câu nhớ:

PHÁP THÍ CÓ LỰC NHẤT KHI LỜI VÀ ĐỜI KHÔNG ĐỨNG QUÁ XA NHAU.

X. KHÔNG CẦN HOÀN HẢO MỚI ĐƯỢC CHIA SẺ

Có thể nói: “Điều này tôi cũng đang tập.” “Đây là phần tôi đã trải và thấy có ích.” Không giả làm người đã vượt hết. Chân thật chính là một phần của pháp thí.

XI. TRẢI NGHIỆM PHẢI ĐƯỢC SOI QUA CHÁNH KIẾN

Không phải trải nghiệm nào cũng tự động trở thành Pháp. Công thức: TRẢI NGHIỆM + CHÁNH KIẾN + SOI TÂM = BÀI HỌC. Trải nghiệm làm mình cay nghiệt chưa chắc là trí. Trải nghiệm giúp mình có từ, có ranh giới và thấy nhân duyên rõ hơn thì gần Pháp hơn.

XII. PHÁP THÍ VÀ CÁC CÔNG THỨC THỰC HÀNH

Khi sân:

THẤY → TỈNH → BUÔNG → SÁNG.

Khi tâm loạn:

BIẾT → DỪNG → TRỞ VỀ.

Khi chấp:

NHẬN → SOI → THẤY → KHÔNG DÍNH → BUÔNG.

Khi muốn xây nội lực:

THẬT → TÍN → THIỆN → GIỚI → ĐỊNH → TUỆ → LỰC.

Khi muốn sống căn bản:

BỎ ÁC → LÀM LÀNH → LÀM SẠCH TÂM.

Công thức giúp người nghe dễ nhớ và dễ hành.

XIII. PHÁP THÍ PHẢI GIÚP NGƯỜI NGHE TỰ ĐỨNG

Pháp thí tốt không làm người nghe lệ thuộc. Nó giúp họ dần biết: Tự soi. Tự dừng. Tự trở về. Tự kiểm tra. Tự tu. Câu nhớ:

PHÁP THÍ TỐT KHÔNG GIỮ NGƯỜI NGHE Ở LẠI VỚI NGƯỜI NÓI.

NÓ GIÚP NGƯỜI NGHE BIẾT QUAY VỀ VỚI PHÁP.

XIV. KHÔNG BIẾN NGƯỜI NÓI PHÁP THÀNH TRUNG TÂM TUYỆT ĐỐI

Người nghe quý thầy là điều bình thường. Nhưng người dạy nên dẫn người nghe về: Kinh. Giới. Pháp hành. Phật. Khả năng tự soi. Không biến mọi thứ thành: “Phải tin tôi.”

XV. ĐẠI NGUYỆN VÀ NHIỀU PHƯƠNG TIỆN PHÁP THÍ

Có người hợp: Sách. Audio. Video. Livestream. Hỏi – đáp. Bài ngắn. Bài dài. Phương tiện có thể khác. Gốc vẫn phải là: ĐÚNG PHÁP. DỄ HIỂU. THỰC HÀNH ĐƯỢC.

KHÔNG LÀM LỆCH NGUỒN.

XVI. PHÁP SÂU KHÔNG NHẤT THIẾT PHẢI KHÓ

Có khi một câu: “Con đang nắm cái gì?” đã mở được một chấp. Có khi một câu: “Tâm chạy thì biết, biết rồi trở về.” đã đủ chỉ định. Pháp sâu có thể rất giản dị.

XVII. BA TẦNG NGUỒN KHI CHIA SẺ PHÁP

1. LỜI KINH NGUYÊN VĂN:

Phải có nguồn và bản dịch rõ.

2. ĐẠI Ý KINH:

Phải nói rõ là đại ý.

3. LỜI DIỄN GIẢI / CÔNG THỨC THỰC HÀNH:

Phải nói rõ là cách hệ thống hóa để dễ nhớ. Như vậy sẽ không lẫn lời người giảng với lời Phật.

XVIII. PHÁP THÍ VÀ TRÁCH NHIỆM

Một lời sai về Pháp có thể làm người khác hiểu sai lâu. Vì vậy có thể nói: “Chỗ này tôi cần kiểm tra lại.” Câu nhớ:

KHÔNG BIẾT MÀ NHẬN CHƯA BIẾT CÒN TỐT HƠN NÓI SAI BẰNG GIỌNG RẤT CHẮC.

XIX. KHẢ NĂNG NÓI “TÔI KHÔNG BIẾT”

Không ai biết hết. Người càng có danh càng cần giữ được khả năng nói: “Chỗ này tôi chưa đủ chắc.” Đó là chân thật.

XX. PHÁP THÍ VÀ KHẢ NĂNG SỬA SAI

Nếu đã giảng một điều rồi sau đó thấy chưa chuẩn: Sửa. Nếu cần: Sửa công khai. Không vì sĩ diện mà giữ cái sai. Đó là bài pháp sống về chân thật.

XXI. PHÁP THÍ VÀ LỜI KHEN

Người nghe khen: “Hay quá.” Biết hoan hỷ. Nhưng không vì lời khen mà ngày mai chỉ nói điều người nghe thích. Câu nhớ: NGHE PHẢN HỒI.

NHƯNG KHÔNG BÁN PHÁP CHO LỜI KHEN.

XXII. PHÁP THÍ VÀ LỜI CHÊ

Khi bị chê: DỪNG. LỌC. XEM NGUỒN. SỬA PHẦN ĐÚNG. BUÔNG PHẦN SAI. Lời chê cũng có thể giúp pháp thí sạch và rõ hơn.

XXIII. PHÁP THÍ VỚI NGƯỜI MỚI

Người mới thường cần: Định nghĩa dễ hiểu. Ví dụ đời thường. Một công thức. Một việc có thể làm ngay. Ví dụ: KHI SÂN: DỪNG BA HƠI. CHƯA NÓI NGAY. Một pháp nhỏ hành được còn hơn nhiều chữ không biết dùng.

XXIV. PHÁP THÍ VỚI NGƯỜI HỌC NHIỀU

Người học nhiều có thể cần: Đối chiếu nguồn. Phân biệt thuật ngữ. Thấy chấp tinh vi. Thấy cái tôi núp trong pháp. Không có một bài chung cho mọi người.

XXV. PHÁP THÍ VÀ ĐÚNG THỜI

Có lúc người ta không cần nghe pháp ngay. Họ cần: Ngủ. Ăn. Yên. Được lắng nghe. Câu nhớ:

KHÔNG PHẢI LÚC NÀO IM CŨNG LÀ THIẾU PHÁP.

CÓ LÚC IM ĐÚNG LÀ MỘT PHẦN CỦA PHÁP.

XXVI. PHÁP THÍ VÀ CÂU HỎI

Một câu hỏi đúng có thể mở tuệ: “Con đang nắm cái gì?” “Nếu chuyện này không theo ý, con sợ mất gì?” “Phần nào thuộc quyền con?” “Con có cần phản ứng ngay không?” Câu hỏi đúng đôi khi quý hơn một bài nói dài.

XXVII. PHÁP THÍ VÀ SỰ LẮNG NGHE

Muốn cho đúng Pháp phải nghe đúng khổ. Người hỏi chuyện vật chất nhưng gốc có thể là sợ. Người hỏi chuyện tình cảm nhưng gốc có thể là sở hữu. Người hỏi chuyện bị chê nhưng gốc có thể là giá trị bản thân. Nghe kỹ rồi mới cho pháp.

XXVIII. TÔN TRỌNG CĂN CƠ

Không ép ai tu theo một kiểu. Có người hợp niệm Phật. Có người hợp quán. Có người cần giữ giới trước. Có người cần dọn đời sống trước. Có người cần pháp rất đơn giản. Biết đưa đúng cửa là trí.

XXIX. KHÔNG CHẤP KẾT QUẢ CỦA PHÁP THÍ

Có người nghe rồi đổi. Có người nghe rồi quên. Có người chưa tiếp nhận. Phần người trao là: TRAO ĐÚNG. TRAO HẾT LÒNG. KHÔNG ÉP KẾT QUẢ. Công thức: TRAO ĐÚNG

→ TRAO HẾT LÒNG

→ TRẢ KẾT QUẢ VỀ NHÂN DUYÊN.

XXX. PHÁP THÍ KHÔNG THỂ TÁCH KHỎI TỰ TU

Càng nói nhiều càng phải: Học. Đọc. Soi. Im. Sám hối. Niệm Phật. Thực hành. Nếu chỉ nói mà không tự tu, lời dễ cạn và cái tôi dễ lớn.

XXXI. NÓI ÍT MÀ TRÚNG CÓ KHI QUÝ HƠN NÓI NHIỀU

Có khi người ta chỉ cần: “Đừng quyết định khi đang sân.” Hoặc: “Việc đã cho thì tập trả quyền sở hữu về.” Hoặc: “Tâm chạy thì trở về câu Phật hiệu.” Nói đúng một câu có khi đủ cứu một tình huống.

XXXII. BỐN TẦNG PHÁP THÍ

TẦNG 1 – AN TÂM: Giúp người bớt hoảng. TẦNG 2 – THẤY GỐC: Giúp thấy tham, sân, chấp, sợ.

TẦNG 3 – CHO PHƯƠNG PHÁP:

Dừng, thở, niệm Phật, giữ giới, soi, buông.

TẦNG 4 – GIÚP TỰ ĐỨNG:

Để lần sau người đó tự biết thực hành.

XXXIII. PHÁP THÍ VÀ BỐN CÔNG THỨC

PHÁP CÚ 183: BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

ĐỊNH LỰC: THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

BUÔNG: NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

PHẬT: THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

ĐẠI NGUYỆN: GIỮ HƯỚNG

→ HÀNH THIỆN

→ PHÁP THÍ

→ LỢI MÌNH

→ LỢI NGƯỜI.

XXXIV. CÔNG THỨC PHÁP THÍ

Bản đầy đủ: PHÁP THÍ = ĐÚNG PHÁP + ĐÚNG NGƯỜI + ĐÚNG LÚC + ĐÚNG CÁCH + CÓ TỪ

+ KHÔNG CHẤP KẾT QUẢ.

Bản chuỗi: ĐÚNG

→ HỢP

→ DỄ HIỂU

→ THỰC HÀNH ĐƯỢC

→ BUÔNG KẾT QUẢ.

Bản cực ngắn:

TRAO ÁNH SÁNG – KHÔNG GIỮ NGƯỜI.

XXXV. BÀI KIỂM TRA NGƯỜI CHIA SẺ PHÁP

Trước khi nói một điều quan trọng, hãy hỏi:

1. Tôi có chắc nguồn không?

2. Nếu chưa chắc, tôi có nói rõ không?

3. Tôi đang nói vì lợi ích hay vì muốn thắng?

4. Người này đang cần điều gì?

5. Cách nói này có giúp họ hiểu hơn không?

6. Tôi có đang dùng Pháp để trút sân không?

7. Tôi có thể nói gọn hơn không?

8. Sau khi nói, tôi có đòi họ phải nghe không?

XXXVI. BÀI THỰC HÀNH 7 NGÀY PHÁP THÍ

NGÀY 1: Chia sẻ một câu Pháp đúng nguồn. NGÀY 2: Giúp một người bằng một phương pháp cụ thể. NGÀY 3: Lắng nghe đủ trước khi khuyên. NGÀY 4: Nói “tôi chưa biết” ở một chỗ mình chưa chắc. NGÀY 5: Sửa một điều mình từng hiểu chưa chuẩn. NGÀY 6: Làm một pháp thí mà không cần ai biết mình là người cho.

NGÀY 7: Tự hỏi: “Lời tôi nói tuần này đang làm người khác tự đứng hơn hay lệ thuộc hơn?”

XXXVII. THÂN GIÁO LÀ MỘT HÌNH THỨC PHÁP THÍ

Có một loại pháp thí không lời. Người khác nhìn mình: Sống thật. Xin lỗi. Giữ giới. Không trả thù. Biết buông. Họ học. Câu nhớ:

CÓ LÚC BÀI PHÁP MẠNH NHẤT LÀ CÁCH MÌNH XỬ LÝ MỘT VIỆC MÀ KHÔNG CẦN GIẢNG MỘT CÂU.

XXXVIII. CÂU KẾT

Có những thứ mình học để biết. Có những thứ mình học để sống. Và có những thứ khi đã sống được, tự nhiên muốn trao lại cho người. Không phải để người khác biết mình giỏi. Không phải để họ lệ thuộc. Không phải để dựng danh. Mà vì mình đã từng khổ ở chỗ đó. Mình từng không biết đường.

Bây giờ biết một chút đường, thấy người khác đang mắc ở chỗ cũ, mình muốn chỉ: “Chỗ này đừng đi.” “Chỗ này dừng.” “Chỗ này buông.” “Chỗ này trở về.” Đó là pháp thí.

PHÁP THÍ SẠCH KHÔNG GIỮ NGƯỜI.

NÓ TRAO MỘT NGỌN ĐÈN.

RỒI NGƯỜI KIA TỰ CẦM ĐÈN MÀ ĐI.

PHẦN II
NHÌN THẲNG VÀO TÂM: KHỔ – ÁI – CHẤP – CON ĐƯỜNG THOÁT

CHƯƠNG 17
TỨ NIỆM XỨ TRONG ĐỜI THƯỜNG

I. TỨ NIỆM XỨ KHÔNG CHỈ Ở TRÊN BỒ ĐOÀN

Satipaṭṭhāna – Tứ Niệm Xứ, bốn nền tảng chánh niệm, được trình bày quan trọng trong MN 10 – Kinh Niệm Xứ và DN 22 – Kinh Đại Niệm Xứ. Khi đưa vào đời thường, điều cốt lõi là biết thân, biết thọ, biết tâm và nhận ra các pháp đang vận hành ngay trong lúc đi, đứng, nói, làm việc và tiếp xúc với người khác.

II. QUÁN THÂN – BIẾT THÂN ĐANG Ở ĐÂU VÀ ĐANG LÀM GÌ

Thân đang đi thì biết đang đi; đang ngồi thì biết đang ngồi; đang căng thì biết đang căng; đang thở gấp thì biết đang thở gấp. Biết thân giúp tâm có một điểm trở về trước khi bị câu chuyện trong đầu kéo quá xa. Đây không phải soi xét cơ thể để lo lắng thêm, mà là nhận biết trực tiếp kinh nghiệm thân đang có.

III. QUÁN THỌ – BIẾT DỄ CHỊU, KHÓ CHỊU, TRUNG TÍNH

Vedanā – thọ trong ngữ cảnh này không đồng nghĩa toàn bộ cảm xúc. Nó là sắc thái dễ chịu, khó chịu hoặc trung tính đi cùng kinh nghiệm. Một lời khen có thể sinh thọ dễ chịu; một lời chê sinh thọ khó chịu. Nếu không thấy thọ, tâm rất dễ chạy tiếp sang ái: muốn giữ cái dễ chịu, muốn đẩy cái khó chịu.

IV. QUÁN TÂM – BIẾT TÂM ĐANG NHƯ THẾ NÀO

Tâm có tham biết có tham; có sân biết có sân; tán loạn biết tán loạn; tương đối định tĩnh biết định tĩnh. Biết không phải đồng ý và cũng không phải kết tội. Chỉ cần nhận đúng: “Tâm đang như vậy.” Khoảnh khắc ấy tạo khoảng cách giữa trạng thái tâm và hành động kế tiếp.

V. QUÁN PHÁP – NHẬN RA MẪU ĐANG VẬN HÀNH

Trong Tứ Niệm Xứ, quán pháp không chỉ là suy nghĩ chung chung về giáo lý. Người thực hành nhận diện những nhóm pháp như triền cái, uẩn, giác chi hay các mặt của Tứ Diệu Đế theo cấu trúc kinh. Trong đời sống, có thể bắt đầu đơn giản bằng việc thấy: đây là tham, đây là sân, đây là một chấp, đây là một điều kiện đang nuôi khổ.

VI. BIẾT ĐỂ KHÔNG PHẢN ỨNG NGAY

Chánh niệm không phải làm tâm không còn cảm xúc. Người có chánh niệm vẫn có thể buồn, đau, sợ. Khác ở chỗ trạng thái ấy được biết sớm hơn, nên không nhất thiết trở thành mệnh lệnh bắt mình phải nói hay làm ngay.

VII. MỘT NGÀY VỚI BỐN NỀN CHÁNH NIỆM

Khi thức dậy, biết thân. Khi gặp điều dễ chịu hoặc khó chịu, biết thọ. Khi sân, biết tâm sân. Khi nhận ra một triền cái hay một kiểu chấp đang vận hành, biết pháp. Bốn nền không cần bị biến thành bốn chiếc hộp cứng; chúng là bốn cửa để thấy kinh nghiệm rõ hơn.

VIII. TỪ THẤY ĐẾN TỰ DO LỰA CHỌN

Tứ Niệm Xứ cho người tu một điều rất thực tế: trước khi phản ứng, có cơ hội thấy. Thấy không phải mục đích cuối cùng, nhưng không thấy thì rất khó tỉnh; không tỉnh thì khó buông. Vì vậy Tứ Niệm Xứ là một nền quan trọng để bốn công thức của cuốn sách đi từ chữ nghĩa vào đời sống.

CHƯƠNG 18
XÚC – THỌ – ÁI: NƠI PHẢN ỨNG BẮT ĐẦU

Có một chỗ trong đời sống nếu thấy được, ta sẽ hiểu rất nhiều về khổ. Cảm giác khó chịu không tự nó làm mình khổ lâu. Cảm giác dễ chịu cũng không tự nó làm mình dính lâu. Dòng khổ lớn lên khi tâm bắt đầu đòi hỏi đối với cảm thọ. Khó chịu: “Tôi không muốn cái này.” Dễ chịu:

“Tôi phải giữ cái này.” Trung tính: Tâm dễ rơi vào không biết và buông lung. Đây là chỗ từ: THỌ – vedanā (Pāli/Sanskrit: cảm thọ) đi sang: ÁI – taṇhā (Pāli), tṛṣṇā (Sanskrit: khát ái, thèm muốn) và sau đó: THỦ – upādāna (Pāli/Sanskrit: chấp thủ, nắm giữ).

I. DUYÊN KHỞI – PAṬICCASAMUPPĀDA / PRATĪTYASAMUTPĀDA

Pāli:

paṭiccasamuppāda.

Sanskrit:

pratītyasamutpāda. Tiếng Việt: Duyên khởi – các pháp sinh khởi do điều kiện. Một đoạn rất quan trọng trong tiến trình Duyên khởi là: XÚC – phassa / sparśa

→ THỌ – vedanā

→ ÁI – taṇhā / tṛṣṇā

→ THỦ – upādāna

→ HỮU – bhava.

Điểm thực hành quan trọng: THỌ CÓ THỂ SINH.

NHƯNG ÁI KHÔNG NHẤT THIẾT PHẢI ĐI THEO.

II. XÚC – PHASSA / SPARŚA

Xúc là sự tiếp xúc giữa căn, cảnh và nhận biết tương ứng. Mắt thấy hình. Tai nghe tiếng. Mũi ngửi mùi. Lưỡi nếm vị. Thân chạm xúc. Ý tiếp xúc pháp. Có xúc, cảm thọ có điều kiện sinh khởi.

III. THỌ – VEDANĀ

Vedanā được dịch là cảm thọ. Ba loại căn bản rất dễ thực hành: LẠC THỌ: Dễ chịu. KHỔ THỌ: Khó chịu. XẢ THỌ: Trung tính. Thọ không nhất thiết là cả một cảm xúc phức tạp. Trước câu: “Tôi đang giận” có thể có một tầng sớm hơn: “Đang có thọ khó chịu.” Thấy ở tầng này giúp tâm chưa bị câu chuyện kéo quá xa.

IV. CẢM THỌ KHÔNG PHẢI MỆNH LỆNH

Khó chịu không có nghĩa phải cãi. Dễ chịu không có nghĩa phải lấy. Buồn không có nghĩa phải bám. Sợ không có nghĩa phải bỏ điều đúng. Câu nhớ:

CẢM THỌ CÓ QUYỀN XUẤT HIỆN.

NHƯNG KHÔNG CÓ QUYỀN BẮT MÌNH PHẢI CHẠY THEO.

V. ÁI – TAṆHĀ / TṚṢṆĀ

Taṇhā trong Pāli, tṛṣṇā trong Sanskrit có nghĩa gần với: Khát. Thèm. Đòi. Muốn bám. Muốn đẩy. Thọ dễ chịu sinh: “Thêm nữa.” Thọ khó chịu sinh: “Biến đi.” Đó là chỗ thọ có thể đi sang ái.

VI. DỄ CHỊU KHÔNG PHẢI LÀ SAI

Dễ chịu không có lỗi. Ăn ngon không tự động là sai. Được thương không tự động là sai. Được khen không tự động là sai. Vấn đề là: Tâm có biến cảm giác dễ chịu thành điều kiện bắt buộc của hạnh phúc hay không? Câu nhớ:

DỄ CHỊU CHỈ LÀ MỘT CẢM THỌ.

KHỔ BẮT ĐẦU TĂNG KHI TÂM BIẾN DỄ CHỊU THÀNH THỨ PHẢI GIỮ BẰNG ĐƯỢC.

VII. KHÓ CHỊU KHÔNG PHẢI KẺ THÙ

Khó chịu có thể xảy ra: Đau. Mệt. Nóng. Lạnh. Bị chê. Mất mát. Nếu tâm thêm: “Không được khó chịu.” thì khổ có thể tăng thành hai tầng: TẦNG 1: Cảm thọ khó chịu. TẦNG 2: Sân và chống lại việc đang khó chịu. Câu nhớ: ĐAU LÀ MỘT CHUYỆN.

CHỐNG LẠI VIỆC MÌNH ĐANG ĐAU LÀ CHUYỆN THỨ HAI.

VIII. KINH MŨI TÊN – SALLATTHA SUTTA

Nguồn: Tương Ưng Bộ – Saṃyutta Nikāya.

SN 36.6.

Sallattha Sutta – Kinh Mũi Tên. Đại ý: Người phàm khi gặp cảm thọ đau khổ giống như bị bắn bởi hai mũi tên. Mũi tên thứ nhất: Cảm thọ đau. Mũi tên thứ hai: Phản ứng tâm như sân, than, chống, khổ thêm. Người có học theo Pháp vẫn có thể gặp mũi tên thứ nhất, nhưng không nhất thiết tự bắn thêm mũi tên thứ hai.

Công thức thực hành:

MŨI TÊN 1 = CẢM THỌ.

MŨI TÊN 2 = PHẢN ỨNG CHẤP THỦ.

Câu diễn giải:

KHÔNG PHẢI LÚC NÀO CŨNG TRÁNH ĐƯỢC MŨI TÊN ĐẦU.

NHƯNG CÓ THỂ HỌC ĐỪNG TỰ BẮN THÊM MŨI TÊN THỨ HAI.

IX. CÔNG THỨC BUÔNG VÀ THỌ – ÁI – THỦ

Công thức Buông: NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

Áp dụng: NHẬN: Biết thọ đang có. SOI: Tâm đang muốn gì? THẤY: Nếu chạy theo, ái và thủ có thể lớn. KHÔNG DÍNH: Không để thọ kéo đi. KHÔNG CHẤP: Không biến cái dễ chịu thành “phải thuộc về tôi”. BUÔNG: Không nắm thêm.

AN:

Tâm trở lại nhẹ.

X. CÔNG THỨC CẮT DÒNG KHỔ

Đây là công thức thực hành được hệ thống hóa, không phải lời kinh nguyên văn: XÚC

→ THỌ

→ BIẾT

→ KHÔNG VỘI ÁI

→ KHÔNG THỦ

→ BUÔNG.

Bản ngắn:

CẢM → BIẾT → KHÔNG CHẠY THEO.

XI. BA LOẠI ÁI

Theo giáo lý Bốn Thánh Đế, ái thường được phân tích thành:

1. KĀMA-TAṆHĀ – DỤC ÁI:

Khát khao khoái lạc giác quan.

2. BHAVA-TAṆHĀ – HỮU ÁI:

Khát khao trở thành hoặc tiếp tục hiện hữu theo một kiểu mình muốn.

3. VIBHAVA-TAṆHĀ – PHI HỮU ÁI / VÔ HỮU ÁI:

Khát khao loại bỏ một trạng thái hoặc không muốn nó hiện hữu. Ví dụ: DỤC ÁI: “Tôi phải có món này.” HỮU ÁI: “Tôi phải trở thành người được công nhận.” PHI HỮU ÁI: “Tôi phải làm cảm xúc này biến mất ngay.”

XII. MUỐN HẾT KHỔ NGAY CŨNG CÓ THỂ THÀNH MỘT ĐÒI HỎI

Mong hết khổ không sai. Nhưng ép: “Tôi phải hết buồn ngay.” “Tâm phải yên ngay.” “Tôi không được vọng.” có thể tạo thêm căng thẳng. Điều cần là: BIẾT. CHĂM SÓC. THỰC HÀNH.

KHÔNG ÉP THỰC TẠI PHẢI ĐỔI NGAY THEO Ý.

XIII. DỄ CHỊU KHÔNG ĐỒNG NGHĨA ĐÚNG

Có những điều dễ chịu nhưng bất thiện. Trả đũa có thể tạo cảm giác thỏa mãn. Nói xấu có thể làm cái tôi hả. Được tâng bốc rất dễ chịu. Vì vậy: DỄ CHỊU ≠ THIỆN.

XIV. KHÓ CHỊU KHÔNG ĐỒNG NGHĨA SAI

Có những điều đúng nhưng khó chịu: Nhận lỗi. Xin lỗi. Giữ giới khi mất lợi. Cai thói quen xấu. Nói “không” đúng lúc. Vì vậy: KHÓ CHỊU ≠ SAI. Câu nhớ:

DỄ CHỊU KHÔNG ĐỒNG NGHĨA THIỆN.

KHÓ CHỊU KHÔNG ĐỒNG NGHĨA SAI.

TUỆ PHẢI ĐỨNG TRÊN THỌ.

XV. THỌ VÀ GIỚI

Thọ khởi. Tâm muốn phản ứng. Giới giữ hành vi. Có thể nhớ:

GIỚI = HÀNG RÀO GIỮ THỌ KHÔNG CHẠY THẲNG THÀNH HÀNH ĐỘNG BẤT THIỆN.

Bị xúc phạm. Thọ khó chịu. Sân khởi. Giữ khẩu. Không nói lời ác. Ngay đó giới đã cắt một đoạn của dòng khổ.

XVI. THỌ VÀ ĐỊNH

Định cho tâm khả năng ở với cảm thọ mà chưa cần hành động ngay. Câu nhớ:

ĐỊNH LỰC LÀ KHẢ NĂNG CHỊU ĐƯỢC CẢM THỌ MÀ CHƯA CẦN LÀM THEO NÓ.

XVII. THỌ VÀ TUỆ

Tuệ nhìn: Thọ đang sinh. Thọ sẽ đổi. Thọ không phải mệnh lệnh. Thọ không phải toàn bộ tôi. Câu nhớ: TUỆ KHÔNG XÓA THỌ.

TUỆ LÀM THỌ BỚT QUYỀN SAI KHIẾN.

XVIII. QUÁN THỌ TRONG KINH NIỆM XỨ

Nguồn: Trung Bộ – Majjhima Nikāya.

MN 10.

Satipaṭṭhāna Sutta – Kinh Niệm Xứ. Phần: vedanānupassanā – quán thọ. Người hành giả biết rõ: Có lạc thọ: Biết có lạc thọ. Có khổ thọ: Biết có khổ thọ. Có xả thọ: Biết có xả thọ. Điểm thực hành:

THỌ ĐƯỢC BIẾT NHƯ THỌ.

Không cần lập tức biến thành: “Của tôi.” “Tôi.” “Đời tôi.”

XIX. TỨ NIỆM XỨ VÀ DUYÊN KHỞI

Tứ Niệm Xứ: THÂN. THỌ. TÂM. PHÁP. Duyên khởi cho thấy cơ chế: XÚC

→ THỌ

→ ÁI

→ THỦ.

Có thể hệ thống hóa:

TỨ NIỆM XỨ LÀ KÍNH SOI.

DUYÊN KHỞI LÀ CƠ CHẾ ĐƯỢC THẤY QUA KÍNH ẤY.

XX. MƯỜI HAI CHI DUYÊN KHỞI

Pāli:

avijjā

→ saṅkhāra

→ viññāṇa

→ nāma-rūpa

→ saḷāyatana

→ phassa

→ vedanā

→ taṇhā

→ upādāna

→ bhava

→ jāti

→ jarāmaraṇa.

Tiếng Việt: VÔ MINH

→ HÀNH

→ THỨC

→ DANH SẮC

→ SÁU XỨ

→ XÚC

→ THỌ

→ ÁI

→ THỦ

→ HỮU

→ SINH

→ GIÀ CHẾT.

Nguồn nền: Tương Ưng Bộ – Saṃyutta Nikāya. Nidāna-saṃyutta – Tương Ưng Nhân Duyên.

XXI. KHÔNG CẦN THUỘC HẾT MƯỜI HAI CHI MỚI TU ĐƯỢC

Người mới chỉ cần thấy đoạn: XÚC

→ THỌ

→ ÁI

→ THỦ

→ KHỔ TĂNG.

Ví dụ: Nghe lời chê. XÚC. Khó chịu. THỌ. Muốn phản bác. ÁI. “Tôi phải bảo vệ danh.” THỦ. Ôm cả ngày. KHỔ. Nếu biết ngay: “Đang có thọ khó chịu.” thì dòng đã có chỗ để dừng.

XXII. THỦ – UPĀDĀNA

Upādāna được dịch là: Thủ. Chấp thủ. Nắm giữ. Ái nói: “Tôi muốn.” Thủ nói: “Tôi phải có.” Ái: “Tôi thích được khen.” Thủ: “Mọi người phải công nhận tôi.” Ái: “Tôi muốn thành công.” Thủ: “Nếu thất bại thì tôi không còn giá trị.”

XXIII. BỐN LOẠI THỦ

Bốn dạng thường được trình bày:

1. KĀMUPĀDĀNA – DỤC THỦ:

Chấp vào dục.

2. DIṬṬHUPĀDĀNA – KIẾN THỦ:

Chấp vào quan điểm.

3. SĪLABBATUPĀDĀNA – GIỚI CẤM THỦ:

Chấp sai lạc vào giới luật, nghi thức hoặc hình thức như cứu cánh tự thân.

4. ATTAVĀDUPĀDĀNA – NGÃ LUẬN THỦ:

Chấp vào quan niệm về tự ngã.

XXIV. CÔNG THỨC BUÔNG ĐÁNH VÀO THỦ

NHẬN: Thọ. SOI: Ái. THẤY: Thủ. KHÔNG DÍNH: Không chạy theo cảnh. KHÔNG CHẤP: Không biến cảnh thành “tôi” và “của tôi”. BUÔNG: Không nắm thêm.

AN:

Trở về.

XXV. THỌ VÀ MẠNG XÃ HỘI

Thấy lượt tương tác tăng. Thọ dễ chịu. Muốn kiểm tra thêm. Ái. Ngày nào ít tương tác, tâm khó chịu. Thủ có thể đã hình thành khi giá trị bản thân bị buộc vào con số. Mạng xã hội là một nơi rất rõ để quan sát: VEDANĀ

→ TAṆHĀ

→ UPĀDĀNA.

XXVI. THỌ VÀ LỜI KHEN

Được khen. Thọ dễ chịu. Không sai. Nhưng nếu tâm bắt đầu: “Ngày mai phải được khen nữa.” thì ái đã có cơ hội sinh. Nếu: “Không ai khen thì tôi không còn giá trị.” thì thủ đã sâu.

XXVII. THỌ VÀ LỜI CHÊ

Bị chê. Thọ khó chịu. Có thể đi hai đường. ĐƯỜNG 1: THỌ

→ ÁI

→ MUỐN ĐẨY

→ SÂN

→ PHẢN ỨNG.

ĐƯỜNG 2: THỌ

→ CHÁNH NIỆM

→ DỪNG

→ TUỆ

→ LỌC

→ SỬA / BUÔNG.

Câu nhớ:

HÃY HỌC ĐƯA THỌ SANG TUỆ THAY VÌ ĐƯA THỌ SANG ÁI.

XXVIII. CÔNG THỨC CHUYỂN HƯỚNG

Đây là sơ đồ thực hành hệ thống hóa: THÔNG THƯỜNG: XÚC

→ THỌ

→ ÁI

→ THỦ

→ KHỔ.

CÓ TU TẬP: XÚC

→ THỌ

→ CHÁNH NIỆM

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ KHÔNG THỦ

→ AN.

XXIX. THỌ TRONG TÌNH CẢM

Người mình thương nói một câu ngọt. Thọ dễ chịu. Không sai. Nhưng nếu: “Ngày nào cũng phải như vậy.” Ái. “Người này phải mãi thuộc về tôi.” Thủ. Tình thương không phải vấn đề. Vấn đề là biến cảm giác dễ chịu của tình thương thành quyền sở hữu.

XXX. THỌ TRONG CHIA LY

Người đi. Có thọ khó chịu. Có thể đau. Không cần giả. Nhưng đừng biến đau thành: “Đời tôi mất hết.” Đó là lúc câu chuyện và chấp thủ làm khổ tăng.

XXXI. THỌ VÀ VẬT CHẤT

Có món vật mình quý. Có: Dễ chịu. Mất: Khó chịu. Nếu chỉ biết: “Đang tiếc.” tâm còn có khoảng. Nếu thêm: “Nó không được phép mất.” khổ tăng.

XXXII. THỌ VÀ THỨC ĂN

Ăn ngon. Dễ chịu. Biết: “Ngon.” Rồi thôi. Nếu: “Phải thêm.” Ái. “Không có món này thì ăn không nổi.” Thủ. Đây là nơi rất gần để tu.

XXXIII. THỌ VÀ GIẤC NGỦ

Mệt. Khó chịu. Tâm đòi: “Phải ngủ ngay.” Càng ép càng căng. Có thể đổi: “Thân đang mệt. Tôi cho thân nghỉ. Ngủ được bao nhiêu, tôi tiếp nhận bấy nhiêu.” Không ép thực tại.

XXXIV. THỌ VÀ BỆNH ĐAU

Có đau thân thật thì phải chăm sóc phần thân phù hợp. Phật pháp không thay thế y khoa. Điều Pháp giúp là giảm phần tâm tự bắn thêm mũi tên thứ hai: Sợ quá mức. Sân. Tuyệt vọng. Chống. Nguồn kinh quan trọng:

SN 36.6 – Sallattha Sutta – Kinh Mũi Tên.

XXXV. THỌ VÀ SỢ HÃI

Sợ không tự động là sai. Có nguy hiểm thật: Phải tránh. Có sợ do tưởng tượng: Cần soi. Vì vậy sau chánh niệm phải có tuệ.

XXXVI. THỌ VÀ CÁI TÔI

Ai đụng danh. Thọ khó chịu. Tâm phản ứng. Hãy hỏi: “Có phải cái tôi đang bị chạm không?” Chỉ một lời có thể trở thành cả một cuộc chiến nếu ngã chấp đứng sau.

XXXVII. KINH VÔ NGÃ TƯỚNG – ANATTALAKKHAṆA SUTTA

Nguồn: Tương Ưng Bộ – Saṃyutta Nikāya.

SN 22.59.

Anattalakkhaṇa Sutta – Kinh Vô Ngã Tướng. Năm uẩn, trong đó có: vedanā-khandha – thọ uẩn, được quán theo hướng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.” Cách dịch cụ thể thay đổi theo bản dịch. Ý thực hành:

THỌ KHÓ CHỊU CÓ MẶT.

NHƯNG NÓ KHÔNG PHẢI TOÀN BỘ TÔI.

THỌ DỄ CHỊU CÓ MẶT.

NHƯNG NÓ KHÔNG PHẢI TÀI SẢN PHẢI GIỮ.

XXXVIII. THỌ VÀ VÔ THƯỜNG

Pāli:

anicca.

Sanskrit:

anitya. Tiếng Việt: vô thường. Cảm thọ sinh rồi đổi. Một cảm giác rất mạnh hôm nay, một thời gian sau có thể khác. Câu nhớ:

ĐỪNG RA QUYẾT ĐỊNH VĨNH VIỄN TỪ MỘT CẢM THỌ TẠM THỜI.

XXXIX. KHỔ – DUKKHA / DUḤKHA

Pāli:

dukkha.

Sanskrit:

duḥkha. Tiếng Việt: khổ, bất toại nguyện. Khổ tăng khi: Thọ dễ chịu mà đòi giữ mãi. Thọ khó chịu mà đòi biến mất ngay. Cả hai đều va vào vô thường.

XL. BA CÁCH ĐỐI VỚI THỌ

CÁCH 1 – CHẠY THEO:

Dễ chịu → lấy thêm.

CÁCH 2 – CHỐNG:

Khó chịu → đẩy mạnh.

CÁCH 3 – BIẾT:

Dễ chịu → biết.

Khó chịu → biết.

Trung tính → biết.

Cách thứ ba mở ra chỗ tu.

XLI. TỨ CHÁNH CẦN – SAMMAPPADHĀNA

Pāli:

sammappadhāna. Tiếng Việt: Tứ Chánh Cần / bốn sự tinh tấn chân chánh. Bốn việc: Ngăn bất thiện chưa sinh. Bỏ bất thiện đã sinh. Làm sinh thiện chưa sinh. Duy trì và phát triển thiện đã sinh. Khi thọ khó chịu sinh: Sân chưa sinh: Ngăn. Sân đã sinh: Bỏ. Từ chưa sinh: Khởi. Từ đã sinh:

Giữ.

XLII. BÁT CHÁNH ĐẠO – ARIYA AṬṬHAṄGIKA MAGGA / ĀRYĀṢṬĀṄGAMĀRGA

Pāli:

Ariya Aṭṭhaṅgika Magga.

Sanskrit:

Āryāṣṭāṅgamārga. Tiếng Việt: Bát Chánh Đạo / Thánh Đạo tám ngành. Trong một cảm thọ khó chịu: CHÁNH KIẾN – sammā-diṭṭhi / samyag-dṛṣṭi: Thấy thọ vô thường. CHÁNH TƯ DUY – sammā-saṅkappa / samyak-saṃkalpa: Không nuôi ý hại. CHÁNH NGỮ – sammā-vācā / samyag-vāc: Không nói lời độc.

CHÁNH NGHIỆP – sammā-kammanta / samyak-karmānta: Không làm sai. CHÁNH MẠNG – sammā-ājīva / samyag-ājīva: Không sống trái nguyên tắc vì cảm xúc. CHÁNH TINH TẤN – sammā-vāyāma / samyag-vyāyāma: Ngăn và bỏ bất thiện. CHÁNH NIỆM – sammā-sati / samyak-smṛti: Biết thọ đang có.

CHÁNH ĐỊNH – sammā-samādhi / samyak-samādhi: Tâm có khả năng đứng.

XLIII. BỐN CÔNG THỨC GẶP DUYÊN KHỞI

CÔNG THỨC TAM TẠNG:

BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

Khi thọ khởi: Không làm ác theo thọ. Chọn thiện. Làm sạch chấp.

CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC:

THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

Khi thọ mạnh: Thật với thọ. Giữ giới. Gom tâm. Dùng tuệ.

CÔNG THỨC BUÔNG:

NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

Đây là cách tháo đoạn: THỌ

→ ÁI

→ THỦ.

CÔNG THỨC PHẬT:

THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

Thấy thọ. Tỉnh trước ái. Buông thủ. Sáng cơ chế.

XLIV. CÔNG THỨC CẢM THỌ KHÔNG PHẢI MỆNH LỆNH

Bản đầy đủ: CẢM THỌ

→ BIẾT

→ DỪNG

→ KHÔNG VỘI TIN

→ KHÔNG VỘI LÀM

→ SOI

→ CHỌN.

Bản cực ngắn:

CẢM → BIẾT → KHÔNG CHẠY THEO.

XLV. THỰC HÀNH MỘT PHÚT KHI THỌ MẠNH

BƯỚC 1: Gọi đúng: “Đang khó chịu.” hoặc: “Đang dễ chịu.” BƯỚC 2: Trở về thân: Vai? Ngực? Bụng? Hơi thở? BƯỚC 3: Hỏi: “Tâm đang muốn làm gì?” BƯỚC 4: Hỏi: “Nếu không làm theo ngay, chuyện gì xảy ra?” BƯỚC 5: Chọn: Điều gì lành nhất? Đúng nhất? Ít hối nhất?

XLVI. BÀI THỰC HÀNH 7 NGÀY QUÁN THỌ

NGÀY 1: Ba lần trong ngày hỏi: “Dễ chịu, khó chịu hay trung tính?” NGÀY 2: Khi dễ chịu, xem tâm có muốn thêm không. NGÀY 3: Khi khó chịu, xem tâm có muốn đẩy không. NGÀY 4: Khi bị chê, chỉ nhận thọ trước khi phân tích. NGÀY 5: Khi được khen, biết thọ dễ chịu rồi để qua. NGÀY 6:

Khi muốn mua một món không cấp thiết, đợi một khoảng rồi quan sát cái muốn. NGÀY 7: Nhớ lại một cảm thọ từng rất mạnh và hỏi: “Nó có đứng yên mãi không?”

XLVII. THƯỚC ĐO THỰC HÀNH

Không phải: “Không còn khó chịu.” Mà là: Khó chịu nhưng bớt phản ứng. Dễ chịu nhưng bớt nắm. Bị chê nhưng bớt sân. Được khen nhưng bớt phồng. Thèm nhưng bớt chạy. Sợ nhưng vẫn giữ được điều đúng.

XLVIII. CÂU KẾT

Xúc tới. Thọ sinh. Đó là đời sống. Không cần ghét thọ. Không cần sợ thọ. Khi dễ chịu tới: Biết mà không vội nắm. Khi khó chịu tới: Biết mà không vội đẩy. Khi trung tính tới: Biết mà không mê. Ngay đó, Duyên khởi không còn là lý thuyết. Nó có mặt trong: Một cái nhìn. Một câu nói.

Một lời khen. Một lời chê. Một món ăn. Một tin nhắn. Một ký ức. Một người đến. Một người đi. Và ngay đó có một cửa tu: THỌ CÓ THỂ SINH.

NHƯNG ÁI KHÔNG NHẤT THIẾT PHẢI ĐI THEO.

Công thức Buông có thể đi tới tận gốc: NHẬN THỌ. SOI ÁI. THẤY THỦ. KHÔNG DÍNH. KHÔNG CHẤP. BUÔNG.

AN.

ĐÓ LÀ MỘT CHỖ CẮT DÒNG KHỔ RẤT SÂU.

CHƯƠNG 19
CHẤP THỦ – KHI “THÍCH” TRỞ THÀNH “PHẢI CÓ”

Có những chuyện đã qua lâu rồi nhưng tâm vẫn còn đau. Có người đã đi rồi nhưng mình vẫn còn giữ. Có vật đã mất nhưng ký ức vẫn còn níu. Có lời chê chỉ kéo dài vài giây mà mình mang cả tuần. Vì sao? Vì cảnh đã qua nhưng cái tay trong tâm chưa mở. Trong Phật học, một trong những khái niệm quan trọng để chỉ sự nắm giữ ấy là:

THỦ – upādāna (Pāli/Sanskrit): chấp thủ, nắm giữ, bám chặt. Câu nhớ:

KHỔ KHÔNG CHỈ VÌ CHUYỆN ĐÃ XẢY RA.

KHỔ KÉO DÀI VÌ TÂM CÒN NẮM CHUYỆN ẤY.

Đây là lời hệ thống hóa để thực hành, không phải lời kinh nguyên văn.

I. TỪ ÁI ĐẾN THỦ

Trong Duyên khởi: XÚC – phassa / sparśa

→ THỌ – vedanā

→ ÁI – taṇhā / tṛṣṇā

→ THỦ – upādāna.

Trong nhiều bài kinh thuộc: Tương Ưng Bộ – Saṃyutta Nikāya, Nidāna-saṃyutta – Tương Ưng Nhân Duyên, có cấu trúc: taṇhā-paccayā upādānaṃ Đại ý:

DO ÁI LÀM DUYÊN, THỦ SINH.

Ái nói: “Tôi muốn.” Thủ nói: “Tôi phải có.” Ái nói: “Tôi thích.” Thủ nói: “Cái này phải thuộc về tôi.”

II. THỦ KHÔNG CHỈ LÀ GIỮ VẬT

Ta có thể chấp: Người. Vật. Danh. Ý kiến. Vai trò. Công lao. Quá khứ. Nỗi đau. Hình ảnh bản thân. Pháp môn. Cách tu. Câu nhớ:

THỦ KHÔNG NẰM Ở SỐ LƯỢNG MÌNH CÓ.

THỦ NẰM Ở ĐỘ CHẶT CỦA CÁI TÂM ĐANG NẮM.

III. BỐN LOẠI THỦ

Trong kinh điển Pāli, thủ thường được trình bày thành bốn dạng:

1. KĀMUPĀDĀNA – DỤC THỦ:

Chấp vào dục và đối tượng khoái lạc.

2. DIṬṬHUPĀDĀNA – KIẾN THỦ:

Chấp vào quan điểm.

3. SĪLABBATUPĀDĀNA – GIỚI CẤM THỦ:

Chấp sai lạc vào giới điều, nghi thức hoặc hình thức như cứu cánh tự thân.

4. ATTAVĀDUPĀDĀNA – NGÃ LUẬN THỦ:

Chấp vào quan niệm về tự ngã.

IV. KIẾN THỦ – CHẤP MÌNH ĐÚNG

Có lúc ta không bảo vệ sự thật. Ta chỉ đang bảo vệ cảm giác: “Tôi đúng.” Người có kiến thủ mạnh nghe góp ý rất khó. Không hẳn vì góp ý sai. Mà vì cái tôi bị đụng. Câu nhớ:

CÓ LÚC MÌNH KHÔNG BẢO VỆ SỰ THẬT.

MÌNH CHỈ ĐANG BẢO VỆ CẢM GIÁC “TÔI ĐÚNG”.

V. GIỚI CẤM THỦ KHÔNG PHẢI GIỮ GIỚI

Giữ giới chân chánh là nền tu tập. Giới cấm thủ là chấp sai vào hình thức, nghi thức hoặc quy tắc như thể chỉ hình thức ấy tự nó đủ giải thoát. Cần phân biệt: GIỮ GIỚI: Bảo vệ thân khẩu ý. GIỚI CẤM THỦ: Chấp hình thức như cứu cánh hoặc lấy hình thức làm ngã chấp. Câu nhớ:

GIỮ GIỚI LÀ PHƯƠNG PHÁP THANH LỌC ĐỜI SỐNG.

CHẤP GIỚI NHƯ MỘT CÁI NHÃN ĐỂ HƠN NGƯỜI LẠI LÀ MỘT DẠNG CHẤP KHÁC.

VI. NGÃ LUẬN THỦ

Ta có thể xây cái tôi từ: Nghề nghiệp. Vai trò. Danh tiếng. Thành tựu. Quan hệ. Tài sản. Quá khứ. Ví dụ: “Tôi là người thành công.” Nếu một thất bại làm mình sụp toàn bộ, danh tính đã bị chấp mạnh. “Tôi là người tốt.” Nếu ai chỉ ra một lỗi mà mình không chịu nổi, có thể đang chấp hình ảnh “người tốt”.

“Tôi là người hiểu Pháp.” Nếu bị sửa một câu kinh mà sân, cái tôi đang núp trong Pháp.

VII. KINH VÔ NGÃ TƯỚNG – ANATTALAKKHAṆA SUTTA

Nguồn: Tương Ưng Bộ – Saṃyutta Nikāya.

SN 22.59.

Anattalakkhaṇa Sutta – Kinh Vô Ngã Tướng. Năm uẩn: rūpa – sắc. vedanā – thọ. saññā – tưởng. saṅkhāra – hành. viññāṇa – thức. được quán theo hướng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.” Cách dịch cụ thể tùy bản dịch. Ý thực hành:

Cảm xúc có mặt nhưng không nhất thiết là “tôi”. Quan điểm có mặt nhưng không nhất thiết là “tôi”. Vai trò có mặt nhưng không nhất thiết là “tôi”.

VIII. NGŨ UẨN – PAÑCAKKHANDHA / PAÑCASKANDHA

Pāli:

pañcakkhandha.

Sanskrit:

pañcaskandha. Tiếng Việt: Năm uẩn. Sắc. Thọ. Tưởng. Hành. Thức. Cái tôi cứng thường được dựng từ những thành phần đang vô thường. Câu nhớ:

CÁI TÔI MÌNH BẢO VỆ RẤT CỨNG THƯỜNG ĐƯỢC DỆT TỪ NHỮNG THỨ RẤT VÔ THƯỜNG.

IX. VÔ THƯỜNG – ANICCA / ANITYA

Pāli:

anicca.

Sanskrit:

anitya. Tiếng Việt: vô thường.

Kinh Pháp Cú – Dhammapada, kệ 277 có lời dạy nổi tiếng về các hành vô thường.

Khi trích nguyên văn cần dùng bản dịch cụ thể. Ý nền:

CÁC PHÁP HỮU VI THAY ĐỔI.

Chấp là cố bắt cái đang thay đổi phải đứng yên.

X. CÔNG THỨC KHỔ DO CHẤP

Đây là công thức hệ thống hóa: KHỔ TĂNG = PHÁP ĐANG ĐỔI

+ TÂM ĐÒI NÓ KHÔNG ĐƯỢC ĐỔI.

Người thay đổi. Tâm nói: “Họ không được phép thay.” Vật mất. Tâm nói: “Nó phải còn.” Đó là chấp.

XI. CHẤP NGƯỜI

Thương khác chấp. Thương: “Mong người được tốt.” Chấp: “Người phải ở với tôi.” Câu nhớ:

TÌNH THƯƠNG MUỐN ĐIỀU TỐT CHO NGƯỜI.

CHẤP THỦ MUỐN NGƯỜI GIỮ MỘT VAI TRÒ ĐỂ MÌNH ĐƯỢC YÊN.

XII. KINH PIYAJĀTIKA – KINH ÁI SINH

Nguồn: Trung Bộ – Majjhima Nikāya.

MN 87.

Piyajātika Sutta. Tiếng Việt thường dịch:

Kinh Ái Sinh / Kinh Sinh Từ Người Thân Ái.

Bài kinh nói tới mối liên hệ giữa cái mình thương quý và sầu, bi, khổ, ưu, não khi điều ấy thay đổi hoặc mất. Ý thực hành: Không phải “đừng thương”. Mà là:

ĐỪNG BIẾN THƯƠNG THÀNH SỞ HỮU.

XIII. TỪ BI KHÁC ÁI LUYẾN

Pāli:

mettā – tâm từ.

Sanskrit:

maitrī – từ tâm. Từ không hỏi: “Người làm tôi vui không?” Từ hỏi: “Điều gì thật sự tốt?” Ái dễ muốn giữ. Từ có thể biết buông. Công thức hệ thống hóa: THƯƠNG + SỞ HỮU

→ DỄ THÀNH CHẤP.

THƯƠNG + TRÍ + KHÔNG SỞ HỮU

→ GẦN TỪ HƠN.

XIV. CHẤP VẬT

Vật tự nó chỉ là vật. Nhưng tâm gắn vào vật: Ký ức. Công sức. Danh. Cảm giác an toàn. Rồi vật thành một phần của “tôi”. Câu hỏi:

“TÔI TIẾC VẬT HAY TIẾC CÁI TÔI GẮN VÀO VẬT?”

XV. CHẤP CÔNG

Làm thiện rồi giữ mãi: “Tôi đã cho.” “Tôi đã giúp.” “Tôi đã hy sinh.” Công trở thành dây. Câu diễn giải:

LÀM THIỆN MÀ GIỮ CÔNG LÀ DÙNG TAY PHẢI CHO RỒI DÙNG TAY TÂM NẮM LẠI.

XVI. CHẤP DANH

Danh là điều người khác nghĩ về mình. Nếu lấy danh làm tự ngã: Được khen: Phồng. Bị chê: Sụp. Đó là dấu hiệu thủ.

XVII. TÁM PHÁP THẾ GIAN – LOKADHAMMA

Pāli:

lokadhamma. Tám pháp thường được trình bày: lābha – lợi. alābha – mất lợi. yasa – danh. ayasa – thất danh. pasamsā – khen. nindā – chê. sukha – lạc. dukkha – khổ. Tiếng Việt: Được – mất. Danh – thất danh. Khen – chê. Vui – khổ. Nguồn: Các bài kinh thuộc Tăng Chi Bộ – Aṅguttara Nikāya về tám pháp thế gian.

Câu nhớ:

TÁM PHÁP THẾ GIAN VẪN TỚI.

ĐỪNG LẤY TỪNG CƠN GIÓ LÀM ĐỊNH NGHĨA CHO CẢ ĐỜI MÌNH.

XVIII. CHẤP LỜI KHEN

Được khen. Thọ dễ chịu. Không sai. Nhưng nếu: “Tôi phải được khen.” thì thủ đã có cơ hội hình thành. Nếu: “Không được khen nghĩa là tôi không có giá trị.” thủ đã sâu.

XIX. CHẤP LỜI CHÊ

Khi bị chê, hãy hỏi: “Lời chê đang đụng vào lỗi thật hay đụng vào hình ảnh tôi muốn bảo vệ?” Câu này giúp phân biệt sự thật và ngã chấp.

XX. CHẤP VAI TRÒ

Vai trò cần thiết. Nhưng vai trò không phải tự ngã cố định. Ví dụ: “Tôi là thầy, nên họ phải nghe tôi.” Nếu vai trò biến thành quyền sở hữu người khác, thủ đã có mặt.

XXI. CHẤP NGƯỜI MÌNH GIÚP

Dạy người. Giúp người. Thương người. Nhưng không nên nghĩ: “Người này phải mãi thuộc về hướng của tôi.” Câu nhớ:

DẠY NGƯỜI LÀ GIEO DUYÊN.

ĐỪNG BIẾN DUYÊN THÀNH QUYỀN SỞ HỮU.

XXII. CHẤP KẾT QUẢ

Muốn kết quả tốt không sai. Nhưng: “Phải thành.” “Không thành là tôi thất bại.” là chỗ chấp có thể xuất hiện. Câu nhớ: HẾT LÒNG VỚI NHÂN. MỀM VỚI QUẢ.

XXIII. KINH BĀHIYA – BĀHIYA SUTTA

Nguồn:

Udāna 1.10.

Bāhiya Sutta – Kinh Bāhiya, thuộc Kinh Phật Tự Thuyết. Đại ý: Trong cái được thấy chỉ là cái được thấy. Trong cái được nghe chỉ là cái được nghe. Trong cái được cảm nhận chỉ là cái được cảm nhận. Trong cái được nhận thức chỉ là cái được nhận thức. Ý thực hành: Đừng thêm “tôi” và “của tôi” quá nhanh vào kinh nghiệm.

XXIV. CHẤP QUÁ KHỨ

Quá khứ đã qua. Nhưng tâm giữ: “Đáng lẽ…” “Nếu như…” “Ngày ấy…” Câu nhớ:

QUÁ KHỨ KHÔNG CÒN CẦM MÌNH BẰNG TAY.

MÌNH ĐANG CẦM QUÁ KHỨ BẰNG TÂM.

XXV. CHẤP NỖI ĐAU

Nỗi đau kéo dài có thể trở thành danh tính: “Tôi là người bị tổn thương.” Buông không phủ nhận quá khứ. Câu nhớ:

BUÔNG NỖI ĐAU KHÔNG PHẢI PHẢN BỘI QUÁ KHỨ.

BUÔNG LÀ NGỪNG ĐỂ QUÁ KHỨ LÀM CHỦ HIỆN TẠI.

XXVI. NHỚ KHÁC CHẤP

Nhớ không phải chấp. Có thể nhớ rất rõ mà tâm nhẹ. Chấp là: Nhớ rồi phải đau. Nhớ rồi phải nắm. Nhớ rồi phải quay lại. Câu nhớ:

BUÔNG KHÔNG XÓA KÝ ỨC.

BUÔNG THÁO QUYỀN LỰC CỦA KÝ ỨC.

XXVII. CHẤP TƯƠNG LAI

Lập kế hoạch là cần. Nhưng: “Tương lai phải đúng như tôi vẽ” là chấp. Câu nhớ:

LẬP KẾ HOẠCH BẰNG TRÍ.

NHƯNG ĐỪNG BẮT NHÂN DUYÊN KÝ HỢP ĐỒNG VỚI KẾ HOẠCH CỦA MÌNH.

XXVIII. CHẤP CÁCH TU

Mỗi người có căn cơ khác nhau. Có người hợp niệm Phật. Có người hợp thiền quán. Có người hợp tụng kinh. Giữ pháp môn mình không có nghĩa phải khinh các pháp môn chân chánh khác. Thiếu trí, lòng tin có thể biến thành kiến thủ.

XXIX. CHẤP KINH ĐIỂN

Học kinh để phá vô minh. Không phải để xây cái tôi học rộng. Câu nhớ:

KINH DÙNG ĐỂ PHÁ VÔ MINH.

ĐỪNG BIẾN KINH THÀNH CÔNG CỤ XÂY CÁI TÔI HỌC RỘNG.

XXX. KINH VÍ DỤ CÁI BÈ – ALAGADDŪPAMA SUTTA

Nguồn: Trung Bộ – Majjhima Nikāya.

MN 22.

Alagaddūpama Sutta. Tiếng Việt thường dịch:

Kinh Ví Dụ Con Rắn / Kinh Ví Dụ Cái Bè.

Bài kinh có ví dụ chiếc bè: Pháp được dùng để vượt qua, không phải để chấp giữ sai cách. Ý thực hành: Ngay cả phương pháp cũng không nên trở thành đối tượng chấp thủ.

XXXI. CÔNG THỨC CŨNG PHẢI BIẾT BUÔNG

Bốn công thức là bản đồ. Không phải thực tại. Nếu một ngày pháp đã thành phản xạ, không cần chấp từng chữ. Công thức để giúp hành. Không phải để dựng một cái tôi mới.

XXXII. THỦ VÀ HỮU – UPĀDĀNA → BHAVA

Trong Duyên khởi: upādāna-paccayā bhavo. Đại ý: Do thủ làm duyên, hữu sinh. Bhava – hữu là một khái niệm sâu. Trong thực hành đời thường có thể hiểu cẩn thận: Một chấp được nuôi lâu sẽ định hình cách mình tồn tại, hành xử và tự nhận mình. Ví dụ: “Tôi phải là người được tôn trọng.”

Nếu chấp mạnh, cả đời sống có thể xoay quanh bảo vệ hình ảnh đó.

XXXIII. CHẤP BIẾN CẢM XÚC THÀNH DANH TÍNH

Ban đầu: “Đang buồn.” Sau: “Tôi là người bị bỏ.” Rồi: “Đời tôi là câu chuyện bị bỏ.” Câu nhớ:

MỘT CẢM XÚC CÓ THỂ CHỈ Ở VÀI PHÚT.

CHẤP CÓ THỂ BIẾN NÓ THÀNH MỘT CÂU CHUYỆN KÉO DÀI NHIỀU NĂM.

XXXIV. CHẤP VÀ NGHIỆP – KAMMA / KARMA

Pāli:

kamma.

Sanskrit:

karma. Tiếng Việt: nghiệp. Chấp danh: Có thể nói dối để giữ danh. Chấp người: Có thể kiểm soát. Chấp tiền: Có thể làm sai. Chấp quan điểm: Có thể tranh đấu. Vì vậy thủ dễ trở thành động cơ tạo nghiệp qua thân, khẩu, ý.

XXXV. CHẤP VÀ BA ĐỘC

Pāli:

lobha – tham. dosa – sân. moha – si. Sanskrit thường gặp: rāga/lobha – tham. dveṣa – sân. moha – si. Chấp cái dễ chịu: Tham có đất. Bị ngăn cái mình chấp: Sân có đất. Không thấy mình đang chấp: Si có đất.

XXXVI. CÔNG THỨC THÁO CHẤP

Công thức hệ thống hóa: CHẤP = “TÔI MUỐN” + “TÔI PHẢI CÓ”

+ “TÔI KHÔNG CHẤP NHẬN KHÁC ĐI”.

Tháo chấp: NHẬN

→ HỎI “TÔI ĐANG NẮM GÌ?”

→ THẤY VÔ THƯỜNG

→ THẤY KHÔNG HOÀN TOÀN THUỘC QUYỀN

→ THẢ LỎNG

→ BUÔNG.

XXXVII. BA CÂU HỎI PHÁ CHẤP

1. TÔI ĐANG NẮM CÁI GÌ?

2. TÔI ĐANG ĐÒI CÁI GÌ PHẢI KHÔNG ĐỔI?

3. CÁI NÀY THẬT SỰ THUỘC QUYỀN TÔI TỚI ĐÂU?

XXXVIII. CHẤP VÀ QUYỀN KIỂM SOÁT

Không phải mọi thứ đều thuộc quyền mình. PHẦN MÌNH: Làm. PHẦN NGƯỜI: Tôn trọng. PHẦN DUYÊN: Không cưỡng. Công thức:

PHẦN MÌNH → LÀM.

PHẦN NGƯỜI → TÔN TRỌNG.

PHẦN DUYÊN → KHÔNG CƯỠNG.

XXXIX. BUÔNG CHẤP KHÔNG PHẢI BUÔNG TRÁCH NHIỆM

Nếu trách nhiệm thuộc mình: Phải làm. Buông là buông quyền sở hữu tuyệt đối và chấp kết quả. Câu nhớ:

BUÔNG QUYỀN SỞ HỮU KHÔNG ĐỒNG NGHĨA BUÔNG TRÁCH NHIỆM.

XL. CHẤP VÀ CHỮ THẬT

Thủ rất dễ làm tâm bóp méo sự thật. Nếu sự thật đụng cái tôi, tâm muốn che. Vì vậy: THẬT là một thuốc mạnh chống chấp.

XLI. CHẤP VÀ CHỮ TÍN

Khi chấp lợi: Dễ thất tín. Khi chấp người: Dễ bỏ nguyên tắc. Khi chấp danh: Dễ nói khác sự thật. Câu hỏi:

“TÔI ĐANG GIỮ ĐIỀU ĐÚNG HAY GIỮ CÁI TÔI?”

XLII. CHẤP VÀ GIỚI

Giới giữ hành vi khi chấp đang kéo. Chấp người: Không xâm phạm. Chấp danh: Không nói dối. Chấp lợi: Không lấy của không cho. Chấp ý: Không nói ác.

XLIII. CHẤP VÀ ĐỊNH

Muốn buông chấp phải chịu được khoảng chưa được thỏa mãn. Không được phản hồi ngay. Không được người kia làm theo ý. Không có món mình muốn. Tâm khó chịu. Định giúp mình ở được với khoảng đó. Câu nhớ:

NHIỀU CÁI CHẤP TỒN TẠI VÌ MÌNH KHÔNG CHỊU NỔI VÀI PHÚT KHÔNG ĐƯỢC THỎA MÃN.

XLIV. CHẤP VÀ TUỆ

Tuệ nhìn: Vô thường. Vô ngã. Nhân duyên. Không hoàn toàn thuộc quyền. Nắm thì khổ. Rồi tay tâm tự nhẹ. Câu nhớ:

TUỆ KHÔNG BẺ NGÓN TAY TÂM RA.

TUỆ LÀM MÌNH THẤY VÌ SAO KHÔNG CẦN NẮM NỮA.

XLV. CÔNG THỨC BUÔNG ĐI VÀO TẬN THỦ

NHẬN: Tâm đang nặng. SOI: Tôi đang muốn gì? THẤY: Tôi đang đòi cái gì phải theo ý? KHÔNG DÍNH: Không tiếp tục nuôi câu chuyện. KHÔNG CHẤP: Không biến nó thành “tôi”, “của tôi”, “phải theo tôi”. BUÔNG: Thả quyền sở hữu.

AN:

Tâm nhẹ.

XLVI. “CỦA TÔI” – MỘT CHỮ RẤT NẶNG

Nhà của tôi. Người của tôi. Công của tôi. Danh của tôi. Ý của tôi. Pháp môn của tôi. Nhóm của tôi. Quy ước sử dụng chữ “của tôi” là bình thường. Điều cần soi là:

TÂM CÓ BIẾN QUY ƯỚC THÀNH SỞ HỮU TUYỆT ĐỐI KHÔNG?

XLVII. “PHẢI THEO Ý TÔI”

Rất nhiều khổ có cấu trúc: “PHẢI THEO Ý TÔI.” Người phải theo ý. Kết quả phải theo ý. Thân phải theo ý. Tương lai phải theo ý. Nhưng các pháp vận hành theo nhân duyên, không theo ý chí cá nhân.

XLVIII. KINH PHÁP CÚ 212

Nguồn: Dhammapada – Kinh Pháp Cú. Kệ 212. Các bản dịch thường diễn đạt theo ý: Từ ái sinh sầu. Từ ái sinh sợ. Người thoát khỏi ái thì không sầu và không sợ theo cách ấy. Khi xuất bản nguyên văn cần chọn một bản dịch cụ thể.

XLIX. CHẤP VÀ NỖI SỢ

Sợ thường chỉ ra cái mình đang chấp. Sợ mất người: Chấp người. Sợ mất danh: Chấp danh. Sợ mất tiền: Chấp an toàn. Sợ bị sai: Chấp hình ảnh. Câu hỏi: “TÔI SỢ MẤT GÌ?” thường dẫn tới cái thủ.

L. DÙNG NỖI SỢ ĐỂ TÌM CÁI CHẤP

Khi sợ, hỏi: “Nếu điều tôi sợ xảy ra, tôi nghĩ mình mất cái gì?” Câu trả lời thường chỉ ra chỗ đang nắm.

LI. CHẤP VÀ TỰ DO

Tự do không phải không có gì. Tự do là: Có mà không bị cái có nắm. Thương mà không bị sở hữu. Dùng mà không bị vật quản. Câu nhớ:

BUÔNG CHẤP KHÔNG LÀM ĐỜI MÌNH ÍT ĐI.

NÓ LÀM TÂM MÌNH ÍT BỊ NGƯỜI, VẬT VÀ Ý NIỆM QUẢN HƠN.

LII. CHẤP VÀ ĐẠI NGUYỆN

Ngay cả đại nguyện cũng phải tránh ngã chấp. Công thức: GIỮ NGUYỆN. BUÔNG CÁCH. KHÔNG CHẤP QUẢ.

LIII. CHẤP VÀ PHÁP THÍ

Pháp thí là gieo duyên. Không phải sở hữu người nghe. Câu nhớ: TRAO PHÁP. KHÔNG GIỮ NGƯỜI.

LIV. CHẤP VÀ HƯƠNG ĐỨC HẠNH

Làm thiện mà đòi người nhớ: Đức bị pha bởi danh. Sống đúng mà đòi ai cũng công nhận: Đức bị pha bởi cái tôi. Buông chấp giúp giữ đức sạch.

LV. CHẤP VÀ BẤT ĐỘNG

Tâm càng chấp: Càng dễ động. Đụng cái chấp: Tâm rung. Bớt chấp: Bớt điểm để cảnh kéo. Câu nhớ:

BUÔNG CHẤP LÀM ĐỊNH LỰC SÂU HƠN.

LVI. CHẤP VÀ BÁT CHÁNH ĐẠO

Pāli:

Ariya Aṭṭhaṅgika Magga.

Sanskrit:

Āryāṣṭāṅgamārga. Tiếng Việt: Bát Chánh Đạo. Chánh kiến: Soi cái thấy sai. Chánh tư duy: Bớt ý hại và tham. Chánh ngữ: Không nói theo chấp. Chánh nghiệp: Không hành động theo chấp. Chánh mạng: Không vì chấp lợi mà sống sai. Chánh tinh tấn: Ngăn và bỏ bất thiện. Chánh niệm: Thấy chấp đang có.

Chánh định: Đủ sức không chạy theo.

LVII. CHẤP VÀ TỨ CHÁNH CẦN

Bất thiện chưa sinh: Ngăn. Bất thiện đã sinh: Bỏ. Thiện chưa sinh: Khởi. Thiện đã sinh: Nuôi lớn. Khi chấp chưa sinh: Đừng nuôi. Khi chấp đã sinh: Nhận và giảm. Khi tâm xả chưa sinh: Khởi. Khi tâm xả đã sinh: Giữ.

LVIII. XẢ – UPEKKHĀ / UPEKṢĀ

Pāli:

upekkhā.

Sanskrit:

upekṣā. Tiếng Việt: xả. Xả không phải lạnh. Xả không phải bỏ mặc. Xả là tâm quân bình, không bị thương ghét kéo lệch. Trong Tứ Vô Lượng Tâm – Brahmavihāra: mettā / maitrī – từ. karuṇā – bi. muditā – hỷ. upekkhā / upekṣā – xả.

LIX. XẢ KHÔNG PHẢI BỎ

Xả vẫn có thể: Thương. Giúp. Làm. Nhưng không: Kéo. Ép. Sở hữu. Câu nhớ:

XẢ LÀ THƯƠNG MÀ KHÔNG BÓP NGHẸT.

LX. CÔNG THỨC TỪ CHẤP ĐẾN XẢ

Công thức hệ thống hóa: CHẤP

→ THẤY CHẤP

→ THẤY VÔ THƯỜNG

→ THẤY NHÂN DUYÊN

→ THẤY GIỚI HẠN QUYỀN KIỂM SOÁT

→ XẢ.

Bản ngắn:

NẮM → THẤY → HIỂU → MỞ.

LXI. BÀI QUÁN “TÔI ĐANG NẮM GÌ?”

Chọn một chuyện làm tâm nặng. Hỏi:

1. Tôi đang nắm gì?

2. Tôi đang đòi điều gì không được thay đổi?

3. Cái này thật sự thuộc quyền tôi tới đâu?

4. Phần nào cần làm?

5. Phần nào cần trả về nhân duyên?

LXII. BÀI THỰC HÀNH 7 NGÀY THÁO CHẤP

NGÀY 1: Buông một vật nhỏ không còn cần giữ. NGÀY 2: Nghe một ý kiến khác mà không lập tức bảo vệ mình. NGÀY 3: Làm một việc thiện mà không kể công. NGÀY 4: Để một người tự quyết việc thuộc quyền họ. NGÀY 5: Nhớ một chuyện cũ nhưng không kể thêm câu chuyện đau. NGÀY 6: Đổi một kế hoạch mà không xem đó là thất bại của bản thân.

NGÀY 7: Viết ba chữ: NGƯỜI – VẬT – DANH và hỏi: “Tôi đang chấp cái nào mạnh nhất?”

LXIII. THƯỚC ĐO CHẤP ĐÃ NHẸ

Không phải: “Không còn nhớ.” Mà là: Nhớ nhưng ít nặng. Có nhưng không cần giữ bằng mọi giá. Mất nhưng không mất phẩm chất. Bị chê nhưng không mất trục. Người đi nhưng mình không đánh mất mình.

LXIV. BỐN CÔNG THỨC GẶP CHẤP THỦ

CÔNG THỨC TAM TẠNG:

BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

Khi chấp: Không tạo nghiệp theo chấp. Chọn thiện. Làm sạch thủ.

CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC:

THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

Thật: Nhận chấp. Tín: Giữ điều đúng. Giới: Không làm sai theo chấp. Định: Chịu được khoảng chưa thỏa. Tuệ: Thấy vô thường, vô ngã và nhân duyên. Lực: Không bị chấp kéo mạnh như trước.

CÔNG THỨC BUÔNG:

NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

CÔNG THỨC PHẬT:

THẤY CHẤP

→ TỈNH TRƯỚC CHẤP

→ BUÔNG CHẤP

→ SÁNG.

LXV. CÔNG THỨC CHẤP THỦ CỦA CHƯƠNG

Bản đầy đủ: CHẤP THỦ = ÁI + “CỦA TÔI”

+ “PHẢI THEO Ý TÔI”

+ SỢ MẤT. Bản tháo: THẤY ÁI

→ THẤY “CỦA TÔI”

→ THẤY “PHẢI”

→ THẤY SỢ

→ BUÔNG.

Bản cực ngắn:

TÔI NẮM → TÔI KHỔ.

TÔI THẤY → TÔI MỞ.

LXVI. CÂU KẾT

Có những thứ nên giữ: Giới. Chữ tín. Điều thiện. Đại nguyện. Có những thứ càng giữ càng khổ: Người đã muốn đi. Vật đã mất. Công đã cho. Danh đã đổi. Quá khứ đã qua. Một quan điểm đã thấy sai. Một hình ảnh về mình không còn thật. Tuệ không bảo: “Bỏ hết.” Tuệ hỏi: “Cái gì nên giữ?”

“Cái gì đang giữ ngược mình?” Một đời tu không phải học cách không cầm gì. Mà là học: CẦM ĐÚNG THỨ. MỞ ĐÚNG LÚC. GIỮ GIỚI. BUÔNG CHẤP. GIỮ NGUYỆN. BUÔNG CÁCH. GIỮ THIỆN. BUÔNG CÔNG. GIỮ TRÁCH NHIỆM.

BUÔNG QUYỀN SỞ HỮU.

GIỮ TÌNH THƯƠNG.

BUÔNG SỰ KIỂM SOÁT.

Công thức Buông đi tới tận gốc: THẤY ÁI. THẤY THỦ. THẤY “CỦA TÔI”.

THẤY “PHẢI THEO Ý TÔI”.

RỒI MỞ TAY TÂM. ĐÓ LÀ TỰ DO.

CHƯƠNG 20
VÔ THƯỜNG – THẤY CÁI ĐANG ĐỔI ĐỂ BỚT NẮM

Có một chữ người học Phật nghe rất nhiều: VÔ THƯỜNG. Người chết: “Vô thường.” Mất vật: “Vô thường.” Người rời đi: “Vô thường.” Thân bệnh: “Vô thường.” Nhưng nếu vô thường chỉ là một câu nói sau khi có chuyện, ta mới hiểu bằng miệng. Vô thường phải trở thành cái thấy trước khi chấp.

Thấy một người đang thương mình: Biết duyên này không cố định. Thấy thân đang khỏe: Biết sức khỏe không đứng yên. Thấy danh đang lên: Biết danh không phải vật bất biến. Thấy vật chất đang có: Biết nó do duyên mà có và cũng có thể đổi khi duyên đổi. Thấy cảm xúc đang đau:

Biết cảm xúc ấy cũng không đứng yên mãi. Câu nhớ:

VÔ THƯỜNG KHÔNG DẠY MÌNH BI QUAN VỀ CÁI ĐANG CÓ.

VÔ THƯỜNG DẠY MÌNH ĐỪNG BIẾN CÁI ĐANG CÓ THÀNH LỜI HỨA RẰNG NÓ PHẢI CÒN MÃI.

Đây là lời hệ thống hóa để thực hành, không phải câu kinh nguyên văn.

I. VÔ THƯỜNG – ANICCA / ANITYA

Pāli:

anicca.

Sanskrit:

anitya. Tiếng Việt: vô thường – không thường hằng, không cố định, chịu sự biến đổi.

Kinh Pháp Cú – Dhammapada, kệ 277 có câu Pāli nổi tiếng:

“Sabbe saṅkhārā aniccā.” Đại ý: “Tất cả các hành là vô thường.” Saṅkhāra – hành, các pháp hữu vi, các hiện tượng do điều kiện tạo thành. Sanskrit tương ứng: saṃskāra. Khi xuất bản nguyên văn đầy đủ cần chọn một bản dịch cụ thể.

II. VÔ THƯỜNG KHÔNG ĐỒNG NGHĨA NGẮN NGỦI

Có thứ đổi rất nhanh. Có thứ đổi rất chậm. Một cảm xúc có thể đổi trong vài phút. Một thân người đổi qua nhiều năm. Một phong tục có thể tồn tại nhiều thế hệ. Một ngọn núi cũng đổi nhưng rất chậm. Vì vậy:

VÔ THƯỜNG ≠ NHẤT THIẾT NGẮN NGỦI.

Vô thường nghĩa là: KHÔNG CỐ ĐỊNH. CHỊU ĐIỀU KIỆN.

CÓ KHẢ NĂNG BIẾN ĐỔI.

III. KINH PHÁP CÚ 277

Dhammapada 277 thường được dịch theo ý: “Tất cả các hành là vô thường.” Khi với trí tuệ thấy điều ấy, người hành giả bớt mê đắm đối với cái khổ và đi theo hướng thanh tịnh. Ở đây không nên hiểu “nhàm chán” theo nghĩa ghét đời. Ý thực hành là:

BỚT MÊ ĐẮM VÀO CÁI VÔ THƯỜNG NHƯ THỂ NÓ CÓ THỂ CHO MỘT CHỖ BÁM VĨNH VIỄN.

IV. VÔ THƯỜNG KHÔNG DẠY MÌNH ĐỪNG THƯƠNG

Biết người vô thường không có nghĩa: “Không thương nữa.” Ngược lại. Vì biết người không ở mãi, nên khi còn duyên: Biết quý. Nói lời cần nói. Bớt làm đau vô ích. Biết xin lỗi. Biết cảm ơn. Câu nhớ:

BIẾT MỘT BÔNG HOA SẼ TÀN KHÔNG LÀM MÌNH GHÉT HOA.

NÓ LÀM MÌNH BIẾT NHÌN HOA KỸ HƠN KHI HOA CÒN NỞ.

V. VÔ THƯỜNG VÀ CHẤP THỦ

Chương trước đã nói: upādāna – thủ, chấp thủ. Chấp thường nói: “Cái này phải đứng yên.” Vô thường nói: “Không có gì do duyên sinh được bảo đảm đứng yên mãi.” Công thức hệ thống hóa: KHỔ DO CHẤP

= VÔ THƯỜNG CỦA PHÁP

+ Ý MUỐN CỐ ĐỊNH CỦA TÂM.

VI. VÔ THƯỜNG KHÔNG TỰ ĐỘNG ĐỒNG NGHĨA KHỔ

Một pháp vô thường nhưng không bị chấp giữ có thể không tạo ra mức khổ lớn. Một buổi chiều đẹp đi qua: Biết đi qua. Một cảm giác dễ chịu hết: Biết hết. Khổ tăng khi:

CÁI VÔ THƯỜNG ĐƯỢC ĐÒI PHẢI THƯỜNG.

CÁI KHÔNG THUỘC QUYỀN ĐƯỢC ĐÒI PHẢI THEO Ý.

CÁI KHÔNG PHẢI TỰ NGÃ ĐƯỢC CHẤP LÀ “TÔI” VÀ “CỦA TÔI”.

VII. KINH VÔ NGÃ TƯỚNG – ANATTALAKKHAṆA SUTTA

Nguồn: Tương Ưng Bộ – Saṃyutta Nikāya.

SN 22.59.

Anattalakkhaṇa Sutta – Kinh Vô Ngã Tướng. Bài kinh quán năm uẩn theo vô thường, khổ và vô ngã. Điểm thực hành: THẤY VÔ THƯỜNG

→ THẤY KHÔNG THÍCH HỢP ĐỂ CHẤP LÀ “TÔI” VÀ “CỦA TÔI”.

VIII. NGŨ UẨN – PAÑCAKKHANDHA / PAÑCASKANDHA

Pāli:

pañcakkhandha.

Sanskrit:

pañcaskandha. Tiếng Việt: năm uẩn. Gồm: rūpa – sắc. vedanā – thọ. saññā – tưởng. saṅkhāra – hành. viññāṇa – thức. Cả năm đều nằm trong dòng biến đổi.

IX. SẮC – RŪPA LÀ VÔ THƯỜNG

Thân thay đổi: Tóc. Da. Mắt. Sức. Khả năng làm việc. Giấc ngủ. Quán thân vô thường không phải bỏ thân. Là chăm thân có trí hơn. Câu nhớ:

QUÁN THÂN VÔ THƯỜNG KHÔNG PHẢI BỎ THÂN.

LÀ BỚT ẢO TƯỞNG VỀ THÂN ĐỂ CHĂM THÂN ĐÚNG HƠN.

X. THỌ – VEDANĀ LÀ VÔ THƯỜNG

Lạc thọ đổi. Khổ thọ đổi. Xả thọ đổi. Khi thọ mạnh, có thể nhớ:

“CẢM THỌ NÀY ĐANG MẠNH, NHƯNG NÓ KHÔNG ĐƯỢC BẢO ĐẢM SẼ MẠNH NHƯ VẬY MÃI.”

XI. TƯỞNG – SAÑÑĀ / SAṂJÑĀ LÀ VÔ THƯỜNG

Pāli:

saññā.

Sanskrit:

saṃjñā. Cách mình nhận diện và nhìn một người có thể thay đổi theo: Thông tin.

Kinh nghiệm.

Tâm trạng. Tuệ giác. Câu nhớ:

KHÔNG CHỈ CẢNH THAY ĐỔI.

CÁCH MÌNH NHÌN CẢNH CŨNG THAY ĐỔI.

XII. HÀNH – SAṄKHĀRA / SAṂSKĀRA LÀ VÔ THƯỜNG

Pāli:

saṅkhāra.

Sanskrit:

saṃskāra. Tâm hành và thói quen có thể thay đổi. Người sân nhiều có thể bớt sân. Người thiếu định có thể luyện định. Người chấp mạnh có thể học buông. Đây là mặt rất sáng của vô thường:

VÌ TÂM HÀNH KHÔNG CỐ ĐỊNH, NÊN TU TẬP CÓ KHẢ NĂNG CHUYỂN HÓA.

XIII. THỨC – VIÑÑĀṆA / VIJÑĀNA LÀ VÔ THƯỜNG

Pāli:

viññāṇa.

Sanskrit:

vijñāna. Tiếng Việt: thức, tiến trình nhận biết. Thức sinh theo duyên và không phải một thực thể bất biến.

XIV. VÔ THƯỜNG VÀ DUYÊN KHỞI

Pāli:

paṭiccasamuppāda.

Sanskrit:

pratītyasamutpāda. Tiếng Việt: Duyên khởi. Cái gì sinh do điều kiện thì khi điều kiện đổi, pháp ấy cũng có thể đổi. Công thức hệ thống hóa: DUYÊN SINH

→ DUYÊN ĐỔI

→ PHÁP ĐỔI.

Câu nhớ:

CÁI GÌ SỐNG NHỜ ĐIỀU KIỆN THÌ KHI ĐIỀU KIỆN ĐỔI, NÓ KHÔNG THỂ ĐƯỢC BẢO ĐẢM CÒN Y NGUYÊN.

XV. HỌC PHÁP KHÔNG LÀM ĐỜI HẾT VÔ THƯỜNG

Tu không làm: Người thân không chết. Thân không già. Bệnh không tới. Người không thay đổi.

Kinh tế không biến động.

Tu giúp:

ĐỜI VẪN ĐỔI, NHƯNG TÂM NGÀY CÀNG BIẾT ĐI QUA SỰ ĐỔI ẤY.

XVI. THẤY SINH DIỆT

Kinh Pháp Cú có những kệ ca ngợi người thấy pháp sinh diệt.

Kệ 113 thường được dịch theo ý: Sống một ngày mà thấy sinh diệt còn hơn sống trăm năm mà không thấy sinh diệt. Khi trích nguyên văn cần đối chiếu bản dịch cụ thể. Điểm thực hành: Vấn đề không chỉ là sống bao lâu. Mà là:

CÓ THẤY SINH DIỆT ĐANG XẢY RA HAY KHÔNG.

XVII. SINH DIỆT CÓ MẶT MỖI NGÀY

Một ý nghĩ sinh rồi mất. Một cảm xúc sinh rồi mất. Một cuộc trò chuyện bắt đầu rồi kết thúc. Một ngày sáng rồi tối. Một hơi thở vào rồi ra. Đừng chỉ học vô thường khi có cái chết. Câu nhớ:

ĐỪNG CHỈ HỌC VÔ THƯỜNG Ở NGHĨA ĐỊA.

HÃY HỌC VÔ THƯỜNG TRONG MỘT HƠI THỞ.

XVIII. HƠI THỞ VÀ VÔ THƯỜNG

Pāli:

ānāpānasati.

Sanskrit:

ānāpānasmṛti. Tiếng Việt: niệm hơi thở vào ra. Nguồn:

MN 118 – Ānāpānasati Sutta – Kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm / Kinh Niệm Hơi Thở.

Hơi vào: Không giữ được. Hơi ra: Không giữ được. Mỗi hơi là một bài học sinh diệt.

XIX. VÔ THƯỜNG VÀ NIỆM PHẬT

Biết thân vô thường và mạng sống hữu hạn không phải để hoảng sợ. Mà để bớt trì hoãn: Hôm nay còn niệm được: Niệm. Còn sửa được: Sửa. Còn xin lỗi được: Xin lỗi. Còn làm thiện được: Làm. Câu nhớ:

BIẾT MẠNG SỐNG VÔ THƯỜNG KHÔNG PHẢI ĐỂ SỐNG TRONG SỢ CHẾT.

LÀ ĐỂ BỚT HOÃN ĐIỀU LÀNH.

XX. NIỆM CHẾT – MARAṆASATI / MARAṆASMṚTI

Pāli:

maraṇasati.

Sanskrit:

maraṇasmṛti. Tiếng Việt: niệm chết. Trong Tăng Chi Bộ – Aṅguttara Nikāya có các bài kinh về niệm chết, nhắc người tu quán mạng sống không chắc lâu để tăng tinh tấn. Ý thực hành:

KHÔNG ÁM ẢNH CÁI CHẾT.

MÀ BIẾT THỜI GIAN HỮU HẠN ĐỂ KHÔNG PHÓNG DẬT.

XXI. KHÔNG PHÓNG DẬT – APPAMĀDA / APRAMĀDA

Pāli:

appamāda.

Sanskrit:

apramāda. Tiếng Việt: không phóng dật, tinh cần. Ngược lại: pamāda / pramāda – phóng dật, buông lung. Biết vô thường đúng phải sinh: BỚT TRÌ HOÃN. TĂNG TINH TẤN.

XXII. KINH PHÁP CÚ 21

Dhammapada 21 nổi tiếng về appamāda – không phóng dật. Các bản dịch thường diễn đạt theo ý: Không phóng dật là con đường dẫn tới bất tử; phóng dật là con đường chết. Khi trích nguyên văn phải chọn bản dịch cụ thể. Mối nối: THẤY VÔ THƯỜNG

→ BỚT TRÌ HOÃN

→ TĂNG KHÔNG PHÓNG DẬT.

XXIII. VÔ THƯỜNG KHÔNG PHẢI LÝ DO SỐNG VỘI

Biết đời ngắn không phải để: Hưởng vội. Phóng túng. Làm theo mọi ham muốn. Mà để: Bớt tranh vô ích. Bớt oán lâu. Bớt giữ công. Bớt chạy danh. Tăng thiện. Tăng tu.

XXIV. VÔ THƯỜNG VÀ TÌNH CẢM

Người hôm nay thương mình có thể thay đổi khi duyên đổi. Điều này không làm tình yêu vô nghĩa. Nó chỉ nhắc:

ĐỪNG ĐẶT SỰ AN TOÀN TUYỆT ĐỐI CỦA TÂM VÀO MỘT PHÁP VÔ THƯỜNG.

Câu nhớ:

TRÂN TRỌNG MỘT NGƯỜI.

NHƯNG ĐỪNG BẮT NGƯỜI ĐÓ LÀM BẢO HIỂM CHO SỰ BÌNH AN CỦA MÌNH.

XXV. VÔ THƯỜNG KHÔNG BAO CHE HÀNH VI SAI

Nếu người khác làm sai: Thấy sai. Đặt ranh giới. Xử lý phù hợp. Vô thường không có nghĩa: “Ai làm gì cũng được.” Nhưng hiểu vô thường giúp không đóng khung một con người vĩnh viễn bằng một hành vi.

XXVI. VÔ THƯỜNG VÀ KÝ ỨC

Ký ức và cách hiểu ký ức có thể đổi. Một chuyện ở tuổi 20 có thể được nhìn rất khác ở tuổi 40. Vì vậy:

CHỮA LÀNH CÓ THỂ XẢY RA.

THA THỨ CÓ THỂ XẢY RA.

CÁCH HIỂU QUÁ KHỨ CÓ THỂ ĐỔI.

XXVII. VÔ THƯỜNG VÀ DANH

Danh rất vô thường. Hôm nay được khen. Ngày mai bị chê. Hôm nay nhiều người biết. Ngày mai ít người nhắc. Câu nhớ: DANH DÙNG ĐƯỢC. KHÔNG NƯƠNG ĐƯỢC. Nếu danh giúp việc thiện: Biết dùng. Nhưng đừng đặt giá trị bản thân vào danh.

XXVIII. VÔ THƯỜNG VÀ VẬT CHẤT

Vật chất rất hữu ích. Nhưng: Tiền đổi giá. Đồ vật hỏng. Nhà xuống cấp. Quyền sở hữu thay đổi. Câu nhớ:

VẬT CHẤT RẤT HỮU ÍCH ĐỂ SỬ DỤNG.

NHƯNG NGUY HIỂM NẾU BẮT NÓ GÁNH NHIỆM VỤ LÀM TÂM BẤT BIẾN.

XXIX. VÔ THƯỜNG VÀ PHƯƠNG TIỆN

Công trình đổi. Tổ chức đổi. Nền tảng đổi. Phương tiện hoằng pháp đổi. Vì vậy: GIỮ HƯỚNG. ĐỔI CÁCH KHI CẦN.

XXX. VÔ THƯỜNG VÀ KẾ HOẠCH

Kế hoạch là trí. Chấp kế hoạch là khổ. Câu nhớ:

ĐỔI KẾ HOẠCH KHÔNG NHẤT THIẾT LÀ ĐỔI HƯỚNG.

XXXI. VÔ THƯỜNG VÀ CHỮ TÍN

Giữ chữ tín không có nghĩa cố làm một điều đã thấy sai. Nếu hoàn cảnh thay đổi thật: Nói rõ. Sửa. Không lẩn. Không đổi vì lợi ích riêng. Chữ tín phải đi cùng tuệ.

XXXII. VÔ THƯỜNG VÀ GIỚI

Cảnh đổi. Người đổi. Lợi đổi. Cảm xúc đổi. Giới giữ trục. Vì đời đổi nên càng cần giới để không chạy theo bất thiện.

XXXIII. VÔ THƯỜNG VÀ ĐỊNH

Định không đóng băng các pháp. Định giúp tâm đứng đủ vững để quan sát các pháp đang thay đổi. Câu nhớ:

ĐỊNH KHÔNG ĐÓNG BĂNG DÒNG SÔNG.

ĐỊNH GIÚP MÌNH ĐỨNG ĐỦ VỮNG ĐỂ THẤY DÒNG SÔNG ĐANG CHẢY.

XXXIV. VÔ THƯỜNG VÀ TUỆ

Tuệ không chỉ nói: “Rồi cái này sẽ mất.” Tuệ hỏi: Nó đang do duyên gì mà có? Duyên nào đang đổi? Phần nào mình có thể chăm? Phần nào không thể nắm? Đó là vô thường có chánh kiến.

XXXV. BA DẤU ẤN – TILAKKHAṆA / TRILAKṢAṆA

Pāli:

tilakkhaṇa.

Sanskrit:

trilakṣaṇa. Ba đặc tướng thường được nói: anicca / anitya – vô thường. dukkha / duḥkha – khổ, bất toại nguyện. anattā / anātman – vô ngã. Mối nối: Cái vô thường mà bị chấp làm chỗ bảo đảm

→ dễ bất toại nguyện.

Cái vô thường và bất toại nguyện

→ không thích hợp để chấp là tự ngã thường hằng.

XXXVI. KINH PHÁP CÚ 277–279

Pāli nổi tiếng: Sabbe saṅkhārā aniccā. Sabbe saṅkhārā dukkhā. Sabbe dhammā anattā. Tiếng Việt theo ý: Các hành là vô thường. Các hành là khổ/bất toại nguyện. Các pháp là vô ngã. Nguồn:

Kinh Pháp Cú – Dhammapada, kệ 277–279.

Khi xuất bản nguyên văn cần thống nhất bản dịch.

XXXVII. VÔ THƯỜNG KHÔNG ĐỒNG NGHĨA VÔ GIÁ TRỊ

Một điều không tồn tại mãi vẫn có thể rất quý. Một bữa ăn ngắn vẫn nuôi thân. Một lời lành vài giây vẫn có thể cứu người. Một đời hữu hạn vẫn có thể gieo nhiều thiện nghiệp. Câu nhớ:

MỘT ĐIỀU KHÔNG TỒN TẠI MÃI KHÔNG CÓ NGHĨA NÓ KHÔNG CÓ GIÁ TRỊ KHI ĐANG HIỆN HỮU.

XXXVIII. VÔ THƯỜNG LÀ LÝ DO LÀM THIỆN NGAY

Hôm nay còn gặp: Biết thương. Hôm nay còn sức: Biết làm. Hôm nay còn điều kiện: Biết gieo nhân lành. Đừng dùng vô thường để buồn. Dùng vô thường để tinh tấn.

XXXIX. TINH TẤN – VIRIYA / VĪRYA

Pāli:

viriya.

Sanskrit:

vīrya. Tiếng Việt: tinh tấn. Việc ác cần dừng: Dừng sớm. Việc thiện cần làm: Làm sớm. Tâm cần sửa: Sửa sớm. Đó là vô thường đi vào hành.

XL. VÔ THƯỜNG VÀ TỨ CHÁNH CẦN

Pāli:

sammappadhāna. Tiếng Việt: Tứ Chánh Cần. Bốn việc: Ngăn bất thiện chưa sinh. Bỏ bất thiện đã sinh. Làm sinh thiện chưa sinh. Duy trì và phát triển thiện đã sinh. Vì các tâm hành không cố định tuyệt đối:

CÁI XẤU CÓ THỂ GIẢM.

CÁI TỐT CÓ THỂ LỚN.

XLI. VÔ THƯỜNG LÀ NỀN CỦA HY VỌNG CHÂN CHÁNH

Người sân nhiều có thể bớt sân. Người thất tín có thể tập lại. Người chấp có thể học buông. Người loạn có thể luyện định. Vì vậy vô thường không chỉ nói: “Mọi thứ sẽ mất.” Vô thường còn nói:

“MỌI THỨ BẤT THIỆN CHƯA CHẮC PHẢI Ở NHƯ VẬY MÃI.”

XLII. VÔ THƯỜNG KHÔNG BẢO ĐẢM MỌI THỨ TỰ TỐT

Không nên nói: “Cứ chờ, vô thường rồi sẽ tốt.” Không chắc. Duyên có thể tốt hơn hoặc xấu hơn. Phải tạo duyên thiện.

XLIII. VÔ THƯỜNG VÀ NGHIỆP – KAMMA / KARMA

Pāli:

kamma.

Sanskrit:

karma. Tiếng Việt: nghiệp. Hành động hôm nay góp phần tạo điều kiện cho ngày sau. Vì mọi thứ có thể đổi, nhân mình gieo càng quan trọng. Câu nhớ:

VÌ MỌI THỨ CÓ THỂ ĐỔI, NÊN MỖI NHÂN MÌNH GIEO CÀNG CÓ Ý NGHĨA.

XLIV. NHÂN QUẢ KHÔNG MÂU THUẪN VÔ THƯỜNG

Nếu mọi thứ cố định hoàn toàn bởi quá khứ: Không còn chỗ cho tu. Nhưng vì duyên có thể được bổ sung và thay đổi: Hành động hiện tại có ý nghĩa. Phật giáo không phải định mệnh luận cứng.

XLV. VÔ THƯỜNG VÀ SÁM HỐI

Công thức: SÁM HỐI = THẤY + NHẬN + DỪNG + SỬA + LÀM LẠI. Câu nhớ:

VÔ THƯỜNG LÀ LÝ DO NGƯỜI TỪNG SAI VẪN CÓ THỂ BẮT ĐẦU LẠI.

XLVI. VÔ THƯỜNG VÀ LÒNG TỪ

Người đang sân hôm nay không nhất thiết mãi sân. Người đang mê hôm nay có thể tỉnh. Hiểu vô thường giúp:

NGHIÊM VỚI HÀNH VI.

NHƯNG BỚT TUYỆT VỌNG VỀ CON NGƯỜI.

XLVII. VÔ THƯỜNG VÀ THA THỨ

Tha thứ khả thi vì: Mình thay đổi. Người thay đổi. Cách hiểu thay đổi. Điều này không xóa trách nhiệm. Nhưng không bắt hiện tại sống mãi dưới bản án quá khứ.

XLVIII. VÔ THƯỜNG VÀ TỰ ÁI

Một lời chê có thể chỉ tồn tại vài giây. Nhưng tâm kể lại nó cả năm. Câu nhớ:

CÓ NHỮNG SỰ KIỆN CHỈ SỐNG VÀI PHÚT.

CHÍNH SỰ NHẮC LẠI TRONG TÂM LÀM CHÚNG SỐNG NHIỀU NĂM.

XLIX. VÔ THƯỜNG VÀ CÁI ĐẸP

Một mùa hoa. Một tuổi trẻ. Một buổi chiều. Một cuộc gặp. Một bữa cơm. Chính vì không tồn tại mãi nên càng đáng trân trọng. Vô thường không nhất thiết sinh buồn. Nó có thể sinh biết ơn.

L. VÔ THƯỜNG VÀ BIẾT ƠN

Nếu nghĩ mọi thứ phải có mãi: Dễ coi là đương nhiên. Khi biết không được bảo đảm: Biết quý hơn. Câu nhớ:

QUÁN VÔ THƯỜNG ĐÚNG KHÔNG LÀM MÌNH MẤT NIỀM VUI.

NÓ LÀM NIỀM VUI BỚT VÔ ƠN.

LI. VÔ THƯỜNG VÀ HIỆN DIỆN

Chánh niệm thấy cái đang có. Vô thường nhắc cái đang có sẽ đổi. Công thức: THẤY RÕ

→ TRÂN TRỌNG

→ KHÔNG NẮM.

LII. CÔNG THỨC SỐNG VỚI VÔ THƯỜNG

Bản đầy đủ: VÔ THƯỜNG

→ THẤY DUYÊN

→ BIẾT ĐỔI

→ TRÂN TRỌNG

→ CHĂM ĐÚNG

→ KHÔNG SỞ HỮU

→ BUÔNG KHI DUYÊN ĐỔI.

Bản ngắn: BIẾT ĐỔI

→ BIẾT QUÝ

→ BIẾT BUÔNG.

Bản cực ngắn: CÓ THÌ QUÝ. ĐỔI THÌ THẤY. MẤT THÌ BUÔNG. Đây là công thức hệ thống hóa, không phải nguyên văn kinh.

LIII. VÔ THƯỜNG VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

Vô thường nằm rất sâu trong chữ: THẤY. Khi thấy: Người đổi. Thọ đổi. Cảnh đổi. Mình đổi. Cái chấp bắt đầu yếu. Câu nhớ:

VÔ THƯỜNG KHÔNG PHẢI MỘT BÀI RIÊNG.

NÓ LÀ MỘT CÁI THẤY LÀM CÔNG THỨC BUÔNG HOẠT ĐỘNG.

LIV. VÔ THƯỜNG VÀ CÔNG THỨC PHẬT

THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

Thấy vô thường. Tỉnh khỏi ảo tưởng thường còn. Buông cái nắm. Sáng ra nhân duyên.

LV. VÔ THƯỜNG VÀ CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC

THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

Thật: Không trốn sự thay đổi. Tín: Giữ điều đúng. Thiện: Gieo nhân lành. Giới: Không chạy theo hoàn cảnh. Định: Đứng giữa đổi thay. Tuệ: Hiểu đổi thay. Lực: Không mất hướng vì đổi thay. Câu nhớ:

ĐỊNH LỰC KHÔNG CHỐNG VÔ THƯỜNG.

ĐỊNH LỰC GIÚP TÂM SỐNG ĐÚNG TRONG VÔ THƯỜNG.

LVI. VÔ THƯỜNG VÀ CÔNG THỨC TAM TẠNG

BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

Vì đời vô thường: Đừng trì hoãn bỏ ác. Đừng trì hoãn làm lành. Đừng trì hoãn làm sạch tâm.

LVII. VÔ THƯỜNG VÀ ĐẠI NGUYỆN

Đại nguyện không làm các duyên đứng yên. Đại nguyện giữ hướng giữa các duyên đổi. Câu nhớ:

ĐẠI NGUYỆN KHÔNG LÀM DUYÊN ĐỨNG YÊN.

ĐẠI NGUYỆN LÀM MÌNH BIẾT ĐỔI CÁCH MÀ KHÔNG MẤT HƯỚNG.

LVIII. ĐẠI NGUYỆN CŨNG PHẢI BIẾT THÍCH NGHI

Tuổi đổi. Sức khỏe đổi. Khả năng đổi. Phương tiện đổi. Có lúc nghỉ là cách đi đường dài. Có lúc giao việc là cách giữ nguyện. Có lúc viết thay vì đi. Có lúc nói ít hơn nhưng sâu hơn. Đó là trí sống trong vô thường.

LIX. VÔ THƯỜNG VÀ SỰ NGHỈ NGƠI

Hôm qua làm được mười phần. Hôm nay chỉ làm được sáu. Không nhất thiết ép mình phải giống hôm qua. Nhận đúng sức hôm nay là trí đối với vô thường của thân.

LX. VÔ THƯỜNG KHÔNG PHẢI CỚ CHO THẤT TÍN

Không được dùng câu: “Con người thay đổi” để biện hộ cho việc hứa rồi bỏ tùy tiện. Nếu buộc phải đổi: Nói rõ. Nhận trách nhiệm. Sửa. Không lẩn.

LXI. VÔ THƯỜNG KHÔNG PHẢI CỚ CHO VÔ TRÁCH NHIỆM

“Rồi mọi thứ cũng hư” không có nghĩa không cần chăm. Chính vì sẽ hư nên cần bảo trì. Chính vì thân sẽ già nên cần chăm thân. Chính vì quan hệ có thể đổi nên cần đối xử tốt.

VÔ THƯỜNG PHẢI LÀM TRÁCH NHIỆM SÂU HƠN.

LXII. VÔ THƯỜNG KHÔNG PHẢI HƯ VÔ

Không thường hằng không đồng nghĩa vô nghĩa. Hành động vẫn có hậu quả. Nhân quả vẫn có ý nghĩa. Câu nhớ:

KHÔNG THƯỜNG HẰNG ≠ VÔ NGHĨA.

LXIII. THƯỜNG KIẾN VÀ ĐOẠN KIẾN

Pāli:

sassata-diṭṭhi – thường kiến.

Sanskrit:

śāśvata-dṛṣṭi.

Pāli:

uccheda-diṭṭhi – đoạn kiến.

Sanskrit:

uccheda-dṛṣṭi. Một bên chấp một thực tại cố định thường hằng theo cách sai. Một bên rơi vào cực đoan đoạn diệt, phủ nhận ý nghĩa của nhân quả và trách nhiệm. Duyên khởi tránh cả hai cực đoan.

LXIV. KINH KACCĀNAGOTTA – KACCĀNAGOTTA SUTTA

Nguồn: Tương Ưng Bộ – Saṃyutta Nikāya.

SN 12.15.

Kaccānagotta Sutta – Kinh Kaccānagotta / Kinh Kaccāna. Bài kinh quan trọng về Chánh kiến và tránh các cực đoan “có” và “không có” bằng cái thấy Duyên khởi. Ý thực hành:

VÔ THƯỜNG KHÔNG PHẢI PHỦ NHẬN THỰC TẠI.

LÀ THẤY THỰC TẠI DUYÊN SINH, KHÔNG CỐ ĐỊNH.

LXV. BA MỨC HIỂU VÔ THƯỜNG

MỨC 1 – BIẾT BẰNG ĐẦU:

“Mọi thứ thay đổi.”

MỨC 2 – THẤY TRONG ĐỜI:

“Thân đang đổi.” “Thọ đang đổi.” “Người đang đổi.” “Cảnh đang đổi.”

MỨC 3 – SỐNG THEO CÁI THẤY:

Bớt nắm. Bớt trì hoãn thiện. Bớt sụp khi mất. Bớt phồng khi được. Biết đổi phương tiện. Biết buông khi duyên hết.

LXVI. BÀI QUÁN VÔ THƯỜNG 5 PHÚT

Nhìn thân: “Thân này đang đổi.” Nhìn thọ: “Cảm thọ này đang đổi.” Nhìn tâm: “Trạng thái tâm này đang đổi.” Nhìn cảnh: “Hoàn cảnh này do duyên mà có.” Rồi hỏi:

“TÔI ĐANG CỐ BẮT CÁI GÌ PHẢI ĐỨNG YÊN?”

LXVII. BÀI QUÁN “CÒN DUYÊN THÌ QUÝ”

Chọn một người đang còn duyên với mình. Nhắc: “Duyên này không được bảo đảm vĩnh viễn.” Rồi hỏi: Có lời nào nên nói? Có lỗi nào nên xin? Có lòng biết ơn nào nên bày tỏ? Có cuộc tranh nào không cần tiếp tục?

LXVIII. BÀI QUÁN CẢM XÚC

Khi buồn: Không ép hết buồn. Nhắc: “Trạng thái này đang có mặt và nó cũng thay đổi theo duyên.” Giữ giới. Chăm thân. Không quyết định vội.

LXIX. BÀI QUÁN THÀNH CÔNG

Khi được khen nhiều: Biết vui. Nhắc: “Pháp thế gian đổi.” Không tự hạ. Không phồng. Tiếp tục làm đúng.

LXX. BÀI QUÁN THẤT BẠI

Khi việc hỏng: Nhìn. Học. Sửa. Không kết luận: “Đời tôi xong.” Điều kiện mới có thể tạo ra kết quả mới.

LXXI. BÀI THỰC HÀNH 7 NGÀY VÔ THƯỜNG

NGÀY 1 – THÂN: Quan sát một thay đổi nhỏ của thân mà không than. NGÀY 2 – THỌ: Theo dõi một cảm thọ từ lúc mạnh đến lúc giảm. NGÀY 3 – VẬT: Nhìn một vật mình quý và nhắc: “Dùng tốt khi còn có.” NGÀY 4 – NGƯỜI: Nói một lời biết ơn với người mình đang còn duyên. NGÀY 5 – KHEN CHÊ:

Khi được khen hoặc bị chê, nhắc: “Cơn gió này cũng qua.” NGÀY 6 – KẾ HOẠCH: Cho phép sửa một kế hoạch khi duyên đổi.

NGÀY 7 – ĐẠI NGUYỆN:

Hỏi: “Cách có thể đổi, nhưng hướng thiện nào tôi muốn giữ?”

LXXII. THƯỚC ĐO THẤY VÔ THƯỜNG

Hãy hỏi: Mất có bớt sụp chưa? Có có bớt phồng chưa? Người đổi có bớt oán chưa? Thân đổi có bớt cưỡng chưa? Có biết quý khi còn chưa? Có bớt trì hoãn điều thiện chưa? Có biết đổi phương tiện chưa? Có buông nhanh hơn khi duyên hết chưa?

LXXIII. BỐN CÔNG THỨC GẶP VÔ THƯỜNG

CÔNG THỨC TAM TẠNG:

BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

Vì đời vô thường: Đừng trì hoãn điều đúng.

CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC:

THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

Định lực giúp giữ hướng trong đổi thay.

CÔNG THỨC BUÔNG:

NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

Thấy vô thường làm chấp yếu.

CÔNG THỨC PHẬT:

THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

Thấy vô thường. Tỉnh khỏi ảo tưởng thường còn. Buông. Sáng.

LXXIV. CÔNG THỨC VÔ THƯỜNG CỦA CHƯƠNG

Bản đầy đủ: VÔ THƯỜNG

→ THẤY DUYÊN

→ BIẾT ĐỔI

→ TRÂN TRỌNG

→ KHÔNG SỞ HỮU

→ TINH TẤN

→ BUÔNG ĐÚNG.

Bản ngắn: BIẾT ĐỔI

→ BIẾT QUÝ

→ BIẾT LÀM

→ BIẾT BUÔNG.

Bản cực ngắn:

CÒN → QUÝ.

ĐỔI → THẤY.

MẤT → BUÔNG.

LXXV. CÂU KẾT

Vô thường không lấy mất ý nghĩa cuộc đời. Vô thường làm mình biết ý nghĩa của từng điều đang có. Vì người đổi: Tình thương cần có trí. Vì thân đổi: Đừng trì hoãn điều lành. Vì danh đổi: Đừng gửi cái tôi vào miệng thiên hạ. Vì vật đổi: Dùng mà đừng để vật sở hữu mình. Vì cảm thọ đổi:

Đừng ra quyết định vĩnh viễn từ một cảm xúc tạm thời. Vì chính mình cũng đổi: Đừng đóng đinh mình vào lỗi cũ. Vô thường không chỉ nói: “Rồi mọi thứ sẽ qua.” Vô thường còn nói:

“VÌ MỌI THỨ CÓ THỂ ĐỔI, NÊN MÌNH CŨNG CÓ THỂ TU, SỬA, LỚN LÊN VÀ BUÔNG.”

CÒN DUYÊN: TRÂN TRỌNG. CÒN SỨC: LÀM THIỆN. CÒN LỖI: SỬA. CÒN CHẤP: SOI. CÒN HƠI THỞ: TRỞ VỀ. DUYÊN ĐỔI: BIẾT ĐỔI. DUYÊN HẾT: BIẾT BUÔNG.

ĐÓ KHÔNG PHẢI BI QUAN.

ĐÓ LÀ TỈNH THỨC.

CHƯƠNG 21
VÔ NGÃ – KHÔNG BIẾN NĂM UẨN THÀNH MỘT CÁI TÔI BẤT BIẾN

Có một chữ trong Phật pháp rất dễ bị hiểu sai: VÔ NGÃ. Nghe “vô ngã”, nhiều người hỏi: “Nếu không có tôi thì ai tu?” “Ai tạo nghiệp?” “Ai chịu quả?” “Ai thương?” “Ai niệm Phật?” Nếu chỉ giải thích: “Không có tôi” thì rất dễ rơi vào hiểu sai. Vô ngã không phải phủ nhận con người đang sống.

Vô ngã là nhìn sâu và thấy:

NHỮNG GÌ MÌNH ĐANG CHẤP LÀ “TÔI”, “CỦA TÔI”, “BẢN CHẤT BẤT BIẾN CỦA TÔI” ĐỀU NƯƠNG DUYÊN, BIẾN ĐỔI VÀ KHÔNG HOÀN TOÀN NẰM DƯỚI QUYỀN ĐIỀU KHIỂN TUYỆT ĐỐI.

Câu nhớ:

VÔ NGÃ KHÔNG PHẢI XÓA CON NGƯỜI.

VÔ NGÃ LÀ XÓA BỚT SỰ LẦM NHẬN RẰNG CÁI GÌ ĐI QUA THÂN TÂM CŨNG ĐỀU LÀ “TÔI” VÀ “CỦA TÔI”.

I. VÔ NGÃ – ANATTĀ / ANĀTMAN

Pāli:

anattā.

Sanskrit:

anātman. Tiếng Việt: vô ngã – không có một tự ngã độc lập, thường hằng và toàn quyền theo cách tâm thường chấp.

Kinh Pháp Cú – Dhammapada, kệ 279 có câu Pāli nổi tiếng:

“Sabbe dhammā anattā.” Đại ý: “Tất cả các pháp là vô ngã.” Khi xuất bản nguyên văn cần dùng bản dịch cụ thể.

II. VÔ NGÃ KHÔNG PHẢI HƯ VÔ

Vô ngã không có nghĩa: Không có thân. Không có cảm thọ. Không có lựa chọn. Không có trách nhiệm. Không có nhân quả. Không có nghiệp. Không có con người đang đau. Không có người cần giúp. Cần phân biệt:

VÔ NGÃ ≠ KHÔNG CÓ GÌ.

VÔ NGÃ = KHÔNG CÓ MỘT CÁI “TÔI” ĐỘC LẬP, CỐ ĐỊNH, TOÀN QUYỀN NHƯ TÂM THƯỜNG CHẤP.

III. TẠI SAO PHẢI HỌC VÔ NGÃ?

Rất nhiều khổ có chữ: “TÔI.” “Tôi bị xúc phạm.” “Tôi phải đúng.” “Công của tôi.” “Danh của tôi.” “Người của tôi.” “Ý của tôi.” Chữ “tôi” trong giao tiếp không sai. Vấn đề là khi tâm biến chữ “tôi” quy ước thành một tự ngã phải được bảo vệ bằng mọi giá.

IV. KINH VÔ NGÃ TƯỚNG – ANATTALAKKHAṆA SUTTA

Nguồn: Tương Ưng Bộ – Saṃyutta Nikāya.

SN 22.59.

Anattalakkhaṇa Sutta – Kinh Vô Ngã Tướng. Bài kinh quán năm uẩn: rūpa – sắc. vedanā – thọ. saññā – tưởng. saṅkhāra – hành. viññāṇa – thức. Các uẩn được quán theo hướng: Cái gì vô thường, chịu biến đổi và không hoàn toàn theo ý thì không thích hợp để chấp là: “Cái này là của tôi.”

“Cái này là tôi.” “Cái này là tự ngã của tôi.” Câu chữ cụ thể tùy bản dịch.

V. PHÉP THỬ QUYỀN ĐIỀU KHIỂN

Nếu thân là một cái tôi hoàn toàn dưới quyền mình: Có thể ra lệnh: “Đừng già.” Nhưng thân vẫn già. “Đừng bệnh.” Nhưng bệnh vẫn có thể tới. “Đừng buồn.” Nhưng buồn vẫn sinh. “Đừng nghĩ.” Nhưng ý nghĩ vẫn tới. Câu nhớ:

CÁI GÌ KHÔNG HOÀN TOÀN NGHE LỆNH MÌNH THÌ ĐỪNG VỘI NHẬN NÓ LÀ MỘT CÁI TÔI TOÀN QUYỀN.

VI. SẮC – RŪPA KHÔNG PHẢI TỰ NGÃ CỐ ĐỊNH

Rūpa – sắc, thân thể và phương diện vật chất. Thân nương: Cha mẹ. Thức ăn. Khí hậu. Tuổi tác. Di truyền. Môi trường. Sức khỏe. Vô số điều kiện. Vì vậy thân là duyên sinh. Không phải một thực thể độc lập.

VII. VÔ NGÃ KHÔNG CÓ NGHĨA BỎ THÂN

Thân là phương tiện tu. Cần chăm sóc. Câu nhớ:

CHĂM THÂN NHƯ GIỮ MỘT PHƯƠNG TIỆN QUÝ.

KHÔNG ĐÒI PHƯƠNG TIỆN ẤY PHẢI TỒN TẠI VĨNH VIỄN.

VIII. THỌ – VEDANĀ KHÔNG PHẢI “TÔI”

Vedanā – cảm thọ. Vui đổi. Buồn đổi. Đau đổi. Dễ chịu đổi. Thay vì: “Tôi là người khổ” có thể nói: “Đang có thọ khó chịu.” Câu nhớ:

CẢM THỌ LÀ CÁI MÌNH ĐANG KINH NGHIỆM.

NÓ KHÔNG NHẤT THIẾT LÀ ĐỊNH NGHĨA VỀ CON NGƯỜI MÌNH.

IX. TƯỞNG – SAÑÑĀ / SAṂJÑĀ KHÔNG PHẢI “TÔI”

Pāli:

saññā.

Sanskrit:

saṃjñā. Tiếng Việt: tưởng, nhận diện, tri giác. Cách mình nhìn một người có thể thay đổi khi có thêm thông tin. Vì vậy có thể nói:

“ĐÂY LÀ CÁCH TÔI ĐANG THẤY.”

thay vì:

“ĐÂY CHẮC CHẮN LÀ TOÀN BỘ SỰ THẬT.”

X. HÀNH – SAṄKHĀRA / SAṂSKĀRA KHÔNG PHẢI BẢN CHẤT CỐ ĐỊNH

Pāli:

saṅkhāra.

Sanskrit:

saṃskāra. Tâm hành và thói quen có thể thay đổi. Câu: “Tính tôi vậy rồi” có thể biến một hiện trạng thành định mệnh. Vô ngã mở ra khả năng: Tập lại. Sửa. Huân thiện. Giảm sân. Tăng định. Câu nhớ:

VÔ NGÃ KHÔNG LÀM MÌNH MẤT BẢN THÂN.

VÔ NGÃ MỞ CỬA ĐỂ MÌNH KHÔNG BỊ NHỐT TRONG MỘT BẢN THÂN CŨ.

XI. THỨC – VIÑÑĀṆA / VIJÑĀNA

Pāli:

viññāṇa.

Sanskrit:

vijñāna. Tiếng Việt: thức. Thức sinh theo điều kiện: Mắt và sắc. Tai và tiếng. Ý và pháp. Đó là tiến trình duyên sinh, không cần chấp thành một thực thể độc lập bất biến.

XII. NGŨ UẨN – PAÑCAKKHANDHA / PAÑCASKANDHA

Pāli:

pañcakkhandha.

Sanskrit:

pañcaskandha. Tiếng Việt: năm uẩn. SẮC. THỌ. TƯỞNG. HÀNH. THỨC. “Tôi” có thể là tên gọi quy ước cho dòng thân tâm này. Nhưng khi quán sâu, không phần nào riêng lẻ cho thấy một cái tôi thường hằng, độc lập và toàn quyền.

XIII. VÍ DỤ CHIẾC XE – MILINDAPAÑHA

Nguồn: Milindapañha – Mi Tiên Vấn Đáp. Đây là một tác phẩm Phật giáo hậu kỳ quan trọng, không phải một bài kinh thuộc bốn Nikāya. Ví dụ chiếc xe cho thấy: “Xe” là tên gọi quy ước cho nhiều bộ phận cùng quan hệ với nhau. Không có một “cái xe độc lập” tách khỏi toàn bộ các bộ phận.

Nhưng quy ước “chiếc xe” vẫn có công dụng. Tương tự: “Tôi” có giá trị quy ước. Nhưng không cần dựng thành một tự ngã độc lập.

XIV. “TÔI” LÀ MỘT TÊN GỌI QUY ƯỚC

Con người gồm vô số duyên: Thân. Ký ức. Cảm thọ. Ngôn ngữ. Văn hóa. Quan hệ. Giáo dục. Nghiệp. Thói quen. Môi trường. Câu nhớ:

CÁI “TÔI” DÙNG ĐƯỢC TRONG ĐỜI SỐNG.

CÁI “TÔI” CHẤP CỨNG MỚI DỄ LÀM KHỔ.

XV. VÔ NGÃ VÀ DUYÊN KHỞI

Pāli:

paṭiccasamuppāda.

Sanskrit:

pratītyasamutpāda. Tiếng Việt: Duyên khởi. Công thức hệ thống hóa: DUYÊN KHỞI

→ KHÔNG ĐỘC LẬP

→ VÔ NGÃ.

Câu nhớ:

VÔ NGÃ KHÔNG NÓI RẰNG KHÔNG CÓ HIỆN TƯỢNG.

VÔ NGÃ NÓI RẰNG HIỆN TƯỢNG KHÔNG TỰ ĐỨNG MỘT MÌNH.

XVI. KINH KACCĀNAGOTTA

Nguồn: Tương Ưng Bộ – Saṃyutta Nikāya.

SN 12.15.

Kaccānagotta Sutta – Kinh Kaccānagotta / Kinh Kaccāna. Bài kinh dùng cái thấy Duyên khởi để tránh hai cực đoan: Chấp “có” cố định. Chấp “không có” tuyệt đối. Đây là nguồn rất quan trọng để tránh hiểu vô ngã thành hư vô.

XVII. VÔ NGÃ KHÔNG PHỦ NHẬN NHÂN QUẢ

Không cần một tự ngã bất biến để nhân quả vận hành. Có sự liên tục của tiến trình nhân duyên. Đứa trẻ năm tuổi và người năm mươi tuổi: Không hoàn toàn giống nhau. Nhưng cũng không hoàn toàn không liên hệ. Hành động quá khứ góp phần tạo điều kiện cho hiện tại.

XVIII. NGHIỆP – KAMMA / KARMA VẪN CÓ Ý NGHĨA

Pāli:

kamma.

Sanskrit:

karma. Tiếng Việt: nghiệp, hành động có tác ý. Nếu có một bản chất bất biến tuyệt đối: Người sân không thể bớt sân. Người mê không thể tỉnh. Người chấp không thể học buông. Chính vì thân tâm không cố định tuyệt đối nên tu tập có khả năng chuyển hóa.

XIX. VÔ NGÃ KHÔNG PHỦ NHẬN TRÁCH NHIỆM

Không được dùng vô ngã để nói: “Không có tôi nên tôi không chịu trách nhiệm.” Trên phương diện quy ước: Làm sai: Nhận. Gây hại: Sửa. Có lỗi: Xin lỗi. Có trách nhiệm: Làm. Vô ngã giúp không biến: “Tôi đã làm sai” thành: “Tôi là một con người xấu vĩnh viễn.”

XX. VÔ NGÃ VÀ SÁM HỐI

Công thức: SÁM HỐI = THẤY + NHẬN + DỪNG + SỬA + LÀM LẠI. Câu nhớ: NHẬN LỖI LÀ TRÍ.

BIẾN LỖI THÀNH CĂN TÍNH VĨNH VIỄN LÀ MỘT KIỂU CHẤP KHÁC.

XXI. VÔ NGÃ VÀ LỜI KHEN

Khi được khen, nhìn nhân duyên: Có người dạy. Có người giúp. Có cơ hội. Có sức khỏe. Có người nghe. Có hoàn cảnh. Không phủ nhận nỗ lực của mình. Nhưng không ôm hết công thành “tôi”.

XXII. VÔ NGÃ VÀ LỜI CHÊ

Một lời chê về một hành vi không nhất thiết là bản án về toàn bộ con người. Hãy: LỌC. SỬA PHẦN ĐÚNG. BUÔNG PHẦN SAI. Không biến lời chê thành danh tính.

XXIII. VÔ NGÃ VÀ DANH

Danh do nhiều duyên. Hôm nay có. Ngày mai đổi. Câu nhớ:

DANH LÀ MỘT ĐIỀU KIỆN CÓ THỂ DÙNG.

KHÔNG PHẢI MỘT CĂN NHÀ ĐỂ CÁI TÔI Ở.

XXIV. VÔ NGÃ VÀ CÔNG LAO

Một việc thành thường do nhiều duyên. Câu nhớ:

THẤY NHÂN DUYÊN THÌ CÔNG LAO TỰ NHIÊN BỚT ĐỘC QUYỀN.

XXV. VÔ NGÃ VÀ TÌNH CẢM

Người mình thương có: Nghiệp riêng. Duyên riêng. Quyết định riêng. Con đường riêng. Câu nhớ:

THƯƠNG NGƯỜI NHƯ MỘT NHÂN DUYÊN QUÝ.

KHÔNG NHƯ MỘT VẬT SỞ HỮU.

XXVI. VÔ NGÃ VÀ CON CÁI

Con cái không phải phần kéo dài của cái tôi cha mẹ. Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dưỡng. Nhưng trách nhiệm không đồng nghĩa quyền sở hữu tuyệt đối. Câu nhớ:

NUÔI MỘT NGƯỜI LỚN LÊN.

KHÔNG PHẢI NUÔI MỘT PHẦN CÁI TÔI CỦA MÌNH LỚN LÊN.

XXVII. VÔ NGÃ VÀ NGƯỜI HỌC

Người thầy có thể: Thương. Dạy. Bảo hộ. Chỉ đường. Nhưng không sở hữu người học. Câu nhớ:

NGƯỜI THẦY GIEO DUYÊN VỚI CON ĐƯỜNG.

KHÔNG SỞ HỮU NGƯỜI ĐANG ĐI TRÊN ĐƯỜNG.

XXVIII. VÔ NGÃ VÀ QUYỀN

Vai trò là duyên. Quyền là chức năng. Không phải bản chất con người. Có quyền mà thấy vô ngã: Bớt lạm dụng. Bớt kiêu. Bớt ép. Bớt dùng người để nuôi cái tôi.

XXIX. VÔ NGÃ VÀ VẬT CHẤT

Nhà. Tiền. Đất. Vật dụng. Theo quy ước có thể nói: “Của tôi.” Nhưng sở hữu ấy có điều kiện. Câu nhớ:

QUYỀN SỞ HỮU TRONG ĐỜI CÓ THỂ CÓ.

SỞ HỮU TUYỆT ĐỐI TRONG VÔ THƯỜNG THÌ KHÔNG.

XXX. VÔ NGÃ VÀ CƠ THỂ

Thân đẹp: Không cần kiêu. Thân già: Không cần sụp. Thân bệnh: Chăm. Không lấy thân làm toàn bộ giá trị bản thân.

XXXI. VÔ NGÃ VÀ TUỔI TÁC

Không chấp: “Tôi phải mãi trẻ.” Cũng không chấp: “Tôi già rồi, không học được.” Tuổi là một điều kiện. Không phải toàn bộ con người.

XXXII. VÔ NGÃ VÀ TÍNH CÁCH

Thay: “Tôi nóng tính.” bằng: “Hiện nay tôi có thói quen phản ứng nóng.” Thay: “Tôi lười.” bằng: “Tôi đang có thói quen trì hoãn.” Câu nhớ:

HÃY MÔ TẢ TRẠNG THÁI.

ĐỪNG VỘI TUYÊN ÁN BẢN CHẤT.

XXXIII. KINH BĀHIYA

Nguồn:

Udāna 1.10.

Bāhiya Sutta – Kinh Bāhiya, thuộc Kinh Phật Tự Thuyết. Đại ý: Trong cái thấy chỉ là cái thấy. Trong cái nghe chỉ là cái nghe. Trong cái cảm nhận chỉ là cái cảm nhận. Trong cái nhận thức chỉ là cái nhận thức. Điểm thực hành:

ĐỪNG THÊM “TÔI” VÀ “CỦA TÔI” QUÁ NHANH VÀO KINH NGHIỆM.

XXXIV. BA TẦNG CỦA NGÃ CHẤP

TÔI. CỦA TÔI. PHẢI THEO TÔI. Vô ngã giúp tháo: “Tôi”: Tên gọi quy ước duyên sinh. “Của tôi”: Quyền sử dụng có điều kiện. “Phải theo tôi”: Đòi hỏi không phù hợp với nhân duyên.

XXXV. TÂM KINH BÁT NHÃ – PRAJÑĀPĀRAMITĀHṚDAYA SŪTRA

Nguồn Đại thừa.

Sanskrit:

Prajñāpāramitāhṛdaya Sūtra. Tiếng Việt: Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh / Tâm Kinh Bát Nhã. Bản Hán-Việt quen thuộc có câu: “Chiếu kiến ngũ uẩn giai không.” Năm uẩn được quán là Không. Không ở đây không nên hiểu là không có gì. Trong hệ Bát Nhã: śūnyatā – Không tính, chỉ tính không tự hữu độc lập của các pháp.

XXXVI. KHÔNG – ŚŪNYATĀ

Sanskrit:

śūnyatā. Tiếng Việt: Không tính. Không tính không xóa hiện tượng. Không tính chỉ ra hiện tượng không tự tồn tại độc lập khỏi duyên. Ví dụ: Một bông hoa cần: Đất. Nước. Nắng. Hạt. Thời gian. Người chăm. Không có “hoa tự có” đứng tách khỏi các duyên ấy.

XXXVII. “SẮC TỨC THỊ KHÔNG”

Trong Tâm Kinh Bát Nhã có câu Hán-Việt quen thuộc: “Sắc tức thị không, không tức thị sắc.” Không nên hiểu: “Sắc không tồn tại.” Ý theo hướng Bát Nhã: Sắc không có tự tính độc lập. Câu nhớ:

KHÔNG KHÔNG XÓA SẮC.

KHÔNG LÀM MÌNH THẤY SẮC KHÔNG TỰ ĐỨNG MỘT MÌNH.

XXXVIII. NIKĀYA VÀ BÁT NHÃ

Kinh điển Nikāya nhấn mạnh không nên chấp năm uẩn là tôi và của tôi.

Hệ Bát Nhã Đại thừa triển khai sâu về Không tính của các pháp. Hai truyền thống có hệ thuật ngữ và cách trình bày riêng. Không nên đồng nhất giản lược. Nhưng trong thực hành có một điểm gặp:

ĐỪNG CHẤP CÁI DUYÊN SINH THÀNH MỘT THỰC THỂ ĐỘC LẬP ĐỂ NẮM.

XXXIX. KINH KIM CANG – VAJRACCHEDIKĀ PRAJÑĀPĀRAMITĀ SŪTRA

Sanskrit:

Vajracchedikā Prajñāpāramitā Sūtra. Tiếng Việt:

Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật.

Trong truyền thống Hán tạng có câu nổi tiếng: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm.” Ý thực hành: Khởi tâm mà không trụ chấp. Làm thiện: Không trụ công. Thương: Không trụ sở hữu. Nói Pháp: Không trụ danh.

XL. VÔ SỞ TRỤ VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

Công thức Buông: NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

Tinh thần vô sở trụ trong Kim Cang rất gần về mặt thực hành với: KHÔNG DÍNH. KHÔNG CHẤP. Đây là cách nối của cuốn sách, không phải nói Kinh Kim Cang đưa nguyên công thức này.

XLI. VÔ NGÃ KHÔNG LÀM MÌNH LẠNH

Cái tôi càng nhỏ: Từ bi có thể rộng hơn. Nếu chỉ thương: “Người của tôi” thì tình thương có biên giới mạnh. Bớt chấp “của tôi”, ta thấy: Ai cũng muốn an. Ai cũng sợ đau. Ai cũng chịu vô thường. Ai cũng có lúc bị tham sân si kéo.

XLII. VÔ NGÃ VÀ TỪ BI – KARUṆĀ

Pāli/Sanskrit: karuṇā. Tiếng Việt: lòng bi. Cái tôi hỏi: “Chuyện này ảnh hưởng tôi thế nào?” Từ bi còn hỏi: “Người kia đang khổ thế nào?” Bớt ngã mở chỗ cho lòng bi.

XLIII. VÔ NGÃ KHÔNG XÓA RANH GIỚI

Bớt ngã không có nghĩa: Ai muốn làm gì cũng được. Có hành vi gây hại: Nói không. Rời. Bảo vệ. Nhờ hỗ trợ. Câu nhớ:

KHÔNG CHẤP NGÃ KHÔNG CÓ NGHĨA XÓA RANH GIỚI.

LÀ ĐẶT RANH GIỚI MÀ KHÔNG CẦN XÂY THÊM MỘT KẺ THÙ TRONG TÂM.

XLIV. VÔ NGÃ VÀ TRÁCH NHIỆM

Vẫn cần nói: “Phần này tôi làm.” “Phần này tôi sai.” “Phần này tôi chịu trách nhiệm.” Vô ngã không phủ nhận quy ước cá nhân. Vô ngã chỉ phá sự tuyệt đối hóa cái tôi quy ước.

XLV. VÔ NGÃ VÀ KHIÊM HẠ

Thấy mình do nhiều duyên: Tự nhiên khiêm. Khả năng có duyên. Kiến thức có thầy. Cơ hội có người. Thân có cha mẹ. Thành công có cộng đồng. Không phủ nhận nỗ lực của mình. Nhưng thấy nỗ lực đó cũng nằm trong mạng nhân duyên.

XLVI. VÔ NGÃ VÀ CHỮ THẬT

Muốn thấy ngã phải thật. Sân: Nhận sân. Muốn danh: Nhận muốn danh. Muốn được công nhận: Nhận. THẬT là cửa đầu để thấy ngã chấp.

XLVII. VÔ NGÃ VÀ CHỮ TÍN

Bớt ngã không làm mất chữ tín. Ngược lại, có thể giữ tín sạch hơn vì không đổi lời theo cái lợi của bản ngã quá nhiều.

XLVIII. VÔ NGÃ VÀ GIỚI

Vô ngã là cái thấy. Giới là hàng rào bảo vệ hành vi. Câu nhớ:

VÔ NGÃ LÀ CÁI THẤY.

GIỚI LÀ CÁCH BẢO VỆ ĐỜI SỐNG TRONG KHI CÁI THẤY ẤY TRƯỞNG THÀNH.

XLIX. VÔ NGÃ VÀ ĐỊNH

Tâm quá tán khó thấy ngã tinh vi. Định làm tâm lắng. Rồi mới thấy: Muốn được khen. Muốn thắng. Muốn giữ. Muốn được công nhận. Đó là lý do giới – định – tuệ phải đi cùng.

L. VÔ NGÃ VÀ TUỆ – PAÑÑĀ / PRAJÑĀ

Pāli:

paññā.

Sanskrit:

prajñā. Tiếng Việt: trí tuệ. Tuệ không chỉ học thuộc: “Vô ngã.” Tuệ trực tiếp thấy: Thân không hoàn toàn theo ý. Thọ không theo ý. Tâm hành sinh diệt. Danh do duyên. Người không phải sở hữu. Quan điểm không phải tự ngã.

LI. VÔ NGÃ KHÔNG PHẢI MỘT NIỀM TIN MÙ

Không cần ép: “Phải tin vô ngã.” Có thể quán: Thân có thường không? Thọ có thường không? Có hoàn toàn theo ý không? Cái gì do duyên? Cái gì đang đổi? Cái thấy lớn từ quan sát.

LII. DÙNG CÁI “TÔI” NHƯNG ĐỪNG BỊ CÁI “TÔI” DÙNG

Mình vẫn nói: “Tôi.” Để giao tiếp. Để chịu trách nhiệm. Để làm việc. Nhưng đừng để cái tôi trở thành ông chủ: Phải hơn. Phải thắng. Phải giữ. Phải được công nhận. Câu nhớ:

DÙNG CÁI TÔI QUY ƯỚC ĐỂ SỐNG.

ĐỪNG ĐỂ CÁI TÔI CHẤP THỦ DÙNG MÌNH ĐỂ TẠO KHỔ.

LIII. VÔ NGÃ VÀ CÔNG THỨC PHẬT

THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

THẤY: Cái tôi đang bị chạm. TỈNH: Không phản ứng ngay để bảo vệ cái tôi. BUÔNG: Không giữ “tôi đúng”, “của tôi”, “phải theo tôi”. SÁNG: Thấy nhân duyên rộng hơn.

LIV. VÔ NGÃ VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

NHẬN: Tâm đang nặng. SOI: Cái tôi nào bị chạm? THẤY: Đang chấp danh, ý, người hay vai trò. KHÔNG DÍNH: Không nuôi thêm. KHÔNG CHẤP: Không đồng hóa. BUÔNG: Mở quyền sở hữu.

AN:

Tâm nhẹ.

LV. VÔ NGÃ VÀ CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC

THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

THẬT: Thấy ngã chấp. TÍN: Không phản bội điều đúng để giữ cái tôi. THIỆN: Đưa tâm ra khỏi lợi ích riêng. GIỚI: Chặn hành vi ngã chấp. ĐỊNH: Đủ sức không phản ứng. TUỆ: Thấy vô ngã. LỰC: Không dễ bị cái tôi kéo.

LVI. VÔ NGÃ VÀ CÔNG THỨC TAM TẠNG

BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

Bớt ngã: Bớt ác vì bảo vệ mình. Tăng thiện: Thấy người rõ hơn. Làm sạch tâm: Đi sâu tới tham, sân, si và ngã chấp.

LVII. VÔ NGÃ VÀ ĐẠI NGUYỆN

Đại nguyện có thể bị cái tôi chiếm. “Tôi phải làm việc lớn.” “Tôi phải để lại danh.” Hướng sạch hơn là:

“VIỆC THIỆN CẦN ĐƯỢC LÀM.

TÔI GÓP PHẦN TRONG KHẢ NĂNG MÌNH.”

Câu nhớ:

ĐẠI NGUYỆN LỚN KHÔNG NHẤT THIẾT CẦN MỘT CÁI TÔI LỚN.

LVIII. VÔ NGÃ VÀ PHÁP THÍ

Nói Pháp để người khác tự tu: Sạch hơn. Nói Pháp để giữ người: Ngã chấp dễ chen. Câu nhớ: TRAO ĐÈN. KHÔNG GIỮ NGƯỜI.

LIX. VÔ NGÃ VÀ HƯƠNG ĐỨC HẠNH

Đức thật không cần liên tục nói: “Tôi có đức.” Cách sống tự nói. Bớt cái tôi đạo đức thì hương càng sạch.

LX. VÔ NGÃ VÀ TÂM BẤT ĐỘNG

Càng nhiều cái tôi: Càng nhiều điểm bị chạm. “Tôi” ở danh. “Tôi” ở người. “Tôi” ở vật. “Tôi” ở ý kiến. “Tôi” ở vai trò. Câu nhớ:

TÂM BỚT NGÃ KHÔNG PHẢI VÌ ĐỜI BỚT VA CHẠM.

MÀ VÌ ÍT THỨ CÒN ĐƯỢC NHẬN LÀ “TÔI” ĐỂ PHẢI BẢO VỆ BẰNG MỌI GIÁ.

LXI. VÔ NGÃ VÀ TỰ DO

Nếu tôi không phải lời chê: Lời chê không phá toàn bộ tôi. Nếu tôi không phải một thất bại: Thất bại không kết thúc đời tôi. Nếu tôi không phải một cảm xúc: Buồn không thành danh tính. Nếu tôi không phải danh: Mất danh không mất hết. Đó là tự do.

LXII. BA TẦNG THỰC HÀNH VÔ NGÃ

TẦNG 1 – KHÔNG ĐỒNG HÓA:

Thay: “Tôi là sân” bằng: “Đang có sân.”

TẦNG 2 – KHÔNG SỞ HỮU TUYỆT ĐỐI:

Thay: “Người này của tôi” bằng: “Đây là một nhân duyên quý.”

TẦNG 3 – KHÔNG ĐÒI ĐIỀU KHIỂN:

Thay: “Phải theo ý tôi” bằng: “Phần tôi làm đúng; phần còn lại tùy nhân duyên.”

LXIII. CÔNG THỨC VÔ NGÃ

Bản đầy đủ: VÔ NGÃ = THẤY DUYÊN

→ THẤY ĐỔI

→ THẤY KHÔNG TOÀN QUYỀN

→ KHÔNG NHẬN LÀ “TÔI/CỦA TÔI”

→ BỚT CHẤP

→ TỰ DO.

Bản ngắn: THẤY DUYÊN

→ BỚT “TÔI”

→ BỚT “CỦA TÔI”

→ BỚT “PHẢI THEO TÔI”.

Bản cực ngắn: CÓ HIỆN TƯỢNG.

KHÔNG CẦN DỰNG THÊM MỘT CÁI TÔI CỨNG.

LXIV. CÔNG THỨC BA CHỮ

TÔI. CỦA TÔI. THEO TÔI. Khi khổ hãy hỏi: Tôi đang mắc ở chữ nào? “TÔI”: Danh tính bị chạm? “CỦA TÔI”: Sở hữu bị chạm? “THEO TÔI”: Quyền kiểm soát bị chạm?

LXV. THỰC HÀNH KHI BỊ CHÊ

Hỏi: Đây là lời về một hành vi hay toàn bộ con người? Tôi đang bảo vệ sự thật hay hình ảnh? Nếu đúng: Tôi sửa được gì? Nếu sai: Tôi có cần mang không?

LXVI. THỰC HÀNH KHI ĐƯỢC KHEN

Biết vui. Nhìn các nhân duyên: Người dạy. Người giúp. Cơ hội. Sức khỏe. Người nghe. Không phủ nhận công mình. Không ôm hết.

LXVII. THỰC HÀNH VỚI NGƯỜI MÌNH THƯƠNG

Nhắc: “Đây là một người có nhân duyên riêng, không phải tài sản của tôi.” Hỏi: “Điều gì thật sự tốt cho người?” Không chỉ: “Điều gì làm tôi yên?”

LXVIII. THỰC HÀNH VỚI VẬT

Nhắc: “Hiện tại tôi có quyền sử dụng và chăm giữ vật này.” Không cần biến thành: “Vĩnh viễn của tôi.” Dùng tốt. Giữ đúng. Buông khi duyên đổi.

LXIX. THỰC HÀNH VỚI CÔNG LAO

Sau một việc thành: Nhận phần mình. Sau đó liệt kê năm nhân duyên ngoài mình đã góp phần. Thấy đủ duyên thì công bớt đặc.

LXX. BÀI THỰC HÀNH 7 NGÀY VÔ NGÃ

NGÀY 1 – THÂN: Khi thân khó chịu, nói: “Đang có trạng thái của thân.” NGÀY 2 – THỌ: Gọi: “Đang vui.” “Đang buồn.” Không biến cảm xúc thành danh tính. NGÀY 3 – Ý KIẾN: Khi bất đồng, nói: “Đây là cách tôi đang thấy.” Rồi nghe thêm. NGÀY 4 – CÔNG: Nhìn năm nhân duyên đã giúp một việc mình làm được thành.

NGÀY 5 – NGƯỜI: Nhắc: “Người tôi thương không phải tài sản.” NGÀY 6 – DANH: Nhận một lời khen hoặc chê mà không biến nó thành định nghĩa bản thân. NGÀY 7 – BA CHỮ: Khi nặng, hỏi: TÔI? CỦA TÔI? THEO TÔI?

LXXI. THƯỚC ĐO VÔ NGÃ

Không phải dùng chữ “tôi” ít đi. Hãy hỏi: Dễ nhận sai hơn chưa? Bớt giữ công chưa? Bị chê bớt sụp chưa? Được khen bớt phồng chưa? Bớt kiểm soát người chưa? Bớt dán nhãn mình chưa? Bớt xem ý mình là chân lý tuyệt đối chưa? Đó là thước đo sống.

LXXII. VÔ NGÃ VÀ BÁT CHÁNH ĐẠO

Pāli:

Ariya Aṭṭhaṅgika Magga.

Sanskrit:

Āryāṣṭāṅgamārga. Tiếng Việt: Bát Chánh Đạo. CHÁNH KIẾN – sammā-diṭṭhi / samyag-dṛṣṭi: Thấy đúng duyên khởi, vô thường, vô ngã. CHÁNH TƯ DUY – sammā-saṅkappa / samyak-saṃkalpa: Bớt ý tham, sân, hại vì cái tôi. CHÁNH NGỮ – sammā-vācā / samyag-vāc: Không nói để bảo vệ cái tôi bằng mọi giá.

CHÁNH NGHIỆP – sammā-kammanta / samyak-karmānta: Không hành động theo ngã chấp. CHÁNH MẠNG – sammā-ājīva / samyag-ājīva: Không xây giá trị bản thân bằng nghề nghiệp bất thiện. CHÁNH TINH TẤN – sammā-vāyāma / samyag-vyāyāma: Giảm các tâm hành nuôi ngã. CHÁNH NIỆM – sammā-sati / samyak-smṛti:

Thấy ngã chấp khi khởi. CHÁNH ĐỊNH – sammā-samādhi / samyak-samādhi: Tâm đủ vững để không chạy theo cái tôi.

LXXIII. VÔ NGÃ VÀ TỨ CHÁNH CẦN

Tự ái chưa sinh: Ngăn điều kiện. Tự ái đã sinh: Nhận và giảm. Khiêm hạ chưa sinh: Làm sinh. Khiêm hạ đã có: Nuôi lớn. Lòng từ chưa sinh: Khởi. Lòng từ đã có: Giữ. Vô ngã phải đi vào Chánh tinh tấn.

LXXIV. VÔ NGÃ VÀ TỨ NIỆM XỨ

THÂN: Thân được biết như thân. THỌ: Thọ được biết như thọ. TÂM: Tâm được biết như tâm. PHÁP: Các pháp được thấy theo quy luật sinh diệt. Tứ Niệm Xứ giúp giảm đồng hóa: “Cái này là tôi.”

LXXV. KINH PHÁP CÚ 279

Pāli:

Sabbe dhammā anattā. Đại ý: Các pháp là vô ngã. Kệ 279 đi sau: 277 – vô thường. 278 – khổ/bất toại nguyện. 279 – vô ngã. Mạch thực hành: THẤY BIẾN ĐỔI

→ THẤY KHÔNG THỂ NƯƠNG TUYỆT ĐỐI

→ THẤY KHÔNG THÍCH HỢP ĐỂ CHẤP LÀ TỰ NGÃ.

LXXVI. BỐN CÔNG THỨC GẶP VÔ NGÃ

CÔNG THỨC TAM TẠNG:

BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

Bớt ngã: Bớt ác vì bảo vệ “tôi”. Tăng thiện: Thấy người rộng hơn. Làm sạch tâm: Đi sâu vào chấp ngã.

CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC:

THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

Thật: Thấy ngã. Giới: Không làm theo ngã. Định: Không bị ngã kéo. Tuệ: Thấy vô ngã. Lực: Bớt bị “tôi” làm rung.

CÔNG THỨC BUÔNG:

NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

CÔNG THỨC PHẬT:

THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

Thấy ngã. Tỉnh khỏi phản ứng của ngã. Buông ngã chấp. Sáng nhân duyên.

LXXVII. CÂU KẾT

Vô ngã không bắt mình biến mất. Vô ngã chỉ hỏi: Cái thân đang già này có thật là một “tôi” bất biến không? Cảm xúc sáng vui chiều buồn có phải “tôi” bất biến không? Quan điểm hôm nay đúng, ngày mai sửa có phải “tôi” bất biến không? Danh người khác đặt lên mình có phải “tôi” không? Một vai trò có phải “tôi” không? Một người mình thương có thật là “của tôi” theo nghĩa tuyệt đối không? Một công mình làm có thật chỉ do riêng mình không? Nhìn thật lâu, tay tâm bắt đầu nhẹ.

Mình vẫn nói: “Tôi.” Nhưng chữ “tôi” nhẹ hơn. Mình vẫn nói: “Của tôi.” Nhưng quyền sở hữu nhẹ hơn. Mình vẫn có ý kiến. Nhưng ý kiến không còn là bản ngã phải chết sống bảo vệ. Mình vẫn thương. Nhưng người không còn là vật sở hữu. Mình vẫn làm việc. Nhưng công không cần biến thành danh tính.

Mình vẫn tu. Nhưng không cần dựng thêm một cái tôi:

“TÔI LÀ NGƯỜI TU GIỎI.”

VÔ NGÃ KHÔNG LẤY MẤT MÌNH.

NÓ LẤY BỚT GÁNH NẶNG PHẢI BẢO VỆ MỘT CÁI MÌNH TƯỞNG LÀ CỐ ĐỊNH.

THẬT: ĐỂ THẤY CÁI TÔI. GIỚI:

ĐỂ KHÔNG LÀM THEO CÁI TÔI.

ĐỊNH:

ĐỂ ĐỨNG KHI CÁI TÔI BỊ CHẠM.

TUỆ: ĐỂ THẤY VÔ NGÃ. NHẬN: CÁI CHẤP. SOI: CHỮ “CỦA TÔI”. THẤY:

CHỮ “PHẢI THEO TÔI”.

KHÔNG DÍNH. KHÔNG CHẤP. BUÔNG.

AN.

RỒI: THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

ĐÓ KHÔNG PHẢI MÌNH BIẾN MẤT.

ĐÓ LÀ CÁI MÊ VỀ MÌNH BẮT ĐẦU MỎNG ĐI.

CHƯƠNG 22
TỨ CHÁNH CẦN – KHÔNG CHỈ BỎ ÁC MÀ CÒN BIẾT NUÔI THIỆN

Biết vô thường chưa chắc đã buông được. Biết vô ngã chưa chắc đã hết tự ái. Biết sân là bất thiện chưa chắc khi sân ta đã dừng được. Biết lời ác tạo nghiệp chưa chắc miệng đã kịp giữ. Vấn đề không chỉ nằm ở cái biết. Còn nằm ở: LỰC. Cái biết có rồi. Nhưng lực chưa đủ. Lực không sinh chỉ bằng một lần hiểu.

Lực sinh từ điều đúng được lặp lại đủ lâu. Một niệm bất thiện chưa sinh mà được ngăn: Lực tăng. Một niệm bất thiện đã sinh mà được dừng: Lực tăng. Một thiện pháp chưa có mà được làm sinh: Lực tăng. Một thiện pháp đã có mà được duy trì: Lực tăng. Đó là Tứ Chánh Cần. Câu nhớ:

TỨ CHÁNH CẦN LÀ CÁCH BIẾN CÁI BIẾT THÀNH THÓI QUEN THIỆN, RỒI BIẾN THÓI QUEN THIỆN THÀNH NỘI LỰC.

I. TỨ CHÁNH CẦN – SAMMAPPADHĀNA

Pāli:

sammappadhāna. Tiếng Việt: Tứ Chánh Cần – bốn sự tinh tấn chân chánh. Trong các hệ thuật ngữ Sanskrit có thể gặp: samyak-pradhāna / samyak-prahāṇa. Bốn việc:

1. BẤT THIỆN CHƯA SINH:

Ngăn không cho sinh.

2. BẤT THIỆN ĐÃ SINH:

Đoạn trừ, làm giảm, không nuôi.

3. THIỆN CHƯA SINH:

Làm cho sinh.

4. THIỆN ĐÃ SINH:

Duy trì, phát triển, làm tăng trưởng. Bản ngắn: NGĂN. BỎ. SINH. GIỮ.

II. TỨ CHÁNH CẦN VÀ CHÁNH TINH TẤN

Pāli:

sammā-vāyāma.

Sanskrit:

samyag-vyāyāma. Tiếng Việt: Chánh tinh tấn. Chánh tinh tấn là một chi của: Bát Chánh Đạo – Ariya Aṭṭhaṅgika Magga / Āryāṣṭāṅgamārga. Tứ Chánh Cần là cách triển khai rất cụ thể tinh thần Chánh tinh tấn.

III. TINH TẤN KHÔNG PHẢI ÉP

Tinh tấn không phải: Không ngủ. Không nghỉ. Ép thân. Ép tâm. Càng làm càng căng. Tinh tấn là: DÙNG SỨC ĐÚNG CHỖ. Câu nhớ:

TINH TẤN KHÔNG PHẢI DÙNG NHIỀU SỨC.

TINH TẤN LÀ DÙNG ĐÚNG SỨC.

IV. CHÁNH CẦN THỨ NHẤT

NGĂN BẤT THIỆN CHƯA SINH

Đừng đợi lửa cháy mới chữa. Hãy giảm duyên cháy. Biết mình dễ sân khi thiếu ngủ: Ngủ đủ. Biết dễ nói nặng khi quá đói: Đừng bàn chuyện lớn lúc đó. Biết dễ tham mua khi xem quảng cáo: Giảm xem. Biết dễ chấp khi đọc bình luận lúc mệt: Không đọc lúc tâm yếu. Câu nhớ:

NGƯỜI CÓ TRÍ KHÔNG CHỈ CHỐNG BẤT THIỆN.

HỌ CÒN GIẢM NHỮNG DUYÊN LÀM BẤT THIỆN DỄ SINH.

V. NGĂN KHÔNG ĐỒNG NGHĨA TRỐN

Có duyên nên tránh. Có duyên phải đối diện. Tránh môi trường gây nghiện: Có thể là trí. Né mọi góp ý chỉ vì sợ bị chê: Có thể là trốn. Phải dùng tuệ phân biệt.

VI. HỘ TRÌ CĂN – INDRIYA-SAṂVARA

Pāli:

indriya-saṃvara. Tiếng Việt: hộ trì căn / phòng hộ các căn. Một nguồn tham khảo:

MN 27 – Cūḷahatthipadopama Sutta – Tiểu Kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi.

Tinh thần: Mắt thấy sắc, tai nghe tiếng nhưng không để tâm bị kéo sâu theo tham sân.

VII. HỘ TRÌ CĂN TRONG ĐỜI HIỆN ĐẠI

Hộ trì căn có thể là: Không mở điện thoại vô thức. Không xem thứ làm tham tăng khi tâm yếu. Không nghe thị phi suốt ngày. Không đọc bình luận độc quá lâu. Câu nhớ:

HỘ TRÌ CĂN HÔM NAY CÒN LÀ BIẾT CHỌN CÁI GÌ CHO MẮT VÀ TAI MÌNH ĂN.

VIII. CHÁNH CẦN THỨ HAI

BẤT THIỆN ĐÃ SINH → BỎ

Sân đã sinh: Biết sân. Tham đã sinh: Biết tham. Ganh đã sinh: Biết ganh. Chấp đã sinh: Biết chấp. Không giả: “Tôi không sân.” Mà nhận: “Đang có sân.” Sau đó: Không hành. Không nuôi. Làm giảm.

IX. BỎ KHÔNG PHẢI DÙNG SÂN ĐỂ ĐUỔI SÂN

Nếu dùng ghét mình để bỏ tham: Lại thêm sân. Nếu dùng sân để đuổi sân: Lại thêm một lớp bất thiện. Cách bỏ có thể là: Đổi đề mục. Trở về hơi thở. Niệm Phật. Quán hậu quả. Quán vô thường. Khởi tâm từ. Rời tình huống tạm thời. Dừng hành động.

X. KINH AN TRÚ TẦM – VITAKKASAṆṬHĀNA SUTTA

Nguồn: Trung Bộ – Majjhima Nikāya.

MN 20.

Vitakkasaṇṭhāna Sutta. Tiếng Việt thường dịch:

Kinh An Trú Tầm / Kinh Đình Chỉ Các Tầm.

Bài kinh trình bày nhiều phương pháp xử lý những tư duy bất thiện. Đại ý: Có thể thay bằng đề mục thiện. Quán nguy hại. Không chú ý. Làm lắng tiến trình tâm. Khi cần, dùng nỗ lực mạnh để chế ngự.

XI. ĐỔI ĐỀ MỤC

Khi sân chạy liên tục: Có thể: Niệm Phật. Đi bộ. Thở. Đọc một câu kinh. Làm việc thiện. Rời điện thoại. Đổi duyên để bất thiện không tiếp tục được nuôi.

XII. QUÁN NGUY HẠI

Hỏi: “Nếu nói câu này, hậu quả là gì?” “Nếu trả lời lúc sân, ngày mai có hối không?” “Nếu giữ oán một tuần, ai mệt?” Quán hậu quả làm bất thiện yếu.

XIII. KHÔNG CHO BẤT THIỆN ĂN

Sân cần câu chuyện. Tham cần tưởng tượng. Ganh cần so sánh. Hận cần nhắc lại. Câu nhớ:

KHÔNG PHẢI NIỆM NÀO CŨNG CẦN ĐÁNH.

NHIỀU NIỆM CHỈ CẦN NGỪNG CHO ĂN.

XIV. CÔNG THỨC BỎ BẤT THIỆN

BẤT THIỆN ĐÃ SINH

→ BIẾT

→ KHÔNG HÀNH

→ KHÔNG NUÔI

→ ĐỔI DUYÊN

→ QUÁN HẬU QUẢ

→ TRỞ VỀ.

Bản ngắn: BIẾT

→ DỪNG

→ KHÔNG NUÔI

→ CHUYỂN.

XV. CHÁNH CẦN THỨ BA

THIỆN CHƯA SINH → LÀM CHO SINH

Tu không chỉ: “Đừng sân.” Còn phải: SINH TỪ. Không chỉ: “Đừng tham.” Còn phải: SINH BIẾT ĐỦ. Không chỉ: “Đừng nói ác.” Còn phải: NÓI LÀNH. Không chỉ: “Đừng lười.” Còn phải: SINH TINH TẤN. Câu nhớ:

TU KHÔNG CHỈ NHỔ CỎ.

CÒN PHẢI TRỒNG HOA.

XVI. SINH THIỆN BẰNG ĐỐI TRỊ

Sân: Khởi từ. Ganh: Khởi hỷ. Keo: Bố thí. Phóng dật: Tinh tấn. Tán: Định. Si: Học và quán.

XVII. TỨ VÔ LƯỢNG TÂM – BRAHMAVIHĀRA

Pāli/Sanskrit: brahmavihāra. Tiếng Việt: bốn tâm vô lượng / bốn phạm trú. Gồm: mettā / maitrī – từ. karuṇā – bi. muditā – hỷ. upekkhā / upekṣā – xả. Đây là những thiện pháp rất quan trọng để làm sinh và nuôi lớn.

XVIII. TỪ – METTĀ / MAITRĪ

Mettā / maitrī: Tâm mong người được an vui. Khi sân, có thể khởi: “Người này cũng muốn an.” Không bao che việc sai. Chỉ không nuôi hận.

XIX. BI – KARUṆĀ

Karuṇā: Lòng thương trước khổ. Thấy: “Người này cũng đang bị tham sân si kéo.” Tâm sân có thể bớt độc.

XX. HỶ – MUDITĀ

Muditā: Vui trước thiện và hạnh phúc của người. Đây là pháp đối trị ganh rất quý. Người khác thành công: “Điều tốt của họ không lấy mất phần thiện của tôi.”

XXI. XẢ – UPEKKHĀ / UPEKṢĀ

Upekkhā / upekṣā: Xả, quân bình. Không phải lạnh. Không bị thương ghét kéo lệch.

XXII. THIỆN PHẢI ĐƯỢC TẬP

Muốn từ: Tập từ. Muốn tín: Tập giữ lời. Muốn định: Tập trở về. Muốn buông: Tập buông. Đừng chờ phẩm chất tốt tự lớn.

XXIII. CHÁNH CẦN THỨ TƯ

THIỆN ĐÃ SINH → GIỮ VÀ TĂNG

Một lần nhẫn: Chưa đủ. Một lần giữ giới: Chưa đủ. Một lần niệm Phật có định: Chưa đủ. Thiện phải được: DUY TRÌ. LẶP. LÀM TĂNG. Từ hành vi thành thói quen. Từ thói quen thành phẩm chất. Từ phẩm chất thành đức. Câu nhớ:

THIỆN SINH ĐƯỢC ĐÃ QUÝ.

GIỮ THIỆN KHỎI MẤT CÒN QUÝ HƠN.

XXIV. THIỆN CŨNG CẦN DUYÊN

Thiện cũng là pháp hữu vi. Nếu không nuôi, có thể yếu. Câu nhớ:

VÌ THIỆN CŨNG VÔ THƯỜNG, NÊN THIỆN PHẢI ĐƯỢC CHĂM.

XXV. CHĂM THIỆN NHƯ CHĂM LỬA

Lửa mới nhóm: Dễ tắt. Tâm thiện mới sinh: Cũng yếu. Một chút giới. Một chút niệm Phật. Một chút từ. Phải che. Phải tưới. Phải lặp. Lâu ngày thành lực.

XXVI. CÔNG THỨC GIỮ THIỆN

THIỆN ĐÃ SINH

→ NHỚ

→ LẶP

→ BẢO VỆ DUYÊN

→ TĂNG TRƯỞNG

→ THÀNH PHẨM CHẤT.

Bản ngắn: THIỆN

→ LẶP

→ BỀN

→ ĐỨC.

XXVII. TỨ CHÁNH CẦN VÀ ĐỊNH LỰC

Công thức Định lực: THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

Tứ Chánh Cần giữ chuỗi này không đứt. THẬT: Nhận diện đúng tâm. TÍN: Lặp điều đúng. THIỆN: Khởi thiện. GIỚI: Ngăn bất thiện. ĐỊNH: Giữ tâm. TUỆ: Biết cái gì cần bỏ và cái gì cần nuôi. LỰC: Kết quả của sự lặp lâu ngày.

XXVIII. LỰC ĐƯỢC TẠO BẰNG LẶP

Một lần dừng sân: Một sợi. Lặp nhiều lần: Thành dây. Một hành vi đúng lặp lâu: Thành thói quen. Thói quen thiện đủ lâu: Thành nội lực. Câu nhớ:

LỰC = ĐIỀU ĐÚNG ĐƯỢC LẶP ĐỦ LÂU.

XXIX. TỨ CHÁNH CẦN VÀ CÔNG THỨC TAM TẠNG

BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

Tứ Chánh Cần triển khai: BỎ ÁC: Ngăn bất thiện chưa sinh. Bỏ bất thiện đã sinh. LÀM LÀNH: Sinh thiện chưa có. Giữ thiện đã có. LÀM SẠCH TÂM: Cả tiến trình được lặp liên tục.

XXX. PHÁP CÚ 183 VÀ TỨ CHÁNH CẦN

Nguồn:

Kinh Pháp Cú – Dhammapada, kệ 183.

Bản dịch quen thuộc theo ý: Không làm các điều ác. Thành tựu các hạnh lành. Giữ tâm ý trong sạch. Đó là lời chư Phật dạy. Tứ Chánh Cần là bộ máy thực hành chi tiết cho tinh thần ấy.

XXXI. TỨ CHÁNH CẦN VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

Tứ Chánh Cần giúp: Nhận bất thiện sớm. Không nuôi. Bỏ. Sinh thiện thay thế. Giữ thiện. Buông mà không nuôi thiện thì bất thiện rất dễ quay lại.

XXXII. TỨ CHÁNH CẦN VÀ CÔNG THỨC PHẬT

THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

THẤY: Bất thiện đang có. TỈNH: Không cho lớn. BUÔNG: Không nuôi. SÁNG: Biết sinh và giữ thiện.

XXXIII. TỨ CHÁNH CẦN VÀ VÔ THƯỜNG

Vì tâm hành vô thường: Bất thiện có thể giảm. Thiện có thể tăng. Câu nhớ:

VÌ TÂM ĐỔI ĐƯỢC NÊN TINH TẤN CÓ Ý NGHĨA.

XXXIV. TỨ CHÁNH CẦN VÀ VÔ NGÃ

Nếu nói: “Tôi là người sân rồi.” dễ bỏ tập. Nếu nói: “Đang có tập khí sân.” còn đường sửa. Câu nhớ: VÔ NGÃ MỞ CỬA.

TỨ CHÁNH CẦN CHỈ CÁCH BƯỚC QUA CỬA.

XXXV. TỨ CHÁNH CẦN VÀ NGHIỆP – KAMMA / KARMA

Pāli:

kamma.

Sanskrit:

karma. Tiếng Việt: nghiệp. Mỗi lần ngăn một hành vi bất thiện: Bớt tạo nghiệp bất thiện theo hướng đó. Mỗi lần làm thiện: Tạo thêm duyên thiện. Tứ Chánh Cần là cách can thiệp vào dòng nghiệp hiện tại.

XXXVI. NGHIỆP KHÔNG PHẢI ĐỊNH MỆNH

Nếu nghiệp là định mệnh cứng: Không cần tinh tấn. Nhưng Phật pháp dạy tinh tấn. Điều đó cho thấy hiện tại có khả năng tạo điều kiện mới. Câu nhớ:

KHÔNG PHẢI CÁI GÌ ĐÃ GIEO CŨNG MẤT.

NHƯNG MÌNH CÓ THỂ NGỪNG GIEO THÊM CÁI ĐANG LÀM KHỔ.

XXXVII. CHÁNH NIỆM VÀ CHÁNH TINH TẤN

CHÁNH NIỆM: Biết cái gì đang có. CHÁNH TINH TẤN: Biết phải làm gì với cái đang có. Câu nhớ: CHÁNH NIỆM THẤY.

CHÁNH TINH TẤN CHUYỂN.

XXXVIII. TỨ CHÁNH CẦN VÀ ĐỊNH

Bất thiện giảm: Tâm bớt nhiễu. Thiện tăng: Tâm nhẹ. Giới vững: Ít hối. Ít hối: Dễ an. An: Dễ định.

XXXIX. NĂM TRIỀN CÁI – PAÑCA NĪVARAṆA

Pāli:

pañca nīvaraṇa.

Sanskrit:

pañca nivaraṇa. Gồm: kāmacchanda – dục tham. byāpāda – sân/hại tâm. thīna-middha – hôn trầm, thụy miên. uddhacca-kukkucca – trạo cử, hối. vicikicchā – nghi. Tứ Chánh Cần có thể áp dụng trực tiếp vào năm triền cái.

XL. DỤC THAM – KĀMACCHANDA

Chưa sinh: Giảm duyên kích thích. Đã sinh: Nhận, đổi đề mục, quán hậu quả. Biết đủ chưa sinh: Khởi. Biết đủ đã sinh: Giữ.

XLI. SÂN – BYĀPĀDA

Chưa sinh: Tránh tranh lúc tâm yếu. Đã sinh: Dừng lời, quán từ. Từ chưa sinh: Khởi. Từ đã sinh: Giữ.

XLII. HÔN TRẦM – THĪNA-MIDDHA

Chưa sinh: Ngủ đủ, ăn hợp. Đã sinh: Đổi tư thế, đi kinh hành, mở mắt. Tinh tấn chưa sinh: Khởi. Tinh tấn đã có: Giữ.

XLIII. TRẠO CỬ – UDDHACCA, HỐI – KUKKUCCA

Chưa sinh: Giảm kích thích. Đã sinh: Trở về thân, hơi thở, Phật hiệu. An tĩnh chưa sinh: Khởi. An tĩnh đã có: Giữ.

XLIV. NGHI – VICIKICCHĀ

Nghi chân chánh để tìm hiểu không xấu. Nhưng nghi làm tâm đứng yên không bước được là chướng ngại. Chưa sinh: Học nguồn rõ. Đã sinh: Hỏi, đối chiếu, thực hành. Chánh kiến chưa sinh: Khởi. Chánh kiến đã có: Nuôi.

XLV. TỨ CHÁNH CẦN VÀ NIỆM PHẬT

Đang niệm:

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.

Vọng chưa sinh mạnh: Giữ câu Phật hiệu. Vọng đã sinh: Biết, không theo, trở về. Tâm định chưa sinh: Niệm đều. Tâm định đã sinh: Giữ nhẹ nhàng.

XLVI. TỨ CHÁNH CẦN VÀ LỜI NÓI

Lời ác chưa sinh: Dừng trước miệng. Lời ác đã nói: Nhận và sửa. Lời lành chưa sinh: Chủ động nói. Thói quen nói lành đã có: Giữ.

XLVII. TỨ CHÁNH CẦN VÀ MẠNG XÃ HỘI

Trước bình luận: Xem tâm có đủ vững không. Sân chưa sinh: Ngăn. Sân đã sinh: Không trả lời ngay. Từ chưa sinh: Khởi. Từ đã có: Giữ cách nói lành.

XLVIII. TỨ CHÁNH CẦN VÀ VẬT CHẤT

Tham chưa sinh: Giảm kích thích. Tham đã sinh: Dừng mua. Biết đủ chưa sinh: Khởi. Bố thí đã có: Duy trì.

XLIX. TỨ CHÁNH CẦN VÀ TÌNH CẢM

Chấp chưa sinh: Tôn trọng ranh giới. Chấp đã sinh: Soi “của tôi”. Từ chưa sinh: Khởi. Từ đã sinh: Giữ mà không sở hữu.

L. TỨ CHÁNH CẦN VÀ CÁI TÔI

Tự ái chưa sinh: Đừng nuôi hình ảnh quá lớn. Tự ái đã sinh: Thấy “tôi đang bị chạm”. Khiêm hạ chưa sinh: Khởi. Khiêm hạ đã có: Giữ.

LI. TỨ CHÁNH CẦN VÀ CHỮ TÍN

Muốn giữ tín: Giảm duyên thất hứa. Lỡ thất hứa: Nhận và sửa. Khả năng giữ lời chưa mạnh: Bắt đầu từ lời hứa nhỏ. Đã giữ được: Tiếp tục.

LII. TỨ CHÁNH CẦN VÀ GIỚI

Câu nhớ:

GIỚI CHO BIẾT RANH GIỚI.

CHÁNH CẦN CHO SỨC GIỮ RANH GIỚI.

Ví dụ nói thật: Ý nói dối chưa sinh: Ngăn. Đã sinh: Dừng. Chân thật chưa mạnh: Khởi. Chân thật đã mạnh: Giữ.

LIII. TỨ CHÁNH CẦN VÀ ĐỨC HẠNH

HÀNH ĐÚNG

→ LẶP

→ THÓI QUEN

→ PHẨM CHẤT

→ ĐỨC HẠNH.

Tứ Chánh Cần là bộ máy của chuỗi này: NGĂN SAI. BỎ SAI. SINH ĐÚNG. GIỮ ĐÚNG.

LIV. TỨ CHÁNH CẦN VÀ HƯƠNG ĐỨC HẠNH

Câu nhớ:

CHÁNH CẦN LÀ CÔNG VIỆC KÍN.

ĐỨC HẠNH LÀ QUẢ HIỆN RA.

LV. TỨ CHÁNH CẦN VÀ PHÁP THÍ

Muốn khoe chưa sinh: Ngăn. Muốn thắng đã sinh: Bỏ. Từ chưa có: Khởi. Chân thật đã có: Giữ. Người nói Pháp cũng đang tu ngay trong khi nói.

LVI. TỨ CHÁNH CẦN VÀ ĐẠI NGUYỆN

Đại nguyện cho hướng. Tứ Chánh Cần cho bước chân mỗi ngày. Câu nhớ:

ĐẠI NGUYỆN CHO HƯỚNG.

TỨ CHÁNH CẦN CHO BƯỚC.

LVII. ĐỪNG CHỈ BỎ XẤU

Tu không phải chỉ: Cấm. Đừng. Bỏ. Còn phải: SINH THIỆN. NUÔI THIỆN. Công thức: GIẢM BẤT THIỆN + TĂNG THIỆN.

LVIII. TỨ CHÁNH CẦN KHÔNG PHẢI TỰ GHÉT MÌNH

Nếu sân đã sinh: Không nói: “Tôi dở quá.” Chỉ: “Bất thiện đã sinh.” Rồi dùng bước 2: Bỏ. Tứ Chánh Cần xử lý trạng thái. Không kết án con người.

LIX. CÔNG THỨC ĐỜI THƯỜNG

CHƯA XẤU: ĐỪNG CHO XẤU. ĐÃ XẤU: DỪNG XẤU. CHƯA TỐT: LÀM TỐT. ĐÃ TỐT: GIỮ TỐT.

LX. CÔNG THỨC TỨ CHÁNH CẦN

Bản đầy đủ: TỨ CHÁNH CẦN

= NGĂN BẤT THIỆN CHƯA SINH

+ BỎ BẤT THIỆN ĐÃ SINH

+ SINH THIỆN CHƯA CÓ

+ GIỮ VÀ TĂNG THIỆN ĐÃ CÓ.

Bản chuỗi: NGĂN

→ BỎ

→ SINH

→ GIỮ.

Bản cực ngắn: NGĂN XẤU. BỎ XẤU. SINH TỐT. GIỮ TỐT.

LXI. TỨ CHÁNH CẦN VÀ LỰC

Công thức Định lực: THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

LỰC đến từ: Ngăn đúng nhiều lần. Bỏ đúng nhiều lần. Sinh thiện nhiều lần. Giữ thiện nhiều lần. Câu nhớ:

NỘI LỰC LÀ THIỆN PHÁP ĐÃ ĐƯỢC BẢO VỆ ĐỦ LÂU.

LXII. TỨ CHÁNH CẦN VÀ CHỮ THẬT

Không nhận sân: Không bỏ sân được. Không nhận ganh: Không sinh hỷ được. Câu nhớ:

THẬT LÀ CỬA NHẬN DIỆN.

CHÁNH CẦN LÀ CỬA CHUYỂN HÓA.

LXIII. TỨ CHÁNH CẦN VÀ THIỆN

Thiện có thể rất nhỏ: Một lời không trả đũa. Một câu không nói độc. Một hơi thở biết mình. Một lần giữ lời. Một lần nhận sai. Một lần niệm Phật trở về. Tất cả đều góp vào lực.

LXIV. TỨ CHÁNH CẦN VÀ ĐỊNH

Bất thiện ít: Tâm bớt nhiễu. Thiện nhiều: Tâm nhẹ. Giới vững: Ít hối. Ít hối: Dễ an. An: Dễ định.

LXV. TỨ CHÁNH CẦN VÀ TUỆ

Tuệ quyết định: Cái gì cần ngăn? Cái gì cần bỏ? Cái gì nên sinh? Cái gì nên giữ? Không có tuệ: Tinh tấn dễ thành cố chấp.

LXVI. MỘT TIẾN TRÌNH TỪ GIỚI TỚI ĐỊNH

Trong Tăng Chi Bộ – Aṅguttara Nikāya có những bài kinh trình bày tiến trình từ giới hạnh tới không hối, hân hoan, hỷ, an tịnh, lạc, định... Một bài thường được nhắc:

AN 10.2 – Cetanākaraṇīya Sutta.

Tên Việt có thể khác theo bản dịch. Ý thực hành:

GIỚI VÀ THIỆN PHÁP LÀM TÂM NHẸ.

TÂM NHẸ HỖ TRỢ ĐỊNH.

LXVII. KHÔNG HỐI LÀ QUẢ RẤT QUÝ

Ngăn một lời ác trước khi nói: Bớt một lần hối. Câu nhớ:

NGĂN MỘT LỜI ÁC TRƯỚC KHI NÓI LÀ BỚT MỘT LẦN SÁM HỐI SAU KHI NÓI.

LXVIII. TỨ CHÁNH CẦN TRONG MỘT NGÀY

BUỔI SÁNG: Ngăn. TRONG NGÀY: Bỏ. GẶP CƠ HỘI: Sinh thiện. CUỐI NGÀY: Giữ thiện.

LXIX. THỜI KHÓA SÁNG

Hỏi:

1. Hôm nay tôi cần tránh duyên bất thiện nào?

2. Tâm bất thiện nào dễ sinh?

3. Thiện nào tôi muốn khởi?

4. Thiện nào tôi đã có cần giữ?

LXX. THỜI KHÓA TRƯA

Hỏi: Từ sáng tới giờ: Bất thiện nào đã sinh? Thiện nào đã có? Nếu sân: Bỏ. Nếu từ: Giữ. Nếu loạn: Trở về. Nếu thiện chưa có: Khởi.

LXXI. THỜI KHÓA TỐI

Hỏi: Bất thiện nào hôm nay tôi ngăn được? Bất thiện nào đã sinh nhưng tôi dừng được? Thiện nào tôi làm sinh? Thiện nào tôi duy trì được? Đây là nhật ký Tứ Chánh Cần.

LXXII. KHÔNG DÙNG NHẬT KÝ ĐỂ TỰ ĐÁNH

Làm chưa tốt: Ghi. Học. Sửa. Không kết án. Hỏi: “Duyên nào làm mình yếu?” Đó là tu có trí.

LXXIII. BÀI THỰC HÀNH 7 NGÀY TỨ CHÁNH CẦN

NGÀY 1 – NGĂN: Chọn một duyên làm mình dễ sân và giảm nó. NGÀY 2 – BỎ: Khi bất thiện sinh, không hành theo trong 10 phút đầu. NGÀY 3 – SINH: Chủ động làm một việc thiện chưa quen. NGÀY 4 – GIỮ: Lặp lại một việc thiện của hôm trước. NGÀY 5 – KHẨU: Áp dụng bốn bước vào lời nói.

NGÀY 6 – ĐIỆN THOẠI:

Áp dụng bốn bước vào thói quen dùng điện thoại. NGÀY 7 – TỔNG HỢP: Viết bốn cột: NGĂN. BỎ. SINH. GIỮ.

LXXIV. BÀI TẬP BỐN CỘT

CỘT 1:

BẤT THIỆN CHƯA SINH – TÔI SẼ NGĂN BẰNG GÌ?

CỘT 2:

BẤT THIỆN ĐÃ SINH – TÔI SẼ BỎ BẰNG GÌ?

CỘT 3:

THIỆN CHƯA SINH – TÔI SẼ KHỞI BẰNG GÌ?

CỘT 4:

THIỆN ĐÃ SINH – TÔI SẼ GIỮ BẰNG GÌ?

LXXV. TỨ CHÁNH CẦN DÙNG ĐƯỢC TRONG NHIỀU PHÁP MÔN

Thiền: Dùng được. Niệm Phật: Dùng được. Tụng kinh: Dùng được. Giữ giới: Dùng được. Bố thí: Dùng được. Pháp thí: Dùng được. Vì đây là nguyên tắc chuyển hóa chung.

LXXVI. NGƯỜI MỚI TU

Không cần sửa mọi thứ cùng lúc. Mỗi tuần: Giảm một bất thiện. Tăng một thiện. Ví dụ: Giảm nói nóng. Tăng giữ lời. Làm đủ lâu. Nội lực sẽ lớn.

LXXVII. NGƯỜI HỌC NHIỀU

Đừng chỉ hỏi: “Hôm nay học thêm gì?” Hãy hỏi: “Hôm nay tôi đã giảm gì?” “Hôm nay tôi đã nuôi gì?” Câu nhớ:

PHÁP HỌC PHẢI ĐI XUỐNG THÀNH PHÁP HÀNH.

LXXVIII. BỐN CÔNG THỨC HỢP VỚI TỨ CHÁNH CẦN

CÔNG THỨC TAM TẠNG:

BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

Tứ Chánh Cần: Làm chi tiết cách bỏ ác và làm lành.

CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC:

THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

Tứ Chánh Cần: Nuôi lực.

CÔNG THỨC BUÔNG:

NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

Tứ Chánh Cần: Không cho bất thiện quay lại chiếm đất.

CÔNG THỨC PHẬT:

THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

Tứ Chánh Cần: Làm cho khả năng tỉnh trở thành kỹ năng.

LXXIX. CÔNG THỨC LỚN CỦA CHƯƠNG

THẤY ĐÚNG

→ NGĂN ĐÚNG

→ BỎ ĐÚNG

→ SINH ĐÚNG

→ GIỮ ĐÚNG

→ LẶP ĐÚNG

→ THÀNH LỰC.

Bản ngắn: NGĂN

→ BỎ

→ SINH

→ GIỮ

→ LẶP

→ LỰC.

Bản cực ngắn: GIẢM XẤU. TĂNG TỐT. GIỮ LÂU. THÀNH LỰC.

LXXX. CÂU KẾT

Người tu không cần chờ một ngày đặc biệt mới thay đổi. Sự thay đổi xảy ra trong những khoảnh khắc rất nhỏ: Một lời ác chưa nói. Một cơn sân đã dừng. Một niệm từ vừa được khởi. Một lời thật được giữ. Một lần niệm Phật tâm chạy rồi trở về. Một lần muốn trả đũa nhưng thôi.

Một lần thấy người thành công mà tập vui theo. Một lần muốn kể công nhưng không kể. Một lần mệt mà biết nghỉ thay vì nuôi cái tôi. Đó là Tứ Chánh Cần. Không ồn. Không thần bí. Nhưng làm lâu ngày, nó đổi con người. Ban đầu: Mình giữ giới. Sau: Giới giữ mình. Ban đầu: Mình cố nói thật.

Sau: Nói dối làm tâm khó chịu. Ban đầu: Mình cố buông. Sau: Chấp nặng là mình nhận ra nhanh. Ban đầu: Mình kéo tâm về. Sau: Tâm biết đường trở về. Đó là lúc thiện đã có lực. Vậy mỗi ngày chỉ cần nhớ:

CÁI XẤU NÀO CHƯA SINH:

ĐỪNG CHO NÓ SINH.

CÁI XẤU NÀO ĐÃ SINH:

ĐỪNG NUÔI NÓ NỮA.

CÁI TỐT NÀO CHƯA CÓ:

HÃY GIEO. CÁI TỐT NÀO ĐÃ CÓ: HÃY TƯỚI. LÀM ĐỦ LÂU: THIỆN THÀNH ĐỨC. ĐỨC THÀNH LỰC. LỰC NÂNG ĐỊNH. ĐỊNH NÂNG TUỆ. TUỆ GIÚP BUÔNG.

BUÔNG LÀM TÂM SÁNG.

ĐÓ LÀ TỨ CHÁNH CẦN ĐI VÀO BỐN CÔNG THỨC VÀ TRỞ THÀNH MỘT CON ĐƯỜNG SỐNG.

CHƯƠNG 23
BÁT CHÁNH ĐẠO – CON ĐƯỜNG TÁM MẶT CỦA MỘT ĐỜI SỐNG ĐÚNG

Nếu bốn công thức trong cuốn sách này là cách hệ thống hóa để dễ nhớ và dễ hành, một câu hỏi rất quan trọng là: Chúng đứng ở đâu trong toàn bộ con đường Phật dạy? Một câu trả lời rất đẹp là:

CÓ THỂ SOI BỐN CÔNG THỨC QUA BÁT CHÁNH ĐẠO.

Bát Chánh Đạo không phải tám môn học rời. Đó là tám mặt của một đời sống đang đi đúng hướng. Cách thấy. Cách nghĩ. Cách nói. Cách làm. Cách sống. Cách cố gắng. Cách nhớ biết. Cách gom tâm. Câu nhớ:

BÁT CHÁNH ĐẠO KHÔNG PHẢI TÁM MÔN HỌC.

ĐÓ LÀ TÁM MẶT CỦA MỘT ĐỜI SỐNG ĐANG ĐI ĐÚNG HƯỚNG.

I. BÁT CHÁNH ĐẠO – ARIYA AṬṬHAṄGIKA MAGGA / ĀRYĀṢṬĀṄGAMĀRGA

Pāli:

Ariya Aṭṭhaṅgika Magga.

Sanskrit:

Āryāṣṭāṅgamārga. Tiếng Việt: Bát Chánh Đạo / Thánh Đạo tám ngành. Tám chi:

1. CHÁNH KIẾN – sammā-diṭṭhi / samyag-dṛṣṭi.

2. CHÁNH TƯ DUY – sammā-saṅkappa / samyak-saṃkalpa.

3. CHÁNH NGỮ – sammā-vācā / samyag-vāc.

4. CHÁNH NGHIỆP – sammā-kammanta / samyak-karmānta.

5. CHÁNH MẠNG – sammā-ājīva / samyag-ājīva.

6. CHÁNH TINH TẤN – sammā-vāyāma / samyag-vyāyāma.

7. CHÁNH NIỆM – sammā-sati / samyak-smṛti.

8. CHÁNH ĐỊNH – sammā-samādhi / samyak-samādhi.

II. KINH CHUYỂN PHÁP LUÂN

Nguồn: Tương Ưng Bộ – Saṃyutta Nikāya.

SN 56.11.

Dhammacakkappavattana Sutta.

Sanskrit:

Dharmacakrapravartana Sūtra. Tiếng Việt:

Kinh Chuyển Pháp Luân / Kinh Chuyển Bánh Xe Pháp.

Bài kinh trình bày: Khổ. Nguồn gốc khổ. Sự diệt khổ. Con đường đưa tới diệt khổ. Con đường ấy là Bát Chánh Đạo.

III. BÁT CHÁNH ĐẠO KHÔNG PHẢI TÁM BẬC THANG CỨNG

Tám chi hỗ trợ lẫn nhau. Chánh kiến giúp nói đúng. Chánh ngữ làm ít hối. Ít hối hỗ trợ định. Định hỗ trợ thấy sâu. Thấy sâu làm Chánh kiến mạnh hơn. Vì vậy Bát Chánh Đạo là một hệ thống tương hỗ.

IV. BA HỌC – GIỚI, ĐỊNH, TUỆ

Bát Chánh Đạo thường được nhóm thành ba phần: TUỆ – paññā / prajñā: Chánh kiến. Chánh tư duy. GIỚI – sīla / śīla: Chánh ngữ. Chánh nghiệp. Chánh mạng. ĐỊNH – samādhi: Chánh tinh tấn. Chánh niệm. Chánh định. Câu nhớ: TUỆ BIẾT ĐƯỜNG. GIỚI GIỮ ĐƯỜNG.

ĐỊNH GIÚP ĐI VỮNG TRÊN ĐƯỜNG.

V. CHÁNH KIẾN – SAMMĀ-DIṬṬHI / SAMYAG-DṚṢṬI

Chánh kiến là thấy đúng. Không chỉ thuộc giáo lý. Mà thấy: Thiện khác bất thiện. Hành động có hậu quả. Vô thường là vô thường. Chấp thủ làm khổ tăng. Duyên khởi vận hành. Tâm có thể được tu. Câu nhớ:

ĐI ĐÚNG KHÔNG BẮT ĐẦU Ở BƯỚC CHÂN.

ĐI ĐÚNG BẮT ĐẦU Ở CÁI THẤY.

VI. KINH CHÁNH TRI KIẾN – SAMMĀDIṬṬHI SUTTA

Nguồn: Trung Bộ – Majjhima Nikāya.

MN 9.

Sammādiṭṭhi Sutta. Tiếng Việt:

Kinh Chánh Tri Kiến / Kinh Chánh Kiến.

Bài kinh trình bày nhiều phương diện của Chánh kiến: Thiện và bất thiện. Bốn Thánh Đế. Duyên khởi. Những mối nhân duyên căn bản.

VII. CHÁNH KIẾN VÀ CÔNG THỨC PHẬT

Công thức Phật: THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

Chữ THẤY phải được Chánh kiến soi. Nếu thấy sai: Tỉnh dễ sai hướng. Câu nhớ:

THẤY MÀ THIẾU CHÁNH KIẾN CÓ THỂ CHỈ LÀ THẤY THEO TẬP KHÍ.

VIII. CHÁNH KIẾN VÀ VÔ THƯỜNG

Thấy người thay đổi không nhất thiết lập tức kết luận: “Người này xấu.” Có thể thấy: Duyên đổi. Tâm đổi. Hành vi có hậu quả. Đó là Chánh kiến có vô thường.

IX. CHÁNH KIẾN VÀ VÔ NGÃ

Thay: “Đây là bản chất tôi” bằng: “Đang có trạng thái này.” Đó là Chánh kiến có vô ngã.

X. CHÁNH KIẾN VÀ NGHIỆP

Pāli:

kamma.

Sanskrit:

karma. Tiếng Việt: nghiệp. Chánh kiến thấy hành động có tác ý có hậu quả. Vô ngã không xóa trách nhiệm.

XI. CHÁNH TƯ DUY – SAMMĀ-SAṄKAPPA / SAMYAK-SAṂKALPA

Pāli:

sammā-saṅkappa.

Sanskrit:

samyak-saṃkalpa. Tiếng Việt: Chánh tư duy / ý hướng chân chánh. Theo trình bày kinh điển Pāli, thường gồm: nekkhamma-saṅkappa – ý hướng xuất ly, ly dục. avyāpāda-saṅkappa – ý hướng không sân. avihiṃsā-saṅkappa – ý hướng không hại.

XII. LY DỤC – NEKKHAMMA / NAIṢKRAMYA

Pāli:

nekkhamma.

Sanskrit:

naiṣkramya. Tiếng Việt: xuất ly, ly dục. Ly dục không phải ghét mọi điều dễ chịu. Câu nhớ:

LY DỤC KHÔNG PHẢI KHÔNG ĐƯỢC THÍCH.

LÀ KHÔNG PHẢI LÀM NÔ LỆ CHO CÁI THÍCH.

XIII. KHÔNG SÂN – AVYĀPĀDA

Thấy người sai nhưng không nuôi: “Mong người đó khổ.” Đó là ý hướng không sân.

XIV. KHÔNG HẠI – AVIHIṂSĀ / AHIṂSĀ

Pāli:

avihiṃsā.

Sanskrit:

ahiṃsā. Tiếng Việt: bất hại. Một điều đúng nếu được dùng để làm nhục người vẫn phải soi.

XV. CHÁNH TƯ DUY VÀ LÀM SẠCH TÂM

Công thức: BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

Chánh tư duy giúp: Bớt ý ác. Sinh ý thiện. Làm động cơ sạch hơn.

XVI. CHÁNH NGỮ – SAMMĀ-VĀCĀ / SAMYAG-VĀC

Pāli:

sammā-vācā.

Sanskrit:

samyag-vāc. Tiếng Việt: Chánh ngữ. Trong kinh điển Pāli, Chánh ngữ thường được trình bày bằng việc từ bỏ: musāvāda – nói dối. pisuṇā vācā – lời chia rẽ. pharusā vācā – lời thô ác. samphappalāpa – lời phù phiếm, vô ích.

XVII. KINH VƯƠNG TỬ VÔ ÚY – ABHAYARĀJAKUMĀRA SUTTA

Nguồn: Trung Bộ – Majjhima Nikāya.

MN 58.

Abhayarājakumāra Sutta. Tiếng Việt:

Kinh Vương Tử Vô Úy.

Tinh thần bài kinh: Như Lai không nói điều không thật. Điều thật nhưng không lợi ích thì không nói. Điều thật và có lợi ích thì biết thời để nói. Nền của lời nói là lòng thương. Khi trích nguyên văn phải đối chiếu bản dịch cụ thể.

XVIII. CHÁNH NGỮ KHÔNG PHẢI NÓI HẾT MỌI SỰ THẬT

Công thức hệ thống hóa: THẬT + LỢI ÍCH + ĐÚNG THỜI + TỪ BI

= LỜI NÓI GẦN CHÁNH NGỮ.

XIX. CHÁNH NGỮ VÀ ĐỊNH LỰC

Mỗi lần muốn nói lời độc mà dừng: Tâm bớt tán. Câu nhớ:

CHÁNH NGỮ KHÔNG CHỈ BẢO VỆ NGƯỜI NGHE.

NÓ BẢO VỆ TÂM NGƯỜI NÓI.

XX. CHÁNH NGHIỆP – SAMMĀ-KAMMANTA / SAMYAK-KARMĀNTA

Pāli:

sammā-kammanta.

Sanskrit:

samyak-karmānta. Tiếng Việt: Chánh nghiệp – hành động chân chánh. Trong kinh điển Pāli, thường nhấn mạnh từ bỏ: Sát sinh. Lấy của không cho. Tà hạnh trong dục. Đây là nền căn bản đối với cư sĩ. Giới luật xuất gia rộng hơn rất nhiều.

XXI. CHÁNH NGHIỆP LÀ PHÁP ĐI XUỐNG HÀNH VI

Biết từ nhưng vẫn làm hại: Chưa đủ. Biết thật nhưng vẫn lấy của không cho: Chưa đủ. Câu nhớ:

PHÁP CHƯA ĐI XUỐNG HÀNH VI THÌ PHÁP VẪN CÒN ĐỨNG Ở CỬA.

XXII. CHÁNH NGHIỆP VÀ CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC

THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI.

Chánh nghiệp là chỗ thiện đi thành hành vi và giới hạnh.

XXIII. CHÁNH MẠNG – SAMMĀ-ĀJĪVA / SAMYAG-ĀJĪVA

Pāli:

sammā-ājīva.

Sanskrit:

samyag-ājīva. Tiếng Việt: Chánh mạng – sinh kế chân chánh. Kiếm sống bằng cách không cố ý gây hại và không trái nền đạo đức của con đường.

XXIV. CHÁNH MẠNG VÀ CHỮ THẬT

Nếu nghề sống buộc mình liên tục: Gian dối. Lừa người. Tạo hại. Che sự thật. Tâm rất khó yên. Vì vậy Chánh mạng liên hệ rất sâu với chữ THẬT.

XXV. CHÁNH MẠNG VÀ ĐỊNH

Chánh mạng

→ giới hạnh

→ ít hối

→ tâm nhẹ

→ hỗ trợ định.

Đời sống nghề nghiệp có liên hệ trực tiếp tới sức khỏe nội tâm.

XXVI. CHÁNH TINH TẤN – SAMMĀ-VĀYĀMA / SAMYAG-VYĀYĀMA

Chánh tinh tấn được triển khai rất rõ bằng Tứ Chánh Cần: Ngăn bất thiện chưa sinh. Bỏ bất thiện đã sinh. Sinh thiện chưa có. Giữ và tăng thiện đã có.

XXVII. CHÁNH TINH TẤN PHẢI CÓ CHÁNH KIẾN

Nếu cái thấy sai: Càng cố càng có thể đi lệch. Chữ quan trọng là: CHÁNH. Không chỉ: TINH TẤN. Mà: CHÁNH TINH TẤN.

XXVIII. CHÁNH NIỆM – SAMMĀ-SATI / SAMYAK-SMṚTI

Pāli:

sammā-sati.

Sanskrit:

samyak-smṛti. Tiếng Việt: Chánh niệm. Không chỉ là chú ý. Chánh niệm nằm trong toàn bộ Bát Chánh Đạo.

XXIX. TỨ NIỆM XỨ – SATIPAṬṬHĀNA / SMṚTYUPASTHĀNA

Pāli:

satipaṭṭhāna.

Sanskrit:

smṛtyupasthāna. Bốn lĩnh vực: Thân. Thọ. Tâm. Pháp. Nguồn:

MN 10 – Satipaṭṭhāna Sutta – Kinh Niệm Xứ.

DN 22 – Mahāsatipaṭṭhāna Sutta – Kinh Đại Niệm Xứ.

XXX. CHÁNH NIỆM VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

Công thức: NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

Ba bước: NHẬN. SOI. THẤY. đều cần năng lực biết rõ của niệm và tuệ.

XXXI. CHÁNH ĐỊNH – SAMMĀ-SAMĀDHI / SAMYAK-SAMĀDHI

Pāli:

sammā-samādhi.

Sanskrit:

samyak-samādhi. Tiếng Việt: Chánh định. Trong kinh điển Pāli, Chánh định thường được định nghĩa qua bốn thiền: jhāna – Pāli. dhyāna – Sanskrit. Tiếng Việt: thiền định. Cần phân biệt: “định lực đời thường” với: các tầng Chánh định kỹ thuật trong kinh điển. Không nên tự đồng nhất khi chưa có căn cứ.

XXXII. ĐỊNH KHÔNG ĐỒNG NGHĨA CHÁNH ĐỊNH

Một người có thể tập trung rất mạnh để làm điều bất thiện. Đó không phải Chánh định. Câu nhớ: TÂM GOM CHƯA ĐỦ.

PHẢI GOM TRÊN MỘT CON ĐƯỜNG ĐÚNG.

XXXIII. CHÁNH ĐỊNH VÀ CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC

Công thức: THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

Bát Chánh Đạo cho thấy: Định phải được nâng bởi một đời sống có giới và Chánh kiến. Định không tách đạo đức.

XXXIV. BÁT CHÁNH ĐẠO NẰM TRONG ĐỜI THƯỜNG

Chánh kiến: Khi nhìn một việc. Chánh tư duy: Khi nổi giận. Chánh ngữ: Khi nhắn tin. Chánh nghiệp: Khi hành động. Chánh mạng: Khi kiếm sống. Chánh tinh tấn: Khi sửa thói quen. Chánh niệm: Khi bị chạm. Chánh định: Khi cần đứng vững.

XXXV. MỘT TIN NHẮN CÓ THỂ DÙNG ĐỦ TÁM CHI

Một tin nhắn làm mình giận. CHÁNH KIẾN: Thấy sự kiện và thọ đang sinh. CHÁNH TƯ DUY: Không nuôi ý hại. CHÁNH NGỮ: Không trả lời bằng lời độc. CHÁNH NGHIỆP: Không trả đũa. CHÁNH MẠNG: Không vì sân mà làm sai trách nhiệm nghề nghiệp. CHÁNH TINH TẤN: Ngăn sân tăng, bỏ sân đã sinh.

CHÁNH NIỆM: Biết thân, thọ, tâm. CHÁNH ĐỊNH: Giữ tâm đủ vững để chọn.

XXXVI. BÁT CHÁNH ĐẠO VÀ LỜI KHEN

Được khen. Chánh kiến: Khen là một pháp thế gian. Chánh tư duy: Không nuôi kiêu. Chánh ngữ: Nhận lời đúng mức. Chánh nghiệp: Không vì danh mà làm sai. Chánh tinh tấn: Ngăn phồng. Chánh niệm: Biết thọ dễ chịu. Chánh định: Không bị lời khen kéo.

XXXVII. BÁT CHÁNH ĐẠO VÀ LỜI CHÊ

Bị chê. Chánh kiến: Xem sự thật. Chánh tư duy: Không hại. Chánh ngữ: Không nói độc. Chánh nghiệp: Không trả đũa. Chánh tinh tấn: Bỏ sân. Chánh niệm: Thấy tâm. Chánh định: Đứng. Đúng: Sửa. Sai: Buông.

XXXVIII. BÁT CHÁNH ĐẠO VÀ VẬT CHẤT

Chánh kiến: Thấy vật chất là phương tiện và cách dùng có nhân quả. Chánh tư duy: Không nuôi tham vô độ. Chánh ngữ: Không lừa. Chánh nghiệp: Không lấy của không cho. Chánh mạng: Kiếm sống đúng. Chánh tinh tấn: Giảm tham. Chánh niệm: Biết cái muốn. Chánh định: Không quyết định khi bị tham hoặc sợ kéo.

XXXIX. BÁT CHÁNH ĐẠO VÀ TÌNH CẢM

Chánh kiến: Người là vô thường và có duyên riêng. Chánh tư duy: Không hại, không sở hữu. Chánh ngữ: Nói thật và có từ. Chánh nghiệp: Tôn trọng ranh giới. Chánh tinh tấn: Giảm chấp, sinh từ. Chánh niệm: Thấy thọ, sợ, chấp. Chánh định: Không mất mình khi người đổi.

XL. BÁT CHÁNH ĐẠO VÀ PHÁP THÍ

Chánh kiến: Nguồn đúng. Chánh tư duy: Nói vì lợi ích, không vì thắng. Chánh ngữ: Đúng, lợi ích, đúng thời. Chánh nghiệp: Sống gần với lời mình dạy. Chánh mạng: Không dùng Pháp làm công cụ bất thiện. Chánh tinh tấn: Sửa sai, giữ đúng. Chánh niệm: Thấy cái tôi khi nói Pháp. Chánh định:

Không bị khen chê kéo.

XLI. BÁT CHÁNH ĐẠO VÀ PHÁP CÚ 183

BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

Bát Chánh Đạo triển khai: Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng: Giữ giới. Chánh tinh tấn: Ngăn ác, sinh thiện. Chánh niệm, Chánh định: Huấn luyện tâm. Chánh kiến, Chánh tư duy: Làm cái thấy và động cơ sạch hơn.

XLII. BÁT CHÁNH ĐẠO VÀ CÔNG THỨC PHẬT

Công thức: THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

Cách nối thực hành: THẤY: Chánh kiến + Chánh niệm. TỈNH: Chánh tinh tấn + Chánh định. BUÔNG: Ý hướng xuất ly + tuệ vô thường, vô ngã, không chấp. SÁNG: Chánh kiến ngày càng sâu. Đây là cách hệ thống hóa của cuốn sách, không phải phân loại nguyên văn của kinh.

XLIII. BÁT CHÁNH ĐẠO VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

NHẬN: Chánh niệm. SOI: Chánh kiến. THẤY: Chánh kiến + tuệ. KHÔNG DÍNH: Chánh tinh tấn. KHÔNG CHẤP: Ý hướng xuất ly và tuệ vô ngã. BUÔNG: Xả đúng.

AN:

Giới sạch, ít hối, tâm định.

XLIV. BÁT CHÁNH ĐẠO VÀ CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC

THẬT: Chánh kiến + Chánh ngữ. TÍN: Sự nhất quán của Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng. THIỆN: Chánh tư duy, Chánh nghiệp, Chánh tinh tấn. GIỚI: Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng. ĐỊNH: Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. TUỆ: Chánh kiến, Chánh tư duy. LỰC: Kết quả của con đường được thực hành lâu dài.

XLV. CHỮ TÍN KHÔNG PHẢI MỘT CHI BÁT CHÁNH ĐẠO

Chữ tín trong công thức của cuốn sách là một phẩm chất thực hành. Không phải tên một chi kinh điển. Nó có thể được nuôi từ: Chánh ngữ. Chánh nghiệp. Chánh mạng. Sự nhất quán trong giới. Cần phân biệt rõ.

XLVI. ĐẠI NGUYỆN KHÔNG PHẢI MỘT CHI BÁT CHÁNH ĐẠO

Đại nguyện là một khung thực hành rộng khác. Nhưng nguyện cần Bát Chánh Đạo soi để không đi lệch. Câu nhớ:

ĐẠI NGUYỆN CẦN BÁT CHÁNH ĐẠO ĐỂ KHÔNG ĐI LỆCH.

XLVII. BÁT CHÁNH ĐẠO TRONG TRUYỀN THỐNG ĐẠI THỪA

Các thuật ngữ Sanskrit tương ứng vẫn có: samyag-dṛṣṭi. samyak-saṃkalpa. samyag-vāc. samyak-karmānta. samyag-ājīva. samyag-vyāyāma. samyak-smṛti. samyak-samādhi. Trong Đại thừa, Bát Chánh Đạo được đặt trong những khung rộng hơn như Bồ Tát đạo. Không nên trộn các hệ thống thành một danh sách duy nhất.

XLVIII. LỤC BA-LA-MẬT – ṢAṬPĀRAMITĀ

Sanskrit:

ṣaṭpāramitā. Tiếng Việt: Lục Ba-la-mật. Gồm: dāna-pāramitā – bố thí ba-la-mật. śīla-pāramitā – trì giới ba-la-mật. kṣānti-pāramitā – nhẫn nhục ba-la-mật. vīrya-pāramitā – tinh tấn ba-la-mật. dhyāna-pāramitā – thiền định ba-la-mật. prajñā-pāramitā – trí tuệ ba-la-mật.

XLIX. LỤC BA-LA-MẬT VÀ BỐN CÔNG THỨC

Bố thí: Tăng thiện, giảm chấp. Trì giới: Nền định lực. Nhẫn: Giữ tâm khi cảnh chạm. Tinh tấn: Tứ Chánh Cần. Thiền định: Định. Trí tuệ: Thấy, buông, sáng. Đây là cách nối thực hành, không phải đồng nhất hai hệ thống.

L. BÁT CHÁNH ĐẠO KHÔNG PHẢI CÂY ROI

Không dùng tám chi để tự đánh: “Cái gì cũng chưa chánh.” Bát Chánh Đạo là con đường để huấn luyện. Câu nhớ:

BÁT CHÁNH ĐẠO LÀ CON ĐƯỜNG ĐỂ ĐI.

KHÔNG PHẢI CÂY ROI ĐỂ ĐÁNH MÌNH.

LI. CHÁNH KIẾN CÓ THỂ LỚN DẦN

Ban đầu: Biết nhân quả. Sau: Thấy vô thường. Sau: Thấy Duyên khởi. Sau: Thấy chấp ngã tinh tế. Chánh kiến trưởng thành theo tu học.

LII. CHÁNH TƯ DUY CÓ THỂ LỚN DẦN

Ban đầu: Không nghĩ hại. Sau: Bớt sân. Sau: Sinh từ. Sau: Làm thiện ít cái tôi hơn.

LIII. CHÁNH NGỮ CÓ THỂ LỚN DẦN

Ban đầu: Không nói dối. Sau: Không nói chia rẽ. Sau: Không nói ác. Sau: Biết đúng thời. Sau: Nói ít nhưng lợi ích hơn.

LIV. CHÁNH NGHIỆP CÓ THỂ LỚN DẦN

Ban đầu: Không làm hại. Sau: Chủ động bảo vệ. Ban đầu: Không lấy. Sau: Biết chia sẻ. Đó là từ không làm xấu tới chủ động làm thiện.

LV. CHÁNH MẠNG CÓ THỂ LỚN DẦN

Không chỉ hỏi: “Nghề này tên gì?” Còn hỏi: “Tôi đang sống trong nghề bằng cách nào?” Có minh bạch không? Có tạo hại không? Có phải nói dối không?

LVI. CHÁNH TINH TẤN CÓ THỂ LỚN DẦN

Ngăn sai. Bỏ sai sớm hơn. Sinh thiện chủ động hơn. Giữ thiện lâu hơn. Đó là lực.

LVII. CHÁNH NIỆM CÓ THỂ LỚN DẦN

BIẾT SAU. BIẾT TRONG. BIẾT TRƯỚC. Đó là rút ngắn khoảng mê.

LVIII. CHÁNH ĐỊNH CÓ THỂ LỚN DẦN

Ban đầu: Biết trở về. Sau: Ở lâu hơn. Sau: Ít bị cảnh kéo hơn. Các tầng thiền định kỹ thuật trong kinh điển là lĩnh vực sâu hơn, không nên tự gán thành tựu.

LIX. BÁT CHÁNH ĐẠO VÀ BA NGHIỆP

Ý: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Khẩu: Chánh ngữ. Thân: Chánh nghiệp. Đời sống: Chánh mạng. Bát Chánh Đạo bao trọn thân, khẩu, ý và cách sống.

LX. CÔNG THỨC BA HỌC

TUỆ SOI ĐƯỜNG. GIỚI GIỮ ĐƯỜNG. ĐỊNH GIÚP ĐI VỮNG. Hoặc: GIỚI GIỮ ĐƯỜNG. ĐỊNH GIỮ TÂM. TUỆ CHỈ HƯỚNG.

LXI. CÔNG THỨC BÁT CHÁNH ĐẠO CỰC GỌN

THẤY ĐÚNG. NGHĨ ĐÚNG. NÓI ĐÚNG. LÀM ĐÚNG. SỐNG ĐÚNG. CỐ GẮNG ĐÚNG. BIẾT ĐÚNG. ĐỊNH ĐÚNG. Nhưng chữ “đúng” không có nghĩa: “Đúng theo ý tôi.” Mà là đúng theo Chánh pháp, giảm tham sân si, giảm hại, tăng thiện và hướng giải thoát.

LXII. BÁT CHÁNH ĐẠO TRONG MỘT NGÀY

Buổi sáng: Chánh kiến: Nhớ điều đúng. Chánh tư duy: Lập ý không hại. Trong ngày: Chánh ngữ: Giữ lời. Chánh nghiệp: Giữ hành vi. Chánh mạng: Làm việc ngay thẳng. Khi tâm động: Chánh tinh tấn: Ngăn và bỏ bất thiện. Chánh niệm: Biết. Chánh định: Trở về.

LXIII. THỜI KHÓA BÁT CHÁNH ĐẠO 8 CÂU

1. Hôm nay tôi cần thấy điều gì cho đúng?

2. Tôi muốn giữ ý hướng thiện nào?

3. Lời nào tôi cần đặc biệt giữ?

4. Hành động nào cần tránh?

5. Tôi sẽ sống và làm việc bằng sự ngay thẳng nào?

6. Bất thiện nào cần ngăn, thiện nào cần tăng?

7. Tôi sẽ dùng gì để nhớ tâm?

8. Khi loạn, tôi sẽ trở về đâu?

LXIV. BÁT CHÁNH ĐẠO VÀ NIỆM PHẬT

Người niệm Phật có thể soi: Chánh kiến: Hiểu pháp môn đúng. Chánh tư duy: Giữ ý thiện, không hại. Chánh ngữ: Giữ khẩu. Chánh nghiệp: Giữ thân. Chánh mạng: Sống chân chánh. Chánh tinh tấn: Vọng sinh thì biết trở về. Chánh niệm: Nhớ Phật hiệu và biết tâm. Chánh định: Tâm ngày càng gom.

Đây là cách tích hợp thực hành, không phải nói Bát Chánh Đạo chỉ có một pháp môn.

LXV. BÁT CHÁNH ĐẠO VÀ HƠI THỞ

Hơi thở là một đề mục. Chánh niệm: Biết hơi. Chánh tinh tấn: Giữ hướng. Chánh định: Phát triển sự gom tâm. Chánh kiến: Hiểu mục đích. Giới: Giữ nền.

LXVI. BÁT CHÁNH ĐẠO VÀ THIỀN

Pāli:

jhāna.

Sanskrit:

dhyāna. Tiếng Việt: thiền định. Thiền chân chánh không tách khỏi: Giới. Chánh kiến. Chánh tinh tấn. Chánh niệm. Chánh định.

LXVII. BÁT CHÁNH ĐẠO VÀ SÁM HỐI

Khi sai: Chánh kiến: Thấy sai. Chánh tư duy: Muốn sửa, không tự hại. Chánh ngữ: Xin lỗi. Chánh nghiệp: Sửa hành vi. Chánh tinh tấn: Không tái phạm. Chánh niệm: Nhớ dấu hiệu trước khi sai. Chánh định: Đủ lực không chạy theo tập khí.

LXVIII. BÁT CHÁNH ĐẠO VÀ RANH GIỚI

Chánh kiến: Thấy hành vi nào gây hại. Chánh tư duy: Không trả thù. Chánh ngữ: Nói rõ. Chánh nghiệp: Hành động phù hợp. Chánh tinh tấn: Giữ ranh giới. Chánh niệm: Thấy sợ và tội lỗi. Chánh định: Đứng vững.

LXIX. BÁT CHÁNH ĐẠO KHI BỊ OAN

Chánh kiến: Sự thật là gì? Chánh tư duy: Không hại. Chánh ngữ: Nói đúng phần cần nói. Chánh nghiệp: Không trả đũa. Chánh tinh tấn: Bỏ sân. Chánh niệm: Thấy tâm. Chánh định: Không sụp.

LXX. BÁT CHÁNH ĐẠO VÀ CÁI TÔI

Chánh kiến: Thấy ngã duyên sinh. Chánh tư duy: Không nuôi hơn thua. Chánh ngữ: Không bảo vệ ngã bằng lời độc. Chánh nghiệp: Không làm hại vì tự ái. Chánh tinh tấn: Giảm ngã chấp. Chánh niệm: Thấy “tôi bị chạm”. Chánh định: Không chạy theo.

LXXI. BÁT CHÁNH ĐẠO VÀ CHẤP THỦ

Chấp quan điểm: Chánh kiến soi. Chấp lời thắng: Chánh ngữ giữ. Chấp dục: Chánh tư duy ly dục. Chấp hành động: Chánh nghiệp giữ. Chấp lợi: Chánh mạng soi. Chấp lặp: Chánh tinh tấn chuyển. Chấp mà không biết: Chánh niệm thấy. Bị chấp kéo: Chánh định giữ.

LXXII. BÁT CHÁNH ĐẠO VÀ HƯƠNG ĐỨC HẠNH

Đi Bát Chánh Đạo lâu ngày: Cái thấy đúng hơn. Lời sạch hơn. Hành động sạch hơn. Sinh kế ngay hơn. Tâm có lực hơn. Đó là đức hạnh được hình thành.

LXXIII. BÁT CHÁNH ĐẠO VÀ PHÁP THÍ

Người chia sẻ Pháp dùng tám chi để tự soi sẽ: Giữ nguồn tốt hơn. Động cơ sạch hơn. Lời lành hơn. Đời sống gần Pháp hơn. Bớt bị khen chê kéo hơn.

LXXIV. BÁT CHÁNH ĐẠO VÀ ĐẠI NGUYỆN

Chánh kiến: Cho hướng đúng. Chánh tư duy: Giữ không hại. Chánh ngữ: Giữ lời. Chánh nghiệp: Giữ hành động. Chánh mạng: Giữ đời sống. Chánh tinh tấn: Cho bước đều. Chánh niệm: Không quên tâm. Chánh định: Không mất trục. Câu nhớ:

ĐẠI NGUYỆN CHO CHIỀU DÀI.

BÁT CHÁNH ĐẠO CHO ĐỘ ĐÚNG.

LXXV. BỐN CÔNG THỨC VÀ BÁT CHÁNH ĐẠO

CÔNG THỨC TAM TẠNG:

BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

Bát Chánh Đạo: Cho cách thực hành chi tiết.

CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC:

THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

Bát Chánh Đạo: Chánh ngữ + Chánh nghiệp + Chánh mạng: GIỚI. Chánh tinh tấn + Chánh niệm + Chánh định: ĐỊNH. Chánh kiến + Chánh tư duy: TUỆ.

CÔNG THỨC BUÔNG:

NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

Bát Chánh Đạo: Chánh niệm: Nhận. Chánh kiến: Soi. Chánh tinh tấn: Không nuôi. Chánh định: Đứng. Chánh tư duy: Ly tham, không sân, không hại.

CÔNG THỨC PHẬT:

THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

Bát Chánh Đạo: Làm cả bốn bước có nền.

LXXVI. BỐN CÔNG THỨC KHÔNG THAY BÁT CHÁNH ĐẠO

Bốn công thức trong cuốn sách là:

CÁCH HỆ THỐNG HÓA ĐỂ DỄ NHỚ VÀ DỄ HÀNH.

Không phải: Một Bát Chánh Đạo mới. Không phải: Một giáo lý thay thế kinh điển. Không phải: Một hệ thống độc lập với Chánh pháp. Giá trị của chúng nằm ở chỗ giúp người đọc trở về: Giới – Định – Tuệ. Tứ Niệm Xứ. Tứ Chánh Cần. Duyên khởi. Bát Chánh Đạo. Bốn Thánh Đế.

LXXVII. VÌ SAO CÔNG THỨC VẪN CẦN?

Khi sân, rất khó nhớ cả hệ thống lớn. Lúc đó có thể nhớ: THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

Khi chấp: NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

Khi xây lực: THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

Khi cần nhớ hướng: BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

Câu nhớ:

CÔNG THỨC LÀ TAY VỊN.

CHÁNH PHÁP LÀ CON ĐƯỜNG.

LXXVIII. ĐỪNG BIẾN BÁT CHÁNH ĐẠO THÀNH DANH SÁCH HỌC THUỘC

Hỏi: Hôm nay Chánh ngữ ở đâu? Chánh nghiệp ở đâu? Chánh niệm ở đâu? Nếu không đi xuống đời sống: Bát Chánh Đạo vẫn nằm trên giấy.

LXXIX. BÀI THỰC HÀNH 8 PHÚT

PHÚT 1 – CHÁNH KIẾN:

Việc này thật sự là gì?

PHÚT 2 – CHÁNH TƯ DUY:

Tôi đang muốn giúp, thắng hay hại?

PHÚT 3 – CHÁNH NGỮ:

Có cần nói không? Nói thế nào?

PHÚT 4 – CHÁNH NGHIỆP:

Hành động nào ít hại nhất?

PHÚT 5 – CHÁNH MẠNG:

Việc này có trái nguyên tắc sống không?

PHÚT 6 – CHÁNH TINH TẤN:

Cái gì cần ngăn, bỏ, sinh, giữ?

PHÚT 7 – CHÁNH NIỆM:

Thân, thọ, tâm đang thế nào?

PHÚT 8 – CHÁNH ĐỊNH:

Tôi đã đủ yên để quyết chưa?

LXXX. BÀI THỰC HÀNH 7 NGÀY BÁT CHÁNH ĐẠO

NGÀY 1: Chánh kiến – bắt một thành kiến của mình. NGÀY 2: Chánh tư duy – theo dõi ý muốn thắng hoặc hại. NGÀY 3: Chánh ngữ – không nói một lời không cần thiết gây đau. NGÀY 4: Chánh nghiệp – làm một hành động thiện cụ thể. NGÀY 5: Chánh mạng – soi sự ngay thẳng trong công việc và lợi ích.

NGÀY 6: Chánh tinh tấn + Chánh niệm – dùng Ngăn, Bỏ, Sinh, Giữ. NGÀY 7: Chánh định – dành thời gian thực hành yên tĩnh phù hợp và tập trở về.

LXXXI. THƯỚC ĐO BÁT CHÁNH ĐẠO

Không phải: Thuộc đủ tám chi. Mà là: Thấy đúng hơn chưa? Ý hại ít hơn chưa? Nói thật hơn chưa? Lời ác ít hơn chưa? Hành vi sạch hơn chưa? Sinh kế ngay hơn chưa? Bất thiện được ngăn sớm hơn chưa? Niệm biết sớm hơn chưa? Tâm trở về nhanh hơn chưa?

LXXXII. ĐỊNH LỰC KHÔNG CHỈ ĐƯỢC XÂY TRONG LÚC NGỒI

Nếu Chánh ngữ sai: Tâm hối. Nếu Chánh nghiệp sai: Tâm hối. Nếu Chánh mạng sai: Tâm chia đôi. Nếu Chánh kiến sai: Đi lệch. Nếu Chánh tinh tấn yếu: Tập khí thắng. Nếu Chánh niệm yếu: Không thấy. Vì vậy:

ĐỊNH LỰC SÂU KHÔNG CHỈ ĐƯỢC XÂY TRONG LÚC GOM TÂM.

NÓ ĐƯỢC XÂY BẰNG CẢ MỘT ĐỜI SỐNG KHÔNG TỰ PHÁ TÂM MÌNH.

LXXXIII. BUÔNG LÀ QUẢ CỦA CẢ MỘT CON ĐƯỜNG

Muốn buông cần: Chánh kiến: Thấy vì sao nên buông. Chánh tư duy: Không nuôi hại. Chánh ngữ: Không tạo thêm dây. Chánh nghiệp: Không tạo thêm nghiệp. Chánh tinh tấn: Không nuôi chấp. Chánh niệm: Thấy. Chánh định: Ở được với khoảng trống sau khi buông. Câu nhớ:

BUÔNG KHÔNG CHỈ LÀ MỘT MỆNH LỆNH.

BUÔNG LÀ QUẢ CỦA CẢ MỘT CON ĐƯỜNG ĐƯỢC TU ĐÚNG.

LXXXIV. CÔNG THỨC PHẬT VÀ BÁT CHÁNH ĐẠO

THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

Bát Chánh Đạo làm chữ SÁNG có nội dung: Sáng ở cái thấy. Sạch ở ý hướng. Sạch ở lời. Sạch ở hành vi. Ngay ở đời sống. Đúng ở nỗ lực. Rõ ở niệm. Vững ở định.

LXXXV. CÂU KẾT

Một con đường tu nếu chỉ có lý thuyết: Dễ bay. Nếu chỉ có đạo đức mà thiếu tuệ: Dễ cứng. Nếu chỉ có định mà thiếu giới: Dễ lệch. Nếu chỉ có buông mà thiếu trách nhiệm: Dễ thành bỏ mặc. Nếu chỉ có từ bi mà thiếu trí: Dễ nuông chiều. Bát Chánh Đạo làm các phần đứng lại với nhau.

CHÁNH KIẾN: Để không mù. CHÁNH TƯ DUY: Để ý không độc. CHÁNH NGỮ: Để lời không làm hại. CHÁNH NGHIỆP: Để thân không làm sai. CHÁNH MẠNG: Để đời sống không chia đôi. CHÁNH TINH TẤN: Để điều đúng được lặp. CHÁNH NIỆM: Để biết cái gì đang xảy ra. CHÁNH ĐỊNH: Để tâm có sức đứng. Bốn công thức của cuốn sách nhờ vậy không đứng riêng.

CÔNG THỨC TAM TẠNG:

BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

Bát Chánh Đạo chỉ cách.

CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC:

THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

Bát Chánh Đạo cho khung.

CÔNG THỨC BUÔNG:

NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

Bát Chánh Đạo cho mắt để thấy, lực để dừng và tuệ để buông.

CÔNG THỨC PHẬT:

THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

Bát Chánh Đạo làm chữ SÁNG không còn mơ hồ. Và toàn bộ con đường có thể nhớ rất giản dị: THẤY CHO ĐÚNG. NGHĨ CHO LÀNH. NÓI CHO THẬT. LÀM CHO THIỆN. SỐNG CHO NGAY. TINH TẤN CHO ĐỀU. NHỚ BIẾT CHO RÕ. GIỮ TÂM CHO VỮNG.

ĐÓ LÀ BÁT CHÁNH ĐẠO ĐI XUỐNG ĐỜI SỐNG.

CHƯƠNG 24
MỘT ĐỜI THỰC HÀNH – ĐEM ĐẠO VÀO MỌI HOÀN CẢNH

Một lỗi rất dễ gặp khi học Phật là: Học nhiều. Nghe nhiều. Hiểu nhiều. Nhưng khi bị chạm, phản ứng vẫn như cũ. Vì sao? Vì Pháp chưa thành nếp. Một pháp chỉ đi qua tai thì dễ quên. Một pháp đi qua suy nghĩ thì có thể hiểu. Một pháp đi qua hành vi nhiều lần mới thành lực.

Câu nhớ:

MỘT CON ĐƯỜNG TU THẬT SỰ KHÔNG CHỈ NẰM TRONG THỜI KHÓA.

THỜI KHÓA LÀ NƠI TẬP.

CẢ NGÀY LÀ NƠI THI.

I. PHÁP HÀNH KHÔNG CHỈ NẰM TRÊN BỒ ĐOÀN

Ngồi thiền tốt. Niệm Phật tốt. Tụng kinh tốt. Nhưng nếu rời thời khóa rồi: Nói dối. Nóng giận. Tranh thắng. Thất tín. Chấp người. Giữ công. thì Pháp chưa đi hết một ngày. Bát Chánh Đạo – Ariya Aṭṭhaṅgika Magga / Āryāṣṭāṅgamārga bao gồm cả: Chánh ngữ. Chánh nghiệp. Chánh mạng.

Chánh tinh tấn. Chánh niệm. Chánh định. Phật pháp phải đi vào cả đời sống.

II. PHÁP CÚ 183 – KHUNG CỦA MỘT NGÀY

Nguồn:

Kinh Pháp Cú – Dhammapada, kệ 183.

Bản dịch quen thuộc theo ý: Không làm các điều ác. Thành tựu các hạnh lành. Giữ tâm ý trong sạch. Đó là lời chư Phật dạy. Có thể đưa xuống một ngày: SÁNG: Nhớ không làm ác. TRONG NGÀY: Chủ động làm thiện. KHI TÂM ĐỘNG: Làm sạch tâm.

III. CÔNG THỨC MỘT NGÀY

SÁNG: LẬP HƯỚNG. TRONG NGÀY:

GIỮ GIỚI VÀ BIẾT TÂM.

KHI ĐỘNG:

DỪNG – SOI – BUÔNG.

TỐI:

NHÌN LẠI – SỬA – HỒI HƯỚNG.

Bản cực ngắn: SÁNG NHỚ. NGÀY GIỮ. ĐỘNG SOI. TỐI SỬA.

IV. THỜI KHÓA KHÔNG CẦN DÀI MỚI CÓ LỰC

Một phút thật tỉnh có thể rất quý. Một lời ác không nói có thể quan trọng hơn việc tụng lâu nhưng sau đó tiếp tục làm hại. Thời khóa nuôi tâm để tâm sống tốt hơn ngoài thời khóa.

V. BUỔI SÁNG – LẬP HƯỚNG

Buổi sáng hỏi:

“HÔM NAY TÔI MUỐN GIỮ ĐIỀU GÌ?”

Ví dụ: Giữ lời. Không nói nóng. Biết trở về hơi thở. Niệm Phật khi tâm chạy. Không tranh một chuyện không cần. Làm một việc thiện. Câu nhớ:

BUỔI SÁNG ĐỪNG HỨA VỚI MÌNH QUÁ NHIỀU.

CHỌN MỘT ĐIỀU ĐÚNG VÀ GIỮ TỚI TỐI.

VI. CHÁNH NIỆM BUỔI SÁNG

Pāli:

sammā-sati.

Sanskrit:

samyak-smṛti. Tiếng Việt: Chánh niệm. Ngay khi thức dậy: Biết thân. Biết tâm. Biết trạng thái. Một hơi thở có thể nhắc:

“HÔM NAY TÔI CÒN MỘT NGÀY ĐỂ TU.”

VII. NIỆM CHẾT – MARAṆASATI / MARAṆASMṚTI

Pāli:

maraṇasati.

Sanskrit:

maraṇasmṛti. Tiếng Việt: niệm chết. Không phải ám ảnh cái chết. Mà nhớ mạng sống không được bảo đảm để sinh: appamāda – không phóng dật. Câu nhớ:

NHỚ VÔ THƯỜNG ĐỂ HÔM NAY ĐỪNG SỐNG CẨU THẢ.

VIII. KHÔNG PHÓNG DẬT – APPAMĀDA / APRAMĀDA

Pāli:

appamāda.

Sanskrit:

apramāda. Tiếng Việt: không phóng dật.

Kinh Pháp Cú, kệ 21 nổi tiếng về không phóng dật.

Khi trích nguyên văn cần chọn bản dịch cụ thể. Ý thực hành:

ĐỪNG ĐỂ CẢ NGÀY TRÔI HOÀN TOÀN THEO QUÁN TÍNH.

IX. THỜI KHÓA SÁNG 5 PHÚT

PHÚT 1 – THÂN: Thở và biết thân.

PHÚT 2 – CÔNG THỨC TAM TẠNG:

“Hôm nay bỏ một điều ác, làm một điều lành, giữ tâm sạch.”

PHÚT 3 – CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC:

“Hôm nay giữ thật, giữ tín, giữ giới.”

PHÚT 4 – CÔNG THỨC BUÔNG:

“Nếu chuyện tới: nhận – soi – thấy – không chấp – buông.”

PHÚT 5 – CÔNG THỨC PHẬT:

“Thấy – tỉnh – buông – sáng.”

X. NIỆM PHẬT BUỔI SÁNG

Có thể niệm:

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.

Sanskrit:

Amitābha Buddha – Phật A Di Đà / Vô Lượng Quang. Trong truyền thống còn có danh hiệu: Amitāyus – Vô Lượng Thọ. Khi niệm: Niệm rõ. Nghe rõ. Tâm chạy: Biết chạy. Không mắng. Trở về.

XI. NIỆM PHẬT VÀ CÔNG THỨC PHẬT

THẤY: Biết tâm chạy. TỈNH: Không đi theo. BUÔNG: Bỏ dòng nghĩ. SÁNG: Trở về Phật hiệu rõ hơn. Đây là cách nối thực hành, không phải định nghĩa kinh điển toàn bộ pháp môn Tịnh độ.

XII. NIỆM PHẬT VÀ CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC

THẬT: Biết mình đang tán. TÍN: Giữ câu niệm. THIỆN: Tâm hướng lành. GIỚI: Đời sống giữ nền. ĐỊNH: Trở về một chỗ. TUỆ: Thấy vọng là vọng. LỰC: Khả năng trở về ngày càng nhanh.

XIII. RA KHỎI THỜI KHÓA – GIỜ MỚI BẮT ĐẦU TU THẬT

Thời khóa xong. Điện thoại reo. Người gọi. Việc tới. Tiền tới. Khen tới. Chê tới. Đó là lúc công thức vận hành. Câu nhớ:

NGỒI YÊN LÀ TẬP TRUNG TÂM.

BƯỚC RA ĐỜI LÀ KIỂM TRA TÂM.

XIV. TRƯỚC KHI CẦM ĐIỆN THOẠI

Hỏi:

“TÔI MỞ VÌ CẦN HAY VÌ THÓI QUEN?”

Nếu cần: Dùng. Nếu chỉ đang chạy vô thức: Biết. Câu nhớ:

CẦN → DÙNG.

KHÔNG CẦN → ĐỪNG ĐỂ MÁY DÙNG MÌNH.

XV. HỘ TRÌ CĂN – INDRIYA-SAṂVARA

Pāli:

indriya-saṃvara. Tiếng Việt: hộ trì các căn. Mắt thấy sắc. Tai nghe tiếng. Ý tiếp xúc nội dung. Hỏi: Cái gì làm tham tăng? Cái gì làm sân tăng? Cái gì làm tán tăng? Chọn môi trường cũng là tu.

XVI. BỐN CỬA SỔ KHI CẢNH CHẠM

THÂN. THỌ. TÂM. PHÁP. Hỏi: Thân đang căng? Thọ dễ chịu hay khó chịu? Tâm tham, sân, sợ, chấp? Pháp nào đang vận hành?

XVII. TRƯỚC MỘT CÂU NÓI – DỪNG MỘT HƠI

Hỏi: Đúng không? Có lợi không? Đúng lúc không? Cách này có bớt hại không? Nguồn tham khảo:

MN 58 – Abhayarājakumāra Sutta – Kinh Vương Tử Vô Úy.

XVIII. CÔNG THỨC CHÁNH NGỮ

THẬT

→ CẦN

→ LỢI

→ ĐÚNG LÚC

→ NÓI MỀM NHẤT CÓ THỂ.

Có lúc phải nghiêm. Nhưng không cần thêm độc.

XIX. NẾU ĐÃ LỠ NÓI SAI

Công thức: SÁM HỐI = THẤY

→ NHẬN

→ DỪNG

→ SỬA

→ LÀM LẠI.

Nếu cần: Xin lỗi. Nếu gây hậu quả: Sửa. Không cần đợi tới tối.

XX. LÀM VIỆC CŨNG LÀ TU

Làm việc là nơi thực hành: Thật. Tín. Trách nhiệm. Chánh mạng. Không gian. Không lừa. Không đổ lỗi. Không ăn cắp thời gian. Công việc là một đạo tràng rất thật.

XXI. CHÁNH MẠNG – SAMMĀ-ĀJĪVA / SAMYAG-ĀJĪVA

Pāli:

sammā-ājīva.

Sanskrit:

samyag-ājīva. Tiếng Việt: Chánh mạng – sinh kế chân chánh. Không chỉ hỏi: “Tên nghề là gì?” Còn hỏi: “Tôi đang làm nghề bằng cách nào?”

XXII. CÔNG THỨC LÀM VIỆC

RÕ VIỆC

→ LÀM HẾT PHẦN

→ KHÔNG GIAN

→ KHÔNG ĐỔ LỖI

→ KHÔNG CHẤP QUẢ

→ HỌC TỪ KẾT QUẢ.

XXIII. KHI VIỆC THÀNH

Công thức: THÀNH

→ VUI

→ BIẾT ƠN

→ THẤY DUYÊN

→ KHÔNG GIỮ CÔNG

→ TIẾP TỤC LÀM ĐÚNG.

XXIV. KHI VIỆC HỎNG

Công thức: HỎNG

→ DỪNG

→ THẤY SỰ THẬT

→ NHẬN PHẦN MÌNH

→ SỬA

→ ĐỔI CÁCH

→ KHÔNG TỰ ĐÓNG ĐINH.

XXV. KHI CÓ TIỀN

Tiền là phương tiện. Khi tiền tới: Biết thọ dễ chịu. Biết tâm muốn giữ. Không cần ghét. Chỉ soi: “Tôi có đang biến tiền thành nơi nương tuyệt đối không?” Câu nhớ:

TIỀN CÓ THỂ GIÚP ĐỜI SỐNG ỔN HƠN.

ĐỪNG BẮT TIỀN GÁNH NHIỆM VỤ LÀM TÂM BẤT BIẾN.

XXVI. KHI MẤT TIỀN

Công thức: MẤT

→ DỪNG

→ KIỂM SỰ THẬT

→ CỨU PHẦN CỨU ĐƯỢC

→ NHẬN PHẦN MẤT

→ KHÔNG TẠO THÊM NGHIỆP.

XXVII. KHI MUỐN MUA

Hỏi: “CẦN HAY MUỐN?” Muốn không phải tội. Nhưng phải biết. Nếu không cấp thiết: Đợi. Nhiều cái muốn sẽ giảm khi không được nuôi ngay.

XXVIII. BỐ THÍ – DĀNA

Pāli/Sanskrit: dāna. Tiếng Việt: bố thí, cho, chia sẻ. Có thể cho: Vật chất. Thời gian. Lời lành. Kiến thức. Sự lắng nghe. Cơ hội. Nhưng bố thí phải có trí.

XXIX. CÔNG THỨC BỐ THÍ SẠCH

CÓ KHẢ NĂNG

→ XEM ĐÚNG NHU CẦU

→ CHO ĐÚNG CÁCH

→ KHÔNG ÉP NGƯỜI

→ KHÔNG GIỮ CÔNG.

XXX. KHI GẶP NGƯỜI MÌNH THƯƠNG

Hỏi:

“TÔI ĐANG THƯƠNG HAY ĐANG GIỮ?”

“TÔI MUỐN ĐIỀU TỐT CHO NGƯỜI HAY CHỈ MUỐN NGƯỜI LÀM TÔI YÊN?”

XXXI. TỪ – METTĀ / MAITRĪ

Pāli:

mettā.

Sanskrit:

maitrī. Tiếng Việt: từ. Từ trong ngày có thể là: Nói nhẹ. Không làm đau vô ích. Mong người được tốt. Không vui khi người gặp nạn.

XXXII. BI – KARUṆĀ

Pāli/Sanskrit: karuṇā. Tiếng Việt: lòng bi. Khi người làm mình khó chịu, thử thêm một câu: “Có thể họ cũng đang khổ.” Không phải bao che. Mà để sân mình bớt độc.

XXXIII. HỶ – MUDITĀ

Pāli/Sanskrit: muditā. Tiếng Việt: hỷ. Người khác thành công:

“ĐIỀU TỐT CỦA NGƯỜI KHÔNG LẤY MẤT PHẦN CỦA TÔI.”

Đây là cách luyện hỷ.

XXXIV. XẢ – UPEKKHĀ / UPEKṢĀ

Pāli:

upekkhā.

Sanskrit:

upekṣā. Tiếng Việt: xả, quân bình. Câu nhớ: PHẦN MÌNH: LÀM. PHẦN NGƯỜI: TÔN TRỌNG. PHẦN DUYÊN: KHÔNG CƯỠNG.

XXXV. KHI ĐƯỢC KHEN

Công thức: KHEN

→ BIẾT THỌ

→ BIẾT DUYÊN

→ KHÔNG PHỒNG

→ GIỮ VIỆC ĐÚNG.

XXXVI. KHI BỊ CHÊ

Công thức: CHÊ

→ DỪNG

→ BIẾT THỌ

→ LỌC

→ ĐÚNG THÌ SỬA

→ SAI THÌ BUÔNG.

XXXVII. TÁM PHÁP THẾ GIAN – LOKADHAMMA

Pāli:

lokadhamma. Tám pháp: Được – mất. Danh – thất danh. Khen – chê. Lạc – khổ. Nguồn: Các bài kinh trong Tăng Chi Bộ – Aṅguttara Nikāya về tám pháp thế gian. Câu nhớ:

GIÓ ĐƯỢC QUYỀN THỔI.

GỐC ĐỪNG TỰ NHỔ.

XXXVIII. CÔNG THỨC TÁM GIÓ

GẶP CẢNH

→ BIẾT THỌ

→ NHỚ VÔ THƯỜNG

→ GIỮ GIỚI

→ KHÔNG ĐỒNG HÓA

→ TRỞ VỀ.

XXXIX. KHI BỊ HIỂU LẦM

Không phải lúc nào cũng cần giải thích. Hỏi: Có cần nói không? Người kia có khả năng nghe không? Nói lúc này có lợi không? Có lúc: Nói. Có lúc: Im.

XL. KHI BỊ OAN

Công thức: SỰ THẬT

→ NÓI RÕ

→ KHÔNG THÊM ĐỘC

→ GIỮ BẰNG CHỨNG

→ BUÔNG PHẦN NGƯỜI KHÔNG CHỊU HIỂU.

XLI. KHI GIẬN

Công thức: SÂN

→ DỪNG THÂN

→ GIỮ KHẨU

→ BIẾT THỌ

→ SOI CÁI TÔI

→ CHỌN SAU.

XLII. KINH MŨI TÊN – SALLATTHA SUTTA

Nguồn: Tương Ưng Bộ – Saṃyutta Nikāya.

SN 36.6.

Sallattha Sutta – Kinh Mũi Tên. Điểm thực hành: MŨI TÊN 1: Cảm thọ đau. MŨI TÊN 2: Phản ứng tâm tạo thêm. Câu nhớ:

ĐỪNG BIẾN MỘT CÂU NGƯỜI KHÁC NÓI THÀNH CHƯƠNG TRÌNH PHÁT LẠI TRONG ĐẦU.

XLIII. KHI BUỒN

Không ép: “Phải vui.” Hãy: Nhận buồn. Chăm thân. Ăn vừa. Ngủ. Đi bộ. Niệm Phật. Tìm người phù hợp nếu cần. Câu nhớ:

BUỒN CẦN ĐƯỢC THẤY.

KHÔNG CẦN ĐƯỢC PHONG LÀM ÔNG CHỦ.

XLIV. KHI SỢ

Công thức: SỢ

→ XÁC MINH NGUY HIỂM

→ NẾU THẬT THÌ BẢO VỆ

→ NẾU DO CHẤP THÌ SOI

→ LÀM ĐIỀU ĐÚNG.

XLV. KHI GANH

Công thức: GANH

→ NHẬN

→ THẤY SO SÁNH

→ NHỚ NHÂN DUYÊN KHÁC NHAU

→ KHỞI HỶ

→ TRỞ VỀ ĐƯỜNG MÌNH.

XLVI. KHI MUỐN THẮNG

Hỏi:

“TÔI ĐANG BẢO VỆ SỰ THẬT HAY BẢO VỆ CẢM GIÁC THẮNG?”

Nếu chỉ muốn thắng: Buông. Nếu sự thật quan trọng: Nói bằng Chánh ngữ.

XLVII. KHI MUỐN ĐƯỢC CÔNG NHẬN

Hỏi:

“NẾU KHÔNG AI BIẾT VIỆC NÀY LÀ TÔI LÀM, TÔI CÒN MUỐN LÀM KHÔNG?”

Câu này soi động cơ rất rõ.

XLVIII. KHI LÀM THIỆN

Làm. Xong. Không cần giữ công. Câu nhớ:

THIỆN ĐÃ GIEO VÀO NHÂN QUẢ.

KHÔNG CẦN GIEO THÊM VÀO SỔ CÔNG TRONG LÒNG.

XLIX. KHI GIÚP NGƯỜI

Công thức: THƯƠNG

→ THẤY NHU CẦU

→ GIÚP ĐÚNG PHẦN

→ KHÔNG SỞ HỮU

→ KHÔNG ĐÒI TRẢ.

L. KHI NGƯỜI KHÔNG BIẾT ƠN

Nhận thọ khó chịu. Nếu cần: Điều chỉnh cách giúp. Nhưng đừng để sự vô ơn của một người làm mình bỏ thiện. Câu nhớ:

NGƯỜI KHÁC KHÔNG BIẾT ƠN KHÔNG PHẢI LÝ DO ĐỂ MÌNH BỎ TRÍ VÀ BỎ THIỆN.

LI. KHI MỆT

Mệt không phải lúc nào cũng lười. Thân vô thường. Có lúc nghỉ là Chánh tinh tấn. Câu nhớ:

TINH TẤN KHÔNG PHẢI KHÔNG NGHỈ.

NGHỈ ĐÚNG ĐỂ CÒN ĐI LÂU CŨNG LÀ TRÍ.

LII. KHI LƯỜI

Hỏi: Thân thật sự mệt? Hay tâm đang né? Nếu mệt: Nghỉ. Nếu né: Làm một bước nhỏ. Công thức:

MỆT → NGHỈ.

NÉ → LÀM MỘT BƯỚC.

LIII. KHI TÂM LOẠN

Câu nhớ:

TÂM LOẠN KHÔNG CẦN THÊM VIỆC.

TÂM LOẠN CẦN MỘT ĐIỂM TRỞ VỀ.

Điểm trở về có thể là: Hơi thở. Phật hiệu. Bàn chân. Một việc trước mặt.

LIV. NIỆM HƠI THỞ – ĀNĀPĀNASATI / ĀNĀPĀNASMṚTI

Pāli:

ānāpānasati.

Sanskrit:

ānāpānasmṛti. Nguồn:

MN 118 – Ānāpānasati Sutta – Kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm / Kinh Niệm Hơi Thở.

Trong đời thường: Ba hơi biết rõ đã có thể tạo một khoảng dừng.

LV. BA HƠI THỞ TRƯỚC PHẢN ỨNG

HƠI 1: Biết thân. HƠI 2: Biết thọ. HƠI 3: Biết mình chưa cần phản ứng ngay. Sau đó mới chọn.

LVI. TRƯỚC BỮA ĂN

Có thể nhắc:

“ĂN ĐỂ NUÔI THÂN, KHÔNG PHẢI ĐỂ THAM KÉO.”

LVII. TRONG KHI ĂN

Biết: Đói. Vị. No. Muốn thêm. Đây là quán thân và thọ trong đời thường.

LVIII. SAU KHI ĂN

Hỏi: Vừa đủ? Quá? Ăn vì đói hay vì cảm xúc? Không tự trách. Chỉ học.

LIX. KHI ĐI ĐƯỜNG

Có lúc không cần nghe gì. Cảm bàn chân. Nhìn trời. Biết thân. Đó cũng là tu.

LX. KHI CHỜ

Câu nhớ:

KHOẢNG CHỜ LÀ KHOẢNG ĐỊNH LỰC ĐƯỢC LUYỆN MIỄN PHÍ.

Xếp hàng. Chờ người. Chờ máy. Thay vì bực: Thở. Niệm Phật. Biết thân.

LXI. KHI GIAO TIẾP

Nghe hết. Đừng chỉ chờ tới lượt nói. Có lúc người ta cần được nghe hơn cần lời khuyên.

LXII. CÔNG THỨC LẮNG NGHE

NGHE HẾT

→ ĐỪNG VỘI SỬA

→ HỎI CHO RÕ

→ NÓI PHẦN CẦN

→ KHÔNG BIẾN MÌNH THÀNH TRUNG TÂM.

LXIII. KHI DẠY NGƯỜI

Câu nhớ:

DẠY ĐỂ NGƯỜI THẤY ĐƯỜNG.

KHÔNG PHẢI ĐỂ NGƯỜI NHÌN MÌNH.

LXIV. PHÁP THÍ – DHAMMADĀNA / DHARMADĀNA

Pāli:

dhammadāna.

Sanskrit:

dharmadāna. Tiếng Việt: Pháp thí. Pháp thí sạch cần: Nguồn đúng. Động cơ lành. Nói phù hợp. Không bóp méo kinh. Không giữ công. Không sở hữu người nghe.

LXV. PHÁP CÚ 354 – PHÁP THÍ

Nguồn:

Kinh Pháp Cú – Dhammapada, kệ 354.

Câu Pāli nổi tiếng: “Sabbadānaṃ dhammadānaṃ jināti.” Đại ý: Pháp thí vượt thắng các loại bố thí. Khi trích bản Việt nguyên văn cần dùng bản dịch cụ thể.

LXVI. KHI NÓI PHÁP TRƯỚC ĐÔNG NGƯỜI

Trước khi nói: “Tôi muốn giúp hay muốn được thấy?” Trong khi nói: Biết tâm khi được khen. Sau khi nói: Không ở mãi trong con số. Lấy phản hồi có ích. Buông phần còn lại.

LXVII. CÔNG THỨC SAU MỘT BÀI GIẢNG

XONG

→ NHÌN LẠI

→ GIỮ CÁI ĐÚNG

→ SỬA CÁI SAI

→ KHÔNG PHỒNG VÌ KHEN

→ KHÔNG SỤP VÌ CHÊ.

LXVIII. KHI ĐỌC KINH

Đừng chỉ hỏi: “Hôm nay đọc bao nhiêu trang?” Hãy hỏi:

“MỘT CÂU NÀO HÔM NAY TÔI ĐEM XUỐNG ĐỜI?”

Một câu hành được quý hơn nhiều câu chỉ nhớ.

LXIX. CÔNG THỨC HỌC PHÁP

ĐỌC

→ HIỂU

→ SOI

→ HÀNH

→ NGHIỆM

→ KIỂM LẠI.

LXX. KINH KĀLĀMA – KESAMUTTI SUTTA

Nguồn: Tăng Chi Bộ – Aṅguttara Nikāya.

AN 3.65.

Kesamutti Sutta – thường gọi Kinh Kālāma. Tinh thần bài kinh không phải: “Đừng tin gì hết.” Mà là: Không chỉ tin vì truyền tụng, truyền thống, suy luận đơn thuần hay uy tín. Khi tự biết các pháp dẫn tới bất thiện, bị người trí chê và đưa tới khổ thì bỏ. Khi biết các pháp thiện, đưa tới lợi ích thì thực hành.

LXXI. PHÁP HÀNH PHẢI ĐƯỢC KIỂM BẰNG KẾT QUẢ

Hỏi: Tham giảm chưa? Sân giảm chưa? Si giảm chưa? Giữ lời hơn chưa? Từ hơn chưa? Tâm nhẹ hơn chưa? Câu nhớ:

PHÁP ĐÚNG ĐI VÀO NGƯỜI PHẢI LÀM BẤT THIỆN DẦN MẤT ĐẤT.

LXXII. GIỮ GIỚI TRONG MỘT NGÀY

Đối với cư sĩ, năm giới căn bản gồm: Không sát sinh. Không lấy của không cho. Không tà hạnh. Không nói dối. Không dùng chất say gây buông lung. Đối với người xuất gia, giới luật rộng và chi tiết hơn nhiều.

LXXIII. GIỚI VÀ KHÔNG HỐI

Một ngày ít làm sai: Tối ít hối. Ít hối: Tâm nhẹ. Tâm nhẹ: Dễ định. Đời sống đạo đức là nền của thời khóa.

LXXIV. BUỔI TRƯA – ĐỪNG ĐỢI TỐI MỚI KIỂM

Giữa ngày, hỏi: “TÂM ĐANG Ở ĐÂU?”

“TỪ SÁNG TỚI GIỜ CÓ ĐIỀU GÌ CẦN SỬA NGAY KHÔNG?”

Nếu có: Sửa ngay.

LXXV. CÔNG THỨC CHECK-IN TRƯA

DỪNG

→ THỞ

→ THÂN

→ THỌ

→ TÂM

→ ĐIỀU CẦN SỬA.

Bản cực ngắn:

DỪNG – BIẾT – CHỈNH.

LXXVI. TỨ CHÁNH CẦN GIỮA NGÀY

Hỏi: Bất thiện nào chưa sinh mà tôi đã ngăn được? Bất thiện nào đã sinh cần bỏ? Thiện nào chưa có cần khởi? Thiện nào đang có cần giữ?

LXXVII. BUỔI CHIỀU – KHI NĂNG LƯỢNG GIẢM

Cuối ngày dễ: Mệt. Nóng. Nói mạnh. Ăn quá. Tâm yếu. Biết mình yếu thì giảm kích thích. Đây là Chánh Cần và hộ trì căn.

LXXVIII. KHI MỆT MÀ GẶP CẢNH KHÓ

Công thức: MỆT + CẢNH KHÓ

= NGUY CƠ PHẢN ỨNG CAO.

Có thể nói: “Để tôi trả lời sau.” Đó có thể là trí, không phải trốn.

LXXIX. BUỔI TỐI – NHÌN LẠI KHÔNG PHẢI XÉT XỬ

Không hỏi: “Tôi tốt hay xấu?” Hỏi:

“HÔM NAY CÁI GÌ SINH?”

“CÁI GÌ GIẢM?” “CÁI GÌ CẦN SỬA?”

LXXX. NHẬT KÝ BA DÒNG

1. Hôm nay tôi đã ngăn được điều bất thiện nào?

2. Tôi đã làm được điều thiện nào?

3. Một điều ngày mai tôi muốn sửa là gì?

LXXXI. NHẬT KÝ BỐN CÔNG THỨC

CÔNG THỨC TAM TẠNG:

Hôm nay tôi bỏ ác gì, làm lành gì, tâm sạch hơn chỗ nào?

CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC:

Tôi có sống thật, giữ tín, giữ giới, biết trở về không?

CÔNG THỨC BUÔNG:

Tôi đang còn giữ chuyện gì?

CÔNG THỨC PHẬT:

Hôm nay có khoảnh khắc nào tôi thấy – tỉnh – buông – sáng?

LXXXII. SÁM HỐI BUỔI TỐI

Nhớ một việc thật. Nhận. Không biện hộ. Phát nguyện sửa. Nếu cần xin lỗi: Ngày mai làm. Đó là sám hối sống.

LXXXIII. HỒI HƯỚNG – PARIṆĀMANĀ

Sanskrit:

pariṇāmanā. Tiếng Việt: hồi hướng. Trong truyền thống Đại thừa, hồi hướng là chuyển hướng công đức thiện lành tới mục tiêu rộng hơn, không giữ riêng cho cái tôi. Câu nhớ:

LÀM THIỆN RỒI HỒI HƯỚNG GIÚP TÂM BỚT GIỮ CÔNG.

LXXXIV. HỒI HƯỚNG VÀ VÔ NGÃ

Làm xong thiện: Không giữ: “Công tôi.” Hồi hướng: Mong thiện này thành duyên lợi ích rộng. Đây là một thực hành rất đẹp của tinh thần vô ngã.

LXXXV. TRƯỚC KHI NGỦ – BUÔNG NGÀY

Việc chưa xong: Ghi lại. Không cần mang hết vào giường. Câu nhớ:

VIỆC CHƯA XONG CÓ THỂ ĐỂ NGÀY MAI.

TÂM KHÔNG CẦN LÀM CA ĐÊM VỚI NÓ.

LXXXVI. CÔNG THỨC TRƯỚC KHI NGỦ

NHÌN

→ NHẬN

→ SỬA Ý

→ HỒI HƯỚNG

→ BUÔNG NGÀY

→ NGHỈ.

Bản ngắn:

NHÌN – SỬA – BUÔNG – NGỦ.

LXXXVII. KHI KHÓ NGỦ

Không đánh tâm. Không ép. Có thể: Niệm Phật nhẹ. Biết hơi. Thả thân. Đừng biến: “Chưa ngủ” thành: “Ngày mai sẽ hỏng hết.” Đừng tự bắn mũi tên thứ hai.

LXXXVIII. MỘT NGÀY KHÔNG HOÀN HẢO VẪN CÒN ĐƯỜNG

Câu nhớ:

MỘT BƯỚC LỆCH KHÔNG PHẢI LÝ DO QUAY LƯNG VỚI CẢ CON ĐƯỜNG.

LXXXIX. KHÔNG ĐO NGÀY TU BẰNG CẢM GIÁC “LINH”

Có ngày rất an. Có ngày không. Thước đo thật: Giữ giới hơn chưa? Bớt phản ứng chưa? Bớt nói ác chưa? Biết tâm sớm hơn chưa?

XC. ĐỪNG CHẤP CẢ CẢM GIÁC TU TỐT

Có ngày ngồi rất an. Tâm thích. Ngày sau không an: Khổ. Nhớ:

CẢM THỌ KHÔNG PHẢI MỆNH LỆNH.

Thời khóa cũng vô thường.

XCI. NGÀY TỐT – KHÔNG PHỒNG

Hôm nay giữ tốt. Vui. Biết duyên. Ngày mai tiếp tục. Không kết luận: “Tôi tu giỏi rồi.”

XCII. NGÀY XẤU – KHÔNG SỤP

Hôm nay sân nhiều. Hỏi: Thiếu ngủ? Quá tải? Duyên mạnh? Tập khí? Nhận và chỉnh. Đây là Tứ Chánh Cần.

XCIII. TU ĐỀU QUAN TRỌNG HƠN TU GẮT

Câu nhớ: TU KHÔNG CẦN GẤP. TU CẦN ĐỀU.

XCIV. CÔNG THỨC ĐỀU

ÍT

→ ĐÚNG

→ ĐỀU

→ LÂU

→ THÀNH LỰC.

XCV. MỖI TUẦN – NHÌN LẠI HƯỚNG

Hỏi: Tham giảm chỗ nào? Sân giảm chỗ nào? Si giảm chỗ nào? Chữ tín tăng chỗ nào? Giới vững chỗ nào? Buông tốt hơn chỗ nào?

XCVI. MỖI THÁNG – NHÌN LẠI THÓI QUEN

Hỏi: Phản ứng có chậm hơn không? Bớt dùng điện thoại vô thức không? Biết nghỉ đúng hơn không? Bớt tranh không? Giữ lời hơn không? Nếu có: Pháp đang thành lực.

XCVII. MỖI NĂM – NHÌN LẠI CON NGƯỜI

Một năm tu thật nên thấy một vài phẩm chất thay đổi: Ít nóng hơn. Thật hơn. Ít giữ công. Bớt sợ mất. Biết buông nhanh hơn. Đó đã là thành quả lớn.

XCVIII. MỘT ĐỜI TU

Cuối đời, nếu: Ít hại hơn. Nhiều từ hơn. Ít chấp hơn. Biết giữ giới. Biết trở về. Biết buông. Biết niệm. thì con đường đã có kết quả.

XCIX. MỘT ĐỜI VÀ ĐẠI NGUYỆN

Đại nguyện được làm từ từng ngày. Một câu lành hôm nay. Một trang sách hôm nay. Một người được giúp hôm nay. Tất cả góp vào một đời. Câu nhớ:

ĐẠI NGUYỆN KHÔNG ĐƯỢC LÀM TRONG MỘT NGÀY.

NÓ ĐƯỢC TRẢ BẰNG TỪNG NGÀY.

C. CÔNG THỨC ĐẠI NGUYỆN HẰNG NGÀY

NHỚ HƯỚNG

→ LÀM VIỆC NHỎ

→ GIỮ ĐÚNG

→ KHÔNG BỎ

→ LẶP LÂU

→ THÀNH NGUYỆN LỰC.

CI. MỘT ĐỜI TU VÀ BỐN CÔNG THỨC

CÔNG THỨC TAM TẠNG:

BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

Đây là hướng đạo đức và thanh lọc.

CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC:

THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

Đây là cách xây nội lực.

CÔNG THỨC BUÔNG:

NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

Đây là cách tháo khổ khi tâm bị dính.

CÔNG THỨC PHẬT:

THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

Đây là hướng của giác tỉnh.

CII. CÔNG THỨC MỘT NGÀY HỢP NHẤT

THỨC DẬY

→ NHỚ HƯỚNG

→ GIỮ GIỚI

→ LÀM THIỆN

→ BIẾT THỌ

→ THẤY TÂM

→ DỪNG PHẢN ỨNG

→ SOI CHẤP

→ BUÔNG

→ TRỞ VỀ

→ TỐI SỬA

→ HỒI HƯỚNG

→ NGHỈ.

CIII. BẢN CỰC NGẮN CHO NGƯỜI BẬN

SÁNG: Nhớ điều đúng. NGÀY: Đừng làm điều hối. KHI ĐỘNG: Thấy – dừng – buông. TỐI: Nhận – sửa – nghỉ.

CIV. BẢN DÙNG KHI TÂM KHỔ

THÂN

→ THỌ

→ TÂM

→ CHẤP

→ GIỚI

→ DỪNG

→ TUỆ

→ BUÔNG.

CV. BẢN DÙNG KHI THÀNH CÔNG

THÀNH

→ VUI

→ BIẾT DUYÊN

→ GIỮ KHIÊM

→ LÀM TIẾP

→ KHÔNG GIỮ CÔNG.

CVI. BẢN DÙNG KHI THẤT BẠI

HỎNG

→ DỪNG

→ THẤY SỰ THẬT

→ NHẬN TRÁCH NHIỆM

→ SỬA

→ ĐỔI CÁCH

→ KHÔNG BỎ HƯỚNG.

CVII. BẢN DÙNG KHI BỊ TỔN THƯƠNG

ĐAU

→ BIẾT THỌ

→ KHÔNG PHẢN ỨNG VỘI

→ ĐẶT RANH GIỚI NẾU CẦN

→ SOI CHẤP

→ KHÔNG NUÔI HẬN

→ BUÔNG DẦN.

CVIII. BẢN DÙNG KHI ĐƯỢC THƯƠNG

ĐƯỢC THƯƠNG

→ BIẾT ƠN

→ TRÂN TRỌNG

→ KHÔNG SỞ HỮU

→ ĐỪNG ĐÒI MÃI NHƯ VẬY.

CIX. BẢN DÙNG KHI PHẢI RỜI

THẤY DUYÊN HẾT

→ LÀM HẾT PHẦN

→ KHÔNG ÉP

→ BIẾT ƠN

→ BUÔNG.

CX. BẢN DÙNG KHI PHẢI GIỮ

GIỮ ĐIỀU ĐÚNG

→ BUÔNG CÁI TÔI

→ ĐỔI PHƯƠNG TIỆN NẾU CẦN.

CXI. BUÔNG KHÔNG PHẢI BỎ TRÁCH NHIỆM

Buông không phải: Bỏ việc. Bỏ người đang cần mình. Bỏ điều đúng. Bỏ giới. Buông là: BỎ CHẤP. Câu nhớ:

BUÔNG CÁI PHẢI BUÔNG.

GIỮ CÁI PHẢI GIỮ.

ĐÓ MỚI LÀ BUÔNG CÓ TUỆ.

CXII. CÔNG THỨC GIỮ VÀ BUÔNG

GIỮ GIỚI. GIỮ TÍN. GIỮ THIỆN. GIỮ NGUYỆN. BUÔNG DANH. BUÔNG CÔNG. BUÔNG SỞ HỮU. BUÔNG CÁI TÔI.

BUÔNG KẾT QUẢ NGOÀI QUYỀN.

CXIII. CÔNG THỨC MỘT ĐỜI TU

THẬT VỚI MÌNH. TỬ TẾ VỚI NGƯỜI.

GIỮ GIỚI VỚI HÀNH VI.

GIỮ ĐỊNH VỚI TÂM. DÙNG TUỆ VỚI CẢNH. DÙNG TỪ VỚI NGƯỜI. DÙNG XẢ VỚI QUẢ.

DÙNG ĐẠI NGUYỆN VỚI CẢ ĐỜI.

CXIV. BÀI THỰC HÀNH 7 NGÀY SỐNG BỐN CÔNG THỨC

NGÀY 1 – THẬT: Không nói sai sự thật để bảo vệ hình ảnh trong một việc. NGÀY 2 – GIỚI: Giữ đặc biệt một hành vi hoặc lời nói.

NGÀY 3 – CHÁNH NIỆM:

Ba lần dừng soi thân – thọ – tâm. NGÀY 4 – BUÔNG: Chọn một chuyện nhỏ và không nhắc lại. NGÀY 5 – THIỆN: Làm một việc tốt không kể công. NGÀY 6 – ĐỊNH: Mỗi lần tâm chạy, quay về hơi thở hoặc Phật hiệu. NGÀY 7 – HỢP NHẤT: Sáng lập hướng, ngày giữ, tối soi.

CXV. THƯỚC ĐO MỘT NGÀY TU THÀNH CÔNG

Không phải: “Không có chuyện gì xảy ra.” Mà là: Có chuyện: Biết. Có sân: Bớt làm hại. Có chấp: Nhận. Có lỗi: Sửa. Có khen: Không phồng nhiều. Có chê: Trở về được. Có mệt: Biết nghỉ. Có vọng: Biết quay lại.

CXVI. THƯỚC ĐO MỘT ĐỜI TU ĐANG ĐI ĐÚNG

Hỏi: Tôi có thật hơn không? Có tín hơn không? Có thiện hơn không? Giới có vững hơn không? Tâm có chỗ trở về hơn không? Tuệ thấy chấp sớm hơn không? Buông nhanh hơn không? Ít làm người khác khổ hơn không? Từ có nhiều hơn không? Nếu dần là “có”: Con đường đang đúng.

CXVII. ĐỪNG ĐO ĐẠO LỰC BẰNG HÌNH ẢNH

Không chỉ đo bằng: Mặc gì. Ngồi bao lâu. Nói thuật ngữ giỏi. Được nhiều người khen. Câu nhớ:

ĐẠO LỰC KHÔNG NẰM Ở HÌNH ẢNH MÌNH TẠO RA.

NÓ NẰM Ở MỨC THAM, SÂN, SI CÓ CÒN DỄ SAI KHIẾN MÌNH HAY KHÔNG.

CXVIII. ĐỪNG ĐO BẰNG SỰ YÊN TĨNH BÊN NGOÀI

Ngồi rất yên chưa chắc không chấp. Hoạt động nhiều chưa chắc không có định. Hãy hỏi:

TÂM CÓ BỊ CẢNH LẤY MẤT QUYỀN CHỌN KHÔNG?

CXIX. ĐỪNG ĐO BẰNG VIỆC KHÔNG CÒN CẢM XÚC

Người tu vẫn: Buồn. Vui. Đau. Thương. Điều khác là: Cảm xúc bớt biến thành hành vi bất thiện.

CXX. ĐỪNG ĐO BẰNG VIỆC KHÔNG CÒN VỌNG

Có vọng mà biết: Là cửa tu. Có sân mà thấy: Là cửa tu. Có chấp mà nhận: Là cửa tu. Không cần biến mình thành đá.

CXXI. MỘT ĐỜI TU VẪN CÓ LÚC NGÃ

Hỏi: Ngã có biết đứng không? Sai có biết sửa không? Mê có biết trở về không? Câu nhớ:

ĐƯỜNG TU KHÔNG CHỈ ĐO BẰNG SỐ LẦN KHÔNG NGÃ.

CÒN ĐO BẰNG KHẢ NĂNG ÍT ĐI LẠC VÀ TRỞ VỀ NHANH HƠN.

CXXII. CÂU GHI NHỚ CHO LIVESTREAM

SÁNG: NHỚ ĐIỀU ĐÚNG. TRONG NGÀY:

GIỮ MIỆNG, GIỮ THÂN.

TÂM ĐỘNG:

THẤY – DỪNG – BUÔNG.

SAI: SỬA. TỐI: BUÔNG NGÀY.

LÀM ĐỀU NHƯ VẬY, PHẬT PHÁP DẦN THÀNH CON NGƯỜI MÌNH.

CXXIII. CÂU NHỚ

THỜI KHÓA LÀ GIỜ HỌC.

CẢ NGÀY LÀ BÀI KIỂM TRA.

CXXIV. CÂU NHỚ

MỘT NGÀY TU KHÔNG CẦN HOÀN HẢO.

CHỈ CẦN TỐI NAY MÌNH BỚT LÀM KHỔ MÌNH VÀ NGƯỜI HƠN SÁNG NAY MỘT CHÚT.

CXXV. CÂU NHỚ

ĐỪNG ĐỢI TÂM THANH TỊNH RỒI MỚI SỐNG THIỆN.

CHÍNH SỐNG THIỆN ĐỀU LÂU NGÀY LÀ MỘT PHẦN LÀM TÂM THANH TỊNH.

CXXVI. CÂU NHỚ

MỘT ĐỜI TU LỚN ĐƯỢC TẠO BỞI NHỮNG LẦN RẤT NHỎ MÌNH KHÔNG PHẢN BỘI ĐIỀU ĐÚNG.

CXXVII. CÂU KẾT

Phật pháp không cần đứng ngoài cuộc đời. Nó đi vào từng giờ. Sáng: Mở mắt biết mình còn một ngày. Trước khi nói: Dừng một hơi. Khi làm việc: Sống thật. Khi có lợi: Không tham quá. Khi mất: Không tạo thêm nghiệp. Khi được khen: Biết thọ. Khi bị chê: Lọc. Khi thương: Không sở hữu.

Khi giận: Giữ miệng. Khi mệt: Biết nghỉ. Khi lười: Làm một bước. Khi vọng: Trở về. Khi sai: Sửa. Khi thiện: Đừng giữ công. Khi tối: Nhìn lại. Khi ngủ: Buông ngày. Đó là một đời tu được làm từ một ngày. Rồi một ngày nữa. Một ngày nữa. Không ồn. Không cần cảm giác đặc biệt. Nhưng mỗi ngày:

ÍT ÁC HƠN. NHIỀU THIỆN HƠN. TÂM SẠCH HƠN. GIỚI VỮNG HƠN. ĐỊNH CÓ HƠN. TUỆ SÁNG HƠN. CHẤP NHẸ HƠN. BUÔNG NHANH HƠN. Và bốn công thức trở thành máu thịt: BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

Cuối cùng, người đọc không cần nhớ hết cuốn sách. Chỉ cần một ngày nào đó: Khi sân khởi: “Dừng.” Khi chấp khởi: “Tôi đang nắm.” Khi lời độc sắp ra: “Không cần.” Khi người đi: “Duyên đổi.” Khi thiện khởi: “Giữ.” Khi tâm chạy: “Trở về.” Lúc đó Pháp không còn nằm trên trang sách.

PHÁP ĐÃ BẮT ĐẦU SỐNG TRONG CON NGƯỜI.

CHƯƠNG 25
TỨ DIỆU ĐẾ – BẢN ĐỒ CỦA KHỔ, NGUYÊN NHÂN, CHẤM DỨT VÀ CON ĐƯỜNG

Nếu phải gom toàn bộ việc tu lại thành bốn câu hỏi, có thể hỏi:

1. Tôi đang khổ ở đâu?

2. Cái gì đang làm khổ tăng?

3. Có thể chấm dứt khổ hay không?

4. Nếu có thể, phải đi bằng con đường nào?

Đó là tinh thần của: TỨ DIỆU ĐẾ – cattāri ariyasaccāni (Pāli), catvāri āryasatyāni (Sanskrit) – Bốn Thánh Đế. Bốn đế là:

DUKKHA / DUḤKHA – KHỔ.

SAMUDAYA – TẬP. NIRODHA – DIỆT.

MAGGA / MĀRGA – ĐẠO.

Câu nhớ:

TỨ DIỆU ĐẾ KHÔNG BẮT MÌNH CHỈ NHÌN KHỔ.

TỨ DIỆU ĐẾ DẠY MÌNH:

NHÌN KHỔ. TÌM NGUYÊN NHÂN.

THẤY KHẢ NĂNG CHẤM DỨT.

RỒI ĐI BẰNG MỘT CON ĐƯỜNG CÓ PHƯƠNG PHÁP.

I. TỨ DIỆU ĐẾ – CATTĀRI ARIYASACCĀNI / CATVĀRI ĀRYASATYĀNI

Pāli:

cattāri ariyasaccāni.

Sanskrit:

catvāri āryasatyāni. Tiếng Việt: Bốn Thánh Đế / Tứ Diệu Đế. Gồm:

1. Dukkha / duḥkha – Khổ đế.

2. Samudaya – Tập đế, nguồn sinh khổ.

3. Nirodha – Diệt đế, sự chấm dứt khổ.

4. Magga / mārga – Đạo đế, con đường đưa tới diệt khổ.

Nguồn nền:

SN 56.11 – Dhammacakkappavattana Sutta – Kinh Chuyển Pháp Luân.

II. KINH CHUYỂN PHÁP LUÂN – DHAMMACAKKAPPAVATTANA SUTTA

Pāli:

Dhammacakkappavattana Sutta.

Sanskrit:

Dharmacakrapravartana Sūtra. Tiếng Việt:

Kinh Chuyển Pháp Luân / Kinh Chuyển Bánh Xe Pháp.

Nguồn: Tương Ưng Bộ – Saṃyutta Nikāya.

SN 56.11.

Bài kinh trình bày: Trung đạo. Bát Chánh Đạo. Tứ Thánh Đế. Đây là một trong những bài kinh nền căn bản bậc nhất.

III. TỨ DIỆU ĐẾ KHÔNG PHẢI BỐN CÂU BI QUAN

Nếu bác sĩ nói: “Anh đang bệnh.” Không phải bi quan. Nếu bác sĩ tiếp: “Đây là nguyên nhân.” “Bệnh có thể trị.” “Đây là phương pháp.” thì đó là thực tế. Tứ Diệu Đế cũng vậy. Nó không dừng ở Khổ. Nó còn có: TẬP. DIỆT. ĐẠO. Câu nhớ:

TỨ DIỆU ĐẾ KHÔNG CHỈ CHỈ RA VẾT THƯƠNG.

NÓ CHỈ CẢ NGUYÊN NHÂN, KHẢ NĂNG LÀNH VÀ CÁCH CHỮA.

IV. KHỔ ĐẾ – DUKKHA / DUḤKHA

Pāli:

dukkha.

Sanskrit:

duḥkha. Tiếng Việt: khổ, bất toại nguyện, tính không thể cho sự thỏa mãn tuyệt đối. Dukkha rộng hơn cảm giác đau. Có đau thân. Có buồn tâm. Có mất mát. Có thất vọng. Có bất ổn vì nương vào cái vô thường.

V. DUKKHA KHÔNG CHỈ LÀ “ĐAU”

Một người đang vui vẫn có thể bị khổ chi phối nếu: vui ấy vô thường, và tâm đòi: “Phải vui mãi.” Câu nhớ:

DUKKHA KHÔNG CHỈ LÀ ĐAU ĐANG CẢM THẤY.

NÓ CÒN CHỈ TÍNH BẤT ỔN CỦA CÁI MÌNH ĐANG NƯƠNG VÀO.

VI. NHỮNG DẠNG KHỔ TRONG KINH

Trong Kinh Chuyển Pháp Luân, khổ được trình bày qua: Sinh. Già. Bệnh. Chết. Sầu. Bi. Khổ. Ưu. Não. Gặp điều không ưa. Xa điều mình thương. Cầu không được. Và nói gọn:

NĂM THỦ UẨN LÀ KHỔ.

Pāli:

pañcupādānakkhandhā dukkhā.

VII. NĂM THỦ UẨN – PAÑCUPĀDĀNAKKHANDHA

Pāli:

pañcupādānakkhandha.

Sanskrit:

pañcopādānaskandha. Tiếng Việt: năm thủ uẩn. Gồm: rūpa – sắc. vedanā – thọ. saññā / saṃjñā – tưởng. saṅkhāra / saṃskāra – hành. viññāṇa / vijñāna – thức. Khổ tăng khi năm uẩn bị chấp là: “Tôi.” “Của tôi.” “Phải theo tôi.”

VIII. SINH – GIÀ – BỆNH – CHẾT

Pāli:

jāti – sinh. jarā – già. byādhi – bệnh. maraṇa – chết.

Sanskrit:

jāti, jarā, vyādhi, maraṇa. Những pháp này chỉ ra: THÂN HỮU HẠN. Tu không phải đòi thân bất tử. Tu là thấy thân đúng để không chấp sai.

IX. GẶP ĐIỀU KHÔNG ƯA – XA ĐIỀU MÌNH THƯƠNG

Đại ý trong kinh: Gặp điều không ưa là khổ. Xa điều mình thương là khổ. Đây là mạch: ÁI

→ THỦ

→ KHỔ.

X. CẦU KHÔNG ĐƯỢC

Pāli:

yampicchaṃ na labhati tampi dukkhaṃ. Đại ý: Mong cầu mà không được cũng là khổ. Muốn người hiểu: Không được. Muốn việc thành: Không được. Muốn được công nhận: Không được. Cầu không được là một nơi dukkha rất rõ.

XI. KHÔNG PHẢI MỌI MONG MUỐN ĐỀU LÀ ÁI

Cần phân biệt: chanda – ý muốn, ý hướng; có thể thiện. taṇhā / tṛṣṇā – khát ái, ái chấp. Muốn tu. Muốn giữ giới. Muốn làm thiện. Không nên gom hết thành ái bất thiện.

XII. TẬP ĐẾ – SAMUDAYA

Pāli/Sanskrit: samudaya. Tiếng Việt: Tập đế – sự thật về nguồn sinh khổ. Trong Kinh Chuyển Pháp Luân, nguồn khổ được chỉ vào: taṇhā – Pāli. tṛṣṇā – Sanskrit. Tiếng Việt: ái, khát ái.

XIII. BA LOẠI ÁI

1. kāma-taṇhā / kāma-tṛṣṇā – dục ái.

2. bhava-taṇhā / bhava-tṛṣṇā – hữu ái.

3. vibhava-taṇhā / vibhava-tṛṣṇā – phi hữu ái.

XIV. DỤC ÁI – KĀMA-TAṆHĀ / KĀMA-TṚṢṆĀ

Khát đối tượng dễ chịu. Muốn: Vị. Âm thanh. Hình ảnh. Vật. Cảm giác. Câu nhớ:

THÍCH CHƯA CHẮC LÀ CHẤP.

NHƯNG THÍCH MÀ “PHẢI CÓ MỚI YÊN” THÌ ÁI ĐÃ MẠNH.

XV. HỮU ÁI – BHAVA-TAṆHĀ / BHAVA-TṚṢṆĀ

Muốn: “Tôi phải là người này.” “Tôi phải có danh này.” “Tôi phải được kính.” Đây là khát một hình ảnh về cái tôi.

XVI. PHI HỮU ÁI – VIBHAVA-TAṆHĀ / VIBHAVA-TṚṢṆĀ

Khát: “Cái này phải biến mất.” “Tôi không chịu được trạng thái này.” Không nên đồng nhất mọi ý muốn bỏ điều xấu với phi hữu ái. Muốn bỏ sân bằng trí có thể là thiện. Phi hữu ái là khát loại bỏ trong thế chấp và đối kháng.

XVII. KHỔ KHÔNG CHỈ DO CẢNH

Cùng một lời chê: Người này khổ hai phút. Người kia khổ hai ngày. Người khác khổ nhiều năm. Cảnh giống. Phần tâm khác. Tập đế hỏi:

“TRONG TÂM ĐANG CÓ ÁI VÀ THỦ NÀO?”

XVIII. XÚC – THỌ – ÁI – THỦ

Pāli/Sanskrit: phassa / sparśa – xúc. vedanā – thọ. taṇhā / tṛṣṇā – ái. upādāna – thủ. Công thức thực hành: XÚC

→ THỌ

→ NẾU THIẾU TỈNH

→ ÁI

→ THỦ

→ KHỔ TĂNG.

Đây là cách hệ thống hóa để chỉ chỗ thực hành, không thay thế chuỗi Duyên khởi đầy đủ.

XIX. TẬP ĐẾ VÀ CHỮ “PHẢI”

Người phải hiểu tôi. Việc phải thành. Thân phải khỏe. Tôi phải được công nhận. Cần hỏi:

“ĐÂY LÀ NGUYÊN TẮC CẦN GIỮ HAY CÁI TÔI ĐANG ĐÒI?”

XX. TẬP ĐẾ VÀ SỢ

Sợ thường đi cùng ái: Sợ mất cái đang giữ. Sợ không đạt cái đang muốn thành. Sợ xuất hiện cái đang muốn đẩy. Câu hỏi: “TÔI SỢ MẤT GÌ?” thường dẫn tới cái chấp.

XXI. TẬP ĐẾ VÀ THỦ – UPĀDĀNA

Ái nói: “Tôi muốn.” Thủ nói: “Phải là của tôi.” Chấp thủ nằm rất sâu trong cơ chế khổ.

XXII. DIỆT ĐẾ – NIRODHA

Pāli/Sanskrit: nirodha. Tiếng Việt: Diệt – sự chấm dứt, lắng tắt. Diệt đế là sự thật về sự chấm dứt khổ. Tứ Diệu Đế không bi quan vì có Diệt.

XXIII. DIỆT KHÔNG PHẢI DIỆT CON NGƯỜI

Diệt đế không có nghĩa: mình biến mất. Mà là: ái được đoạn trừ. chấp được buông. tham sân si được lắng tắt. Không phải tự hủy. Không phải đoạn kiến.

XXIV. NIẾT-BÀN – NIBBĀNA / NIRVĀṆA

Pāli:

Nibbāna.

Sanskrit:

Nirvāṇa. Tiếng Việt: Niết-bàn. Không nên giản lược Niết-bàn thành: “cảm giác bình an.” Niết-bàn là khái niệm giải thoát sâu trong Phật giáo. “An” trong công thức đời thường không đồng nhất ngay với chứng ngộ Niết-bàn.

XXV. NHỮNG “MÔ HÌNH DIỆT NHỎ” TRONG ĐỜI

Sân sinh:

Không nuôi → sân giảm.

Chấp sinh:

Thấy → chấp lỏng.

Lo sinh:

Trở về → lo bớt.

Đây là những kinh nghiệm cho thấy bất thiện có thể được làm lắng. Không nên gọi đó là chứng Diệt đế tối hậu.

XXVI. DIỆT ĐẾ VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

Công thức Buông: NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

Chữ BUÔNG liên hệ sâu với hướng nirodha – diệt. Nhưng buông một chấp đời thường không đồng nhất với Diệt đế tối hậu.

XXVII. ĐẠO ĐẾ – MAGGA / MĀRGA

Pāli:

magga.

Sanskrit:

mārga. Tiếng Việt: con đường. Đạo đế là sự thật về con đường dẫn tới diệt khổ. Con đường được trình bày trong Kinh Chuyển Pháp Luân là: BÁT CHÁNH ĐẠO.

XXVIII. ĐẠO ĐẾ KHÔNG PHẢI “BIẾT ĐƯỢC LÀ XONG”

Biết Chánh ngữ nhưng không giữ: Chưa đi. Biết Chánh niệm nhưng không nhớ: Chưa đi. Biết Chánh định nhưng không tập: Chưa đi. Câu nhớ:

ĐẠO ĐẾ KHÔNG PHẢI CON ĐƯỜNG MÌNH BIẾT.

LÀ CON ĐƯỜNG MÌNH ĐANG ĐI.

XXIX. BÁT CHÁNH ĐẠO LÀ ĐẠO ĐẾ

sammā-diṭṭhi / samyag-dṛṣṭi – Chánh kiến. sammā-saṅkappa / samyak-saṃkalpa – Chánh tư duy. sammā-vācā / samyag-vāc – Chánh ngữ. sammā-kammanta / samyak-karmānta – Chánh nghiệp. sammā-ājīva / samyag-ājīva – Chánh mạng. sammā-vāyāma / samyag-vyāyāma – Chánh tinh tấn. sammā-sati / samyak-smṛti – Chánh niệm.

sammā-samādhi / samyak-samādhi – Chánh định. Đạo đế là một đời sống được chỉnh toàn diện.

XXX. BỐN ĐẾ CÓ BỐN NHIỆM VỤ

Khổ đế: PHẢI ĐƯỢC HIỂU RÕ. Tập đế:

PHẢI ĐƯỢC ĐOẠN TRỪ.

Diệt đế:

PHẢI ĐƯỢC CHỨNG NGỘ.

Đạo đế: PHẢI ĐƯỢC TU TẬP.

XXXI. THUẬT NGỮ PĀLI VỀ BỐN NHIỆM VỤ

Khổ: pariññeyya – cần được liễu tri. Tập: pahātabba – cần được đoạn trừ. Diệt: sacchikātabba – cần được chứng ngộ. Đạo: bhāvetabba – cần được tu tập, phát triển. Đây là phần cực kỳ quan trọng của Kinh Chuyển Pháp Luân.

XXXII. KHỔ KHÔNG CHỈ ĐỂ CHỊU

Câu nhớ:

KHỔ KHÔNG CHỈ ĐỂ CHỊU.

KHỔ CÒN ĐỂ HIỂU. Hỏi: Khổ đang chỉ cái gì? Ái nào? Chấp nào? Duyên nào?

XXXIII. TẬP ĐẾ KHÔNG PHẢI ĐỔ LỖI CHO MÌNH

Khổ có nhiều duyên. Có: cảnh. thân. bệnh. môi trường. tập khí. thọ. ái. thủ. Tu là thấy phần mình có thể chuyển. Không phải tự kết án.

XXXIV. DIỆT ĐẾ KHÔNG PHẢI ÉP HẾT ĐAU NGAY

Không nói với người đang đau: “Biết Pháp rồi thì đừng buồn.” Diệt là hướng. Không phải cây roi. Câu nhớ:

DIỆT ĐẾ LÀ HY VỌNG CÓ PHƯƠNG PHÁP.

KHÔNG PHẢI MỆNH LỆNH “PHẢI HẾT ĐAU NGAY”.

XXXV. ĐẠO ĐẾ VÀ CÁC PHÁP MÔN

Bát Chánh Đạo là trục. Các phương pháp như: Niệm Phật. Thiền hơi thở. Tụng kinh. Giữ giới. Bố thí. Pháp thí. có thể được soi bằng Bát Chánh Đạo. Không biến Đạo đế thành tranh chấp pháp môn.

XXXVI. VÍ DỤ BÁC SĨ

Khổ: Bệnh. Tập: Nguyên nhân. Diệt: Khả năng khỏi. Đạo: Phương pháp điều trị. Đây chỉ là ví dụ dễ hiểu, không bao trùm hết chiều sâu của Tứ Diệu Đế.

XXXVII. TỨ DIỆU ĐẾ TRONG MỘT CƠN SÂN

KHỔ: Tâm nóng, thân căng. TẬP: Muốn thắng, muốn người kia đau, muốn được hiểu. DIỆT: Không nuôi sân. ĐẠO: Dừng, giữ khẩu, chánh niệm, quán và nói đúng lúc.

XXXVIII. TỨ DIỆU ĐẾ VÀ LỜI CHÊ

KHỔ: Khó chịu. TẬP: Chấp hình ảnh “tôi không được chê”. DIỆT: Bớt đồng hóa với danh. ĐẠO: Chánh kiến, Chánh niệm, Chánh ngữ, Chánh tinh tấn.

XXXIX. TỨ DIỆU ĐẾ VÀ TÌNH CẢM

KHỔ: Người đổi, tâm đau. TẬP: Muốn người phải như cũ, chấp người là “của tôi”. DIỆT: Bớt sở hữu. ĐẠO: Từ, xả, Chánh kiến, giới, niệm, định.

XL. TỨ DIỆU ĐẾ VÀ VẬT CHẤT

KHỔ: Mất vật. TẬP: Chấp “phải còn”. DIỆT: Thấy vô thường, giảm sở hữu trong tâm. ĐẠO: Xử lý đúng phần cứu được, buông phần không cứu được.

XLI. TỨ DIỆU ĐẾ VÀ CÔNG VIỆC

KHỔ: Việc hỏng. TẬP: Chấp kết quả là giá trị bản thân. DIỆT: Tách kết quả khỏi căn tính. ĐẠO: Học lỗi, đổi cách, giữ hướng.

XLII. TỨ DIỆU ĐẾ VÀ BỆNH

Bệnh có nguyên nhân sinh học, môi trường, di truyền và nhiều duyên vật lý. Không nên nói đơn giản: “Bệnh vì ái.” Phật pháp có thể giúp phần tâm: Bớt chống. Bớt sợ. Bớt tạo thêm khổ. Nhưng chăm sóc và điều trị thân vẫn cần thiết khi cần.

XLIII. KINH MŨI TÊN – SALLATTHA SUTTA

Nguồn: Tương Ưng Bộ – Saṃyutta Nikāya.

SN 36.6.

Sallattha Sutta – Kinh Mũi Tên. Đau thân có thể là mũi tên đầu. Phần tâm phản ứng có thể làm khổ tăng như mũi tên thứ hai. Không dùng ví dụ này để đổ lỗi cho người đang đau.

XLIV. TỨ DIỆU ĐẾ VÀ PHÁP CÚ 183

BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

Khổ: Thấy hậu quả. Tập: Thấy tham, sân, si, ái, thủ. Diệt: Thấy khả năng thanh lọc. Đạo: Thực hành bỏ ác, làm thiện, làm sạch tâm. Đây là cách nối hệ thống hóa.

XLV. TỨ DIỆU ĐẾ VÀ CÔNG THỨC PHẬT

THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

THẤY: Khổ. TỈNH: Thấy Tập, không chạy theo. BUÔNG: Hướng Diệt. SÁNG: Đi Đạo bằng tuệ. Đây là cách nối thực hành của cuốn sách.

XLVI. TỨ DIỆU ĐẾ VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

NHẬN: Khổ đang có. SOI: Tập ở đâu? THẤY: Ái/chấp nào đang vận hành? KHÔNG DÍNH: Không nuôi. KHÔNG CHẤP: Không nắm. BUÔNG: Hướng Diệt.

AN:

Khổ giảm.

XLVII. TỨ DIỆU ĐẾ VÀ CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC

THẬT: Dám nhận khổ. TÍN: Giữ điều đúng. THIỆN: Không tạo thêm nguyên nhân khổ. GIỚI: Chặn nghiệp bất thiện. ĐỊNH: Đứng được trong thọ. TUỆ: Thấy Tập. LỰC: Có sức đi Đạo.

XLVIII. TỨ DIỆU ĐẾ VÀ CÔNG THỨC TAM TẠNG

BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

Vì sao bỏ ác? Vì ác tăng khổ. Vì sao làm lành? Vì thiện tạo duyên lành. Vì sao làm sạch tâm? Vì gốc khổ sâu nằm ở tham, ái, thủ, vô minh.

XLIX. TỨ DIỆU ĐẾ VÀ VÔ THƯỜNG

Pāli:

anicca.

Sanskrit:

anitya. Tiếng Việt: vô thường. Cái vô thường mà bị đòi phải thường: Khổ. Vô thường giúp hiểu vì sao chấp tạo dukkha.

L. TỨ DIỆU ĐẾ VÀ VÔ NGÃ

Pāli:

anattā.

Sanskrit:

anātman. Tiếng Việt: vô ngã. Khi chấp: “Tôi.” “Của tôi.” “Phải theo tôi.” Khổ tăng. Vô ngã làm Tập yếu.

LI. TỨ DIỆU ĐẾ VÀ DUYÊN KHỞI

Pāli:

paṭiccasamuppāda.

Sanskrit:

pratītyasamutpāda. Tiếng Việt: Duyên khởi. Tứ Diệu Đế chỉ: Khổ và nguồn khổ. Duyên khởi chỉ sâu hơn các mắt xích nhân duyên. Hai khung hỗ trợ lẫn nhau.

LII. TỨ DIỆU ĐẾ VÀ TỨ NIỆM XỨ

Tứ Diệu Đế hỏi: Khổ? Tập? Diệt? Đạo? Tứ Niệm Xứ cho nền quan sát: Thân. Thọ. Tâm. Pháp. Chánh niệm cho dữ liệu. Tuệ đọc dữ liệu theo Tứ Diệu Đế.

LIII. TỨ DIỆU ĐẾ VÀ TỨ CHÁNH CẦN

Tập chưa sinh: Ngăn. Tập đã sinh: Bỏ. Thiện của Đạo chưa sinh: Khởi. Thiện đã sinh: Giữ. Tứ Chánh Cần là động cơ thực hành của Đạo đế.

LIV. TỨ DIỆU ĐẾ VÀ THẤT GIÁC CHI

Thất Giác Chi gồm: Niệm. Trạch pháp. Tinh tấn. Hỷ. Khinh an. Định. Xả. Đặc biệt: dhamma-vicaya / dharma-pravicaya – Trạch pháp giúp phân biệt: Đây là khổ? Đây là tập? Đây là thiện? Đây là bất thiện? Đây là pháp đối trị nào?

LV. TỨ DIỆU ĐẾ VÀ NĂM TRIỀN CÁI

Năm triền cái: Dục tham. Sân. Hôn trầm. Trạo hối. Nghi. Triền cái mạnh làm tâm khó thấy rõ Khổ – Tập – Diệt – Đạo. Vì vậy định là nền quan trọng.

LVI. TỨ DIỆU ĐẾ VÀ GIỚI – ĐỊNH – TUỆ

GIỚI: Không tạo thêm khổ lớn qua thân khẩu. ĐỊNH: Đủ yên để thấy Khổ và Tập. TUỆ: Thấy nguyên nhân và đường thoát. Ba học nằm trong Đạo đế.

LVII. TỨ DIỆU ĐẾ VÀ NIỆM PHẬT

Có thể soi thực hành: KHỔ: Tâm tán, sợ, chấp. TẬP: Chạy theo vọng, ái, thủ. DIỆT: Không theo vọng, tâm nhẹ hơn. ĐẠO: Giữ giới, sống thiện, niệm Phật, chánh niệm, tinh tấn. Đây là cách nối thực hành, không thay thế giáo nghĩa Tịnh độ đầy đủ.

LVIII. TỨ DIỆU ĐẾ VÀ BÁT NHÃ

Bát Nhã nhấn mạnh Không tính. Thấy các pháp không tự tính độc lập giúp giảm chấp. Giảm chấp có thể làm Tập yếu. Nhưng không nên đồng nhất giản lược: KHÔNG = DIỆT ĐẾ.

LIX. TỨ DIỆU ĐẾ VÀ BỒ-ĐỀ TÂM – BODHICITTA

Sanskrit:

bodhicitta. Tiếng Việt: Bồ-đề tâm. Trong Đại thừa, Bồ-đề tâm hướng tới giác ngộ vì lợi ích chúng sinh. Tứ Diệu Đế giúp Bồ-đề tâm có phương pháp: Hiểu khổ. Hiểu nguyên nhân khổ. Tin khả năng giải thoát. Tu con đường.

LX. TỨ DIỆU ĐẾ VÀ TỪ BI

Hiểu Khổ đế đúng: Bớt trách người đang khổ. Bớt lạnh. Bớt tàn nhẫn. Câu nhớ:

HIỂU KHỔ ĐẾ ĐÚNG KHÔNG LÀM MÌNH BI QUAN.

NÓ LÀM MÌNH BỚT TÀN NHẪN VỚI KHỔ CỦA NGƯỜI.

LXI. TỨ DIỆU ĐẾ VÀ BÁT PHONG

Được – mất. Danh – thất danh. Khen – chê. Lạc – khổ. Khổ đế: Hiện ra khi bị tám gió kéo. Tập đế: Muốn được, sợ mất, thích khen, ghét chê. Diệt: Bớt bị sở hữu bởi tám gió. Đạo: Giới, niệm, định, tuệ.

LXII. KHỔ ĐẾ KHÔNG PHỦ NHẬN CÁI ĐẸP

Hoa vẫn đẹp. Tình thương vẫn đẹp. Niềm vui vẫn quý. Khổ đế chỉ nhắc:

CÁI VÔ THƯỜNG KHÔNG THỂ BẢO ĐẢM CHO MÌNH MỘT CHỖ BÁM VĨNH VIỄN.

LXIII. TẬP ĐẾ KHÔNG CHỈ LÀ THAM VẬT

Có ái rất tinh: Ái danh. Ái vai trò. Ái được đúng. Ái được kính. Ái được công nhận. Ái hình ảnh đạo đức. Người tu cũng phải soi.

LXIV. TẬP ĐẾ CÓ THỂ NÚP TRONG ĐIỀU TỐT

Muốn người tu: Có thể tốt. Nhưng nếu: “Không theo tôi là sai.” thì ngã và thủ có thể chen vào. Cần Chánh kiến.

LXV. DIỆT ĐẾ KHÔNG ĐỒNG NGHĨA CHỈ TRỐN CẢNH

Né hết người: Có thể tạm ít bị chạm. Nhưng chấp có thể vẫn còn. Câu nhớ:

IM CẢNH KHÔNG ĐỒNG NGHĨA ĐÃ DIỆT TÂM.

LXVI. ĐẠO ĐẾ CẦN SỰ ĐỀU ĐẶN

Con đường cần: Đúng. Đều. Lâu. Lặp. Công thức: ÍT

→ ĐÚNG

→ ĐỀU

→ LÂU

→ THÀNH LỰC.

LXVII. TỨ DIỆU ĐẾ VÀ THẤT TÍN

KHỔ: Tâm hối, người mất tin. TẬP: Có thể vì tham, sợ, lười hoặc cái tôi. DIỆT: Nhận thật và sửa. ĐẠO: Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh tinh tấn.

LXVIII. TỨ DIỆU ĐẾ VÀ NÓI DỐI

KHỔ: Tâm chia đôi, sợ bị biết. TẬP: Muốn bảo vệ lợi hoặc hình ảnh. DIỆT: Trở về thật. ĐẠO: Nhận, sửa, nói đúng, chịu trách nhiệm.

LXIX. TỨ DIỆU ĐẾ VÀ GIỮ GIỚI

Giới có thể chặn khổ mới trước khi hành động. Sân muốn nói ác. Giới giữ miệng. Dù sân chưa hết: Nghiệp khẩu không tăng. Đó là Đạo đế đang làm việc.

LXX. TỨ DIỆU ĐẾ VÀ ĐỊNH LỰC

Không có định: Thấy khổ rồi phản ứng ngay. Có định: Thấy khổ. Chịu được thọ. Không vội. Soi Tập. Câu nhớ:

ĐỊNH CHO MÌNH ĐỦ THỜI GIAN ĐỂ TẬP ĐẾ LỘ RA TRƯỚC KHI THÂN KHẨU TẠO NGHIỆP.

LXXI. TRẠCH PHÁP – DHAMMA-VICAYA / DHARMA-PRAVICAYA

Pāli:

dhamma-vicaya.

Sanskrit:

dharma-pravicaya. Tiếng Việt: Trạch pháp – khảo sát, phân biệt pháp. Trạch pháp hỏi: Khổ nào? Thọ nào? Ái nào? Thủ nào? Triền cái nào? Thiện nào? Bất thiện nào? Pháp đối trị nào? Câu nhớ:

TRẠCH PHÁP KHÔNG PHẢI NGHĨ NHIỀU.

LÀ PHÂN BIỆT ĐÚNG.

LXXII. THẤT GIÁC CHI – SATTA BOJJHAṄGĀ / SAPTA BODHYAṄGĀNI

Pāli:

satta bojjhaṅgā.

Sanskrit:

sapta bodhyaṅgāni. Tiếng Việt: Bảy Giác Chi. Gồm: sati / smṛti – niệm. dhamma-vicaya / dharma-pravicaya – trạch pháp. viriya / vīrya – tinh tấn. pīti / prīti – hỷ. passaddhi / praśrabdhi – khinh an. samādhi – định. upekkhā / upekṣā – xả.

LXXIII. BỐN ĐẾ TRONG MỘT PHÚT

Bản đời thường: KHỔ GÌ? DO GÌ? CÓ THỂ NHẸ KHÔNG? LÀM GÌ BÂY GIỜ? Đây là công thức hệ thống hóa.

LXXIV. BỐN ĐẾ TRONG MỘT CUỘC TRANH

KHỔ: Bị tổn thương. TẬP: Muốn thắng, muốn được hiểu, chấp ý. DIỆT: Không nuôi tranh. ĐẠO: Dừng, nghe, nói phần cần.

LXXV. BỐN ĐẾ TRONG GHEN

KHỔ: Bất an. TẬP: Sợ mất, sở hữu. DIỆT: Bớt sở hữu. ĐẠO: Nói thật, giữ giới, tôn trọng, chánh niệm, xả.

LXXVI. BỐN ĐẾ TRONG GANH

KHỔ: Co tâm. TẬP: So sánh, muốn hơn. DIỆT: Thấy duyên khác nhau. ĐẠO: Khởi muditā – hỷ và trở về đường mình.

LXXVII. BỐN ĐẾ TRONG LO

KHỔ: Tâm chạy. TẬP: Đòi chắc chắn tuyệt đối. DIỆT: Chấp nhận phần không chắc. ĐẠO: Xác minh thực tế, làm phần mình, thở, buông phần ngoài quyền.

LXXVIII. BỐN ĐẾ TRONG KHÓ NGỦ

KHỔ: Mệt. TẬP: “Phải ngủ ngay”, sợ ngày mai. DIỆT: Bớt chống. ĐẠO: Giảm kích thích, thả thân, niệm Phật hoặc biết hơi, chăm điều kiện ngủ. Nếu vấn đề kéo dài cần chăm sóc sức khỏe phù hợp.

LXXIX. BỐN ĐẾ VÀ RANH GIỚI

Nếu người gây hại: KHỔ: Đau hoặc sợ. TẬP: Có thể có thêm chấp hoặc sợ. DIỆT: Không nhất thiết nghĩa phải ở lại. ĐẠO: Đặt ranh giới, rời nếu cần, giữ giới, không nuôi hận.

TỨ DIỆU ĐẾ KHÔNG BẮT NGƯỜI CHỊU ĐỰNG HẠI.

LXXX. BỐN ĐẾ VÀ TỪ BI VỚI MÌNH

Thấy Tập không phải để ghét mình. Câu nhớ:

THẤY NGUYÊN NHÂN KHỔ KHÔNG PHẢI ĐỂ GHÉT MÌNH.

LÀ ĐỂ THÔI NUÔI NGUYÊN NHÂN ẤY.

LXXXI. BỐN ĐẾ VÀ TỪ BI VỚI NGƯỜI

Khi người sân: Không chỉ thấy hành vi. Còn thấy: Họ cũng đang ở trong Khổ và Tập. Không bao che. Nhưng hiểu hơn.

LXXXII. BỐN ĐẾ VÀ CHỮ THẬT

KHỔ ĐẾ: Thật với khổ. TẬP ĐẾ: Thật với động cơ. DIỆT ĐẾ: Thật với chấp. ĐẠO ĐẾ: Thật với mức tu. Câu nhớ:

TỨ DIỆU ĐẾ BẮT ĐẦU BẰNG SỰ THẬT.

LXXXIII. BỐN ĐẾ VÀ CHỮ TÍN

Chữ tín không phải một chi riêng của Tứ Diệu Đế. Nhưng thất tín có thể tạo khổ. Giữ tín nằm trong đời sống giới và Chánh ngữ – Chánh nghiệp. Vì vậy chữ tín là một nơi rất cụ thể để thực hành Đạo đế.

LXXXIV. BỐN ĐẾ VÀ THIỆN

Đạo đế không chỉ bỏ. Còn sinh thiện: Từ. Bi. Hỷ. Xả. Giới. Bố thí. Chánh ngữ. Chánh mạng. Đây là lý do Công thức Tam Tạng có chữ: LÀM LÀNH.

LXXXV. BỐN ĐẾ VÀ GIỚI

Giới giúp không tạo thêm khổ mới qua thân và khẩu. Đối với cư sĩ: Không sát sinh. Không lấy của không cho. Không tà hạnh. Không nói dối. Không dùng chất say gây buông lung. Đối với người xuất gia, giới luật rộng hơn rất nhiều.

LXXXVI. BỐN ĐẾ VÀ ĐỊNH

Định giúp: Thọ không thành mệnh lệnh. Tâm có khoảng. Tập lộ. Tuệ nhìn.

LXXXVII. BỐN ĐẾ VÀ TUỆ

Tuệ thấy: Khổ là khổ. Ái là ái. Thủ là thủ. Vô thường là vô thường. Không gọi tham là tình thương. Không gọi chấp là trách nhiệm. Không gọi trốn là buông.

LXXXVIII. BỐN ĐẾ VÀ LỰC

Lực là: Thấy Khổ mà không gục. Thấy Tập mà không trốn. Tin Diệt là hướng có thật. Đi Đạo mà không bỏ.

LXXXIX. TỨ DIỆU ĐẾ TRONG MỘT NGÀY

Sáng: Nhớ Đạo. Trong ngày: Thấy Khổ. Khi tâm động: Soi Tập. Khi buông được: Nếm sự nhẹ. Tối: Kiểm lại con đường.

XC. THỜI KHÓA BỐN ĐẾ 4 PHÚT

PHÚT 1 – KHỔ: Hôm nay điều gì làm tâm nặng nhất? PHÚT 2 – TẬP: Tôi đang muốn nắm hoặc đẩy gì? PHÚT 3 – DIỆT: Nếu bớt nắm một chút, tâm sẽ thế nào? PHÚT 4 – ĐẠO: Ngày mai một việc cụ thể tôi sẽ làm là gì?

XCI. NHẬT KÝ BỐN ĐẾ

CỘT 1 – KHỔ: Sự kiện và thọ. CỘT 2 – TẬP: Ái, chấp, triền cái. CỘT 3 – DIỆT: Cái gì cần buông. CỘT 4 – ĐẠO: Pháp hành và hành động cụ thể.

XCII. KHÔNG CẦN BIẾN TỨ DIỆU ĐẾ THÀNH HỌC THUẬT KHÔ CỨNG

Một người buồn không cần nghe một bài thuật ngữ dài ngay lúc đó. Có thể hỏi: “Đang đau chỗ nào?” “Đang nắm gì?” “Có thể nhẹ chỗ nào?” “Bây giờ làm gì cho đúng?” Đó là Tứ Diệu Đế sống.

XCIII. NGƯỜI MỚI TU

Có thể nhớ: KHỔ: Biết. NGUYÊN NHÂN: Thấy. CÓ ĐƯỜNG RA: Tin. CON ĐƯỜNG: Đi.

XCIV. NGƯỜI HỌC SÂU

Có thể đi sâu vào: Mười hai hành tướng. Duyên khởi. Năm thủ uẩn. Ái. Thủ. Vô minh. Bát Chánh Đạo. Giới – Định – Tuệ. Tứ Diệu Đế là một khung càng học càng mở.

XCV. KHỔ ĐẾ VÀ KHIÊM HẠ

Ai cũng có khổ. Người có danh. Người không danh. Người giàu. Người nghèo. Người tu. Người đời. Câu nhớ:

KHỔ ĐẾ SAN BẰNG RẤT NHIỀU ẢO TƯỞNG VỀ ĐỊA VỊ.

XCVI. TẬP ĐẾ VÀ SỰ THẬT KHÓ NGHE

Đôi khi ta nghĩ: “Do người kia.” Nhưng soi sâu thấy: mình đang chấp. Không phải mọi khổ do mình. Nhưng phần ái và chấp của mình là phần mình có thể tu.

XCVII. DIỆT ĐẾ VÀ HY VỌNG

Con người không bị đóng đinh vào tham sân si mãi. Có thể huân lại. Có thể giảm chấp. Có thể hướng giải thoát. Câu nhớ:

DIỆT ĐẾ LÀ LỜI KHẲNG ĐỊNH RẰNG KHỔ KHÔNG PHẢI ÔNG CHỦ VĨNH VIỄN.

XCVIII. ĐẠO ĐẾ VÀ KỶ LUẬT

Hy vọng không đủ. Phải đi. Giữ giới. Tinh tấn. Chánh niệm. Định. Tuệ. Câu nhớ:

DIỆT ĐẾ CHO HY VỌNG.

ĐẠO ĐẾ BẮT HY VỌNG ĐI BẰNG CHÂN.

XCIX. BỐN CÔNG THỨC GẶP TỨ DIỆU ĐẾ

CÔNG THỨC TAM TẠNG:

BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

Khổ: Thấy hậu quả. Tập: Thấy gốc. Diệt: Thấy khả năng thanh lọc. Đạo: Thực hành.

CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC:

THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

Thật: Nhận Khổ. Định: Đứng trong thọ. Tuệ: Thấy Tập. Giới: Không tạo thêm khổ. Lực: Đi Đạo lâu dài.

CÔNG THỨC BUÔNG:

NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

Nhận: Khổ. Soi: Tập. Buông: Hướng Diệt. Toàn bộ tiến trình: Nằm trong Đạo.

CÔNG THỨC PHẬT:

THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

Thấy: Khổ. Tỉnh: Thấy Tập. Buông: Hướng Diệt. Sáng: Đi Đạo bằng tuệ.

C. CÔNG THỨC TỨ DIỆU ĐẾ CỰC GỌN

KHỔ: THẤY. TẬP: BỎ. DIỆT: CHỨNG. ĐẠO: TU. Bản đời thường: ĐAU GÌ? DO GÌ? CÓ THỂ NHẸ KHÔNG? LÀM GÌ BÂY GIỜ?

CI. BẢN BỐN CÂU ĐỂ NHỚ SUỐT ĐỜI

KHỔ: ĐỪNG TRỐN. TẬP: ĐỪNG NUÔI. DIỆT: ĐỪNG TUYỆT VỌNG. ĐẠO: ĐỪNG BỎ ĐI.

CII. CÂU KẾT

Một người chưa học Tứ Diệu Đế khi đau thường chỉ có hai cách: Chạy. Hoặc chịu. Người học Pháp có thêm một cách: NHÌN. Đau: Nhìn. Khổ: Nhìn. Không phải để ngồi ngắm đau. Mà để hỏi: KHỔ GÌ? DO GÌ? CÓ THỂ DỪNG Ở ĐÂU? ĐI BẰNG ĐƯỜNG NÀO? Nếu thấy Khổ mà không thấy Tập: Dễ đổ lỗi. Nếu thấy Tập mà không thấy Diệt:

Dễ tuyệt vọng. Nếu thấy Diệt mà không đi Đạo: Chỉ mơ. Nếu đi Đạo mà không hiểu Khổ: Đi mà không biết vì sao. Bốn đế phải đi cùng. KHỔ: Cho sự thật. TẬP: Cho cái gốc. DIỆT: Cho hy vọng. ĐẠO: Cho con đường. Bốn công thức của cuốn sách nhờ vậy có thêm một cái xương sống rất lớn.

CÔNG THỨC TAM TẠNG:

BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC:

THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

CÔNG THỨC BUÔNG:

NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

CÔNG THỨC PHẬT:

THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

Cuối cùng: KHỔ – THẤY. TẬP – BỎ. DIỆT – CHỨNG. ĐẠO – TU. ĐỪNG GHÉT KHỔ. HÃY HIỂU NÓ.

ĐỪNG NUÔI NGUYÊN NHÂN.

HÃY THẤY NÓ. ĐỪNG TUYỆT VỌNG. CÓ ĐƯỜNG.

ĐỪNG CHỈ BIẾT ĐƯỜNG.

HÃY ĐI. ĐÓ LÀ TỨ DIỆU ĐẾ.

CHƯƠNG 26
TỨ NIỆM XỨ – ĐÀO SÂU NỀN TẢNG KINH ĐIỂN

Con người có một thói quen rất tự nhiên: Hễ khổ là sửa cảnh trước. Người làm mình khó chịu: Muốn sửa người. Công việc hỏng: Muốn sửa việc. Bị chê: Muốn sửa lời người khác. Nhưng Phật pháp còn hỏi: “Trong lúc đang sửa cảnh, mình có biết cái gì đang xảy ra trong chính mình không?”

Thân đang căng? Thọ đang khó chịu? Tâm đang sân? Pháp nào đang vận hành? Đây là cửa của: TỨ NIỆM XỨ – satipaṭṭhāna (Pāli), smṛtyupasthāna (Sanskrit). Bốn lĩnh vực: THÂN – kāya. THỌ – vedanā. TÂM – citta. PHÁP – dhamma / dharma. Câu nhớ:

TỨ NIỆM XỨ KHÔNG BẢO MÌNH BỎ ĐỜI ĐỂ NHÌN VÀO TRONG.

TỨ NIỆM XỨ DẠY MÌNH NHÌN ĐÚNG NHỮNG GÌ ĐANG XẢY RA TRƯỚC KHI PHẢN ỨNG VỚI ĐỜI.

I. TỨ NIỆM XỨ – SATIPAṬṬHĀNA / SMṚTYUPASTHĀNA

Pāli:

satipaṭṭhāna.

Sanskrit:

smṛtyupasthāna. Tiếng Việt: Tứ Niệm Xứ / Bốn nền tảng chánh niệm. Gồm:

1. kāyānupassanā – quán thân trên thân.

2. vedanānupassanā – quán thọ trên thọ.

3. cittānupassanā – quán tâm trên tâm.

4. dhammānupassanā – quán pháp trên pháp.

Nguồn chính:

MN 10 – Satipaṭṭhāna Sutta – Kinh Niệm Xứ.

DN 22 – Mahāsatipaṭṭhāna Sutta – Kinh Đại Niệm Xứ.

II. NIỆM – SATI / SMṚTI

Pāli:

sati.

Sanskrit:

smṛti. Trong tu tập, niệm không chỉ là nhớ chuyện quá khứ. Là: Không quên đối tượng đang cần biết. Đang thở: Biết thở. Đang sân: Biết sân. Đang đau: Biết đau. Đang tham: Biết tham. Đang chấp: Biết chấp. Câu nhớ:

NIỆM LÀ KHÔNG QUÊN MÌNH TRONG CHÍNH KINH NGHIỆM ĐANG XẢY RA.

III. TỨ NIỆM XỨ KHÔNG CHỈ LÀ KỸ THUẬT THƯ GIÃN

Chánh niệm có thể hỗ trợ: Giảm căng. Ổn tâm. Làm việc tốt hơn. Nhưng trong Phật pháp, Tứ Niệm Xứ sâu hơn. Nó hướng tới: Thấy vô thường. Thấy khổ. Thấy vô ngã. Đoạn tham ưu. Phát triển tuệ. Hướng giải thoát.

IV. NHIỆT TÂM – TỈNH GIÁC – CHÁNH NIỆM

Trong MN 10 và DN 22 có các yếu tố: ātāpī – nhiệt tâm. sampajāno – tỉnh giác, biết rõ. satimā – có niệm. và nhiếp phục tham ưu ở đời. Tứ Niệm Xứ không chỉ là “biết”. Còn có: TINH TẤN. TỈNH GIÁC. NIỆM. BUÔNG THAM ƯU.

V. QUÁN THÂN TRÊN THÂN

Pāli:

kāye kāyānupassī. Ý thực hành:

THẤY THÂN NHƯ THÂN.

Đừng lập tức thêm: “Tôi.” “Của tôi.” “Câu chuyện của tôi.” Thân nóng: Biết nóng. Thân căng: Biết căng. Trước khi kể chuyện.

VI. QUÁN THÂN – KĀYĀNUPASSANĀ / KĀYĀNUPAŚYANĀ

Pāli:

kāyānupassanā.

Sanskrit:

kāyānupaśyanā. Trong Kinh Niệm Xứ có các đề mục như: Hơi thở. Bốn oai nghi. Tỉnh giác trong hoạt động. Quán các phần của thân. Bốn đại. Quán tử thi. Mỗi đề mục có công dụng riêng.

VII. NIỆM HƠI THỞ – ĀNĀPĀNASATI / ĀNĀPĀNASMṚTI

Pāli:

ānāpānasati.

Sanskrit:

ānāpānasmṛti. Thở vào dài: Biết dài. Thở ra dài: Biết dài. Thở vào ngắn: Biết ngắn. Thở ra ngắn: Biết ngắn. Điểm căn bản:

BIẾT THÂN ĐANG THỞ.

Không cần ép hơi.

VIII. HƠI THỞ VÀ CÔNG THỨC PHẬT

THẤY: Biết tâm đã chạy. TỈNH: Không chạy tiếp. BUÔNG: Bỏ dòng nghĩ. SÁNG: Trở về rõ hơn. Đây là cách nối thực hành.

IX. HƠI THỞ VÀ ĐỊNH LỰC

Mỗi lần tâm chạy rồi trở về: Một lần luyện khả năng trở về. Câu hệ thống hóa:

ĐỊNH LỰC = KHẢ NĂNG TRỞ VỀ.

Không đồng nhất công thức đời thường này với toàn bộ Chánh định kỹ thuật trong kinh.

X. BỐN OAI NGHI

ĐI: Biết đi. ĐỨNG: Biết đứng. NGỒI: Biết ngồi. NẰM: Biết nằm. Chánh niệm không chỉ có khi ngồi thiền.

XI. TỈNH GIÁC – SAMPAJAÑÑA / SAMPRAJANYA

Pāli:

sampajañña.

Sanskrit:

samprajanya. Tiếng Việt: tỉnh giác, biết rõ. Đi tới. Đi lui. Nhìn. Co. Duỗi. Ăn. Uống. Nói. Im. Đều có thể biết rõ.

XII. TỈNH GIÁC KHÔNG PHẢI LÀ LÀM MỌI THỨ CHẬM

Đi chậm có thể hỗ trợ niệm. Nhưng: CHẬM ≠ CHÁNH NIỆM. Một người làm nhanh vẫn có thể tỉnh. Một người làm chậm vẫn có thể mê. Điểm là:

BIẾT MÌNH ĐANG LÀM GÌ VÀ TÂM ĐANG Ở ĐÂU.

XIII. QUÁN BỐN ĐẠI

Bốn đại là cách phân tích cổ điển các tính chất vật chất. Không nên đồng nhất với bốn chất theo khoa học hiện đại. Có thể quán: Cứng/mềm. Kết dính. Nhiệt. Chuyển động. Mục đích: Bớt chấp thân như một “tôi” cứng.

XIV. QUÁN THÂN KHÔNG PHẢI GHÉT THÂN

Quán thân không phải: Ghét cơ thể. Bỏ chăm sóc. Khinh thân. Câu nhớ:

THẤY THÂN ĐÚNG ĐỂ BỚT CHẤP.

KHÔNG PHẢI GHÉT THÂN.

XV. QUÁN TỬ THI VÀ VÔ THƯỜNG

Trong Kinh Niệm Xứ có các quán tử thi. Mục đích: Thấy thân này cũng chịu quy luật biến hoại.

Pāli:

anicca.

Sanskrit:

anitya. Tiếng Việt: vô thường.

XVI. CÔNG THỨC QUÁN THÂN TRONG ĐỜI

CẢNH CHẠM

→ BIẾT THÂN TRƯỚC.

Người nói câu khó nghe. Hỏi: Vai căng? Ngực nóng? Bụng cứng? Hàm siết? Nhiều phản ứng được nhận sớm nhờ thân.

XVII. THÂN LÀ CHUÔNG BÁO SỚM

Tâm sân: Thân nóng. Tâm sợ: Tim nhanh. Tâm lo: Ngực căng. Câu nhớ:

NHIỀU KHI TÂM CHƯA KỊP KHAI, THÂN ĐÃ BÁO.

XVIII. QUÁN THỌ – VEDANĀNUPASSANĀ / VEDANĀNUPAŚYANĀ

Pāli:

vedanānupassanā.

Sanskrit:

vedanānupaśyanā. Tiếng Việt: quán thọ. Vedanā không phải toàn bộ cảm xúc theo nghĩa hiện đại. Thọ chủ yếu là sắc thái: Dễ chịu. Khó chịu. Trung tính.

XIX. THỌ KHÔNG PHẢI CÂU CHUYỆN

Một lời chê. THỌ: Khó chịu. CÂU CHUYỆN: “Người ta coi thường tôi.” “Tôi không chịu.” “Họ luôn như vậy.” Thọ có thể ngắn. Câu chuyện có thể kéo dài. Câu nhớ:

THẤY THỌ TRƯỚC KHI CÂU CHUYỆN NUỐT THỌ.

XX. CÔNG THỨC THỌ

CẢNH

→ THỌ

→ BIẾT

→ CHƯA VỘI TIN CÂU CHUYỆN.

XXI. THỌ VÀ ÁI

Trong Duyên khởi: vedanā-paccayā taṇhā. Do thọ làm duyên, ái có thể sinh. Tu tập tạo khoảng: THỌ

→ BIẾT

→ KHÔNG VỘI ÁI.

Câu nhớ:

CẢM THỌ KHÔNG PHẢI MỆNH LỆNH.

XXII. THỌ DỄ CHỊU

Được khen. Ăn ngon. Được chú ý. Thiền yên. Nếu thiếu niệm: LẠC THỌ

→ MUỐN GIỮ

→ CHẤP.

Người tu phải soi cả dễ chịu.

XXIII. THỌ KHÓ CHỊU

Đau. Nóng. Chê. Mệt. Tu không phải: “Đừng khó chịu.” Mà là:

KHÓ CHỊU THÌ BIẾT KHÓ CHỊU.

Rồi đừng để thọ làm ông chủ.

XXIV. THỌ TRUNG TÍNH

Không vui. Không buồn. Tâm dễ đi tìm kích thích. Điện thoại. Đồ ăn. Tin mới. Thọ trung tính cũng cần được biết.

XXV. DỄ CHỊU KHÔNG ĐỒNG NGHĨA THIỆN

Một lạc thọ có thể đến từ dục. Một khó chịu có thể đến từ tinh tấn giữ giới. Vì vậy: DỄ CHỊU ≠ THIỆN.

KHÓ CHỊU ≠ BẤT THIỆN.

XXVI. TUỆ PHẢI ĐỨNG TRÊN THỌ

Câu nhớ:

THỌ CHO BIẾT DỄ HAY KHÓ.

TUỆ CHO BIẾT NÊN HAY KHÔNG NÊN.

XXVII. QUÁN TÂM – CITTĀNUPASSANĀ / CITTĀNUPAŚYANĀ

Pāli:

cittānupassanā.

Sanskrit:

cittānupaśyanā. Tiếng Việt: quán tâm. Biết: Tâm có tham. Tâm không tham. Tâm có sân. Tâm không sân. Tâm có si. Tâm không si. Tâm tán. Tâm định. Điểm chính:

BIẾT TÂM ĐANG Ở TRẠNG THÁI NÀO.

XXVIII. “TÂM CÓ SÂN” KHÁC “TÔI LÀ NGƯỜI SÂN”

“Tôi là người sân”: Dễ thành danh tính. “Đang có sân”: Là trạng thái. Trạng thái sinh diệt. Câu nhớ: MÔ TẢ TRẠNG THÁI.

ĐỪNG VỘI BIẾN TRẠNG THÁI THÀNH CĂN TÍNH.

XXIX. TÂM CÓ THAM – SARĀGA

Pāli:

sarāga. Khi muốn: Được khen. Mua. Giữ. Thắng. Được thấy. Biết: “ĐANG CÓ THAM.”

XXX. TÂM KHÔNG THAM – VĪTARĀGA

Pāli:

vītarāga. Khi không muốn nắm: Biết. Không chỉ soi bất thiện. Còn nhận thiện để thiện được nuôi.

XXXI. TÂM CÓ SÂN – SADOSA

Pāli:

sadosa. Biết: “TÂM ĐANG SÂN.” Câu nhớ:

TÂM CÓ SÂN KHÔNG ĐỒNG NGHĨA NGƯỜI KIA HOÀN TOÀN SAI.

XXXII. TÂM KHÔNG SÂN – VĪTADOSA

Pāli:

vītadosa. Khi tâm không sân: Biết. Thiện đang có thì giữ. Đây là Tứ Chánh Cần đi vào quán tâm.

XXXIII. TÂM CÓ SI – SAMOHA

Pāli:

samoha. Si không chỉ là “ngu”. Là: Không thấy rõ. Lẫn lộn. Mê. Không phân biệt thiện – bất thiện. Chấp sai. Để thấy si cần: Học Pháp. Trạch pháp. Hỏi. Đối chiếu.

XXXIV. TÂM TÁN VÀ TÂM ĐỊNH

Tâm chạy: Biết. Tâm co: Biết. Tâm nhẹ: Biết. Tâm gom: Biết. Trước khi sửa: Biết đúng.

XXXV. QUÁN TÂM KHÔNG PHẢI PHÁN XÉT

Thấy sân rồi ghét sân: Thêm sân. Thấy tham rồi ghét mình: Thêm khổ. Quán tâm đúng: BIẾT RÕ + KHÔNG ĐỒNG HÓA + DÙNG PHÁP ĐÚNG.

XXXVI. CÔNG THỨC QUÁN TÂM

TÂM GÌ?

→ BIẾT

→ KHÔNG NHẬN LÀ “TÔI”

→ KHÔNG HÀNH VỘI

→ DÙNG PHÁP ĐÚNG.

XXXVII. QUÁN PHÁP – DHAMMĀNUPASSANĀ / DHARMĀNUPAŚYANĀ

Pāli:

dhammānupassanā.

Sanskrit:

dharmānupaśyanā. Tiếng Việt: quán pháp. “Pháp” ở đây không chỉ nghĩa:

Kinh sách.

Bài giảng. Trong Tứ Niệm Xứ, quán pháp gồm các nhóm như: Năm triền cái. Năm uẩn. Sáu xứ. Bảy giác chi. Bốn Thánh Đế. Quán pháp là:

NHẬN RA CƠ CHẾ PHÁP ĐANG VẬN HÀNH.

XXXVIII. QUÁN PHÁP = THẤY CƠ CHẾ

Ví dụ đang bực: Quán tâm: “Có sân.” Quán pháp: “Đây là sân triền cái.” “Có thọ khó chịu.” “Có ái muốn đẩy.” “Có chấp ý.” “Cần Chánh tinh tấn.” Đó là từ biết trạng thái sang hiểu cơ chế.

XXXIX. NĂM TRIỀN CÁI – PAÑCA NĪVARAṆA

Pāli:

pañca nīvaraṇa.

Sanskrit:

pañca nivaraṇa. Gồm: kāmacchanda – dục tham. byāpāda – sân/hại tâm. thīna-middha – hôn trầm, thụy miên. uddhacca-kukkucca – trạo cử, hối. vicikicchā – nghi. Trong quán pháp: Biết có. Biết không có. Biết duyên sinh. Biết cách đoạn. Biết cách không cho sinh lại.

XL. QUÁN DỤC THAM

Khi muốn: Không chỉ nói: “Tôi muốn.” Nhận:

“DỤC THAM ĐANG CÓ.”

Hỏi: Do cảnh? Do tưởng? Do thọ? Do thói quen? Đó là Trạch pháp.

XLI. QUÁN SÂN

Sân. Hỏi: Thọ nào trước? Chữ “phải” nào? Cái tôi nào bị chạm? Đây là Tứ Niệm Xứ gặp Tập đế.

XLII. QUÁN HÔN TRẦM

Nặng. Buồn ngủ. Hỏi: Thân mệt? Ăn no? Thiếu ngủ? Tâm né? Không vội gán: “Tôi lười.”

XLIII. QUÁN TRẠO HỐI

Tâm chạy. Nhắc chuyện. Lo. Hối. Gọi tên:

“TRẠO HỐI ĐANG CÓ.”

Tên gọi tạo khoảng.

XLIV. QUÁN NGHI

Nghi có thể có hai dạng: Nghi để tìm hiểu. Nghi triền cái làm tâm không đi được. Khi nghi: Học nguồn. Hỏi. Đối chiếu. Thực hành.

XLV. QUÁN NĂM UẨN

Rūpa – sắc. Vedanā – thọ. Saññā / saṃjñā – tưởng. Saṅkhāra / saṃskāra – hành. Viññāṇa / vijñāna – thức. Thấy: Sinh. Diệt. Không chấp.

XLVI. QUÁN SÁU XỨ – SAḶĀYATANA / ṢAḌĀYATANA

Mắt – sắc. Tai – tiếng. Mũi – hương. Lưỡi – vị. Thân – xúc. Ý – pháp. Quán pháp thấy: Căn. Cảnh. Xúc. Kiết sử. Duyên sinh.

XLVII. CĂN TIẾP XÚC CẢNH KHÔNG ĐỒNG NGHĨA ĐÃ TẠO NGHIỆP XẤU

Thấy cảnh đẹp: Không tự động là tham. Nghe chê: Không tự động là sân. Nghiệp trong Phật giáo liên hệ mạnh tới: cetanā – tác ý. Câu nhớ:

CĂN CHẠM CẢNH LÀ ĐIỀU KIỆN.

CÁCH TÂM TÁC Ý VÀ HÀNH ĐỘNG MỚI CẦN SOI SÂU.

XLVIII. BẢY GIÁC CHI – SATTA BOJJHAṄGĀ / SAPTA BODHYAṄGĀNI

Pāli:

satta bojjhaṅgā.

Sanskrit:

sapta bodhyaṅgāni. Gồm: sati / smṛti – niệm. dhamma-vicaya / dharma-pravicaya – trạch pháp. viriya / vīrya – tinh tấn. pīti / prīti – hỷ. passaddhi / praśrabdhi – khinh an. samādhi – định. upekkhā / upekṣā – xả.

XLIX. NIỆM GIÁC CHI

Không có niệm: Không thấy tâm đang ở đâu. Niệm mở cửa.

L. TRẠCH PHÁP

Dhamma-vicaya / dharma-pravicaya. Câu nhớ: NIỆM THẤY. TRẠCH PHÁP HIỂU.

LI. TINH TẤN – VIRIYA / VĪRYA

Trạch pháp thấy đường. Tinh tấn bước. Bất thiện: Bỏ. Thiện: Nuôi.

LII. HỶ – PĪTI / PRĪTI

Hỷ trong thiện pháp giúp con đường có sức. Không đồng nhất với lạc do dục.

LIII. KHINH AN – PASSADDHI / PRAŚRABDHI

Thân tâm lắng dịu. Mềm. An. Khinh an hỗ trợ định.

LIV. ĐỊNH – SAMĀDHI

Tâm gom. Ít tán. Định hỗ trợ thấy sâu.

LV. XẢ – UPEKKHĀ / UPEKṢĀ

Xả là quân bình. Không dính lạc. Không đẩy khổ. Không lạnh.

LVI. TỨ DIỆU ĐẾ TRONG TỨ NIỆM XỨ

Trong phần quán pháp của DN 22, Tứ Thánh Đế được triển khai rõ: Đây là Khổ. Đây là Tập. Đây là Diệt. Đây là Đạo. Tứ Niệm Xứ đi thẳng vào Tứ Diệu Đế.

LVII. CHÁNH NIỆM CẦN TRẠCH PHÁP

Biết: “Đang buồn.” Tốt. Nhưng cần hỏi thêm: Do mất? Do chấp? Do thân mệt? Do sợ? Do ái? Câu nhớ: BIẾT LÀ CỬA.

HIỂU CƠ CHẾ MỚI GIÚP CHỌN PHÁP.

LVIII. CHÁNH NIỆM CẦN GIỚI

Biết: “Tôi đang sân.” mà vẫn chửi: Niệm chưa đủ. Câu nhớ: NIỆM CHO BIẾT.

GIỚI KHÔNG CHO CÁI BIẾT ẤY BIẾN THÀNH NGHIỆP XẤU.

LIX. CHÁNH NIỆM CẦN ĐỊNH

Tâm quá loạn: Niệm chập chờn. Định làm niệm bền hơn. Niệm giúp định không mê.

LX. CHÁNH NIỆM CẦN TUỆ

Biết thọ khó chịu không có nghĩa: “Việc này sai.” Tuệ phải soi. Công thức: CHÁNH NIỆM THẤY. GIỚI GIỮ. ĐỊNH DỪNG. TUỆ CHỌN.

LXI. TỨ NIỆM XỨ VÀ CÔNG THỨC PHẬT

THẤY: Thân – thọ – tâm – pháp. TỈNH: Không chạy theo phản ứng. BUÔNG: Không dính thọ và chấp. SÁNG: Trạch pháp và tuệ thấy cơ chế.

LXII. TỨ NIỆM XỨ VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

NHẬN: Thân, thọ, tâm. SOI: Pháp. THẤY: Cơ chế. KHÔNG DÍNH: Không chạy theo thọ. KHÔNG CHẤP: Không nhận tâm là “tôi”. BUÔNG: Thả phần nắm.

AN:

Tâm nhẹ.

LXIII. TỨ NIỆM XỨ VÀ CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC

THẬT: Nhận đúng trạng thái. TÍN: Không phản bội điều đã thấy. THIỆN: Chọn pháp thiện. GIỚI: Không hành bất thiện. ĐỊNH: Ở với đối tượng. TUỆ: Thấy sinh diệt. LỰC: Biết sớm hơn. Câu nhớ:

NIỆM CÀNG SỚM, NGHIỆP BẤT THIỆN CÀNG ÍT CƠ HỘI ĐI XA.

LXIV. TỨ NIỆM XỨ VÀ CÔNG THỨC TAM TẠNG

BỎ ÁC: Thấy bất thiện. LÀM LÀNH: Thấy thiện và nuôi. LÀM SẠCH TÂM: Quán thân – thọ – tâm – pháp bằng tuệ.

LXV. BA MỨC BIẾT

BIẾT SAU. BIẾT TRONG. BIẾT TRƯỚC. Ví dụ sân: Biết sau: Chửi xong mới biết. Biết trong: Đang nói nóng biết. Biết trước: Thân nóng, thọ khó chịu, biết sân sắp ra.

LXVI. RÚT NGẮN KHOẢNG MÊ

MÊ CẢ NGÀY

→ MÊ MỘT GIỜ

→ MÊ MƯỜI PHÚT

→ MÊ MỘT PHÚT

→ BIẾT NGAY KHI KHỞI.

Tu không nhất thiết một ngày hết mê. Tu là rút ngắn khoảng mê.

LXVII. TỨ NIỆM XỨ VÀ LỜI CHÊ

THÂN: Ngực căng. THỌ: Khó chịu. TÂM: Sân/tự ái. PHÁP: Chấp danh, sân triền cái, ái. Rồi: Giữ khẩu. Lọc lời. Đúng thì sửa. Sai thì buông.

LXVIII. TỨ NIỆM XỨ VÀ LỜI KHEN

THÂN: Nhẹ. THỌ: Dễ chịu. TÂM: Thích. PHÁP: Ái khen có thể sinh. Biết duyên. Không phồng.

LXIX. TỨ NIỆM XỨ VÀ VẬT CHẤT

Thấy vật mình thích: THÂN: Hướng tới. THỌ: Dễ chịu. TÂM: Muốn. PHÁP: Tham có thể sinh. Chánh niệm không bắt ghét vật chất. Chỉ không để tâm vô thức.

LXX. TỨ NIỆM XỨ VÀ ĂN

THÂN: Đói. THỌ: Dễ chịu khi nếm. TÂM: Muốn thêm. PHÁP: Dục tham có thể sinh. Biết. Ăn vừa.

LXXI. TỨ NIỆM XỨ VÀ MẠNG XÃ HỘI

Mở điện thoại: THÂN: Tay tự cầm. THỌ: Trung tính/chờ kích thích. TÂM: Tìm cái mới. PHÁP: Dục tham hoặc trạo cử. Thấy vậy là bắt đầu có tự do.

LXXII. TỨ NIỆM XỨ VÀ THỌ TRUNG TÍNH

Tâm thường tìm kích thích khi thọ trung tính. Video. Tin. Ăn. Nói chuyện. Nếu biết thọ trung tính: Không cần lấp ngay. Đây là một pháp hành rất hiện đại.

LXXIII. TỨ NIỆM XỨ VÀ TÌNH CẢM

Người không nhắn. THÂN: Bồn chồn. THỌ: Khó chịu. TÂM: Lo/sợ. PHÁP: Ái, thủ, tưởng. Biết. Dừng. Không hành vội.

LXXIV. TỨ NIỆM XỨ VÀ CÔ ĐƠN

Cô đơn gồm nhiều phần: Thọ. Tâm. Tưởng. Ái. Mong cầu. Biết từng phần giúp không biến: “Tôi đang cô đơn” thành: “Tôi là người bị bỏ.”

LXXV. TỨ NIỆM XỨ VÀ CÔNG VIỆC

Việc lỗi. THÂN: Căng. THỌ: Khó chịu. TÂM: Sợ. PHÁP: Chấp kết quả, sợ danh. Sau đó: Sửa việc. Không sửa bằng hoảng.

LXXVI. TỨ NIỆM XỨ VÀ BỆNH

Đau: Biết thân. Khó chịu: Biết thọ. Sợ: Biết tâm. Chấp thân, lo tương lai: Biết pháp. Sau đó vẫn chăm sóc thân phù hợp. Tứ Niệm Xứ không thay điều trị y tế.

LXXVII. TỨ NIỆM XỨ VÀ KINH MŨI TÊN

Nguồn:

SN 36.6 – Sallattha Sutta – Kinh Mũi Tên.

Mũi tên đầu: Đau. Mũi tên thứ hai: Phản ứng tâm làm khổ tăng. Câu nhớ:

NIỆM KHÔNG RÚT ĐƯỢC MỌI MŨI TÊN ĐẦU.

NHƯNG CÓ THỂ GIÚP MÌNH BỚT TỰ BẮN MŨI THỨ HAI.

LXXVIII. TỨ NIỆM XỨ VÀ SỢ

THÂN: Tim nhanh. THỌ: Khó chịu. TÂM: Sợ. PHÁP: Nguy hiểm thật hay tưởng? Sau đó mới hành động.

LXXIX. CÔNG THỨC CƠN GIẬN

CẢNH

→ THÂN

→ THỌ

→ TÂM

→ PHÁP

→ DỪNG

→ CHỌN.

LXXX. TỨ NIỆM XỨ VÀ CHẤP Ý KIẾN

Nghe người trái ý. THỌ: Khó chịu. TÂM: Sân. PHÁP: diṭṭhupādāna – chấp kiến. Nếu thấy: Có thể trao đổi mà không biến thành bảo vệ bản ngã.

LXXXI. TỨ NIỆM XỨ VÀ CHẤP CÔNG

Làm thiện. THỌ: Vui. TÂM: Muốn được khen. PHÁP: Chấp công. Biết. Không phủ nhận việc đã làm. Không biến công thành căn tính.

LXXXII. TỨ NIỆM XỨ VÀ CHẤP PHÁP

Học một pháp rồi chấp: “Chỉ pháp này đúng.” Cần nhớ:

MN 22 – Alagaddūpama Sutta – Kinh Ví Dụ Con Rắn.

Tinh thần chiếc bè: Pháp để qua sông. Không phải để ôm làm bản ngã.

LXXXIII. TỨ NIỆM XỨ VÀ KINH BĀHIYA

Nguồn:

Udāna 1.10 – Bāhiya Sutta – Kinh Bāhiya.

Đại ý: Trong cái thấy chỉ là cái thấy. Trong cái nghe chỉ là cái nghe. Tinh thần: Biết kinh nghiệm trước khi ngã chấp chen sâu.

LXXXIV. TỨ NIỆM XỨ VÀ VÔ THƯỜNG

Thấy: Thọ sinh. Thọ diệt. Tâm sinh. Tâm diệt. Hơi thở sinh. Hơi thở diệt. Đó là kinh nghiệm trực tiếp: anicca / anitya – vô thường.

LXXXV. TỨ NIỆM XỨ VÀ VÔ NGÃ

Sân tới rồi đi. Buồn tới rồi đi. Thọ tới rồi đi. Vậy khó chấp: “Đây là tôi bất biến.” Tứ Niệm Xứ giúp thấy vô ngã bằng kinh nghiệm.

LXXXVI. TỨ NIỆM XỨ VÀ KHỔ

Khổ tăng khi: Thọ

→ chấp

→ đẩy

→ kể.

Niệm tạo khoảng.

LXXXVII. TỨ NIỆM XỨ VÀ DUYÊN KHỞI

Quán: Căn. Cảnh. Xúc. Thọ. Ái. Thủ. Tứ Niệm Xứ giúp thấy Duyên khởi ngay trong đời sống.

LXXXVIII. TỨ NIỆM XỨ VÀ TỨ DIỆU ĐẾ

TỨ NIỆM XỨ: Cho dữ liệu. TỨ DIỆU ĐẾ: Cho khung hiểu. Câu nhớ:

TỨ NIỆM XỨ CHO MÌNH THẤY CÁI ĐANG XẢY RA.

TỨ DIỆU ĐẾ DẠY MÌNH HIỂU CÁI THẤY ẤY.

LXXXIX. TỨ NIỆM XỨ VÀ TỨ CHÁNH CẦN

NIỆM: Phát hiện. CHÁNH CẦN: Can thiệp. Bất thiện chưa sinh: Ngăn. Đã sinh: Bỏ. Thiện chưa có: Sinh. Đã có: Giữ.

XC. TỨ NIỆM XỨ VÀ THẤT GIÁC CHI

Niệm. Trạch pháp. Tinh tấn. Hỷ. Khinh an. Định. Xả. Tứ Niệm Xứ làm Niệm Giác Chi được nuôi và mở sang các giác chi khác.

XCI. TỨ NIỆM XỨ VÀ BÁT CHÁNH ĐẠO

Chánh niệm là một chi Bát Chánh Đạo. Nhưng hỗ trợ: Chánh kiến. Chánh ngữ. Chánh nghiệp. Chánh tinh tấn. Chánh định. Niệm không đứng riêng.

XCII. TỨ NIỆM XỨ VÀ GIỚI – ĐỊNH – TUỆ

Câu nhớ:

GIỚI GIỮ TAY MIỆNG.

NIỆM GIỮ CÁI THẤY. ĐỊNH GIỮ TÂM. TUỆ GIỮ HƯỚNG.

XCIII. TỨ NIỆM XỨ VÀ NIỆM PHẬT

Đang niệm: Biết Phật hiệu. Vọng: Biết vọng. Thọ: Biết thọ. Tâm tán: Biết tán. Rồi trở về câu niệm.

XCIV. TỨ NIỆM XỨ VÀ TỤNG KINH

Miệng tụng. Tâm cũng phải có mặt. Câu nhớ: MIỆNG TỤNG KINH.

TÂM CŨNG PHẢI CÓ MẶT.

XCV. TỨ NIỆM XỨ VÀ GIẢNG PHÁP

Đang nói: Thân có căng? Thọ có thích khen? Tâm có muốn thắng? Pháp nào đang sinh? Tứ Niệm Xứ giúp người nói Pháp tự soi.

XCVI. TỨ NIỆM XỨ VÀ LÀM VIỆC

Đang làm: Biết đang làm. Một việc: Biết một việc. Đây cũng là nền định.

XCVII. NGƯỜI BẬN VẪN TẬP ĐƯỢC

Có thể dùng: 3 lần mỗi ngày x 30 giây. Hỏi: THÂN? THỌ? TÂM? PHÁP?

XCVIII. BÀI THỰC HÀNH 1 PHÚT

15 GIÂY – THÂN: Căng ở đâu? 15 GIÂY – THỌ: Dễ, khó hay trung tính? 15 GIÂY – TÂM: Tham, sân, sợ, lo, yên? 15 GIÂY – PHÁP: Triền cái nào? Chấp nào? Pháp nào cần dùng?

XCIX. BÀI THỰC HÀNH 4 HƠI

HƠI 1: Biết thân. HƠI 2: Biết thọ. HƠI 3: Biết tâm. HƠI 4: Pháp nào đang vận hành?

C. BÀI THỰC HÀNH 7 NGÀY

NGÀY 1 – THÂN: Năm lần biết thân. NGÀY 2 – THỌ: Gọi tên dễ/khó/trung. NGÀY 3 – TÂM: Gọi tên tham/sân/sợ/lo/yên. NGÀY 4 – PHÁP: Nhận diện một triền cái.

NGÀY 5 – XÚC – THỌ:

Bắt một khoảnh khắc trước ái. NGÀY 6 – BỐN CỬA: Thân – thọ – tâm – pháp trong một tình huống khó. NGÀY 7 – TỔNG HỢP: Ghi ba lần mình biết sớm hơn.

CI. NHẬT KÝ TỨ NIỆM XỨ

THÂN: Cảm giác gì? THỌ: Dễ/khó/trung? TÂM: Trạng thái gì? PHÁP: Cơ chế nào? Rồi thêm: TÔI ĐÃ CHỌN GÌ?

CII. CHÁNH NIỆM KHÔNG PHẢI ÁM ẢNH TỰ QUAN SÁT

Không cần soi mình 24 giờ tới căng. Câu nhớ:

CHÁNH NIỆM LÀ SÁNG.

KHÔNG PHẢI CĂNG.

CIII. CHÁNH NIỆM KHÔNG PHẢI KIỂM SOÁT MỌI THỨ

Không điều khiển được: Mọi thọ. Mọi ý nghĩ. Mọi cảnh. Niệm giúp: BIẾT. Rồi giới và tuệ giúp: CHỌN.

CIV. CHÁNH NIỆM KHÔNG PHẢI DỪNG MỌI SUY NGHĨ

Ý nghĩ sinh: Biết. Mục tiêu không phải: “Không nghĩ.” Mà:

KHÔNG BỊ Ý NGHĨ KÉO VÔ THỨC.

CV. CHÁNH NIỆM KHÔNG PHẢI LÚC NÀO CŨNG YÊN

Người có niệm vẫn có thể: Buồn. Đau. Sợ. Nhưng: Biết. Biết tạo khoảng. Khoảng tạo lựa chọn.

CVI. CHÁNH NIỆM KHÔNG THAY TUỆ

Biết tham: Chưa đủ. Cần: Trạch pháp. Chánh tinh tấn. Giới. Định. Tuệ.

CVII. CHÁNH NIỆM KHÔNG THAY CHỮ TÍN

Biết sắp thất hứa mà vẫn thất hứa: Niệm chưa thành hành vi. Chữ tín cần: GIỮ.

CVIII. CHÁNH NIỆM KHÔNG THAY TỪ BI

Quan sát không đủ. Phật pháp còn cần: mettā – từ. karuṇā – bi. Niệm phải đi trong đời sống thiện.

CIX. TỨ NIỆM XỨ VÀ BÁT PHONG

Khen: Thọ dễ chịu. Chê: Thọ khó chịu. Được: Tâm thích. Mất: Tâm sợ. Tứ Niệm Xứ cho thấy tám gió đang làm gì trong thân tâm.

CX. CÔNG THỨC BÁT PHONG VÀ TỨ NIỆM XỨ

GIÓ CHẠM

→ THỌ

→ TÂM

→ PHÁP

→ BIẾT

→ KHÔNG BAY.

Câu nhớ: BÁT PHONG LÀ CẢNH.

TỨ NIỆM XỨ LÀ CÁCH THẤY GIÓ ĐANG LÀM GÌ TRONG TÂM.

CXI. TỨ NIỆM XỨ VÀ TRẠCH PHÁP

Công thức: NIỆM

→ THẤY.

TRẠCH PHÁP

→ PHÂN BIỆT.

TINH TẤN

→ CHUYỂN.

ĐỊNH

→ GIỮ.

TUỆ

→ BUÔNG.

Đây là cách hệ thống hóa.

CXII. TỨ NIỆM XỨ VÀ CÔNG THỨC PHẬT

THẤY: Thân – thọ – tâm – pháp. TỈNH: Không đồng hóa. BUÔNG: Không dính. SÁNG: Thấy sinh diệt, nhân duyên, vô ngã. Câu nhớ:

TỨ NIỆM XỨ LÀ TRƯỜNG HỌC CỦA CHỮ “THẤY”.

CXIII. TỨ NIỆM XỨ VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

NHẬN: Thân. Thọ. Tâm. SOI: Pháp. THẤY: Cơ chế. KHÔNG DÍNH. KHÔNG CHẤP. BUÔNG.

AN.

CXIV. TỨ NIỆM XỨ VÀ CHỮ THẬT

Sân: Nhận sân. Ganh: Nhận ganh. Muốn danh: Nhận muốn danh. Không cần nói cho ai. Nhưng phải thật với chính mình.

CXV. TỨ NIỆM XỨ VÀ LỰC

Ban đầu: Biết sau. Sau: Biết trong. Sau: Biết trước. Câu nhớ:

NIỆM CÓ LỰC LÀ KHI TÂM CHƯA KỊP ĐI XA, MÌNH ĐÃ BIẾT NÓ ĐANG ĐI.

CXVI. THƯỚC ĐO TỨ NIỆM XỨ

Không phải: Ngồi bao lâu. Mà là: Thấy thân sớm hơn chưa? Biết thọ trước phản ứng chưa? Gọi tên tâm đúng hơn chưa? Nhận triền cái nhanh hơn chưa? Thấy chấp trước khi nói chưa?

CXVII. CÔNG THỨC CỦA CHƯƠNG

CẢNH

→ THÂN

→ THỌ

→ TÂM

→ PHÁP

→ BIẾT

→ DỪNG

→ CHỌN.

Bản ngắn: THÂN BIẾT. THỌ BIẾT. TÂM BIẾT. PHÁP BIẾT.

KHÔNG PHẢN ỨNG VỘI.

Bản cực ngắn:

BIẾT TRƯỚC KHI LÀM.

CXVIII. CÔNG THỨC TỈNH THỨC

TỈNH THỨC = BIẾT THÂN + BIẾT THỌ + BIẾT TÂM + BIẾT PHÁP

+ KHÔNG PHẢN ỨNG VỘI.

Đây là công thức hệ thống hóa để dễ thực hành, không phải định nghĩa kinh điển nguyên văn.

CXIX. CÂU GHI NHỚ

THỌ KHÔNG PHẢI MỆNH LỆNH.

TÂM KHÔNG PHẢI BẢN ÁN.

MỘT TRẠNG THÁI ĐANG CÓ KHÔNG ĐỒNG NGHĨA ĐÓ LÀ CON NGƯỜI MÌNH.

CXX. CÂU GHI NHỚ

TỨ NIỆM XỨ KHÔNG DẠY MÌNH THÀNH NGƯỜI KHÔNG CẢM XÚC.

NÓ DẠY MÌNH CẢM MÀ BIẾT MÌNH ĐANG CẢM.

CXXI. CÂU GHI NHỚ

TỨ NIỆM XỨ KHÔNG LÀM CUỘC ĐỜI NGỪNG CHẠM.

NÓ LÀM MÌNH BỚT PHẢN ỨNG TRƯỚC KHI KỊP THẤY.

CXXII. CÂU GHI NHỚ

NIỆM THẤY THỌ. TUỆ THẤY NHÂN.

GIỚI GIỮ HÀNH ĐỘNG.

ĐỊNH GIỮ TÂM.

ĐÓ LÀ LÚC MỘT CẢM XÚC KHÔNG CÒN QUYỀN TỰ ĐỘNG BIẾN THÀNH NGHIỆP.

CXXIII. CÂU GHI NHỚ

TU KHÔNG PHẢI KHÔNG CÒN SÂN.

BƯỚC ĐẦU LÀ SÂN VỪA LÓ THÌ MÌNH BIẾT.

CXXIV. CÂU GHI NHỚ

KHOẢNG CÁCH GIỮA: “TÔI ĐANG SÂN” VÀ: “TÂM ĐANG CÓ SÂN”

CÓ THỂ LÀ KHOẢNG CÁCH TỪ CHẤP TỚI TUỆ.

CXXV. CÂU GHI NHỚ

CHÁNH NIỆM KHÔNG PHẢI NHỚ PHẬT PHÁP CẢ NGÀY.

LÀ LÚC CẦN, ĐỪNG QUÊN MÌNH.

CXXVI. CÂU KẾT

Người chưa có niệm thường sống theo chuỗi: CẢNH TỚI

→ THỌ SINH

→ TÂM PHẢN ỨNG

→ MIỆNG NÓI

→ TAY LÀM

→ HỐI.

Người bắt đầu tu có thêm một chữ: BIẾT. Cảnh tới: Biết thân. Thọ sinh: Biết thọ. Sân khởi: Biết sân. Chấp khởi: Biết chấp. Triền cái sinh: Biết triền cái. Rồi mới chọn. Từ một chữ BIẾT, cả dòng nghiệp có thể đổi hướng. Không phải mọi lần đều dừng được. Nhưng một lần biết sớm hơn:

Là một lần mê ngắn hơn. Một lần mê ngắn hơn: Là một lần nghiệp có ít đất hơn. Một lần nghiệp ít đất hơn: Là một lần định lực tăng.

BỐN CÔNG THỨC VÌ VẬY GẶP TỨ NIỆM XỨ RẤT SÂU.

CÔNG THỨC TAM TẠNG:

BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

Cần Tứ Niệm Xứ để thấy cái ác và thiện đang có.

CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC:

THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

Cần niệm để thật với trạng thái và định để không bị trạng thái kéo.

CÔNG THỨC BUÔNG:

NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

Tứ Niệm Xứ cho ba cửa đầu: NHẬN THÂN. NHẬN THỌ. NHẬN TÂM. SOI PHÁP.

CÔNG THỨC PHẬT:

THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

Tứ Niệm Xứ chính là một trường học căn bản của chữ: THẤY. THẤY THÂN LÀ THÂN. THẤY THỌ LÀ THỌ. THẤY TÂM LÀ TÂM. THẤY PHÁP LÀ PHÁP. Không vội thêm: “TÔI.” “CỦA TÔI.” “PHẢI THEO TÔI.” Không phải cảnh nào cũng cần sửa trước. Có những lúc chỉ cần: THẤY THÂN. BIẾT THỌ. BIẾT TÂM. NHẬN PHÁP.

DỪNG MỘT HƠI. Và trong một hơi đó: Một nghiệp có thể không được tạo. Một cơn sân có thể không đi xa. Một lời độc có thể không ra. Một chấp có thể lỏng. Một người có thể bớt khổ.

ĐÓ LÀ TỨ NIỆM XỨ ĐI XUỐNG ĐỜI.

CHƯƠNG 27
DUYÊN KHỞI – THẤY ĐIỀU KIỆN ĐỂ BIẾT CHỖ CÓ THỂ CHUYỂN

Có một câu hỏi rất quan trọng: “Tại sao cùng một cảnh, có người khổ rất lâu, có người khổ ít hơn?” Không phải vì ai tốt hơn ai. Mỗi người có: Tập khí khác. Cách thấy khác. Cách phản ứng khác. Mức chấp khác. Mức tỉnh khác. Một cảnh chạm. Thọ sinh. Ái có thể sinh. Thủ có thể nắm.

Một vai “tôi” có thể được dựng. Rồi hành vi tiếp tục tạo thêm điều kiện. Đó là cửa của: DUYÊN KHỞI – paṭiccasamuppāda (Pāli), pratītyasamutpāda (Sanskrit). Câu nhớ:

DUYÊN KHỞI KHÔNG NÓI MỌI THỨ ĐÃ ĐỊNH SẴN.

DUYÊN KHỞI NÓI:

CÁI GÌ DO DUYÊN SINH THÌ KHI DUYÊN ĐỔI, TIẾN TRÌNH CŨNG CÓ THỂ ĐỔI.

I. DUYÊN KHỞI – PAṬICCASAMUPPĀDA / PRATĪTYASAMUTPĀDA

Pāli:

paṭiccasamuppāda.

Sanskrit:

pratītyasamutpāda. Tiếng Việt: Duyên khởi / Duyên sinh. Công thức kinh điển thường được diễn đạt đại ý: Cái này có thì cái kia có. Cái này sinh thì cái kia sinh. Cái này không thì cái kia không. Cái này diệt thì cái kia diệt. Cách dịch có thể khác theo bản. Nguồn quan trọng:

Tương Ưng Bộ – Saṃyutta Nikāya.

SN 12 – Nidāna-saṃyutta – Tương Ưng Nhân Duyên.

II. DUYÊN KHỞI KHÔNG PHẢI “MỘT NGUYÊN NHÂN”

Một cơn sân có thể có nhiều duyên: Thiếu ngủ. Thọ khó chịu. Tập khí. Tưởng cũ. Ngã chấp. Cảnh hiện tại. Thiếu định. Câu nhớ:

DUYÊN KHỞI DẠY NHÌN MẠNG LƯỚI.

KHÔNG CHỈ TÌM MỘT THỦ PHẠM.

III. DUYÊN KHỞI KHÔNG PHẢI ĐỊNH MỆNH

Nếu biết duyên: Có thể sửa duyên. Thiếu ngủ làm sân dễ sinh: Ngủ đủ hơn. Môi trường kích dục: Giảm tiếp xúc. Tâm yếu khi tranh: Đừng tranh lúc yếu. Đó là dùng Duyên khởi.

IV. MƯỜI HAI CHI DUYÊN KHỞI

1. avijjā / avidyā – vô minh.

2. saṅkhāra / saṃskāra – hành.

3. viññāṇa / vijñāna – thức.

4. nāma-rūpa – danh-sắc.

5. saḷāyatana / ṣaḍāyatana – sáu xứ.

6. phassa / sparśa – xúc.

7. vedanā – thọ.

8. taṇhā / tṛṣṇā – ái.

9. upādāna – thủ.

10. bhava – hữu.

11. jāti – sinh.

12. jarāmaraṇa – già chết.

Đây là một cấu trúc kinh điển sâu. Không nên chỉ học thuộc.

V. VÔ MINH – AVIJJĀ / AVIDYĀ

Pāli:

avijjā.

Sanskrit:

avidyā. Tiếng Việt: vô minh. Vô minh không chỉ là ít kiến thức. Là: Không thấy vô thường. Không thấy khổ đúng. Không thấy vô ngã. Không thấy nhân quả. Không thấy Tứ Diệu Đế đúng. Câu nhớ:

VÔ MINH KHÔNG PHẢI ÍT CHỮ.

VÔ MINH LÀ THẤY SAI.

VI. VÔ MINH VÀ CÔNG THỨC PHẬT

Công thức: THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

Vô minh nằm đối diện chữ: THẤY. Câu nhớ:

THẤY ĐÚNG LÀ CỬA CẮT VÔ MINH.

VII. HÀNH – SAṄKHĀRA / SAṂSKĀRA

Pāli:

saṅkhāra.

Sanskrit:

saṃskāra. Trong Duyên khởi, thường chỉ: Các hành tạo tác. Các tác ý tạo nghiệp. Các cấu tạo có điều kiện. Đây là thuật ngữ rộng và phải hiểu theo ngữ cảnh.

VIII. HÀNH KHÔNG PHẢI MỌI HÀNH ĐỘNG

Không nên thấy chữ “hành” rồi nghĩ: Mọi cử động đều là mắt xích hành theo nghĩa kỹ thuật. Phải đọc thuật ngữ trong ngữ cảnh kinh.

IX. THỨC – VIÑÑĀṆA / VIJÑĀNA

Pāli:

viññāṇa.

Sanskrit:

vijñāna. Tiếng Việt: thức – sự nhận biết phân biệt. Có: Nhãn thức. Nhĩ thức. Tỷ thức. Thiệt thức. Thân thức. Ý thức. Không nên hiểu thức là một linh hồn thường hằng.

X. DANH-SẮC – NĀMA-RŪPA

Pāli/Sanskrit: nāma-rūpa. Tiếng Việt: danh-sắc. Rūpa: Sắc, yếu tố vật chất. Nāma: Các yếu tố tâm lý được xác định theo ngữ cảnh kinh. Không nên giản lược danh chỉ là “tên gọi”.

XI. SÁU XỨ – SAḶĀYATANA / ṢAḌĀYATANA

Pāli:

saḷāyatana.

Sanskrit:

ṣaḍāyatana. Gồm: Mắt. Tai. Mũi. Lưỡi. Thân. Ý. Tương ứng: Sắc. Thanh. Hương. Vị. Xúc. Pháp.

XII. SÁU CĂN LÀ CỬA

Mắt thấy: Không phải tội. Tai nghe: Không phải tội. Điểm tu nằm ở: Cách tâm phản ứng sau tiếp xúc.

XIII. XÚC – PHASSA / SPARŚA

Pāli:

phassa.

Sanskrit:

sparśa. Tiếng Việt: xúc. Xúc là thuật ngữ kỹ thuật liên hệ tới sự gặp nhau của: Căn. Cảnh. Thức tương ứng. Không chỉ nghĩa đụng chạm vật lý.

XIV. XÚC CHƯA PHẢI NGHIỆP

Cảnh chạm: Chưa phải nghiệp bất thiện. Nghiệp liên hệ rất sâu tới: cetanā – tác ý. Nguồn:

AN 6.63 – Nibbedhika Sutta.

Câu Pāli nổi tiếng: cetanāhaṃ bhikkhave kammaṃ vadāmi. Đại ý: Ta nói tác ý là nghiệp. Khi dùng bản Việt nguyên văn cần chọn bản dịch cụ thể.

XV. THỌ – VEDANĀ

Pāli/Sanskrit: vedanā. Tiếng Việt: thọ. Thọ gồm: Dễ chịu. Khó chịu. Trung tính. Sau xúc: Thọ sinh. Từ thọ: Ái có thể sinh.

XVI. THỌ LÀ CỬA CHUYỂN

Câu nhớ:

THỌ LÀ MỘT CỬA LỚN.

KHÔNG BIẾT:

THỌ DỄ KÉO SANG ÁI.

BIẾT:

THỌ CÓ THỂ TRỞ THÀNH CỬA CỦA TUỆ.

XVII. THỌ KHÔNG BẮT BUỘC PHẢI SINH ÁI

Duyên khởi không có nghĩa: Thọ sinh thì chắc chắn ái phải sinh. Tu tập có thể tạo một hướng khác: THỌ

→ BIẾT

→ KHÔNG VỘI ÁI.

Đây là chỗ thực hành rất quan trọng.

XVIII. ÁI – TAṆHĀ / TṚṢṆĀ

Pāli:

taṇhā.

Sanskrit:

tṛṣṇā. Tiếng Việt: ái, khát ái. Ba dạng thường nói: Dục ái. Hữu ái. Phi hữu ái. Ái không chỉ là thích. Là: Khát. Đòi. Dính.

XIX. ÁI NÓI “TÔI MUỐN”

Thọ dễ chịu: “Tôi muốn thêm.” Thọ khó chịu: “Tôi muốn nó hết.” Thọ trung tính: “Tôi muốn kích thích.” Câu nhớ:

ÁI THƯỜNG BẮT ĐẦU BẰNG MỘT CHỮ “MUỐN”.

NẾU KHÔNG THẤY, NÓ CÓ THỂ THÀNH “PHẢI CÓ”.

XX. THỦ – UPĀDĀNA

Pāli/Sanskrit: upādāna. Tiếng Việt: chấp thủ, nắm giữ. Ái nói: “Tôi muốn.” Thủ nói: “Phải là của tôi.” Bốn loại chấp thủ thường được nêu: kāmupādāna – chấp dục. diṭṭhupādāna – chấp kiến. sīlabbatupādāna – chấp giới cấm/hình thức sai lệch. attavādupādāna – chấp ngã thuyết. Nguồn có thể tham khảo:

MN 9 – Sammādiṭṭhi Sutta – Kinh Chánh Tri Kiến.

XXI. TRÌ GIỚI KHÔNG PHẢI CHẤP GIỚI CẤM

sīlabbatupādāna không có nghĩa: Giữ giới là chấp. Giữ giới chân chánh là nền đạo. Chấp giới cấm là nắm một nghi thức hay thực hành hình thức như thể chỉ riêng hình thức đó tự động đủ để thanh tịnh và giải thoát. Câu nhớ:

TRÌ GIỚI ≠ CHẤP GIỚI CẤM.

XXII. HỮU – BHAVA

Pāli/Sanskrit: bhava. Tiếng Việt: hữu / trở thành / quá trình hiện hữu. Đây là thuật ngữ kỹ thuật sâu. Có thể dùng ví dụ tâm lý để minh họa “trở thành”, nhưng không nên thay thế toàn nghĩa kinh điển.

XXIII. MỘT MINH HỌA VỀ “TRỞ THÀNH”

Thọ khó chịu. Ái muốn thắng. Thủ chấp ý. Rồi: “Tôi là người không ai được coi thường.” Một vai được dựng. Hành vi đi theo vai. Đây là minh họa tâm lý, không phải toàn nghĩa bhava trong kinh.

XXIV. SINH – JĀTI

Pāli/Sanskrit: jāti. Tiếng Việt: sinh. Trong Duyên khởi đây là mắt xích kỹ thuật. Không nên giản lược: “Mỗi lần sân là một lần sinh” như định nghĩa kinh điển. Có thể dùng như ẩn dụ thực hành nếu ghi rõ.

XXV. GIÀ CHẾT – JARĀMARAṆA

Pāli/Sanskrit: jarāmaraṇa. Tiếng Việt: già và chết. Từ sinh có điều kiện: Có già và chết. Kèm theo: Sầu, bi, khổ, ưu, não. Đây là chỗ Duyên khởi gặp Khổ đế.

XXVI. ĐỪNG BIẾN MƯỜI HAI CHI THÀNH BÀI HỌC THUỘC

Hỏi: Xúc ở đâu? Thọ ở đâu? Ái ở đâu? Thủ ở đâu? Duyên nào đang vận hành? Đó mới là Duyên khởi sống.

XXVII. MẠCH ĐỜI THƯỜNG

Công thức giản lược: CẢNH

→ XÚC

→ THỌ

→ ÁI

→ THỦ

→ HÀNH ĐỘNG

→ HẬU QUẢ.

Đây là bản thực hành, không thay thế 12 chi đầy đủ.

XXVIII. MẠCH CÓ CHÁNH NIỆM

CẢNH

→ XÚC

→ THỌ

→ BIẾT

→ DỪNG

→ SOI

→ CHỌN

→ KHÔNG VỘI ÁI

→ KHÔNG THỦ

→ HÀNH ĐÚNG.

XXIX. DUYÊN KHỞI VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

NHẬN: Thọ. SOI: Ái. THẤY: Thủ. KHÔNG DÍNH: Không chạy theo. KHÔNG CHẤP: Không nắm. BUÔNG: Thả.

AN:

Khổ giảm.

XXX. DUYÊN KHỞI VÀ CÔNG THỨC PHẬT

THẤY: Thấy chuỗi. TỈNH: Không chạy theo. BUÔNG: Không thủ. SÁNG: Thấy nhân duyên.

XXXI. DUYÊN KHỞI VÀ CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC

THẬT: Nhận thọ thật. TÍN: Giữ nguyên tắc. THIỆN: Chọn phản ứng thiện. GIỚI: Không để thọ biến thành nghiệp bất thiện. ĐỊNH: Đứng được trong thọ. TUỆ: Thấy ái và thủ. LỰC: Cắt chuỗi sớm hơn.

XXXII. DUYÊN KHỞI VÀ CÔNG THỨC TAM TẠNG

BỎ ÁC: Không để chuỗi dẫn tới hành vi bất thiện. LÀM LÀNH: Đưa thiện vào chuỗi. LÀM SẠCH TÂM: Thấy vô minh, ái, thủ.

XXXIII. DUYÊN KHỞI VÀ TỨ DIỆU ĐẾ

KHỔ: Chuỗi dẫn tới khổ. TẬP: Ái và những duyên nuôi khổ. DIỆT: Có thể đoạn các duyên/mắt xích theo con đường tu. ĐẠO: Bát Chánh Đạo. Duyên khởi giúp thấy cơ chế của bốn đế.

XXXIV. DUYÊN KHỞI VÀ TỨ NIỆM XỨ

TỨ NIỆM XỨ: Thấy hiện tượng. DUYÊN KHỞI: Thấy mối quan hệ. Câu nhớ:

TỨ NIỆM XỨ CHO MÌNH THẤY CÁI GÌ ĐANG CÓ.

DUYÊN KHỞI CHO MÌNH THẤY CÁI GÌ ĐANG NUÔI CÁI GÌ.

XXXV. DUYÊN KHỞI VÀ TRẠCH PHÁP

Trạch pháp hỏi: Duyên gì? Nhân gì? Quả gì? Pháp nào đang nuôi pháp nào? Câu nhớ:

DUYÊN KHỞI CHO MẮT NHÌN NHÂN DUYÊN.

TRẠCH PHÁP GIÚP PHÂN BIỆT MẮT XÍCH.

XXXVI. DUYÊN KHỞI VÀ BÁT CHÁNH ĐẠO

Chánh kiến: Thấy Duyên khởi. Chánh tư duy: Không nuôi ý hại. Chánh ngữ: Không tạo thêm duyên xấu bằng lời. Chánh nghiệp: Không tạo thêm nghiệp xấu. Chánh tinh tấn: Ngăn và bỏ bất thiện. Chánh niệm: Thấy thọ và tâm. Chánh định: Đủ lực đứng.

XXXVII. DUYÊN KHỞI VÀ NGHIỆP

Pāli:

kamma.

Sanskrit:

karma. Nguồn:

AN 6.63 – Nibbedhika Sutta.

Pāli:

cetanāhaṃ bhikkhave kammaṃ vadāmi. Đại ý: Ta nói tác ý là nghiệp. Nghiệp không phải trời phạt. Nghiệp liên hệ với hành động có tác ý và hậu quả theo duyên.

XXXVIII. TÁC Ý – CETANĀ

Pāli/Sanskrit: cetanā. Tiếng Việt: tác ý. Cảnh không quyết định toàn bộ nghiệp. Thọ không quyết định toàn bộ nghiệp. Tác ý và phản ứng có vai trò rất lớn. Câu nhớ:

TỰ DO THỰC HÀNH NẰM RẤT NHIỀU Ở CHỖ BIẾT TRƯỚC TÁC Ý.

XXXIX. KHÔNG CHỌN ĐƯỢC MỌI CẢNH NHƯNG CÓ THỂ CHỌN MỘT PHẦN PHẢN ỨNG

Không chọn được: Người kia nói gì. Có thể chọn: Lúc trả lời. Không chọn được: Thọ đầu tiên. Có thể chọn: Không chửi. Không đổi được: Quá khứ. Có thể chọn: Không tiếp tục nuôi cùng tập khí.

XL. DUYÊN KHỞI VÀ HỘ TRÌ CĂN

Muốn tâm bớt cháy: Bớt đưa củi. Giảm duyên kích thích là một pháp tu. Câu nhớ: ĐỪNG CHỈ DẬP LỬA. BỚT ĐƯA CỦI.

XLI. DUYÊN KHỞI VÀ MẠNG XÃ HỘI

Thông báo. Xúc. Thọ mong chờ. Ái muốn xem. Thủ: “Phải biết ngay.” Hành: Mở. Lặp: Thói quen.

XLII. CÔNG THỨC ĐIỆN THOẠI

THÔNG BÁO

→ XÚC

→ THỌ

→ MUỐN

→ MỞ.

Có niệm: THÔNG BÁO

→ XÚC

→ THỌ

→ BIẾT

→ HỎI “CÓ CẦN KHÔNG?”

→ CHỌN.

XLIII. DUYÊN KHỞI VÀ CƠN GIẬN

Nghe câu khó chịu. XÚC. Thọ khó chịu. VEDANĀ. Muốn đẩy lại. TAṆHĀ. “Tôi phải thắng.” UPĀDĀNA. Rồi nói ác. Nếu niệm có ở thọ: Chuỗi có thể đổi.

XLIV. DUYÊN KHỞI VÀ LỜI KHEN

Khen. Thọ dễ chịu. Ái: Muốn thêm. Thủ: “Tôi là người giỏi.” Sau bị chê: Khổ tăng. Vì vậy lạc thọ cũng phải được quán.

XLV. DUYÊN KHỞI VÀ TÌNH CẢM

Người nhắn. Thọ vui. Ái muốn gần. Thủ: “Phải thuộc về tôi.” Khi người đổi: Khổ. Câu nhớ:

THƯƠNG KHÔNG TỰ ĐỘNG TẠO KHỔ.

CHẤP VÀO ĐIỀU THƯƠNG LÀM KHỔ SÂU HƠN.

XLVI. DUYÊN KHỞI VÀ MẤT MÁT

Mất vật. Thọ khó chịu. Ái: Muốn còn. Thủ: “Của tôi.” Nếu thấy: Thọ là thọ. Vật là vật. Duyên đổi. Khổ có thể nhẹ.

XLVII. DUYÊN KHỞI VÀ DANH

Được chú ý. Thọ vui. Ái danh. Thủ danh. Rồi: Con số trở thành giá trị bản thân. Đây là một chuỗi rất hiện đại.

XLVIII. DUYÊN KHỞI VÀ CÁI TÔI

Cái gọi “tôi” được dựng qua nhiều duyên: Thân. Thọ. Tưởng. Ký ức. Quan hệ. Vai trò. Ái. Thủ. Không cần xem ngã như một vật bất biến.

XLIX. DUYÊN KHỞI VÀ VÔ NGÃ

Nếu mọi thứ do duyên: Không có chủ thể hoàn toàn độc lập. Không có nghĩa: “Không có con người.” Mà là: Cái gọi “tôi” cũng nương nhiều duyên.

L. DUYÊN KHỞI VÀ VÔ THƯỜNG

Cái gì do duyên sinh: Khi duyên đổi: Nó đổi. Đây là cơ sở của chuyển hóa.

LI. DUYÊN KHỞI VÀ KHỔ

Cái gì phụ thuộc duyên: Không thể cho bảo đảm tuyệt đối. Nếu chấp: Khổ.

LII. DUYÊN KHỞI VÀ TRUNG ĐẠO

Duyên khởi giúp tránh: Thường kiến. Đoạn kiến. Nguồn quan trọng:

SN 12.15 – Kaccānagotta Sutta – Kinh Kaccānagotta.

Bài kinh dùng Duyên khởi để trình bày Chánh kiến vượt hai cực “có” và “không có” theo nghĩa chấp thủ cực đoan.

LIII. DUYÊN KHỞI KHÔNG PHẢI “CÁI GÌ CŨNG TƯƠNG ĐỐI”

Thiện vẫn khác bất thiện. Nhân quả vẫn có. Giới vẫn có. Duyên khởi không xóa đạo đức.

LIV. KHÔNG PHẢI MỌI THỨ CHỈ DO NGHIỆP QUÁ KHỨ

Có nhiều duyên: Sinh học. Môi trường. Thời tiết. Hành vi người khác. Tai nạn. Duyên hiện tại. Không nên nói: “Mọi chuyện chỉ vì nghiệp cũ.” Duyên khởi rộng hơn.

LV. DUYÊN KHỞI VÀ TRÁCH NHIỆM

Thấy nhiều duyên không xóa trách nhiệm. Nó giúp thấy đúng: Phần nào là duyên. Phần nào là lựa chọn. Phần nào phải chịu trách nhiệm.

LVI. DUYÊN KHỞI VÀ TỪ BI

Thấy hành vi xấu có nhiều duyên: Từ bi dễ sinh. Nhưng vẫn có thể: Đặt ranh giới. Bảo vệ. Nói rõ. Không nuôi hận. Đó là từ bi có trí.

LVII. DUYÊN KHỞI VÀ KHIÊM HẠ

Thành công có nhiều duyên: Người dạy. Cơ hội. Sức khỏe. Thời gian. Công cụ. Người giúp. Câu nhớ:

DUYÊN KHỞI KHÔNG LÀM CÔNG LAO MẤT.

NÓ CHỈ LÀM CÁI TÔI BỚT ĐỘC QUYỀN CÔNG LAO.

LVIII. DUYÊN KHỞI VÀ THẤT BẠI

Thất bại không chỉ: “Tôi dở.” Có thể có: Sai cách. Thiếu dữ liệu. Thiếu duyên. Sai thời điểm. Môi trường không hợp. Vẫn phải sửa phần mình.

LIX. DUYÊN KHỞI VÀ CHỮ TÍN

Thất tín có duyên: Hứa quá sức. Tham lợi. Sợ. Lười. Thiếu ghi nhớ. Muốn giữ tín: Sửa duyên.

LX. DUYÊN KHỞI VÀ GIỚI

Giới cắt chuỗi trước hành động bất thiện. Thọ khó chịu: Có. Sân: Có. Nhưng giới: Giữ thân khẩu. Đó là một chỗ can thiệp rất lớn.

LXI. DUYÊN KHỞI VÀ ĐỊNH

Định tạo khoảng. Khoảng giúp thấy: Thọ. Ái. Thủ. Tác ý. Định làm chuỗi bớt tự động.

LXII. DUYÊN KHỞI VÀ TUỆ

Tuệ hỏi: Duyên gì? Nhân gì? Cái gì đang nuôi cái gì? Cái nào có thể đổi? Đó là tư duy Duyên khởi.

LXIII. DUYÊN KHỞI VÀ LỰC

Ban đầu: Hành xong mới thấy. Sau: Đang ái mới thấy. Sau: Thọ vừa sinh đã thấy. Sau: Biết duyên trước. Đó là lực.

LXIV. BA MỨC CẮT CHUỖI

MỨC 1: Sau hành động – sai rồi sửa. MỨC 2: Trong phản ứng – đang sân thì dừng. MỨC 3: Trước phản ứng – thọ vừa sinh đã biết.

LXV. MỨC THỨ TƯ – SỬA DUYÊN TRƯỚC

Biết dễ sân khi mệt: Nghỉ. Biết dễ tham khi xem nội dung kích thích: Giảm xem. Biết dễ chấp khi tranh: Không tranh lúc nóng. Đây là tu từ duyên trước.

LXVI. CÔNG THỨC BỐN TẦNG TU DUYÊN KHỞI

1. SỬA HẬU QUẢ.

2. DỪNG PHẢN ỨNG.

3. THẤY THỌ – ÁI – THỦ.

4. SỬA DUYÊN TRƯỚC KHI CHUỖI SINH.

LXVII. DUYÊN KHỞI VÀ TỨ CHÁNH CẦN

Bất thiện chưa sinh: Giảm duyên. Bất thiện đã sinh: Bỏ. Thiện chưa sinh: Tạo duyên. Thiện đã sinh: Nuôi duyên. Câu nhớ:

TỨ CHÁNH CẦN LÀ DUYÊN KHỞI ĐƯỢC BIẾN THÀNH KỸ THUẬT TU HẰNG NGÀY.

LXVIII. DUYÊN KHỞI VÀ THẤT GIÁC CHI

NIỆM: Thấy mắt xích. TRẠCH PHÁP: Phân biệt duyên. TINH TẤN: Chuyển. HỶ: Nuôi thiện. KHINH AN: Làm dịu. ĐỊNH: Giữ. XẢ: Không chấp.

LXIX. DUYÊN KHỞI VÀ BÁT PHONG

Được. Mất. Danh. Thất danh. Khen. Chê. Lạc. Khổ. Bát phong là cảnh. Duyên khởi hỏi: Gió chạm ở đâu? Thọ gì sinh? Ái gì sinh? Thủ gì sinh?

LXX. BÁT PHONG KHÔNG TỰ ĐỘNG LÀM MÌNH KHỔ

Khen không bắt buộc làm phồng. Chê không bắt buộc làm sân. Được không bắt buộc làm tham. Mất không bắt buộc làm sụp. Tùy thọ, ái, thủ và tuệ. Câu nhớ: GIÓ LÀ DUYÊN.

BAY HAY ĐỨNG CÒN TÙY GỐC.

LXXI. DUYÊN KHỞI VÀ NIỆM PHẬT

Vọng sinh: Do duyên. Không theo: Trở về Phật hiệu. Nếu môi trường tán: Giảm tán. Nếu thân quá mệt: Nghỉ. Duyên khởi giúp hỗ trợ pháp môn.

LXXII. DUYÊN KHỞI VÀ HƠI THỞ

Hơi thở là một duyên thiện: Thân dịu. Thọ dịu. Tâm bớt tán. Định tăng. Không phải phép màu.

LXXIII. DUYÊN KHỞI VÀ BỐ THÍ

Keo có duyên. Bố thí cũng có duyên. Cho: Tâm rộng. Lặp: Thói quen rộng. Đây là Duyên khởi của thiện.

LXXIV. THIỆN CŨNG CÓ DUYÊN

Không chỉ bất thiện có nguyên nhân. Từ có duyên. Bi có duyên. Định có duyên. Tuệ có duyên. Giới có duyên. Câu nhớ: MUỐN THIỆN LỚN:

TẠO DUYÊN CHO THIỆN.

LXXV. CÔNG THỨC TẠO DUYÊN THIỆN

MÔI TRƯỜNG ĐÚNG

→ NGƯỜI ĐÚNG

→ PHÁP ĐÚNG

→ LẶP ĐÚNG

→ THIỆN TĂNG.

LXXVI. THIỆN HỮU – KALYĀṆAMITTA / KALYĀṆAMITRA

Pāli:

kalyāṇamitta.

Sanskrit:

kalyāṇamitra. Tiếng Việt: thiện hữu tri thức. Nguồn:

SN 45.2 – Upaddha Sutta – Kinh Một Nửa.

Đại ý: Thiện hữu không chỉ là một nửa mà là toàn bộ đời sống phạm hạnh. Bản dịch có thể khác.

LXXVII. DUYÊN KHỞI VÀ MÔI TRƯỜNG

Môi trường thị phi: Nuôi thị phi. Môi trường tham: Nuôi tham. Môi trường giới: Nuôi giới. Môi trường học: Nuôi tuệ. Người tu phải biết chọn đất.

LXXVIII. DUYÊN KHỞI VÀ PHÁP THÍ

Một câu Pháp: Có thể thành duyên. Một bài giảng: Có thể thành duyên. Một cuốn sách: Có thể thành duyên. Câu nhớ:

PHÁP THÍ KHÔNG ÉP QUẢ.

PHÁP THÍ GIEO DUYÊN.

LXXIX. DUYÊN KHỞI VÀ ĐẠI NGUYỆN

Đại nguyện cần: Sức khỏe. Thời gian. Người hỗ trợ. Tài liệu. Giới. Định. Tuệ. Câu nhớ: NGUYỆN CHO HƯỚNG.

DUYÊN CHO KHẢ NĂNG THÀNH.

LXXX. DUYÊN KHỞI VÀ VÔ THƯỜNG

Cái gì do duyên: Có thể đổi khi duyên đổi. Sân có thể giảm. Thói quen có thể huân lại. Định có thể tăng. Đây là hy vọng của tu.

LXXXI. DUYÊN KHỞI VÀ VÔ NGÃ

Cái gọi “tôi” do nhiều duyên: Thân. Ký ức. Quan hệ. Ngôn ngữ. Thọ. Tập khí. Nhận thức. Vì vậy không cần bảo vệ một “tôi” như vật bất biến.

LXXXII. DUYÊN KHỞI VÀ KHÔNG TÍNH – ŚŪNYATĀ

Trong Đại thừa, Duyên khởi được phát triển sâu cùng: śūnyatā – Không tính. Các pháp do duyên nên không có tự tính độc lập cố định. Đây là nền quan trọng của Trung Quán. Cần phân biệt: Đây là cách triển khai Đại thừa.

LXXXIII. LONG THỌ – NĀGĀRJUNA

Trong truyền thống Trung Quán, Long Thọ – Nāgārjuna – liên hệ sâu: Duyên khởi. Không tính. Trung đạo. Khi trích nguyên văn Sanskrit cần đối chiếu bản chuẩn.

LXXXIV. DUYÊN KHỞI VÀ KINH KIM CANG

Vajracchedikā Prajñāpāramitā Sūtra – Kinh Kim Cang. Tinh thần không trụ vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp hỗ trợ tháo chấp. Không nên đồng nhất từ ngữ Đại thừa và Pāli máy móc.

LXXXV. DUYÊN KHỞI VÀ TÂM KINH

Prajñāpāramitāhṛdaya Sūtra – Bát Nhã Tâm Kinh. Năm uẩn được nhìn qua Không tính. Điều này hỗ trợ tháo chấp. Cần ghi rõ đây là hệ Bát Nhã Đại thừa.

LXXXVI. DUYÊN KHỞI KHÔNG XÓA TRÁCH NHIỆM

Không được nói: “Các pháp đều duyên nên làm gì cũng được.” Sai. Một lời là duyên. Một hành động là duyên. Một lựa chọn là duyên. Duyên khởi làm trách nhiệm rõ hơn.

LXXXVII. DUYÊN KHỞI VÀ LỜI NÓI

Một câu ác: Có thể thành duyên cho sân. Một câu lành: Có thể thành duyên cho an. Câu nhớ:

MỖI LỜI NÓI ĐỀU CÓ THỂ TRỞ THÀNH MỘT DUYÊN TRONG TÂM NGƯỜI KHÁC.

LXXXVIII. DUYÊN KHỞI VÀ GIÁO DỤC

Lặp: “Con ngu.” Có thể tạo duyên cho mặc cảm. Nói: “Con sai chỗ này, sửa được.” Tạo duyên khác. Ngôn ngữ tạo điều kiện cho tâm.

LXXXIX. DUYÊN KHỞI VÀ TỰ NÓI VỚI MÌNH

“Tôi tệ.” Lặp nhiều: Tạo duyên xấu. “Tôi hoàn hảo.” Lặp nhiều: Nuôi ngã. Tốt hơn: “Việc này sai.” “Có thể sửa.”

XC. DUYÊN KHỞI VÀ CÁCH NHÌN NGƯỜI

Không vội: “Người xấu.” Có thể nói: “Đang có hành vi bất thiện do nhiều duyên.” Vẫn có thể: Đặt ranh giới. Sửa. Bảo vệ. Nhưng bớt đóng đinh căn tính.

XCI. DUYÊN KHỞI VÀ THA THỨ

Tha thứ không có nghĩa: Xóa hậu quả. Tin lại ngay. Tha thứ có thể là: Không tiếp tục nuôi duyên hận. Vẫn giữ khoảng cách nếu cần.

XCII. DUYÊN KHỞI VÀ RANH GIỚI

Nếu tiếp xúc liên tục là duyên xấu: Giảm tiếp xúc có thể là trí. Câu nhớ:

MUỐN CHUYỂN TÂM, ĐÔI LÚC PHẢI CHUYỂN CẢ DUYÊN.

XCIII. DUYÊN KHỞI VÀ THÓI QUEN

Một thói quen thường có: Duyên. Thọ. Muốn. Hành động. Lặp. Muốn đổi: Phải đổi một số duyên.

XCIV. CÔNG THỨC THÓI QUEN

DUYÊN

→ THỌ

→ MUỐN

→ HÀNH

→ LẶP

→ TẬP KHÍ.

Muốn đổi: ĐỔI DUYÊN

→ BIẾT THỌ

→ DỪNG

→ THAY HÀNH VI

→ LẶP THIỆN.

XCV. TẬP KHÍ KHÔNG PHẢI SỐ PHẬN

Lặp: Mạnh. Không nuôi: Yếu. Thay bằng thiện: Hướng đổi. Đó là Duyên khởi của tu.

XCVI. DUYÊN KHỞI VÀ SÁM HỐI

Sám hối đúng: Thấy sai. Xin lỗi. Sửa hậu quả. Và tìm duyên đã làm mình sai. Nếu nóng khi mệt: Đừng tranh lúc mệt. Đó là sám hối có Duyên khởi.

XCVII. DUYÊN KHỞI VÀ PHÒNG HỘ

Biết mình yếu với dục: Tránh duyên quá mạnh. Biết dễ sân: Không tranh lúc nóng. Đó là trí.

XCVIII. DUYÊN KHỞI VÀ TỰ DO

Tự do không phải: Không có điều kiện. Tự do là:

TRONG ĐIỀU KIỆN, MÌNH NGÀY CÀNG THẤY VÀ CHỌN ĐƯỢC NHIỀU HƠN.

Câu nhớ:

TỰ DO TRONG PHẬT PHÁP KHÔNG PHẢI THOÁT KHỎI MỌI DUYÊN.

LÀ BỚT BỊ DUYÊN SAI KHIẾN VÔ THỨC.

XCIX. CÔNG THỨC DUYÊN KHỞI CỰC GỌN

CÓ DUYÊN

→ CÓ SINH.

ĐỔI DUYÊN

→ ĐỔI HƯỚNG.

THẤY DUYÊN

→ CÓ CHỖ TU.

C. BẢN 5 CÂU THỰC HÀNH

1. Cái gì vừa chạm?

2. Thọ gì sinh?

3. Tôi đang muốn gì?

4. Tôi đang nắm gì?

5. Duyên nào có thể đổi ngay bây giờ?

CI. BÀI TẬP 1 PHÚT

15 giây: Xúc gì? 15 giây: Thọ gì? 15 giây: Ái gì? 15 giây: Thủ gì? Sau đó: KHÔNG HÀNH VỘI.

CII. BÀI THỰC HÀNH 7 NGÀY

NGÀY 1 – XÚC: Bắt năm lần cảnh chạm. NGÀY 2 – THỌ: Gọi tên dễ/khó/trung. NGÀY 3 – ÁI: Hỏi “Tôi đang muốn gì?” NGÀY 4 – THỦ: Hỏi “Tôi đang nắm gì?” NGÀY 5 – DUYÊN: Giảm một duyên bất thiện. NGÀY 6 – THIỆN: Tạo một duyên thiện. NGÀY 7 – CHUỖI: Ghi một chuỗi hoàn chỉnh từ cảnh tới phản ứng.

CIII. NHẬT KÝ DUYÊN KHỞI

CẢNH/XÚC. THỌ. ÁI/THỦ. PHẢN ỨNG/HẬU QUẢ. Rồi hỏi:

DUYÊN NÀO LẦN SAU TÔI SẼ ĐỔI?

CIV. DUYÊN KHỞI VÀ BỐN CÔNG THỨC

CÔNG THỨC TAM TẠNG:

BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

Duyên khởi chỉ: Ác có duyên. Thiện có duyên. Tâm sạch cũng có duyên.

CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC:

THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

Duyên khởi giúp: Thật với thọ. Giữ giới trước phản ứng. Định để không chạy. Tuệ để thấy ái và thủ.

CÔNG THỨC BUÔNG:

NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

Duyên khởi chỉ: Nhận thọ. Soi ái. Thấy thủ. Buông nắm.

CÔNG THỨC PHẬT:

THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

Duyên khởi là một trường học lớn của: THẤY NHÂN DUYÊN.

CV. CÂU GHI NHỚ

DUYÊN KHỞI KHÔNG BẢO MÌNH NGỒI CHỊU.

DUYÊN KHỞI BẢO MÌNH COI DUYÊN NÀO ĐANG NUÔI KHỔ ĐỂ CÒN BIẾT ĐƯỜNG ĐỔI.

CVI. CÂU GHI NHỚ

ĐỪNG CHỈ HỎI: “AI LÀM TÔI KHỔ?” HÃY HỎI THÊM:

“NHỮNG DUYÊN NÀO ĐANG LÀM KHỔ NÀY TIẾP TỤC?”

CVII. CÂU GHI NHỚ

MUỐN ĐỔI QUẢ MÀ GIỮ NGUYÊN HẾT CÁC DUYÊN THÌ RẤT KHÓ.

TU LÀ HỌC CÁCH ĐỔI DUYÊN TỪ SỚM.

CVIII. CÂU GHI NHỚ

THỌ KHÔNG PHẢI LỖI.

ÁI KHÔNG PHẢI BẢN ÁN.

THẤY SỚM LÀ CÒN CỬA.

CIX. CÂU GHI NHỚ

TỪ VÔ MINH TỚI KHỔ LÀ MỘT DÒNG CÓ DUYÊN.

TỪ CHÁNH KIẾN TỚI GIẢI THOÁT CŨNG LÀ MỘT DÒNG CÓ DUYÊN.

CX. CÂU GHI NHỚ

KHÔNG CHỈ BẤT THIỆN CÓ NGUYÊN NHÂN.

THIỆN CŨNG PHẢI ĐƯỢC TẠO DUYÊN.

CXI. CÂU KẾT

Hiểu Duyên khởi, mình bớt hỏi: “Tại sao đời lại làm thế với tôi?” và bắt đầu hỏi:

“NHỮNG DUYÊN NÀO ĐANG VẬN HÀNH?”

Không phải để lạnh. Không phải để đổ lỗi cho mình. Mà để thấy:

CHỖ NÀO CÓ THỂ LÀM KHÁC.

Một cơn sân không tự nhiên từ trời rơi xuống. Có cảnh. Có xúc. Có thọ. Có tưởng. Có ái. Có thủ. Có tập khí. Có cái tôi. Có thiếu ngủ. Có lời cũ. Có cả một chuỗi. Thấy chuỗi đó: Mình mới có trí. Có lúc: Sửa cảnh. Có lúc: Sửa cách nhìn. Có lúc: Giữ miệng. Có lúc: Rời duyên. Có lúc: Nghỉ.

Có lúc: Niệm Phật. Có lúc: Thở. Có lúc: Đặt ranh giới. Có lúc: Xin lỗi. Có lúc: Học lại. Đó là Duyên khởi đi xuống đời.

CÔNG THỨC TAM TẠNG:

BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

Bất thiện phải có duyên. Thiện cũng phải có duyên.

CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC:

THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

Giới cắt duyên xấu. Định làm tâm không chạy. Tuệ thấy mắt xích. Lực giúp cắt sớm.

CÔNG THỨC BUÔNG:

NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

Buông không còn là lời khuyên mơ hồ. Mình biết phải soi: THỌ? ÁI? THỦ? VAI? CÁI TÔI?

CÔNG THỨC PHẬT:

THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

Duyên khởi cho một chiều rất sâu: THẤY NHÂN DUYÊN. Không đóng đinh người. Không đóng đinh mình. Không đóng đinh một trạng thái. Bởi cái gì do duyên mà thành thì khi duyên được chuyển, tiến trình có thể đổi.

DUYÊN KHỞI KHÔNG LÀM CON NGƯỜI BẤT LỰC.

NÓ CHỈ CHO MÌNH BIẾT CHỖ ĐẶT BÀN TAY VÀO BÁNH XE.

THỌ VỪA SINH: BIẾT. ÁI VỪA LÓ: BIẾT. THỦ VỪA NẮM: NỚI. LỜI ĐỘC SẮP RA: DỪNG.

DUYÊN XẤU ĐANG NUÔI:

GIẢM.

DUYÊN THIỆN ĐANG CÓ:

GIỮ.

ĐÓ LÀ TU DUYÊN KHỞI.

CÂU CUỐI: THẤY DUYÊN

LÀ THẤY CHỖ CÓ THỂ CHUYỂN.

CHƯƠNG 28
THẤT GIÁC CHI – NHỮNG YẾU TỐ ĐƯA TÂM VỀ HƯỚNG GIÁC NGỘ

Thất Giác Chi là một nhóm giáo pháp căn bản rất quan trọng.

Pāli:

satta bojjhaṅgā.

Sanskrit:

sapta bodhyaṅgāni. Tiếng Việt: Bảy Giác Chi / Bảy yếu tố giác ngộ. Bảy chi gồm:

1. sati-sambojjhaṅga – Niệm giác chi.

2. dhamma-vicaya-sambojjhaṅga – Trạch pháp giác chi.

3. viriya-sambojjhaṅga – Tinh tấn giác chi.

4. pīti-sambojjhaṅga – Hỷ giác chi.

5. passaddhi-sambojjhaṅga – Khinh an giác chi.

6. samādhi-sambojjhaṅga – Định giác chi.

7. upekkhā-sambojjhaṅga – Xả giác chi.

Sanskrit tương ứng: smṛti. dharma-pravicaya. vīrya. prīti. praśrabdhi. samādhi. upekṣā. Nguồn quan trọng: Saṃyutta Nikāya – Tương Ưng Bộ.

SN 46 – Bojjhaṅga-saṃyutta – Tương Ưng Giác Chi.

Ngoài ra Thất Giác Chi còn xuất hiện trong:

MN 10 – Satipaṭṭhāna Sutta – Kinh Niệm Xứ.

DN 22 – Mahāsatipaṭṭhāna Sutta – Kinh Đại Niệm Xứ.

Trong phần quán pháp, hành giả biết: Giác chi nào đang có. Giác chi nào chưa có. Cách làm sinh khởi. Cách làm tăng trưởng.

I. Ý NGHĨA “GIÁC CHI”

Bodhi: Giác ngộ. Aṅga: Chi, yếu tố. Bojjhaṅga: Yếu tố giác ngộ. Thất Giác Chi không phải bảy đức tính ngẫu nhiên. Đó là bảy phẩm chất được nuôi để tâm đi về giác.

II. THẤT GIÁC CHI KHÔNG PHẢI BẢY BẬC CỨNG

Không phải: Xong Niệm mới có Trạch pháp. Xong Trạch pháp mới có Tinh tấn. Bảy chi hỗ trợ lẫn nhau. NIỆM: Thấy. TRẠCH PHÁP: Hiểu. TINH TẤN: Chuyển. HỶ: Nuôi. KHINH AN: Dịu. ĐỊNH: Giữ. XẢ: Buông.

III. NIỆM GIÁC CHI – SATI / SMṚTI

Niệm là: Không quên cái đang cần biết. Biết thân. Biết thọ. Biết tâm. Biết pháp. Không có Niệm: Không biết tham. Không biết sân. Không biết chấp. Không biết mình đang bị cảnh kéo. Câu nhớ: NIỆM LÀ CỬA ĐẦU.

IV. NIỆM VÀ TỨ NIỆM XỨ

Tứ Niệm Xứ: Thân. Thọ. Tâm. Pháp. là một nền rất lớn để nuôi Niệm giác chi. Câu hệ thống hóa: TỨ NIỆM XỨ LÀ ĐẤT.

NIỆM GIÁC CHI LÀ MỘT TRONG NHỮNG CÂY LỚN MỌC TRÊN ĐẤT ẤY.

V. CÔNG THỨC NIỆM

THẤY

→ GỌI TÊN

→ KHÔNG QUÊN

→ KHÔNG CHẠY THEO.

VI. TRẠCH PHÁP – DHAMMA-VICAYA / DHARMA-PRAVICAYA

Pāli:

dhamma-vicaya.

Sanskrit:

dharma-pravicaya. Tiếng Việt: Trạch pháp – khảo sát, phân biệt, phân tích pháp. Trạch pháp không chỉ biết: “Tôi đang có sân.” Mà còn hỏi: Sân do gì? Thọ nào đi trước? Chấp gì? Thiện hay bất thiện? Pháp nào cần dùng?

VII. TRẠCH PHÁP KHÔNG PHẢI NGHĨ NHIỀU

Suy nghĩ lặp đi lặp lại về một chuyện chưa chắc là Trạch pháp. Trạch pháp phải dẫn tới: Rõ. Đúng. Thấy nhân. Thấy quả. Biết pháp đối trị. Câu nhớ:

TRẠCH PHÁP KHÔNG PHẢI NGHĨ NHIỀU.

LÀ PHÂN BIỆT ĐÚNG.

VIII. TRẠCH PHÁP VÀ CHÁNH KIẾN

Trạch pháp phải có nền Chánh kiến. Nếu cái thấy nền sai: Phân tích càng nhiều càng lệch. Câu nhớ:

CHÁNH KIẾN CHO NỀN.

TRẠCH PHÁP DÙNG NỀN ẤY ĐỂ ĐỌC HIỆN TƯỢNG.

IX. TRẠCH PHÁP VÀ TỨ DIỆU ĐẾ

Trạch pháp hỏi: Đây là Khổ? Tập ở đâu? Diệt có thể ở đâu? Đạo nào cần dùng? Câu nhớ:

TỨ DIỆU ĐẾ CHO KHUNG.

TRẠCH PHÁP DÙNG KHUNG ĐÓ ĐỂ ĐỌC TÌNH HUỐNG.

X. TRẠCH PHÁP VÀ DUYÊN KHỞI

Duyên khởi hỏi: Cái gì làm duyên cho cái gì? Trạch pháp giúp: Nhận đúng mắt xích. Thọ? Ái? Thủ? Tưởng? Sân? Câu nhớ:

DUYÊN KHỞI CHO SƠ ĐỒ.

TRẠCH PHÁP CHỈ ĐÚNG MẮT XÍCH ĐANG SÁNG LÊN.

XI. TRẠCH PHÁP VÀ NĂM TRIỀN CÁI

Tâm nặng. Hỏi: Dục tham? Sân? Hôn trầm? Trạo hối? Nghi? Không gọi chung: “Tâm xấu.” Gọi đúng tên để dùng đúng pháp.

XII. TRẠCH PHÁP VÀ HÔN TRẦM

Buồn ngủ. Hỏi: Thiếu ngủ? Ăn no? Thân mệt? Thiếu hỷ? Thiếu tinh tấn? Đó là Trạch pháp.

XIII. TRẠCH PHÁP VÀ TRẠO CỬ

Tâm quá chạy. Có thể cần: Khinh an. Định. Xả. Không nhất thiết cần thêm phân tích hoặc kích thích.

XIV. TRẠCH PHÁP VÀ GIỚI

Tâm nói: “Tôi thích.” Trạch pháp hỏi: “Nhưng có đúng giới không?” Câu nhớ:

TRẠCH PHÁP KHÔNG CHỈ HỎI “TÔI THÍCH KHÔNG?”

NÓ HỎI “ĐÚNG PHÁP KHÔNG?”

XV. TRẠCH PHÁP VÀ LỜI NÓI

Trước khi nói: Đúng? Lợi ích? Đúng thời? Động cơ? Nói để thắng? Hay để bảo vệ điều đúng?

XVI. TRẠCH PHÁP VÀ CÔNG THỨC PHẬT

THẤY: Niệm. TỈNH: Trạch pháp. BUÔNG: Biết cái gì cần bỏ. SÁNG: Phân biệt rõ hơn.

XVII. TRẠCH PHÁP VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

Công thức: NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

Trạch pháp nằm rất sâu ở chữ: SOI. SOI không phải suy nghĩ lan man. SOI là phân tích đúng pháp đang sinh.

XVIII. TINH TẤN – VIRIYA / VĪRYA

Pāli:

viriya.

Sanskrit:

vīrya. Tiếng Việt: Tinh tấn. Thấy rồi phải chuyển. Biết sân: Bỏ sân. Biết niệm yếu: Lập niệm. Câu nhớ:

TRẠCH PHÁP CHỈ ĐƯỜNG.

TINH TẤN BƯỚC CHÂN.

XIX. TINH TẤN VÀ TỨ CHÁNH CẦN

Ngăn bất thiện chưa sinh. Bỏ bất thiện đã sinh. Sinh thiện chưa có. Giữ thiện đã có. Tinh tấn không phải: Cố bất chấp. Là: CỐ ĐÚNG HƯỚNG.

XX. TINH TẤN KHÔNG PHẢI ÉP

Nếu thân kiệt: Có lúc cần nghỉ. Nếu tâm né: Có lúc cần tăng lực. Câu nhớ:

TINH TẤN KHÔNG CÓ TRẠCH PHÁP DỄ THÀNH ÉP.

XXI. TINH TẤN VÀ CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC

THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

Tinh tấn làm chuỗi ấy được lặp. Không lặp: Không thành lực.

XXII. HỶ – PĪTI / PRĪTI

Pāli:

pīti.

Sanskrit:

prīti. Tiếng Việt: hỷ, hân hoan trong thiện. Hỷ giác chi không phải vui dục. Có thể sinh khi: Giữ được một cơn sân. Hiểu một pháp. Buông một chấp. Làm thiện. Tâm sáng. Câu nhớ:

HỶ LÀ NHIÊN LIỆU MỀM CỦA ĐƯỜNG TU.

XXIII. ĐẠO PHẬT KHÔNG CHỈ TOÀN “CỐ”

Nếu chỉ: Ép. Bỏ. Cắt. Chịu. Con đường rất dễ khô. Hỷ giúp thiện có sức.

XXIV. HỶ KHÔNG PHẢI PHỒNG

Làm được: Vui. Nhưng không: “Ta tu giỏi.” Hỷ sạch: Biết thiện. Biết duyên. Không giữ công.

XXV. PĪTI VÀ MUDITĀ KHÔNG HOÀN TOÀN ĐỒNG NHẤT

Pīti: Hỷ giác chi, niềm hân hoan trong tiến trình tu. Muditā: Tùy hỷ / hỷ vô lượng, vui trước thiện và thành công của người khác. Hai thuật ngữ cần phân biệt.

XXVI. HỶ VÀ HÔN TRẦM

Khi tâm quá nặng: Có thể cần tăng Hỷ. Đọc Pháp sáng.

Kinh hành.

Nhớ thiện. Làm việc thiện. Không phải lúc nào chữa hôn trầm bằng ép ngồi.

XXVII. KHINH AN – PASSADDHI / PRAŚRABDHI

Pāli:

passaddhi.

Sanskrit:

praśrabdhi. Tiếng Việt: khinh an, an tịnh, lắng dịu. Khinh an là: Nhẹ. Dịu. Không quá căng. Có sáng biết.

XXVIII. KHINH AN KHÔNG PHẢI LƯỜI

Lười: Nặng. Mê. Né. Khinh an: Nhẹ. Sáng. Dịu. Hai cái khác.

XXIX. KHINH AN VÀ BUÔNG

Buông một chấp: Thân có thể dịu. Tâm có thể nhẹ. Có thể dùng để minh họa sự lắng. Không đồng nhất mọi cảm giác nhẹ với Khinh an giác chi kỹ thuật.

XXX. KHI TÂM QUÁ CĂNG

Nếu tu mà: Trán căng. Vai cứng. Thở gấp. Tâm ép. Cần soi. Đường giác ngộ cần: LỰC. VÀ: SỰ DỊU.

XXXI. ĐỊNH – SAMĀDHI

Pāli/Sanskrit: samādhi. Tiếng Việt: định. Định giúp tâm: Gom. Ở. Không tán quá mạnh. Định hỗ trợ thấy sâu.

XXXII. ĐỊNH KHÔNG CHỈ LÀ “KHÔNG NGHĨ”

Định không đồng nghĩa: Không còn ý nghĩ. Định là tâm có độ ổn định, nhất hướng phù hợp. Trong kinh điển kỹ thuật, samādhi sâu hơn nhiều.

XXXIII. ĐỊNH VÀ BỐN THIỀN

Pāli:

jhāna.

Sanskrit:

dhyāna. Tiếng Việt: thiền định. Không nên gọi tâm yên một chút là đã chứng thiền. Giữ chuẩn.

XXXIV. ĐỊNH VÀ NIỆM

NIỆM: Thấy tâm đi. ĐỊNH: Giúp tâm ở. Câu nhớ: NIỆM THẤY TÂM ĐI. ĐỊNH GIÚP TÂM Ở.

XXXV. ĐỊNH VÀ TRẠCH PHÁP

Trạch pháp quá nhiều mà thiếu định: Dễ thành phân tích lan man. Định mà thiếu Trạch pháp: Có thể yên nhưng thiếu tuệ. Hai cái hỗ trợ nhau.

XXXVI. XẢ – UPEKKHĀ / UPEKṢĀ

Pāli:

upekkhā.

Sanskrit:

upekṣā. Tiếng Việt: xả, quân bình. Xả không phải: Lạnh. Mặc kệ. Không quan tâm. Xả là:

THẤY MÀ KHÔNG BỊ KÉO.

XXXVII. XẢ KHÔNG PHẢI BỎ TRÁCH NHIỆM

Việc cần làm: Vẫn làm. Sai cần sửa: Vẫn sửa. Nhưng không để: Được – mất. Khen – chê. Thành – bại. lấy mất tâm. Câu nhớ: XẢ KHÔNG BỎ VIỆC.

XẢ BỎ SỰ DÍNH VÀO KẾT QUẢ NGOÀI QUYỀN.

XXXVIII. XẢ VÀ BÁT PHONG

Bát phong: Được – mất. Danh – thất danh. Khen – chê. Lạc – khổ. Câu nhớ:

BÁT PHONG LÀ BÀI THI LỚN CỦA XẢ.

XXXIX. XẢ VÀ TỪ BI

Từ mà thiếu xả: Dễ kiểm soát. Giúp mà thiếu xả: Dễ đòi kết quả. Từ + xả: Thương. Làm phần mình. Không sở hữu.

XL. THẤT GIÁC CHI CÓ TÍNH CÂN BẰNG

Khi tâm trì trệ: Tăng các yếu tố làm sáng. Khi tâm quá kích động: Tăng các yếu tố làm dịu. Cách trình bày truyền thống thường nói: TÂM HÔN TRẦM: Trạch pháp – Tinh tấn – Hỷ. TÂM TRẠO CỬ: Khinh an – Định – Xả. NIỆM: Phù hợp cả hai bên.

XLI. KHI TÂM BUỒN NGỦ

Có thể cần: Trạch pháp. Tinh tấn. Hỷ.

Kinh hành.

Đọc Pháp. Thay tư thế.

XLII. KHI TÂM QUÁ LO

Có thể cần: Khinh an. Định. Xả. Thở. Giảm kích thích. Không thêm phân tích vô tận.

XLIII. CÔNG THỨC CÂN BẰNG

TÂM QUÁ NẶNG

→ TRẠCH PHÁP – TINH TẤN – HỶ.

TÂM QUÁ CHẠY

→ KHINH AN – ĐỊNH – XẢ.

NIỆM

→ LUÔN CẦN.

XLIV. NIỆM LÀ CÁI CÂN

Niệm biết: Tâm đang thiếu lực? Hay quá lực? Câu nhớ:

NIỆM KHÔNG CHỈ THẤY TÂM.

NIỆM GIÚP BIẾT TÂM ĐANG CẦN THÊM GÌ VÀ BỚT GÌ.

XLV. THẤT GIÁC CHI VÀ TỨ NIỆM XỨ

Tứ Niệm Xứ: Thấy thân – thọ – tâm – pháp. Niệm giác chi: Được nuôi. Trạch pháp: Phân biệt. Tinh tấn: Chuyển. Rồi các giác chi khác phát triển.

XLVI. THẤT GIÁC CHI VÀ TỨ CHÁNH CẦN

Tinh tấn giác chi liên hệ rất mạnh Tứ Chánh Cần: Ngăn. Bỏ. Sinh. Giữ. Nhưng trong Thất Giác Chi, tinh tấn nằm trong một hệ cân bằng rộng hơn.

XLVII. THẤT GIÁC CHI VÀ BÁT CHÁNH ĐẠO

Niệm giác chi: Liên hệ Chánh niệm. Tinh tấn giác chi: Liên hệ Chánh tinh tấn. Định giác chi: Liên hệ Chánh định. Trạch pháp: Liên hệ mạnh Chánh kiến. Hai khung hỗ trợ nhau nhưng không hoàn toàn đồng nhất.

XLVIII. THẤT GIÁC CHI VÀ GIỚI – ĐỊNH – TUỆ

Có thể hệ thống hóa: TUỆ: Niệm + Trạch pháp. LỰC TU: Tinh tấn. LÀM DỊU VÀ GOM: Hỷ + Khinh an + Định. QUÂN BÌNH: Xả. Đây là cách hệ thống hóa, không phải phân nhóm nguyên văn kinh.

XLIX. THẤT GIÁC CHI VÀ TỨ DIỆU ĐẾ

Niệm: Thấy Khổ. Trạch pháp: Thấy Tập. Tinh tấn: Đi Đạo. Hỷ: Nuôi sức. Khinh an: Làm mềm tâm. Định: Giữ tâm. Xả: Không chấp. Toàn bộ bảy chi hỗ trợ hướng tới giác và Diệt.

L. THẤT GIÁC CHI VÀ DUYÊN KHỞI

Niệm: Thấy mắt xích. Trạch pháp: Phân biệt duyên. Tinh tấn: Đổi duyên. Hỷ: Nuôi duyên thiện. Khinh an: Giảm trạo. Định: Giữ chuỗi thiện. Xả: Không thủ.

LI. THẤT GIÁC CHI VÀ NĂM TRIỀN CÁI

Triền cái: Che tâm. Giác chi: Mở sáng tâm. Không nên đối ứng từng chi một máy móc. Nhưng khi triền cái giảm: Giác chi dễ phát triển.

LII. THẤT GIÁC CHI VÀ BÁT PHONG

Khen: Niệm biết. Trạch pháp thấy ái danh. Tinh tấn không nuôi. Hỷ giữ thiện. Khinh an không phồng. Định đứng. Xả không bị kéo.

LIII. THẤT GIÁC CHI VÀ CÔNG THỨC TAM TẠNG

BỎ ÁC: Niệm thấy – Trạch pháp nhận – Tinh tấn bỏ. LÀM LÀNH: Tinh tấn sinh thiện – Hỷ nuôi thiện. LÀM SẠCH TÂM: Khinh an – Định – Xả – Tuệ hỗ trợ thanh lọc.

LIV. THẤT GIÁC CHI VÀ CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC

THẬT: Niệm nhận đúng. TÍN: Giữ hướng. THIỆN: Tinh tấn nuôi thiện. GIỚI: Giữ nền. ĐỊNH: Samādhi. TUỆ: Trạch pháp. LỰC: Bảy giác chi được nuôi lâu ngày.

LV. THẤT GIÁC CHI VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

NHẬN: Niệm. SOI: Trạch pháp. THẤY: Trạch pháp + tuệ. KHÔNG DÍNH: Tinh tấn. KHÔNG CHẤP: Xả. BUÔNG: Xả.

AN:

Khinh an + Định.

LVI. THẤT GIÁC CHI VÀ CÔNG THỨC PHẬT

THẤY: Niệm. TỈNH: Trạch pháp + Tinh tấn. BUÔNG: Xả. SÁNG: Cả bảy giác chi trưởng thành. Đây là cách nối hệ thống hóa.

LVII. KHI BỊ CHÊ

NIỆM: Biết khó chịu. TRẠCH PHÁP: Đúng phần nào? TINH TẤN: Không nuôi sân. HỶ: Nếu lời chê giúp sửa, vui vì có cơ hội học. KHINH AN: Thả thân. ĐỊNH: Đứng. XẢ: Buông phần ngoài quyền.

LVIII. KHI ĐƯỢC KHEN

NIỆM: Biết vui. TRẠCH PHÁP: Có chấp danh không? TINH TẤN: Không nuôi phồng. HỶ: Vui lành. KHINH AN: Nhẹ. ĐỊNH: Không chạy theo. XẢ: Không cần giữ thêm.

LIX. KHI GIẬN

NIỆM: Biết sân. TRẠCH PHÁP: Thọ nào? Chấp nào? TINH TẤN: Dừng. KHINH AN: Thở, thả. ĐỊNH: Không phản ứng. XẢ: Buông phần muốn thắng. Không phải mọi giác chi đều phải xuất hiện cùng lúc với cùng cường độ.

LX. KHI BUỒN

NIỆM: Biết buồn. TRẠCH PHÁP: Do mất, mệt, bệnh hay chấp? TINH TẤN: Không chìm. HỶ: Tìm nguồn thiện vừa đủ. KHINH AN: Chăm thân. ĐỊNH: Ở lại. XẢ: Không biến buồn thành căn tính.

LXI. KHI QUÁ HƯNG PHẤN

Tâm chạy quá: Đừng chỉ tăng Tinh tấn. Cần: Khinh an. Định. Xả.

LXII. KHI HÔN TRẦM

Cần: Niệm. Trạch pháp. Tinh tấn. Hỷ. Đây là nhóm làm tâm sáng hơn.

LXIII. KHI HỌC KINH

NIỆM: Đọc có mặt. TRẠCH PHÁP: Phân biệt nghĩa. TINH TẤN: Đọc đều. HỶ: Vui khi hiểu. KHINH AN: Không căng. ĐỊNH: Đọc sâu. XẢ: Không chấp “tôi biết”.

LXIV. KHI GIẢNG PHÁP

NIỆM: Biết mình đang nói. TRẠCH PHÁP: Nguồn đúng? TINH TẤN: Giữ mạch. HỶ: Vui trong pháp. KHINH AN: Không căng. ĐỊNH: Tập trung. XẢ: Không bị khen chê kéo.

LXV. KHI LÀM VIỆC LỚN

NIỆM: Biết mình. TRẠCH PHÁP: Biết việc ưu tiên. TINH TẤN: Làm. HỶ: Nhận niềm vui của tiến bộ. KHINH AN: Nghỉ đúng. ĐỊNH: Không tán. XẢ: Không chấp kết quả ngoài quyền.

LXVI. KHI GIÚP NGƯỜI

NIỆM: Biết động cơ. TRẠCH PHÁP: Người cần gì? TINH TẤN: Giúp đúng phần. HỶ: Vui trong thiện. KHINH AN: Không căng. ĐỊNH: Không bị kéo. XẢ: Không sở hữu.

LXVII. KHI YÊU THƯƠNG

NIỆM: Biết thọ. TRẠCH PHÁP: Thương hay chấp? TINH TẤN: Bỏ phần sở hữu. HỶ: Vui khi người tốt. KHINH AN: Không ép. ĐỊNH: Không mất mình. XẢ: Tôn trọng duyên.

LXVIII. THẤT GIÁC CHI KHÔNG PHẢI THUỐC THẦN

Có các bài kinh và truyền thống tụng Giác Chi trong lúc bệnh. Nhưng không nên hiểu: Đọc là chắc chắn khỏi bệnh. Pháp có thể nâng tâm. Thân vẫn cần chăm sóc y tế phù hợp.

LXIX. BOJJHAṄGA PARITTA

Trong truyền thống Theravāda có: Bojjhaṅga Paritta – bài tụng hộ trì về Giác Chi. Điểm cốt lõi: Bảy giác chi là pháp cần phát triển. Không phải thần chú chữa mọi bệnh.

LXX. TÂM CÓ HỶ, KHINH AN, ĐỊNH CÓ THỂ DỄ CHỊU HƠN

Điều này có thể xảy ra. Nhưng không được nói: Có định là hết bệnh. Pháp hỗ trợ tâm tiếp nhận bệnh. Không phủ nhận bệnh của thân.

LXXI. SỰ TRƯỞNG THÀNH CỦA TÂM

BAN ĐẦU: Chuyện xong mới biết. SAU: Đang có mới biết. SAU NỮA: Vừa khởi đã biết. SAU NỮA: Biết luôn pháp đối trị. Rồi: Hỷ. Khinh an. Định. Xả. dần được nuôi.

LXXII. CÔNG THỨC THẤT GIÁC CHI

NIỆM

→ THẤY.

TRẠCH PHÁP

→ HIỂU.

TINH TẤN

→ CHUYỂN.

HỶ

→ NUÔI.

KHINH AN

→ DỊU.

ĐỊNH

→ GIỮ.

XẢ

→ BUÔNG.

LXXIII. BẢN CỰC NGẮN

THẤY. HIỂU. LÀM. VUI. DỊU. ĐỊNH. XẢ.

LXXIV. CÔNG THỨC CÂN BẰNG

TÂM NẶNG:

TRẠCH PHÁP – TINH TẤN – HỶ.

TÂM CHẠY:

KHINH AN – ĐỊNH – XẢ.

NIỆM: LUÔN CẦN.

LXXV. BÀI THỰC HÀNH 7 NGÀY

NGÀY 1 – NIỆM: Năm lần bắt đúng trạng thái tâm.

NGÀY 2 – TRẠCH PHÁP:

Chọn một cơn khó chịu và tìm đúng nguyên nhân gần. NGÀY 3 – TINH TẤN: Bỏ một bất thiện nhỏ. NGÀY 4 – HỶ: Ghi ba điều thiện đã làm mà không giữ công. NGÀY 5 – KHINH AN: Thả thân, giảm kích thích. NGÀY 6 – ĐỊNH: Thực hành một pháp môn phù hợp, không đổi đối tượng liên tục.

NGÀY 7 – XẢ: Chọn một kết quả ngoài quyền và tập buông.

LXXVI. NHẬT KÝ THẤT GIÁC CHI

Hỏi: Niệm hôm nay mạnh chỗ nào? Trạch pháp đúng chỗ nào? Tinh tấn đã đúng chưa? Có Hỷ thiện không? Có Khinh an không? Định có ổn không? Tôi còn chấp kết quả gì?

LXXVII. BÀI THỰC HÀNH 1 PHÚT

10 giây: NIỆM – đang có gì? 10 giây: TRẠCH PHÁP – đó là gì? 10 giây: TINH TẤN – cần bỏ hay nuôi? 10 giây: HỶ – có gì thiện để nhận? 10 giây: KHINH AN – thả thân. 10 giây: ĐỊNH + XẢ – đứng và buông.

LXXVIII. LỖI HIỂU SAI: CHỈ NIỆM LÀ ĐỦ

Sai. Niệm là cửa. Còn cần: Trạch pháp. Tinh tấn. Định. Xả.

LXXIX. LỖI HIỂU SAI: TRẠCH PHÁP = NGHĨ VÔ TẬN

Sai. Trạch pháp phải dẫn tới: Rõ. Đúng. Biết pháp. Nếu càng nghĩ càng rối: Dừng.

LXXX. LỖI HIỂU SAI: TINH TẤN CÀNG NHIỀU CÀNG TỐT

Sai. Tâm quá căng: Cần dịu. Thất Giác Chi là một hệ cân bằng.

LXXXI. LỖI HIỂU SAI: HỶ = PHẢI VUI MỌI LÚC

Sai. Buồn vẫn có thể xuất hiện. Hỷ giác chi là một yếu tố thiện được nuôi khi có duyên.

LXXXII. LỖI HIỂU SAI: KHINH AN = THỤ ĐỘNG

Sai. Khinh an: Nhẹ. Dịu. Sáng. Không phải: Đờ. Mê. Lười.

LXXXIII. LỖI HIỂU SAI: ĐỊNH = CHỨNG THIỀN

Sai. Không tự gán thành tựu kỹ thuật.

LXXXIV. LỖI HIỂU SAI: XẢ = MẶC KỆ

Sai. Câu nhớ:

MẶC KỆ LÀ THIẾU TRÁCH NHIỆM.

XẢ LÀ TRÁCH NHIỆM MÀ KHÔNG SỞ HỮU.

LXXXV. BỐN CÔNG THỨC GẶP THẤT GIÁC CHI

CÔNG THỨC TAM TẠNG:

BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

Niệm: Thấy. Trạch pháp: Phân biệt. Tinh tấn: Bỏ ác, sinh thiện. Hỷ: Nuôi thiện. Khinh an – Định – Xả: Làm tâm thanh.

CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC:

THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

Thất Giác Chi cho thấy: Lực chân thật không chỉ là cố. Là biết: Khi nào tiến. Khi nào dịu. Khi nào định. Khi nào xả.

CÔNG THỨC BUÔNG:

NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

Niệm: Nhận. Trạch pháp: Soi. Tinh tấn: Không nuôi. Xả: Không chấp. Khinh an + Định: An.

CÔNG THỨC PHẬT:

THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

Niệm: THẤY. Trạch pháp: TỈNH. Xả: BUÔNG. Cả bảy giác chi trưởng thành: SÁNG.

LXXXVI. CÂU GHI NHỚ

NIỆM THẤY. TRẠCH PHÁP HIỂU. TINH TẤN CHUYỂN. HỶ NUÔI. KHINH AN DỊU. ĐỊNH GIỮ. XẢ BUÔNG.

LXXXVII. CÂU GHI NHỚ

TRẠCH PHÁP KHÔNG PHẢI NGHĨ NHIỀU.

LÀ BIẾT CÁI GÌ ĐANG CÓ VÀ PHẢI DÙNG PHÁP GÌ.

LXXXVIII. CÂU GHI NHỚ

MỘT NGƯỜI CHỈ BIẾT MÌNH SÂN CHƯA ĐỦ.

CẦN BIẾT: VÌ SAO SÂN? ĐANG CHẤP GÌ? PHÁP NÀO CẦN DÙNG?

LXXXIX. CÂU GHI NHỚ

TU KHÔNG PHẢI LÚC NÀO CŨNG TĂNG LỰC.

CÓ LÚC PHẢI TĂNG LỰC.

CÓ LÚC PHẢI LÀM DỊU.

XC. CÂU GHI NHỚ

XẢ KHÔNG PHẢI KHÔNG THƯƠNG.

XẢ LÀ THƯƠNG MÀ KHÔNG LẤY NGƯỜI LÀM VẬT SỞ HỮU.

XCI. CÂU KẾT

Một người bắt đầu tu thường hỏi: “Làm sao hết sân?” Thất Giác Chi dạy hỏi sâu hơn: Tôi có biết sân đang có không? NIỆM. Tôi có biết sân do gì không? TRẠCH PHÁP. Tôi có chịu bỏ nó không? TINH TẤN. Tâm có nguồn vui thiện để không chìm trong nặng nề không? HỶ. Thân tâm có dịu lại không? KHINH AN.

Tâm có đứng được không? ĐỊNH. Tôi có buông được phần phải thắng không? XẢ. Thất Giác Chi cho thấy đường tu không chỉ là cắt bỏ. Còn phải biết nuôi. NUÔI NIỆM. NUÔI TRẠCH PHÁP. NUÔI TINH TẤN. NUÔI HỶ. NUÔI KHINH AN. NUÔI ĐỊNH. NUÔI XẢ. Và đây là chỗ bốn công thức của cuốn sách trở nên rất sâu.

BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM

được Thất Giác Chi cho cơ chế thực hành. THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC

được Thất Giác Chi làm cho chữ “LỰC” bớt cứng. Lực chân thật biết: Khi nào tiến. Khi nào dịu. Khi nào định. Khi nào xả. NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN

được: Niệm giúp nhận. Trạch pháp giúp soi. Tinh tấn giúp không nuôi. Xả giúp không chấp. Khinh an và Định giúp an. THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG

được: Niệm cho THẤY. Trạch pháp cho TỈNH. Xả cho BUÔNG. Cả bảy giác chi trưởng thành làm tâm hướng về SÁNG. Câu cuối:

GIÁC NGỘ KHÔNG CHỈ LÀ THẤY ĐƯỢC MỘT ĐIỀU.

GIÁC NGỘ LÀ CẢ MỘT TÂM ĐƯỢC HUẤN LUYỆN ĐÚNG HƯỚNG.

CHƯƠNG 29
BÁT PHONG – ĐƯỢC MẤT, DANH SUY, KHEN CHÊ, VUI KHỔ

Con người thường nghĩ đời mình có rất nhiều chuyện. Nhưng rất nhiều chuyện có thể quy về tám pháp thế gian: ĐƯỢC. MẤT. DANH. THẤT DANH. KHEN. CHÊ. LẠC. KHỔ.

Pāli:

aṭṭha lokadhammā.

Sanskrit:

aṣṭau lokadharmāḥ. Tiếng Việt: Tám pháp thế gian, thường gọi Bát phong. Bốn cặp gồm:

1. lābha – lợi, được.

2. alābha – mất lợi, không được.

3. yasa – danh, danh tiếng, địa vị.

4. ayasa – thất danh, mất danh.

5. pasaṃsā – khen.

6. nindā – chê.

7. sukha – lạc, dễ chịu.

8. dukkha – khổ, khó chịu.

Nguồn quan trọng: Aṅguttara Nikāya – Tăng Chi Bộ, chương Tám Pháp. Có các bài kinh nói trực tiếp về tám pháp thế gian, trong đó thường được dẫn AN 8.6 – Lokavipatti Sutta, tên Việt thay đổi theo bản dịch. Câu nhớ:

TU KHÔNG PHẢI LÀM CHO TÁM NGỌN GIÓ NGỪNG THỔI.

TU LÀ LÀM CHO CÁI GỐC TRONG TÂM NGÀY CÀNG SÂU.

I. NGƯỜI TU VẪN GẶP BÁT PHONG

Người tu vẫn có thể: Được. Mất. Được khen. Bị chê. Có danh. Mất danh. Dễ chịu. Đau. Phật pháp không hứa: Tu rồi chỉ còn thuận cảnh. Điểm khác là: CÁCH THẤY. CÁCH GIỮ TÂM. MỨC CHẤP.

II. BÁT PHONG LÀ PHÁP THẾ GIAN

Loka: Thế gian. Dhamma: Pháp, hiện tượng. Tám pháp này thường xảy ra trong đời. Không ai sở hữu riêng. Câu nhớ:

BÁT PHONG KHÔNG CHỌN NGƯỜI.

TÂM MÌNH CHỌN CÁCH ĐỨNG.

III. LỢI – LĀBHA

Lābha: Được, có lợi, đạt được. Có thể là: Tiền. Tài vật. Cơ hội. Sức khỏe. Người giúp. Việc thành. Được không xấu. Điểm cần soi là:

TÂM NẮM CÁI ĐƯỢC THẾ NÀO?

IV. CÓ ĐƯỢC KHÔNG ĐỒNG NGHĨA THAM

Có tài vật: Không nhất thiết tham. Có danh: Không nhất thiết chấp. Có điều kiện tốt: Không nhất thiết sai. Câu nhớ:

CÓ MÀ KHÔNG BỊ CÁI CÓ SỞ HỮU NGƯỢC LẠI.

V. LỢI VÀ ÁI

Được: Thọ dễ chịu. Nếu thiếu niệm: ĐƯỢC

→ THÍCH

→ MUỐN THÊM

→ SỢ MẤT

→ THỦ.

Câu nhớ:

CÁI ĐƯỢC CHỈ LÀ CẢNH.

NỖI SỢ MẤT THƯỜNG CHO THẤY TÂM ĐÃ BẮT ĐẦU NẮM.

VI. CÔNG THỨC KHI ĐƯỢC

ĐƯỢC

→ BIẾT ƠN

→ THẤY DUYÊN

→ DÙNG ĐÚNG

→ KHÔNG PHỒNG.

VII. MẤT – ALĀBHA

Alābha: Không được. Mất lợi. Suy giảm điều kiện. Mất có thể là: Tiền. Vật. Người hỗ trợ. Cơ hội. Sức khỏe. Kết quả.

VIII. MẤT KHÔNG CÓ NGHĨA KHÔNG ĐƯỢC TIẾC

Tiếc: Có thể tự nhiên. Không cần ép: “Tu rồi không được tiếc.” Hãy hỏi: Cái gì cứu được? Cái gì cần sửa? Cái gì phải buông?

IX. CÔNG THỨC KHI MẤT

MẤT

→ DỪNG

→ THẤY THỌ

→ KIỂM SỰ THẬT

→ CỨU PHẦN CỨU ĐƯỢC

→ BUÔNG PHẦN NGOÀI QUYỀN.

X. DANH – YASA

Yasa: Danh tiếng, địa vị, uy tín. Danh có thể là phương tiện. Một người có uy tín có thể: Giúp người dễ hơn. Nói pháp dễ được nghe hơn. Làm việc lớn hơn. Nhưng danh rất dễ thành: CĂN TÍNH.

XI. DANH VÀ CÁI “TÔI LÀ…”

Khi danh tăng: “Tôi là người này.” “Tôi phải luôn được kính.” “Tôi không được sai.” “Tôi không được mất hình ảnh.” Đây là: DANH

→ THỦ.

XII. DANH CÓ THỂ LÀ TRÁCH NHIỆM

Có danh: Không chỉ có quyền. Còn có trách nhiệm. Câu nhớ:

DANH SẠCH LÀ DANH DÙNG ĐỂ LÀM VIỆC.

DANH CHẤP LÀ DANH DÙNG ĐỂ NUÔI CÁI TÔI.

XIII. THẤT DANH – AYASA

Ayasa: Mất danh, giảm uy tín, thất thế. Nhiều người chịu mất tiền được. Nhưng rất khó chịu mất mặt. Vì danh thường dính sâu với ngã.

XIV. MẤT DANH VÀ CÁI TÔI

Tâm có thể nói: “Không thể để người ta nghĩ vậy.” “Phải chứng minh.” “Phải trả.” Cần soi: Tôi đang bảo vệ sự thật? Hay chỉ bảo vệ hình ảnh?

XV. BẢO VỆ UY TÍN KHÔNG PHẢI CHẤP DANH

Nếu bị vu oan: Có lúc phải nói rõ. Có lúc phải đưa bằng chứng. Đó là trách nhiệm. Câu nhớ: BẢO VỆ SỰ THẬT KHÔNG ĐỒNG NGHĨA

BẢO VỆ CÁI TÔI BẰNG MỌI GIÁ.

XVI. CÔNG THỨC KHI MẤT DANH

BỊ HIỂU SAI

→ SOI SỰ THẬT

→ CẦN NÓI THÌ NÓI

→ CẦN SỬA THÌ SỬA

→ PHẦN NGOÀI QUYỀN THÌ BUÔNG.

XVII. KHEN – PASAṂSĀ

Pasaṃsā: Khen, tán thán. Lời khen tạo: Thọ dễ chịu. Không sao. Điểm cần soi: Ái danh có sinh không? Ngã có phồng không?

XVIII. NHẬN LỜI KHEN ĐÚNG

Không cần giả: “Không, tôi dở lắm.” Nếu lời khen đúng: Nhận. Cảm ơn. Thấy duyên. Không giữ. Công thức: KHEN

→ NHẬN NHẸ

→ THẤY DUYÊN

→ KHÔNG PHỒNG

→ GIỮ VIỆC ĐÚNG.

XIX. LỜI KHEN CÓ THỂ LÀ CÁI BẪY

Nếu quen được khen: Một lời chê sẽ đau mạnh hơn. Câu nhớ:

KHEN KHÔNG NGUY HIỂM VÌ KHEN XẤU.

NÓ NGUY HIỂM KHI MÌNH LẤY KHEN LÀM NƠI Ở.

XX. CHÊ – NINDĀ

Nindā: Chê, phê bình, chỉ trích. Lời chê có thể: Đúng. Sai. Ác ý. Có ích. Phải Trạch pháp.

XXI. CHÊ KHÔNG PHẢI BẢN ÁN

Một người nói: “Bạn sai việc này.” Không có nghĩa: “Bạn là người xấu.” Tách: HÀNH VI. VÀ: CĂN TÍNH. Câu nhớ:

MỘT LỜI CHÊ CÓ THỂ ĐÚNG VỀ MỘT VIỆC.

NÓ KHÔNG ĐỊNH NGHĨA TOÀN BỘ CON NGƯỜI.

XXII. CÔNG THỨC KHI BỊ CHÊ

CHÊ

→ THỌ KHÓ CHỊU

→ DỪNG

→ LỌC

→ ĐÚNG THÌ SỬA

→ SAI THÌ BUÔNG

→ KHÔNG TRẢ ĐỘC.

XXIII. NGƯỜI CHÊ CÓ THỂ CHỈ ĐÚNG CHỖ MÌNH CHƯA THẤY

Không cần thích họ. Chỉ lấy điều đúng. Câu nhớ:

CÓ KHI NGƯỜI LÀM MÌNH KHÓ CHỊU LẠI CHỈ ĐÚNG MỘT CHỖ MÌNH CHƯA CHỊU NHÌN.

XXIV. KHEN – CHÊ VÀ TỨ NIỆM XỨ

KHEN: THỌ: Dễ chịu. TÂM: Thích. PHÁP: Ái danh có thể sinh. CHÊ: THỌ: Khó chịu. TÂM: Sân. PHÁP: Chấp ngã, chấp kiến.

XXV. LẠC – SUKHA

Pāli/Sanskrit: sukha. Tiếng Việt: Lạc, dễ chịu. Lạc có nhiều loại: Lạc do dục. Lạc do thiện. Lạc do định. Lạc do buông. Không nên nói: Mọi lạc đều xấu.

XXVI. LẠC VÀ CHẤP

Lạc trở thành chỗ khổ khi: “PHẢI LẠC MÃI.” Câu nhớ: LẠC KHÔNG LÀM KHỔ.

ĐÒI LẠC KHÔNG ĐƯỢC ĐỔI DỄ LÀM KHỔ.

XXVII. KHỔ – DUKKHA / DUḤKHA

Pāli:

dukkha.

Sanskrit:

duḥkha. Trong Bát phong, chỉ phía đau, khó chịu. Không nên đồng nhất máy móc với toàn bộ Khổ đế. Nhưng có liên hệ.

XXVIII. KHỔ THỌ KHÔNG PHẢI THẤT BẠI TU TẬP

Đau: Không có nghĩa tu kém. Buồn: Không có nghĩa thiếu niệm. Chánh niệm: Biết. Định: Đứng. Tuệ: Không biến khổ thọ thành “tôi”.

XXIX. BÁT PHONG VÀ KINH MŨI TÊN

Nguồn:

SN 36.6 – Sallattha Sutta – Kinh Mũi Tên.

Khổ thọ có thể là mũi tên đầu. Phản ứng tâm có thể là mũi tên thứ hai. Câu nhớ: ĐỪNG TỰ BẮN THÊM.

XXX. ĐIỂM KHÁC KHÔNG NẰM Ở GẶP HAY KHÔNG GẶP

Người phàm: Gặp Bát phong. Người tu: Cũng gặp. Khác ở: CÁCH THẤY. MỨC CHẤP. KHẢ NĂNG TRỞ VỀ.

XXXI. NGƯỜI PHÀM DỄ NHẬP VAI

Được: “Tôi thành công.” Mất: “Tôi thất bại.” Khen: “Tôi giỏi.” Chê: “Tôi tệ.” Cảnh biến thành căn tính.

XXXII. NGƯỜI CÓ HỌC THẤY CẢNH LÀ CẢNH

Được: Đang có cái được. Mất: Đang có cái mất. Khen: Đang có lời khen. Chê: Đang có lời chê. Không phủ nhận. Không biến thành “tôi”.

XXXIII. CÔNG THỨC KHÔNG NHẬP VAI

CẢNH ĐẾN

→ BIẾT CẢNH

→ BIẾT THỌ

→ KHÔNG BIẾN THỌ THÀNH CĂN TÍNH

→ HÀNH ĐÚNG.

XXXIV. BÁT PHONG VÀ VÔ THƯỜNG

Pāli:

anicca.

Sanskrit:

anitya. Được rồi mất. Khen rồi chê. Danh rồi thất danh. Lạc rồi khổ. Tám gió đều đổi.

XXXV. CÂU NHỚ VỀ VÔ THƯỜNG

ĐƯỢC: Đừng say. MẤT: Đừng tuyệt vọng. KHEN: Đừng phồng. CHÊ: Đừng sụp. LẠC: Đừng bám. KHỔ: Đừng đóng đinh.

XXXVI. CÂU GHI NHỚ

VÔ THƯỜNG KHÔNG CHỈ GIÚP MÌNH CHỊU CÁI MẤT.

NÓ CÒN GIÚP MÌNH TỈNH TRONG CÁI ĐƯỢC.

XXXVII. BÁT PHONG VÀ VÔ NGÃ

Pāli:

anattā.

Sanskrit:

anātman. Khen một phần: Không phải toàn bộ “tôi”. Chê một phần: Không phải toàn bộ “tôi”. Câu nhớ:

ĐỪNG BIẾN MỘT PHẦN THÀNH TOÀN BỘ MÌNH.

XXXVIII. DANH KHÔNG PHẢI NGÃ

Danh tăng: Không làm một “tôi” bất biến lớn lên. Danh giảm: Không làm một “tôi” bất biến nhỏ lại. Danh là hiện tượng có duyên.

XXXIX. BÁT PHONG VÀ DUYÊN KHỞI

Khen: Xúc. Thọ dễ chịu. Ái danh. Thủ hình ảnh. Chê: Xúc. Thọ khó chịu. Ái muốn đẩy. Thủ cái tôi. Sân.

XL. CÔNG THỨC DUYÊN KHỞI CỦA BÁT PHONG

GIÓ

→ XÚC

→ THỌ

→ ÁI

→ THỦ

→ PHẢN ỨNG.

Có niệm: GIÓ

→ XÚC

→ THỌ

→ BIẾT

→ KHÔNG VỘI ÁI

→ KHÔNG THỦ

→ CHỌN.

XLI. BÁT PHONG VÀ TỨ DIỆU ĐẾ

KHỔ: Tám gió làm lộ tính bất ổn. TẬP: Muốn chỉ được, không mất. Chỉ khen, không chê. Chỉ lạc, không khổ. DIỆT: Giảm ái và thủ. ĐẠO: Bát Chánh Đạo.

XLII. BÁT PHONG VÀ TỨ NIỆM XỨ

THÂN: Căng? THỌ: Dễ hay khó? TÂM: Tham, sân, sợ, tự ái? PHÁP: Ái, thủ, triền cái, chấp kiến? Công thức: GIÓ

→ THÂN

→ THỌ

→ TÂM

→ PHÁP

→ BIẾT

→ DỪNG

→ CHỌN.

XLIII. BÁT PHONG VÀ THẤT GIÁC CHI

NIỆM: Biết gió. TRẠCH PHÁP: Biết tâm chấp gì. TINH TẤN: Không nuôi bất thiện. HỶ: Giữ niềm vui thiện. KHINH AN: Dịu thân tâm. ĐỊNH: Đứng. XẢ: Không bị kéo. Câu nhớ:

BÁT PHONG LÀ NƠI XẢ GIÁC CHI ĐƯỢC KIỂM NGHIỆM NGOÀI ĐỜI.

XLIV. BÁT PHONG VÀ CÔNG THỨC TAM TẠNG

BỎ ÁC: Không trả độc khi bị chê. Không gian khi mất. Không tham quá khi được. LÀM LÀNH: Được thì chia. Có danh thì dùng làm việc thiện. Bị chê đúng thì sửa. LÀM SẠCH TÂM: Soi chỗ nào tám gió làm tâm bay mạnh nhất. Câu nhớ:

BÁT PHONG LÀ CHIẾC MÁY THỬ XEM TÂM MÌNH ĐANG CHẤP Ở ĐÂU.

XLV. BÁT PHONG VÀ CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC

THẬT: Biết mình đang động. TÍN: Không vì lợi mà thất tín. THIỆN: Không trả ác. GIỚI: Giữ hành vi. ĐỊNH: Đứng trước gió. TUỆ: Thấy vô thường. LỰC: Gió tới mà không mất đường. Câu nhớ:

ĐỊNH LỰC KHÔNG LÀM GIÓ NHỎ.

NÓ LÀM GỐC SÂU.

XLVI. LỰC TRƯỚC BÁT PHONG

Lực là: Được mà không quên mình. Mất mà không mất đường. Khen mà không phồng. Chê mà không gãy. Lạc mà không bám. Khổ mà không tạo thêm nghiệp.

XLVII. BÁT PHONG VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

NHẬN: Gió. SOI: Thọ. THẤY: Chấp. KHÔNG DÍNH: Không chạy. KHÔNG CHẤP: Không lấy cảnh làm “tôi”. BUÔNG: Phần ngoài quyền.

AN:

Trở về. Câu nhớ:

BUÔNG BÁT PHONG KHÔNG PHẢI BIẾN MÌNH THÀNH ĐÁ.

LÀ KHÔNG GIAO CHÌA KHÓA TÂM CHO TÁM NGỌN GIÓ.

XLVIII. BÁT PHONG VÀ CÔNG THỨC PHẬT

THẤY: Gió. TỈNH: Không phản ứng theo thọ đầu. BUÔNG: Không thủ. SÁNG: Thấy mọi gió đều vô thường, duyên sinh.

XLIX. BÁT PHONG TRONG ĐỜI SỐNG HIỆN ĐẠI

Lượt xem: Có thể thành lợi/danh. Bình luận: Có thể thành khen/chê. Thu nhập: Được/mất. Sức khỏe: Lạc/khổ. Quan hệ: Được/mất/lạc/khổ. Bát phong không hề cũ.

L. SỐ LIỆU VÀ CÁI TÔI

Số liệu có giá trị để học. Không nên dùng số liệu để định nghĩa giá trị con người. Câu nhớ: SỐ LIỆU: DÙNG ĐỂ HỌC.

KHÔNG DÙNG ĐỂ ĐỊNH NGHĨA MÌNH.

LI. BÌNH LUẬN VÀ KHEN – CHÊ

Một lời khen: Biết. Một lời chê: Biết. Không để một bình luận chiếm cả ngày.

LII. QUAN HỆ VÀ BÁT PHONG

Người gần: Lạc. Người xa: Khổ. Người tán thán: Khen. Người rời: Mất. Tu không phải không thương. Là không biến thương thành quyền sở hữu.

LIII. BẤT ĐỘNG KHÔNG PHẢI VÔ CẢM

Tâm có lực vẫn: Biết đau. Biết tiếc. Biết vui. Biết buồn. Nhưng không mất hướng. Câu nhớ:

BẤT ĐỘNG CÓ TRÍ KHÔNG PHẢI CHẾT CẢM XÚC.

LÀ CẢM MÀ KHÔNG MẤT PHƯƠNG HƯỚNG.

LIV. ĐỪNG VỘI TỰ NHẬN “BÁT PHONG BẤT ĐỘNG”

Tốt hơn: “Chỗ này tôi bớt bị kéo.” Giữ khiêm. Giữ thật. Nếu nghĩ: “Tôi bất động còn người khác yếu,” mạn đã vào.

LV. BÁT PHONG VÀ TỪ BI

Người bị chê: Có thể rất đau. Người mất danh: Có thể hoảng. Người mất tài vật: Có thể sốc. Đừng ném một câu: “Vô thường mà.” Câu đúng nhưng sai thời có thể làm đau. Câu nhớ:

PHÁP ĐÚNG MÀ NÓI SAI THỜI VẪN CÓ THỂ THÀNH DAO.

LVI. RÈN XẢ GIỮA BÁT PHONG

BƯỚC 1: GỌI TÊN GIÓ. BƯỚC 2: BIẾT THỌ. BƯỚC 3: SOI CHẤP. BƯỚC 4: NHỚ VÔ THƯỜNG. BƯỚC 5: GIỮ ĐIỀU ĐÚNG. BƯỚC 6:

BUÔNG PHẦN NGOÀI QUYỀN.

LVII. CÔNG THỨC 6 BƯỚC

GỌI GIÓ

→ BIẾT THỌ

→ SOI CHẤP

→ NHỚ VÔ THƯỜNG

→ GIỮ ĐÚNG

→ BUÔNG NGOÀI QUYỀN.

LVIII. BÀI THỰC HÀNH 8 NGÀY

NGÀY 1 – ĐƯỢC: Nhìn một điều được và thấy duyên. NGÀY 2 – MẤT: Nhìn một mất mát nhỏ và không nhắc lại quá nhiều. NGÀY 3 – DANH: Soi chỗ cần được công nhận.

NGÀY 4 – THẤT DANH:

Nhìn một lần bị hiểu sai và phân biệt cái gì cần nói. NGÀY 5 – KHEN: Nhận lời khen mà không phồng. NGÀY 6 – CHÊ: Lấy một lời chê đúng để sửa. NGÀY 7 – LẠC: Biết lạc mà không đòi thêm. NGÀY 8 – KHỔ: Biết khổ mà không tự bắn mũi tên thứ hai.

LIX. NHẬT KÝ BÁT PHONG

Gió gì? Thọ gì? Tâm phản ứng gì? Chấp ở đâu? Điều đúng phải làm là gì? Phần nào cần buông?

LX. BÀI TẬP 1 PHÚT

10 giây: GIÓ GÌ? 10 giây: THỌ GÌ? 10 giây: TÂM GÌ? 10 giây: CHẤP GÌ? 10 giây: ĐIỀU ĐÚNG GÌ? 10 giây: BUÔNG PHẦN NÀO?

LXI. TÁM CÂU NHỚ

ĐƯỢC: BIẾT ƠN, ĐỪNG SAY. MẤT:

XỬ LÝ, ĐỪNG TỰ MẤT THÊM TÂM.

DANH:

DÙNG ĐỂ LÀM VIỆC, ĐỪNG DÙNG ĐỂ NUÔI NGÃ.

THẤT DANH:

GIỮ SỰ THẬT, ĐỪNG GIỮ CÁI TÔI BẰNG MỌI GIÁ.

KHEN: NGHE RỒI ĐỂ QUA. CHÊ:

LỌC ĐIỀU ĐÚNG, BỎ ĐIỀU ĐỘC.

LẠC:

BIẾT VUI, ĐỪNG ĐÒI MÃI.

KHỔ:

BIẾT ĐAU, ĐỪNG TỰ LÀM ĐAU THÊM.

LXII. CÂU GHI NHỚ

TU KHÔNG PHẢI XIN ĐỜI HẾT GIÓ.

TU LÀ MỌC RỄ.

LXIII. CÂU GHI NHỚ

ĐƯỢC MÀ QUÊN MÌNH:

CŨNG LÀ BỊ GIÓ THỔI.

MẤT MÀ SỤP:

CŨNG LÀ BỊ GIÓ THỔI.

LXIV. CÂU GHI NHỚ

KHEN VÀ CHÊ ĐỀU LÀ ÂM THANH ĐI QUA TAI.

CÁI GIỮ CHÚNG LÂU NHẤT THƯỜNG LÀ CÁI TÔI.

LXV. CÂU GHI NHỚ

DANH CÓ THỂ DÙNG ĐỂ LÀM VIỆC THIỆN.

ĐỪNG DÙNG DANH ĐỂ XÂY MỘT CÁI TÔI KHÔNG ĐƯỢC PHÉP SAI.

LXVI. CÂU GHI NHỚ

XẢ KHÔNG PHẢI KHÔNG CẢM.

XẢ LÀ CẢM MÀ KHÔNG GIAO QUYỀN ĐIỀU KHIỂN TÂM CHO CẢNH.

LXVII. CÂU GHI NHỚ

VÔ THƯỜNG KHÔNG CHỈ CẦN NHỚ KHI MẤT.

CÀNG ĐƯỢC NHIỀU CÀNG PHẢI NHỚ.

LXVIII. CÂU GHI NHỚ

BÁT PHONG LÀ CẢNH. GỐC LÀ ĐỊNH. BIẾT GIÓ LÀ NIỆM. HIỂU GIÓ LÀ TUỆ. KHÔNG BAY LÀ LỰC.

LXIX. CÂU KẾT

Một đời người có thể tưởng rất phức tạp. Nhưng nhiều lúc chỉ là: ĐƯỢC RỒI MẤT. MẤT RỒI ĐƯỢC. KHEN RỒI CHÊ. CHÊ RỒI KHEN.

CÓ DANH RỒI MẤT DANH.

LẠC RỒI KHỔ. KHỔ RỒI LẠC. Tám ngọn gió cứ đổi. Nếu mình đòi: Chỉ được, không mất. Chỉ khen, không chê. Chỉ danh, không thất danh. Chỉ lạc, không khổ. thì mình đang đòi một thế gian không còn là thế gian. Tu không phải đòi như vậy. Tu là: ĐƯỢC: BIẾT ĐƯỢC. MẤT: BIẾT MẤT. KHEN: BIẾT KHEN.

CHÊ: BIẾT CHÊ. LẠC: BIẾT LẠC. KHỔ: BIẾT KHỔ. Rồi hỏi:

TÂM MÌNH CÓ ĐANG NẮM KHÔNG?

Khi được: Không tham quá. Khi mất: Không tạo thêm nghiệp. Khi có danh: Không phồng. Khi mất danh: Không đánh mất giới. Khi được khen: Không say. Khi bị chê: Không trả độc. Khi lạc: Không bám. Khi khổ: Không tuyệt vọng. Đó không phải tâm lạnh. Đó là một tâm có gốc.

CÔNG THỨC TAM TẠNG:

BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

Giữ mình không tạo nghiệp khi gió thổi.

CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC:

THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

Làm gốc sâu.

CÔNG THỨC BUÔNG:

NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

Tháo phần tâm đang bám vào một phía của tám gió.

CÔNG THỨC PHẬT:

THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

Thấy tám pháp thế gian là những pháp có sinh có diệt. Người khác có thể đổi lời. Hoàn cảnh có thể đổi. Danh có thể đổi. Tài vật có thể đổi. Thân có thể đổi. Nhưng người tu ngày càng học một việc:

KHÔNG ĐỂ MỖI THAY ĐỔI BÊN NGOÀI TRỞ THÀNH MỘT LẦN MẤT PHƯƠNG HƯỚNG BÊN TRONG.

CÂU CUỐI: GIÓ VẪN THỔI. NHƯNG GỐC ĐÃ SÂU.

PHẦN III
CÁC NĂNG LỰC TU TẬP

CHƯƠNG 30
NGŨ UẨN – SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC

Có một chữ trong đời mình dùng rất nhiều: “TÔI.” Tôi vui. Tôi buồn. Tôi đau. Tôi nhớ. Tôi nghĩ. Tôi bị chê. Tôi được khen. Tôi đúng. Tôi sai. Nhưng Phật pháp còn dạy nhìn sâu hơn: Cái mình đang gọi là “tôi” đang được kinh nghiệm qua những nhóm nào? Ngũ uẩn gồm: SẮC. THỌ. TƯỞNG.

HÀNH. THỨC.

Pāli:

rūpa. vedanā. saññā. saṅkhāra. viññāṇa.

Sanskrit:

rūpa. vedanā. saṃjñā. saṃskāra. vijñāna.

Pāli:

pañcakkhandhā.

Sanskrit:

pañca-skandhāḥ. Tiếng Việt: Ngũ uẩn / Năm uẩn. Câu nhớ:

NGŨ UẨN KHÔNG DẠY MÌNH GHÉT CON NGƯỜI.

NGŨ UẨN DẠY MÌNH ĐỪNG BIẾN MỘT TIẾN TRÌNH LUÔN ĐỔI THÀNH MỘT CÁI “TÔI” CỨNG NGẮC RỒI SỐNG CHẾT BẢO VỆ NÓ.

I. NGŨ UẨN – PAÑCAKKHANDHĀ / PAÑCA-SKANDHĀḤ

Năm uẩn:

1. rūpa – sắc.

2. vedanā – thọ.

3. saññā / saṃjñā – tưởng.

4. saṅkhāra / saṃskāra – hành.

5. viññāṇa / vijñāna – thức.

Khandha / skandha: Khối. Nhóm. Tập hợp. Ngũ uẩn là năm nhóm để phân tích kinh nghiệm thân-tâm.

II. NGŨ UẨN KHÔNG PHẢI NĂM PHẦN CỦA MỘT LINH HỒN

Phật giáo không cần giả định một linh hồn bất biến ở giữa năm uẩn. Ngũ uẩn phân tích: Thân vật chất. Cảm thọ. Nhận diện. Tạo tác tâm. Thức.

III. NGUỒN KINH

Nguồn lớn:

SN 22 – Khandha-saṃyutta – Tương Ưng Uẩn.

Nguồn rất quan trọng:

SN 22.59 – Anattalakkhaṇa Sutta – Kinh Vô Ngã Tướng.

Trong bài kinh này, Đức Phật quán: Sắc. Thọ. Tưởng. Hành. Thức. và dạy quán đại ý: “Cái này không phải của tôi. Cái này không phải là tôi. Cái này không phải tự ngã của tôi.”

Pāli:

netaṃ mama. nesohamasmi. na meso attā. Bản dịch Việt có thể khác đôi chút.

IV. NGŨ UẨN VÀ TỨ DIỆU ĐẾ

Trong Kinh Chuyển Pháp Luân có câu: saṅkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā. Đại ý: Nói gọn, năm thủ uẩn là khổ. Chữ quan trọng: upādāna – chấp thủ. Không nên hiểu: Năm uẩn là xấu. Mà là: Năm uẩn bị chấp là “tôi”, “của tôi”, “tự ngã của tôi” thì khổ sâu.

V. SẮC – RŪPA

Rūpa: Sắc, yếu tố vật chất. Thân này là sắc. Sắc chịu: Sinh. Già. Bệnh. Biến đổi.

VI. CHĂM THÂN KHÁC CHẤP THÂN

Chăm thân: Trách nhiệm. Đòi thân: Không già. Không đau. Không bệnh. là chấp vô thường thành thường. Câu nhớ:

CHĂM THÂN LÀ TRÁCH NHIỆM.

ĐÒI THÂN KHÔNG VÔ THƯỜNG LÀ CHẤP.

VII. SẮC VÔ THƯỜNG

Pāli:

anicca.

Sanskrit:

anitya. Thân đổi: Tóc. Da. Mắt. Sức. Hơi thở. Tế bào. Không cần đợi già mới thấy vô thường.

VIII. SẮC KHÔNG HOÀN TOÀN THEO Ý

Nếu thân là tự ngã có quyền tuyệt đối, ta có thể bảo: Đừng già. Đừng đau. Đừng bệnh. Nhưng không được. Đây là một hướng quán quan trọng trong Kinh Vô Ngã Tướng.

IX. VÔ NGÃ KHÔNG PHẢI BỎ CHĂM THÂN

Thân là duyên tu. Cần: Ăn. Ngủ. Chữa bệnh. Giữ sạch. Không tự hành xác. Câu nhớ:

CHĂM MÀ KHÔNG THẦN TƯỢNG HÓA.

X. CÔNG THỨC QUÁN SẮC

THÂN ĐANG THẾ NÀO?

→ CÓ ĐỔI KHÔNG?

→ CÓ HOÀN TOÀN THEO Ý KHÔNG?

→ CÓ NÊN CHẤP LÀ “TÔI BẤT BIẾN” KHÔNG?

XI. THỌ – VEDANĀ

Vedanā: Thọ. Thường gồm: Dễ chịu. Khó chịu. Trung tính. Thọ là một uẩn. Không phải toàn bộ “tôi”.

XII. “TÔI BUỒN” VÀ “ĐANG CÓ BUỒN”

“Tôi buồn”: Là ngôn ngữ đời thường. “Đang có thọ khó chịu”: Là cách quán sâu hơn. Thọ sinh rồi diệt. Không phải căn tính bất biến.

XIII. THỌ THAY ĐỔI

Sáng: Vui. Trưa: Mệt. Chiều: Khó chịu. Tối: Nhẹ. Nếu thọ là “tôi” thì “tôi” nào mới thật?

XIV. THỌ KHÔNG HOÀN TOÀN THEO Ý

Không thể ra lệnh: “Chỉ lạc thôi.” Câu nhớ: THỌ LÀ KHÁCH.

CHẤP BIẾN KHÁCH THÀNH CHỦ.

XV. THỌ VÀ BÁT PHONG

Khen: Lạc thọ. Chê: Khổ thọ. Được: Lạc. Mất: Khổ. Không đồng hóa thọ: Bát phong bớt kéo.

XVI. TƯỞNG – SAÑÑĀ / SAṂJÑĀ

Pāli:

saññā.

Sanskrit:

saṃjñā. Tiếng Việt: Tưởng, nhận diện, tri giác, ghi nhận. “Tưởng” không chỉ là tưởng tượng. Nó giúp: Nhận ra. Gắn dấu. Phân loại. Nhớ hình.

XVII. TƯỞNG KHÔNG PHẢI SỰ THẬT TUYỆT ĐỐI

Một người bị gắn nhãn: “Khó tính.” Sau đó mọi hành vi của họ đều bị đọc qua nhãn ấy. Tưởng giúp sống. Nhưng tưởng có thể sai.

XVIII. TƯỞNG VÀ NHÃN

“Tôi giỏi.” “Tôi dở.” “Người này xấu.” “Người kia tốt.” “Đời tôi thất bại.” Những nhãn có thể trở thành nhà tù. Câu nhớ:

TƯỞNG GIÚP NHẬN DIỆN.

CHẤP TƯỞNG BIẾN NHÃN THÀNH NHÀ TÙ.

XIX. TƯỞNG VÀ KÝ ỨC

Sự kiện cũ đã qua. Nhưng tưởng gọi lại. Thọ sinh lại. Hành phản ứng lại. Người ta có thể khổ nhiều lần vì một sự kiện đã qua.

XX. TƯỞNG VÀ HIỂU LẦM

Sự kiện: Người kia chưa trả lời. Diễn giải: “Họ ghét tôi.” Không giống nhau. Câu nhớ:

CÁI MÌNH NGHĨ XẢY RA KHÔNG PHẢI LÚC NÀO CŨNG CHÍNH LÀ CÁI ĐÃ XẢY RA.

XXI. TRẠCH PHÁP GIÚP SOI TƯỞNG

Hỏi: Đây là sự kiện? Hay diễn giải? Phân biệt hai cái là Trạch pháp.

XXII. HÀNH – SAṄKHĀRA / SAṂSKĀRA

Pāli:

saṅkhāra.

Sanskrit:

saṃskāra. Tiếng Việt: Hành, các tạo tác tâm, cấu hành. Trong Ngũ uẩn, hành uẩn rất rộng. Không nên đồng nhất máy móc với mắt xích saṅkhāra trong Duyên khởi.

XXIII. HÀNH UẨN BAO GỒM NHIỀU TÂM HÀNH

Ví dụ: Ý muốn. Tác ý. Quyết định. Thói quen. Sân. Tham. Từ. Tinh tấn. Nhiều yếu tố tạo tác tâm thuộc vùng hành.

XXIV. TÁC Ý – CETANĀ

Pāli/Sanskrit: cetanā. Nguồn:

AN 6.63 – Nibbedhika Sutta.

Pāli:

cetanāhaṃ bhikkhave kammaṃ vadāmi. Đại ý: Ta nói tác ý là nghiệp. Tác ý liên hệ rất mạnh với nghiệp.

XXV. HÀNH UẨN KHÔNG PHẢI “TÔI”

Sân sinh: Không cần nói: “Tôi là người sân.” Có thể thấy: “Đang có tâm hành sân.” Tâm hành sinh do duyên. Có thể đổi.

XXVI. TẬP KHÍ VÀ HÀNH

Bị chê: Trả. Lặp: Thành đường mòn. Tu: Thấy. Dừng. Lập đường mới. Đây là Tứ Chánh Cần gặp hành uẩn.

XXVII. CÔNG THỨC HÀNH UẨN

TÁC Ý

→ LẶP

→ THÓI QUEN

→ TẬP KHÍ

→ TÍNH CÁCH BIỂU HIỆN.

Đây là cách hệ thống hóa đời thường.

XXVIII. THỨC – VIÑÑĀṆA / VIJÑĀNA

Pāli:

viññāṇa.

Sanskrit:

vijñāna. Tiếng Việt: Thức – sự nhận biết phân biệt. Có: Nhãn thức. Nhĩ thức. Tỷ thức. Thiệt thức. Thân thức. Ý thức.

XXIX. THỨC KHÔNG PHẢI LINH HỒN BẤT BIẾN

Trong kinh điển sớm, thức cũng được quán: Vô thường. Do duyên. Không phải ngã. Không nên gọi thức là “linh hồn thật”.

XXX. THỨC VÀ DANH-SẮC

Trong Duyên khởi, thức và danh-sắc có quan hệ sâu. Điểm thực hành:

Kinh nghiệm là một tiến trình do duyên.

Không cần một chủ nhân bất biến đứng ngoài năm uẩn.

XXXI. MỘT CÁI THẤY

Mắt gặp sắc. Nhãn thức sinh. Tưởng nhận. Thọ sinh. Hành phản ứng. Ngũ uẩn vận hành rất nhanh.

XXXII. NGHE MỘT LỜI CHÊ

SẮC: Thân nóng. THỌ: Khó chịu. TƯỞNG: “Họ đang coi thường tôi.” HÀNH: Sân, muốn đáp. THỨC: Biết âm thanh và tiến trình. Năm uẩn cùng vận hành.

XXXIII. ĐƯỢC KHEN

SẮC: Thân nhẹ. THỌ: Dễ chịu. TƯỞNG: “Người ta công nhận tôi.” HÀNH: Muốn thêm. THỨC: Biết. Nếu thiếu niệm: Ngã chấp dựng lên.

XXXIV. NHỚ MỘT NGƯỜI CŨ

TƯỞNG: Hình ảnh cũ. THỌ: Buồn. HÀNH: Muốn giữ. SẮC: Ngực nặng. THỨC: Biết hình ảnh tâm. Ngũ uẩn vẫn vận hành dù người kia không có mặt.

XXXV. NGŨ UẨN LÀ CÁCH THÁO MỘT KHỐI “TÔI”

“Tôi đau.” Có thể tháo: Thân gì? Thọ gì? Tưởng gì? Hành gì? Thức biết gì? Một khối “tôi” được phân tích thành tiến trình.

XXXVI. UẨN VÀ THỦ UẨN

Khandha: Uẩn. Upādānakkhandha: Thủ uẩn. Chữ: upādāna – chấp thủ. Tâm nắm uẩn thành: “Tôi.” “Của tôi.” “Tự ngã của tôi.” Đó là thủ.

XXXVII. CHẤP SẮC

“Thân là tôi.” “Đẹp là giá trị tôi.” “Già là mất giá.” Đây là chấp sắc.

XXXVIII. CHẤP THỌ

“Phải vui mới tốt.” “Buồn là đời hỏng.” Đây là chấp thọ.

XXXIX. CHẤP TƯỞNG

“Cách tôi nhớ chắc chắn là sự thật.” “Cách tôi hiểu chắc chắn đúng.” Đây là chấp tưởng.

XL. CHẤP HÀNH

“Tính tôi vậy.” “Tôi không đổi được.” Đây là chấp hành và tập khí.

XLI. CHẤP THỨC

“Có một thức bất biến, đó là ngã thật.” Đây là chấp thức. Trong kinh sớm, thức cũng vô thường và vô ngã.

XLII. KINH VÔ NGÃ TƯỚNG – SN 22.59

Anattalakkhaṇa Sutta. Tiếng Việt:

Kinh Vô Ngã Tướng.

Đức Phật quán: Sắc. Thọ. Tưởng. Hành. Thức. và chỉ ra: Vô thường. Biến đổi. Không thích hợp chấp là ngã.

XLIII. BA CÂU QUÁN

Pāli:

netaṃ mama. nesohamasmi. na meso attā. Đại ý: Cái này không phải của tôi. Cái này không phải là tôi. Cái này không phải tự ngã của tôi.

XLIV. VÔ NGÃ KHÔNG PHẢI BỎ TRÁCH NHIỆM

Thân: Không phải ngã bất biến. Nhưng vẫn phải chăm. Tài sản: Theo quy ước vẫn có trách nhiệm. Người thân: Không phải vật sở hữu. Nhưng vẫn có nghĩa vụ và tình thương. Vô ngã không phá quy ước. Nó phá chấp tuyệt đối.

XLV. NĂM UẨN ĐỀU VÔ THƯỜNG

SẮC: Đổi. THỌ: Đổi. TƯỞNG: Đổi. HÀNH: Đổi. THỨC: Đổi. Câu nhớ:

NẾU CẢ NĂM NHÓM MÌNH DÙNG ĐỂ GỌI “TÔI” ĐỀU ĐỔI, THÌ CÁI “TÔI” MÌNH ĐANG BẢO VỆ BẰNG MỌI GIÁ CẦN ĐƯỢC NHÌN LẠI.

XLVI. NĂM UẨN VÀ KHỔ

Khổ không phải vì: Có sắc. Có thọ. Có tưởng. Có hành. Có thức. Khổ sâu vì:

NẮM CÁI ĐỔI THÀNH CÁI PHẢI KHÔNG ĐỔI.

XLVII. VÔ NGÃ – ANATTĀ / ANĀTMAN

Pāli:

anattā.

Sanskrit:

anātman. Tiếng Việt: Vô ngã. Không nên hiểu: “Không có gì hết.” Đúng hơn: Không tìm thấy một tự ngã độc lập, thường hằng, làm chủ tuyệt đối trong năm uẩn.

XLVIII. QUY ƯỚC “TÔI” VẪN DÙNG

Vẫn nói: Tôi đi. Tôi ăn. Tôi chịu trách nhiệm. Không cần bỏ đại từ. Câu nhớ:

DÙNG CHỮ “TÔI” LÀ NGÔN NGỮ.

CHẤP CHỮ “TÔI” THÀNH THỰC THỂ BẤT BIẾN MỚI LÀ CHỖ CẦN SOI.

XLIX. VÔ NGÃ KHÔNG XÓA NGHIỆP

Không có tự ngã thường hằng: Nhân quả vẫn có. Hành động làm duyên cho kết quả. Không cần một linh hồn bất biến để nhân quả vận hành.

L. NGŨ UẨN VÀ DUYÊN KHỞI

Sắc: Do duyên. Thọ: Do xúc. Tưởng: Do nhiều điều kiện. Hành: Do tập khí, tác ý, duyên. Thức: Do căn-cảnh và điều kiện. Ngũ uẩn không tự tồn độc lập.

LI. DUYÊN KHỞI VÀ VÔ NGÃ

Cái gì do duyên sinh: Không phải tự ngã độc lập. Câu nhớ:

DUYÊN KHỞI THÁO CÁI TƯỞNG “TỰ CÓ”.

VÔ NGÃ THÁO CÁI TƯỞNG “TỰ TÔI”.

LII. NGŨ UẨN VÀ TỨ NIỆM XỨ

THÂN: Soi sắc. THỌ: Soi vedanā. TÂM: Soi nhiều trạng thái thuộc hành, tưởng, thức. PHÁP: Có đề mục năm uẩn. Tứ Niệm Xứ trực tiếp hỗ trợ quán Ngũ uẩn.

LIII. NGŨ UẨN VÀ TỨ CHÁNH CẦN

SẮC: Chăm điều kiện. THỌ: Không cho kéo sang ái. TƯỞNG: Soi diễn giải. HÀNH: Bỏ bất thiện, nuôi thiện. THỨC: Giữ niệm trên căn-cảnh.

LIV. NGŨ UẨN VÀ THẤT GIÁC CHI

NIỆM: Thấy uẩn. TRẠCH PHÁP: Phân biệt uẩn. TINH TẤN: Không nuôi bất thiện. HỶ: Nuôi thiện. KHINH AN: Dịu. ĐỊNH: Thấy rõ. XẢ: Không lấy uẩn làm “tôi”.

LV. NGŨ UẨN VÀ BÁT PHONG

Được-mất: Chạm thọ và tưởng. Khen-chê: Chạm tưởng và hành. Danh-thất danh: Chạm căn tính. Lạc-khổ: Chạm thọ. Thấy Ngũ uẩn: Bát phong bớt quyền.

LVI. NGŨ UẨN VÀ CÔNG THỨC TAM TẠNG

BỎ ÁC: Thấy hành bất thiện. LÀM LÀNH: Nuôi hành thiện. LÀM SẠCH TÂM: Bớt chấp năm uẩn. Câu nhớ:

LÀM SẠCH TÂM KHÔNG PHẢI XÓA NĂM UẨN.

LÀ LÀM SẠCH CÁCH MÌNH CHẤP NĂM UẨN.

LVII. NGŨ UẨN VÀ CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC

THẬT: Nhận đúng sắc-thọ-tưởng-hành. TÍN: Không đổi lời vì thọ đổi. THIỆN: Nuôi hành thiện. GIỚI: Không để hành bất thiện ra thân khẩu. ĐỊNH: Đứng nhìn uẩn. TUỆ: Thấy uẩn vô thường, vô ngã. LỰC: Không bị một trạng thái tạm thời định nghĩa toàn bộ mình.

LVIII. NGŨ UẨN VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

NHẬN: Uẩn nào đang nổi? SOI: Thọ, tưởng, hành nào? THẤY: Cái gì đang bị chấp là “tôi”? KHÔNG DÍNH: Không chạy theo thọ. KHÔNG CHẤP: Không lấy tưởng/hành làm bản ngã. BUÔNG: Nới “của tôi.”

AN:

Uẩn vẫn vận hành, nhưng cái nắm nhẹ. Câu nhớ:

BUÔNG KHÔNG PHẢI LÀM NĂM UẨN BIẾN MẤT.

BUÔNG LÀ BỚT DỰNG “TÔI” TRÊN NĂM UẨN.

LIX. NGŨ UẨN VÀ CÔNG THỨC PHẬT

THẤY: Năm uẩn. TỈNH: Không đồng hóa. BUÔNG: Không thủ. SÁNG: Thấy vô thường – khổ – vô ngã.

LX. KHI BỊ CHÊ

SẮC: Mặt nóng. THỌ: Khó chịu. TƯỞNG: “Họ coi thường tôi.” HÀNH: Sân. THỨC: Biết. Hỏi: Cái nào là sự kiện? Cái nào là diễn giải? Cái nào cần buông?

LXI. KHI ĐƯỢC KHEN

SẮC: Nhẹ. THỌ: Vui. TƯỞNG: “Người ta công nhận tôi.” HÀNH: Muốn thêm. THỨC: Biết. Nếu có niệm: Không dựng “tôi giỏi” quá lớn.

LXII. KHI BUỒN

THỌ: Khó chịu. TƯỞNG: Kể chuyện. HÀNH: Co. SẮC: Nặng. THỨC: Biết. Có thể chuyển từ: “ĐỜI TÔI LÀ BUỒN” sang:

“ĐANG CÓ MỘT TIẾN TRÌNH BUỒN.”

LXIII. KHI GIẬN

SẮC: Nóng. THỌ: Khó. TƯỞNG: “Họ sai.” HÀNH: Sân. THỨC: Biết. Nếu chấp tưởng: Khẩu nghiệp. Nếu Trạch pháp: Có thể dừng.

LXIV. KHI SỢ

SẮC: Tim nhanh. THỌ: Khó. TƯỞNG: Viễn cảnh xấu. HÀNH: Muốn trốn. THỨC: Biết. Sợ không phải toàn bộ “tôi”.

LXV. KHI ĐAU THÂN

SẮC: Đau. THỌ: Khó chịu. TƯỞNG: “Sẽ nặng hơn.” HÀNH: Lo. THỨC: Biết. Tách ra: Đau thân được chăm. Phần tưởng/hành được soi.

LXVI. KHI NHỚ QUÁ KHỨ

Sự kiện: Đã qua. TƯỞNG: Gọi lại. THỌ: Sinh. HÀNH: Phản ứng. THỨC: Biết. Thấy cơ chế: Bớt sống lại quá khứ vô thức.

LXVII. KHI THẤY MÌNH GIÀ

SẮC: Đổi. THỌ: Có thể buồn. TƯỞNG: So với quá khứ. HÀNH: Chống. Quán: SẮC VÔ THƯỜNG.

LXVIII. KHI THẤY MÌNH GIỎI

TƯỞNG: “Tôi hơn.” HÀNH: Mạn. THỌ: Dễ chịu. Nếu thiếu niệm: Ngã tăng. Nhớ: Năng lực cũng do duyên.

LXIX. NĂM CÂU SOI NGŨ UẨN

1. THÂN ĐANG THẾ NÀO?

2. THỌ ĐANG DỄ, KHÓ HAY TRUNG?

3. TÔI ĐANG GẮN NHÃN/CÂU CHUYỆN GÌ?

4. TÂM ĐANG MUỐN LÀM GÌ?

5. THỨC ĐANG BIẾT GÌ?

Rồi nhớ:

ĐỪNG LẤY BẤT KỲ MỘT PHẦN NÀO LÀM “TÔI BẤT BIẾN”.

LXX. BÀI TẬP 5 PHÚT

PHÚT 1 – SẮC: Quét thân. PHÚT 2 – THỌ: Dễ/khó/trung? PHÚT 3 – TƯỞNG: Đang gắn nhãn gì? PHÚT 4 – HÀNH: Đang muốn làm gì? PHÚT 5 – THỨC: Biết toàn bộ. Chỉ thấy: Mọi thứ đang đổi.

LXXI. BÀI TẬP 5 NGÀY

NGÀY 1 – SẮC: Nhận năm lần thân đổi. NGÀY 2 – THỌ: Gọi tên mười thọ. NGÀY 3 – TƯỞNG: Bắt năm lần diễn giải khác sự kiện. NGÀY 4 – HÀNH: Bắt năm tác ý trước hành động. NGÀY 5 – THỨC: Biết thấy-nghe-nghĩ mà không thêm “tôi” quá nhanh.

LXXII. NGŨ UẨN TRONG BÁT NHÃ TÂM KINH

Sanskrit:

Prajñāpāramitāhṛdaya Sūtra. Tiếng Việt: Bát Nhã Tâm Kinh. Đại thừa nói sâu về: pañca-skandha – năm uẩn. śūnyatā – Không tính. Tinh thần: Năm uẩn không có tự tính độc lập cố định. Không nên hiểu “Không” là không có gì.

LXXIII. “SẮC TỨC THỊ KHÔNG” CẦN HIỂU CẨN THẬN

Không có nghĩa: Thân biến mất. Mà trong Bát Nhã: Sắc không có tự tính độc lập. Nó do duyên. Đây là ngôn ngữ Đại thừa. Không đồng nhất máy móc với cách trình bày Nikāya.

LXXIV. NIKĀYA VÀ BÁT NHÃ

Nikāya: Quán năm uẩn vô thường, khổ, vô ngã. Bát Nhã: Quán năm uẩn Không tính. Ngôn ngữ khác. Hệ triết lý khác. Điểm gặp thực hành: GIẢM CHẤP.

LXXV. LỖI HIỂU SAI: “VÔ NGÃ = KHÔNG CÓ TÔI”

Quá thô. Phật giáo vẫn dùng quy ước con người. Điểm chính: Không có tự ngã độc lập, thường hằng, làm chủ tuyệt đối trong năm uẩn.

LXXVI. LỖI HIỂU SAI: “VÔ NGÃ = KHÔNG CẦN TRÁCH NHIỆM”

Sai. Nhân quả vẫn có. Nghiệp vẫn có. Giới vẫn có. Trách nhiệm vẫn có.

LXXVII. LỖI HIỂU SAI: “THÂN KHÔNG PHẢI NGÃ THÌ BỎ MẶC”

Sai. Thân là duyên tu. Phải chăm.

LXXVIII. LỖI HIỂU SAI: “THỌ KHÔNG PHẢI TÔI THÌ KHÔNG CẢM”

Sai. Thọ vẫn sinh. Chỉ không đồng hóa.

LXXIX. LỖI HIỂU SAI: “TƯỞNG LÀ ẢO NÊN KHÔNG TIN GÌ”

Sai. Tưởng có chức năng cần thiết. Nhưng tưởng có thể sai.

LXXX. LỖI HIỂU SAI: “HÀNH UẨN = NGHIỆP”

Không hoàn toàn đồng nhất. Hành uẩn rộng. Nghiệp liên hệ đặc biệt với tác ý.

LXXXI. LỖI HIỂU SAI: “THỨC LÀ LINH HỒN”

Không phù hợp với tinh thần vô ngã trong kinh sớm. Thức cũng: Do duyên. Biến đổi. Không phải ngã.

LXXXII. NGŨ UẨN VÀ BA PHÁP ẤN

VÔ THƯỜNG: Cả năm uẩn đổi. KHỔ: Cái đổi mà chấp thì khổ. VÔ NGÃ: Cái đổi, chịu duyên, không theo ý tuyệt đối không thích hợp chấp là ngã. Ngũ uẩn vì vậy nối thẳng vào Tam pháp ấn.

LXXXIII. BỐN CÔNG THỨC GẶP NGŨ UẨN

CÔNG THỨC TAM TẠNG:

BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

Ngũ uẩn giúp: Thấy hành bất thiện. Thấy thọ đang kéo. Thấy tưởng đang sai. Thấy sắc vô thường. Thấy thức đang biết. Làm sạch tâm: Bớt chấp uẩn.

CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC:

THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

Thật: Nhận đúng uẩn. Giới: Không để bất thiện ra hành vi. Định: Đứng nhìn. Tuệ: Thấy vô thường và vô ngã. Lực: Không bị một trạng thái nhất thời định nghĩa toàn bộ mình.

CÔNG THỨC BUÔNG:

NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

Nhận: Uẩn nào đang nổi? Soi: Thọ, tưởng, hành nào? Thấy: Cái gì đang bị chấp là “tôi”? Không dính: Không chạy theo. Không chấp: Không lấy uẩn làm ngã. Buông: Nới “của tôi.” An: Tâm nhẹ.

CÔNG THỨC PHẬT:

THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

THẤY: Năm uẩn. TỈNH: Không đồng hóa. BUÔNG: Không thủ. SÁNG: Thấy vô thường – khổ – vô ngã.

LXXXIV. CÂU GHI NHỚ

NGŨ UẨN KHÔNG PHẢI NĂM THỨ ĐỂ GHÉT.

LÀ NĂM NHÓM ĐỂ THẤY ĐÚNG.

LXXXV. CÂU GHI NHỚ

THÂN ĐỔI KHÔNG CÓ NGHĨA MÌNH MẤT GIÁ.

CHỈ LÀ SẮC ĐANG LÀM ĐÚNG TÍNH VÔ THƯỜNG CỦA SẮC.

LXXXVI. CÂU GHI NHỚ

THỌ LÀ KHÁCH.

CHẤP BIẾN KHÁCH THÀNH CHỦ.

LXXXVII. CÂU GHI NHỚ

TƯỞNG GIÚP NHẬN DIỆN.

CHẤP TƯỞNG BIẾN NHÃN THÀNH NHÀ TÙ.

LXXXVIII. CÂU GHI NHỚ

MỘT TÂM HÀNH ĐANG CÓ KHÔNG PHẢI TOÀN BỘ CON NGƯỜI MÌNH.

LXXXIX. CÂU GHI NHỚ

THỨC BIẾT CẢNH.

NHƯNG THỨC CŨNG KHÔNG PHẢI MỘT CÁI NGÃ BẤT BIẾN.

XC. CÂU GHI NHỚ

DÙNG CHỮ “TÔI” LÀ NGÔN NGỮ.

CHẤP CHỮ “TÔI” THÀNH THỰC THỂ BẤT BIẾN MỚI LÀ CHỖ CẦN SOI.

XCI. CÂU GHI NHỚ

BUÔNG KHÔNG PHẢI LÀM NĂM UẨN BIẾN MẤT.

BUÔNG LÀ BỚT DỰNG “TÔI” TRÊN NĂM UẨN.

XCII. CÂU KẾT

Một ngày mình có thể nói: Tôi mệt. Tôi buồn. Tôi vui. Tôi nhớ. Tôi giận. Tôi sợ. Tôi được khen. Tôi bị chê. Không sao. Đó là ngôn ngữ đời thường. Nhưng khi tu, mình học thêm một lớp nhìn: MỆT: Sắc đang mệt. BUỒN: Thọ đang khó chịu. NHỚ: Tưởng đang gọi lại. GIẬN: Hành đang sân. BIẾT TẤT CẢ:

Thức đang nhận. Một khối: “TÔI ĐANG KHỔ” được tháo thành nhiều tiến trình. Khi tháo ra: Phần này đang đổi. Phần kia đang sinh. Phần nọ đang diệt. Không có cái gì đứng yên đủ để nói:

“ĐÂY LÀ TÔI MÃI MÃI.”

Điều đó không làm con người biến mất. Nó chỉ làm cái chấp mềm đi. Mình vẫn có: Tên. Trách nhiệm. Tình thương. Công việc. Nghiệp. Lời hứa. Nhưng không cần lấy một thọ buồn để kết luận: “ĐỜI TÔI LÀ BUỒN.” Không cần lấy một lời chê để kết luận:

“TÔI LÀ NGƯỜI THẤT BẠI.”

Không cần lấy một lần thành công để kết luận: “TÔI HƠN.” Không cần lấy tuổi trẻ làm “tôi”. Không cần lấy tuổi già làm “tôi”. Không cần lấy danh làm “tôi”. Không cần lấy mất danh làm “tôi”. Đó là tự do dần dần.

BỐN CÔNG THỨC GẶP NGŨ UẨN RẤT SÂU.

BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM

giúp làm sạch cách năm uẩn tạo nghiệp. THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC

giúp tâm đủ đứng để thấy uẩn mà không bị uẩn kéo. NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN

là cách tháo thủ ngay trên sắc – thọ – tưởng – hành – thức. THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG

thì Ngũ uẩn làm rõ chữ: THẤY. THẤY SẮC LÀ SẮC. THẤY THỌ LÀ THỌ.

THẤY TƯỞNG LÀ TƯỞNG.

THẤY HÀNH LÀ HÀNH. THẤY THỨC LÀ THỨC. Rồi nhớ đại ý Kinh Vô Ngã Tướng:

CÁI NÀY KHÔNG PHẢI CỦA TÔI.

CÁI NÀY KHÔNG PHẢI LÀ TÔI.

CÁI NÀY KHÔNG PHẢI TỰ NGÃ CỦA TÔI.

Không phải để phủ nhận đời. Mà để không đóng một cái đinh “tôi” vào những thứ vốn đang đổi từng sát-na. CÂU CUỐI:

NGŨ UẨN VẪN VẬN HÀNH.

NHƯNG CÁI “TÔI” KHÔNG CẦN ĐỨNG LÊN SỞ HỮU TẤT CẢ.

CHƯƠNG 31
NĂM TRIỀN CÁI – NHỮNG VẬT CẢN CHE TÂM

Pāli:

pañca nīvaraṇāni.

Sanskrit:

pañca nivaraṇāni. Tiếng Việt: Năm triền cái / năm pháp che ngăn tâm. Gồm:

1. kāmacchanda – dục tham.

2. byāpāda – sân, ác ý.

3. thīna-middha – hôn trầm, thụy miên.

4. uddhacca-kukkucca – trạo cử, hối.

5. vicikicchā – nghi.

Nguồn quan trọng:

MN 10 – Satipaṭṭhāna Sutta – Kinh Niệm Xứ.

DN 22 – Mahāsatipaṭṭhāna Sutta – Kinh Đại Niệm Xứ.

Trong quán pháp, hành giả biết: Triền cái đang có. Triền cái không có. Duyên khiến nó sinh. Cách đoạn trừ. Cách khiến nó không sinh trở lại. Đây là một cấu trúc rất quan trọng. Không chỉ: BIẾT. Mà còn: THẤY DUYÊN. ĐOẠN. PHÒNG. Bốn công thức vì vậy phải vận hành ngay trong từng triền cái.

CÔNG THỨC PHẬT:

THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

CÔNG THỨC BUÔNG:

NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

CÔNG THỨC TAM TẠNG:

BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC:

THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

I. TRIỀN CÁI KHÔNG PHẢI CĂN TÍNH

Có dục: Không đồng nghĩa “tôi xấu”. Có sân: Không đồng nghĩa “tôi tu dở”. Hôn trầm: Không đồng nghĩa “tôi không có căn”. Nghi: Không đồng nghĩa “tôi mất đạo”. Câu nhớ:

TRIỀN CÁI LÀ TRẠNG THÁI CÓ DUYÊN.

KHÔNG PHẢI TOÀN BỘ CON NGƯỜI.

II. DỤC THAM – KĀMACCHANDA

Kāmacchanda: Dục tham, ham muốn dục lạc giác quan. Không phải mọi mong muốn đều là dục tham. Chanda có thể là ý muốn thiện: Muốn học Pháp. Muốn giữ giới. Muốn làm thiện. Không nên đồng nhất mọi “muốn” với taṇhā hay kāmacchanda. Khi dục tham sinh: THẤY: Dục đang có. TỈNH: Không phải cái dễ chịu nào cũng cần chạy theo.

BUÔNG: Không nuôi cảnh và tưởng. SÁNG: Thấy thọ dễ chịu không phải mệnh lệnh. Duyên khởi của dục: CẢNH

→ XÚC

→ THỌ DỄ CHỊU

→ ÁI

→ THỦ.

Có niệm: CẢNH

→ XÚC

→ THỌ

→ BIẾT.

Công thức Buông: NHẬN thọ. SOI ái. THẤY thủ. KHÔNG DÍNH cảnh. KHÔNG CHẤP cái muốn. BUÔNG.

AN.

Công thức Định lực: THẬT: Tôi đang muốn. TÍN: Không vì ham muốn mà phá điều đã giữ. THIỆN: Chọn lợi ích dài hạn. GIỚI: Không để tham dẫn hành vi sai. ĐỊNH: Đứng với thọ. TUỆ: Thấy vô thường và hậu quả. LỰC: Lần sau biết sớm hơn.

III. HỘ TRÌ CĂN

Biết cảnh làm dục tăng: Giảm tiếp xúc. Đó không phải sợ đời. Là quản lý duyên. BỎ ÁC: Không tiếp tục nuôi dục. LÀM LÀNH: Chuyển đối tượng thiện. LÀM SẠCH TÂM: Dục giảm, tâm dễ định.

IV. DỤC THAM TRONG ĐỜI HIỆN ĐẠI

Dục không chỉ là: Ăn. Sắc đẹp. Tài vật. Còn có thể là: Điện thoại. Video. Thông báo. Lượt xem. Mua sắm. Sự chú ý. Tâm đang tìm một lạc thọ nhỏ. THẤY: Biết cơ chế. TỈNH: Không tự động mở. BUÔNG: Đặt xuống. SÁNG: Biết mình vừa thoát một phản ứng vô thức.

V. SÂN – BYĀPĀDA

Byāpāda: Sân, ác ý, hại tâm. Sân có thể là: Khó chịu. Ghét. Muốn trả. Muốn người kia đau. Một chuỗi thường gặp: XÚC

→ KHỔ THỌ

→ MUỐN ĐẨY

→ CHẤP

→ SÂN.

Công thức Buông: NHẬN: Khó chịu. SOI: Cái gì bị chạm? THẤY: Có tự ái/chấp kiến không? KHÔNG DÍNH: Chưa trả. KHÔNG CHẤP: Không nhận sân là “tôi”. BUÔNG: Thả phần muốn thắng.

AN:

Rồi mới nói.

VI. GIỚI LÀ CÁI PHANH CỦA SÂN

Sân chưa hết: Vẫn có thể giữ giới. Không đánh. Không nói độc. Không vu khống. Không hại. Đây là tu. THẬT: Đang sân. GIỚI: Không hành theo sân. ĐỊNH: Đứng được. TUỆ: Soi nguyên nhân. LỰC: Sân ngày càng khó sai khiến.

VII. SÂN VÀ TỪ

Pāli:

mettā.

Sanskrit:

maitrī. Tiếng Việt: Từ tâm. Không cần ép: “Phải thương ngay.” Có thể bắt đầu: Không hại. Không nuôi chuyện. Thấy người kia cũng có khổ. BỎ ÁC: Bỏ ý hại. LÀM LÀNH: Sinh từ. LÀM SẠCH TÂM: Sân giảm.

VIII. HÔN TRẦM – THỤY MIÊN

Pāli:

thīna-middha. Thīna: Tâm trì trệ. Middha: Buồn ngủ, nặng. Không phải mọi hôn trầm đều do lười. Có thể do: Thiếu ngủ. Kiệt sức. Ăn no. Bệnh. Thiếu hỷ. Thiếu tinh tấn. Công thức Định lực bắt đầu từ: THẬT. Thân mệt thật? Hay tâm né? Nếu thân mệt: Nghỉ có thể là trí. Nếu tâm né: Cần tinh tấn.

Đó là Trạch pháp.

IX. HÔN TRẦM VÀ THẤT GIÁC CHI

Khi tâm trì trệ, có thể phát triển phù hợp: dhamma-vicaya – Trạch pháp. viriya – Tinh tấn. pīti – Hỷ. Có lúc cần: Đứng.

Kinh hành.

Rửa mặt. Đọc Pháp. Đổi tư thế. Không phải cứ ép ngồi.

X. HÔN TRẦM VÀ BỐN CÔNG THỨC

THẤY: Tâm đang chìm. SOI: Do thân hay tâm? BỎ ÁC: Bỏ buông xuôi nếu là bất thiện. LÀM LÀNH: Sinh tinh tấn. GIỚI: Không lấy mệt làm cớ buông lung. ĐỊNH: Trở về đối tượng. TUỆ: Dùng pháp phù hợp. BUÔNG: Bỏ cách ép sai. SÁNG: Tâm trở lại quân bình.

XI. TRẠO CỬ – HỐI

Pāli:

uddhacca-kukkucca. Uddhacca: Tán động, bất an. Kukkucca: Hối tiếc, ray rứt. Trạo: Tâm không chịu ở. Trạch pháp: Càng xét càng rõ. Trạo cử: Càng nghĩ càng rối. Câu nhớ:

TRẠCH PHÁP CÀNG LÀM CÀNG RÕ.

TRẠO CỬ CÀNG NGHĨ CÀNG RỐI.

XII. HỐI ĐÚNG VÀ HỐI TRIỀN CÁI

Sai: Nhận. Xin lỗi. Sửa. Không lặp. Sau đó: Đừng tự hành hạ vô tận. Công thức Buông: NHẬN lỗi. SOI nhân. THẤY trách nhiệm. KHÔNG CHẤP: “Tôi xấu mãi mãi.” BUÔNG: Phần tự đánh không còn ích.

AN:

Quay sang thiện. Công thức Tam Tạng: BỎ ÁC: Ngừng sai. LÀM LÀNH: Sửa. LÀM SẠCH TÂM: Không giữ độc tố hối vô tận.

XIII. TRẠO CỬ VÀ THẤT GIÁC CHI

Khi tâm quá kích động, có thể phát triển: passaddhi – Khinh an. samādhi – Định. upekkhā – Xả. Niệm luôn cần. Tâm quá chìm: Tăng lực. Tâm quá chạy: Tăng dịu. Đây là Trạch pháp.

XIV. TRẠO CỬ VÀ ĐỊNH LỰC

THẬT: Tâm đang chạy. TÍN: Không bỏ pháp chỉ vì một buổi loạn. THIỆN: Giảm kích thích. GIỚI: Không chạy theo dục để chữa chán. ĐỊNH: Trở về một đối tượng. TUỆ: Biết duyên làm tâm chạy. LỰC: Trở về nhanh hơn. Câu nhớ:

ĐỊNH LỰC KHÔNG PHẢI KHÔNG BAO GIỜ TÁN.

LÀ TÁN RỒI BIẾT ĐƯỜNG VỀ.

XV. NGHI – VICIKICCHĀ

Vicikicchā: Nghi hoặc làm tâm do dự và không tiến được. Phân biệt: NGHI ĐỂ TÌM HIỂU. VÀ: NGHI TRIỀN CÁI. Hỏi: “Câu này đúng nguồn không?” Có thể là Trạch pháp. Nghe ai cũng đổi đường, không kiểm chứng, không thực hành đủ: Có thể thành nghi triền cái.

XVI. KINH KĀLĀMA

Nguồn:

AN 3.65 – Kālāma Sutta – Kinh Kālāma.

Không nên tóm thành: “Đức Phật dạy không tin gì.” Tinh thần: Không chỉ dựa vào truyền miệng, truyền thống, suy luận, uy tín người nói rồi vội chấp. Cần xét: Thiện hay bất thiện? Có hại không? Người trí có chê không? Thực hành dẫn tới khổ hay lợi ích? Vậy: NGHI CÓ TRÍ

→ KIỂM CHỨNG.

NGHI TRIỀN CÁI

→ ĐỨNG LẠI.

XVII. NGHI VÀ CHỮ TÍN

Chữ tín trong Công thức Định lực: Sống thật. Giữ lời. Đáng tin. Không đồng nhất với: saddhā – tín tâm / lòng tin trong Phật giáo. Nhưng một người sống giữ tín thường ít hối hơn. Ít hối hỗ trợ tâm nhẹ. Tâm nhẹ hỗ trợ định. Mạch hệ thống hóa: THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ÍT HỐI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

XVIII. GIẢI NGHI

1. Học nguồn.

2. Hỏi người hiểu biết.

3. Đối chiếu kinh.

4. Thực hành.

5. Xem kết quả thiện – bất thiện.

Công thức: NHẬN NGHI

→ SOI NGUỒN

→ THẤY CHỖ CHƯA RÕ

→ KHÔNG DÍNH Ý KIẾN

→ KHÔNG CHẤP KIẾN RIÊNG

→ BUÔNG ĐIỀU SAI

→ AN TRONG CÁI ĐƯỢC KIỂM CHỨNG.

XIX. NĂM TRIỀN CÁI TRONG TỨ NIỆM XỨ

Biết: Dục có hay không. Sân có hay không. Hôn trầm có hay không. Trạo-hối có hay không. Nghi có hay không. Biết: Duyên sinh. Cách đoạn. Cách phòng tái sinh. Đây chính là: THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

XX. NIỆM VÀ TRẠCH PHÁP

Niệm: “Có trạng thái nặng.” Trạch pháp: “Sân hay hôn trầm?” Nếu sân: Cần một loại pháp. Nếu hôn trầm: Có thể cần pháp khác. Câu hệ thống hóa: NIỆM NHẬN BỆNH.

TRẠCH PHÁP NHẬN ĐÚNG BỆNH.

XXI. TRIỀN CÁI VÀ GIÁC CHI

Triền cái: Che. Giác chi: Mở. NIỆM: Thấy. TRẠCH PHÁP: Phân biệt. TINH TẤN: Không nuôi. HỶ: Nuôi thiện. KHINH AN: Dịu. ĐỊNH: Gom. XẢ: Không dính. Công thức Phật hòa ngay trong đó: NIỆM: THẤY.

TRẠCH PHÁP + TINH TẤN:

TỈNH. XẢ: BUÔNG.

GIÁC CHI TRƯỞNG THÀNH:

SÁNG.

XXII. TRIỀN CÁI VÀ TỨ CHÁNH CẦN

Triền cái chưa sinh: NGĂN. Đã sinh: BỎ. Thiện chưa có: SINH. Thiện đã có: GIỮ. Đây chính là: BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

XXIII. TRIỀN CÁI VÀ BÁT PHONG

ĐƯỢC: Có thể nuôi dục. MẤT: Có thể nuôi sân. KHEN: Có thể nuôi ái danh. CHÊ: Có thể nuôi sân. LẠC: Có thể nuôi dục. KHỔ: Có thể nuôi sân hoặc trạo. Câu nhớ:

BÁT PHONG LÀ GIÓ NGOÀI.

TRIỀN CÁI LÀ MÂY TRONG.

NIỆM BIẾT GIÓ. TUỆ THẤY MÂY. ĐỊNH GIỮ GỐC.

BUÔNG LÀ KHÔNG BAY.

XXIV. TRIỀN CÁI VÀ NGŨ UẨN

Dục. Sân. Hôn trầm. Trạo. Nghi. đều là trạng thái có duyên. Không phải “tôi”. Câu nhớ:

MỘT TRIỀN CÁI ĐANG CÓ

KHÔNG PHẢI

TOÀN BỘ CON NGƯỜI MÌNH.

XXV. THỌ LÀ MỘT CỬA

Lạc thọ: Dục dễ sinh. Khổ thọ: Sân dễ sinh. Thọ trung tính: Hôn trầm hoặc tìm kích thích có thể sinh. Câu nhớ:

THỌ KHÔNG PHẢI MỆNH LỆNH.

XXVI. TRIỀN CÁI TRONG NIỆM PHẬT

DỤC: Biết. Trở về Phật hiệu. SÂN: Nhận. Không dùng Phật hiệu để đè sân. Dịu rồi trở về. HÔN TRẦM: Phân biệt thiếu ngủ hay tâm trì trệ. Cần thì nghỉ. Cần thì đứng niệm. TRẠO: Biết tán. Trở về. NGHI: Học kinh. Hiểu pháp môn. Không ép tin mù.

XXVII. TRIỀN CÁI TRONG GIẢNG PHÁP

DỤC DANH: Thấy.

SÂN KHI BỊ PHẢN BÁC:

Giữ Chánh ngữ. HÔN TRẦM: Mệt thì nhận. TRẠO: Giữ mạch. NGHI: Không chắc nguồn thì đừng nói chắc. Có thể nói: “Đại ý.” “Theo bản dịch thường dùng.” “Điểm này cần kiểm nguồn.” Đó là chữ: THẬT. THẬT tạo: TÍN. TÍN hỗ trợ: ĐỊNH LỰC.

XXVIII. TRIỀN CÁI TRONG HỌC PHÁP

DỤC: Học để hơn. SÂN: Học để bắt lỗi. HÔN TRẦM: Đọc không vào. TRẠO: Mở quá nhiều nguồn. NGHI: Nguồn nào cũng nghi nhưng không kiểm. Công thức: THẬT VỚI ĐỘNG CƠ

→ GIỮ GIỚI HỌC

→ ĐỊNH VÀO MỘT NGUỒN

→ TRẠCH PHÁP

→ TUỆ

→ LỰC.

XXIX. TRIỀN CÁI KHÔNG PHẢI KẺ THÙ ĐỂ GHÉT

Không cần mời triền cái. Nhưng khi nó có: Dùng làm đề mục học. Câu nhớ:

TRIỀN CÁI KHÔNG PHẢI BẠN.

NHƯNG KHI ĐÃ CÓ MẶT, NÓ CÓ THỂ TRỞ THÀNH BÀI HỌC.

XXX. ĐỪNG CHẤP “TÔI HẾT TRIỀN CÁI”

Một ngày tâm yên: Đừng phồng. Duyên đổi: Triền cái có thể trở lại. Giữ: Khiêm. Niệm. Tinh tấn.

XXXI. NĂM CÂU NHẬN DIỆN

DỤC:

TÂM MUỐN KÉO CÁI DỄ CHỊU VỀ.

SÂN:

TÂM MUỐN ĐẨY CÁI KHÓ CHỊU RA.

HÔN TRẦM:

TÂM KHÔNG MUỐN SÁNG.

TRẠO: TÂM KHÔNG CHỊU Ở. NGHI:

TÂM KHÔNG BIẾT ĐẶT CHÂN Ở ĐÂU.

XXXII. CÔNG THỨC 5 BƯỚC

BƯỚC 1:

NHẬN ĐÚNG TRIỀN CÁI.

Đó là: NHẬN + THẤY. BƯỚC 2: SOI DUYÊN. Đó là: SOI + TRẠCH PHÁP. BƯỚC 3: GIỮ GIỚI. Không để triền cái ra thân khẩu. Đó là: GIỚI + BỎ ÁC. BƯỚC 4: DÙNG PHÁP ĐÚNG. Dục: Hộ căn, giảm duyên. Sân: Từ, xả. Hôn trầm: Tinh tấn, Hỷ. Trạo: Khinh an, Định. Nghi: Học, hỏi, kiểm chứng. Đó là: LÀM LÀNH.

BƯỚC 5:

KHÔNG CHẤP KẾT QUẢ.

Triền cái chưa hết: Không bực. Thấy sinh diệt. Đó là: BUÔNG. Hiểu cơ chế: SÁNG.

XXXIII. BÀI THỰC HÀNH 5 NGÀY

NGÀY 1 – DỤC: Bắt năm lần tâm nói “muốn”. Phân biệt chanda thiện và kāmacchanda. NGÀY 2 – SÂN: Bắt một khổ thọ trước sân. NGÀY 3 – HÔN TRẦM: Phân biệt thân mệt và tâm né. NGÀY 4 – TRẠO: Mỗi lần tâm chạy, biết “chạy” rồi trở về. NGÀY 5 – NGHI: Chọn một nghi vấn và tìm nguồn kinh rõ.

XXXIV. NHẬT KÝ TRIỀN CÁI

Hỏi: Triền cái nào mạnh nhất hôm nay? Nó sinh do duyên gì? Tôi có hành theo nó không? Pháp nào đã giúp? Lần sau cần ngăn từ duyên nào?

XXXV. CÂU GHI NHỚ

TRIỀN CÁI KHÔNG PHẢI CĂN TÍNH.

NÓ LÀ TRẠNG THÁI CÓ DUYÊN.

XXXVI. CÂU GHI NHỚ

DỤC KÉO VỀ. SÂN ĐẨY RA. HÔN TRẦM LÀM CHÌM. TRẠO LÀM CHẠY. NGHI LÀM ĐỨNG.

XXXVII. CÂU GHI NHỚ

GIỚI KHÔNG NHẤT THIẾT LÀM TRIỀN CÁI BIẾN MẤT NGAY.

NHƯNG GIỚI NGĂN TRIỀN CÁI BIẾN THÀNH NGHIỆP THÂN KHẨU.

XXXVIII. CÂU GHI NHỚ

ĐỊNH LỰC KHÔNG PHẢI KHÔNG CÓ TRIỀN CÁI.

LÀ TRIỀN CÁI NỔI MÀ TÂM NGÀY CÀNG BIẾT ĐƯỜNG TRỞ VỀ.

XXXIX. CÂU GHI NHỚ

BUÔNG KHÔNG PHẢI ĐÁNH TRIỀN CÁI RA NGOÀI.

BUÔNG LÀ KHÔNG TIẾP TỤC CHO NÓ THỨC ĂN.

XL. CÂU KẾT

Một ngày tâm có thể: Thích. Ghét. Buồn ngủ. Chạy. Nghi. Đừng vội nói:

“HÔM NAY TÔI TU TỆ.”

Hãy hỏi:

“TRIỀN CÁI NÀO ĐANG CÓ?”

Không: “Tôi là tham.” Mà: “Dục đang có.” Không: “Tôi là sân.” Mà: “Sân đang có.” Không: “Tôi lười.” Mà: “Hôn trầm đang có – cần xem do thân hay tâm.” Không: “Tôi loạn.” Mà: “Trạo đang có.” Không: “Tôi mất niềm tin.” Mà: “Nghi đang có – cần kiểm nguồn.” Đó là: THẤY. Thấy rồi không chạy:

TỈNH. Tỉnh rồi không nuôi: BUÔNG. Buông rồi hiểu: SÁNG.

CÔNG THỨC BUÔNG:

NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN

đang vận hành ngay trong từng triền cái.

CÔNG THỨC TAM TẠNG:

BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM

cũng đang vận hành. Dục: Không nuôi. Sân: Không hành. Hôn trầm: Đánh thức đúng cách. Trạo: Làm dịu. Nghi: Soi bằng Chánh kiến. Đó là BỎ ÁC. Sinh: Niệm. Từ. Hỷ. Định. Xả. Đó là LÀM LÀNH. Triền cái yếu: Tâm bớt che. Đó là LÀM SẠCH TÂM.

CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC:

THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC

cũng lớn ngay trong năm triền cái. THẬT với trạng thái. Giữ TÍN với điều đã nguyện. Chọn THIỆN. Không phá GIỚI. Nuôi ĐỊNH. Dùng TUỆ. Lặp đủ lâu thành LỰC. Vậy năm triền cái không đứng ngoài bốn công thức. Chúng là nơi bốn công thức được thử lửa. Bởi một công thức chỉ thật sự trở thành Pháp sống khi mình dùng được nó lúc tâm không đẹp.

Lúc tham. Lúc sân. Lúc mệt. Lúc loạn. Lúc nghi. CÂU CUỐI: MÂY CÓ THỂ ĐẾN.

NHƯNG MÂY KHÔNG PHẢI BẦU TRỜI.

TRIỀN CÁI CÓ THỂ SINH.

NHƯNG TRIỀN CÁI KHÔNG PHẢI LÀ “TÔI”.

THẤY NÓ. KHÔNG NUÔI NÓ. TÂM SẼ LẠI SÁNG.

CHƯƠNG 32
NGŨ CĂN – NGŨ LỰC: TÍN, TẤN, NIỆM, ĐỊNH, TUỆ

Pāli:

pañcindriyāni – Ngũ căn. pañca balāni – Ngũ lực.

Sanskrit:

pañcendriyāṇi – Ngũ căn. pañca balāni – Ngũ lực. Năm phẩm chất:

1. saddhā / śraddhā – tín.

2. viriya / vīrya – tinh tấn.

3. sati / smṛti – niệm.

4. samādhi – định.

5. paññā / prajñā – tuệ.

Nguồn kinh quan trọng: Saṃyutta Nikāya – Tương Ưng Bộ.

SN 48 – Indriya-saṃyutta – Tương Ưng Căn.

Câu nhớ:

CĂN LÀ GỐC ĐANG NUÔI.

LỰC LÀ GỐC ĐÃ ĐỦ MẠNH.

Ngũ căn và Ngũ lực không phải mười pháp hoàn toàn tách biệt. Cùng năm phẩm chất: TÍN. TẤN. NIỆM. ĐỊNH. TUỆ. Khi đang được nuôi: Gọi là CĂN. Khi đủ vững: Trở thành LỰC.

I. TÍN – SADDHĀ / ŚRADDHĀ

Saddhā / śraddhā: Tín, tín tâm, lòng tin có căn cứ. Phải phân biệt: CHỮ TÍN trong Công thức Định lực của cuốn sách: Sống thật. Giữ lời. Đáng tin. VÀ: SADDHĀ trong kinh: Tín tâm đối với Phật, Pháp, Tăng và con đường, tùy ngữ cảnh. Hai cái hỗ trợ nhau nhưng không đồng nhất.

Tín không phải tin mù. Tín cần đi với Tuệ.

Kinh Kālāma – AN 3.65 không dạy “không tin gì”.

Tinh thần: Không chỉ dựa vào truyền khẩu, truyền thống, suy luận đơn thuần hay uy tín người nói rồi vội chấp. Cần xét: Thiện hay bất thiện? Có dẫn tới khổ không? Người trí có tán thán không? Thực hành có lợi ích không? Công thức hệ thống hóa: TÍN ĐÚNG = TIN CÓ NỀN + KIỂM CHỨNG + HÀNH.

Tín gặp Công thức Phật: THẤY: Thấy con đường. TỈNH: Không tin mù. BUÔNG: Sai thì bỏ. SÁNG: Chánh kiến rõ hơn. Tín gặp Công thức Buông: NHẬN: Mình đang bám quan điểm nào? SOI: Nguồn đâu? THẤY: Đúng tới đâu? KHÔNG DÍNH: Không bảo vệ quan điểm chỉ vì đã tin lâu. KHÔNG CHẤP: Không lấy niềm tin riêng làm chân lý tuyệt đối.

BUÔNG: Sai thì bỏ.

AN:

Đứng trên điều đã được soi. Tín trong tâm phải đi ra đời sống. Nói tin Phật nhưng: Nói dối. Thất hứa. Phá giới. thì tín chưa đi xuống hành. Câu nhớ:

TÍN TRONG TÂM PHẢI ĐI RA THÀNH TÍN TRONG ĐỜI.

Tín căn thành Tín lực khi: Ban đầu: Tin vì nghe. Sau: Tin vì hiểu. Sau: Tin vì hành. Sau: Tin vì thấy kết quả.

II. TINH TẤN – VIRIYA / VĪRYA

Tinh tấn: Nghị lực thiện. Không phải làm càng nhiều càng tốt. Mà: ĐÚNG HƯỚNG. BỀN. Tứ Chánh Cần: NGĂN. BỎ. SINH. GIỮ. là cấu trúc rất rõ để nuôi Tấn căn. Bất thiện chưa sinh: Ngăn. Đã sinh: Bỏ. Thiện chưa có: Sinh. Đã có: Giữ. Lặp lâu: TẤN CĂN

→ TẤN LỰC.

Câu nhớ:

TINH TẤN THÀNH LỰC KHI VIỆC ĐÚNG KHÔNG CÒN CHỈ DỰA VÀO CẢM HỨNG.

Tinh tấn hòa vào Công thức Tam Tạng: BỎ ÁC: Cần tấn. LÀM LÀNH: Cần tấn. LÀM SẠCH TÂM: Cần tấn. Tinh tấn hòa vào Công thức Định lực: THẬT: Biết mình yếu ở đâu. TÍN: Giữ điều đã quyết. THIỆN: Chọn việc thiện. GIỚI: Không vượt ranh. ĐỊNH: Không đổi liên tục. TUỆ: Biết khi nào tiến, khi nào nghỉ.

LỰC: Làm đều. Tinh tấn không phải kiệt sức. Tâm trì trệ: Có thể tăng Tinh tấn. Tâm quá kích động: Có thể cần Khinh an, Định, Xả. Đây là Trạch pháp.

III. NIỆM – SATI / SMṚTI

Niệm: Nhớ biết. Không quên điều cần biết. Tứ Niệm Xứ: THÂN. THỌ. TÂM. PHÁP. là một nền lớn để nuôi Niệm căn. Niệm căn thành Niệm lực: Ban đầu: Sân xong mới biết. Sau: Đang sân biết. Sau: Sân vừa ló biết. Sau nữa: Khổ thọ vừa sinh đã biết. Câu nhớ:

NIỆM THÀNH LỰC KHI TÂM VỪA ĐI LÀ MÌNH BIẾT.

Niệm hòa vào Công thức Phật: THẤY. Niệm hòa vào Công thức Buông: NHẬN. Niệm càng mạnh: NHẬN càng sớm. NHẬN sớm: SOI sớm. THẤY sớm. DÍNH ít. CHẤP ít. BUÔNG dễ hơn. Niệm hòa vào Công thức Định lực ngay ở chữ: THẬT. Muốn thật với tâm: Phải biết tâm. NIỆM

→ THẤY SỰ THẬT CỦA TÂM.

IV. ĐỊNH – SAMĀDHI

Samādhi: Định, sự gom và ổn định của tâm. Định căn: Khả năng tâm ở. Định lực: Khả năng ấy đủ mạnh để không dễ bị cảnh kéo. Phải phân biệt: samādhi-bala – Định lực trong Ngũ lực với “Công thức Định lực” của cuốn sách: THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

Hai cái liên hệ nhưng không hoàn toàn đồng nghĩa. Giới hỗ trợ Định. Mạch tu tập thường gặp: GIỚI

→ ÍT HỐI

→ TÂM NHẸ

→ ĐỊNH.

Khi trích một bài kinh cụ thể cần đối chiếu đúng số kinh và bản dịch. Định hòa vào Công thức Phật: Tâm rời: THẤY. Không chạy: TỈNH. Bỏ dòng kéo: BUÔNG. Trở về: SÁNG HƠN. Định hòa vào Công thức Buông: Tâm có điểm đứng: Mới thấy cái nắm. Thấy cái nắm: Mới nới. Định lực đời thường biểu hiện:

Được: Không bay. Mất: Không sụp. Khen: Không phồng. Chê: Không gãy. Lạc: Không bám. Khổ: Không loạn. Đây là minh họa đời thường, không đồng nhất với chứng định sâu.

V. TUỆ – PAÑÑĀ / PRAJÑĀ

Pāli:

paññā.

Sanskrit:

prajñā. Tiếng Việt: Tuệ, trí tuệ. Tuệ không chỉ: Học nhiều. Nhớ nhiều. Nói hay. Tuệ là: THẤY ĐÚNG. Tuệ căn thấy: Vô thường. Khổ. Vô ngã. Duyên khởi. Tứ Diệu Đế. Thiện – bất thiện. Nhân – quả. Tuệ căn thành Tuệ lực khi: Điều mình hiểu đứng được lúc đời thử. Biết: “Mọi thứ vô thường” mà khi mất vẫn sụp hoàn toàn:

Tuệ còn yếu. Khi mất: Đau nhưng vẫn thấy duyên đổi. Không tạo thêm nghiệp lớn. Tuệ bắt đầu thành lực. Câu nhớ:

TUỆ THÀNH LỰC KHI ĐIỀU MÌNH HIỂU ĐỨNG ĐƯỢC LÚC ĐỜI THỬ.

Tuệ và Trạch pháp: TRẠCH PHÁP: Nhận đúng hiện tượng. TUỆ: Thấy sâu bản chất. Ví dụ: Trạch pháp: “Đây là sân.” Tuệ: “Sân do duyên, vô thường, không phải tôi, nuôi thì khổ.” Tuệ hòa vào Công thức Phật: SÁNG phải được neo vào: paññā / prajñā – TUỆ. Không hiểu “sáng” thành năng lượng mơ hồ.

Tuệ hòa vào Công thức Buông: Không có tuệ: Buông dễ thành chạy. Có tuệ: Biết cái gì cần bỏ. Biết cái gì cần giữ. Câu nhớ: BUÔNG CÓ TUỆ

= BUÔNG CÁI PHẢI BUÔNG

+ GIỮ CÁI PHẢI GIỮ.

VI. CÂN BẰNG NĂM CĂN

Năm căn cần hỗ trợ lẫn nhau. TÍN quá mạnh mà TUỆ yếu: Dễ tin mù. TUỆ mạnh mà TÍN yếu: Dễ hoài nghi và không bước. TẤN quá mạnh mà ĐỊNH yếu: Dễ căng, tán. ĐỊNH mạnh mà TẤN yếu: Dễ trì trệ. NIỆM: Giúp nhận trạng thái và cân chỉnh. Câu nhớ: TÍN CHO CHÂN BƯỚC. TUỆ CHO MẮT NHÌN.

TINH TẤN CHO ĐỘNG LỰC.

ĐỊNH CHO ĐỘ SÂU. NIỆM LÀ CÁI CÂN.

VII. NGŨ CĂN VÀ NĂM TRIỀN CÁI

NGHI: Tín cần được nuôi bằng học và kiểm chứng. HÔN TRẦM: Tấn cần được nuôi nếu không phải thân thực sự cần nghỉ. DỤC/SÂN/TRẠO: Niệm nhận. ĐỊNH: Làm tâm bớt tán. TUỆ: Thấy triền cái là pháp có duyên. Câu nhớ:

TRIỀN CÁI KHÔNG PHẢI “TÔI”.

NGŨ CĂN GIÚP MÌNH THẤY VÀ ĐI QUA NÓ.

VIII. NGŨ CĂN VÀ TỨ NIỆM XỨ

TÍN: Tin con đường. TẤN: Thực hành. NIỆM: Biết thân – thọ – tâm – pháp. ĐỊNH: Ở với đối tượng. TUỆ: Thấy sinh diệt. Tứ Niệm Xứ có thể trở thành đất nuôi cả năm căn.

IX. NGŨ CĂN VÀ DUYÊN KHỞI

Tín có duyên. Tấn có duyên. Niệm có duyên. Định có duyên. Tuệ có duyên. Không nên chỉ nói: “Tôi chưa có căn.” Câu nhớ:

CĂN KHÔNG CHỈ LÀ CÁI MÌNH MANG SẴN.

CĂN CÒN LÀ CÁI ĐƯỢC VUN BẰNG DUYÊN.

Tạo duyên cho TÍN: Học nguồn chuẩn. Gần thiện hữu. Thực hành. Tạo duyên cho TẤN: Lịch đều. Việc nhỏ. Tạo duyên cho NIỆM: Hơi thở. Điểm nhắc. Tứ Niệm Xứ. Tạo duyên cho ĐỊNH: Giảm tán. Giữ giới. Một đối tượng. Tạo duyên cho TUỆ: Kinh. Trạch pháp. Quán. Thực nghiệm.

X. NGŨ CĂN VÀ BÁT PHONG

Khi ĐƯỢC: Tín: Không quên hướng. Tấn: Không phóng. Niệm: Biết vui. Định: Không bay. Tuệ: Thấy vô thường. Khi MẤT: Tín: Không mất đường. Tấn: Xử lý. Niệm: Biết khổ thọ. Định: Đứng. Tuệ: Thấy duyên đổi. Khi KHEN: Niệm: Biết thích. Tuệ: Không lấy khen làm ngã. Khi CHÊ: Niệm: Biết đau. Định: Không trả.

Tuệ: Lọc đúng sai. Đây là Ngũ lực bước ra đời.

XI. NGŨ CĂN VÀ NGŨ UẨN

SẮC đổi: Tuệ thấy. THỌ sinh: Niệm biết. TƯỞNG gắn nhãn: Tuệ soi. HÀNH muốn phản ứng: Tấn giữ. THỨC biết: Niệm và Định làm rõ. Ngũ căn giúp năm uẩn không bị nắm thành một khối “tôi”.

XII. BỐN CÔNG THỨC HÒA TRONG NGŨ CĂN

TÍN: Giữ hướng. TẤN: Làm. NIỆM: THẤY + NHẬN. ĐỊNH: TỈNH + KHÔNG DÍNH. TUỆ:

SOI + THẤY + KHÔNG CHẤP + BUÔNG + SÁNG.

Vậy năm căn là năm năng lực chạy xuyên cả bốn công thức.

XIII. VÍ DỤ: BỊ CHÊ

Người nói một câu. NIỆM: Biết thọ khó chịu.

→ THẤY.

TẤN: Không nói theo sân.

→ BỎ ÁC.

ĐỊNH: Đứng lại.

→ KHÔNG DÍNH.

TUỆ: Lời này đúng phần nào?

→ SOI – THẤY.

TÍN: Không vì một lời chê mà phá đường tu.

→ TÍN – GIỚI – ĐỊNH.

Lặp nhiều lần: CĂN

→ LỰC.

XIV. VÍ DỤ: ĐƯỢC KHEN

Niệm: Biết vui. Tuệ: Thấy vô thường. Tấn: Không nuôi ngã. Định: Không chạy theo thêm. Tín: Không quên mục đích. Khen đi qua. Pháp ở lại. Đây là: THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

XV. VÍ DỤ: TÂM MỆT

Tín: Không bỏ đường. Tấn: Không buông xuôi. Niệm: Biết thân mệt hay tâm né. Định: Không chạy nhiều việc. Tuệ: Chọn nghỉ hay tiếp. Đây là: THẬT

→ TÍN

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

XVI. VÍ DỤ: NGHI PHÁP

Niệm: Biết nghi. Tuệ: Kiểm nguồn. Tấn: Học. Định: Không đổi liên tục. Tín: Được củng cố sau kiểm chứng. Đây là: THẤY

→ TỈNH

→ SÁNG.

XVII. TỪ CĂN THÀNH LỰC

TÍN CĂN → TÍN LỰC:

Tin vì nghe

→ hiểu

→ hành

→ kiểm chứng.

TẤN CĂN → TẤN LỰC:

Có hứng mới làm

→ không hứng vẫn làm đúng mức.

NIỆM CĂN → NIỆM LỰC:

Biết sau

→ biết trong

→ biết trước.

ĐỊNH CĂN → ĐỊNH LỰC:

Tâm ở vài giây

→ ở lâu hơn

→ cảnh mạnh vẫn biết đường trở về.

TUỆ CĂN → TUỆ LỰC:

Thuộc “vô thường”

→ gặp mất mát vẫn thấy vô thường.

XVIII. CHỮ “LỰC” TRONG CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC

Không nên nói “lực” như một khối năng lượng mơ hồ. Có thể diễn đạt chuẩn hơn:

NHIỀU THIỆN PHÁP ĐƯỢC LẶP,

GIỚI ĐƯỢC GIỮ,

ĐỊNH VÀ TUỆ ĐƯỢC NUÔI LÂU NGÀY,

TẠO THÀNH MỘT SỨC VỮNG CỦA TÂM.

Công thức: THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

Trong đó: THẬT: Sống không tự lừa. TÍN: Giữ lời, đáng tin; tín tâm đúng pháp cần có tuệ. THIỆN: Tạo nghiệp lành. GIỚI: Giảm hối. ĐỊNH: Tâm có chỗ đứng. TUỆ: Thấy đúng. LỰC: Tín – Tấn – Niệm – Định – Tuệ ngày càng vững.

XIX. NGŨ CĂN TRONG NIỆM PHẬT

TÍN: Tin pháp môn theo nguồn truyền thống. TẤN: Niệm đều. NIỆM: Biết câu niệm. ĐỊNH: Ở với Phật hiệu. TUỆ: Biết vọng là vọng, không chấp cảnh.

XX. NGŨ CĂN TRONG HỌC VÀ GIẢNG PHÁP

TÍN: Tôn trọng kinh. TẤN: Học đều. NIỆM: Không nói trôi nguồn. ĐỊNH: Đi sâu một vấn đề. TUỆ: Phân biệt: LỜI PHẬT. ĐẠI Ý. CHÚ GIẢI. HỆ THỐNG HÓA. Đây là chuẩn căn bản của việc học và giảng Pháp.

XXI. BÀI THỰC HÀNH 5 NGÀY

NGÀY 1 – TÍN: Chọn một điều mình tin. Tìm nguồn. Hỏi: Đã hiểu chưa? Đã hành chưa? NGÀY 2 – TẤN: Chọn một thiện nhỏ. Làm đúng giờ dù không hứng. NGÀY 3 – NIỆM: Bắt mười lần tâm đổi. NGÀY 4 – ĐỊNH: Chọn một đối tượng. Ở đều. Không đổi liên tục. NGÀY 5 – TUỆ: Chọn một tình huống.

Soi: Vô thường? Duyên? Thọ? Chấp? Điều gì phải buông?

XXII. NHẬT KÝ NGŨ CĂN

Mỗi tối hỏi: TÍN: Hôm nay tôi có giữ đúng hướng không? TẤN: Việc thiện nào tôi đã làm dù không hứng? NIỆM: Tôi biết tâm sớm ở đâu? ĐỊNH: Lúc nào tâm đứng được? TUỆ: Hôm nay tôi thấy đúng điều gì mà trước đây thường chấp?

XXIII. NHỮNG LỖI HIỂU SAI

TÍN = TIN MÙ: SAI. TẤN = KIỆT SỨC: SAI.

NIỆM = CHỈ CHÚ Ý HIỆN TẠI:

QUÁ HẸP. ĐỊNH = NGỒI YÊN: SAI. TUỆ = NÓI GIỎI: SAI.

XXIV. CÂU GHI NHỚ

CĂN LÀ GỐC ĐANG NUÔI.

LỰC LÀ GỐC ĐÃ ĐỦ MẠNH.

TÍN CHO CHÂN BƯỚC. TUỆ CHO MẮT NHÌN.

TINH TẤN CHO ĐỘNG LỰC.

ĐỊNH CHO ĐỘ SÂU. NIỆM LÀ CÁI CÂN.

TUỆ THÀNH LỰC KHI ĐIỀU MÌNH HIỂU ĐỨNG ĐƯỢC LÚC ĐỜI THỬ.

NIỆM THÀNH LỰC KHI TÂM VỪA ĐI LÀ MÌNH BIẾT.

ĐỊNH LỰC KHÔNG PHẢI CẢNH HẾT MẠNH.

LÀ TÂM NGÀY CÀNG CÓ ĐƯỜNG TRỞ VỀ.

LỰC KHÔNG SINH TỪ MỘT LẦN CỐ.

LỰC SINH TỪ MỘT PHẨM CHẤT ĐƯỢC NUÔI ĐỦ LÂU.

XXV. CÂU KẾT

Một lần tin: Chưa thành Tín lực. Một lần cố: Chưa thành Tấn lực. Một lần chánh niệm: Chưa thành Niệm lực. Một lần yên: Chưa thành Định lực. Một lần hiểu: Chưa thành Tuệ lực. Phải: NUÔI. LẶP. SỐNG. THỬ TRONG CẢNH. Rồi: Tín không còn chỉ do nghe. Tinh tấn không còn chỉ do hứng. Niệm không còn tới quá trễ.

Định không còn chỉ có khi ngồi. Tuệ không còn chỉ ở sách. Đó là lúc: CĂN THÀNH LỰC.

CÔNG THỨC TAM TẠNG:

BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

cần: Tấn để làm. Niệm để biết. Định để giữ. Tuệ để làm sạch đúng chỗ.

CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC:

THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

đi rất gần tinh thần Ngũ lực. Nhưng phải phân biệt: CHỮ TÍN ĐỜI SỐNG: Giữ lời, đáng tin. SADDHĀ: Tín tâm đúng pháp.

CÔNG THỨC BUÔNG:

NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

Niệm: NHẬN. Tuệ: SOI. Định: KHÔNG DÍNH. Tấn: KHÔNG NUÔI. Tín: KHÔNG BỎ ĐƯỜNG.

CÔNG THỨC PHẬT:

THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

Niệm: THẤY. Tinh tấn: GIỮ TỈNH. Định: GIÚP BUÔNG. Tuệ: SÁNG. Tín: GIỮ HƯỚNG. CÂU CUỐI:

ĐỪNG HỎI MÌNH CÓ “LỰC” HAY CHƯA.

HÃY HỎI MỖI NGÀY:

TÍN CÓ ĐÚNG HƠN KHÔNG?

TẤN CÓ BỀN HƠN KHÔNG?

NIỆM CÓ SỚM HƠN KHÔNG?

ĐỊNH CÓ VỮNG HƠN KHÔNG?

TUỆ CÓ SÁNG HƠN KHÔNG?

NĂM CÁI ẤY ĐỦ LÂU –

LỰC TỰ THÀNH.

CHƯƠNG 33
TỨ VÔ LƯỢNG TÂM – TỪ, BI, HỶ, XẢ

Pāli:

cattāro brahmavihārā.

Sanskrit:

catvāro brahmavihārāḥ. Tiếng Việt: Tứ Vô Lượng Tâm / Bốn Phạm trú. Gồm:

1. mettā / maitrī – Từ.

2. karuṇā – Bi.

3. muditā – Hỷ, tùy hỷ.

4. upekkhā / upekṣā – Xả.

Nguồn quan trọng:

DN 13 – Tevijja Sutta – Kinh Tam Minh.

Trong các bản kinh về Phạm trú, hành giả được mô tả là an trú tâm Từ, Bi, Hỷ, Xả và biến mãn các phương với tâm rộng lớn, vô lượng, không sân, không hại. Nguồn về tâm Từ: Karaṇīya Mettā Sutta – Kinh Từ / Kinh Lòng Từ, Sutta Nipāta 1.8; cũng được truyền tụng trong Khuddakapāṭha.

Nguồn quan trọng về tâm không sân:

MN 21 – Kakacūpama Sutta – Kinh Ví Dụ Cái Cưa.

I. “VÔ LƯỢNG” KHÔNG CÓ NGHĨA THÂN CÓ NĂNG LƯỢNG VÔ HẠN

Vô lượng: Không đóng thiện ý chỉ cho phe mình. Không phải: Không bao giờ mệt. Phải giúp tất cả mọi người. Không có ranh giới. Câu nhớ: TÂM CÓ THỂ RỘNG.

KHẢ NĂNG CỦA THÂN VẪN CÓ GIỚI HẠN.

II. TỪ – METTĀ / MAITRĪ

Từ: Thiện ý. Mong chúng sinh được an. Không muốn gây hại. Từ không đồng nghĩa: THÍCH. Mình có thể: Không thích một người. Không đồng ý. Không muốn ở gần. Nhưng vẫn: Không muốn họ bị hại. Không muốn trả thù. Không muốn họ tạo thêm ác nghiệp. Câu nhớ:

TỪ KHÔNG BẮT MÌNH THÍCH TẤT CẢ MỌI NGƯỜI.

TỪ BẮT MÌNH ĐỪNG LẤY GHÉT LÀM LÝ DO MUỐN NGƯỜI KHÁC KHỔ.

III. TỪ VÀ CÔNG THỨC TAM TẠNG

Khi sân sinh: BỎ ÁC: Không nuôi ý hại. LÀM LÀNH: Khởi thiện ý. LÀM SẠCH TÂM: Không giữ sân. Từ chính là một cách thực hành: BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

IV. TỪ VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

Khi bị làm đau: NHẬN: Đang đau. SOI: Có sân không? THẤY: Có muốn trả không? KHÔNG DÍNH: Chưa hành. KHÔNG CHẤP: Không lấy sân làm chính nghĩa tuyệt đối. BUÔNG: Bỏ ý hại.

AN:

Tâm nhẹ. Từ có thể bắt đầu bằng câu:

“TÔI CHƯA THƯƠNG ĐƯỢC, NHƯNG TÔI KHÔNG MUỐN TẠO THÊM HẠI.”

V. TỪ VÀ GIỚI

Nếu nói có lòng Từ mà: Chửi. Hại. Vu khống. Thao túng. thì phải xem lại. Công thức Định lực: THẬT: Tôi đang sân hay thương? TÍN: Không lừa bằng tình cảm. THIỆN: Nuôi thiện ý. GIỚI: Không hại. ĐỊNH: Không để tâm bốc. TUỆ: Biết hành động đúng. LỰC: Gặp người khó vẫn không dễ tạo nghiệp.

VI. KINH VÍ DỤ CÁI CƯA

Nguồn:

MN 21 – Kakacūpama Sutta.

Điểm thực hành mạnh: Không nuôi sân và ác ý ngay cả khi bị đối xử rất tệ. Không được dùng bài kinh này để bắt nạn nhân tiếp tục chịu bạo hành. Người tu vẫn có thể: Rời nơi nguy hiểm. Báo người có trách nhiệm. Đặt ranh giới. Bảo vệ thân mạng. Câu nhớ: TỪ BỎ Ý HẠI.

TUỆ QUYẾT ĐỊNH RANH GIỚI.

VII. BI – KARUṆĀ

Karuṇā: Bi, lòng bi mẫn. Có thể hiểu: Thấy khổ và mong khổ được giảm. Từ hỏi: “Làm sao người này được an?” Bi hỏi: “Làm sao nỗi khổ này được nhẹ?”

VIII. BI PHẢI BẮT ĐẦU BẰNG THẤY

Không thấy khổ đúng: Dễ giúp sai. Một người nghiện: Cho thêm thứ họ nghiện có thể không phải Bi. Một người sai: Che lỗi có thể nuôi nghiệp. Công thức Phật: THẤY: Khổ thật là gì? TỈNH: Không hành chỉ theo cảm xúc. BUÔNG: Không cần người kia công nhận mình. SÁNG: Giúp đúng.

IX. BI VÀ TỨ DIỆU ĐẾ

Bi có Tuệ hỏi: KHỔ GÌ? DO GÌ?

CÁI GÌ CÓ THỂ GIẢM?

ĐẠO NÀO CẦN DÙNG? Từ bi vì vậy phải đứng trên Chánh kiến.

X. BI KHÔNG PHẢI THƯƠNG HẠI

Bi không nhìn xuống người đau. Bi đứng cạnh cái khổ mà không quay mặt.

XI. BI VÀ CÔNG THỨC TAM TẠNG

BỎ ÁC: Không lợi dụng người đang yếu. LÀM LÀNH: Giúp trong khả năng. LÀM SẠCH TÂM: Không sinh ngã “tôi là ân nhân”.

XII. BI VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

NHẬN: Tôi muốn giúp. SOI: Động cơ gì? THẤY: Bi hay nhu cầu được cần? KHÔNG DÍNH: Không cần người kia biết ơn. KHÔNG CHẤP: Không sở hữu người được giúp. BUÔNG: Kết quả ngoài quyền.

AN:

Làm đúng phần. Câu nhớ:

BI LÀM PHẦN CÓ THỂ LÀM.

XẢ BUÔNG PHẦN KHÔNG THỂ ĐIỀU KHIỂN.

XIII. BI KHÔNG CÓ XẢ DỄ KIỆT

Thấy ai đau cũng ôm vào mình: Có thể kiệt. Bi cần: Xả. Giới hạn. Tuệ. Tứ Vô Lượng Tâm đi cùng nhau.

XIV. HỶ – MUDITĀ

Muditā: Hỷ, tùy hỷ. Vui trước thiện và hạnh phúc chân chính của người khác. Phải phân biệt: pīti – Hỷ giác chi. muditā – Hỷ vô lượng / tùy hỷ. Hai thuật ngữ khác nhau.

XV. HỶ VÀ GANH

Tâm ganh hỏi: “Sao họ có mà tôi không?” Hỷ nói: “Thiện của người khác không lấy mất thiện của tôi.” Câu nhớ:

TÂM GANH NGHĨ HẠNH PHÚC NGƯỜI KHÁC LẤY MẤT PHẦN MÌNH.

TÂM HỶ BIẾT THIỆN NGƯỜI KHÁC KHÔNG LÀM THIỆN CỦA MÌNH NHỎ ĐI.

XVI. HỶ VÀ BÁT PHONG

Người khác: Được. Có danh. Được khen. Mình có thể ganh. Muditā: Tùy hỷ với điều thiện. Không cần hạ người khác để nâng mình.

XVII. HỶ PHẢI CÓ TRẠCH PHÁP

Không tùy hỷ với: Lừa đảo. Hại người. Tà nghiệp. Hỷ hướng tới: Thiện. Điều lành. Hạnh phúc chân chính.

XVIII. HỶ VÀ CÔNG THỨC PHẬT

Thấy người khác thành công: THẤY: Có ganh không? TỈNH: Không nuôi so sánh. BUÔNG: Bỏ “tại sao không phải tôi?” SÁNG: Thấy mỗi người có duyên riêng. Rồi Hỷ có thể sinh.

XIX. HỶ VÀ CÔNG THỨC TAM TẠNG

BỎ ÁC: Bỏ ganh. LÀM LÀNH: Sinh tùy hỷ. LÀM SẠCH TÂM: Không hạ người khác để nâng mình. Câu nhớ:

HỶ LÀ THIỆN PHÁP RẤT SẠCH VÌ NÓ CHO PHÉP MÌNH VUI MÀ KHÔNG CẦN SỞ HỮU.

XX. HỶ VÀ ĐỊNH LỰC

THẬT: Nhận ganh nếu có. TÍN: Không vì ganh mà nói sai. THIỆN: Tùy hỷ. GIỚI: Không nói xấu. ĐỊNH: Không bị so sánh kéo. TUỆ: Thấy mỗi người có duyên. LỰC: Người khác tốt mà tâm mình vẫn rộng.

XXI. XẢ – UPEKKHĀ / UPEKṢĀ

Xả: Quân bình. Không phải: Mặc kệ. Lạnh. Không yêu. Không giúp. Xả là:

TÂM KHÔNG BỊ ÁI – SÂN KÉO LỆCH.

XXII. XẢ VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

Công thức: NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

Xả hỗ trợ rất mạnh: KHÔNG DÍNH. KHÔNG CHẤP. BUÔNG. Nhưng không đồng nhất toàn bộ Công thức Buông với upekkhā.

XXIII. XẢ KHÔNG PHẢI VÔ CẢM

Một người bệnh: Xả không nói: “Mặc họ.” Xả đúng: Thấy. Giúp. Không sở hữu kết quả. Câu nhớ: BI ĐƯA TAY RA.

XẢ KHÔNG XIỀNG TAY NGƯỜI KIA VÀO TAY MÌNH.

XXIV. XẢ VÀ NGHIỆP

Nguồn quan trọng về quán nghiệp:

AN 5.57 – Upajjhatthana Sutta – Kinh Những Điều Cần Thường Xuyên Quán Chiếu, tên Việt có thể khác theo bản dịch.

Tinh thần: Chúng sinh là chủ nhân và thừa tự nghiệp của mình. Không được dùng giáo lý nghiệp để đổ lỗi cho nạn nhân. Điểm thực hành: Mình không thể sống thay toàn bộ lựa chọn của người khác.

XXV. XẢ VÀ RANH GIỚI

Người kia: Lừa. Hại. Thao túng. TỪ: Không muốn họ khổ. BI: Thấy họ cũng đang bị bất thiện dẫn. HỶ: Nếu họ sửa, mình vui. XẢ: Không để mình bị kéo mãi. TUỆ: Đặt ranh giới. Câu nhớ:

RANH GIỚI KHÔNG ĐỐI LẬP TỪ BI.

CÓ LÚC RANH GIỚI NGĂN TÌNH THƯƠNG BIẾN THÀNH TIẾP TAY.

XXVI. XẢ VÀ BÁT PHONG

Được: Biết. Mất: Biết. Khen: Biết. Chê: Biết. Danh: Biết. Thất danh: Biết. Lạc: Biết. Khổ: Biết. Xả: Không chạy theo một phía. Không chống một phía.

XXVII. XẢ TRONG PHẠM TRÚ VÀ XẢ GIÁC CHI

Cùng từ: upekkhā. Nhưng: Xả trong Tứ Vô Lượng Tâm: Phạm trú. Xả trong Thất Giác Chi: Yếu tố giác ngộ. Có liên hệ về quân bình nhưng không hoàn toàn đồng nhất.

XXVIII. TỪ – BI – HỶ – XẢ PHẢI ĐI CÙNG NHAU

TỪ mà thiếu Tuệ: Dễ nuông. BI mà thiếu Xả: Dễ kiệt. HỶ mà thiếu Trạch pháp: Dễ vui sai. XẢ mà thiếu Từ Bi: Dễ lạnh. Câu nhớ: TỪ CHO ẤM. BI CHO SÂU. HỶ CHO RỘNG. XẢ CHO VỮNG.

XXIX. BỐN TÂM HÒA VỚI BỐN CÔNG THỨC

Một người làm mình đau: THẬT: Nhận đau. NHẬN – SOI – THẤY: Nhận sân và chấp. BỎ ÁC: Không trả. TỪ: Không muốn hại. BI: Thấy cả hai phía có khổ. HỶ: Nếu họ sửa, mình vui. XẢ: Nếu họ không sửa, không ép. GIỚI: Không hại. ĐỊNH: Không phản ứng tức thì. TUỆ: Đặt ranh giới. BUÔNG: Bỏ phần ngoài quyền.

AN:

Đi tiếp. Đây là một con đường liền mạch.

XXX. VÔ LƯỢNG KHÔNG PHẢI CHỈ THƯƠNG PHE MÌNH

Người thân: Thương dễ. Người trung tính: Khó hơn. Người làm mình đau: Khó nhất. Tu tập là mở rộng thiện ý. Nhưng không giả. Nếu chưa thương được: THẬT: “Tôi chưa thương được.” Nhưng có thể: “Tôi không nuôi ý hại.” Đó đã là tu.

XXXI. TỪ BI VÀ CHÁNH NGỮ

Nguồn:

MN 58 – Abhayarājakumāra Sutta – Kinh Vương Tử Vô Úy.

Nguyên tắc: Lời nói cần gắn với sự thật, lợi ích, đúng thời và lòng bi. Từ bi không có nghĩa: Chỉ nói dễ nghe. Có lúc lời đúng: Khó nghe. Nhưng nếu: ĐÚNG. CÓ ÍCH. ĐÚNG THỜI. KHÔNG CÓ Ý HẠI. thì có thể là Chánh ngữ.

XXXII. TỪ BI KHÔNG PHẢI NỊNH

Khen sai: Không phải Từ. Che sai: Không phải Bi. Không dám nói thật vì muốn được thích: Có thể là chấp. Công thức Phật: THẤY đúng. TỈNH trước sợ. BUÔNG nhu cầu được thích. SÁNG để nói đúng thời.

XXXIII. TỪ BI TRONG GIA ĐÌNH

Thương con: Không nhất thiết làm hết cho con. TỪ: Mong con an. BI: Giúp khi khổ. HỶ: Vui khi con trưởng thành. XẢ: Để con chịu trách nhiệm phần cần chịu. Câu nhớ:

TÌNH THƯƠNG CÓ TUỆ KHÔNG CHỈ HỎI:

“LÀM SAO HỌ ĐỠ ĐAU NGAY?”

MÀ CÒN HỎI:

“LÀM SAO HỌ TRƯỞNG THÀNH LÂU DÀI?”

XXXIV. TỪ BI TRONG QUAN HỆ

TỪ: Không nói hại. BI: Thấy nỗi khó. HỶ: Vui khi người kia tốt. XẢ: Không sở hữu. BUÔNG: Không phải bỏ tình nghĩa. Là bỏ quyền sở hữu người khác.

XXXV. TỪ BI TRONG HOẰNG PHÁP

Giảng Pháp không chỉ cần đúng. Còn cần: Đúng người. Đúng lúc. Đúng mức. Người đang đau: Không ném triết lý quá sớm. Người đang sai: Cần nói rõ. Đây là: BI + TRẠCH PHÁP.

XXXVI. TỪ BI VÀ NGUỒN KINH

Nói sai nguồn để người nghe vui: Không phải Từ bi. Trong hoằng pháp: THẬT: Là Từ. CHUẨN NGUỒN: Là Bi.

VUI KHI NGƯỜI KHÁC GIẢNG HAY:

Là Hỷ. KHÔNG GIỮ CÔNG: Là Xả.

XXXVII. HỶ TRONG HOẰNG PHÁP

Thấy người khác giảng đúng, làm lợi ích: Vui. Không cần: “Phải tôi mới được.” Câu nhớ:

PHÁP ĐƯỢC LAN RỘNG BỞI AI CŨNG ĐÁNG VUI, MIỄN CHÁNH PHÁP ĐƯỢC GIỮ ĐÚNG.

XXXVIII. XẢ TRONG HOẰNG PHÁP

Làm phần mình: Chuẩn. Rõ. Có Từ. Có nguồn. Người nghe thực hành đến đâu: Không thể kiểm soát hết. Không biến người nghe thành: “người của tôi.”

XXXIX. TỪ BI VÀ NGHIỆP

Từ không thể sống thay nghiệp người. Có thể: Khuyên. Giúp. Tạo duyên. Nhưng không kiểm soát mọi lựa chọn. Câu nhớ:

CÓ LÚC TỪ BI LÀ ĐƯA TAY.

CÓ LÚC TỪ BI LÀ LÙI MỘT BƯỚC ĐỂ NGƯỜI KIA TỰ BƯỚC.

XL. TỨ VÔ LƯỢNG TÂM VÀ NĂM TRIỀN CÁI

TỪ: Giúp đối diện sân. BI: Chống xu hướng quay lưng trước khổ. HỶ: Giúp giảm ganh. XẢ: Giúp tâm quân bình trước ái-sân. Không nên biến thành hệ đối trị một-một cứng nhắc.

XLI. TỨ VÔ LƯỢNG TÂM VÀ NGŨ CĂN – NGŨ LỰC

TÍN: Tin giá trị thiện pháp. TẤN: Tập Từ – Bi – Hỷ – Xả. NIỆM: Biết sân, ganh, chấp. ĐỊNH: Giữ tâm với thiện pháp. TUỆ: Biết thương thế nào, giúp thế nào, dừng ở đâu. Ngũ căn mạnh: Tứ Vô Lượng Tâm bớt cảm tính.

XLII. TỨ VÔ LƯỢNG TÂM VÀ TỨ DIỆU ĐẾ

TỪ: Mong an. BI: Thấy Khổ. HỶ: Vui khi thiện và đường ra khổ tăng. XẢ: Không chấp mình là người cứu. Tuệ tiếp tục hỏi: TẬP Ở ĐÂU? ĐẠO NÀO CẦN?

XLIII. TỨ VÔ LƯỢNG TÂM VÀ DUYÊN KHỞI

Một người sân: Có duyên. Một người tham: Có duyên. Một người tổn thương: Có duyên. Hiểu duyên: Không xóa trách nhiệm. Nhưng làm giảm ghét. Câu nhớ:

HIỂU DUYÊN KHÔNG XÓA TRÁCH NHIỆM.

HIỂU DUYÊN LÀM LÒNG BI CÓ THÊM TUỆ.

XLIV. TẠO DUYÊN CHO BỐN TÂM

Muốn Từ mạnh: Đừng nuôi nội dung hận. Muốn Bi mạnh: Đừng quay mặt trước khổ. Muốn Hỷ mạnh: Tập tán thán thiện. Muốn Xả mạnh: Quán vô thường, nghiệp và giới hạn kiểm soát.

XLV. TỨ VÔ LƯỢNG TÂM VÀ NGŨ UẨN

THỌ khó chịu: Không phải lý do để hại. Đó là Từ. TƯỞNG về người khác: Có thể sai. Đó là chỗ Bi cần Tuệ. HÀNH ganh: Có thể được huân bằng muditā. CHẤP người thân là “của tôi”: Có thể được nới bằng Xả.

XLVI. THỰC HÀNH TỪ

Bắt đầu với mình: Không tự hại. Không tự nói độc. Biết nghỉ. Biết sửa. Câu nhớ:

TỪ VỚI MÌNH KHÔNG PHẢI CHIỀU MÌNH.

LÀ KHÔNG DÙNG CHÍNH MÌNH LÀM NƠI TRÚT SÂN.

Sau đó: Người thân. Người trung tính. Người khó. Với người khó, có thể chỉ cần:

“MONG NGƯỜI NÀY KHÔNG TẠO THÊM NGUYÊN NHÂN KHỔ CHO MÌNH VÀ NGƯỜI.”

XLVII. THỰC HÀNH BI

THẤY KHỔ. HỎI:

“PHẦN NÀO TÔI THẬT SỰ GIÚP ĐƯỢC?”

GIÚP. RỒI XẢ. Công thức: THẤY KHỔ

→ SOI DUYÊN

→ GIÚP ĐÚNG

→ BUÔNG KẾT QUẢ.

XLVIII. THỰC HÀNH HỶ

Mỗi ngày: Nhìn ít nhất ba điều thiện của người khác. Không cần nói ra. Chỉ tập thấy thiện. Khi ganh sinh: THẬT: “Đang ganh.” THẤY. TỈNH. BUÔNG SO SÁNH. Nhớ: Đường người khác không lấy mất đường mình.

XLIX. THỰC HÀNH XẢ

Ba câu hỏi:

1. Việc này có thuộc trách nhiệm của tôi không?

2. Tôi có thể ảnh hưởng tới đâu?

3. Phần nào ngoài quyền?

Công thức: PHẦN CỦA MÌNH

→ LÀM.

PHẦN CÙNG NHAU

→ TRAO ĐỔI.

PHẦN NGOÀI QUYỀN

→ BUÔNG.

L. BÀI THỰC HÀNH BỐN NGÀY

NGÀY 1 – TỪ: Không nói một lời hại khi có thể dừng. NGÀY 2 – BI: Giúp một việc thực tế mà không đòi biết ơn. NGÀY 3 – HỶ: Tán thán một điều thiện của người khác. NGÀY 4 – XẢ: Làm phần mình trong một việc rồi buông phần ngoài quyền.

LI. MỘT TÌNH HUỐNG ĐẦY ĐỦ

Một người làm mình thất vọng. THẬT: Tôi đang đau. NIỆM: Biết thọ. TRẠCH PHÁP: Họ sai gì? Tôi chấp gì? TỪ: Không muốn hại. BI: Thấy cả hai phía có khổ. HỶ: Nếu họ sửa, mình vui. XẢ: Nếu họ không sửa, không ép. GIỚI: Không nói ác. ĐỊNH: Không phản ứng ngay. TUỆ: Chọn ranh giới. BUÔNG:

Bỏ phần ngoài quyền.

AN:

Đi tiếp. Đây là Tứ Vô Lượng Tâm và bốn công thức hòa thành một con đường.

LII. NHỮNG LỖI HIỂU SAI

TỪ = THÍCH TẤT CẢ: SAI. BI = CỨ GIÚP: SAI.

HỶ = VUI VỚI MỌI THÀNH CÔNG:

SAI. XẢ = MẶC KỆ: SAI.

TỪ BI = KHÔNG ĐƯỢC GIẬN:

SAI.

TỪ BI = KHÔNG CẦN RANH GIỚI:

SAI.

XẢ = KHÔNG CÒN YÊU:

SAI.

LIII. CÂU GHI NHỚ

TỪ LÀM MÌNH KHÔNG MUỐN HẠI.

BI LÀM MÌNH KHÔNG QUAY LƯNG TRƯỚC KHỔ.

HỶ LÀM MÌNH KHÔNG GANH TRƯỚC THIỆN CỦA NGƯỜI.

XẢ LÀM MÌNH KHÔNG BIẾN TÌNH THƯƠNG THÀNH SỞ HỮU.

TỪ BỎ Ý HẠI.

TUỆ QUYẾT ĐỊNH RANH GIỚI.

BI LÀM PHẦN CÓ THỂ LÀM.

XẢ BUÔNG PHẦN KHÔNG THỂ ĐIỀU KHIỂN.

TỪ CHO ẤM. BI CHO SÂU. HỶ CHO RỘNG. XẢ CHO VỮNG. TÂM CÓ THỂ RỘNG.

KHẢ NĂNG CỦA THÂN VẪN CÓ GIỚI HẠN.

LIV. CÂU KẾT

Từ – Bi – Hỷ – Xả không phải bốn chữ đẹp để treo. Nó phải đi vào: Một cơn sân. Một lần thấy người khác thành công. Một người đang khổ. Một mối quan hệ mình không thể điều khiển. Khi người làm mình đau: TỪ nói: ĐỪNG HẠI. BI nói:

HÃY THẤY CẢ CÁI KHỔ PHÍA SAU.

HỶ nói:

NẾU HỌ TỐT LÊN, HÃY THẬT LÒNG VUI.

XẢ nói:

ĐỪNG SỞ HỮU KẾT QUẢ.

CÔNG THỨC TAM TẠNG:

BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

Từ: Bỏ ý hại. Bi: Làm thiện. Hỷ: Bỏ ganh. Xả: Làm sạch thủ.

CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC:

THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

Thật với cảm xúc. Không giả Từ bi. Giữ tín. Nuôi thiện. Giữ giới. Đứng tâm. Dùng tuệ. Lặp đủ lâu: Từ bi thành lực.

CÔNG THỨC BUÔNG:

NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

Từ: Giúp không hại. Bi: Giúp soi sâu. Hỷ: Giúp không ganh. Xả: Giúp không nắm.

CÔNG THỨC PHẬT:

THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

Từ mà không thấy đúng: Dễ nuông. Bi mà không tỉnh: Dễ kiệt. Hỷ mà không Trạch pháp: Dễ sai. Xả mà không sáng: Dễ lạnh. Vì vậy: TỨ VÔ LƯỢNG TÂM KHÔNG RỜI GIỚI – ĐỊNH – TUỆ. KHÔNG RỜI TỨ DIỆU ĐẾ. KHÔNG RỜI DUYÊN KHỞI. KHÔNG RỜI TỨ NIỆM XỨ. KHÔNG RỜI NGŨ CĂN – NGŨ LỰC. KHÔNG RỜI BỐN CÔNG THỨC.

TẤT CẢ LÀ MỘT CON ĐƯỜNG.

CÂU CUỐI:

THƯƠNG MÀ KHÔNG HẠI

– ĐÓ LÀ TỪ.

THẤY KHỔ MÀ KHÔNG QUAY LƯNG

– ĐÓ LÀ BI.

THẤY NGƯỜI ĐƯỢC THIỆN MÀ KHÔNG GANH

– ĐÓ LÀ HỶ.

LÀM HẾT PHẦN MÌNH MÀ KHÔNG SỞ HỮU KẾT QUẢ

– ĐÓ LÀ XẢ.

BỐN TÂM ẤY ĐI CÙNG TUỆ –

TÌNH THƯƠNG MỚI THÀNH CON ĐƯỜNG TU- GIẢI THOÁT

CHƯƠNG 34
HỘ TRÌ SÁU CĂN – CĂN GẶP CẢNH MÀ KHÔNG ĐỂ THAM SÂN KÉO ĐI

Sáu căn:

Pāli:

cakkhu – mắt. sota – tai. ghāna – mũi. jivhā – lưỡi. kāya – thân. mano – ý.

Sanskrit:

cakṣus. śrotra. ghrāṇa. jihvā. kāya. manas. Đối tượng: sắc. thanh. hương. vị. xúc. pháp. Nguồn kinh rất quan trọng:

SN 35 – Saḷāyatana-saṃyutta – Tương Ưng Sáu Xứ.

MN 27 – Cūḷahatthipadopama Sutta – Kinh Tiểu Ví Dụ Dấu Chân Voi.

MN 152 – Indriyabhāvanā Sutta – Kinh Tu Tập Các Căn / Phát Triển Các Căn.

Trong nhiều kinh về tiến trình tu tập tuần tự, khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng và các căn tiếp xúc cảnh, hành giả được dạy phòng hộ để tham ưu và bất thiện pháp không xâm nhập. Hộ trì căn không phải đóng sáu cửa. Hộ trì là: GẶP CẢNH

MÀ KHÔNG ĐỂ TÂM NẮM CẢNH THEO CÁCH LÀM BẤT THIỆN LỚN LÊN.

Câu nhớ:

TU KHÔNG PHẢI ĐỢI TÂM CHÁY RỒI MỚI DẬP.

HỘ TRÌ CĂN LÀ THẤY TIA LỬA TỪ KHI NÓ VỪA CHẠM CỬA.

I. CĂN – CẢNH – THỨC – XÚC – THỌ

Khi căn gặp cảnh cùng thức tương ứng: Có xúc.

Pāli:

phassa.

Sanskrit:

sparśa. Xúc không chỉ là đụng vật lý. Trong kinh điển sớm, xúc liên hệ sự gặp của: căn, cảnh, thức tương ứng. Từ xúc: vedanā – thọ có thể sinh. Thọ: dễ chịu. khó chịu. trung tính. Thọ chưa phải ái. Câu rất quan trọng: THỌ CÓ THỂ SINH.

ÁI KHÔNG NHẤT THIẾT PHẢI ĐI THEO.

II. HỘ TRÌ KHÔNG PHẢI ĐÓNG CỬA

Không có nghĩa: Không nhìn. Không nghe. Không giao tiếp. Không ra đời. Không dùng phương tiện. Hộ trì là: Cảnh có đó. Căn tiếp xúc. Nhưng tâm không nhất thiết chạy theo. Câu nhớ:

KHÔNG PHẢI ĐÓNG CỬA GIÁC QUAN.

LÀ ĐỪNG ĐỂ CẢNH BƯỚC QUA CỬA RỒI NGỒI LÊN NGAI.

III. MẮT – CAKKHU / CAKṢUS

Mắt thấy sắc. Cái thấy tự nó không nhất thiết là tham. Có thể: THẤY. Tưởng nhận: “đẹp.” Thọ: dễ chịu. Tâm: “muốn.” Nếu thiếu niệm: SẮC

→ XÚC

→ THỌ

→ ÁI

→ THỦ

→ HÀNH ĐỘNG.

Nếu có Pháp: SẮC

→ XÚC

→ THỌ

→ BIẾT

→ DỪNG

→ SOI

→ CHỌN.

Ngay đây: THẤY: Biết cảnh. NHẬN: Biết thọ. SOI: Biết cái muốn. TỈNH: Không chạy ngay. KHÔNG DÍNH: Không tiếp tục nuôi. KHÔNG CHẤP: Không bắt cảnh phải thuộc mình. BUÔNG: Nới cái nắm.

AN:

Tâm nhẹ. BỎ ÁC: Không làm điều sai. LÀM LÀNH: Chọn hành động thiện. LÀM SẠCH TÂM: Tham yếu. ĐỊNH: Tâm đứng. TUỆ: Thấy cơ chế. LỰC: Lần sau biết sớm hơn.

IV. TƯỚNG CHUNG – TƯỚNG RIÊNG

Trong các công thức kinh điển về hộ trì căn, khi thấy sắc, hành giả không nắm giữ tướng chung và tướng riêng khiến tham ưu và pháp bất thiện có cơ hội sinh. Không nên hiểu: “Không được nhận diện hình dạng.” Điểm thực hành là: Đừng khai thác cảnh theo hướng nuôi tham/sân.

Thấy một cảnh đẹp. Nhìn lại. Soi từng chi tiết. Tưởng thêm. Muốn thêm. Cảnh đã qua. Nhưng tâm tiếp tục tự sản xuất cảnh. Hộ trì nằm ngay đó.

V. TAI – SOTA / ŚROTRA

Tai nghe tiếng. Một lời khen: Thọ dễ chịu. Một lời chê: Thọ khó chịu. Âm thanh vài giây. Tâm có thể giữ hàng năm. Câu nhớ: ÂM THANH ĐI NHANH.

TÂM CÓ THỂ GIỮ RẤT LÂU.

VI. KHI NGHE LỜI CHÊ

Tai: Nghe. Thức: Biết. Tưởng: Nhận nghĩa. Thọ: Khó chịu. Hành: Muốn trả. Nếu không có niệm: Khẩu nghiệp có thể sinh. Nếu có niệm: THẬT: Tôi đang đau. GIỚI: Chưa nói độc. ĐỊNH: Đứng lại. TUỆ: Lời này đúng hay sai? Đúng: Sửa. Sai: Buông hoặc trả lời đúng lúc nếu cần. Một lời chê có thể trở thành nơi thực hành:

GIỚI – ĐỊNH – TUỆ.

VII. ĐỪNG NGHE THÊM BẰNG TƯỞNG

Người kia nói: “Việc này chưa tốt.” Tâm tự thêm: “Họ ghét tôi.” “Họ coi thường tôi.” “Họ muốn hạ tôi.” Phải hỏi:

CÁI NÀO TÔI THẬT SỰ NGHE?

CÁI NÀO TÔI ĐANG DIỄN GIẢI?

Đây là Trạch pháp.

VIII. KHEN CŨNG CẦN HỘ TRÌ

Tai nghe: “Hay quá.” Thọ: Vui. Tưởng: “Mình giỏi.” Hành: Muốn thêm. Ngã: Phồng. Có niệm: Nhận lời khen. Cảm ơn. Không giả khiêm. Không dựng nhà trong khen. THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

IX. TAI VÀ CHÁNH NGỮ

Nghe độc: Không nhất thiết trả độc. Chỉ một lần dừng: BỎ ÁC đã xảy ra. Giới ngăn triền cái biến thành khẩu nghiệp.

X. MŨI – GHĀNA / GHRĀṆA

Mũi gặp hương. Hương dễ: Thọ dễ. Hương khó: Thọ khó. Mùi không có lỗi. Điểm cần soi: Tâm nắm hay chống. Cảnh không nhất thiết là nghiệp. Tác ý và hành động mới là chỗ nghiệp cần soi.

XI. LƯỠI – JIVHĀ / JIHVĀ

Vị: Có thể sinh lạc thọ. Ăn ngon: Không tự động là tham. Tham bắt đầu khi tâm: Nắm. Đòi. Phải có. Không có thì sân. Có thì muốn thêm bất chấp hậu quả. Câu nhớ: THỌ NGON LÀ THỌ.

DỤC THAM BẮT ĐẦU KHI TÂM BIẾN CÁI NGON THÀNH ĐIỀU PHẢI CÓ.

XII. HỘ TRÌ LƯỠI

Không phải: Ăn dở. Mà: Biết đủ. Biết thân. Biết sức khỏe. Biết mục đích ăn. Công thức Định lực vận hành: THẬT: Thân cần bao nhiêu? TÍN: Không phá điều đã quyết chỉ vì thèm. THIỆN: Nuôi thân đúng. GIỚI: Không lấy sai để thỏa dục. ĐỊNH: Ăn có biết. TUỆ: Thấy vị sinh và diệt. LỰC: Có món ngon mà không bắt buộc phải lấy.

XIII. THÂN – KĀYA

Thân gặp: Nóng. Lạnh. Đau. Êm. Cứng. Mềm. Thọ sinh. Dễ chịu: Muốn giữ. Khó chịu: Muốn đẩy. Pháp bắt đầu:

BIẾT TRƯỚC KHI PHẢN ỨNG THÀNH NGHIỆP.

XIV. ĐAU THÂN VÀ KINH MŨI TÊN

Nguồn:

SN 36.6 – Sallattha Sutta – Kinh Mũi Tên.

Đau thân: Có thể là mũi tên đầu. Sân, tuyệt vọng, chống cự tâm lý: Có thể làm khổ tăng. Không được nói: “Đau chỉ do chấp.” Đau thân là thật. Có thể cần: Nghỉ. Đi khám. Điều trị. Chăm sóc. Buông không thay y khoa. Buông giảm phần nắm.

XV. CÔNG THỨC BUÔNG TRONG ĐAU

NHẬN: Đau. SOI: Đau ở đâu? THẤY: Phần nào là cảm giác? Phần nào là tưởng lo? KHÔNG DÍNH: Không kể thảm họa quá sớm. KHÔNG CHẤP: Không biến “đang đau” thành “đời tôi hỏng.” BUÔNG: Phần tưởng thừa.

AN:

Rồi chăm phần thân cần chăm.

XVI. Ý – MANO / MANAS

Ý là cửa rất mạnh. Người không còn trước mặt: Ý gọi lại. Việc chưa xảy ra: Ý dựng trước. Một lời cũ: Ý phát lại. Cho nên hộ trì căn không chỉ là tránh cảnh ngoài. Còn phải: HỘ TRÌ Ý.

XVII. PHÁP LÀ ĐỐI TƯỢNG CỦA Ý

Trong ngữ cảnh sáu căn: dhamma / dharmāḥ có thể nghĩa: Đối tượng tâm. Ý nghĩ. Ký ức. Khái niệm. Hình ảnh tâm. Không phải mỗi lần “dhamma” đều mang nghĩa “Phật pháp.” Phải đọc theo ngữ cảnh.

XVIII. HỘ TRÌ Ý KHÔNG PHẢI KHÔNG ĐƯỢC NGHĨ

Không thể ép: “Không nghĩ.” Hộ trì là: Biết ý đang đi đâu. Nếu bất thiện: Không nuôi. Tứ Chánh Cần vận hành ngay:

BẤT THIỆN CHƯA SINH:

NGĂN. BẤT THIỆN ĐÃ SINH: BỎ. THIỆN CHƯA CÓ: SINH. THIỆN ĐÃ CÓ: GIỮ.

XIX. MỘT Ý NGHĨ KHÔNG PHẢI MỘT MỆNH LỆNH

Tâm nghĩ: “Hãy gọi.” Không nhất thiết gọi. Tâm nghĩ: “Hãy trả.” Không nhất thiết trả. Tâm nghĩ: “Mua đi.” Không nhất thiết mua. Tâm nghĩ: “Bỏ cuộc.” Không nhất thiết bỏ. Câu nhớ:

MỘT Ý NGHĨ XUẤT HIỆN LÀ MỘT PHÁP ĐANG SINH.

NÓ CHƯA PHẢI MỘT QUYẾT ĐỊNH.

XX. Ý VÀ CÔNG THỨC PHẬT

Ý sân nổi: THẤY: Biết. TỈNH: Chưa hành. BUÔNG: Không tiếp chuyện. SÁNG: Thấy do duyên. Công thức Phật vận hành ngay trên ý căn.

XXI. SÁU THỨC

Mắt – sắc: Nhãn thức. Tai – thanh: Nhĩ thức. Mũi – hương: Tỷ thức. Lưỡi – vị: Thiệt thức. Thân – xúc: Thân thức. Ý – pháp: Ý thức.

Kinh nghiệm là một tiến trình duyên sinh.

Không cần giả định một chủ nhân bất biến đứng ngoài tiến trình để điều khiển tất cả.

XXII. XÚC – PHASSA / SPARŚA

Xúc là một điều kiện quan trọng. Căn + cảnh + thức tương ứng: Có xúc. Từ xúc: Thọ có thể sinh. Thọ: Chưa phải ái. Điểm tự do: THỌ SINH NHƯNG

ÁI KHÔNG NHẤT THIẾT PHẢI ĐI THEO.

XXIII. CHỖ TỰ DO BẮT ĐẦU

Không thể kiểm soát mọi cảnh. Không thể ngăn mọi thọ. Nhưng có thể tu:

CÓ HÀNH THEO KHÔNG?

GIỚI: Giữ hành vi. ĐỊNH: Giữ tâm. TUỆ: Thấy. Lặp: Thành lực.

XXIV. HỘ TRÌ KHÔNG PHẢI GHÉT CẢNH

Đẹp: Biết đẹp. Khó: Biết khó. Không cần phủ nhận. Chỉ: Không thêm tham-sân không cần thiết.

XXV. SÁU CĂN VÀ BÁT PHONG

Bát phong phần lớn đi vào qua: Thấy. Nghe. Nghĩ. Khen: Tai. Chê: Tai. Danh: Ý. Lạc – khổ: Thọ. Câu nhớ:

GIÓ ĐỜI THƯỜNG VÀO TÂM QUA SÁU CỬA.

XXVI. MẠNG XÃ HỘI

Mắt thấy bình luận. Thọ vui. Tưởng: “Người ta thích mình.” Hành: Muốn kiểm tiếp. Nếu thiếu niệm: Mở lại liên tục. Có Pháp: THẤY. NHẬN. SOI. TỈNH. BUÔNG. Khi bị chê: Mắt đọc. Thọ khó. Sân nổi. GIỚI: Đừng trả ngay. ĐỊNH: Dừng. TUỆ: Đúng hay sai? Đúng: Sửa. Sai: Buông hoặc trả lời đúng mức.

Một cái màn hình cũng có thể thành đạo tràng.

XXVII. CHỌN MÔI TRƯỜNG THÔNG TIN

Điện thoại liên tục đưa: Sắc. Thanh. Pháp. vào căn. Nếu không chủ động: Thuật toán chọn cảnh thay mình. Tứ Chánh Cần ở tầng phòng hộ:

BẤT THIỆN CHƯA SINH

→ GIẢM DUYÊN.

XXVIII. HỘ TRÌ KHÔNG PHẢI SỐNG TRONG BONG BÓNG

Phải: Làm việc. Giao tiếp. Giảng pháp. Gặp người. Xử lý đời. Cảnh vừa đủ: Là chỗ tập. Nhưng không cần tìm cảnh nguy hiểm để chứng minh mình mạnh.

XXIX. CẢNH MẠNH HƠN LỰC

Có thể: Rời. Tắt. Chặn. Giảm. Đổi nơi. Nghỉ. Câu nhớ:

BIẾT LỰC MÌNH CHƯA ĐỦ

CŨNG LÀ TUỆ.

XXX. THẬT VỚI MỨC ĐỘ DÍNH

Nói: “Tôi không dính.” Nhưng cứ tìm: Phải thật. Nói: “Tôi không sân.” Nhưng cứ đọc lại: Phải thật. Nói: “Tôi buông.” Nhưng cứ kiểm: Phải thật. Hộ trì căn bắt đầu ở chữ: THẬT.

XXXI. HỘ TRÌ CĂN VÀ GIỚI

Hộ căn: Giữ sớm. Giới: Giữ hành vi. Mắt thấy: Dục sinh. Nếu hộ được: Dừng sớm. Nếu chưa: Giới vẫn ngăn: Trộm. Tà hạnh. Hại. Hai pháp hỗ trợ nhau.

XXXII. HỘ TRÌ CĂN VÀ ĐỊNH

Căn chạy theo quá nhiều cảnh: Tâm tán. Hộ căn: Giảm vật liệu tán. Giới: Giảm hối. Tâm nhẹ: Định dễ phát triển hơn.

XXXIII. HỘ TRÌ CĂN VÀ TUỆ

Chỉ tránh: Chưa đủ. Tuệ thấy: Cảnh vô thường. Thọ vô thường. Ý muốn vô thường. Không cần nắm. Đó là chiều sâu.

XXXIV. HỘ TRÌ CĂN VÀ NGŨ CĂN – NGŨ LỰC

TÍN: Giữ hướng. TẤN: Phòng hộ. NIỆM: Biết căn đang gặp cảnh gì. ĐỊNH: Không chạy. TUỆ: Thấy hậu quả. Lặp đủ: Thành lực.

XXXV. HỘ TRÌ CĂN VÀ NĂM TRIỀN CÁI

Dục: Có thể được nuôi từ cảnh dễ chịu. Sân: Từ cảnh khó chịu. Hôn trầm: Có thể liên hệ thiếu tỉnh giác. Trạo: Có thể được nuôi bởi quá nhiều kích thích. Nghi: Có thể tăng khi ý tiêu thụ quá nhiều nguồn hỗn loạn. Câu nhớ:

MUỐN BIẾT TÂM ĐANG ĂN GÌ,

HÃY NHÌN SÁU CỬA.

XXXVI. HỘ TRÌ CĂN VÀ TỨ VÔ LƯỢNG TÂM

Thấy người ghét: TỪ – không hại. Nghe người khổ: BI – không quay mặt. Thấy người thành công: HỶ – không ganh. Nghĩ về người thương: XẢ – không sở hữu. Tứ Vô Lượng Tâm được tập ngay khi căn gặp cảnh.

XXXVII. HỘ TRÌ CĂN VÀ TỨ DIỆU ĐẾ

KHỔ: Thấy khổ do nắm. TẬP: Thấy ái – thủ. DIỆT: Thấy khả năng không tiếp tục nắm. ĐẠO: Chánh kiến, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Một cái nhìn cũng có thể trở thành nơi quán Tứ Diệu Đế.

XXXVIII. MỘT CẢNH NHỎ VÀ BỐN ĐẾ

Thấy món rất muốn. Không có: Khó chịu. Đó là Khổ. Thấy: “Tôi đang đòi phải có.” Đó là Tập. Buông được cái đòi: Tâm nhẹ. Đó là một sự chấm dứt cục bộ của ái đang có, không nên đồng nhất với sự chứng ngộ Diệt đế tối hậu. Biết lần sau: Dùng Niệm – Giới – Tuệ. Đó là Đạo.

XXXIX. HỘ TRÌ CĂN VÀ VÔ THƯỜNG

Một hình: Qua. Một tiếng: Qua. Một mùi: Qua. Một vị: Qua. Một xúc: Qua. Một ý: Qua. Câu nhớ: CẢNH ĐI RẤT NHANH. TÂM GIỮ RẤT LÂU.

XL. HỘ TRÌ CĂN VÀ VÔ NGÃ

Mắt thấy: Không hoàn toàn theo lệnh. Tai nghe: Không hoàn toàn theo lệnh. Thọ sinh: Không hoàn toàn theo lệnh. Ý nghĩ nổi: Không phải lúc nào cũng do mình chọn trước. Vậy: Cảnh là cảnh. Thọ là thọ. Ý là ý. Không cần dựng “tôi” quá nhanh.

XLI. TU CĂN KHÔNG PHẢI PHÂN LY KHỎI ĐỜI

Thấy mà biết: Không phải lạnh. Nghe mà không dính: Không phải vô cảm. Đau mà không thêm: Không phải đè. Câu nhớ:

TU KHÔNG LÀM GIÁC QUAN NGHÈO ĐI.

TU LÀM PHẢN ỨNG BỚT MÙ.

XLII. MN 152 – KINH TU TẬP CÁC CĂN

MN 152 – Indriyabhāvanā Sutta.

Bài kinh giúp thấy: Tu căn không đơn giản là: Mắt không thấy. Tai không nghe. Nếu chỉ như thế thì người mù hay người điếc đã tự động thành người tu căn giỏi. Điểm cốt lõi nằm ở:

CÁCH TÂM PHẢN ỨNG VỚI CẢNH ĐƯỢC THẤY, NGHE VÀ NHẬN BIẾT.

XLIII. PHƯƠNG PHÁP BA GIÂY Ở CỬA

Đây là phương pháp ứng dụng, không phải nguyên văn kinh. GIÂY 1: CẢNH GÌ? GIÂY 2: THỌ GÌ? GIÂY 3: TÂM MUỐN GÌ? Rồi mới hành. Ba giây có thể cứu: Một lời nói. Một lần mua. Một hành động. Một nghiệp.

XLIV. SÁU CỬA – MỘT NGƯỜI GÁC

Người gác: NIỆM. Nhưng Niệm không đủ nếu không biết đúng-sai. Cần: TRẠCH PHÁP – TUỆ. Công thức: NIỆM GIỮ CỬA. TUỆ NHẬN DIỆN. GIỚI NGĂN NGHIỆP. ĐỊNH GIỮ TÂM.

XLV. KHI CẢNH DỄ CHỊU

Hỏi: “Có thích không?” Nếu có: Biết. Hỏi: “Thích có đang thành đòi không?” Nếu đang đòi: Nới. Đây là: NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ BUÔNG.

XLVI. KHI CẢNH KHÓ CHỊU

Nhận: Khó. Hỏi: “Tôi cần xử lý cảnh hay chỉ đang chống thọ?” Cảnh nguy hiểm: Xử lý. Chỉ là thọ khó: Dừng, thở, không thêm sân. Đó là Tuệ.

XLVII. KHI Ý CỨ LẶP

Hỏi:

1. Đây là việc cần giải quyết hay chỉ đang lặp?

2. Nếu cần giải quyết, hành động cụ thể là gì?

3. Nếu không có hành động nào thêm, tại sao tôi còn nhai lại?

Làm phần cần làm. Phần còn lại: BUÔNG.

XLVIII. HỘ TRÌ CĂN TRONG ĂN UỐNG

Trước ăn: Thân cần hay tâm thèm? Trong ăn: Biết vị. Sau: Biết đủ. Không cần đạo đức hóa từng miếng. Chỉ đưa: NIỆM. BIẾT ĐỦ. TUỆ. vào.

XLIX. HỘ TRÌ CĂN TRONG MẠNG XÃ HỘI

Trước mở:

“TÔI MỞ ĐỂ LÀM GÌ?”

Trong xem:

“TÂM ĐANG THẾ NÀO?”

Sau:

“TÂM SÁNG HƠN HAY LOẠN HƠN?”

Đây là hộ trì căn thời hiện đại.

L. HỘ TRÌ CĂN TRONG TRANH LUẬN

Tai nghe. Thọ khó. Tưởng: “Họ sai.” Trước khi đáp: THẬT: Tôi có sân không? GIỚI: Câu sắp nói có ác khẩu không? TUỆ: Điều gì cần nói? TỪ: Có thể nói mà không hạ họ không? XẢ: Nói xong có cần thắng bằng mọi giá không? Một cuộc tranh luận có thể trở thành cả một bài tu.

LI. HỘ TRÌ CĂN TRONG HOẰNG PHÁP

Người khen: Không say. Người chê: Không sân. Số người xem tăng: Không lấy làm ngã. Giảm: Không mất đường. THẬT: Số liệu là số liệu. TÍN: Giữ hướng. THIỆN: Làm nội dung có ích. GIỚI: Không câu kéo bằng điều sai. ĐỊNH: Không chạy xu hướng vô tận. TUỆ: Dùng dữ liệu để học. LỰC: Làm đều mà không bị số liệu sở hữu.

LII. HỘ TRÌ CĂN TRONG TÌNH CẢM

Mắt thấy. Tai nghe. Thọ lạc. Tưởng lý tưởng hóa. Hành muốn sở hữu. Có Niệm: NHẬN: Thương. SOI: Thương hay cần? THẤY: Có muốn sở hữu không? KHÔNG DÍNH: Không điều khiển. KHÔNG CHẤP: Người kia không phải “của tôi”. BUÔNG: Phần ngoài quyền.

AN:

Tình thương nhẹ hơn.

LIII. HỘ TRÌ CĂN TRONG SỢ

Ý dựng tương lai. Thọ khổ. Hành muốn trốn. THẤY: Đây là hình ảnh tâm. THẬT: Cái gì đang xảy ra thật? SOI: Dữ kiện hay tưởng? ĐỊNH: Trở về thân/hơi thở. TUỆ: Việc nào cần làm? BUÔNG: Phần dự đoán ngoài dữ kiện.

LIV. HỘ TRÌ CĂN TRONG NỖI NHỚ

Người không có mặt. Ý gọi hình ảnh. Thọ sinh. Tưởng sinh. Hành sinh. Biết: “Ý căn đang gặp một pháp.” Thấy đúng: Độ dính giảm.

LV. HỘ TRÌ CĂN VÀ CÔNG THỨC PHẬT

THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG

trở thành cực kỳ cụ thể ở sáu căn. Mắt thấy: BIẾT. Tai nghe: BIẾT. Thọ sinh: BIẾT. Tâm muốn: BIẾT. Mỗi lần thấy được mình, tỉnh được một niệm, buông được một chấp: Là thêm một bước về phía giác ngộ. Không được nói: Buông một lần là thành Phật.

LVI. HỘ TRÌ CĂN VÀ LÀM SẠCH TÂM

Làm sạch tâm không phải: Không thấy đẹp. Không nghe hay. Không cảm. Mà: Thấy mà bớt tham. Nghe mà bớt sân. Ăn mà bớt dính. Đau mà bớt chống. Nghĩ mà bớt chấp. Đó là: BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM

ngay tại sáu cửa.

LVII. BẢNG CHẨN SÁU CĂN

Khi tâm động: MẮT vừa thấy gì? TAI vừa nghe gì? MŨI/LƯỠI/THÂN vừa nhận gì? Ý đang gặp pháp gì? THỌ nào vừa sinh? Tâm đang kéo hay đẩy? Giới có nguy cơ vỡ ở đâu? Phần nào cần làm? Phần nào cần buông?

LVIII. CÔNG THỨC CỰC GỌN

Đây là lời hệ thống hóa để thực hành, không phải câu kinh nguyên văn: CĂN

→ CẢNH

→ XÚC

→ THỌ

→ BIẾT

→ DỪNG

→ SOI

→ CHỌN.

Nếu thiếu Niệm: CĂN

→ CẢNH

→ XÚC

→ THỌ

→ ÁI

→ THỦ

→ PHẢN ỨNG.

Nếu có Pháp: THẤY

→ TỈNH

→ GIỮ GIỚI

→ SOI TUỆ

→ KHÔNG DÍNH

→ BUÔNG

→ AN.

LIX. CÂU GHI NHỚ

TU KHÔNG PHẢI ĐỢI TÂM CHÁY RỒI MỚI DẬP.

HỘ TRÌ CĂN LÀ THẤY TIA LỬA TỪ KHI NÓ VỪA CHẠM CỬA.

KHÔNG PHẢI ĐÓNG SÁU CỬA.

LÀ ĐỪNG ĐỂ CẢNH BƯỚC VÀO RỒI NGỒI LÊN NGAI.

THỌ CÓ THỂ SINH.

ÁI KHÔNG NHẤT THIẾT PHẢI ĐI THEO.

MỘT Ý NGHĨ XUẤT HIỆN CHƯA PHẢI MỘT QUYẾT ĐỊNH.

CẢNH ĐI RẤT NHANH. TÂM GIỮ RẤT LÂU.

BIẾT LỰC MÌNH CHƯA ĐỦ CŨNG LÀ TUỆ.

NIỆM GIỮ CỬA. TUỆ NHẬN DIỆN. GIỚI NGĂN NGHIỆP. ĐỊNH GIỮ TÂM.

TU KHÔNG LÀM GIÁC QUAN NGHÈO ĐI.

TU LÀM PHẢN ỨNG BỚT MÙ.

LX. CÂU KẾT

Một đời tu tưởng rất lớn. Nhưng mỗi ngày con đường giác ngộ đi qua sáu cửa: MẮT. TAI. MŨI. LƯỠI. THÂN. Ý. Mắt thấy cảnh đẹp. Nếu mê: Dục đi vào. Nếu biết: Pháp đi vào. Tai nghe lời chê. Nếu sân: Nghiệp đi ra. Nếu biết: Tuệ có cơ hội sinh. Thân đau. Nếu chống thêm: Khổ tăng. Nếu biết:

Chăm đau mà không tự bắn thêm mũi tên thứ hai. Ý nhớ chuyện cũ. Nếu dính: Quá khứ sống lại. Nếu biết: Chỉ một pháp tâm đang sinh rồi diệt. Ngay ở mắt: Có THẤY. Ngay ở thọ: Có NHẬN. Ngay khi tâm muốn chạy: Có SOI. Ngay khi chưa hành: Có GIỚI. Ngay khi tâm đứng: Có ĐỊNH. Ngay khi thấy duyên:

Có TUỆ. Ngay khi không theo cái muốn: Có BUÔNG. Ngay khi chọn thiện: Có LÀM LÀNH. Ngay khi tham sân yếu: Có LÀM SẠCH TÂM. Ngay khi điều này được lặp nhiều lần: Có LỰC. Vậy bốn công thức không nằm ở bốn góc của cuốn sách. Chúng gặp nhau ngay ở một cái nhìn. Một tiếng. Một thọ.

Một ý nghĩ. Một sát-na trước khi hành. CÂU CUỐI: SÁU CỬA VẪN MỞ. ĐỜI VẪN ĐI QUA.

NHƯNG NIỆM ĐỨNG Ở CỬA.

GIỚI GIỮ HÀNH VI. ĐỊNH GIỮ TÂM. TUỆ THẤY ĐƯỜNG.

CẢNH ĐẾN MÀ TÂM KHÔNG CẦN ĐI THEO –

ĐÓ LÀ TỰ DO ĐANG ĐƯỢC HỌC NGAY TRONG ĐỜI SỐNG.

CHƯƠNG 35
NGHIỆP VÀ TÁC Ý – TU NGAY NƠI Ý ĐỊNH ĐANG HÌNH THÀNH

Pāli:

kamma – nghiệp.

Sanskrit:

karma – nghiệp. Pāli/Sanskrit: cetanā – tác ý. Nguồn kinh nền rất quan trọng:

AN 6.63 – Nibbedhika Sutta.

Pāli:

“Cetanāhaṃ, bhikkhave, kammaṃ vadāmi.” Đại ý: “Này các Tỷ-kheo, Ta nói tác ý là nghiệp.” Theo nội dung bài kinh, sau khi tác ý, con người tạo nghiệp qua thân, lời và ý. Cách dịch có thể khác đôi chút theo bản. Điểm cốt lõi:

NGHIỆP GẮN RẤT SÂU VỚI TÁC Ý.

I. TÁC Ý – CETANĀ

Cetanā: Tác ý. Chủ ý. Ý định. Sự hướng tâm muốn làm một việc. Không phải mọi cảm thọ là nghiệp. Không phải mọi ý nghĩ vụt qua là một nghiệp thân hay khẩu hoàn chỉnh. Điểm cần soi:

TÂM ĐANG MUỐN ĐI HƯỚNG NÀO?

Câu nhớ:

NGHIỆP KHÔNG CHỈ NẰM Ở VIỆC ĐÃ LÀM.

NGHIỆP BẮT ĐẦU RẤT SỚM Ở HƯỚNG MÀ TÂM ĐANG MUỐN ĐI.

II. Ý NGHĨ – TÁC Ý – HÀNH ĐỘNG

Một ý nghĩ sinh: Chưa nhất thiết phải hành. Nếu nuôi: Tác ý mạnh hơn. Nếu nói/làm: Nghiệp đi ra thân khẩu. Công thức hệ thống hóa: Ý NGHĨ

→ TÁC Ý

→ HÀNH ĐỘNG

→ LẶP

→ ĐƯỜNG MÒN.

Không phải công thức kinh nguyên văn.

III. TÁC Ý VÀ CÔNG THỨC PHẬT

Một ý sân vừa sinh: THẤY: Biết sân. TỈNH: Không hành ngay. BUÔNG: Không nuôi tiếp. SÁNG: Thấy sân là pháp có duyên. Mỗi lần như vậy: Một nghiệp bất thiện mới có thể không được tạo.

IV. TÁC Ý VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

Tâm muốn trả: NHẬN: Muốn trả. SOI: Do đau? Tự ái? Sợ? THẤY: Tác ý bất thiện đang có. KHÔNG DÍNH: Chưa hành. KHÔNG CHẤP: “Tôi giận” không có nghĩa “tôi phải trả.” BUÔNG: Không nuôi ý hại.

AN:

Tâm nhẹ hơn. Buông không loại bỏ trách nhiệm. Vẫn có thể: Nói rõ. Bảo vệ mình. Đặt ranh giới. Nhưng không cần tác ý hại.

V. TÁC Ý VÀ CÔNG THỨC TAM TẠNG

Dhammapada 183 – Pháp Cú 183, đại ý: Không làm các điều ác. Thành tựu các hạnh lành. Giữ tâm ý trong sạch. Tác ý là nơi ba hướng này gặp nhau. Tác ý bất thiện: BỎ ÁC. Tác ý thiện: LÀM LÀNH. Động cơ được soi nhiều lần: LÀM SẠCH TÂM.

VI. TÁC Ý VÀ CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC

THẬT: Động cơ thật là gì? “Tôi giúp người.” Nhưng: Vì Bi? Hay vì muốn được khen? “Tôi nói Pháp.” Nhưng: Vì lợi ích? Hay vì muốn thắng? “Tôi im.” Nhưng: Vì nhẫn? Hay vì đang nuôi hận? Nếu không thật với động cơ: Khó chuyển nghiệp.

VII. CHỮ TÍN VÀ NGHIỆP

Chữ tín trong công thức: Sống đáng tin. Giữ lời. Không tự chia đôi tâm. Giữ tín hỗ trợ: Giới. Giới hỗ trợ: Ít hối. Ít hối: Tâm nhẹ. Tâm nhẹ: Hỗ trợ Định. Đây là hệ thống hóa đời sống tu, không phải một chuỗi lời kinh nguyên văn.

VIII. NGHIỆP KHÔNG PHẢI ĐỊNH MỆNH

Không nên hiểu: “Đã có nghiệp thì chịu, không đổi được.” Duyên khởi cho thấy: Nhiều điều kiện cùng tác động. Nghiệp là một loại điều kiện quan trọng. Không phải điều kiện duy nhất. Hiện tại vẫn đang sinh tác ý mới.

IX. CHUYỂN NGHIỆP KHÔNG PHẢI XÓA QUÁ KHỨ

Quá khứ đã làm: Không thể giả như chưa làm. Hiện tại có thể: Không lặp. Sám hối. Sửa. Bồi thường nếu phù hợp. Làm thiện. Giữ giới. Đổi môi trường. Nuôi Định. Phát triển Tuệ. Câu nhớ:

CHUYỂN NGHIỆP KHÔNG BẮT ĐẦU BẰNG XÓA QUÁ KHỨ.

NÓ BẮT ĐẦU BẰNG KHÔNG TIẾP TỤC QUÁ KHỨ BẰNG CÙNG MỘT TÁC Ý.

X. TỨ CHÁNH CẦN VÀ CHUYỂN NGHIỆP

Bất thiện chưa sinh: NGĂN. Bất thiện đã sinh: BỎ. Thiện chưa có: SINH. Thiện đã có: GIỮ. Đây là một cơ chế chuyển hướng tác ý rất rõ.

XI. NGHIỆP VÀ THÓI QUEN

Một lần nói dối: Một hành vi. Lặp: Thói quen. Một lần nhẫn: Một thiện hành. Lặp: Thiện thành đường. Câu nhớ:

NGHIỆP KHÔNG CHỈ TẠO QUẢ.

NGHIỆP CÒN HUÂN NGƯỜI ĐANG TẠO NGHIỆP.

XII. CÔNG THỨC ĐƯỜNG MÒN

TÁC Ý

→ HÀNH ĐỘNG

→ LẶP

→ THÓI QUEN

→ TẬP KHÍ

→ KHUYNH HƯỚNG.

Đây là lời hệ thống hóa để thực hành.

XIII. MỘT TÁC Ý XẤU KHÔNG PHẢI TOÀN BỘ “TÔI”

Không nên: “Tôi là người xấu.” Có thể: “Một tác ý bất thiện đã sinh.” THẤY. TỈNH. KHÔNG NUÔI. BUÔNG. Vô ngã giúp không đóng đinh căn tính.

XIV. ĐỪNG DÙNG NGHIỆP ĐỂ ĐÓNG NHÃN NGƯỜI

Cẩn thận với câu: “Người đó nghiệp nặng.” Mình không biết toàn bộ nghiệp và duyên của họ. Nên nói hành vi cụ thể hơn là phán cả con người.

XV. NGHIỆP VÀ NẠN NHÂN

Không được nói: “Bạn bị hại vì nghiệp nên phải chịu.” Giáo lý nghiệp không được dùng để: Đổ lỗi. Bắt người im. Hợp thức hóa bạo hành. Một người bị hại: Cần được bảo vệ. Bị bệnh: Cần chăm sóc. Bị lừa: Cần xử lý phù hợp. Câu nhớ:

BIẾT GIÁO LÝ NGHIỆP KHÔNG CHO MÌNH QUYỀN ĐOÁN NGHIỆP CỦA NGƯỜI KHÁC.

XVI. NGHIỆP LÀ MỘT DUYÊN

Bệnh có thể do: Di truyền. Tuổi. Vi sinh vật. Môi trường. Tai nạn. Lối sống. Nhiều duyên. Không nên gán tất cả là nghiệp. Nghiệp là một điều kiện trong mạng duyên rộng hơn.

XVII. NGHIỆP VÀ DUYÊN KHỞI

Không nên rơi vào hai cực: “Tất cả do nghiệp.” hoặc: “Nghiệp không có vai trò.” Đúng hơn: Nghiệp là một duyên quan trọng. Hiện tại: Tác ý mới vẫn đang được tạo. Đổi duyên hiện tại: Có thể đổi hướng tương lai.

XVIII. TÁC Ý VÀ TỨ NIỆM XỨ

THÂN: Biết hành động thân. THỌ: Biết dễ – khó trước khi phản ứng. TÂM: Biết tham, sân, si. PHÁP: Biết thiện – bất thiện, triền cái, giác chi, Tứ Đế. Tứ Niệm Xứ giúp thấy nghiệp từ sớm. Câu nhớ:

NIỆM SOI HIỆN TRƯỜNG.

TÁC Ý LỘ ĐỘNG CƠ.

XIX. TÁC Ý VÀ NĂM TRIỀN CÁI

Dục: Muốn kéo. Sân: Muốn đẩy/hại. Hôn trầm: Làm giảm tỉnh giác. Trạo: Làm tâm tán. Nghi: Làm tâm không quyết đường. NIỆM: Biết. TRẠCH PHÁP: Phân biệt. TẤN: Không nuôi. ĐỊNH: Giữ. TUỆ: Thấy hậu quả.

XX. NGHIỆP VÀ NGŨ CĂN – NGŨ LỰC

TÍN: Tin nhân quả đạo đức và con đường, không mê tín. TẤN: Bỏ bất thiện, sinh thiện. NIỆM: Biết động cơ sớm. ĐỊNH: Không bị xung lực kéo ngay. TUỆ: Thấy hậu quả và tính duyên sinh. Ngũ căn mạnh: Khả năng đổi tác ý mạnh.

XXI. TỨ VÔ LƯỢNG TÂM VÀ NGHIỆP

TỪ: Không muốn hại. BI: Không lợi dụng khổ người. HỶ: Không ganh. XẢ: Không ép và sở hữu. Tứ Vô Lượng Tâm thay đổi tác ý. Tác ý thay đổi: Đường nghiệp thay đổi.

XXII. CÙNG MỘT CÂU – KHÁC TÁC Ý

Câu: “Bạn cần sửa chỗ này.” Có thể nói để: Giúp. Khoe mình hơn. Hạ người. Câu chữ giống. Tác ý khác. Phải hỏi:

“TÔI ĐANG NÓI TỪ TÂM NÀO?”

XXIII. CHÁNH NGỮ VÀ TÁC Ý

Nguồn:

MN 58 – Abhayarājakumāra Sutta – Kinh Vương Tử Vô Úy.

Lời nói cần được soi bằng: Sự thật. Lợi ích. Đúng thời. Lòng bi. Một lời thật nói để làm nhục: Khác một lời thật nói để giúp.

XXIV. BỐ THÍ VÀ TÁC Ý

Cùng một vật cho. Có thể vì: Từ. Cầu danh. Sợ chê. Tác ý khác. Không có nghĩa hành vi không quan trọng. Mà: Tác ý làm chất lượng tâm của hành động khác nhau.

XXV. GIỮ GIỚI VÀ TÁC Ý

Không sát vì: Sợ phạt. khác với: Không sát vì lòng Từ và Chánh kiến. Cả hai có thể ngăn hại. Nhưng chiều sâu tâm khác. Tu không chỉ giữ hành vi. Còn làm sạch động cơ.

XXVI. NIỆM PHẬT VÀ TÁC Ý

Niệm Phật có thể đi với: Tín. Nguyện. Sự nhớ Phật. Tìm định. Cầu an. Phát nguyện vãng sinh theo truyền thống Tịnh độ. Điểm cần soi: Tâm đang niệm bằng động cơ gì? Không nên chỉ đếm số câu mà quên chất lượng tâm.

XXVII. LÀM THIỆN MÀ NUÔI NGÃ

Có thể: Làm nhiều thiện. Nhưng nghĩ: “Tôi hơn.” “Phải biết ơn tôi.” “Phải nghe tôi.” Vì vậy Công thức Tam Tạng có đủ ba phần: BỎ ÁC. LÀM LÀNH. LÀM SẠCH TÂM. Làm thiện chưa phải hết đường. Còn làm sạch chấp công.

XXVIII. CÔNG ĐỨC VÀ CHẤP CÔNG

Làm thiện: Tốt. Chấp công: Tâm nặng. Có thể thực hành: LÀM

→ KHÔNG GIỮ CÔNG

→ HỒI HƯỚNG / BUÔNG NGÃ

theo truyền thống phù hợp. Thiện cũng cần Tuệ.

XXIX. SÁM HỐI VÀ NGHIỆP

Sám hối không phải: Đọc xong là xóa mọi hậu quả. Sám hối đúng cần: Nhận lỗi. Không che. Sửa. Không lặp. Làm thiện. Đó là chuyển hướng tác ý.

XXX. SÁM HỐI VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

NHẬN: Tôi đã sai. SOI: Do tham? Sân? Si? THẤY: Hậu quả. KHÔNG DÍNH: Không biện hộ. KHÔNG CHẤP: Không biến “tôi đã sai” thành “tôi mãi xấu.” BUÔNG: Bỏ tác ý cũ.

AN:

Sửa và làm mới.

XXXI. HỐI HẬN VÀ SÁM HỐI CÓ TRÍ

Hối hận vô ích: Tự phạt lặp. Sám hối có trí: Nhìn lỗi để đổi. Câu nhớ:

SÁM HỐI NHÌN QUÁ KHỨ ĐỂ ĐỔI TƯƠNG LAI.

HỐI HẬN VÔ ÍCH NHÌN QUÁ KHỨ ĐỂ TIẾP TỤC TỰ PHẠT.

XXXII. NGHIỆP VÀ BÁT PHONG

ĐƯỢC: Tham thêm hay biết ơn? MẤT: Trả đũa hay xử lý? KHEN: Phồng hay tiếp tục thiện? CHÊ: Hại hay lọc? Cùng cảnh. Tác ý khác. Đường nghiệp khác.

XXXIII. NGHIỆP VÀ TỨ DIỆU ĐẾ

KHỔ: Thấy hậu quả. TẬP: Thấy tham – sân – si, ái – thủ nuôi tác ý bất thiện. DIỆT: Thấy khả năng dừng hướng ấy. ĐẠO: Giới – Định – Tuệ, Bát Chánh Đạo, Chánh tinh tấn. Chuyển nghiệp không rời Đạo đế.

XXXIV. BA GỐC BẤT THIỆN

Pāli:

lobha – tham. dosa – sân. moha – si. Sanskrit thường dùng: lobha – dveṣa – moha. Khi soi tác ý: THAM đang lái? SÂN đang lái? SI đang lái?

XXXV. BA GỐC THIỆN

Theo truyền thống phân tích: alobha – vô tham. adosa – vô sân. amoha – vô si. Có thể hiểu thực hành: Không tham lam. Không ác ý. Có trí. Chuyển nghiệp sâu: Đổi gốc.

XXXVI. TỪ “ĐỪNG LÀM” ĐẾN “ĐỔI GỐC”

Không sát: Tốt. Sâu hơn: Nuôi Từ. Không trộm: Tốt. Sâu hơn: Biết đủ, bố thí. Không nói dối: Tốt. Sâu hơn: Nuôi chân thật. Đó là: BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

XXXVII. NGHIỆP VÀ VÔ THƯỜNG

Người từng xấu: Không nhất thiết mãi xấu. Người từng tốt: Không bảo đảm mãi tốt. Tác ý đổi. Duyên đổi. Thói quen đổi. Vô thường cho: TRÁCH NHIỆM. VÀ: HY VỌNG.

XXXVIII. VÔ THƯỜNG KHÔNG XÓA TRÁCH NHIỆM

Người hôm nay có thể khác hôm qua. Nhưng hậu quả hôm qua vẫn có thể còn. Điểm quan trọng: Hôm nay có thể chọn khác.

XXXIX. NGHIỆP VÀ VÔ NGÃ

Không cần một linh hồn bất biến để nhân quả tiếp nối. Các điều kiện nối nhau. Hành động làm duyên cho kết quả. Có liên tục. Không cần một thực thể bất biến.

XL. ĐỪNG DÙNG VÔ NGÃ ĐỂ TRỐN NGHIỆP

“Không có tôi, ai chịu?” Sai. Vô ngã không xóa nhân quả. Theo quy ước: Người làm chịu trách nhiệm. Theo chiều sâu: Các pháp nối nhau theo duyên. Câu nhớ:

VÔ NGÃ THÁO CÁI NGÃ.

KHÔNG THÁO TRÁCH NHIỆM.

XLI. NGHIỆP VÀ Ý CĂN

Mắt thấy: Ý giữ. Tai nghe: Ý nhai. Người đi: Ý tiếp. Hộ trì ý căn: Là một phần lớn của chuyển nghiệp. Không nuôi một ý xấu thêm nhiều lần: Đã là chuyển.

XLII. NGHIỆP TRONG MẠNG XÃ HỘI

Trước khi đăng: Hỏi:

“TÔI ĐĂNG ĐỂ LÀM GÌ?”

Giúp? Thông tin? Khoe? Trả đũa? Hạ ai? Câu tương tác? Một nút “đăng” cũng có thể là biểu hiện của nghiệp thân/khẩu qua phương tiện. Tác ý vẫn quan trọng.

XLIII. TÁC Ý TRONG GIẢNG PHÁP

Hỏi:

“TÔI ĐANG LÀM RÕ PHÁP HAY MUỐN THẮNG?”

Khi bị phản bác:

“TÔI ĐANG BẢO VỆ CHÁNH PHÁP HAY BẢO VỆ CÁI TÔI?”

Đây là chữ: THẬT. Thấy ngã: Không ghét mình. Chỉ: Soi. Nới. Trở về lợi ích người nghe.

XLIV. TÁC Ý TRONG GIÚP NGƯỜI

Có thể giúp vì: Từ. Bi. Trách nhiệm. Nhưng có thể lẫn: Muốn được cần. Muốn kiểm soát. Muốn người mang ơn. Động cơ có thể hỗn hợp. Tu không đòi tâm hoàn hảo mới làm thiện. Tu vừa làm thiện vừa làm sạch động cơ.

XLV. ĐỘNG CƠ HỖN HỢP

Ví dụ: 70% thương. 30% muốn được khen. Không cần vì 30% mà bỏ việc thiện. Nhưng phải thấy 30%. Nuôi phần thiện. Buông phần ngã. Câu nhớ:

TU KHÔNG ĐỢI ĐỘNG CƠ SẠCH HOÀN TOÀN MỚI LÀM.

TU VỪA LÀM THIỆN VỪA LÀM SẠCH ĐỘNG CƠ.

XLVI. Ý TỐT NHƯNG THIẾU TUỆ

Một người có ý tốt: Vẫn có thể gây hại nếu thiếu hiểu biết. Vì vậy: Ý TỐT CHƯA ĐỦ. Cần: CHÁNH KIẾN. TRẠCH PHÁP. THẤY HẬU QUẢ. Câu nhớ:

TÂM THIỆN CHO HƯỚNG.

TUỆ GIÚP ĐI ĐÚNG.

XLVII. TRÁCH NHIỆM

Ba phần:

1. Nhận điều mình đã làm.

2. Sửa phần có thể.

3. Không lặp.

Phần thứ ba: Tứ Chánh Cần. Đây là chuyển nghiệp thực tế.

XLVIII. ĐỪNG GÁNH HẾT NGHIỆP NGƯỜI KHÁC

Một quan hệ có nhiều phía. Không phải mọi chuyện đều do mình. Công thức: PHẦN CỦA MÌNH

→ NHẬN.

PHẦN NGƯỜI

→ TRẢ VỀ NGƯỜI.

PHẦN DUYÊN

→ THẤY DUYÊN.

Đây là Xả có Tuệ.

XLIX. NGHIỆP VÀ XẢ

Xả không nói: “Mặc nghiệp.” Xả nói: “Tôi làm đúng phần mình, không sở hữu toàn bộ kết quả.”

L. NGHIỆP VÀ HỶ

Thấy người khác làm thiện: Tùy hỷ. Không ganh. Một đường nghiệp ganh được cắt.

LI. NGHIỆP VÀ TỪ

Sân: Muốn hại. Từ: Không muốn hại. Chỉ một thay đổi tác ý: Đường nghiệp đổi.

LII. NGHIỆP VÀ BI

Thấy người khổ: Lợi dụng: Một đường. Giúp: Một đường khác. Cùng cảnh. Tác ý khác.

LIII. KHI BỊ CHÊ

Nếu: Sân

→ Chửi

→ Nghiệp mới.

Nếu: Sân

→ Biết

→ Không nói

→ Soi

→ Sửa phần đúng

thì cả chuỗi đổi. Câu nhớ:

KHÔNG PHẢI LÚC NÀO MÌNH ĐỔI ĐƯỢC CẢNH.

NHƯNG MÌNH CÓ THỂ HỌC ĐỔI TÁC Ý TRƯỚC CẢNH.

LIV. NĂM CÂU SOI TÁC Ý

1. Tôi đang định làm gì?

2. Vì sao tôi muốn làm?

3. Tham, sân hay si có đang lái không?

4. Việc này có phạm giới hoặc gây hại không?

5. Nếu làm nhiều lần, tôi sẽ thành người thế nào?

Câu thứ năm: Không chỉ hỏi: “Quả gì?” Mà:

“TÔI ĐANG HUÂN MÌNH THÀNH AI?”

LV. CÔNG THỨC TRƯỚC – TRONG – SAU

TRƯỚC HÀNH: Soi tác ý. TRONG HÀNH: Giữ Niệm. SAU HÀNH: Xem hậu quả. Sai: Sửa. Đúng: Giữ nhưng không chấp công.

LVI. TRƯỚC HÀNH – CÔNG THỨC PHẬT

THẤY: Động cơ. TỈNH: Đừng vội.

LVII. TRONG HÀNH – CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC

GIỚI: Không vượt ranh. ĐỊNH: Giữ tâm.

LVIII. SAU HÀNH – CÔNG THỨC BUÔNG

SOI: Kết quả. THẤY: Sai đúng. BUÔNG: Ngã và tự biện hộ.

LIX. RỒI CÔNG THỨC TAM TẠNG

Sai: BỎ. Đúng: GIỮ. Thiện: LÀM LỚN. Tâm: LÀM SẠCH.

LX. NGHIỆP VÀ PHƯỚC

Không nên hiểu quá cơ học: Làm thiện = gửi tiền vào ngân hàng vũ trụ. Thiện nghiệp còn: Huân tâm. Tạo duyên. Tạo quan hệ. Giảm tham-sân. Hỗ trợ Giới – Định – Tuệ. Nhìn phước chỉ bằng: “Sẽ được gì?” là quá hẹp.

LXI. LÀM THIỆN KHÔNG PHẢI MUA MAY

Bố thí chỉ để “đổi may”: Tâm còn tính toán. Sâu hơn: Bố thí để giảm keo. Chia sẻ. Nuôi Từ. Làm lợi người. Đó là: LÀM LÀNH + LÀM SẠCH TÂM.

LXII. BỐ THÍ – DĀNA

Pāli/Sanskrit: dāna. Bố thí giúp nuôi: Vô tham. Rộng tâm. Nhẹ sở hữu. Cho: Thiện. Không chấp người nhận: Buông. Không chấp “tôi là người cho”: Làm sạch tâm.

LXIII. GIỚI VÀ NGHIỆP

Giới không chỉ ngăn tội. Giới huân tác ý. Không sát: Nuôi bất hại. Không trộm: Nuôi tôn trọng. Không tà hạnh: Nuôi trách nhiệm. Không nói dối: Nuôi chân thật. Không dùng chất say đưa tới phóng dật: Nuôi tỉnh giác. Giới là cơ chế huân nghiệp rất lớn.

LXIV. ĐỊNH VÀ NGHIỆP

Tâm không định: Xung lực tới, làm ngay. Có định: Có khoảng dừng. Khoảng dừng ấy: Nghiệp có thể đổi. Câu nhớ:

ĐỊNH CHO TÁC Ý MỘT KHOẢNG ĐỂ ĐƯỢC SOI TRƯỚC KHI THÀNH HÀNH ĐỘNG.

LXV. TUỆ VÀ NGHIỆP

Tuệ hỏi: Làm rồi hậu quả gì? Duyên nào? Có khổ tăng không? Có tham-sân-si không? Có hợp giới không? Tuệ làm tác ý: Bớt mù.

LXVI. GIỚI – ĐỊNH – TUỆ VÀ CHUYỂN NGHIỆP

GIỚI: Chặn hành vi xấu. ĐỊNH: Chặn phản ứng vội. TUỆ: Thấy gốc. Chuyển nghiệp sâu:

KHÔNG CHỈ LÀ LÀM NHIỀU VIỆC TỐT.

MÀ LÀ ĐỔI CẢ CƠ CHẾ TÂM TẠO NGHIỆP.

LXVII. NĂM TẦNG CHUYỂN NGHIỆP

1. DỪNG:

Đừng tạo thêm.

2. SỬA:

Khắc phục phần có thể.

3. ĐỔI DUYÊN:

Thay môi trường, thói quen.

4. ĐỔI TÁC Ý:

Sinh thiện, bỏ bất thiện.

5. ĐỔI CÁI THẤY:

Chánh kiến sâu hơn. Công thức: DỪNG

→ SỬA

→ ĐỔI DUYÊN

→ ĐỔI TÁC Ý

→ ĐỔI CÁI THẤY.

Đây là lời hệ thống hóa, không phải nguyên văn kinh.

LXVIII. BỊ PHẢN BỘI

THẬT: Tôi đau. NHẬN: Có sân. SOI: Muốn trả tới đâu? GIỚI: Không hại. ĐỊNH: Dừng. TUỆ: Bảo vệ mình thế nào? TỪ: Không cần mong họ khổ. XẢ: Kết thúc phần cần kết thúc. BUÔNG: Không nuôi trả thù. Đó là chuyển nghiệp giữa đau.

LXIX. ĐƯỢC LỢI

NIỆM: Biết lạc thọ. TUỆ: Thấy duyên. BỐ THÍ: Giảm keo. GIỚI: Không vì lợi mà sai. XẢ: Không chấp.

LXX. ĐƯỢC KHEN

THỌ: Vui. THẤY: Muốn khoe? TỈNH: Không nuôi ngã. LÀM LÀNH: Tiếp tục việc đúng. KHÔNG CHẤP CÔNG.

LXXI. BỊ CHÊ

THỌ: Khó. Tác ý: Muốn trả. Có Niệm: Dừng. Có Trạch pháp: Đúng thì sửa. Sai thì buông. Có Giới: Không ác khẩu. Có Xả: Không cần thắng.

LXXII. MỆT

Mệt: Không phải một lỗi đạo đức. Nhưng mệt làm sân dễ sinh. THẬT: Đang mệt. TUỆ: Không quyết việc lớn nếu không cần. GIỚI: Không lấy mệt làm cớ hại. XẢ: Nghỉ. Đây là phòng nghiệp.

LXXIII. GIÚP NGƯỜI KHÔNG BIẾT ƠN

THỌ: Khó. SOI: Tôi giúp đúng không? Nếu đúng: Không cần họ biết ơn. Nếu sai: Sửa cách giúp. XẢ: Không sở hữu phản ứng của người.

LXXIV. NGƯỜI KHÁC THÀNH CÔNG

THẬT: Đang ganh. THẤY: Ganh. BỎ ÁC: Không nói xấu. LÀM LÀNH: Tập muditā – Hỷ. TUỆ: Đường người khác không lấy mất đường mình. BUÔNG: So sánh.

LXXV. MUỐN BỎ CUỘC

Ý: “Thôi.” Không tự động nghe theo. Hỏi: Mệt thật? Đường sai? Hay chỉ khó? Nếu sai đường: Dừng có thể là Tuệ. Nếu đúng đường nhưng lười: Cần Tấn. Tác ý phải được soi.

LXXVI. ĐẠI NGUYỆN VÀ NGHIỆP

Nguyện: Cho hướng dài hạn. Tác ý: Cho bước. Hành: Tạo đường. Câu nhớ: NGUYỆN CHO HƯỚNG. TÁC Ý CHO BƯỚC.

HÀNH ĐỘNG TẠO ĐƯỜNG.

LXXVII. NGUYỆN KHÔNG THAY HÀNH

Phát nguyện: Chưa đủ. Phải: Giữ giới. Làm thiện. Học. Hành. Sửa.

LXXVIII. HỒI HƯỚNG

Trong nhiều truyền thống Phật giáo có thực hành hồi hướng sau thiện sự. Điểm đẹp: Không giữ thiện chỉ cho cái tôi. Mở tâm. Nhưng không nên diễn giải đơn giản: “Mình làm một việc rồi xóa nghiệp thay người.” Cần cẩn trọng.

LXXIX. CẦU NGUYỆN

Cầu nguyện có thể: Nuôi tín. Nuôi thiện tâm. Hướng tâm. Nhưng không thay: Sửa hành vi. Giữ giới. Đổi tác ý. Câu nhớ:

CẦU NGUYỆN CHO HƯỚNG TÂM.

HÀNH ĐỘNG CHO BIẾT MÌNH ĐANG ĐI THẾ NÀO.

LXXX. PHÁP THÍ

Chia sẻ Pháp đúng: Là thiện sự lớn. Nhưng phải: Chuẩn nguồn. Không xuyên tạc. Không dùng Pháp nuôi danh. THẬT: Nguồn đúng? TÍN: Giữ trách nhiệm lời nói. THIỆN: Lợi người. GIỚI: Không nói dối. ĐỊNH: Không bị khen kéo. TUỆ: Đúng người, đúng lúc. XẢ: Không giữ công.

LXXXI. “TÔI LÀ NGƯỜI TỐT”

Cũng có thể là chấp. Làm thiện: Tốt. Chấp hơn người: Phải soi. Công thức Buông dùng cả khi có công.

LXXXII. “TÔI LÀ NGƯỜI XẤU”

Cũng là chấp. Từng sai: Nhận. Sửa. Không đóng dấu đời mình. Vô thường: Cho khả năng đổi. Tứ Chánh Cần: Cho phương pháp đổi.

LXXXIII. HIỆN TẠI LÀ NƠI NGHIỆP CŨ GẶP TÁC Ý MỚI

Quá khứ: Đã tạo duyên. Tương lai: Chưa đến. Hiện tại: Tác ý đang sinh. Câu nhớ:

HIỆN TẠI LÀ NƠI NGHIỆP CŨ GẶP TÁC Ý MỚI.

LXXXIV. BỐN CÔNG THỨC TRONG MỘT SÁT-NA

Muốn nói câu độc: THẬT: Đang muốn nói. THẤY: Sân. NHẬN: Thọ khó. SOI: Tự ái. GIỚI: Không nói. TỈNH: Không chạy. KHÔNG DÍNH: Không nhai câu. TUỆ: Câu này có lợi không? BỎ ÁC: Bỏ lời độc. LÀM LÀNH: Nói đúng hoặc im. BUÔNG: Bỏ ý thắng.

AN:

Tâm nhẹ. Lặp nhiều lần: LỰC. Bốn công thức hòa thành một hành động duy nhất.

LXXXV. THIỆN Ý CŨNG CẦN TUỆ

Bố thí quá sức: Có thể thiếu cân bằng. Giúp làm người khác lệ thuộc: Có thể thiếu Tuệ. Che sai vì thương: Có thể gây hại. Thiện ý: Cần trí.

LXXXVI. “CÓ Ý TỐT” KHÔNG MIỄN TRÁCH NHIỆM

Nếu ý tốt nhưng gây hại: Cần học và sửa. Không thể chỉ nói: “Tôi có ý tốt.” Tuệ phải nhìn hậu quả thật.

LXXXVII. BA TẦNG SOI HÀNH ĐỘNG

TẦNG 1: TÁC Ý – tôi muốn gì? TẦNG 2: HÀNH VI – tôi đang làm gì? TẦNG 3: HẬU QUẢ – việc này đang dẫn đâu? Cả ba đều cần.

LXXXVIII. CÂU GHI NHỚ

ĐẠI Ý AN 6.63:

TA NÓI TÁC Ý LÀ NGHIỆP.

THỌ NÓI MÌNH ĐANG CẢM GÌ.

TÁC Ý NÓI MÌNH ĐANG ĐỊNH ĐI HƯỚNG NÀO.

Ý NGHĨ LÀ CỬA. TÁC Ý LÀ HƯỚNG. HÀNH ĐỘNG LÀ BƯỚC.

LẶP LẠI THÀNH ĐƯỜNG.

CHUYỂN NGHIỆP KHÔNG BẮT ĐẦU BẰNG XÓA QUÁ KHỨ.

NÓ BẮT ĐẦU BẰNG KHÔNG TIẾP TỤC QUÁ KHỨ BẰNG CÙNG MỘT TÁC Ý.

BIẾT GIÁO LÝ NGHIỆP KHÔNG CHO MÌNH QUYỀN ĐOÁN NGHIỆP CỦA NGƯỜI KHÁC.

VÔ NGÃ THÁO CÁI NGÃ.

KHÔNG THÁO TRÁCH NHIỆM.

TÂM THIỆN CHO HƯỚNG.

TUỆ GIÚP ĐI ĐÚNG.

HIỆN TẠI LÀ NƠI NGHIỆP CŨ GẶP TÁC Ý MỚI.

LXXXIX. CÂU KẾT

Một đời người có rất nhiều hành động. Nhưng trước rất nhiều hành động có một thứ nhỏ hơn: TÁC Ý. Trước câu nói: Có ý muốn nói. Trước bàn tay hại: Có ý muốn hại. Trước một lần bố thí: Có ý muốn cho. Trước một lần tha thứ: Có ý không muốn nuôi hận nữa. Muốn đổi đời: Phải học nhìn hướng tâm thật sớm.

Sân vừa muốn trả: THẤY. Tham vừa muốn lấy: THẤY. Ngã vừa muốn được khen: THẤY. Bi vừa muốn giúp: THẤY. Hỷ vừa sinh: THẤY. Từ đó: TỈNH. Không phải mọi ý muốn đều phải thành hành động. Đó là: BUÔNG. Thấy tác ý này do: THAM? SÂN? SI? hay: VÔ THAM? VÔ SÂN? TRÍ? Đó là: SÁNG. Công thức Buông:

NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

Công thức Tam Tạng: BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

Công thức Định lực: THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

Công thức Phật: THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

Bốn công thức không đứng ngoài nghiệp. Chúng chính là cách tác ý được: NHẬN. SOI. CHỌN. HUÂN. Và thay đổi. Chuyển nghiệp không phải đi tìm nút xóa quá khứ. Mà là: CẢNH CŨ TỚI NHƯNG

KHÔNG NHẤT THIẾT DÙNG TÁC Ý CŨ.

Người cũ chê: Không nhất thiết trả kiểu cũ. Nỗi đau cũ trở lại: Không nhất thiết tạo nghiệp cũ. Thuận lợi tới: Không nhất thiết tham kiểu cũ. Đó là:

NGHIỆP CŨ GẶP MỘT TÁC Ý MỚI.

CÂU CUỐI:

QUÁ KHỨ ĐÃ TẠO DUYÊN.

HIỆN TẠI ĐANG TẠO HƯỚNG.

ĐỪNG CHỈ HỎI:

“TÔI ĐANG GẶP NGHIỆP GÌ?”

HÃY HỎI THÊM: “NGAY LÚC NÀY,

TÔI ĐANG TẠO NGHIỆP GÌ

BẰNG TÁC Ý CỦA MÌNH?”

CHƯƠNG 36
TAM HỌC – GIỚI, ĐỊNH, TUỆ

Pāli:

sīla – samādhi – paññā.

Sanskrit:

śīla – samādhi – prajñā. Tiếng Việt: Giới – Định – Tuệ. Đây là ba lĩnh vực huấn luyện nền tảng của con đường tu. Không nên hiểu chúng là ba cái hộp tách rời. Giới hỗ trợ Định. Định hỗ trợ Tuệ. Tuệ làm Giới sâu hơn. Cả ba hỗ trợ lẫn nhau trong đời sống tu tập.

I. GIỚI

Giới không chỉ có nghĩa: “Không được làm.” Giới là sự huấn luyện thân và lời để giảm những hành động gây tổn hại cho mình và người.

GIỚI KHÔNG PHẢI CÁI LỒNG NHỐT NGƯỜI TU.

GIỚI LÀ HÀNG RÀO NGĂN TÂM ĐANG MÊ CHẠY XUỐNG VỰC.

Đây là lời hệ thống hóa để thực hành. Đời sống có giới giúp giảm những nguyên nhân đưa đến hối tiếc và bất an. Trong Tăng Chi Bộ có những tiến trình giáo pháp nối đời sống đạo đức với không hối tiếc, hân hoan, khinh an, an lạc, định và những bước phát triển tiếp theo.

Do tên và số hiệu có thể khác giữa các hệ ấn bản và bản dịch, khi trích dẫn cần đối chiếu bản kinh sử dụng. Tinh thần thực hành: GIỚI

→ ÍT HỐI

→ TÂM NHẸ

→ HỖ TRỢ ĐỊNH.

II. GIỚI VÀ CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC

Công thức hệ thống hóa của cuốn sách: THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ÍT HỐI – TÂM NHẸ

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

Đây không phải câu kinh nguyên văn. “Chữ tín” trong công thức có nghĩa: Giữ lời. Sống đáng tin. Không tự chia đôi đời sống của mình. Không được đồng nhất hoàn toàn “chữ tín” này với saddhā – tín tâm trong thuật ngữ Phật học.

III. GIỚI BẢO VỆ TÂM

Giới không chỉ bảo vệ người khác khỏi hành động bất thiện của mình. Giới còn bảo vệ chính tâm mình khỏi tác ý bất thiện. Muốn hại: Giới chặn. Muốn lấy của không cho: Giới chặn. Muốn lừa: Giới chặn. Muốn làm điều sai: Giới chặn. Nhưng sau khi chặn phải soi. NHẬN: Tác ý gì đang sinh? SOI:

Gốc nào đang lái? THẤY: Tham, sân hay si? KHÔNG DÍNH: Không làm theo ngay. KHÔNG CHẤP: Không biến xung lực thành “tôi.” BUÔNG: Bỏ hướng bất thiện.

AN:

Không phải gánh thêm hậu quả mới.

IV. GIỚI KHÔNG CHỈ LÀ NĂM GIỚI

Năm giới là nền đạo đức rất quen thuộc của người cư sĩ. Nhưng Giới trong Phật giáo không chỉ có năm giới. Đời sống xuất gia được điều chỉnh bởi Vinaya – Luật, với hệ thống rộng và chi tiết hơn nhiều. Vì vậy: Người tại gia học và giữ phần tương ứng đời sống tại gia.

Người xuất gia học và hành Luật tương ứng đời sống xuất gia. Không dùng năm giới cư sĩ để thay toàn bộ Luật tạng.

V. GIỚI VÀ CÔNG THỨC PHẬT

Ban đầu: “Không được làm.” Sâu hơn: “Ta thấy vì sao không nên làm.” Sâu nữa: “Ý muốn làm vừa sinh.” Sâu hơn nữa: “Ý này có duyên, vô thường và không cần phải nghe theo.” GIỚI GIỮ HÀNH VI.

NIỆM THẤY XUNG LỰC.

ĐỊNH KHÔNG CHẠY THEO.

TUỆ THẤY BẢN CHẤT. THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

VI. ĐỊNH – SAMĀDHI

Samādhi có thể được hiểu là sự thu nhiếp, định tĩnh, nhất tâm hay tâm được gom vững tùy ngữ cảnh. Trong kinh điển sớm, Chánh định – sammā-samādhi thường được trình bày bằng bốn thiền – cattāri jhānāni. Vì vậy không nên đồng nhất mọi khả năng tập trung đời thường với Chánh định theo nghĩa kinh điển.

“Định lực đời thường” trong cuốn sách là ngôn ngữ hệ thống hóa để thực hành.

ĐỊNH LỰC = KHẢ NĂNG TRỞ VỀ.

ĐỘNG NHƯNG KHÔNG ĐỔ.

TU KHÔNG PHẢI XIN ĐỜI HẾT GIÓ.

TU LÀ MỌC RỄ. Những câu trên là lời hệ thống hóa thực hành, không phải định nghĩa nguyên văn của kinh về samādhi hay jhāna.

VII. ĐỊNH KHÔNG PHẢI ĐỜ ĐẪN

Ngồi im nhưng hôn trầm: Không thể vì im mà gọi là Chánh định. Tập trung rất mạnh để làm điều bất thiện: Không tự động trở thành Chánh định. Chữ “Chánh” rất quan trọng.

VIII. GIỚI – ĐỊNH – TUỆ

Có thể dùng hình ảnh: GIỚI

= KHÔNG CHO XE LAO XUỐNG VỰC.

ĐỊNH

= GIỮ TAY LÁI KHÔNG CHAO.

TUỆ

= BIẾT ĐƯỜNG NÀO NÊN ĐI.

Đây là hình ảnh minh họa, không phải lời kinh.

IX. TUỆ – PAÑÑĀ / PRAJÑĀ

Tuệ không đồng nghĩa với: Thông minh. Nhớ nhiều. Nói hay. Biện luận giỏi. Tuệ trong Phật pháp liên hệ tới cái thấy đúng: Thấy sinh diệt. Thấy nhân duyên. Thấy khổ. Thấy nguyên nhân của khổ. Thấy khả năng đoạn khổ. Thấy con đường thực hành. Biết rằng mọi thứ vô thường: Là kiến thức.

Thấy vô thường đến mức bớt chấp: Là chiều sâu thực hành của Tuệ.

X. CÔNG THỨC PHẬT VÀ TUỆ

THẤY: Thấy tâm, duyên và chấp. TỈNH: Không chạy theo phản ứng cũ. BUÔNG: Không nắm điều đã thấy là không đáng nắm. SÁNG: Cái thấy ngày càng đúng. Mỗi lần thấy được mình, tỉnh được một niệm, buông được một chấp, là đi thêm một bước về phía giác ngộ. Không đồng nhất một lần buông với thành Phật.

XI. GIỚI MÀ THIẾU TUỆ

Giữ giới rồi chấp: “Tôi thanh tịnh hơn.” “Người kia kém hơn.” thì ngã có thể lớn. Vì vậy: BỎ ÁC và LÀM LÀNH chưa phải toàn bộ. Còn: LÀM SẠCH TÂM.

XII. ĐỊNH MÀ THIẾU TUỆ

Tâm yên: Chưa tự động nhổ vô minh. Định hỗ trợ cái thấy sâu. Con đường không dừng ở samādhi. Còn paññā – Tuệ.

XIII. TUỆ KHÔNG ĐƯỢC DÙNG ĐỂ PHỦ NHẬN GIỚI

Không thể nói: “Tất cả là Không nên làm gì cũng được.” Trong Bát-nhã Tâm Kinh – Prajñāpāramitāhṛdaya, câu Hán-Việt quen thuộc: “Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc.” Nhưng śūnyatā – Không không có nghĩa: Không có gì. Không có nhân quả. Không có trách nhiệm. Không cần Giới.

Tánh Không không phải giấy phép cho bất thiện.

XIV. TAM HỌC VÀ DUYÊN KHỞI

Một hành vi bất thiện có nhiều duyên: Xúc. Thọ. Ái. Thủ. Tác ý. Thói quen. Hoàn cảnh. GIỚI: Chặn một số cửa hành động. ĐỊNH: Giúp tâm không bị chuỗi duyên kéo quá nhanh. TUỆ: Thấy chuỗi duyên. Công thức nhớ: GIỚI CHẶN. ĐỊNH GIỮ. TUỆ THẤY.

XV. TAM HỌC VÀ TỨ DIỆU ĐẾ

Thấy Khổ: Cần Tuệ. Đoạn nguyên nhân khổ: Cần tu tập con đường. Chứng Diệt: Không chỉ là suy luận. Tu Đạo: Bao gồm toàn bộ sự phát triển của con đường. Một cách phân nhóm Bát Chánh Đạo truyền thống: GIỚI: Chánh ngữ. Chánh nghiệp. Chánh mạng. ĐỊNH: Chánh tinh tấn. Chánh niệm. Chánh định.

TUỆ: Chánh kiến. Chánh tư duy. Không nên biến ba nhóm này thành ba ngăn kéo độc lập. Chánh kiến hỗ trợ Giới. Giới hỗ trợ Định. Định hỗ trợ Tuệ. Tuệ làm Giới sâu hơn.

XVI. BỐN CÔNG THỨC HÒA TRONG TAM HỌC

Một cảnh tới: THẬT với mình. THẤY tâm. NHẬN thọ. SOI duyên. GIỚI không cho hành sai. ĐỊNH giữ khoảng dừng. TUỆ phân biệt. BỎ ÁC. LÀM LÀNH. KHÔNG DÍNH. KHÔNG CHẤP. BUÔNG. Tâm AN. Cái thấy SÁNG. Lặp lại: Thành LỰC. Bốn công thức không phải bốn con đường. Chúng là bốn cách nhớ và soi cùng một đời sống tu.

XVII. TAM HỌC TRONG MỘT CÂU NÓI

Có người làm mình giận. Miệng sắp nói. GIỚI: Không ác khẩu. ĐỊNH: Dừng lại. TUỆ: Câu này có thật không? Có ích không? Đúng lúc không? Mình nói để giúp hay để hại? THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

XVIII. TAM HỌC TRONG MỘT LẦN ĐƯỢC KHEN

Được khen. NIỆM: Biết lạc thọ. GIỚI: Không vì khen mà nói quá. ĐỊNH: Không chạy theo cảm giác. TUỆ: Lời khen là pháp thế gian có duyên sinh và biến đổi. BUÔNG: Không chấp danh. LÀM LÀNH: Tiếp tục việc đúng.

XIX. TAM HỌC TRONG THẤT BẠI

THẬT: Đang buồn. THẤY: Tâm muốn bỏ. GIỚI: Không vì thất bại mà làm sai. ĐỊNH: Trở lại. TUỆ: Soi nguyên nhân. BUÔNG: Bỏ tự ái. LÀM LÀNH: Sửa việc. LỰC: Đứng lên.

ĐỘNG NHƯNG KHÔNG ĐỔ.

XX. TAM HỌC VÀ ĐẠI NGUYỆN

Nguyện cho hướng. Giới: Không cho nguyện đi sai. Định: Giúp không bỏ nguyện chỉ vì nghịch duyên. Tuệ: Biết điều chỉnh phương tiện. ĐẠI NGUYỆN + GIỚI + ĐỊNH + TUỆ =

MỘT HƯỚNG ĐI BỀN VỮNG.

Đây là công thức hệ thống hóa.

XXI. TAM HỌC VÀ TÁC Ý

Cetanā – tác ý là điểm quan trọng của nghiệp. Tam học đi thẳng vào tác ý. GIỚI: Không cho tác ý bất thiện dễ thành hành động. ĐỊNH: Cho khoảng để thấy tác ý. TUỆ: Soi nguồn và hậu quả. Công thức: TÁC Ý

→ GIỚI SOI RANH

→ ĐỊNH GIỮ TÂM

→ TUỆ SOI HƯỚNG

→ CHỌN.

Đây là lời hệ thống hóa, không phải câu kinh nguyên văn.

XXII. GIỮ GIỚI MÀ VẪN SÂN

Không có gì mâu thuẫn. Giới trước hết giúp sân không dễ biến thành hành động gây hại. Sau đó: NIỆM: Thấy sân. ĐỊNH: Không chạy. TUỆ: Thấy sân. TẤN: Không nuôi. TỪ: Đổi hướng. BUÔNG: Không chấp. Giới là hàng rào đầu tiên. Không phải điểm cuối.

XXIII. NGỒI THIỀN MÀ VẪN KHỔ

Ngồi thiền là một phần pháp hành. Nhưng nếu ra khỏi chỗ ngồi: Nói gì cũng nói. Tham gì cũng chạy. Sân gì cũng trả. thì nền Giới yếu. Nếu chỉ tìm cảm giác yên mà không phát triển Tuệ: Con đường chưa đủ. Tam học phải đi vào đời sống.

XXIV. HỌC NHIỀU MÀ VẪN CHẤP

Biết chữ: Không đồng nghĩa thấy Pháp. Kinh: Là bản đồ. Phải đi. Học vô thường: Thực tập lúc mất. Học vô ngã: Thực tập lúc cái tôi bị chạm. Học Từ: Thực tập với người khó thương. Học Xả: Thực tập khi kết quả không theo ý. TỪ HỌC PHÁP ĐẾN SỐNG PHÁP.

XXV. BA CỬA KIỂM TÂM CUỐI NGÀY

GIỚI: Hôm nay thân khẩu có điều gì phải sửa? ĐỊNH: Hôm nay tâm bị kéo đi thế nào và có biết trở về không? TUỆ: Hôm nay thấy thêm một duyên, một chấp hay một thói quen nào? Rồi hỏi: THẬT: Có đang che lỗi không? THẤY: Tâm gì nổi bật? NHẬN: Thọ gì kéo mạnh? SOI: Duyên nào? BỎ ÁC:

Điều gì cần dừng? LÀM LÀNH: Điều gì cần tăng? KHÔNG DÍNH: Chuyện gì không cần mang tiếp? BUÔNG: Điều gì nên đặt xuống? SÁNG: Hôm nay hiểu thêm điều gì? LỰC: Ngày mai giữ điều đúng nào?

XXVI. DẤU HIỆU GIỚI TRƯỞNG THÀNH

Không phải: Ngày càng thích bắt lỗi người. Mà: Ngày càng ít muốn làm hại. Giới trưởng thành: Trách nhiệm hơn. Chân thật hơn. Tâm mềm hơn. Thân khẩu ít bị tham-sân-si điều khiển hơn.

XXVII. DẤU HIỆU ĐỊNH TRƯỞNG THÀNH

Không chỉ: Ngồi lâu hơn. Mà: Bị chạm: Biết sớm hơn. Bị kéo: Trở lại nhanh hơn. Có việc: Ở với việc được hơn. Có cảm xúc: Không lập tức biến cảm xúc thành hành động. Câu hệ thống hóa:

ĐỊNH LỰC LÀ LỊCH SỬ CỦA VÔ SỐ LẦN TÂM ĐÃ BIẾT TRỞ VỀ.

XXVIII. DẤU HIỆU TUỆ TRƯỞNG THÀNH

Không phải: Thuật ngữ ngày càng khó. Mà: Thấy mình nhanh hơn. Đổ lỗi ít hơn. Chấp ít hơn. Thấy duyên rõ hơn. Biết cái gì cần giữ. Biết cái gì cần buông.

TUỆ KHÔNG CHỈ GIÚP BUÔNG.

TUỆ CÒN CHO BIẾT CÁI GÌ KHÔNG ĐƯỢC BUÔNG.

Không buông: Trách nhiệm. Giới. Đại nguyện thiện. Lòng Từ. Việc cần làm. Buông: Tham. Sân. Si. Ngã chấp. Sự nắm giữ không cần thiết.

XXIX. BUÔNG CÓ TUỆ

Buông không phải: “Thôi kệ.” Không phải: “Không quan tâm.” Không phải: “Không làm nữa.” Mà:

BUÔNG CÁI PHẢI BUÔNG.

GIỮ CÁI PHẢI GIỮ.

ĐÓ MỚI LÀ BUÔNG CÓ TUỆ.

XXX. TAM HỌC VÀ PHÁP CÚ 183

Pháp Cú 183, đại ý: Không làm các điều ác. Thành tựu các hạnh lành. Giữ tâm ý trong sạch. Đó là lời chư Phật dạy. Từ đó cuốn sách hệ thống hóa: BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

Đây là nguyên tắc cực kỳ cô đọng dựa trên Pháp Cú 183 để nhớ tinh thần căn bản của đường tu. Không có nghĩa toàn bộ Tam Tạng, xét theo nội dung và cấu trúc kinh điển, chỉ gồm đúng ba câu này.

XXXI. TAM HỌC VÀ CÔNG THỨC PHẬT

GIỚI: Hỗ trợ Tỉnh trước hành vi. ĐỊNH: Hỗ trợ Thấy rõ và không bị kéo. TUỆ: Đưa cái thấy về phía Sáng. THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG

không thay thế Tam học. Đây là một công thức thực hành giúp đưa Tam học vào đời sống.

XXXII. TAM HỌC VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

GIỚI: Không cho dính biến thành hành động sai. ĐỊNH: Giúp ở với cảm thọ mà chưa phản ứng. TUỆ: Thấy điều đang bị chấp. Rồi: NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

XXXIII. TAM HỌC VÀ CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC

THẬT: Không che tâm. TÍN: Sống đáng tin. THIỆN: Hướng hành động về điều lành. GIỚI: Giữ ranh. ĐỊNH: Thu nhiếp tâm. TUỆ: Thấy đúng. LỰC: Sức tu được nuôi qua sự thực hành lặp lại. Đây là công thức hệ thống hóa của cuốn sách.

XXXIV. MỘT ĐỜI SỐNG KHÔNG TỰ PHÁ TÂM

Định không chỉ được xây trong lúc ngồi. Nếu sống dối, thất tín, hại người, nuôi sân, rồi ép tâm yên, tâm rất khó nhẹ. Câu nhớ:

ĐỊNH LỰC SÂU KHÔNG CHỈ ĐƯỢC XÂY TRONG LÚC GOM TÂM;

NÓ ĐƯỢC XÂY BẰNG CẢ MỘT ĐỜI SỐNG KHÔNG TỰ PHÁ TÂM MÌNH.

XXXV. TỪ MỘT NGÀY ĐẾN MỘT ĐỜI

SÁNG: Nhớ hướng. TRONG NGÀY: Giữ Giới. KHI ĐỘNG: Soi. KHI SAI: Sửa. KHI ĐÚNG: Giữ. KHI ĐƯỢC: Không say. KHI MẤT: Không đổ. CUỐI NGÀY: Xem lại tâm. Lặp một ngày: Thành tập. Lặp lâu: Thành lực.

XXXVI. KẾT

Đừng chỉ hỏi:

“TÔI ĐÃ HỌC BAO NHIÊU PHÁP?”

Hãy hỏi:

“PHÁP ĐÃ ĐI VÀO THÂN – KHẨU – Ý CỦA TÔI BAO NHIÊU?”

Giới: Đưa Pháp vào hành vi. Định: Đưa Pháp vào sức đứng của tâm. Tuệ: Đưa Pháp vào cái thấy. Bốn công thức: Đưa Tam học vào từng khoảnh khắc. THẬT ĐỂ KHÔNG CHE. GIỚI ĐỂ KHÔNG SAI. ĐỊNH ĐỂ KHÔNG ĐỔ. TUỆ ĐỂ KHÔNG MÊ. THẤY ĐỂ TỈNH.

TỈNH ĐỂ KHÔNG DÍNH.

KHÔNG DÍNH ĐỂ BUÔNG.

BUÔNG ĐỂ AN.

BỎ ÁC ĐỂ NGỪNG ĐƯỜNG CŨ.

LÀM LÀNH ĐỂ MỞ ĐƯỜNG MỚI.

LÀM SẠCH TÂM ĐỂ CON ĐƯỜNG TU ĐI VÀO TẬN GỐC.

GIỚI KHÔNG PHẢI ĐỂ TRÓI MÌNH.

ĐỊNH KHÔNG PHẢI ĐỂ TRỐN ĐỜI.

TUỆ KHÔNG PHẢI ĐỂ HƠN NGƯỜI.

GIỚI ĐỂ KHÔNG LÀM KHỔ.

ĐỊNH ĐỂ TÂM CÓ CHỖ TRỞ VỀ.

TUỆ ĐỂ THẤY VÌ SAO KHỔ VÀ CON ĐƯỜNG RA KHỎI KHỔ.1

CHƯƠNG 37
ĀNĀPĀNASATI – NIỆM HƠI THỞ THEO MƯỜI SÁU BƯỚC

Pāli:

ānāpānasati. Tiếng Việt: Niệm hơi thở. Niệm thở vào – thở ra. Quán niệm hơi thở. Nguồn kinh chính:

MN 118 – Ānāpānasati Sutta – Kinh Niệm Hơi Thở.

Ngoài ra:

SN 54 – Ānāpāna-saṃyutta – Tương Ưng Hơi Thở.

Trong MN 118, niệm hơi thở được trình bày thành mười sáu bước, thường chia thành bốn nhóm liên hệ với: THÂN. THỌ. TÂM. PHÁP. Bài kinh cũng trình bày sự phát triển từ: ĀNĀPĀNASATI

→ TỨ NIỆM XỨ

→ THẤT GIÁC CHI

→ MINH VÀ GIẢI THOÁT.

I. NIỆM HƠI THỞ KHÔNG CHỈ ĐỂ THƯ GIÃN

Hơi thở có thể làm thân tâm dịu. Nhưng Ānāpānasati trong kinh không chỉ là một kỹ thuật thư giãn. Nó là một pháp tu giúp phát triển: Niệm. Định. Quán. Tứ Niệm Xứ. Thất Giác Chi. Và chiều sâu của con đường giải thoát.

II. KHÔNG ÉP HƠI THỞ

Hơi dài: Biết dài. Hơi ngắn: Biết ngắn. Thô: Biết thô. Nhẹ: Biết nhẹ. Câu nhớ:

HƠI THỞ KHÔNG CẦN MÌNH LÀM CHO HOÀN HẢO.

TRƯỚC HẾT CHỈ CẦN ĐƯỢC BIẾT ĐÚNG NHƯ NÓ ĐANG LÀ.

NIỆM KHÔNG SỬA TRƯỚC.

NIỆM BIẾT TRƯỚC.

III. BƯỚC 1 VÀ 2 – DÀI VÀ NGẮN

Đại ý MN 118: Thở vào dài: Biết dài. Thở ra dài: Biết dài. Thở vào ngắn: Biết ngắn. Thở ra ngắn: Biết ngắn. Không phán: Dài tốt. Ngắn xấu. Chỉ biết. Đây là: THẤY. Và là chữ: THẬT. Tâm đang lo: Biết lo. Tâm đang sân: Biết sân. Không giả một trạng thái khác.

IV. BƯỚC 3 – CẢM NGHIỆM TOÀN THÂN

MN 118 có bước thường được dịch:

“Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vào; cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra.” Cách giải thích “toàn thân” có khác nhau giữa một số truyền thống và chú giải. Khi xuất bản cần đi theo bản dịch được chọn và chú thích nếu cần. Điểm thực hành an toàn: Mở rộng sự biết đối với toàn bộ tiến trình thân liên hệ hơi thở.

V. BƯỚC 4 – AN TỊNH THÂN HÀNH

Pāli:

passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ. Thường dịch theo hướng: An tịnh thân hành. Trong ngữ cảnh này, hơi thở có liên hệ với kāyasaṅkhāra – thân hành. Biết rồi: Thân và hơi có thể dần lắng. Không cần ép.

VI. HƠI THỞ VÀ ĐỊNH

Thân bớt căng. Hơi bớt thô. Tâm bớt chạy. Định có điều kiện thuận lợi hơn. Nhưng: YÊN KHÔNG TỰ ĐỘNG = JHĀNA. Câu nhớ: YÊN LÀ ĐIỀU KIỆN.

KHÔNG PHẢI CỨ YÊN LÀ CHỨNG ĐỊNH SÂU.

VII. BỐN BƯỚC ĐẦU VÀ CÔNG THỨC PHẬT

Dài: THẤY. Ngắn: THẤY. Toàn thân: THẤY RỘNG HƠN. An tịnh thân hành: BUÔNG BỚT CĂNG. Tâm: TỈNH hơn. Cái thấy: SÁNG hơn.

VIII. NHÓM THỌ

Các bước tiếp theo liên hệ tới: pīti – hỷ. sukha – lạc. cittasaṅkhāra – tâm hành. an tịnh tâm hành. Phải dùng bản dịch cụ thể khi trích nguyên văn.

IX. PĪTI KHÁC MUDITĀ

pīti: Hỷ trong tiến trình thiền và Giác Chi. muditā: Hỷ/Tùy hỷ trong Tứ Vô Lượng Tâm. Hai thuật ngữ khác nhau. Không được trộn.

X. HỶ VÀ LẠC KHÔNG PHẢI ĐỂ CHẤP

Hỷ sinh: Biết. Lạc sinh: Biết. Không săn. Không giữ. Không sợ mất. Công thức: NHẬN

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ BUÔNG.

Câu nhớ:

PHÁP HÀNH KHÔNG CHỈ DẠY RỜI CÁI KHỔ.

CÒN DẠY KHÔNG CHẤP CẢ CÁI DỄ CHỊU.

XI. TÂM HÀNH – CITTASAṄKHĀRA

Trong một số ngữ cảnh Nikāya, thọ và tưởng được gọi là tâm hành. Không nên đơn giản hóa: “Tâm hành = mọi suy nghĩ.” Trong MN 118, hành giả học: Cảm nghiệm tâm hành. An tịnh tâm hành.

XII. THỌ VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

Thọ dễ: Không dính. Thọ khó: Không đẩy. Thọ trung tính: Không mê. NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

“Buông thọ” không có nghĩa làm thọ biến mất. Đúng hơn: Không nắm. Không đẩy. Không nuôi phản ứng.

XIII. NHÓM TÂM

Các bước tiếp theo liên hệ: Biết tâm. Làm tâm hân hoan. Làm tâm định tĩnh. Giải thoát tâm.

XIV. BIẾT TÂM

Tâm tán: Biết tán. Tâm định: Biết định. Tâm nặng: Biết nặng. Tâm sáng: Biết sáng. Không nói: “Tôi là tâm này.” Chỉ: “Tâm hiện đang như vậy.” Đây nối với: cittānupassanā – quán tâm.

XV. CÔNG THỨC PHẬT TRONG QUÁN TÂM

Tâm sân: THẤY. Không chạy: TỈNH. Không tiếp câu chuyện: BUÔNG. Thấy sân do duyên: SÁNG. Tâm tham, sợ, lo: Tương tự.

XVI. LÀM TÂM HÂN HOAN

Pháp hành không phải chỉ căng và ép. Có lúc tâm trì trệ cần được nâng bằng thiện pháp. Thất Giác Chi cho nguyên tắc: Tâm trì trệ: Có thể tăng Trạch pháp – Tinh tấn – Hỷ. Tâm quá động: Có thể tăng Khinh an – Định – Xả. Niệm luôn cần thiết.

XVII. LÀM TÂM ĐỊNH TĨNH

MN 118 có bước liên hệ samādahaṃ cittaṃ – định tâm.

Không cần tự phong chứng đắc. Một buổi yên: Không cần gắn nhãn. Chỉ: Biết. Ổn. Tiếp tục.

XVIII. GIẢI THOÁT TÂM

Bài kinh có bước vimocayaṃ cittaṃ – giải thoát tâm. Đây là thuật ngữ sâu. Không nên nói: “Thở vài phút là giải thoát hoàn toàn.” Cần hiểu trong toàn bộ tiến trình kinh.

XIX. NHÓM PHÁP

Bốn bước cuối thường liên hệ: anicca – vô thường. virāga – ly tham / ly nhiễm. nirodha – đoạn diệt / chấm dứt. paṭinissagga – xả ly / từ bỏ. Đây là chiều Tuệ rất rõ.

XX. VÔ THƯỜNG

Hơi vào: Sinh rồi mất. Hơi ra: Sinh rồi mất. Không có hơi nào giữ mãi. Câu hệ thống hóa: CÁI SỐNG ĐƯỢC

LÀ NHỜ NHẬN VÀ BUÔNG LIÊN TỤC.

Không phải lời kinh nguyên văn.

XXI. VIRĀGA – LY THAM

Thấy vô thường sâu: Cái say giảm. Không vì ghét đời. Mà vì không còn tin cái đổi thay có thể cho sự nắm giữ tuyệt đối.

XXII. NIRODHA – ĐOẠN DIỆT

Không được hiểu là: Đè cảm xúc. Làm tâm chết. Không còn gì. Trong Tứ Diệu Đế: Nirodha liên hệ sự chấm dứt khổ qua đoạn diệt ái. Trong Ānāpānasati: Quán nirodha là chiều sâu quán pháp.

XXIII. PAṬINISSAGGA – XẢ LY

Có thể dịch: Xả ly. Buông bỏ. Từ bỏ. Trao trả. tùy bản dịch. Có điểm gần Công thức Buông nhưng không đồng nhất toàn bộ.

XXIV. NHÓM CUỐI VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

NHẬN: Pháp đang sinh. SOI: Có thường không? THẤY: Sinh – diệt. KHÔNG DÍNH: Không đòi giữ. KHÔNG CHẤP: Không lấy làm tôi/của tôi. BUÔNG: Xả ly.

AN:

Tâm nhẹ.

XXV. MƯỜI SÁU BƯỚC KHÔNG PHẢI MƯỜI SÁU NÚT THÀNH TÍCH

Không biến pháp hành thành: “Xong bước 1.” “Xong bước 2.” Cách hướng dẫn có thể khác giữa truyền thống. Điểm chính: Thực hành đúng. Có Niệm. Có Chánh kiến. Có sự phát triển dần.

XXVI. ĀNĀPĀNASATI VÀ TỨ NIỆM XỨ

MN 118 trình bày:

Niệm hơi thở được tu tập và làm sung mãn có thể làm sung mãn Tứ Niệm Xứ. Bốn nhóm tương ứng: THÂN. THỌ. TÂM. PHÁP.

XXVII. TỨ NIỆM XỨ VÀ THẤT GIÁC CHI

MN 118 tiếp tục nối:

Tứ Niệm Xứ được tu tập đầy đủ hỗ trợ sự phát triển Thất Giác Chi. Thất Giác Chi: NIỆM. TRẠCH PHÁP. TINH TẤN. HỶ. KHINH AN. ĐỊNH. XẢ.

XXVIII. THẤT GIÁC CHI VÀ MINH – GIẢI THOÁT

Trong MN 118, Thất Giác Chi được phát triển hướng tới: MINH. GIẢI THOÁT. Cấu trúc nổi bật: ĀNĀPĀNASATI

→ TỨ NIỆM XỨ

→ THẤT GIÁC CHI

→ MINH VÀ GIẢI THOÁT.

XXIX. BỐN CÔNG THỨC TRONG CHUỖI NÀY

Niệm: THẤY. Trạch pháp: SOI. Tinh tấn: TỈNH – KHÔNG CHẠY. Khinh an:

AN.

Định: TRỞ VỀ. Xả:

KHÔNG DÍNH – BUÔNG.

Tuệ: SÁNG. Bốn công thức là tay vịn.

Kinh điển là xương sống.

XXX. HƠI THỞ VÀ NGŨ CĂN – NGŨ LỰC

TÍN: Tin và thực hành đúng nguồn. TẤN: Trở lại đều. NIỆM: Biết hơi. ĐỊNH: Ở với hơi. TUỆ: Thấy sinh diệt. Lặp: Căn mạnh thành lực.

XXXI. NĂM TRIỀN CÁI TRÊN HƠI THỞ

DỤC: Muốn đối tượng khác. SÂN: Nhớ chuyện khó. HÔN TRẦM: Chìm. TRẠO: Chạy. NGHI: Không biết mình làm đúng không. Triền cái xuất hiện không có nghĩa pháp hành thất bại. Nó là đối tượng để biết.

XXXII. KHI DỤC SINH

Biết dục. Không ghét. Không theo. THẤY. TỈNH. TRỞ VỀ. BUÔNG.

XXXIII. KHI SÂN SINH

Biết: Tâm sân. Thân nóng. Hơi mạnh. THẬT: Đang sân. Không cần giả an. Không nuôi.

XXXIV. KHI HÔN TRẦM

Phải Trạch pháp: Thân thiếu ngủ? Hay tâm trì trệ? Thiếu ngủ: Nghỉ. Trì trệ: Đổi tư thế. Mở mắt. Tăng Tinh tấn. Tuệ biết liều lượng.

XXXV. KHI TRẠO CỬ

Tâm chạy. Biết. Trở. Một trăm lần chạy: Một trăm lần trở. Câu nhớ:

LẦN TRỞ VỀ KHÔNG CHỨNG MINH MÌNH THẤT BẠI.

CHÍNH LẦN TRỞ VỀ LÀ MỘT PHẦN CỦA VIỆC TẬP ĐỊNH.

XXXVI. KHI NGHI

Nghi lành mạnh: Học. Kiểm nguồn. Hỏi người phù hợp. Nghi lặp vô ích: Thấy đó là một câu chuyện tâm. THẬT

→ SOI

→ PHÂN BIỆT

→ CHỌN.

XXXVII. HƠI THỞ VÀ TỨ VÔ LƯỢNG TÂM

Niệm hơi thở không đồng nhất Tứ Vô Lượng Tâm. Nhưng có thể hỗ trợ: Tâm yên hơn: Từ dễ phát triển. Bi bớt bị cuốn. Hỷ bớt ganh. Xả bớt lạnh. Và bốn tâm thiện cũng hỗ trợ nền Định.

XXXVIII. HƠI THỞ VÀ NGHIỆP

Hơi thở không xóa nghiệp. Nhưng có thể tạo khoảng dừng trước tác ý bất thiện. Một hơi trước lời độc: Có thể giúp không nói. Không nói: Một nghiệp mới có thể không sinh. Hơi thở hỗ trợ:

THẤY TÁC Ý TRƯỚC KHI HÀNH.

XXXIX. HƠI THỞ VÀ CÔNG THỨC TAM TẠNG

Tác ý bất thiện: Biết. Không hành: BỎ ÁC. Thiện pháp: Sinh và giữ: LÀM LÀNH. Tham – sân – si: Được thấy và giảm: LÀM SẠCH TÂM.

XL. HƠI THỞ VÀ GIỚI – ĐỊNH – TUỆ

GIỚI: Tạo nền ít hối. ĐỊNH: Được nuôi qua sự ở với hơi. TUỆ: Mở qua vô thường – ly tham – đoạn diệt – xả ly. Ānāpānasati không tách khỏi Tam học.

XLI. HƠI THỞ VÀ VÔ NGÃ

Hơi thở phần lớn vận hành tự động. Có thể điều chỉnh phần nào. Không toàn quyền. Điều này giúp thấy: Khả năng kiểm soát có giới hạn. Không cần dựng một chủ thể bất biến kiểm soát tuyệt đối.

XLII. HƠI THỞ VÀ DUYÊN KHỞI

Hơi đổi theo: Thân. Tâm. Vận động. Cảm xúc. Sức khỏe. Môi trường. Hơi thở cũng là pháp do duyên.

XLIII. HƠI THỞ VÀ BÁT PHONG

Được: Thở. Mất: Thở. Khen: Thở. Chê: Thở. Danh: Thở. Thất danh: Thở. Lạc: Thở. Khổ: Thở. Câu hệ thống hóa: TRƯỚC MỌI CƠN GIÓ,

VẪN CÓ MỘT ĐIỂM QUAY VỀ.

XLIV. TRƯỚC LỜI CHÊ

Tai nghe. Thọ khó. Một hơi. GIỚI: Có cơ hội giữ. ĐỊNH: Có cơ hội đứng. TUỆ: Có cơ hội soi. Một hơi không giải quyết toàn bộ. Nhưng có thể cứu một câu nói.

XLV. TRƯỚC LỜI KHEN

Biết lạc thọ. Một hơi. Không đè. Không giả khiêm. Không dựng ngã quá nhanh. THẤY

→ TỈNH

→ KHÔNG DÍNH.

XLVI. KHI LO

Biết: Hơi. Thân. Tâm. Phân biệt: Dữ kiện thật? Hay tưởng? THẬT

→ THẤY

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ BUÔNG PHẦN NGOÀI QUYỀN.

XLVII. KHI BUỒN

Buồn: Không sai. Biết: Thọ. Hơi. Tâm. Không cần ép: “Phải vui.” Ở với buồn trong Niệm. Không để câu chuyện nuốt toàn bộ tâm.

XLVIII. KHI SÂN

Có thể: Một hơi. Ba hơi. Hoặc rời cảnh nếu cần. Đây là ứng dụng, không phải câu kinh nguyên văn. Câu nhớ:

BIẾT RỜI MỘT CẢNH TRƯỚC KHI TẠO NGHIỆP

CÓ THỂ LÀ TUỆ.

XLIX. HƠI THỞ VÀ ĐAU THÂN

Không ép hơi. Biết: Đau. Thọ. Hơi. Nếu cần chữa: Chữa. Niệm hơi thở không thay chăm sóc y tế.

L. HƠI THỞ KHÔNG PHẢI THUỐC CHỮA TẤT CẢ

Không nên hứa: Chữa mọi bệnh. Xóa mọi lo. Xóa mọi chấn thương. Niệm hơi thở là pháp tu. Các vấn đề sức khỏe cần được xử lý phù hợp.

LI. CHÁNH NIỆM KHÔNG PHẢI TRỐNG ĐẦU

Tâm có nghĩ: Biết. Không cần ép: “Không được nghĩ.” Rồi trở về. Nếu là việc quan trọng: Xử lý sau buổi hành.

LII. TRỞ VỀ KHÔNG PHẢI ĐÁNH TÂM

Tâm chạy: Biết. Không mắng. Trở về. Câu:

MỖI LẦN TRỞ VỀ BẰNG KHÔNG SÂN VỚI CHÍNH MÌNH,

ĐỊNH VÀ TỪ CÙNG ĐƯỢC NUÔI.

LIII. TỨ VÔ LƯỢNG TÂM TRONG PHÁP HÀNH

TỪ: Không đánh tâm. BI: Thấy tâm đang mệt. HỶ: Vui khi thiện pháp tăng. XẢ: Không đòi buổi thiền theo ý.

LIV. KHÔNG SO BUỔI THIỀN

Hôm qua yên. Hôm nay loạn. Không vội: Hôm qua tốt. Hôm nay hỏng. Mỗi buổi do duyên. Hỏi: Tâm hôm nay thế nào? Pháp nào phù hợp?

LV. “THIỀN TỐT” KHÔNG CHỈ LÀ CẢM GIÁC TỐT

Có buổi: Thấy sân rõ. Khó chịu. Nhưng có thể là: Thấy đúng. Có buổi: Rất dễ chịu. Nhưng dính lạc. Vẫn phải tu. Không đánh giá chỉ bằng cảm giác.

LVI. BA TIÊU CHÍ THỰC TẾ

1. Tôi có biết tâm rõ hơn không?

2. Tôi có bớt phản ứng mù không?

3. Giới – thiện – tuệ ngoài đời có tăng không?

LVII. HƠI THỞ TRONG ĐỜI

Không chỉ khi ngồi. Có thể: Trước nói: Biết một hơi. Trước quyết: Biết tâm. Khi đứng: Biết thân. Nhưng không ép mình theo hơi 24 giờ bằng căng thẳng. Niệm cần tự nhiên và đúng liều lượng.

LVIII. NGHE – THỞ – SOI – NÓI

Đây là phương pháp ứng dụng, không phải câu kinh nguyên văn. NGHE. THỞ. SOI. NÓI. Rất phù hợp với: Chánh ngữ. Niệm. Giới.

LIX. TRƯỚC KHI BẤM GỬI

Đang sân. Dừng. Một hơi. Đọc lại. Hỏi: Đúng? Cần? Đúng lúc? Có ý hại? Nếu không: Xóa. Một hơi: BỎ ÁC.

LX. TRƯỚC KHI MUA

Thấy món. Muốn. Một hơi. Hỏi: Cần? Hay thèm? Cần: Làm đúng. Không cần: Buông. Đây là: Hộ căn + Niệm + Tuệ.

LXI. KHOẢNG GIỮA THỌ VÀ HÀNH ĐỘNG

Câu hệ thống hóa:

GIỮA THỌ VÀ HÀNH ĐỘNG,

NGƯỜI TU HỌC TẠO RA MỘT KHOẢNG CÓ NIỆM.

Trong khoảng đó: GIỚI bước vào. ĐỊNH đứng. TUỆ soi. TÁC Ý được chọn lại.

LXII. HƠI THỞ VÀ CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC

Tâm chạy. Trở. Lại chạy. Trở. Lặp: Khả năng trở về mạnh. Câu hệ thống hóa:

ĐỊNH LỰC = KHẢ NĂNG TRỞ VỀ.

Không đồng nhất với samādhi-bala kỹ thuật.

LXIII. HƠI THỞ VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

Hơi vào: Không giữ. Hơi ra: Không giữ. Ý tới: Không giữ. Thọ tới: Không giữ. “Không giữ” không phải đuổi. Chỉ:

ĐỂ PHÁP ĐẾN VÀ ĐI TRONG SỰ BIẾT.

LXIV. HƠI THỞ VÀ CÔNG THỨC PHẬT

Một hơi: THẤY. Tâm đi: TỈNH. Trở lại: BUÔNG DÒNG CŨ. Thấy sinh diệt: SÁNG.

LXV. BẢNG CHẨN KHI HÀNH

Tôi đang ở thân hay ở câu chuyện? Thọ hiện tại là gì? Triền cái nào có mặt? Tâm cần tăng Tấn hay tăng Khinh an? Tôi đang biết hơi hay điều khiển hơi? Tôi đang hành hay đòi kết quả?

LXVI. KHI HƠI THỞ MỜ

Hơi nhẹ: Biết nhẹ. Không rõ: Mở rộng biết thân. Không ép hơi to để dễ thấy.

THẬT VỚI ĐỐI TƯỢNG.

LXVII. KHI CHÚ Ý HƠI LÀM CĂNG

Không phải mọi lúc phải ép giữ hơi. Có thể: Biết thân. Đi kinh hành. Dùng đối tượng phù hợp hơn. Cần hướng dẫn phù hợp nếu có khó khăn. Tuệ không ép một pháp cho mọi người mọi lúc.

LXVIII. NIỆM HƠI THỞ VÀ KINH HÀNH

Kinh hành không đồng nhất Ānāpānasati nếu đối tượng chính là bước chân.

Nhưng hỗ trợ Niệm và Định. Hôn trầm: Có thể đi. Quá tán: Đi chậm. Không cần ôm quá nhiều đối tượng cùng lúc.

LXIX. CHÁNH KIẾN

Chỉ tập trung: Chưa đủ cho toàn bộ con đường giải thoát. Cần Chánh kiến: Vô thường. Khổ. Vô ngã. Duyên khởi. Tứ Diệu Đế. ĐỊNH: Cho nền. TUỆ: Cho hướng giải thoát.

LXX. ĀNĀPĀNASATI VÀ TAM HỌC

GIỚI: Tạo nền ít hối. ĐỊNH: Được nuôi qua sự ở với hơi. TUỆ: Mở qua vô thường, ly tham, đoạn diệt, xả ly.

LXXI. PHÁP HÀNH PHẢI ĐI RA ĐỜI

Ngồi biết hơi. Ra đời: Phải biết phản ứng. Bị chê: Chậm trả hơn. Bị khen: Ít phồng hơn. Mất: Đau nhưng bớt loạn. Được: Vui nhưng bớt bám. Sân: Biết sớm. Tham: Biết sớm. Đây là dấu hiệu pháp hành đi vào đời sống.

LXXII. ĐỪNG KHOE CẢNH GIỚI

Ánh sáng. Hỷ. Nhẹ thân. Yên. Không vội gắn: Chứng đắc. Không vội khoe. Đặc biệt người xuất gia phải rất cẩn trọng với việc tuyên bố pháp thượng nhân không đúng sự thật. Có gì: Biết đó. Không thêm danh.

LXXIII. HƠI THỞ VÀ KHIÊM HẠ

Càng thấy tâm mình: Càng thấy nó chạy nhiều. Không cần tự ghét. Nhưng bớt phán người. Câu:

THẤY TÂM MÌNH THẬT RÕ

LÀ MỘT CÁCH LÀM NGÃ NHỎ ĐI.

LXXIV. HƠI THỞ VÀ PHÁP THÍ

Khi hướng dẫn: Không hứa quá. Không nói: “Thở là chữa mọi bệnh.” Không gán “năng lượng” khi không có nguồn. Nói đúng: Đây là pháp niệm hơi thở. Mục tiêu là phát triển Niệm – Định – Tuệ trong con đường tu. Đó là:

THẬT TRONG HOẰNG PHÁP.

LXXV. PHƯƠNG PHÁP NGẮN TRONG ĐỜI

Đây là lời hệ thống hóa, không phải nguyên văn kinh.

1. DỪNG.

2. BIẾT MỘT HƠI.

3. BIẾT THỌ.

4. BIẾT TÂM MUỐN GÌ.

5. HỎI: VIỆC NÀY CÓ HỢP GIỚI VÀ LỢI ÍCH KHÔNG?

6. CHỌN.

Trong sáu bước này có: Tứ Niệm Xứ. Giới. Định. Tuệ. Tác ý. Bốn công thức.

LXXVI. MỘT HƠI KHÔNG XÓA HẾT KHỔ

Một hơi: Không xóa nghiệp quá khứ. Không xóa hết buồn. Không chữa mọi bệnh. Không làm mình giác ngộ tức thì. Nhưng một hơi có Niệm: Có thể ngăn một câu độc. Một cú bấm. Một phản ứng. Một nghiệp mới. Đó đã là rất lớn.

LXXVII. CÂU GHI NHỚ

HƠI THỞ KHÔNG CẦN MÌNH LÀM CHO HOÀN HẢO.

TRƯỚC HẾT CHỈ CẦN ĐƯỢC BIẾT ĐÚNG NHƯ NÓ ĐANG LÀ.

NIỆM KHÔNG SỬA TRƯỚC.

NIỆM BIẾT TRƯỚC. YÊN LÀ ĐIỀU KIỆN.

KHÔNG PHẢI CỨ YÊN LÀ CHỨNG ĐỊNH SÂU.

PHÁP HÀNH KHÔNG CHỈ DẠY RỜI CÁI KHỔ.

CÒN DẠY KHÔNG CHẤP CẢ CÁI DỄ CHỊU.

BUÔNG KHÔNG PHẢI BỎ PHÁP HÀNH.

BUÔNG LÀ BỎ CÁI NẮM LÀM PHÁP HÀNH NẶNG.

HƠI THỞ KHÔNG PHẢI NƠI TRỐN ĐỜI.

LÀ NƠI HỌC TRỞ VỀ TRƯỚC KHI QUAY LẠI ĐỜI BẰNG MỘT TÂM SÁNG HƠN.

LẦN TRỞ VỀ KHÔNG CHỨNG MINH MÌNH THẤT BẠI.

CHÍNH LẦN TRỞ VỀ LÀ MỘT PHẦN CỦA VIỆC TẬP ĐỊNH.

ĐỊNH KHÔNG SINH VÌ MÌNH KHÔNG BAO GIỜ LẠC.

ĐỊNH LỚN LÊN VÌ MÌNH BIẾT LẠC SỚM VÀ TRỞ VỀ ĐÚNG.

GIỮA THỌ VÀ HÀNH ĐỘNG,

NGƯỜI TU HỌC TẠO RA MỘT KHOẢNG CÓ NIỆM.

LXXVIII. KẾT

Một hơi thở rất nhỏ. Nhưng trong một hơi có: THÂN. THỌ. TÂM. PHÁP. NIỆM. ĐỊNH. TUỆ. VÔ THƯỜNG. BUÔNG. Và cả chỗ nghiệp có thể dừng trước khi thành hành động. Hơi vào: BIẾT. Hơi ra: BIẾT. Tâm chạy: BIẾT. Tâm trở: BIẾT. Đó là: THẤY. Không chạy tiếp: TỈNH. Không nắm ý: BUÔNG. Thấy sinh – diệt:

SÁNG. Hơi khó chịu: NHẬN. Tâm muốn sửa: SOI. Thấy cái muốn: THẤY. Không ép: KHÔNG DÍNH. Không đòi buổi thiền theo ý: KHÔNG CHẤP. Thả cái đòi: BUÔNG. Tâm nhẹ:

AN.

Khi sân muốn nói: Một hơi. Không nói độc: BỎ ÁC. Thay bằng điều đúng: LÀM LÀNH. Thấy gốc sân: LÀM SẠCH TÂM. Mỗi lần trở về: ĐỊNH. Mỗi lần thấy đúng: TUỆ. Lặp lâu: LỰC. Vậy Ānāpānasati không đứng ngoài bốn công thức. Nó là một nơi để bốn công thức được sống. Và MN 118 cho thấy:

ĀNĀPĀNASATI

→ TỨ NIỆM XỨ

→ THẤT GIÁC CHI

→ MINH VÀ GIẢI THOÁT.

Đừng coi thường một hơi. Nhưng cũng đừng thần bí hóa một hơi. Một hơi chưa làm mình thành Phật. Nhưng một hơi được biết đúng: Có thể cứu một niệm mê. Một niệm được tỉnh: Có thể cứu một hành động. Một hành động được chuyển: Có thể đổi một đường nghiệp. Một đường nghiệp đổi nhiều lần:

Có thể đổi một đời sống. CÂU CUỐI:

HƠI THỞ VÀO – BIẾT.

HƠI THỞ RA – BIẾT. TÂM ĐI – BIẾT. TÂM TRỞ – BIẾT.

CẢNH ĐẾN – KHÔNG CẦN CHẠY THEO.

THỌ SINH – KHÔNG CẦN BIẾN THÀNH ÁI.

Ý KHỞI – KHÔNG CẦN BIẾN THÀNH NGHIỆP.

MỖI HƠI THỞ BIẾT ĐƯỜNG TRỞ VỀ

LÀ MỘT LẦN TÂM ĐANG HỌC TỰ DO.

CHƯƠNG 38
APPAMĀDA VÀ MARAṆASATI – KHÔNG PHÓNG DẬT VÀ NHỚ SỰ CHẾT

Pāli:

appamāda – không phóng dật, không dễ duôi. pamāda – phóng dật, dễ duôi. maraṇasati – niệm về sự chết, nhớ sự chết.

Sanskrit:

apramāda – không phóng dật. maraṇasmṛti – niệm chết. Nguồn kinh quan trọng: Dhammapada – Pháp Cú, phẩm Appamāda – Không Phóng Dật. Dhammapada 21 mở đầu: “Appamādo amatapadaṃ…” Thường được dịch theo đại ý: Không phóng dật là con đường đến bất tử; phóng dật là con đường dẫn đến chết.

Cách dịch amata có thể khác nhau theo bản dịch và truyền thống giải thích. Ngoài ra, Tăng Chi Bộ có các bài kinh về maraṇasati – niệm chết, nhấn mạnh tính không chắc chắn của mạng sống và tính khẩn thiết của thực hành.

AN 5.57 – Upajjhatthana Sutta – Kinh Những Điều Cần Thường Xuyên Quán Chiếu cũng là một nguồn rất quan trọng về già, bệnh, chết, chia lìa và nghiệp.

I. APPAMĀDA KHÔNG PHẢI LÀ LUÔN BẬN

Không phóng dật không có nghĩa: Làm việc liên tục. Không ngủ. Không nghỉ. Luôn căng. Một người rất bận vì tham vẫn có thể phóng dật đối với Chánh pháp. Appamāda là:

TỈNH TRƯỚC THIỆN – BẤT THIỆN.

KHÔNG BỎ MẶC ĐIỀU NÊN LÀM.

KHÔNG XEM NHẸ ĐIỀU CẦN TRÁNH.

II. PHÓNG DẬT CÓ THỂ LÀ “BIẾT MÀ KHÔNG LÀM”

Biết sai: Vẫn để. Biết cần xin lỗi: Vẫn trì. Biết phải giữ giới: Vẫn xem nhẹ. Biết tâm đang sân: Vẫn nuôi. Biết cần tu: Cứ để mai. Câu nhớ:

PHÓNG DẬT ĐÔI KHI KHÔNG PHẢI KHÔNG BIẾT.

MÀ LÀ BIẾT RỒI VẪN SỐNG NHƯ CHƯA BIẾT.

III. APPAMĀDA VÀ CÔNG THỨC PHẬT

Biết vô thường: Chưa đủ. THẤY: Thấy nó đang xảy ra. TỈNH: Không sống theo phản ứng mê cũ. BUÔNG: Bỏ cái nắm không cần. SÁNG: Sống đúng hơn. Appamāda biến: BIẾT PHÁP thành SỐNG PHÁP.

IV. APPAMĀDA VÀ CÔNG THỨC TAM TẠNG

BỎ ÁC: Đừng đợi ác lớn mới dừng. LÀM LÀNH: Đừng để thiện vô hạn tới ngày mai. LÀM SẠCH TÂM: Đừng chờ tâm loạn mới nhìn tâm. Pháp Cú 183 và appamāda hỗ trợ nhau rất tự nhiên.

V. APPAMĀDA VÀ TỨ CHÁNH CẦN

Bất thiện chưa sinh: NGĂN. Đã sinh: BỎ. Thiện chưa sinh: SINH. Thiện đã sinh: GIỮ. Appamāda:

KHÔNG DỄ DUÔI CẢ BỐN VIỆC.

VI. TỈNH KHÔNG CÓ NGHĨA CĂNG

Không phóng dật không phải: Canh tâm bằng sợ hãi. Tự trách từng ý. Cố kiểm soát mọi giây. Appamāda phải đi với: NIỆM. TUỆ. KHINH AN. XẢ. Câu nhớ:

TỈNH KHÔNG CÓ NGHĨA CĂNG.

TỈNH LÀ KHÔNG BỎ MẶC TÂM CHO THÓI QUEN CŨ.

VII. MARAṆASATI – NIỆM CHẾT

Maraṇasati: Nhớ rằng sự chết là chắc chắn về nguyên tắc nhưng thời điểm không chắc chắn. Không phải để: Sợ. Bi quan. Ghét đời. Mà để:

KHÔNG TRÌ HOÃN VÔ HẠN VIỆC TU.

Câu nhớ:

NIỆM CHẾT KHÔNG DẠY MÌNH YÊU CÁI CHẾT.

NIỆM CHẾT DẠY MÌNH ĐỪNG TIÊU PHÍ CÁI ĐANG SỐNG.

VIII. NIỆM CHẾT KHÔNG PHẢI BI QUAN

Bi quan: “Rồi cũng chết, thôi.” Maraṇasati: “Vì đời hữu hạn, việc đúng càng đáng làm.” Bi quan: Mất ý nghĩa. Maraṇasati: Lọc lại ý nghĩa. Câu nhớ:

NHỚ CHẾT KHÔNG LÀM ĐỜI VÔ NGHĨA.

NÓ BUỘC MÌNH HỎI CÁI GÌ THẬT SỰ CÓ NGHĨA.

IX. MARAṆASATI VÀ TỨ DIỆU ĐẾ

Già – bệnh – chết: Thuộc thực tại của dukkha. Tâm khổ thêm vì: Ái. Thủ. Muốn cái vô thường phải thường. Đó là chỗ thấy Tập. Khả năng không tiếp tục ái: Hướng về Diệt. Bát Chánh Đạo: Đạo. Niệm chết đúng phải dẫn về con đường. Không dẫn về tuyệt vọng.

X. MARAṆASATI VÀ VÔ THƯỜNG

Thân không hứa: “Phải còn tới tuổi nào.” Vì vậy:

ĐỪNG LẤY MỘT TƯƠNG LAI CHƯA ĐƯỢC HỨA

ĐỂ TRÌ HOÃN MỘT THIỆN PHÁP HÔM NAY.

XI. KẾ HOẠCH KHÁC ẢO TƯỞNG CHẮC CHẮN

Có thể: Lập kế hoạch tháng sau. Lập dự án năm sau. Nhưng không nên tưởng: Mình chắc chắn sở hữu thời gian ấy. Maraṇasati: Không phá kế hoạch. Nó phá ảo tưởng chắc chắn.

XII. XẢ CÓ TUỆ

Không kiểm soát hoàn toàn tuổi thọ: XẢ. Nhưng vẫn: Chăm thân. Giữ giới. Làm việc. Hoàn thành trách nhiệm. Làm thiện. Đây là:

BUÔNG CÁI PHẢI BUÔNG.

GIỮ CÁI PHẢI GIỮ.

XIII. NIỆM CHẾT VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

NHẬN: Thân này sẽ mất. SOI: Tôi đang nắm điều gì như vĩnh viễn? THẤY: Chấp. KHÔNG DÍNH: Yêu mà không biến thành sở hữu tuyệt đối. KHÔNG CHẤP: Không đòi vô thường phải thường. BUÔNG: Nới cái đòi.

AN:

Sống trọn hơn với hiện tại. Câu nhớ:

NIỆM CHẾT KHÔNG DẠY MÌNH BỚT THƯƠNG.

NÓ DẠY MÌNH THƯƠNG MÀ ĐỪNG TƯỞNG MÌNH SỞ HỮU ĐƯỢC ĐỜI NGƯỜI.

XIV. NIỆM CHẾT VÀ TỨ VÔ LƯỢNG TÂM

TỪ: Đời ngắn, đừng làm người khác khổ không cần thiết. BI: Ai cũng chịu già – bệnh – chết, đừng phán quá nhanh. HỶ: Người khác có thiện, tùy hỷ thay vì phí đời ganh. XẢ: Không sở hữu người và kết quả.

XV. APPAMĀDA VÀ GIỚI

Một hành động nghiệp xảy ra: Hôm nay. Không phải ngày mai. Cho nên: Biết sai: Dừng sớm. Biết lời độc: Không nói. Biết phải sửa: Sửa. Appamāda làm Giới có tính sống động.

XVI. KHẨN THIẾT KHÁC HẤP TẤP

Khẩn thiết: Biết việc quan trọng. Hấp tấp: Làm mà không soi. Câu:

ĐỪNG CHẬM VỚI ĐIỀU ĐÚNG.

NHƯNG PHẢI ĐÚNG TRƯỚC KHI NHANH.

XVII. APPAMĀDA VÀ CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC

THẬT: Tôi đang trì việc gì? TÍN: Lời đã hứa có giữ? THIỆN: Việc lành nào cần làm? GIỚI: Điều nào không được vượt? ĐỊNH: Làm việc chính cho trọn. TUỆ: Điều gì thật sự quan trọng? LỰC: Lặp lối sống tỉnh ấy. Không phóng dật: Không phải chạy nhanh. Là sống có hướng.

XVIII. NIỆM CHẾT VÀ CÔNG VIỆC

Maraṇasati không dạy bỏ công việc chân chính. Trách nhiệm: Vẫn làm. Gia đình: Vẫn chăm. Nghề nghiệp: Vẫn giữ Chánh mạng. Hoằng pháp: Vẫn làm. Niệm chết loại: PHUNG PHÍ. Không loại: TRÁCH NHIỆM.

XIX. KHÔNG PHẢI CỨ NGHỈ LÀ PHÓNG DẬT

Thân mệt cần nghỉ: Nghỉ là Tuệ. Làm việc liên tục vì tham: Có thể vẫn là phóng dật. Câu nhớ:

KHÔNG PHẢI CỨ NGHỈ LÀ PHÓNG DẬT.

KHÔNG PHẢI CỨ BẬN LÀ TINH TẤN.

XX. NGHỈ CÓ TUỆ

THẬT: Thân đang mệt hay tâm đang trốn? Nếu thân cần: Nghỉ. Nếu tâm né việc: Soi. Không dùng appamāda để tự hành hạ.

XXI. NIỆM CHẾT PHẢI ĐÚNG NGƯỜI – ĐÚNG LÚC

Người đang hoảng loạn: Không nhất thiết ép quán chết. Có thể cần: An toàn. Từ. Bi. Sự hiện diện. Hơi thở nhẹ. Chăm sóc phù hợp. Pháp phải đúng liều.

XXII. SỢ CHẾT

Sợ chết: Không phải lỗi. NHẬN: Đang sợ. SOI: Sợ gì? Đau? Mất thân? Mất người? Điều chưa xong? Không biết? THẤY: Nỗi sợ cụ thể. Phần làm được: Làm. Phần ngoài quyền: Xả. Câu nhớ:

CAN ĐẢM KHÔNG NHẤT THIẾT LÀ KHÔNG SỢ CHẾT.

CÓ THỂ LÀ BIẾT MÌNH HỮU HẠN MÀ VẪN SỐNG ĐÚNG.

XXIII. MARAṆASATI VÀ TÁC Ý

Cetanā – tác ý là cửa nghiệp. Niệm chết hỏi: “Nếu thời gian hữu hạn, tác ý này có đáng nuôi không?” Trả thù? Ganh? Lừa? Khoe? Hay: Giữ giới? Làm thiện? Xin lỗi? Hành Pháp? Niệm chết giúp lọc tác ý.

XXIV. CÂU HỎI LỌC TÂM

Không nhất thiết hỏi: “Nếu mai chết tôi sẽ làm gì?” Có thể hỏi:

NẾU THỜI GIAN THẬT SỰ HỮU HẠN,

VIỆC NÀY CÓ XỨNG ĐÁNG VỚI THÂN TÂM MÌNH KHÔNG?

Đây là Trạch pháp.

XXV. BA LOẠI VIỆC

VIỆC PHẢI LÀM. VIỆC NÊN LÀM. VIỆC CÓ THỂ BUÔNG. Appamāda: Không bỏ việc phải làm. Tuệ: Phân biệt. Xả: Buông việc không cần.

XXVI. VIỆC PHẢI LÀM

Giữ giới. Trách nhiệm. Sửa lỗi nghiêm trọng. Chăm thân cơ bản. Giữ lời chính đáng. Không dùng chữ “buông” để bỏ trách nhiệm.

XXVII. VIỆC NÊN LÀM

Học Pháp. Thiện sự. Bố thí. Thiền tập. Chăm quan hệ lành. Pháp thí. Không chờ hứng vô hạn.

XXVIII. VIỆC CÓ THỂ BUÔNG

Tranh vô ích. So sánh. Đọc lại lời chê quá nhiều. Cố kiểm soát người khác. Một số ham muốn không cần. BUÔNG: Để dành đời cho điều đáng.

XXIX. MARAṆASATI VÀ BÁT PHONG

Được: Đổi. Mất: Đổi. Khen: Qua. Chê: Qua. Danh: Không giữ mãi. Thất danh: Cũng đổi. Lạc: Không bền. Khổ: Không cố định. Niệm chết đặt Bát phong về đúng kích thước.

XXX. LỜI CHÊ

Đúng: Sửa. Sai: Không cần mang mãi. Đời hữu hạn. Tâm còn nhiều việc tốt hơn để dùng.

XXXI. LỜI KHEN

Vui: Biết. Cảm ơn: Được. Nhưng: Không dựng nhà trong lời khen. THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG.

XXXII. HỘ TRÌ SÁU CĂN VÀ APPAMĀDA

Mạng sống hữu hạn. Vì vậy: Mắt ăn gì? Tai nghe gì? Ý nhai gì? đều đáng soi. Câu nhớ: MẠNG SỐNG HỮU HẠN.

THỨC ĂN CỦA TÂM CŨNG ĐÁNG ĐƯỢC LỰA CHỌN.

XXXIII. MẠNG XÃ HỘI

Không cần ghét. Hỏi: TÔI ĐANG DÙNG NÓ HAY ĐANG BỊ NÓ DÙNG? Dùng để: Học. Làm việc. Hoằng pháp. Kết nối lành. Có mục đích. Kéo vô thức: Cần tỉnh.

XXXIV. THỜI GIAN

Một ngày mất: Từng phút. Một đời đi: Từng ngày. Không cần hoảng vì đời sắp hết. Chỉ:

ĐỪNG ĐỂ UỔNG HÔM NAY.

XXXV. MARAṆASATI VÀ HƠI THỞ

Hơi vào. Hơi ra. Không hơi nào được bảo đảm trước. Một hơi nhắc: Sự sống đang xảy ra hiện tại. Câu nhớ:

MỘT HƠI THỞ KHÔNG LÀM MÌNH SỢ CHẾT.

NÓ NHẮC RẰNG SỰ SỐNG ĐANG XẢY RA NGAY BÂY GIỜ.

XXXVI. ĀNĀPĀNASATI – MARAṆASATI – APPAMĀDA

NIỆM HƠI THỞ: Cho điểm về hiện tại. NIỆM CHẾT: Cho tính khẩn thiết. APPAMĀDA: Cho cách sống. Đây là lời hệ thống hóa của cuốn sách.

XXXVII. NGŨ CĂN – NGŨ LỰC

TÍN: Đừng để Pháp nằm ở sách. TẤN: Thực hành vì thời gian hữu hạn. NIỆM: Không quên điều cần nhớ. ĐỊNH: Không tán đời vô ích. TUỆ: Biết cái gì đáng. LỰC: Sống được như vậy trong cảnh.

XXXVIII. SATI CÓ SẮC THÁI “KHÔNG QUÊN”

Sati không chỉ là chú ý hiện tại theo nghĩa hẹp. Nó còn có sắc thái: Nhớ. Không quên điều cần giữ trong tâm. Maraṇasati: Không quên sự chết. Không cần nghĩ tới chết 24 giờ. Chỉ đừng sống như thể mình bất tử.

XXXIX. MARAṆASATI VÀ ĐỊNH

Nếu niệm chết giúp bớt tán: Tốt. Nếu làm tâm hoảng: Cần điều chỉnh. Pháp nào cũng cần: Đúng liều. Không hành hạ tâm.

XL. MARAṆASATI VÀ TUỆ

Chết: Không phải một sự kiện nhằm riêng vào mình. Mọi thân hữu vi: Sinh – già – bệnh – chết theo duyên. Thấy như vậy: Ngã nhẹ. Bi tăng.

XLI. MARAṆASATI VÀ VÔ NGÃ

Nếu thân thuộc quyền tuyệt đối của tôi: Hãy bảo: Đừng già. Đừng bệnh. Đừng chết. Không được. Vậy: Không có quyền sở hữu tuyệt đối. Nhưng vẫn phải: Chăm thân. Câu nhớ:

CHĂM THÂN BẰNG TRÁCH NHIỆM.

BUÔNG THÂN BẰNG TRÍ KHÔNG SỞ HỮU TUYỆT ĐỐI.

XLII. NĂM ĐIỀU THƯỜNG QUÁN

Nguồn:

AN 5.57 – Upajjhatthana Sutta.

Đại ý: Ta phải chịu già, không thoát khỏi già. Ta phải chịu bệnh, không thoát khỏi bệnh. Ta phải chịu chết, không thoát khỏi chết. Ta phải chia lìa mọi điều thân ái và vừa ý. Ta là chủ nhân của nghiệp, thừa tự nghiệp của mình. Bản dịch có thể khác đôi chút. Nhóm quán này nối rất sâu:

VÔ THƯỜNG. CHIA LÌA. NGHIỆP. TRÁCH NHIỆM.

XLIII. NĂM ĐIỀU QUÁN VÀ BỐN CÔNG THỨC

GIÀ: THẤY thân đổi. BỆNH: TỈNH khỏi ảo tưởng thân bất hoại. CHẾT: BUÔNG trì hoãn. CHIA LÌA: KHÔNG CHẤP sở hữu tuyệt đối. NGHIỆP: THẬT với hành động. GIỚI để không hại. TUỆ để chọn. LỰC để sống đúng.

XLIV. NIỆM CHẾT PHẢI ĐI VỚI NIỆM NGHIỆP

Không chỉ: “Tôi sẽ chết.” Mà: “Tôi đang sống bằng tác ý gì?” Cái chết: Làm thời gian hữu hạn. Nghiệp: Làm lựa chọn có trọng lượng.

XLV. APPAMĀDA TRONG HỌC PHÁP

Không cần học thật nhiều. Một ý: Hiểu. Một câu kinh: Biết nguồn. Một pháp: Hành. Không phóng dật là:

ĐỪNG ĐỂ PHÁP CHỈ ĐI QUA TAI.

XLVI. APPAMĀDA TRONG HOẰNG PHÁP

Thời gian người nghe cũng hữu hạn. Không để họ mất thời gian bởi: Nguồn sai. Lời rỗng. Khoe mình. Tranh vô ích. Pháp thí có trách nhiệm:

NÓI ĐIỀU ĐÚNG VÀ CẦN.

XLVII. MARAṆASATI VÀ NGÃ TRONG HOẰNG PHÁP

Thân: Sẽ mất. Danh: Sẽ đổi. Lượt xem: Sẽ qua. Hỏi:

PHÁP CÓ ĐÚNG KHÔNG?

NGƯỜI CÓ LỢI ÍCH KHÔNG?

Điều đó quan trọng hơn: Cái tôi.

XLVIII. APPAMĀDA VÀ PHÁP THÍ

THẬT: Không bịa nguồn. TÍN: Giữ trách nhiệm lời nói. THIỆN: Lợi người. GIỚI: Không nói sai cố ý. ĐỊNH: Không chạy theo khen. TUỆ: Chọn điều cần. XẢ: Không giữ công. MARAṆASATI: Biết thời gian mình và người nghe đều quý.

XLIX. NIỆM CHẾT VÀ MỐI QUAN HỆ

Có lỗi: Xin lỗi. Có thương: Nói đúng. Có ranh giới: Đặt. Có điều phải buông: Buông. Không dùng vô thường để ở lại trong một quan hệ gây hại. Không dùng giận để kéo dài hận không cần thiết.

L. NGƯỜI MÌNH GIẬN CŨNG HỮU HẠN

Không bắt buộc: Quay lại. Gần lại. Nhưng có thể hỏi:

TÔI CÓ CẦN MANG HẬN ĐẾN HẾT ĐỜI KHÔNG?

Có thể: Giữ khoảng cách. Giữ ranh giới. Không liên hệ. Nhưng: Không nuôi độc.

LI. NIỆM CHẾT VÀ TÀI SẢN

Tài sản: Có công dụng. Không cần ghét. Nhưng: Không sở hữu vĩnh viễn. Câu nhớ:

CÓ TÀI SẢN KHÔNG NHẤT THIẾT LÀ CHẤP.

TƯỞNG TÀI SẢN GIỮ ĐƯỢC MÌNH MỚI LÀ MÊ.

LII. NIỆM CHẾT VÀ DANH

Danh: Có thể dùng cho thiện sự. Nhưng: Không phải cái tôi cố định. Hỏi:

DANH NÀY ĐANG ĐƯỢC DÙNG ĐỂ LÀM GÌ?

Nếu lợi người: Dùng. Nếu chỉ nuôi ngã: Soi.

LIII. BÀN TAY TRỐNG

Sinh: Không mang tài sản vào theo quyền sở hữu thế gian. Chết: Không giữ tài sản theo quyền sở hữu thế gian. Giữa hai đầu: Dùng những gì đang có để: Làm thiện. Giúp người. Học Pháp. Hành Pháp. Câu nhớ: CẦM ĐÚNG LÚC. DÙNG ĐÚNG VIỆC. MỞ ĐÚNG LÚC.

LIV. MARAṆASATI VÀ ĐẠI NGUYỆN

Đời hữu hạn: Càng cần hướng. Đại nguyện: La bàn. Maraṇasati: Nhắc đừng cất la bàn rồi đi lung tung. Nhưng: Đại nguyện không có nghĩa tự hành hạ.

LV. ĐỪNG ĐỐT ĐỜI VÌ ĐỜI NGẮN

Không phải: “Đời ngắn, làm hết.” Mà: “Đời ngắn, đừng phí vào điều không đáng.” Câu nhớ:

BIẾT ĐỜI NGẮN KHÔNG CÓ NGHĨA ĐỐT ĐỜI CHO THẬT NHANH.

NGHĨA LÀ ĐỪNG ĐỐT ĐỜI VÀO ĐIỀU KHÔNG ĐÁNG.

LVI. MARAṆASATI VÀ ĐỊNH LỰC

Biết đời hữu hạn: Không cần thắng mọi cuộc. Không cần phản ứng mọi lời. Không cần giải thích với mọi người. Không cần kiểm soát tất cả. Đây là sức chọn.

LVII. APPAMĀDA VÀ “MỘT VIỆC”

Không phóng dật không phải: Làm hết. Mà: Không bỏ việc chính vì chạy theo việc phụ. Làm một việc đúng. Cho trọn. Rồi việc tiếp.

LVIII. BẢNG CHẨN PHÓNG DẬT

1. Hôm nay cái gì thật sự cần?

2. Tôi đã dành tâm cho nó chưa?

3. Thời gian bị hút vào đâu?

4. Bất thiện nào tôi biết mà vẫn nuôi?

5. Thiện nào tôi biết mà vẫn trì?

6. Ngày mai một điều cần sửa là gì?

Không tự mắng. THẤY. SỬA.

LIX. CÂU CHẨN MARAṆASATI

Nếu thân mạng không được bảo đảm:

HÔM NAY CÓ ĐIỀU GÌ TÔI CẦN HOÀN TẤT VỀ:

GIỚI? TRÁCH NHIỆM? TÌNH THƯƠNG? Nếu có: Làm. Không hoảng.

LX. MARAṆASATI TRONG SÂN

Người kia hữu hạn. Mình hữu hạn. Hỏi:

TÔI CÓ MUỐN DÙNG MỘT PHẦN ĐỜI HỮU HẠN ĐỂ TẠO THÊM ĐỘC KHÔNG?

Cần nói: Nói. Cần ranh giới: Đặt. Nhưng bỏ ý hại.

LXI. MARAṆASATI TRONG GANH

Người kia có thiện. Mình ganh. Nhớ: Đời hữu hạn. THẤY. TỈNH. HỶ. BUÔNG. Trở về việc của mình.

LXII. MARAṆASATI KHI TRÌ HOÃN THIỆN

“Từ mai.” Maraṇasati hỏi:

TẠI SAO THIỆN PHẢI CHỜ?

Không cần làm hết. Một bước: Hôm nay.

LXIII. MARAṆASATI KHI MỆT

Mệt thật: Nghỉ. Không dùng: “đời ngắn” để ép thân. Câu nhớ:

ĐỜI HỮU HẠN NÊN CẢ THỜI GIAN TU

LẪN THỜI GIAN NGHỈ ĐÚNG

ĐỀU ĐÁNG ĐƯỢC TÔN TRỌNG.

LXIV. APPAMĀDA VÀ NGỦ

Ngủ khi thân cần: Không phải phóng dật. Ngủ để trốn: Có thể cần soi. THẬT: Thân cần hay tâm né? TUỆ: Phân biệt.

LXV. NIỆM CHẾT VÀ CHĂM SỨC KHỎE

Biết thân chết: Không có nghĩa bỏ thân. Thân là phương tiện hiện tại. Ăn đúng. Ngủ. Điều trị. Vận động phù hợp. Đó là trách nhiệm.

LXVI. NIỆM CHẾT VÀ BỆNH

Bệnh: Cần điều trị. Không chỉ: Quán vô thường. Pháp và y khoa: Không loại nhau. Pháp: Giúp tâm. Y khoa: Chăm thân. Xả: Phần ngoài quyền.

LXVII. APPAMĀDA VÀ NGHIỆP

Hiện tại: Là nơi nghiệp cũ gặp tác ý mới. Appamāda: Đừng bỏ lỡ hiện tại đó. Bất thiện: Chặn. Thiện: Giữ. Không bỏ trống cửa nghiệp.

LXVIII. MARAṆASATI VÀ SÁM HỐI

Có lỗi: Đừng trì vô hạn. Nhận. Sửa. Khắc phục. Không lặp. Không ai được bảo đảm có vô hạn thời gian để sửa.

LXIX. NIỆM CHẾT KHÔNG XÓA TRÁCH NHIỆM

Nợ: Vẫn trả. Lời hứa: Vẫn giữ. Nghĩa vụ: Vẫn làm. Pháp lý: Vẫn xử lý. “Rồi chết”: Không phải lý do né. Nhớ chết: Làm trách nhiệm rõ hơn.

LXX. MARAṆASATI VÀ CÔNG THỨC PHẬT

THẤY: Thân già – bệnh – chết. TỈNH: Không phủ nhận. BUÔNG: Ảo tưởng bất tử. SÁNG: Sống đúng hơn. Mỗi lần thấy: Là một bước bớt mê về thường còn. Không đồng nhất với thành tựu giác ngộ hoàn toàn.

LXXI. MARAṆASATI VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

Người: Không sở hữu vĩnh viễn. Tài sản: Không sở hữu vĩnh viễn. Danh: Không giữ mãi. Thân: Không giữ mãi. NHẬN. SOI. THẤY. KHÔNG DÍNH. KHÔNG CHẤP. BUÔNG.

AN.

Nhưng:

BUÔNG SỞ HỮU TUYỆT ĐỐI

KHÔNG PHẢI BUÔNG TRÁCH NHIỆM.

LXXII. MARAṆASATI VÀ CÔNG THỨC TAM TẠNG

Đời hữu hạn: BỎ ÁC SỚM. LÀM LÀNH NGAY. LÀM SẠCH TÂM ĐỀU. Câu nhớ:

ĐỪNG ĐỂ CÁI CHẾT TỚI

MỚI PHÁT HIỆN

MÌNH ĐÃ DÀNH QUÁ NHIỀU ĐỜI CHO ĐIỀU KHÔNG ĐÁNG.

LXXIII. MARAṆASATI VÀ CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC

THẬT: Tôi không bất tử. TÍN: Lời hứa cần giữ. THIỆN: Việc lành cần làm. GIỚI: Nghiệp xấu cần ngăn. ĐỊNH: Đừng tán đời. TUỆ: Chọn điều đáng. LỰC: Sống như vậy nhiều lần. Đó là appamāda.

LXXIV. BA LẦM LẪN VỀ NIỆM CHẾT

1. “Niệm chết là tiêu cực.”

SAI.

2. “Rồi cũng chết nên không cần làm.”

SAI.

3. “Phải nghĩ về chết liên tục.”

SAI. Điểm đúng:

KHÔNG QUÊN TÍNH HỮU HẠN

ĐẾN MỨC SỐNG PHÓNG DẬT.

LXXV. BA LẦM LẪN VỀ APPAMĀDA

1. Không phóng dật = luôn làm việc.

SAI.

2. Không phóng dật = không nghỉ.

SAI.

3. Không phóng dật = căng thẳng giữ tâm.

SAI. Đúng hơn: TỈNH. ĐÚNG. ĐỀU.

KHÔNG BỎ MẶC THIỆN PHÁP.

LXXVI. KHUNG PHẢN TỈNH MỘT NGÀY

SÁNG: Điều thiện quan trọng nhất hôm nay là gì? KHI ĐỘNG: Tâm đang tạo nghiệp gì? TRƯỚC NÓI/LÀM: Có hợp giới không? TỐI: Nếu ngày này không trở lại, điều gì đáng giữ và điều gì cần sửa? Đây là khung hệ thống hóa, không phải kinh nguyên văn.

LXXVII. KHÔNG TỰ HÀNH

Không dùng phản tỉnh để nói: “Tôi tệ.” Mà: Sai: Sửa. Thiện: Giữ. Mệt: Nghỉ. Chấp: Buông. Đó là appamāda có Từ.

LXXVIII. TỪ VỚI CHÍNH MÌNH

Không tự phá thân. Không nuôi hận vô hạn. Không cho tâm ăn độc cả ngày. Không bỏ lỗi không sửa. Câu:

KHÔNG DÙNG ĐỜI MÌNH

ĐỂ LÀM KHỔ CHÍNH MÌNH.

LXXIX. MARAṆASATI VÀ XẢ

Chăm thân: Nhưng không bắt thân bất tử. Thương người: Nhưng không bắt người ở mãi. Làm việc: Nhưng không sở hữu kết quả. Tu: Nhưng không ra lệnh ngày chứng. Đó là: LÀM HẾT PHẦN.

BUÔNG QUYỀN SỞ HỮU KẾT QUẢ.

LXXX. NIỆM CHẾT VÀ HẠNH PHÚC

Biết hữu hạn: Bữa cơm quý hơn. Người đang có mặt quý hơn. Một buổi sáng quý hơn. Một hơi thở quý hơn. Câu nhớ:

VÔ THƯỜNG KHÔNG LẤY GIÁ TRỊ KHỎI HIỆN TẠI.

VÔ THƯỜNG LÀM HIỆN TẠI TRỞ NÊN KHÔNG THỂ XEM THƯỜNG.

LXXXI. NIỆM CHẾT VÀ BIẾT ĐỦ

Đời hữu hạn: Bao nhiêu là đủ? Bao nhiêu đang thành gánh? Không có một con số cho tất cả. Nhưng câu hỏi này giúp: Giảm tham. Biết dùng. Biết cho.

LXXXII. TRUNG ĐẠO

Không: Ham sống đến mê. Không: Ghét sống. Không: Ám ảnh chết. Không: Giả như không chết. Biết: Mạng sống hữu hạn. Rồi: SỐNG ĐÚNG.

LXXXIII. APPAMĀDA VÀ CHÁNH TINH TẤN

Không gồng. Lúc cần: Tấn. Lúc cần: Dịu. Lúc cần: Nghỉ. Lúc cần: Làm. Lúc cần: Buông. Đây là:

TINH TẤN CÓ TRẠCH PHÁP.

LXXXIV. APPAMĀDA VÀ THẤT GIÁC CHI

NIỆM: Không quên. TRẠCH PHÁP: Biết điều cần. TINH TẤN: Làm. HỶ: Nuôi thiện. KHINH AN: Không căng. ĐỊNH: Giữ hướng. XẢ: Không sở hữu kết quả. Appamāda có thể: SÁNG. BỀN. DỊU.

LXXXV. KHÔNG PHẢI “SỐNG NHƯ NGÀY CUỐI”

Tinh thần chuẩn hơn:

SỐNG KHÔNG DỄ DUÔI.

Nếu mỗi ngày có thể không lặp lại: Hãy sống ngày ấy có: GIỚI. NIỆM. TUỆ. Không phải: Ăn hết. Xài hết. Bỏ hết.

LXXXVI. VẪN LẬP KẾ HOẠCH DÀI

Biết sẽ chết: Vẫn có thể xây chùa. Viết sách. Trồng cây. Dạy người. Làm việc lớn. Bởi: Không cần sống mãi để làm một điều có giá trị. Câu nhớ:

VÔ THƯỜNG KHÔNG CẤM XÂY VIỆC DÀI.

NÓ DẠY XÂY MÀ KHÔNG TƯỞNG MÌNH SỞ HỮU MÃI.

LXXXVII. APPAMĀDA TRONG DỰ ÁN LỚN

Việc lớn: Làm từng bước. Không phóng dật: Mỗi ngày đặt một viên. Không vì chưa xong mà bỏ. Không vì đời ngắn mà làm ẩu. Câu nhớ:

BIẾT THỜI GIAN HỮU HẠN

KHÔNG LÀM MÌNH HẤP TẤP.

NÓ LÀM TỪNG VIÊN GẠCH CÓ Ý THỨC HƠN.

LXXXVIII. NIỆM CHẾT VÀ DI SẢN

Di sản không chỉ: Tài sản. Công trình. Tên tuổi. Còn: Cách sống. Người đã được giúp. Pháp đã được truyền đúng. Nhân duyên thiện đã tạo.

LXXXIX. KHÔNG CHẤP DI SẢN

Làm: Tốt. Để lại: Tốt. Nhưng không nhất thiết: “Phải mang tên tôi.” Điều quan trọng: Lợi ích có tiếp tục không? Đó là:

XẢ TRONG ĐẠI NGUYỆN.

XC. HƯƠNG ĐỨC HẠNH

Thân: Mất. Tên: Có thể phai. Nhưng hành động có hậu quả. Đức hạnh có thể ảnh hưởng người khác. Chánh pháp được truyền đúng: Có thể tiếp tục làm duyên. Hương đức hạnh không có nghĩa cá nhân bất tử. Mà:

THIỆN PHÁP TIẾP TỤC TẠO DUYÊN.

XCI. PHƯƠNG PHÁP CỰC NGẮN

Khi thấy mình đang phí tâm: DỪNG. Hỏi:

“NẾU THỜI GIAN HỮU HẠN,

VIỆC NÀY CÓ ĐÁNG NUÔI KHÔNG?”

Không: BUÔNG. Đáng: LÀM. Rồi: LÀM CHO ĐÚNG. Công thức hệ thống hóa: DỪNG

→ SOI

→ BUÔNG / LÀM

→ LÀM ĐÚNG.

XCII. CÂU GHI NHỚ

NIỆM CHẾT KHÔNG DẠY MÌNH YÊU CÁI CHẾT.

NIỆM CHẾT DẠY MÌNH ĐỪNG TIÊU PHÍ CÁI ĐANG SỐNG.

PHÓNG DẬT ĐÔI KHI KHÔNG PHẢI KHÔNG BIẾT.

MÀ LÀ BIẾT RỒI VẪN SỐNG NHƯ CHƯA BIẾT.

TỈNH KHÔNG CÓ NGHĨA CĂNG.

NHỚ CHẾT KHÔNG LÀM ĐỜI VÔ NGHĨA.

NÓ BUỘC MÌNH HỎI CÁI GÌ THẬT SỰ CÓ NGHĨA.

NIỆM CHẾT KHÔNG DẠY MÌNH BỚT THƯƠNG.

NÓ DẠY MÌNH THƯƠNG MÀ ĐỪNG TƯỞNG MÌNH SỞ HỮU ĐƯỢC ĐỜI NGƯỜI.

KHẨN THIẾT KHÔNG PHẢI HẤP TẤP.

KHÔNG PHẢI CỨ NGHỈ LÀ PHÓNG DẬT.

KHÔNG PHẢI CỨ BẬN LÀ TINH TẤN.

BIẾT ĐỜI NGẮN KHÔNG CÓ NGHĨA ĐỐT ĐỜI THẬT NHANH.

NGHĨA LÀ ĐỪNG ĐỐT ĐỜI VÀO ĐIỀU KHÔNG ĐÁNG.

HIỆN TẠI LÀ NƠI NGHIỆP CŨ GẶP TÁC Ý MỚI.

APPAMĀDA LÀ ĐỪNG BỎ LỠ HIỆN TẠI ẤY.

VÔ THƯỜNG KHÔNG LẤY GIÁ TRỊ KHỎI HIỆN TẠI.

VÔ THƯỜNG LÀM HIỆN TẠI TRỞ NÊN KHÔNG THỂ XEM THƯỜNG.

XCIII. KẾT

Một ngày có thể rất dài. Một đời nhìn lại: Rất nhanh. Phật pháp không nói điều này để làm mình sợ. Mà để đánh thức: APPAMĀDA. Biết già: THẤY. Biết bệnh: THẤY. Biết chết: THẤY. Biết chia lìa: THẤY. Biết nghiệp: THẤY. Rồi: TỈNH. Có bất thiện: BỎ. Có thiện: LÀM. Có lỗi: SỬA. Có trách nhiệm:

GIỮ. Có phần ngoài quyền: BUÔNG. Có người thương: THƯƠNG CHO ĐÚNG. Có đại nguyện: ĐI TỪNG BƯỚC. Có thân: CHĂM. Có thời gian: ĐỪNG PHÍ. Đây là: THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

Đây là: NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

Đây là: BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

Và: THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

Không phải bốn con đường. Một đời sống. CÂU CUỐI: BIẾT MÌNH SẼ CHẾT

KHÔNG PHẢI ĐỂ SỐNG VỘI.

LÀ ĐỂ SỐNG ĐÚNG.

KHÔNG PHẢI ĐỂ BỎ ĐỜI.

LÀ ĐỂ ĐỪNG BỎ PHÍ ĐỜI.

KHÔNG PHẢI ĐỂ SỢ MỖI NGÀY.

LÀ ĐỂ MỖI NGÀY BIẾT:

CÁI GÌ NÊN GIỮ. CÁI GÌ NÊN LÀM. VÀ CÁI GÌ

ĐÃ ĐẾN LÚC PHẢI BUÔNG.

CHƯƠNG 39
BA MƯƠI BẢY PHẨM TRỢ ĐẠO – BẢN ĐỒ BẢY NHÓM PHÁP TRỢ GIÁC NGỘ

Pāli:

bodhipakkhiyā dhammā.

Sanskrit:

bodhipākṣika-dharmāḥ. Tiếng Việt: Ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Gồm: 4 Tứ Niệm Xứ. 4 Tứ Chánh Cần. 4 Tứ Như Ý Túc. 5 Ngũ Căn. 5 Ngũ Lực. 7 Thất Giác Chi. 8 Bát Chánh Đạo. Tổng: 4 + 4 + 4 + 5 + 5 + 7 + 8 = 37. Điểm cần hiểu: Ba mươi bảy phẩm không phải ba mươi bảy kỹ thuật hoàn toàn tách biệt.

Nhiều phẩm chất như: Niệm. Tinh tấn. Định. Tuệ. xuất hiện trong nhiều nhóm khác nhau vì chúng được nhìn ở những chức năng khác nhau trên con đường tu. Không nên khẳng định rằng một bài kinh duy nhất luôn liệt kê toàn bộ 37 phẩm đúng theo hệ trình bày hiện đại nếu chưa đối chiếu nguồn cụ thể.

Đây là một tổng hợp truyền thống quan trọng của những pháp hỗ trợ giác ngộ.

I. TỨ NIỆM XỨ – CATTĀRO SATIPAṬṬHĀNĀ

Bốn: Thân. Thọ. Tâm. Pháp. Nguồn lớn:

MN 10 – Satipaṭṭhāna Sutta – Kinh Tứ Niệm Xứ.

DN 22 – Mahāsatipaṭṭhāna Sutta – Kinh Đại Niệm Xứ.

Tứ Niệm Xứ trả lời:

TÔI PHẢI THẤY CÁI GÌ?

THÂN: Biết thân. THỌ: Biết cảm thọ. TÂM: Biết trạng thái tâm. PHÁP: Biết các nhóm pháp đang vận hành như triền cái, uẩn, căn, giác chi, Tứ Đế. Tứ Niệm Xứ là trường học lớn của chữ: THẤY.

II. TỨ NIỆM XỨ VÀ CÔNG THỨC PHẬT

Không THẤY: Không thể TỈNH. Không thấy sân: Không biết phải dừng gì. Không thấy thọ: Không biết ái đang sinh từ đâu. Không thấy tâm: Không biết mình đang bị gì kéo. THẤY là cửa đầu của Công thức Phật: THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

III. TỨ CHÁNH CẦN – CATTĀRO SAMMAPPADHĀNĀ

Bốn hướng:

1. Bất thiện chưa sinh:

NGĂN.

2. Bất thiện đã sinh:

BỎ.

3. Thiện chưa sinh:

SINH.

4. Thiện đã sinh:

GIỮ VÀ PHÁT TRIỂN. Tứ Chánh Cần trả lời:

SAU KHI THẤY, TÔI LÀM GÌ?

NIỆM THẤY. TINH TẤN CHUYỂN.

IV. TỨ CHÁNH CẦN VÀ CÔNG THỨC TAM TẠNG

Bất thiện: BỎ ÁC. Thiện: LÀM LÀNH. Lặp đúng: LÀM SẠCH TÂM. Công thức Tam Tạng là cách nhớ tổng quát. Tứ Chánh Cần là cấu trúc kinh điển cụ thể về nỗ lực đúng.

V. TỨ NHƯ Ý TÚC – CATTĀRO IDDHIPĀDĀ

Bốn: chanda. viriya. citta. vīmaṃsā. Có thể dịch gần: Chanda: Ý muốn thiện / chí nguyện. Viriya: Tinh tấn. Citta: Tâm chuyên chú. Vīmaṃsā: Thẩm sát, quán sát, kiểm nghiệm. Tứ Như Ý Túc trả lời:

LÀM SAO MỘT PHÁP ĐƯỢC THEO ĐUỔI ĐỦ SÂU ĐỂ THÀNH TỰU?

VI. CHANDA KHÔNG PHẢI TAṆHĀ

Chanda: Ý muốn, động lực. Taṇhā: Ái. Không phải mọi mong muốn đều là tham ái. Trong Tứ Như Ý Túc, chanda là động lực hướng tới thực hành. Câu nhớ:

KHÔNG PHẢI DIỆT HẾT Ý MUỐN.

PHẢI THẤY Ý MUỐN NÀO KÉO XUỐNG

VÀ Ý MUỐN NÀO NÂNG ĐƯỜNG TU.

VII. VIRIYA

Có nguyện: Chưa đủ. Phải làm. Viriya: Năng lượng đưa điều thiện vào hành.

VIII. CITTA

Không chỉ muốn. Không chỉ làm. Còn: Đặt tâm vào việc. Citta giúp: Tâm đi sâu vào mục tiêu.

IX. VĪMAṂSĀ

Không phải cứ cố là đúng. Phải soi: Phương pháp. Kết quả. Duyên. Hướng. Câu nhớ:

TINH TẤN MÀ KHÔNG THẨM SÁT

DỄ THÀNH CỐ CHẤP.

X. TỨ NHƯ Ý TÚC VÀ ĐẠI NGUYỆN

CHANDA: Muốn đi đúng hướng. VIRIYA: Làm. CITTA: Đặt tâm. VĪMAṂSĀ: Soi phương pháp. Đại nguyện bền cần: MONG ĐÚNG. LÀM ĐỀU. TÂM CHUYÊN. BIẾT CHỈNH.

XI. NGŨ CĂN – PAÑCINDRIYĀNI

Năm: saddhā – tín. viriya – tấn. sati – niệm. samādhi – định. paññā – tuệ. Nguồn:

SN 48 – Indriya-saṃyutta – Tương Ưng Các Căn.

Ngũ Căn trả lời:

NHỮNG PHẨM CHẤT GỐC NÀO PHẢI ĐƯỢC NUÔI?

XII. SADDHĀ – TÍN

Không phải: Tin mù. Không đồng nhất hoàn toàn với: Chữ tín trong Công thức Định lực. Saddhā: Tín tâm, lòng tin trong bối cảnh Phật pháp. Tín cần đi với Tuệ.

XIII. VIRIYA – TẤN

Không Tấn: Tín dễ chỉ là ý tốt. Tấn: Đưa thiện pháp vào hành. Nhưng Tấn cần: Định. Tuệ. Cân bằng.

XIV. SATI – NIỆM

Niệm: Biết. Không quên. Nhớ pháp. Giữ đề mục. Thiếu Niệm: Tín quên. Tấn chạy. Định mất. Tuệ thiếu cái thấy thật.

XV. SAMĀDHI – ĐỊNH

Tâm được gom và ổn định. Không đồng nhất hoàn toàn: Khả năng tập trung đời thường với: Chánh định kỹ thuật trong kinh.

XVI. PAÑÑĀ – TUỆ

Tuệ: Thấy sinh – diệt. Thấy duyên. Thấy Khổ. Thấy Tứ Đế. Thấy vô thường. Thấy vô ngã. Không Tuệ: Tín có thể mù. Tấn có thể gồng. Niệm có thể chỉ quan sát. Định có thể dính yên.

XVII. NGŨ LỰC – PAÑCA BALĀNI

Năm: Tín. Tấn. Niệm. Định. Tuệ. Tên giống Ngũ Căn. Có thể dùng hình ảnh sư phạm: NGŨ CĂN: Những phẩm chất đang được nuôi. NGŨ LỰC: Những phẩm chất ấy khi đã trở nên vững hơn. Đây là cách giải thích thực hành/truyền thống, không nên khẳng định như một câu định nghĩa nguyên văn duy nhất của kinh nếu chưa đối chiếu.

Câu nhớ: TUỆ THÀNH LỰC KHI ĐIỀU MÌNH HIỂU

ĐỨNG ĐƯỢC LÚC ĐỜI THỬ.

XVIII. THẤT GIÁC CHI – SATTA BOJJHAṄGĀ

Bảy: sati – niệm. dhamma-vicaya – trạch pháp. viriya – tinh tấn. pīti – hỷ. passaddhi – khinh an. samādhi – định. upekkhā – xả. Nguồn lớn:

SN 46 – Bojjhaṅga-saṃyutta – Tương Ưng Giác Chi.

Thất Giác Chi trả lời:

TÂM CẦN NHỮNG YẾU TỐ NÀO ĐỂ TIẾN VỀ GIÁC NGỘ MÀ KHÔNG LỆCH?

XIX. NIỆM

Biết. THẤY.

XX. TRẠCH PHÁP

Không phải: Nghĩ thật nhiều. Mà: Phân biệt pháp. Thiện hay bất thiện? Cần tăng hay giảm? Câu nhớ:

TRẠCH PHÁP KHÔNG PHẢI NGHĨ NHIỀU.

LÀ PHÂN BIỆT ĐÚNG.

XXI. TINH TẤN

Thấy rồi: Chuyển. Không chỉ biết sân. Mà: Bỏ sân. Không chỉ biết thiện. Mà: Nuôi thiện.

XXII. HỶ – PĪTI

Pīti: Hỷ trong tiến trình tu. Không đồng nhất với: muditā – Hỷ/Tùy hỷ trong Tứ Vô Lượng Tâm.

XXIII. KHINH AN – PASSADDHI

Tâm không thể tu bằng căng mãi. Khinh an: Dịu. Lắng. Nhẹ.

XXIV. ĐỊNH

Tâm đứng. Không bị tán liên tục.

XXV. XẢ – UPEKKHĀ

Quân bình. Không lạnh. Không mặc kệ. Không nghiêng quá vì thích. Không nghiêng quá vì ghét.

XXVI. CÂN BẰNG GIÁC CHI

Khi tâm trì trệ: Trạch pháp. Tinh tấn. Hỷ. có thể phù hợp để nâng tâm. Khi tâm quá kích: Khinh an. Định. Xả. có thể phù hợp để làm dịu. Niệm: Luôn quan trọng. Đây là nguyên tắc thực hành nổi bật trong các kinh thuộc SN 46.

XXVII. KHÔNG PHẢI CÀNG TẤN CÀNG TỐT

Tâm quá căng: Thêm Tấn có thể càng căng. Cần: Khinh an. Định. Xả. Tâm quá chìm: Chỉ “xả” có thể thành buông xuôi. Cần: Trạch pháp. Tấn. Hỷ. Đây là:

TUỆ ĐIỀU CHỈNH LIỀU LƯỢNG.

XXVIII. BÁT CHÁNH ĐẠO

Pāli:

ariya aṭṭhaṅgika magga.

Sanskrit:

āryāṣṭāṅgamārga. Tám: Chánh kiến. Chánh tư duy. Chánh ngữ. Chánh nghiệp. Chánh mạng. Chánh tinh tấn. Chánh niệm. Chánh định. Nguồn căn bản:

SN 56.11 – Dhammacakkappavattana Sutta – Kinh Chuyển Pháp Luân.

XXIX. CHÁNH KIẾN

Thấy đúng: Khổ. Tập. Diệt. Đạo. Nghiệp. Duyên. Vô thường. Chánh kiến giữ toàn đường không lệch.

XXX. CHÁNH TƯ DUY

Pāli:

sammā-saṅkappa. Các hướng lớn thường được nêu: Ly dục. Không sân. Không hại. Chánh tư duy đi sâu vào: HƯỚNG CỦA TÁC Ý.

XXXI. CHÁNH NGỮ

Không: Nói dối. Nói chia rẽ. Ác khẩu. Nói vô ích theo hướng bất thiện. Còn cần: Đúng. Có ích. Đúng lúc. Động cơ phù hợp.

XXXII. CHÁNH NGHIỆP

Hành động thân đúng. Không hại. Không lấy không cho. Không tà hạnh theo phạm vi giới tương ứng.

XXXIII. CHÁNH MẠNG

Cách kiếm sống không xây trên việc gây hại. Tu không chỉ lúc tụng kinh. Nghề nghiệp cũng là chỗ hành Pháp.

XXXIV. CHÁNH TINH TẤN

Tứ Chánh Cần đi rất gần với Chánh tinh tấn: NGĂN. BỎ. SINH. GIỮ.

XXXV. CHÁNH NIỆM

Tứ Niệm Xứ: THÂN. THỌ. TÂM. PHÁP.

XXXVI. CHÁNH ĐỊNH

Trong kinh điển sớm thường được trình bày qua: Bốn jhāna – bốn thiền. Không đồng nhất với mọi sự tập trung đời thường.

XXXVII. BÁT CHÁNH ĐẠO LÀ XƯƠNG SỐNG

Bốn công thức của cuốn sách: Không thay Bát Chánh Đạo. Câu nhớ:

CÔNG THỨC LÀ TAY VỊN.

CHÁNH PHÁP LÀ CON ĐƯỜNG.

XXXVIII. TẠI SAO NHIỀU PHÁP LẶP TÊN?

Niệm: Xuất hiện nhiều nhóm. Tinh tấn: Xuất hiện nhiều nhóm. Định: Xuất hiện nhiều nhóm. Tuệ: Xuất hiện nhiều nhóm. Vì: Cùng phẩm chất được nhìn ở các chức năng khác nhau. Niệm trong Tứ Niệm Xứ: Đặt trên bốn lĩnh vực quán. Niệm căn: Một năng lực gốc. Niệm lực: Một sức mạnh. Niệm giác chi:

Một yếu tố giác ngộ. Chánh niệm: Một chi của Đạo.

XXXIX. ĐỪNG HỌC 37 PHẨM CHỈ NHƯ DANH SÁCH

Thuộc: 4 – 4 – 4 – 5 – 5 – 7 – 8 có ích để nhớ. Nhưng phải hỏi: KHI SÂN TỚI,

37 PHẨM ĐANG Ở ĐÂU?

XL. MỘT CƠN SÂN

Tứ Niệm Xứ: Biết thân nóng, thọ khó, tâm sân. Tứ Chánh Cần:

Sân đã sinh → bỏ.

Tứ Như Ý Túc: Muốn chuyển, có Tấn, đặt tâm, soi phương pháp. Ngũ Căn: Tín – Tấn – Niệm – Định – Tuệ. Ngũ Lực: Nếu các căn đã mạnh, tâm không dễ bị sân quật. Thất Giác Chi: Niệm biết, Trạch pháp soi, Tấn chuyển, Khinh an dịu, Định giữ, Xả quân bình. Bát Chánh Đạo: Chánh kiến, Chánh tư duy không hại, Chánh ngữ không chửi, Chánh nghiệp không đánh, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.

Một cơn sân: Có thể là cả đạo tràng của 37 phẩm.

XLI. BỐN CÔNG THỨC TRONG CƠN SÂN

THẤY: Sân. TỈNH: Không theo. NHẬN: Thọ. SOI: Gốc. GIỚI: Không hại. BỎ ÁC: Bỏ ý trả. LÀM LÀNH: Sinh Từ. KHÔNG DÍNH: Không kể tiếp. KHÔNG CHẤP: Không giữ cái tôi phải thắng. BUÔNG: Thả.

AN:

Tâm dịu. TUỆ: Thấy duyên. SÁNG: Hiểu rõ hơn. Lặp: LỰC.

XLII. MỘT LỜI KHEN

Khen: Thọ vui. Niệm: Biết. Trạch pháp: Khen đúng hay chỉ lấy lòng? Tứ Chánh Cần:

Nếu ngã sinh → bỏ.

Ngũ Căn: Giữ hướng. Định: Không bay. Tuệ: Thấy vô thường. Xả: Không chấp. THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

XLIII. MỘT THẤT BẠI

Thọ khó: Biết. Tứ Chánh Cần: Không nuôi tuyệt vọng. Chanda: Còn muốn đúng không? Viriya: Còn làm không? Citta: Còn đặt tâm không? Vīmaṃsā: Sai phương pháp gì? Ngũ Căn: Tín – Tấn – Niệm – Định – Tuệ. Giác Chi: Tâm chìm thì tăng Trạch pháp – Tấn – Hỷ. Bát Chánh Đạo: Sửa đúng hướng.

Đây là:

ĐỘNG NHƯNG KHÔNG ĐỔ.

XLIV. ĐẠI NGUYỆN VÀ 37 PHẨM

Nguyện: Cần Chanda. Làm: Cần Viriya. Giữ tâm: Cần Citta. Soi: Cần Vīmaṃsā. Biết mình: Cần Niệm. Không đi sai: Cần Giới và Chánh kiến. Không nản: Cần Tấn. Không hấp tấp: Cần Định. Không sở hữu kết quả: Cần Xả. Đại nguyện bền: Đứng trên hệ tu, không chỉ cảm xúc.

XLV. 37 PHẨM VÀ TAM HỌC

Nhiều đạo phẩm hỗ trợ: GIỚI. ĐỊNH. TUỆ. Không nên ép từng phẩm vào một ngăn cứng. Ba học hỗ trợ nhau. 37 phẩm phát triển các mặt ấy từ nhiều hướng.

XLVI. 37 PHẨM VÀ TỨ DIỆU ĐẾ

Tứ Đế: Cho khung của vấn đề và con đường. 37 phẩm: Cho nhiều năng lực và phương pháp để tu Đạo. KHỔ: Phải hiểu. TẬP: Phải bỏ. DIỆT: Phải chứng. ĐẠO: Phải tu.

XLVII. 37 PHẨM VÀ DUYÊN KHỞI

Tín: Có duyên. Tấn: Có duyên. Niệm: Có duyên. Định: Có duyên. Tuệ: Có duyên. Không chỉ hỏi: “Tại sao tôi chưa có Định?” Hãy hỏi: “Tôi đã tạo duyên cho Định chưa?” Giới? Ít hối? Hộ căn? Đời sống? Niệm? Tinh tấn? Khinh an?

XLVIII. TẠO DUYÊN CHO NIỆM

Giảm đa nhiệm. Chọn đề mục. Nhắc nhớ. Thực hành đều. Giảm kích thích không cần.

XLIX. TẠO DUYÊN CHO ĐỊNH

Giới. Ít hối. Hộ căn. Điều độ. Đề mục phù hợp. Tinh tấn vừa đủ. Khinh an. Định có hệ sinh thái.

L. TẠO DUYÊN CHO TUỆ

Học đúng. Nghe đúng. Quán. Thực hành. Soi kinh nghiệm. Không chấp ý kiến. Gặp cảnh thật. Tuệ không chỉ đến từ đọc.

LI. 37 PHẨM VÀ HỘ TRÌ SÁU CĂN

Mắt thấy. Niệm biết. Chánh tinh tấn ngăn dính. Giới chặn hành sai. Định không chạy. Tuệ thấy vô thường. Xả không nắm. Sáu căn: Là nơi đạo phẩm đi vào đời.

LII. 37 PHẨM VÀ ĀNĀPĀNASATI

MN 118 cho thấy:

Ānāpānasati

→ Tứ Niệm Xứ

→ Thất Giác Chi

→ Minh và giải thoát.

Một pháp hành có thể nuôi nhiều đạo phẩm. Không cần 37 kỹ thuật rời.

LIII. 37 PHẨM VÀ APPAMĀDA

Không phóng dật: Giúp giữ toàn hệ. Biết mà không hành: 37 phẩm nằm trên giấy. Appamāda: Niệm không quên. Tấn không bỏ. Định không tán. Tuệ không bị cất trong sách.

LIV. 37 PHẨM VÀ MARAṆASATI

Niệm chết: Cho tính khẩn thiết. 37 phẩm: Cho phương pháp. Câu nhớ:

NIỆM CHẾT CHO TÍNH KHẨN THIẾT.

37 PHẨM CHO PHƯƠNG PHÁP.

LV. 37 PHẨM VÀ NGHIỆP

Tác ý bất thiện: Niệm thấy. Chánh tinh tấn bỏ. Giới chặn thân khẩu. Chánh tư duy đổi hướng. Tuệ thấy hậu quả. Một nghiệp mới: Có thể không sinh.

LVI. 37 PHẨM VÀ TỨ VÔ LƯỢNG TÂM

TỪ: Cần Niệm thấy sân. BI: Cần Trạch pháp giúp đúng. HỶ: Cần Niệm thấy ganh. XẢ: Cần Định – Tuệ để không lạnh. Tứ Vô Lượng Tâm được nâng bởi đạo phẩm.

LVII. ĐẠO PHẨM VÀ BUÔNG

Đạo phẩm không làm tâm chất thêm đồ. Đạo phẩm giúp biết: Cái gì phải phát triển. Cái gì phải bỏ. PHÁT TRIỂN: Niệm. Tấn. Định. Tuệ. Từ. Bi. Hỷ. Xả. Chánh kiến. Thiện pháp. BỎ: Tham. Sân. Si. Triền cái. Tà kiến. Chấp. Phóng dật. Phản ứng mù. Đây rất gần: BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

LVIII. ĐỪNG CHẤP DANH MỤC

Học tên: Để hiểu. Học số: Để nhớ. Nhưng khi sân tới: Không cần đếm phẩm. Chỉ: BIẾT. DỪNG. SOI. CHỌN. Pháp sống: Quan trọng hơn danh sách.

LIX. HỌC THUẬT VÀ THỰC HÀNH

Học thuật cần: Pāli. Sanskrit. Nguồn. Phân biệt. Thực hành cần: Biết mình. Một cuốn sách tốt cần: CHUẨN NGUỒN VÀ DỄ SỐNG.

LX. 37 PHẨM VÀ CÔNG THỨC PHẬT

Có thể hệ thống hóa: TỨ NIỆM XỨ: THẤY. TỨ CHÁNH CẦN: TỈNH VÀ CHUYỂN. TỨ NHƯ Ý TÚC:

GIỮ HƯỚNG VÀ LÀM SÂU.

NGŨ CĂN – NGŨ LỰC: TẠO NỀN VÀ SỨC. THẤT GIÁC CHI: CÂN BẰNG. BÁT CHÁNH ĐẠO: ĐI ĐÚNG. BUÔNG: Xuyên suốt. SÁNG: Lớn dần qua Tuệ. Đây là cách hệ thống hóa, không phải thay định nghĩa kinh.

LXI. 37 PHẨM VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

NIỆM: NHẬN. TRẠCH PHÁP: SOI. TUỆ: THẤY. ĐỊNH: KHÔNG DÍNH. XẢ: KHÔNG CHẤP. LY THAM: BUÔNG. KHINH AN:

AN.

Đây là cách nhớ thực hành, không phải ánh xạ kinh điển một-một.

LXII. 37 PHẨM VÀ CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC

THẬT: Không che. TÍN: Giữ hướng. THIỆN: Cho động lực đúng. GIỚI: Cho nền. ĐỊNH: Cho sức đứng. TUỆ: Cho hướng. LỰC: Là điều đúng được huân đủ lâu. Công thức này là hệ thống hóa của cuốn sách.

LXIII. MỘT NGÀY VÀ 37 PHẨM

Sáng: Nhớ hướng. Tín + Chanda. Trong việc: Đặt tâm. Citta + Định. Tâm chạy: Niệm. Bất thiện sinh: Tứ Chánh Cần. Khó: Tấn. Căng: Khinh an. Không biết: Trạch pháp. Kết quả trái ý: Xả. Nói: Chánh ngữ. Làm: Chánh nghiệp. Kiếm sống: Chánh mạng. Một ngày bình thường: Đã đủ chỗ cho 37 phẩm.

LXIV. 37 PHẨM TRONG HOẰNG PHÁP

CHÁNH KIẾN: Nguồn đúng? CHANDA: Mục tiêu lợi người? VIRIYA: Chuẩn bị. CITTA: Đặt tâm. VĪMAṂSĀ: Soi cách nói. NIỆM: Biết tâm khi giảng. CHÁNH NGỮ: Không nói sai. ĐỊNH: Không bị bình luận kéo. TUỆ: Biết người nghe cần gì. XẢ: Không chấp lượt xem. HỶ: Vui khi người hiểu. TẤN: Sửa phần chưa tốt.

LXV. 37 PHẨM TRONG XUNG ĐỘT

Người nói khó: NIỆM: Biết. THỌ: Biết. SÂN: Biết. CHÁNH TINH TẤN: Không nuôi. CHÁNH NGỮ: Không ác khẩu. CHÁNH TƯ DUY: Không hại. TỪ: Không trả độc. XẢ: Không cần thắng. VĪMAṂSĀ: Nói thế nào hiệu quả? TUỆ: Giới hạn ở đâu? Đây là Đạo sống.

LXVI. 37 PHẨM KHI MỆT

NIỆM: Biết thân. TRẠCH PHÁP: Thiếu ngủ hay lười? TUỆ: Cần nghỉ hay cần Tấn? XẢ: Không tự hành. APPAMĀDA: Không bỏ việc chính. CITTA: Làm một việc. ĐỊNH: Ở với việc. Đạo phẩm không bắt mình kiệt.

LXVII. 37 PHẨM KHÔNG PHẢI THANG CỨNG

Không nhất thiết: Học xong nhóm này mới sang nhóm khác. Các nhóm hỗ trợ nhau. Trong một sát-na: Niệm. Tấn. Định. Tuệ. có thể cùng hoạt động. Nên hiểu 37 phẩm như:

MỘT MẠNG LƯỚI HỖ TRỢ CON ĐƯỜNG.

LXVIII. BÁT CHÁNH ĐẠO VẪN LÀ KHUNG RẤT QUAN TRỌNG

Chánh kiến. Chánh tư duy. Chánh ngữ. Chánh nghiệp. Chánh mạng. Chánh tinh tấn. Chánh niệm. Chánh định. Nếu phải kiểm hướng lớn: Hãy quay về Bát Chánh Đạo.

LXIX. ĐỊNH MẠNH NHƯNG CHÁNH MẠNG SAI

Đường chưa đủ. Thiền tốt nhưng Chánh nghiệp sai: Đường chưa đủ. Nói hay nhưng Chánh ngữ sai: Đường chưa đủ. Bát Chánh Đạo: Đi vào toàn đời.

LXX. 37 PHẨM VÀ TAM HỌC

GIỚI: Làm đường không lệch. ĐỊNH: Làm tâm không tan. TUỆ: Làm cái thấy không mê. 37 phẩm: Nuôi ba mặt ấy từ nhiều hướng.

LXXI. 37 PHẨM VÀ LỰC

Niệm lặp: Thành lực. Tấn lặp: Thành lực. Giới lặp: Thành lực. Định lặp: Thành lực. Tuệ lặp: Thành lực. Câu nhớ:

LỰC KHÔNG SINH TỪ MỘT LẦN HIỂU ĐÚNG.

LỰC SINH KHI ĐIỀU ĐÚNG ĐƯỢC SỐNG ĐỦ NHIỀU.

LXXII. CHẨN KHI TU BỊ KẸT

Thiếu thấy: NIỆM. Thấy mà không đổi: TẤN. Thiếu động lực: CHANDA THIỆN. Muốn mà không bền: VIRIYA. Làm mà tán: CITTA / ĐỊNH. Cố mà không biết đúng sai:

VĪMAṂSĀ / TRẠCH PHÁP / TUỆ.

Quá căng: KHINH AN. Quá nghiêng: XẢ. Toàn hướng sai: CHÁNH KIẾN. Đây là khung ứng dụng, không phải bảng kinh nguyên văn.

LXXIII. VÔ THƯỜNG VÀ ĐẠO PHẨM

Niệm hôm nay mạnh: Mai có thể yếu. Định hôm nay tốt: Mai có thể tán. Thiện pháp cũng cần duyên và nuôi dưỡng. Không tự mãn. Không tuyệt vọng.

LXXIV. VÔ NGÃ VÀ ĐẠO PHẨM

Niệm mạnh: Không phải “tôi hơn.” Định mạnh: Không phải “tôi chứng.” Tuệ mạnh: Không phải “tôi biết hết.” Phát triển pháp: Không sở hữu pháp.

LXXV. XẢ TRONG ĐƯỜNG DÀI

Tấn: Nhưng không ép. Định: Nhưng không dính yên. Tuệ: Nhưng không kiêu. Thiện: Nhưng không giữ công. Một buổi tốt: Không phồng. Một buổi khó: Không đổ. Đó là Xả trong đường dài.

LXXVI. KHÔNG CẦN HIỂU HẾT 37 MỚI TU

Khi sân: Niệm. Khi muốn trả: Chánh tinh tấn. Khi miệng sắp nói: Chánh ngữ. Khi tán: Định. Khi không biết: Tuệ. Câu:

KHÔNG CẦN ĐỢI HIỂU HẾT 37 MỚI TU.

MỖI LẦN SỐNG ĐÚNG MỘT PHẨM,

ĐƯỜNG ĐANG ĐƯỢC ĐI.

LXXVII. 37 PHẨM VÀ PHÁP CÚ 183

BỎ ÁC: Được hỗ trợ mạnh bởi Tứ Chánh Cần, Giới, Chánh Đạo. LÀM LÀNH: Được hỗ trợ bởi Chanda, Tấn, Chánh tinh tấn và thiện pháp. LÀM SẠCH TÂM: Được hỗ trợ bởi Niệm, Định, Tuệ, Giác Chi. Công thức Tam Tạng: Là nhãn lớn để nhớ. Không thay chi tiết của 37 phẩm.

LXXVIII. 37 PHẨM VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

Niệm: Thấy chấp. Tuệ: Hiểu chấp tạo khổ. Tấn: Không nuôi. Định: Không chạy theo. Xả: Không nghiêng. Ly tham: Nới dính. Tâm: An hơn. NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

LXXIX. 37 PHẨM VÀ CÔNG THỨC PHẬT

TỨ NIỆM XỨ: THẤY. TỨ CHÁNH CẦN: TỈNH VÀ CHUYỂN. TỨ NHƯ Ý TÚC: LÀM SÂU. NGŨ CĂN: NUÔI GỐC. NGŨ LỰC: THÀNH SỨC. THẤT GIÁC CHI: CÂN BẰNG. BÁT CHÁNH ĐẠO: ĐI ĐÚNG. BUÔNG: Xuyên suốt. SÁNG: Lớn dần qua Tuệ.

LXXX. TỪ THÔ ĐẾN TẾ

Ban đầu: Giữ thân khẩu. Sau: Thấy tâm. Sau: Thấy thọ. Sau: Thấy duyên. Sau: Thấy chấp. Sau: Không dính. Sau: Buông. Sau: Tuệ sáng hơn. Đây là hướng phát triển, không phải thang cứng.

LXXXI. MỘT LỜI KHÔNG NÓI ĐỘC CŨNG LÀ ĐẠO

Một lần biết sân: Niệm. Một lần chọn thiện: Tấn. Một lần buông khen: Xả. Một lần sửa tà kiến: Chánh kiến. Đạo nằm trong: Những việc nhỏ được lặp đúng.

LXXXII. 37 PHẨM KHÔNG NẰM NGOÀI ĐỜI

Nó phải đi vào: Ăn. Nói. Đi. Làm. Giảng. Mệt. Khen. Chê. Được. Mất. Đó là: SỐNG PHÁP.

LXXXIII. KHUNG CỰC GỌN ĐỂ NHỚ

TỨ NIỆM XỨ

→ THẤY.

TỨ CHÁNH CẦN

→ CHUYỂN.

TỨ NHƯ Ý TÚC

→ LÀM SÂU.

NGŨ CĂN

→ NUÔI GỐC.

NGŨ LỰC

→ THÀNH SỨC.

THẤT GIÁC CHI

→ CÂN BẰNG.

BÁT CHÁNH ĐẠO

→ ĐI ĐÚNG.

Đây là khung hệ thống hóa để nhớ.

LXXXIV. CÂU GHI NHỚ

BA MƯƠI BẢY PHẨM

KHÔNG PHẢI BA MƯƠI BẢY VIỆC KHÁC NHAU.

NHIỀU PHÁP

LÀ NHỮNG GÓC NHÌN KHÁC NHAU

CỦA CÙNG MỘT TÂM ĐANG ĐƯỢC HUẤN LUYỆN.

NIỆM THẤY. TINH TẤN CHUYỂN.

KHÔNG PHẢI DIỆT HẾT Ý MUỐN.

PHẢI THẤY Ý MUỐN NÀO KÉO XUỐNG

VÀ Ý MUỐN NÀO NÂNG ĐƯỜNG TU.

TINH TẤN MÀ KHÔNG THẨM SÁT

DỄ THÀNH CỐ CHẤP.

TRẠCH PHÁP KHÔNG PHẢI NGHĨ NHIỀU.

LÀ PHÂN BIỆT ĐÚNG. TUỆ THÀNH LỰC KHI ĐIỀU MÌNH HIỂU

ĐỨNG ĐƯỢC LÚC ĐỜI THỬ.

CÔNG THỨC LÀ TAY VỊN.

CHÁNH PHÁP LÀ CON ĐƯỜNG.

ĐẠO PHẨM KHÔNG LÀM TÂM CHẤT THÊM ĐỒ.

ĐẠO PHẨM GIÚP TÂM BIẾT

CÁI GÌ PHẢI PHÁT TRIỂN

VÀ CÁI GÌ PHẢI BỎ.

LỰC KHÔNG SINH TỪ MỘT LẦN HIỂU ĐÚNG.

LỰC SINH KHI ĐIỀU ĐÚNG

ĐƯỢC SỐNG ĐỦ NHIỀU.

KHÔNG CẦN ĐỢI HIỂU HẾT 37 MỚI TU.

MỖI LẦN SỐNG ĐÚNG MỘT PHẨM,

ĐƯỜNG ĐANG ĐƯỢC ĐI.

LXXXV. KẾT

Ba mươi bảy phẩm nghe rất nhiều. Nhưng khi đời chạm: Nó trở thành rất cụ thể. Tâm sân: TỨ NIỆM XỨ: BIẾT. Sân đã sinh: TỨ CHÁNH CẦN: BỎ. Muốn chuyển: CHANDA. Làm: VIRIYA. Đặt tâm: CITTA. Soi cách: VĪMAṂSĀ. Muốn đường có gốc: TÍN. TẤN. NIỆM. ĐỊNH. TUỆ. Khi năm cái ấy trở nên vững hơn: NGŨ LỰC.

Muốn tâm tiến về giác mà không lệch: NIỆM. TRẠCH PHÁP. TINH TẤN. HỶ. KHINH AN. ĐỊNH. XẢ. Muốn cả đời đi đúng: CHÁNH KIẾN. CHÁNH TƯ DUY. CHÁNH NGỮ. CHÁNH NGHIỆP. CHÁNH MẠNG. CHÁNH TINH TẤN. CHÁNH NIỆM. CHÁNH ĐỊNH. Và ngay trong đó: THẬT với tâm. THẤY cái đang có. NHẬN thọ. SOI duyên.

TỈNH trước phản ứng. GIỚI ngăn sai. TINH TẤN bỏ ác. THIỆN được sinh. ĐỊNH giữ tâm. TUỆ phân biệt. KHÔNG DÍNH. KHÔNG CHẤP. BUÔNG.

AN.

SÁNG. Lặp đủ: LỰC. Ba mươi bảy phẩm không phải ba mươi bảy cục kiến thức. Nó là: MỘT ĐỜI SỐNG

ĐANG ĐƯỢC HUẤN LUYỆN

TỪ CHỖ THẤY ĐẾN CHỖ VỮNG, TỪ CHỖ VỮNG ĐẾN CHỖ SÁNG, TỪ CHỖ SÁNG ĐẾN CHỖ BUÔNG. CÂU CUỐI: TỨ NIỆM XỨ – THẤY.

TỨ CHÁNH CẦN – CHUYỂN.

TỨ NHƯ Ý TÚC – LÀM SÂU.

NGŨ CĂN – NUÔI GỐC.

NGŨ LỰC – THÀNH SỨC.

THẤT GIÁC CHI – CÂN BẰNG.

BÁT CHÁNH ĐẠO – ĐI ĐÚNG.

THẤY ĐÚNG. LÀM ĐÚNG. NUÔI ĐÚNG. GIỮ ĐÚNG. BUÔNG ĐÚNG. THÌ CON ĐƯỜNG TỰ NGÀY CÀNG SÁNG.

PHẦN IV
CON ĐƯỜNG ĐẠI THỪA: TRÍ TUỆ, ĐẠI BI VÀ HẠNH NGUYỆN

CHƯƠNG 40
BỒ-ĐỀ TÂM – GIÁC NGỘ KHÔNG CHỈ CHO RIÊNG MÌNH

Sanskrit:

bodhicitta. bodhi: Giác ngộ. citta: Tâm, tâm ý. Bồ-đề tâm là khái niệm trung tâm trong nhiều truyền thống Phật giáo Đại thừa. Có thể hiểu căn bản:

TÂM HƯỚNG TỚI GIÁC NGỘ

VÌ LỢI ÍCH CHÚNG SINH.

Khi học Bồ-đề tâm phải nói rõ: Đây là hệ giáo lý Đại thừa. Không nên trộn nó như thể thuật ngữ này được trình bày cùng một cách trong kinh Nikāya/Pāli. Các nguồn Đại thừa quan trọng liên hệ đến lý tưởng Bồ-tát và tâm hướng giác ngộ có thể gặp trong:

Kinh Hoa Nghiêm – Avataṃsaka Sūtra, đặc biệt truyền thống đọc phẩm Nhập Pháp Giới – Gaṇḍavyūha.

Các kinh Bát-nhã Ba-la-mật-đa – Prajñāpāramitā.

Kinh Kim Cang – Vajracchedikā Prajñāpāramitā Sūtra.

Các kinh và luận Đại thừa về Bồ-tát đạo. Về sau, Śāntideva – Tịch Thiên trình bày Bồ-đề tâm rất sâu trong: Bodhicaryāvatāra – Nhập Bồ-tát Hạnh. Đây là luận Đại thừa, không phải kinh trực tiếp, nên phải phân biệt nguồn.

CÂU NHỚ:

BỒ-ĐỀ TÂM KHÔNG PHẢI MUỐN TRỞ THÀNH NGƯỜI VĨ ĐẠI.

BỒ-ĐỀ TÂM LÀ LÀM CÁI TÔI NHỎ LẠI

ĐẾN MỨC CON ĐƯỜNG TU

KHÔNG CÒN CHỈ XOAY QUANH LỢI ÍCH RIÊNG MÌNH.

I. BỒ-ĐỀ TÂM KHÔNG CHỈ LÀ CẢM XÚC

Một lúc xúc động: Chưa đủ. Phát nguyện lớn: Chưa đủ. Bồ-đề tâm phải đi xuống: Giới. Nhẫn. Tinh tấn. Định. Tuệ. Hành động. Đại nguyện càng lớn: Đời sống càng phải thật.

II. THẬT TRƯỚC KHI NGUYỆN LỚN

Nếu chưa thương rộng được: Bắt đầu không hại. Nếu chưa cứu được người: Đừng làm họ khổ thêm. Nếu chưa có đại bi: Làm một thiện sự thật. THẬT

→ THIỆN

→ GIỚI.

Câu nhớ:

BỒ-ĐỀ TÂM KHÔNG SỢ BẮT ĐẦU NHỎ.

NÓ SỢ NÓI LỚN MÀ SỐNG KHÔNG THẬT.

III. BỒ-ĐỀ TÂM VÀ CÔNG THỨC PHẬT

Người làm mình khó chịu: THẤY: Sân đang có. TỈNH: Không để sân quyết định. BUÔNG: Bớt cái tôi “họ phải theo tôi.” SÁNG: Thấy cả mình và người đều đang chịu tác động của duyên và phiền não. Câu nhớ:

HÔM NAY ĐỪNG LÀM THÊM MỘT CHÚNG SINH KHỔ

VÌ CÁI TÔI CỦA MÌNH.

IV. BỒ-ĐỀ TÂM VÀ PHÁP CÚ 183

Muốn lợi ích chúng sinh: Trước hết: ĐỪNG HẠI. BỎ ÁC. Sau: LÀM THIỆN. LÀM LÀNH. Rồi: Không chấp công. LÀM SẠCH TÂM. Làm nhiều: Chưa đủ. Làm mà cái tôi nhẹ dần: Sâu hơn.

V. BỒ-ĐỀ TÂM KHÔNG PHẢI TÂM “CỨU THẾ”

Không phải: “Không có tôi thì họ không được.” Đúng hơn: “Tôi nguyện tu cho đủ trí và bi để làm phần lợi ích mà duyên cho phép.” Không sở hữu chúng sinh. Không sống thay chúng sinh. Không ép kết quả. Đây là Xả.

VI. BI – TUỆ – XẢ

BI: Không quay mặt trước khổ. TUỆ: Giúp thế nào đúng? XẢ: Làm hết phần mình, không sở hữu kết quả. Câu nhớ:

BỒ-ĐỀ TÂM KHÔNG BẮT MÌNH GÁNH HẾT CHÚNG SINH.

NÓ BẮT MÌNH ĐỪNG THU HẸP TRÁI TIM CHỈ CÒN MỖI MÌNH.

VII. BỒ-ĐỀ TÂM NGUYỆN VÀ BỒ-ĐỀ TÂM HÀNH

Trong truyền thống Đại thừa về sau thường phân biệt: Bồ-đề tâm nguyện. Bồ-đề tâm hành. NGUYỆN: Hướng tới giác ngộ vì lợi ích chúng sinh. HÀNH: Bước vào Bồ-tát hạnh để thực hiện hướng ấy. Nguyện mà không hành: Yếu. Hành không có hướng: Dễ lạc.

VIII. NGUYỆN – TÁC Ý – HÀNH

NGUYỆN: Cho hướng. TÁC Ý: Cho bước. HÀNH: Tạo đường. Bồ-đề tâm mở câu hỏi: Không chỉ: “Tôi được gì?” Mà: “Việc này làm khổ tăng hay giảm?”

IX. BỒ-ĐỀ TÂM VÀ TỨ VÔ LƯỢNG TÂM

TỪ: Mong chúng sinh an. BI: Mong chúng sinh thoát khổ. HỶ: Vui với thiện và an vui của chúng sinh. XẢ: Không thiên lệch và không sở hữu kết quả. Bồ-đề tâm liên hệ sâu với bốn tâm này. Nhưng không đồng nhất hoàn toàn. Bồ-đề tâm trong Đại thừa còn có hướng:

NGUYỆN ĐẠT GIÁC NGỘ

ĐỂ CÓ KHẢ NĂNG LỢI ÍCH CHÚNG SINH SÂU RỘNG.

X. ĐẠI BI – MAHĀKARUṆĀ

Đại bi không phải: Gánh mọi nỗi đau. Không phải: Giúp bằng mọi giá. Bi phải đi cùng: Prajñā – Bát-nhã/Tuệ. THẤY KHỔ: Bi. THẤY DUYÊN: Tuệ. GIÚP ĐÚNG: Hành.

KHÔNG SỞ HỮU KẾT QUẢ:

Xả.

XI. BỒ-ĐỀ TÂM VÀ BÁT-NHÃ

Chỉ Bi: Có thể dính. Chỉ nói Không: Có thể lạnh. Bồ-tát đạo cần: BI + TRÍ. Giúp: Nhưng không chấp: “Tôi là người cứu.” Đây là chỗ Bát-nhã đi vào Bồ-đề tâm.

XII. ĐẠI Ý KINH KIM CANG

Kinh Kim Cang – Vajracchedikā Prajñāpāramitā Sūtra có mạch giáo lý rất nổi tiếng:

Bồ-tát phát tâm lợi ích vô lượng chúng sinh nhưng đồng thời không chấp một thực thể “chúng sinh” cố định được mình cứu. Cách dịch từng câu khác nhau giữa các bản. Điểm thực hành: LÀM HẾT LÒNG NHƯNG KHÔNG CHẤP: TÔI. NGƯỜI ĐƯỢC GIÚP. CÔNG CỦA TÔI.

XIII. BỒ-ĐỀ TÂM VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

Giúp người: NHẬN: Họ đang khổ. SOI: Họ cần gì? THẤY: Mình có muốn kiểm soát không? KHÔNG DÍNH: Họ chưa nghe cũng không lập tức sân. KHÔNG CHẤP: Không lấy họ làm “người của tôi.” BUÔNG: Kết quả ngoài quyền.

AN:

Làm phần đúng.

XIV. BỒ-ĐỀ TÂM KHÔNG BỎ CHÍNH MÌNH

Không ngủ. Không nghỉ. Kiệt sức. Không phải tự động là Bồ-tát hạnh. Thân là phương tiện tu và hành thiện. Phải chăm đúng. Câu nhớ: HY SINH CÓ TRÍ KHÁC TỰ HỦY.

XV. BỒ-ĐỀ TÂM VÀ APPAMĀDA

Đã có đại nguyện: Đừng dễ duôi. Không phải: Phát nguyện hôm nay rồi quên ngày mai. Đời hữu hạn. Hướng phải rõ. Một đời hữu hạn: Có thể được dùng cho một hướng vượt khỏi lợi ích riêng.

XVI. BỒ-ĐỀ TÂM VÀ MARAṆASATI

Không chỉ hỏi: “Tôi sẽ hưởng gì?” Mà hỏi: “Tôi có thể tạo bao nhiêu duyên thiện?” Một người được giúp: Một duyên. Một câu Pháp đúng: Một duyên. Một lần không hại: Một duyên. Một người học đúng: Một duyên.

XVII. BỒ-ĐỀ TÂM VÀ 37 PHẨM TRỢ ĐẠO

Bồ-đề tâm không thay: Tứ Niệm Xứ. Tứ Chánh Cần. Tứ Như Ý Túc. Ngũ Căn. Ngũ Lực. Thất Giác Chi. Bát Chánh Đạo. Bồ-đề tâm: Cho hướng rộng. Đạo phẩm: Cho năng lực đi.

XVIII. MUỐN LỢI CHÚNG SINH PHẢI THẤY TÂM MÌNH

Không thấy: Tham. Sân. Ngã. Nhu cầu được công nhận. thì việc giúp rất dễ lẫn chấp. Bồ-đề tâm càng lớn: Tự quán càng phải sâu.

XIX. TỨ CHÁNH CẦN VÀ BỒ-ĐỀ TÂM

Nói muốn lợi người: Nhưng nuôi sân. Không đủ. Bất thiện: BỎ. Thiện: SINH. Thiện có: GIỮ. Đây là Bồ-đề tâm được bảo vệ bằng Chánh tinh tấn.

XX. TỨ NHƯ Ý TÚC VÀ ĐẠI NGUYỆN

CHANDA: Thật sự muốn đi. VIRIYA: Bền làm. CITTA: Đặt tâm. VĪMAṂSĀ: Soi và chỉnh. Đại nguyện không có bốn điều ấy: Dễ thành cảm xúc.

XXI. NGŨ CĂN VÀ BỒ-TÁT HẠNH

TÍN: Giữ hướng. TẤN: Không bỏ. NIỆM: Không quên tâm. ĐỊNH: Không bị cảnh quật. TUỆ: Không giúp mù. Các phẩm chất ấy mạnh: Lòng Bi mới đi đường dài.

XXII. THẤT GIÁC CHI VÀ BỒ-ĐỀ TÂM

Đại nguyện lớn: Không có nghĩa lúc nào cũng tăng Tấn. Tâm quá nóng: Khinh an. Định. Xả. Tâm chìm: Trạch pháp. Tấn. Hỷ. Bồ-tát đạo cần: CÂN BẰNG. Không phải: Gồng tới kiệt.

XXIII. BÁT CHÁNH ĐẠO GIỮ HƯỚNG

Mục đích đẹp: Không làm phương tiện sai thành đúng. Nguồn sai: Chánh kiến sửa. Lời gây hại: Chánh ngữ sửa. Phương tiện bất chính: Chánh nghiệp/Chánh mạng sửa. Câu nhớ:

ĐẠI NGUYỆN KHÔNG MIỄN CHO MÌNH KHỎI CHÁNH PHÁP.

XXIV. BỒ-ĐỀ TÂM VÀ GIỚI

“Vì lợi chúng sinh”: Không phải giấy phép phá giới tùy tiện. Phương tiện cần: Giới. Trí. Trách nhiệm.

XXV. BỒ-ĐỀ TÂM VÀ ĐỊNH

Việc nhiều: Không làm tất cả cùng lúc. Định hỏi:

VIỆC NÀO ĐÚNG DUYÊN NHẤT BÂY GIỜ?

Đây là sức chọn.

XXVI. BỒ-ĐỀ TÂM VÀ TUỆ

Nguyện: Có thể vô lượng. Bước: Phải thật. Câu nhớ:

NGUYỆN CÓ THỂ VÔ LƯỢNG.

BƯỚC CHÂN VẪN PHẢI ĐẶT ĐÚNG MỘT CHỖ.

XXVII. BỒ-ĐỀ TÂM VÀ PHÁP THÍ

Pháp thí cần: Đúng Pháp. Đúng nguồn. Đúng người. Đúng thời. Nếu truyền sai: Tác hại có thể dài. Vì vậy: THẬT là một phần của Bồ-đề tâm.

XXVIII. GIẢNG ĐÚNG TRƯỚC GIẢNG HAY

Lý tưởng: Đúng và hay. Nhưng nếu phải chọn: ĐÚNG ĐỨNG TRƯỚC ĐẸP. Đó là Bi có Tuệ.

XXIX. BỒ-ĐỀ TÂM VÀ DANH

Danh: Có thể là phương tiện. Danh thành mục tiêu: Phải soi. Được khen: THẤY. Vui: Biết. Không chấp: BUÔNG. Tiếp tục: LÀM LÀNH.

XXX. BỒ-ĐỀ TÂM VÀ TÀI VẬT

Tài vật có thể phục vụ: Chùa. Kinh. Người nghèo. Thiện sự. Hoằng pháp. Nhưng cũng có thể nuôi: Tham. Quyền. Chấp. Câu hỏi:

VẬT CHẤT ĐANG PHỤC VỤ ĐIỀU GÌ?

XXXI. BÀN TAY TRỐNG

Có: Dùng. Không: Không oán. Đến: Nhận đúng. Đi: Mở tay. CẦM ĐÚNG THỨ. DÙNG ĐÚNG VIỆC. MỞ ĐÚNG LÚC. Bồ-đề tâm biến phương tiện thành lợi ích.

XXXII. BỒ-ĐỀ TÂM VÀ NGHIỆP

Bồ-đề tâm hướng tác ý. Câu hỏi:

VIỆC NÀY LÀM KHỔ TĂNG HAY GIẢM?

Hiện tại: Là nơi nghiệp cũ gặp tác ý mới. Bồ-đề tâm: Làm tác ý mới rộng hơn cái tôi.

XXXIII. PHƯỚC VÀ TUỆ

Đại thừa nhấn mạnh việc nuôi: Phước. Tuệ. Không chỉ tạo thiện để riêng mình được tốt. Mà dùng thiện và trí để đi sâu con đường Bồ-tát.

XXXIV. TỪ BỒ-ĐỀ TÂM ĐẾN LỤC BA-LA-MẬT

Nếu hỏi: Bồ-đề tâm phát rồi: Hành bằng gì? Một hệ rất quan trọng là: LỤC BA-LA-MẬT.

Sanskrit:

ṣaṭ pāramitāḥ. Gồm: Bố thí. Trì giới. Nhẫn nhục. Tinh tấn. Thiền định. Bát-nhã. Đây là chiếc cầu: PHÁT TÂM

→ BỒ-TÁT HẠNH.

XXXV. NGƯỜI KHÓ THƯƠNG

Không cần ép: “Tôi phải thích họ.” Bắt đầu: KHÔNG HẠI. Thấy: Họ cũng có khổ và vô minh. Nếu cần: Giữ khoảng cách. Nếu cần: Ngăn sai. Nhưng: Không mong họ khổ.

XXXVI. NGƯỜI KHÔNG NGHE MÌNH

Có duyên: Nói. Không duyên: Gieo hạt. Chưa đúng lúc: Đợi. Câu nhớ:

BỒ-ĐỀ TÂM GIEO DUYÊN.

NGÃ CHẤP ĐÒI KẾT QUẢ.

XXXVII. NGƯỜI PHẢN ĐỐI

Không phải ai phản đối mình cũng chống Pháp. Có thể: Mình sai. THẬT: Soi. Sai: Sửa. Họ sai: Nói đúng nếu cần. Không cần tranh: Buông.

XXXVIII. THẤT BẠI

Thiện sự thất bại: Không vội bỏ đại nguyện. Hỏi: Phương tiện sai? Duyên thiếu? Thời chưa tới? Năng lực chưa đủ? Đây là:

VĪMAṂSĀ – THẨM SÁT.

Câu:

BỒ-ĐỀ TÂM GIỮ HƯỚNG.

TUỆ CHO PHÉP ĐỔI PHƯƠNG TIỆN.

XXXIX. KHÔNG CẦN LÀM VIỆC LỚN

Chăm người bệnh. Giữ giới. Dạy trẻ. Không trả thù. Dịch kinh đúng. Giúp một người. Đều có thể là đất nuôi Bồ-đề tâm. Thiện sự không cần sân khấu.

XL. ĐẠI NGUYỆN PHẢI ĐI QUA NGƯỜI CỤ THỂ

“Độ vô lượng chúng sinh”: Rất lớn. Nhưng người trước mặt: Là một chúng sinh. Câu nhớ:

ĐẠI NGUYỆN VÔ LƯỢNG

PHẢI ĐI QUA

MỘT CHÚNG SINH CỤ THỂ.

XLI. TỪ VỚI CHÍNH MÌNH

Thấy lỗi: Sửa. Không tự hành. Thấy yếu: Tập. Không tự khinh. Từ với mình: Không phải nuông mình. Mà là giữ phương tiện để đi đường dài.

XLII. BỒ-ĐỀ TÂM VÀ VÔ THƯỜNG

Một đời: Ngắn. Một tâm nguyện thiện: Có thể tạo nhiều duyên. Vô thường: Không làm đại nguyện vô ích. Nó làm đại nguyện: KHẨN THIẾT.

XLIII. BỒ-ĐỀ TÂM VÀ VÔ NGÃ

Đại nguyện càng lớn: Cái tôi càng phải nhẹ. Không chấp: Người cho. Người nhận. Vật được cho. Công của tôi. Không phủ nhận quy ước. Mà: Không sở hữu tuyệt đối.

XLIV. BỒ-ĐỀ TÂM VÀ DUYÊN KHỞI

Người khổ: Có nhiều duyên. Giúp người: Phải thấy duyên. Có khi cần: Tài vật. Có khi: Lời nói. Có khi: Im. Có khi: Ranh giới. Có khi: Chuyên môn. Có khi: Pháp. Bi không chỉ hỏi: “Tôi muốn cho gì?” Mà:

“DUYÊN NÀO THẬT SỰ CẦN?”

XLV. BỐN CÂU HỎI TRƯỚC KHI GIÚP

Đây là khung ứng dụng, không phải kinh nguyên văn.

1. HỌ ĐANG KHỔ Ở ĐÂU?

BI.

2. ĐIỀU GÌ THẬT SỰ LỢI ÍCH?

TUỆ.

3. PHẦN NÀO TÔI CÓ THỂ LÀM MÀ KHÔNG GÂY HẠI THÊM?

GIỚI.

4. PHẦN NÀO TÔI PHẢI BUÔNG CHO HỌ TỰ ĐI?

XẢ.

XLVI. BỒ-ĐỀ TÂM VÀ ĐỊNH LỰC

Khen: Trở về nguyện. Chê: Trở về nguyện. Thành: Trở về nguyện. Bại: Trở về nguyện. Câu hệ thống hóa:

ĐỊNH LỰC = KHẢ NĂNG TRỞ VỀ.

Trong Bồ-đề tâm: Trở về hướng thiện rộng.

ĐỘNG NHƯNG KHÔNG ĐỔ.

XLVII. KHÔNG CHẤP ĐẠI NGUYỆN

Phương tiện: Có thể đổi. Hướng thiện: Giữ.

BUÔNG PHƯƠNG TIỆN KHI CẦN.

KHÔNG BUÔNG CHÁNH HƯỚNG.

Tuệ phân biệt.

XLVIII. THÀNH TỰU

Không chỉ đo bằng: Người theo. Công trình. Sách. Tài vật. Danh. Phải soi: Tâm trong. Ngã giảm chưa? Bi tăng chưa? Giới chắc chưa? Tuệ sáng chưa?

XLIX. HƯƠNG ĐỨC HẠNH

Đại nguyện đúng: Phải dần thành đức hạnh. Người ở gần: Bớt bị hại. Người yếu: Được bảo vệ. Người nghe: Nhận Pháp đúng. Người khác thành công: Được tùy hỷ. Đó là hương đức hạnh.

L. ĐẠI NGUYỆN VÀ KHIÊM HẠ

Nguyện càng lớn: Càng phải khiêm. Mình: Chỉ là một duyên trong vô số duyên. Nhưng: Một duyên nhỏ vẫn có thể làm đúng. Câu nhớ:

KHIÊM HẠ KHÔNG LÀM ĐẠI NGUYỆN NHỎ.

KHIÊM HẠ LÀM CÁI TÔI NHỎ

ĐỂ ĐẠI NGUYỆN CÓ CHỖ ĐI QUA.

LI. CÂU GHI NHỚ

BỒ-ĐỀ TÂM KHÔNG PHẢI MUỐN TRỞ THÀNH NGƯỜI VĨ ĐẠI.

BỒ-ĐỀ TÂM LÀ LÀM CÁI TÔI NHỎ LẠI

ĐẾN MỨC CON ĐƯỜNG TU KHÔNG CÒN CHỈ XOAY QUANH LỢI ÍCH RIÊNG MÌNH.

BỒ-ĐỀ TÂM KHÔNG SỢ BẮT ĐẦU NHỎ.

NÓ SỢ NÓI LỚN MÀ SỐNG KHÔNG THẬT.

HÔM NAY ĐỪNG LÀM THÊM MỘT CHÚNG SINH KHỔ

VÌ CÁI TÔI CỦA MÌNH.

BỒ-ĐỀ TÂM KHÔNG BẮT MÌNH GÁNH HẾT CHÚNG SINH.

NÓ BẮT MÌNH ĐỪNG THU HẸP TRÁI TIM CHỈ CÒN MỖI MÌNH.

BỒ-ĐỀ TÂM GIEO DUYÊN.

NGÃ CHẤP ĐÒI KẾT QUẢ.

NGUYỆN CÓ THỂ VÔ LƯỢNG.

BƯỚC CHÂN VẪN PHẢI ĐẶT ĐÚNG MỘT CHỖ.

ĐẠI NGUYỆN KHÔNG MIỄN CHO MÌNH KHỎI CHÁNH PHÁP.

BỒ-ĐỀ TÂM GIỮ HƯỚNG.

TUỆ CHO PHÉP ĐỔI PHƯƠNG TIỆN.

ĐẠI NGUYỆN VÔ LƯỢNG

PHẢI ĐI QUA

MỘT CHÚNG SINH CỤ THỂ.

KHIÊM HẠ KHÔNG LÀM ĐẠI NGUYỆN NHỎ.

KHIÊM HẠ LÀM CÁI TÔI NHỎ

ĐỂ ĐẠI NGUYỆN CÓ CHỖ ĐI QUA.

LII. KẾT

Bồ-đề tâm không nhất thiết bắt đầu bằng một lời tuyên bố lớn. Nó có thể bắt đầu: Khi sân mà không trả. Khi thấy khổ mà không quay đi. Khi thấy người khác thành công mà không ganh. Khi giúp mà không sở hữu. Khi giảng mà không bịa nguồn. Khi được khen mà không lấy khen làm mình.

Khi thất bại mà không bỏ thiện. Khi mệt mà biết nghỉ để còn đi đường dài. Đó là: THẬT. GIỚI. ĐỊNH. TUỆ. TỪ – BI – HỶ – XẢ.

BỎ ÁC – LÀM LÀNH – LÀM SẠCH TÂM.

NHẬN – SOI – THẤY – KHÔNG DÍNH – KHÔNG CHẤP – BUÔNG – AN.

THẤY – TỈNH – BUÔNG – SÁNG.

Bồ-đề tâm làm hướng của tất cả những pháp ấy rộng hơn: KHÔNG CHỈ VÌ MÌNH. CÂU CUỐI: PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM

KHÔNG PHẢI HỨA RẰNG MÌNH SẼ CỨU ĐƯỢC TẤT CẢ.

LÀ NGUYỆN KHÔNG NGỪNG HỌC CÁCH

TRỞ THÀNH MỘT NHÂN DUYÊN

ÍT GÂY KHỔ HƠN, NHIỀU TRÍ HƠN, NHIỀU BI HƠN,

ĐỂ NƠI NÀO DUYÊN ĐẾN,

MÌNH CÓ THỂ LÀM PHẦN LỢI ÍCH

MỘT CÁCH ĐÚNG PHÁP.

CHƯƠNG 41
LỤC BA-LA-MẬT – SÁU CON ĐƯỜNG ĐƯA HẠNH ĐI SÂU

Sanskrit:

ṣaṭ pāramitāḥ – Lục Ba-la-mật. Gồm: dāna – bố thí. śīla – trì giới. kṣānti – nhẫn nhục. vīrya – tinh tấn. dhyāna – thiền định. prajñā – Bát-nhã, trí tuệ. Lục Ba-la-mật là một hệ tu rất quan trọng của Phật giáo Đại thừa. Nó xuất hiện dưới nhiều hình thức trong văn hệ Prajñāpāramitā – Bát-nhã Ba-la-mật-đa và trong các kinh, luận Đại thừa về Bồ-tát hạnh.

Ba-la-mật không nên hiểu chỉ là “làm thật nhiều.” Điểm sâu hơn là: MỖI VIỆC LÀM

NGÀY CÀNG BỚT THAM,

BỚT SÂN, BỚT NGÃ VÀ NHIỀU TRÍ HƠN.

I. DĀNA PĀRAMITĀ – BỐ THÍ BA-LA-MẬT

Bố thí không chỉ hỏi: “Cho bao nhiêu?” Mà còn: “Cho bằng tâm nào?” Cho để được biết ơn: Khác. Cho để cầu danh: Khác. Cho vì thấy người cần: Khác. Cho mà chấp: “Họ mang ơn tôi” thì bàn tay mở nhưng tâm vẫn nắm. Vì vậy khi bố thí: THẬT với động cơ. THẤY phần danh lợi nếu có. GIỚI giữ phương tiện đúng.

TUỆ thấy nhu cầu thật. XẢ không sở hữu phản ứng của người. BUÔNG công. Trong truyền thống Đại thừa thường nói tới: TÀI THÍ: Giúp bằng tài vật. PHÁP THÍ: Chia sẻ Chánh pháp. VÔ ÚY THÍ: Giúp người bớt sợ và được an ổn. Không phải ai khổ cũng cần cùng một thứ. BI hỏi: “Họ đang khổ ở đâu?”

TUỆ hỏi: “Điều gì thật sự giúp?” Bố thí có trí không chỉ biết mở tay. Còn biết: MỞ BAO NHIÊU. LÚC NÀO. BẰNG CÁCH NÀO.

II. ŚĪLA PĀRAMITĀ – TRÌ GIỚI BA-LA-MẬT

Nếu Bố thí là mở tay: Trì giới là:

KHÔNG ĐỂ BÀN TAY ẤY LÀM HẠI.

Không thể nói: “Vì lợi ích chúng sinh” rồi: Nói dối. Lợi dụng. Làm tổn thương. Dùng phương tiện bất chính. Đại nguyện không làm điều sai thành đúng. Giới giữ Bồ-đề tâm không trượt thành cảm tính. Trì giới sâu bắt đầu bằng: THẬT. Có tham: Nhận. Có sân: Nhận. Có nhu cầu được khen:

Nhận. Không tự kết án. Nhưng không che. THẬT

→ THIỆN

→ GIỚI.

Giới sâu không chỉ giữ khi người khác thấy. Câu nhớ: GIỚI THÀNH LỰC

KHI ĐIỀU ĐÚNG VẪN ĐƯỢC GIỮ

TRONG LÚC KHÔNG CÓ KHÁN GIẢ.

III. KṢĀNTI PĀRAMITĀ – NHẪN NHỤC BA-LA-MẬT

Nhẫn không phải: Chịu bạo hành. Không được nói. Không được rời nguy hiểm. Không được bảo vệ. Kṣānti sâu hơn: Không trả sân bằng sân. Chịu đựng khó khăn đúng pháp. Kiên nhẫn trước nghịch duyên. Không để hận trở thành chủ. Nhẫn phải có Tuệ. Có lúc: Im. Có lúc: Nói. Có lúc: Rời. Có lúc:

Ngăn sai. Câu nhớ:

NHẪN KHÔNG PHẢI ĐỂ CÁI ÁC ĐI QUA.

NHẪN LÀ KHÔNG CHO CÁI ÁC ĐI QUA MÌNH

RỒI SINH THÊM MỘT CÁI ÁC MỚI.

Khi bị xúc phạm: NHẬN: Đau. SOI: Cái gì bị chạm? THẤY: Sân, tự ái, oan? GIỚI: Không trả độc. ĐỊNH: Dừng. TUỆ: Cần nói hay im? BUÔNG: Ý trả thù. Nhẫn không có nghĩa: Không đau. Mà:

ĐAU NHƯNG CHƯA TẠO NGHIỆP MỚI.

IV. VĪRYA PĀRAMITĀ – TINH TẤN BA-LA-MẬT

Tinh tấn không đồng nghĩa: Làm thật nhiều. Tinh tấn đúng cần: HƯỚNG ĐÚNG. LỰC ĐÚNG. LIỀU LƯỢNG ĐÚNG. Tứ Chánh Cần: Bất thiện chưa sinh: NGĂN. Bất thiện đã sinh: BỎ. Thiện chưa sinh: SINH. Thiện đã sinh: GIỮ VÀ PHÁT TRIỂN. Tinh tấn nhiều lúc là: DỪNG MỘT ĐIỀU SAI. Đại nguyện sống bằng:

Những việc nhỏ được lặp đủ lâu. Một việc thiện. Một lần giữ giới. Một lần sửa lỗi. Một lần không trả sân. Lặp: Thành đường. Nhưng: Mệt thật: Nghỉ. Bệnh: Chăm. Tâm quá căng: Dịu. Tinh tấn có Tuệ biết: LÚC TIẾN. LÚC GIẢM LỰC.

V. DHYĀNA PĀRAMITĀ – THIỀN ĐỊNH BA-LA-MẬT

Sanskrit:

dhyāna.

Pāli:

jhāna. Thiền định không chỉ là: Ngồi yên. Định giúp: TÂM CÓ GỐC. Trong Bồ-tát hạnh: Định không phải trốn chúng sinh. Định là làm tâm đủ vững để: MỞ CỬA VỚI ĐỜI

MÀ KHÔNG BỊ ĐỜI CUỐN MẤT.

Tâm chạy: NHẬN. SOI: Do tham, sân, lo? Không chạy tiếp: KHÔNG DÍNH. Trở lại: BUÔNG. Tâm ổn:

AN.

Đây là cách ứng dụng đời thường. Không đồng nhất với chứng jhāna kỹ thuật. Định trong việc lợi sinh còn giúp: Không nhận mọi việc. Không lao theo mọi lời gọi. TUỆ: Chọn việc đúng duyên. ĐỊNH: Ở với việc ấy. XẢ: Buông phần ngoài khả năng.

VI. PRAJÑĀ PĀRAMITĀ – BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT

Prajñā: Bát-nhã, trí tuệ. Trong văn hệ Prajñāpāramitā, Bát-nhã đi sâu vào: śūnyatā – tánh Không. Không không có nghĩa: Không có gì. Không nhân quả. Không trách nhiệm. Không giới. Theo chiều sâu Đại thừa: Các pháp không có tự tính độc lập và cố định. Chúng tồn tại do duyên.

Bát-nhã không làm lòng Bi lạnh. Người đau: Vẫn cần giúp. Người đói: Vẫn cần ăn. Người bệnh: Vẫn cần chữa. Nạn nhân: Vẫn cần bảo vệ. Bát-nhã không xóa quy ước. Nó xóa: SỰ CHẤP CỨNG. Bố thí bằng Bát-nhã: Cho nhưng không chấp: “Tôi là người cho.” Không chấp: “Người này nợ tôi.” Không chấp:

“Đây là công của tôi.” Câu nhớ:

BÁT-NHÃ KHÔNG LÀM TAY BỒ-TÁT NGỪNG GIÚP.

BÁT-NHÃ LÀM BÀN TAY GIÚP

MÀ BỚT NẮM.

VII. SÁU BA-LA-MẬT NÂNG ĐỠ NHAU

Bố thí thiếu Tuệ: Có thể cho sai. Giới thiếu Bi: Có thể cứng. Nhẫn thiếu Tuệ: Có thể chịu điều không nên chịu. Tinh tấn thiếu Định: Có thể kiệt. Định thiếu Tuệ: Có thể dính yên. Tuệ thiếu Bi: Có thể lạnh. Vì vậy: LỤC BA-LA-MẬT

KHÔNG PHẢI SÁU CÁI HỘP.

MÀ LÀ MỘT MẠNG LƯỚI.

VIII. MỘT TÌNH HUỐNG – ĐỦ SÁU BA-LA-MẬT

Một người đang khổ tới xin giúp. BỐ THÍ: Chia phần có thể. TRÌ GIỚI: Không lợi dụng. NHẪN: Không trả sân khi họ rối. TINH TẤN: Không bỏ việc đúng chỉ vì khó. THIỀN ĐỊNH: Giữ tâm không loạn. BÁT-NHÃ: Giúp đúng phần và không sở hữu người. Ngay đó: THẬT: Động cơ gì? THẤY: Có ngã không? TỈNH:

Không bị cảm xúc kéo. NHẬN – SOI: Người thật sự cần gì? GIỚI: Không làm sai. LÀM LÀNH: Giúp. KHÔNG CHẤP: Không đòi biết ơn. BUÔNG: Kết quả ngoài quyền. SÁNG: Thấy duyên.

IX. BA-LA-MẬT KHÔNG PHẢI ĐỂ KHOE ĐỨC

“Ta bố thí nhiều.” “Ta nhẫn giỏi.” “Ta tu tốt.” Nếu cái tôi lớn theo: Phải soi. Câu nhớ: BA-LA-MẬT LỚN DẦN KHI VIỆC THIỆN LỚN

MÀ CÁI TÔI KHÔNG CẦN LỚN THEO.

X. LỤC BA-LA-MẬT VÀ BỒ-ĐỀ TÂM

Bồ-đề tâm nói: “Tôi nguyện đi về giác ngộ vì lợi ích chúng sinh.” Lục Ba-la-mật trả lời: “Hãy bắt đầu sống như vậy.” CHO. KHÔNG HẠI. NHẪN. ĐI TIẾP. GIỮ TÂM. THẤY SÂU. Không cần bắt đầu bằng việc lớn. Hôm nay: Một lần cho đúng. Một giới giữ đúng. Một cơn sân không trả. Một việc thiện làm trọn.

Một lần tâm chạy biết trở. Một lần thấy cái tôi rồi buông. Đó là đất của Bồ-tát hạnh.

XI. BÀN TAY TRỐNG VÀ LỤC BA-LA-MẬT

Bố thí: TAY MỞ. Trì giới: TAY KHÔNG HẠI. Nhẫn:

TAY KHÔNG ĐÁNH TRẢ SÂN.

Tinh tấn:

TAY TIẾP TỤC LÀM ĐIỀU ĐÚNG.

Thiền định:

TAY KHÔNG RUN THEO BÁT PHONG.

Bát-nhã:

THẤY BÀN TAY, VẬT CẦM VÀ CÁI “TÔI CẦM”

ĐỀU KHÔNG PHẢI THỰC THỂ ĐỘC LẬP CỐ ĐỊNH.

XII. KẾT

Phát Bồ-đề tâm: Mở hướng. Lục Ba-la-mật: Đưa hướng xuống chân. Hôm nay có cho đúng không? Có giữ giới không? Bị chạm có nhẫn không? Khó có tiếp tục không? Tâm loạn có biết trở không? Làm thiện có thấy cái tôi không? Nếu sáu câu đó được sống: Bồ-đề tâm bắt đầu có thân. THẬT với động cơ.

THẤY tâm. TỈNH trước phản ứng. BỎ ÁC bằng Giới. LÀM LÀNH bằng Bố thí và thiện hạnh. NHẪN để sân không thành nghiệp. TINH TẤN để thiện không chết giữa đường. ĐỊNH để tâm không tan. TUỆ để phương tiện đúng.

KHÔNG DÍNH – KHÔNG CHẤP

để công đức không thành ngã. BUÔNG kết quả. Tâm:

AN.

Cái thấy: SÁNG. Lặp: LỰC. CÂU CUỐI: BỐ THÍ ĐỂ TAY MỞ.

TRÌ GIỚI ĐỂ TAY KHÔNG HẠI.

NHẪN ĐỂ TÂM KHÔNG TRẢ ĐỘC.

TINH TẤN ĐỂ ĐƯỜNG KHÔNG ĐỨT.

THIỀN ĐỊNH ĐỂ TÂM KHÔNG TAN.

BÁT-NHÃ ĐỂ LÀM TẤT CẢ NHỮNG ĐIỀU ẤY

MÀ CÁI TÔI KHÔNG CẦN LỚN THEO.

CHƯƠNG 42
BÁT-NHÃ VÀ TÁNH KHÔNG – DUYÊN SINH NÊN KHÔNG TỰ TÍNH

Sanskrit:

prajñā – Tuệ, Bát-nhã. prajñāpāramitā – Bát-nhã Ba-la-mật-đa. śūnyatā – tánh Không. Nguồn Đại thừa quan trọng: Prajñāpāramitāhṛdaya – Bát-nhã Tâm Kinh. Vajracchedikā Prajñāpāramitā – Kinh Kim Cang Bát-nhã. Văn hệ Prajñāpāramitā – Bát-nhã Ba-la-mật-đa. Về sau, Nāgārjuna – Long Thọ trình bày rất sâu mối liên hệ giữa duyên sinh và tánh Không trong Mūlamadhyamakakārikā – Trung Luận. Đây là luận Đại thừa, không phải lời kinh trực tiếp.

I. TÁNH KHÔNG KHÔNG PHẢI HƯ VÔ

Śūnyatā không có nghĩa: Không có gì. Không nhân quả. Không trách nhiệm. Không giới. Không người. Không khổ. Điểm chính: Các pháp không có một tự tính độc lập, cố định và tự tồn tại một mình. Chúng hiện hữu do: Nhân. Duyên. Điều kiện. Quan hệ. Câu nhớ:

TÁNH KHÔNG KHÔNG LÀM THẾ GIỚI BIẾN MẤT.

TÁNH KHÔNG LÀM CÁI CHẤP CỦA MÌNH BỚT CỨNG.

II. “SẮC TỨC THỊ KHÔNG”

Bát-nhã Tâm Kinh có câu Hán-Việt quen thuộc: “Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc.” Không nên hiểu: Sắc không tồn tại. Đúng hơn: Sắc không có tự tính độc lập và cố định. Thân vẫn có. Đau vẫn có. Bệnh vẫn cần chữa. Công dụng vẫn vận hành. Câu nhớ: KHÔNG VỀ TỰ TÍNH KHÔNG CÓ NGHĨA

KHÔNG VỀ CÔNG DỤNG.

III. DUYÊN KHỞI VÀ TÁNH KHÔNG

Pháp do duyên: Không tự tồn tại độc lập. Đại thừa đi sâu vào điểm: DUYÊN SINH

→ KHÔNG TỰ TÍNH.

Không phải: DUYÊN SINH

→ KHÔNG CÓ GÌ.

Long Thọ về sau trình bày rất sâu mối liên hệ này trong Trung Luận. Câu nhớ: CÓ THEO DUYÊN. KHÔNG VỀ TỰ TÍNH.

IV. BÁT-NHÃ VÀ CÔNG THỨC PHẬT

Khi bị chê: THẤY: Sân. TỈNH: Không phản ứng ngay. TUỆ SOI: Cái “tôi” đang bị xúc phạm là cái gì? Thân? Thọ? Tưởng? Ký ức? Danh? Vai trò? Câu chuyện? Thấy cái tôi là tổ hợp duyên: Chấp nhẹ. BUÔNG. SÁNG. Không phủ nhận bản thân quy ước. Nhưng không đóng cứng: “Tôi là như vậy mãi.”

V. TÁNH KHÔNG VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

Một vật: Theo quy ước: Có thể là của mình. Nhưng tâm chấp: “Nó phải còn mãi.” Bát-nhã soi: Vật do vô số duyên. Nó sinh. Đổi. Hư. Mất. NHẬN: Đang nắm. SOI: Đang đòi điều gì? THẤY: Pháp do duyên. KHÔNG DÍNH: Vẫn dùng nhưng không đồng hóa. KHÔNG CHẤP: Không đòi vĩnh viễn. BUÔNG: Nới sở hữu tâm lý.

AN:

Dùng đúng khi còn. Câu nhớ:

TÁNH KHÔNG KHÔNG BẮT MÌNH VỨT ĐỒ.

NÓ GIÚP MÌNH BỚT BỊ ĐỒ VẬT GIỮ NGƯỢC LẠI.

VI. TÁNH KHÔNG VÀ NHÂN QUẢ

Tánh Không không phá nhân quả. Chính vì pháp do duyên: Tác động mới có thể thay đổi tiến trình. Nói dối: Có hậu quả. Hại người: Có hậu quả. Làm thiện: Có hậu quả. Tu: Tạo duyên. Không tu: Cũng tạo duyên. Không được dùng chữ “Không” để phủ nhận nghiệp và trách nhiệm.

VII. VÔ NGÃ KHÔNG XÓA TRÁCH NHIỆM

“Không có tôi cố định” không có nghĩa: “Không ai chịu trách nhiệm.” Nếu làm sai: Nhận. Sửa. Xin lỗi. Khắc phục. Không lặp. THẬT

→ GIỚI

→ TUỆ.

Câu nhớ:

KHÔNG CÓ TỰ NGÃ CỐ ĐỊNH

KHÔNG CÓ NGHĨA

KHÔNG CÓ TRÁCH NHIỆM ĐANG VẬN HÀNH TRONG NHÂN DUYÊN.

VIII. KINH KIM CANG – LÀM MÀ KHÔNG TRỤ

Một câu Hán-Việt rất quen: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm.” Cách giải nghĩa chi tiết cần theo bản dịch và truyền thống. Tinh thần thực hành: LÀM THIỆN NHƯNG

KHÔNG TRỤ CHẤP VÀO:

Cái tôi. Người được giúp. Công đức. Danh. Kết quả. Bố thí: Vẫn bố thí. Hoằng pháp: Vẫn hoằng pháp. Làm việc thiện: Vẫn làm. Nhưng bớt: “Của tôi.” “Người của tôi.” “Công của tôi.”

IX. TAM LUÂN KHÔNG TỊCH

Trong truyền thống Đại thừa thường có cách quán: Người cho. Người nhận. Vật được cho. đều không có tự tính độc lập. Nhưng theo quy ước: Người nhận vẫn có nhu cầu. Vật cho vẫn có công dụng. Cho sai vẫn có hậu quả. Bát-nhã không loại Trạch pháp.

X. BÁT-NHÃ VÀ ĐẠI BI

Bát-nhã không phải lạnh. Người đau: Cần chăm. Người đói: Cần ăn. Người bị hại: Cần bảo vệ. BI: Thấy khổ. TUỆ: Thấy duyên. GIỚI: Không gây thêm hại. ĐỊNH: Giữ tâm. XẢ: Không sở hữu kết quả. Câu nhớ:

BÁT-NHÃ LÀM LÒNG BI BỚT MÙ.

LÒNG BI LÀM BÁT-NHÃ KHÔNG THÀNH LẠNH.

XI. BÁT-NHÃ VÀ TỨ VÔ LƯỢNG TÂM

TỪ: Thương không sở hữu. BI: Giúp không gánh hết. HỶ: Vui không so. XẢ: Thấy người khác cũng do vô số duyên và không thuộc quyền điều khiển của mình. Tánh Không làm Tứ Vô Lượng Tâm: RỘNG HƠN. BỚT DÍNH HƠN.

XII. BÁT-NHÃ VÀ BỒ-ĐỀ TÂM

Bồ-đề tâm: Mở trái tim. Bát-nhã: Không cho cái tôi sở hữu đại nguyện. Làm lợi người: Nhưng không chấp “tôi là người cứu.” Câu nhớ:

BỒ-ĐỀ TÂM MỞ TRÁI TIM.

BÁT-NHÃ MỞ BÀN TAY ĐANG NẮM CHÍNH TRÁI TIM ẤY.

XIII. BÁT-NHÃ VÀ LỤC BA-LA-MẬT

BỐ THÍ: Không chấp người cho – người nhận – vật cho. TRÌ GIỚI: Không lấy giới làm ngã. NHẪN: Không đóng đinh người khác thành kẻ thù vĩnh viễn. TINH TẤN: Không chấp thành tích. THIỀN ĐỊNH: Không dính trạng thái. BÁT-NHÃ: Soi cả năm Ba-la-mật trước. Prajñā Pāramitā làm năm Ba-la-mật kia bớt chấp.

XIV. VÔ THƯỜNG – VÔ NGÃ – TÁNH KHÔNG

Không đồng nhất ba thuật ngữ.

ANICCA:

Vô thường – các pháp hữu vi thay đổi.

ANATTĀ:

Vô ngã – không có tự ngã bất biến đáng nhận là “ta.” ŚŪNYATĀ: Tánh Không – pháp không có tự tính độc lập. Ba cửa gặp nhau ở:

LÀM CÁI CHẤP CỨNG NHẸ XUỐNG.

XV. TRUNG ĐẠO

Không chấp: “Pháp có tự tính cố định tuyệt đối.” Cũng không chấp: “Không có gì cả.” Trung đạo: Pháp hiện hữu theo duyên. Không có tự tính độc lập. Câu nhớ: CÓ THEO DUYÊN. KHÔNG VỀ TỰ TÍNH.

XVI. NGƯỜI PHẢN ĐỐI MÌNH

Không đóng dấu: “Kẻ thù.” Họ cũng do duyên:

Kinh nghiệm.

Hiểu biết. Sợ. Lợi ích. Tâm trạng. Hoàn cảnh. Vẫn có thể: Không đồng ý. Đặt ranh giới. Nói rõ. Ngăn sai. Nhưng không cần đóng cứng một con người. THẤY

→ TỈNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ SÁNG.

XVII. TÁNH KHÔNG VÀ BÁT PHONG

ĐƯỢC: Do duyên. MẤT: Do duyên. DANH: Do duyên. CHÊ: Do duyên. Không có nghĩa: Không quan trọng. Mà: Không tuyệt đối hóa. Câu nhớ:

TÁNH KHÔNG KHÔNG LÀM ĐƯỢC – MẤT BIẾN MẤT.

NÓ LÀM CÁI TÔI BỊ ĐƯỢC – MẤT KÉO BỚT MẠNH.

XVIII. TÁNH KHÔNG VÀ DANH

Danh là: Tên. Đánh giá. Hình ảnh. Ký ức xã hội. Đều do duyên. Nếu chấp danh là mình: Lời chê rất nặng. Nếu thấy danh do duyên: Đúng: Sửa. Sai: Buông.

XIX. TÁNH KHÔNG VÀ ĐỊNH LỰC

Tâm bị kéo bởi: “Tôi.” “Của tôi.” “Phải theo tôi.” Tuệ thấy những cấu trúc ấy không cứng: Định dễ hơn. Câu nhớ:

BUÔNG CHẤP KHÔNG LÀM ĐỜI ÍT BIẾN ĐỘNG.

NÓ LÀM TÂM BỚT CHỖ ĐỂ BIẾN ĐỘNG MÓC VÀO.

XX. ĐỪNG CHẤP CẢ CHỮ “KHÔNG”

Có thể bỏ chấp “Có” rồi chấp “Không.” Đi đâu cũng dùng chữ Không để hơn người. Vậy cái tôi vẫn còn. Câu nhớ:

NẾU DÙNG CHỮ “KHÔNG” ĐỂ HƠN NGƯỜI,

CÁI “KHÔNG” ẤY ĐÃ BỊ CÁI TÔI CẦM MẤT.

XXI. CÂU GHI NHỚ

TÁNH KHÔNG KHÔNG LÀM THẾ GIỚI BIẾN MẤT.

TÁNH KHÔNG LÀM CÁI CHẤP CỦA MÌNH BỚT CỨNG.

KHÔNG VỀ TỰ TÍNH KHÔNG CÓ NGHĨA

KHÔNG VỀ CÔNG DỤNG.

DUYÊN SINH

KHÔNG DẪN TỚI HƯ VÔ.

DUYÊN SINH CHO THẤY

CÁC PHÁP KHÔNG TỰ TỒN TẠI ĐỘC LẬP.

TÁNH KHÔNG KHÔNG PHÁ NHÂN QUẢ.

VÔ NGÃ THÁO CÁI NGÃ.

KHÔNG THÁO TRÁCH NHIỆM.

BÁT-NHÃ LÀM LÒNG BI BỚT MÙ.

LÒNG BI LÀM BÁT-NHÃ KHÔNG THÀNH LẠNH.

BỒ-ĐỀ TÂM MỞ TRÁI TIM.

BÁT-NHÃ MỞ BÀN TAY ĐANG NẮM CHÍNH TRÁI TIM ẤY.

CÓ THEO DUYÊN. KHÔNG VỀ TỰ TÍNH.

BUÔNG CHẤP KHÔNG LÀM ĐỜI ÍT BIẾN ĐỘNG.

NÓ LÀM TÂM BỚT CHỖ ĐỂ BIẾN ĐỘNG MÓC VÀO.

NẾU DÙNG CHỮ “KHÔNG” ĐỂ HƠN NGƯỜI,

CÁI “KHÔNG” ẤY ĐÃ BỊ CÁI TÔI CẦM MẤT.

XXII. KẾT

Bát-nhã không bắt mình phủ nhận thế giới. Nó dạy:

ĐỪNG CHẤP THẾ GIỚI THEO MỘT KIỂU CỨNG.

Người vẫn là người. Tài sản vẫn có công dụng. Giới vẫn phải giữ. Nghiệp vẫn có hậu quả. Đau vẫn cần chăm. Người đói vẫn cần ăn. Nạn nhân vẫn cần được bảo vệ. Nhưng Tuệ thấy: Không có pháp nào tự đứng một mình. Thân: Do duyên. Tâm: Do duyên. Danh: Do duyên. Quan hệ: Do duyên. Thành công:

Do duyên. Thất bại: Do duyên. Ngay cả: “TÔI ĐANG TU” cũng do vô số duyên. Khi thấy như vậy: THẬT hơn. THẤY rõ hơn. TỈNH hơn. GIỚI vững hơn. ĐỊNH vững hơn. TUỆ sáng hơn. KHÔNG DÍNH. KHÔNG CHẤP. BUÔNG.

AN.

Nhưng: Việc thiện vẫn làm. Đây là: BUÔNG MÀ KHÔNG BỎ. Buông: Ngã. Chấp. Sở hữu tuyệt đối. Đòi kết quả. Không bỏ: Giới. Từ. Bi. Trách nhiệm. Bồ-đề tâm. CÂU CUỐI:

TÁNH KHÔNG KHÔNG NÓI:

“KHÔNG CÓ GÌ ĐỂ LÀM.”

TÁNH KHÔNG NÓI:

“HÃY LÀM ĐIỀU CẦN LÀM,

NHƯNG ĐỪNG BIẾN NGƯỜI LÀM, VIỆC LÀM VÀ KẾT QUẢ THÀNH NHỮNG THỨ PHẢI THUỘC VỀ CÁI TÔI.”

CHƯƠNG 43
KINH KIM CANG VÀ PHÁP VÔ TRỤ – LÀM MÀ KHÔNG DỰNG CHỖ BÁM

Nguồn chính: Vajracchedikā Prajñāpāramitā Sūtra – Kinh Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật-đa. Một câu Hán-Việt rất nổi tiếng: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm.” Cách dịch và giải nghĩa chi tiết khác nhau theo các bản. Có thể hiểu theo hướng thực hành: PHÁT TÂM NHƯNG KHÔNG TRỤ CHẤP.

VẪN LÀM. VẪN THƯƠNG. VẪN BỐ THÍ. VẪN HOẰNG PHÁP. VẪN GIỮ GIỚI.

NHƯNG KHÔNG DỰNG CÁI TÔI

TRONG NHỮNG VIỆC ẤY.

Câu nhớ:

VÔ TRỤ KHÔNG PHẢI KHÔNG CÓ CHỖ ĐỨNG.

VÔ TRỤ LÀ ĐỨNG TRONG ĐIỀU ĐÚNG

MÀ KHÔNG LẤY ĐIỀU MÌNH ĐANG ĐỨNG

LÀM CÁI TÔI.

I. TRỤ

Theo nghĩa thực hành: Tâm trụ khi nó nắm một đối tượng và lấy đối tượng ấy làm chỗ bám. Được khen: Trụ vào khen. Bị chê: Trụ vào chê. Làm thiện: Trụ vào công. Có danh: Trụ vào danh. Có người: Trụ vào người. Việc bên ngoài không nhất thiết sai. Chỗ cần soi là: TÂM ĐANG NẮM.

II. VÔ TRỤ KHÔNG PHẢI MẶC KỆ

Vô trụ không có nghĩa: Không quan tâm. Không làm. Không trách nhiệm.

Kinh Kim Cang đặt vô trụ trong mạch Bồ-tát phát tâm và hành thiện.

Có thể: Thương hết lòng nhưng không sở hữu người. Làm công trình hết lòng nhưng không lấy công trình làm mình. Giảng Pháp hết lòng nhưng không bắt người nghe phải thuộc về mình.

III. VÔ TRỤ VÀ BỐ THÍ

Bố thí: Vẫn bố thí. Nhưng không trụ vào: Công. Danh. Sự biết ơn. Người nhận. THẬT: Soi động cơ. THẤY: Có muốn được ghi nhận không? TỈNH: Không chạy theo. LÀM LÀNH: Vẫn cho. KHÔNG CHẤP: Không giữ công. BUÔNG: Phản ứng của người nhận. Câu nhớ: CHO MÀ TAY MỞ NHƯNG TÂM CÒN NẮM

THÌ BỐ THÍ MỚI MỞ ĐƯỢC MỘT NỬA.

IV. VÔ TRỤ VÀ DANH

Danh có thể là phương tiện: Giúp Pháp được biết. Giúp thiện sự lan rộng. Không cần ghét danh. Nhưng nếu tâm nói: “Người ta phải công nhận tôi” thì danh thành dây. Danh do nhiều duyên: Người. Thời gian. Hoàn cảnh. Truyền thông. Ký ức. Vì vậy:

DANH LÀ PHƯƠNG TIỆN.

ĐỪNG BIẾN PHƯƠNG TIỆN THÀNH CĂN CƯỚC.

V. VÔ TRỤ VÀ CÔNG TRÌNH

Làm chùa. Viết sách. Dựng trường. Làm thư viện. Đều có thể là thiện sự. Nhưng phải soi: “Tôi đang giữ công trình hay công trình đang giữ tôi?” NHẬN: Có nắm. SOI: Đang bảo vệ lợi ích hay bảo vệ ngã? THẤY: Công trình do vô số duyên. KHÔNG DÍNH: Vẫn làm hết sức. KHÔNG CHẤP: Không đồng nhất mình với công trình.

BUÔNG: Cho thiện pháp tiếp tục theo duyên đúng.

AN:

Lợi ích quan trọng hơn tên mình. Câu nhớ: LÀM CÔNG TRÌNH ĐỂ PHÁP CÓ CHỖ ĐI, KHÔNG PHẢI

ĐỂ CÁI TÔI CÓ CHỖ Ở.

VI. VÔ TRỤ VÀ TÌNH THƯƠNG

Thương: Không đồng nghĩa sở hữu. Từ: Mong người an. Bi: Không quay lưng trước khổ. Tuệ: Biết người ấy có một dòng nhân duyên riêng. Xả: Không sở hữu quyết định của họ. Đây là:

THƯƠNG MÀ KHÔNG TRÓI.

VII. VÔ TRỤ VÀ LỜI CHÊ

Lời chê đi vào tai. Nhưng không nhất thiết phải ở lại trong tâm nhiều ngày. NHẬN: Khó chịu. SOI: Đúng hay sai? Đúng: THẬT – SỬA. Sai: TUỆ – không nhận phần không thuộc mình. Sân: GIỚI – không trả độc. Tâm nhai lại:

KHÔNG DÍNH – BUÔNG.

Câu nhớ:

VÔ TRỤ KHÔNG NGĂN LỜI CHÊ ĐI VÀO TAI.

NÓ NGĂN LỜI CHÊ

DỰNG NHÀ TRONG TÂM.

VIII. VÔ TRỤ VỚI THIỆN PHÁP

Giữ giới: Không chấp “tôi hơn.” Ngồi thiền: Không chấp “tôi có định.” Học kinh: Không chấp “tôi biết.” Bố thí: Không chấp “tôi có công.” Đại nguyện: Không chấp “nguyện của tôi lớn.” Không phải bỏ thiện. Mà:

LÀM THIỆN SÂU HƠN BẰNG BÁT-NHÃ.

IX. CHIẾC BÈ

Kinh Kim Cang dùng hình ảnh nổi tiếng về Pháp như chiếc bè.

Ý thực hành: Pháp là phương tiện đưa qua. Không nên biến phương tiện thành vật để chấp. Nhưng không được dùng câu: “Pháp còn phải bỏ” để: Bỏ Giới. Phủ nhận nhân quả. Bỏ tu. Làm theo ý riêng. Câu nhớ: BUÔNG CHẤP PHÁP KHÔNG PHẢI BỎ CHÁNH PHÁP.

LÀ ĐỪNG BIẾN CHÁNH PHÁP

THÀNH TÀI SẢN CỦA CÁI TÔI.

X. VÔ TRỤ VÀ “TÔI ĐÚNG”

Có khi: Mình thật sự đúng. Nhưng: Đúng không cấp quyền làm nhục người sai. Chánh kiến phải đi cùng: Chánh ngữ. Từ. Bi. Tuệ. Câu nhớ:

TUỆ KHÔNG CHỈ BIẾT ĐIỀU ĐÚNG.

TUỆ CÒN BIẾT

KHÔNG DÙNG ĐIỀU ĐÚNG

ĐỂ NUÔI CÁI TÔI.

XI. VÔ TRỤ VÀ BỒ-ĐỀ TÂM

Bồ-đề tâm: Lợi ích chúng sinh. Vô trụ: Không sở hữu chúng sinh. Một người học: Không thành “người của tôi.” Một thiện sự: Không thành “công của tôi.” Một công trình: Không thành “bản thân tôi.” BỒ-ĐỀ TÂM: Cho hướng. BÁT-NHÃ: Không để cái tôi chiếm hướng.

XII. VÔ TRỤ KHÔNG XÓA ĐÚNG – SAI

Vô trụ không có nghĩa: Cái gì cũng được. Nó phải đứng trên: GIỚI. CHÁNH KIẾN. NHÂN QUẢ. TUỆ. Vẫn phân biệt: Thiện. Bất thiện. Đúng. Sai. Nhưng: Không dựng ngã từ điều đúng. Câu nhớ:

VÔ TRỤ KHÔNG XÓA RANH GIỚI ĐÚNG – SAI.

NÓ XÓA CÁI TÔI

MUỐN SỞ HỮU CẢ ĐIỀU ĐÚNG.

XIII. KẾT

Tâm có thể trụ vào: Tài sản. Danh. Người. Quan điểm. Thiện pháp. Thậm chí: “tôi là người buông.” Vì vậy Bát-nhã luôn hỏi:

TÂM ĐANG TRỤ Ở ĐÂU?

Làm thiện: LÀM LÀNH. Không dùng phương tiện sai: GIỚI. Động cơ có danh: THẬT – THẤY. Không chạy theo: TỈNH. Bị chê: NHẬN – SOI. Đúng: SỬA. Sai: BUÔNG. Có người thương: TỪ – BI. Không sở hữu: XẢ. Có công trình: TINH TẤN – ĐỊNH. Không lấy công trình làm mình: TUỆ. Có công: KHÔNG CHẤP. Tâm:

AN.

Cái thấy: SÁNG. Đó là: LÀM MÀ KHÔNG BỊ CÁI MÌNH LÀM TRÓI NGƯỢC LẠI. CÂU CUỐI:

VÔ TRỤ KHÔNG PHẢI KHÔNG LÀM.

LÀ LÀM RẤT TRỌN

MÀ KHÔNG DỰNG CÁI TÔI

TRONG VIỆC ĐÃ LÀM.

KHÔNG PHẢI KHÔNG THƯƠNG.

LÀ THƯƠNG MÀ KHÔNG SỞ HỮU.

KHÔNG PHẢI KHÔNG GIỮ CHÁNH PHÁP.

LÀ GIỮ CHÁNH PHÁP

MÀ KHÔNG DÙNG CHÁNH PHÁP

ĐỂ LÀM CÁI TÔI LỚN HƠN.

CHƯƠNG 44
TỨ HOẰNG THỆ NGUYỆN – ĐẠI NGUYỆN VÀ GIỚI HẠN CỦA CÁI TÔI

Bốn câu quen thuộc trong truyền thống Đại thừa:

CHÚNG SINH VÔ BIÊN THỆ NGUYỆN ĐỘ.

PHIỀN NÃO VÔ TẬN THỆ NGUYỆN ĐOẠN.

PHÁP MÔN VÔ LƯỢNG THỆ NGUYỆN HỌC.

PHẬT ĐẠO VÔ THƯỢNG THỆ NGUYỆN THÀNH.

Tứ Hoằng Thệ Nguyện không chỉ là bốn câu tụng. Nó là bốn hướng lớn:

THẤY KHỔ CỦA CHÚNG SINH.

TU PHIỀN NÃO CỦA CHÍNH MÌNH.

HỌC CON ĐƯỜNG. ĐI VỀ GIÁC NGỘ. Câu nhớ:

TỨ HOẰNG THỆ NGUYỆN

KHÔNG LÀM MÌNH LỚN HƠN CHÚNG SINH.

NÓ LÀM TRÁCH NHIỆM TU CỦA MÌNH

LỚN HƠN CÁI TÔI.

I. CHÚNG SINH VÔ BIÊN THỆ NGUYỆN ĐỘ

“Độ” không có nghĩa: Sở hữu người khác. Ép người nghe mình. Ép người phải tu theo mình. Đúng hơn: Phát nguyện trở thành nhân duyên giúp chúng sinh: Bớt khổ. Tăng thiện. Gặp Chánh pháp. Có thêm duyên đi về giải thoát. Có người cần: Tài vật. Lời nói. Sự bảo vệ. Một bài Pháp. Một ranh giới.

Hoặc chỉ một hạt giống thiện. Câu nhớ:

ĐỘ SINH KHÔNG PHẢI KÉO NGƯỜI

VỀ PHÍA MÌNH.

LÀ GIÚP HỌ CÓ THÊM DUYÊN

ĐI VỀ PHÍA SÁNG.

II. ĐỘ SINH BẮT ĐẦU TỪ KHÔNG HẠI

Không thể phát nguyện độ sinh nhưng lại làm chúng sinh khổ thêm. Bước đầu: BỎ ÁC. Không hại. Không lừa. Không lợi dụng. Không dùng Pháp để áp người. Sau: LÀM LÀNH. Giúp. Dạy. Chăm. Bảo vệ. Pháp thí. Rồi: LÀM SẠCH TÂM. Để việc giúp không bị cái tôi chiếm.

III. PHIỀN NÃO VÔ TẬN THỆ NGUYỆN ĐOẠN

Phiền não có thể gồm: Tham. Sân. Si. Ganh. Ngã mạn. Chấp. Ái. Thủ. Triền cái. Các thói quen bất thiện. “Đoạn” không có nghĩa: Đè cảm xúc. Ép mình không được buồn. Đánh chính mình. Đúng hơn: THẤY. KHÔNG NUÔI. KHÔNG HÀNH THEO. GIẢM DUYÊN.

PHÁT TRIỂN PHÁP ĐỐI TRỊ.

DÙNG TUỆ THẤY TẬN GỐC.

THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

IV. ĐOẠN PHIỀN NÃO KHÔNG PHẢI GHÉT MÌNH

Sân sinh: NHẬN. SOI. THẤY. GIỚI: Không để sân thành hành động hại. ĐỊNH: Dừng. TUỆ: Thấy sân do duyên. KHÔNG DÍNH: Không lấy sân làm mình. BUÔNG: Không nuôi tiếp. Câu nhớ: ĐOẠN PHIỀN NÃO

KHÔNG PHẢI ĐÁNH TÂM.

LÀ NGỪNG NUÔI

THỨ ĐANG LÀM TÂM CHÁY.

V. PHÁP MÔN VÔ LƯỢNG THỆ NGUYỆN HỌC

Không có nghĩa: Một đời phải học hết mọi pháp môn. Điều cần là: Không đóng cửa trước Chánh pháp. Học đúng căn cơ. Học đúng nguồn. Học cái cần. Học rộng để hiểu. Hành có trọng tâm để sâu. Câu nhớ: PHÁP MÔN VÔ LƯỢNG KHÔNG CÓ NGHĨA

TÂM PHẢI TÁN VÔ LƯỢNG.

VI. HỌC PHÁP PHẢI THẬT

Nikāya: Không gắn lời Đại thừa vào. Đại thừa: Không giả thành kinh Pāli. Luận: Không gọi là kinh. Lời hệ thống hóa: Không gọi thành lời Phật nguyên văn. Đó là:

THẬT TRONG PHÁP HỌC.

Câu nhớ:

HỌC RỘNG MÀ NGUỒN MỜ

THÌ KIẾN THỨC NHIỀU

NHƯNG ĐƯỜNG DỄ LỆCH.

VII. PHẬT ĐẠO VÔ THƯỢNG THỆ NGUYỆN THÀNH

Phật đạo không có nghĩa: Có nhiều người tôn kính. Có nhiều đệ tử. Có nhiều công trình. Mà: Đi về giác ngộ. Buddha – Phật: Bậc giác ngộ. Trong Đại thừa, nguyện thành Phật đi với: BỒ-ĐỀ TÂM. Không chỉ vì mình. Mà để có khả năng lợi ích chúng sinh sâu rộng.

VIII. PHẬT ĐẠO ĐI QUA GIỚI – ĐỊNH – TUỆ

GIỚI: Không cho đường lệch. ĐỊNH: Không cho tâm tan. TUỆ: Không cho cái thấy mê. Công thức: THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG

là một cách hệ thống hóa từng bước đi về hướng giác ngộ. Không đồng nhất: Một lần buông = Thành Phật.

IX. BỐN NGUYỆN NỐI NHAU

ĐỘ SINH: Cần Bi. Muốn giúp đúng: Phải ĐOẠN PHIỀN NÃO. Muốn đoạn đúng: Phải HỌC PHÁP. Muốn đi tận cùng: Hướng tới PHẬT ĐẠO. Càng đi về giác ngộ: Bi càng sâu. Lại quay về: ĐỘ SINH. Có thể hệ thống: BI

→ TỰ TU

→ HỌC PHÁP

→ GIÁC NGỘ

→ BI SÂU HƠN.

X. TỨ HOẰNG VÀ LỤC BA-LA-MẬT

TỨ HOẰNG: Cho hướng. LỤC BA-LA-MẬT: Cho cách hành. Muốn độ sinh: BỐ THÍ. Muốn không hại: TRÌ GIỚI. Muốn đi qua nghịch duyên: NHẪN. Muốn không bỏ: TINH TẤN. Muốn tâm có gốc: THIỀN ĐỊNH. Muốn không chấp: BÁT-NHÃ.

XI. TỨ HOẰNG VÀ KHÔNG PHÓNG DẬT

Đời: Hữu hạn. Nguyện: Vô lượng. Không cần một ngày làm hết. Chỉ cần: MỖI NGÀY

ĐỪNG ĐI NGƯỢC HƯỚNG.

Có người cần giúp: Làm phần đúng. Có phiền não: Tu. Có Pháp cần học: Học. Có bước Đạo: Đi. Câu nhớ: NGUYỆN VÔ LƯỢNG

KHÔNG ĐÒI MỘT NGÀY LÀM HẾT.

NÓ ĐÒI MỖI NGÀY

ĐỪNG ĐI NGƯỢC HƯỚNG.

XII. TỨ HOẰNG VÀ VÔ TRỤ

Độ sinh: Không chấp “tôi cứu.” Đoạn phiền não: Không chấp “tôi thanh tịnh hơn.” Học Pháp: Không chấp “tôi biết nhiều.” Đi Phật đạo: Không chấp “tôi đặc biệt.” Câu nhớ: NGUYỆN CÀNG LỚN

MÀ CÁI TÔI CÀNG NHỎ,

ĐÓ MỚI LÀ HƯỚNG ĐẸP

CỦA BỒ-TÁT ĐẠO.

XIII. KẾT

Một người đang khổ: ĐỪNG QUAY ĐI. Đó là:

CHÚNG SINH VÔ BIÊN THỆ NGUYỆN ĐỘ.

Một cơn sân đang sinh: ĐỪNG NUÔI. Đó là:

PHIỀN NÃO VÔ TẬN THỆ NGUYỆN ĐOẠN.

Một điều chưa hiểu: HỌC CHO ĐÚNG. Đó là:

PHÁP MÔN VÔ LƯỢNG THỆ NGUYỆN HỌC.

Một bước tu hôm nay: ĐI CHO ĐÚNG. Đó là:

PHẬT ĐẠO VÔ THƯỢNG THỆ NGUYỆN THÀNH.

Trong cả bốn: THẬT để không giả tu. THẤY để nhận phiền não. TỈNH để không phản ứng cũ. GIỚI để không làm hại. THIỆN để lợi người. ĐỊNH để không bỏ hướng. TUỆ để học đúng và giúp đúng. NHẬN – SOI – THẤY để biết mình.

KHÔNG DÍNH – KHÔNG CHẤP – BUÔNG

để đại nguyện không thành ngã.

BỎ ÁC – LÀM LÀNH – LÀM SẠCH TÂM

để đời sống phù hợp lời nguyện. Lặp: LỰC. CÂU CUỐI:

ĐỘ SINH MÀ KHÔNG SỬA MÌNH

DỄ THÀNH NGÃ.

SỬA MÌNH MÀ KHÔNG HỌC PHÁP

DỄ ĐI SAI.

HỌC PHÁP MÀ KHÔNG HÀNH

PHÁP Ở TRÊN MIỆNG.

HÀNH MÀ KHÔNG CÓ BỒ-ĐỀ TÂM

CON ĐƯỜNG DỄ THU HẸP VỀ RIÊNG MÌNH.

TỨ HOẰNG THỆ NGUYỆN

LÀ BỐN CÂU NHẮC:

TRÁI TIM PHẢI RỘNG.

PHIỀN NÃO PHẢI TU.

CHÁNH PHÁP PHẢI HỌC.

VÀ CON ĐƯỜNG GIÁC NGỘ

PHẢI ĐI.

CHƯƠNG 45
TỨ NHIẾP PHÁP – BỐ THÍ, ÁI NGỮ, LỢI HÀNH, ĐỒNG SỰ

Sanskrit:

catvāri saṃgrahavastūni. Pāli có dạng gần: cattāri saṅgahavatthūni. Tiếng Việt: Tứ Nhiếp Pháp. Bốn pháp: DĀNA – BỐ THÍ.

PRIYAVĀDITĀ – ÁI NGỮ.

ARTHACARYĀ – LỢI HÀNH.

SAMĀNĀRTHATĀ – ĐỒNG SỰ.

Đây là một hệ thực hành quan trọng được phát triển sâu trong Bồ-tát đạo Đại thừa. Cách dịch và giải thích samānārthatā có khác nhau giữa truyền thống, có nơi nhấn mạnh cùng mục đích, cùng làm, hoặc sống phù hợp với điều mình hướng dẫn người khác. Tinh thần chung:

Dùng Bố thí, lời nói phù hợp, hành động lợi ích và sự cùng hành đúng pháp để tạo thiện duyên với chúng sinh.

CÂU NHỚ:

MUỐN ĐƯA PHÁP ĐẾN GẦN MỘT NGƯỜI,

TRƯỚC HẾT PHẢI LÀM CHO HỌ CẢM THẤY

MÌNH KHÔNG ĐẾN ĐỂ CHIẾM LẤY HỌ.

I. DĀNA – BỐ THÍ

Bố thí không chỉ là cho tiền. Có thể cho: Tài vật. Thời gian. Sự lắng nghe. Sự an toàn. Kiến thức. Pháp. Điều người kia thật sự cần. Nhưng: Không dùng Bố thí để mua người. Không nói: “Tôi giúp rồi nên anh phải nghe tôi.” Không làm người nhận thành con nợ tâm lý. THẬT: Soi động cơ.

THẤY: Có muốn sở hữu người không? GIỚI: Phương tiện trong sạch. LÀM LÀNH: Cho điều có ích. TUỆ: Đúng người, đúng lúc, đúng mức. KHÔNG CHẤP: Không đòi trả ơn. BUÔNG: Kết quả. Câu nhớ: BỐ THÍ NHIẾP NGƯỜI

KHÔNG PHẢI KÉO HỌ VỀ PHÍA MÌNH.

LÀ MỞ MỘT CÁNH CỬA

ĐỂ THIỆN DUYÊN CÓ THỂ ĐI QUA.

II. PRIYAVĀDITĀ – ÁI NGỮ

Ái ngữ không có nghĩa: Nói ngọt để lấy lòng. Nói sai cho người vui. Không dám chỉ ra lỗi. Đúng hơn: NÓI SỰ THẬT

BẰNG CÁCH KHÔNG CỐ Ý LÀM NHỤC NGƯỜI NGHE.

Ái ngữ đi rất gần Chánh ngữ. Lời nói cần được soi: Có thật không? Có ích không? Có đúng thời không? Động cơ có hại không? Theo mạch MN 58 – Kinh Vương tử Abhaya, Đức Phật phân biệt lời nói dựa trên thật hay không thật, có lợi ích hay không, và đúng thời; điều lợi ích đôi khi có thể không dễ chịu nhưng vẫn được nói đúng lúc.

Vì vậy: ÁI NGỮ KHÔNG PHẢI

NÓI SAO CHO NGƯỜI THÍCH.

LÀ NÓI SAO CHO SỰ THẬT

CÓ CƠ HỘI ĐƯỢC TIẾP NHẬN

MÀ KHÔNG CẦN THÊM ĐỘC.

Khi người kia đang sân: Có lúc: Im. Có lúc: Chờ. Có lúc: Nói ngắn. Có lúc: Nói thẳng. Tuệ quyết định. THẤY: Sân mình. TỈNH: Không phóng lời. GIỚI: Giữ khẩu. ĐỊNH: Chờ. TUỆ: Chọn thời. BUÔNG: Nhu cầu phải thắng. Câu nhớ:

ÁI NGỮ KHÔNG LÀM SỰ THẬT MỀM YẾU.

NÓ LÀM CÁCH ĐƯA SỰ THẬT

BỚT GÂY THƯƠNG TÍCH KHÔNG CẦN THIẾT.

III. ARTHACARYĀ – LỢI HÀNH

Lợi hành là:

LÀM ĐIỀU THẬT SỰ CÓ LỢI ÍCH.

Không chỉ nói. Không chỉ cảm thương. Không chỉ làm điều mình thích rồi gọi là giúp người. Có lúc lợi hành là: Cho. Dạy. Bảo vệ. Sửa lỗi. Đặt ranh giới. Khuyên tìm chuyên môn. Hoặc không can thiệp khi can thiệp sẽ làm hại. Bi phải đi với Tuệ. Cái dễ chịu trước mắt: Không phải lúc nào cũng là cái lợi thật.

Câu nhớ:

LỢI HÀNH KHÔNG HỎI:

“HỌ CÓ THÍCH MÌNH KHÔNG?”

LỢI HÀNH HỎI:

“VIỆC NÀY CÓ THẬT SỰ GIÚP GIẢM KHỔ

VÀ TĂNG THIỆN KHÔNG?”

IV. SAMĀNĀRTHATĀ – ĐỒNG SỰ

Đồng sự có thể được hiểu theo nhiều sắc thái: Cùng mục đích. Cùng làm. Cùng đi vào hoàn cảnh. Sống phù hợp với điều mình dạy. Điểm thực hành:

ĐỪNG CHỈ ĐỨNG NGOÀI

RỒI BẢO NGƯỜI KHÁC PHẢI LÀM GÌ.

Dạy người giữ giới: Mình phải giữ. Dạy người kiên nhẫn: Mình phải tập. Dạy người làm thiện: Mình phải làm. Dạy người buông danh: Mình phải soi danh của mình. Đây là sức của thân giáo. Câu nhớ: ĐỒNG SỰ MẠNH NHẤT

KHÔNG PHẢI XUỐNG NGANG HÀNG ĐỂ LẤY LÒNG.

LÀ SỐNG ĐƯỢC

ĐIỀU MÌNH MUỐN NGƯỜI KHÁC HỌC.

Đồng sự không có nghĩa: Làm theo cái sai của người khác. Có thể: Hiểu hoàn cảnh. Nói ngôn ngữ họ hiểu. Cùng làm việc thiện. Nhưng: Không cùng tạo bất thiện. Câu nhớ:

ĐỒNG SỰ LÀ GẦN NGƯỜI

MÀ KHÔNG RỜI CHÁNH PHÁP.

V. BỐN PHÁP NÂNG NHAU

Chỉ Bố thí: Có thể dừng ở vật chất. Chỉ Ái ngữ: Có thể chỉ nói hay. Chỉ Lợi hành: Có thể giúp theo ý mình. Chỉ Đồng sự: Có thể hòa theo người và mất nguyên tắc. Bốn pháp đi cùng: BỐ THÍ: MỞ CỬA. ÁI NGỮ:

GIÚP NGƯỜI CÓ THỂ NGHE.

LỢI HÀNH:

CHỨNG MINH BẰNG VIỆC THẬT.

ĐỒNG SỰ:

SỐNG CÙNG ĐIỀU MÌNH DẠY.

Có thể nhớ: CHO

→ NÓI ĐÚNG

→ LÀM THẬT

→ SỐNG CÙNG ĐIỀU MÌNH DẠY.

VI. TỨ NHIẾP PHÁP VÀ BỒ-ĐỀ TÂM

Bồ-đề tâm hỏi: “Tôi nguyện lợi ích chúng sinh.” Tứ Nhiếp Pháp hỏi: “Khi một chúng sinh cụ thể đứng trước mặt, tôi tiếp cận họ thế nào?” Có người: Cho ăn trước. Có người: Nghe trước. Có người: Giúp giải quyết một khó khăn thật. Rồi nếu đủ duyên: Nói Pháp. Bồ-đề tâm: Nhìn vô lượng chúng sinh.

Tứ Nhiếp Pháp: Dạy cách đối xử với một người trước mặt.

VII. TỨ NHIẾP PHÁP VÀ BỐN CÔNG THỨC

Gặp một người khó: THẬT: Mình đang khó chịu không? THẤY: Có sân không? TỈNH: Không phản ứng. NHẬN: Họ đang khổ ở đâu? SOI: Họ thật sự cần gì? BỐ THÍ: Cho điều phù hợp. ÁI NGỮ: Nói điều có thể tiếp nhận. LỢI HÀNH: Làm điều thật sự ích. ĐỒNG SỰ: Cùng hành điều đúng. GIỚI: Không thao túng.

ĐỊNH: Không bị phản ứng người kia kéo. TUỆ: Biết liều lượng. KHÔNG DÍNH: Họ chưa nghe cũng không sân. KHÔNG CHẤP: Họ không thành “người của tôi.” BUÔNG: Kết quả.

AN:

Làm phần đúng.

VIII. TỨ NHIẾP PHÁP TRONG HOẰNG PHÁP

BỐ THÍ: Cho Pháp, tài liệu, thời gian, sự lắng nghe. ÁI NGỮ: Nói dễ hiểu. Không mắng người chưa hiểu. Không khoe thuật ngữ. LỢI HÀNH: Tạo cách để người nghe thực hành. ĐỒNG SỰ: Bản thân sống điều mình giảng. Nếu dạy: Buông nhưng mình chấp danh. Khiêm nhưng mình luôn phải thắng.

Thật nhưng nguồn kinh không kiểm. thì sức Đồng sự yếu. Câu nhớ: PHÁP THÍ MẠNH NHẤT

KHÔNG CHỈ Ở ĐIỀU NGƯỜI GIẢNG NÓI.

CÒN Ở CHỖ NGƯỜI NGHE NHÌN THẤY

ĐIỀU ẤY CÓ THỂ ĐƯỢC SỐNG.

IX. TỨ NHIẾP PHÁP KHÔNG PHẢI THAO TÚNG

Không dùng: Quà. Lời ngọt. Sự giúp đỡ. Sự gần gũi. để: Mua lòng. Tạo lệ thuộc. Buộc trung thành. Kéo người thành tài sản. Tứ Nhiếp Pháp phải đứng trên: BI. GIỚI. BỒ-ĐỀ TÂM. TUỆ. Người được giúp: Vẫn có quyền lựa chọn. Câu nhớ:

NHIẾP KHÔNG PHẢI CHIẾM.

NHIẾP LÀ TẠO DUYÊN

ĐỂ THIỆN PHÁP CÓ CHỖ NẢY.

X. TỨ NHIẾP PHÁP VÀ VÔ TRỤ

BỐ THÍ: Không trụ công. ÁI NGỮ: Không đòi người phải thích mình. LỢI HÀNH: Không sở hữu kết quả. ĐỒNG SỰ: Không trụ danh người dẫn dắt. Làm: Hết lòng. Xong: Buông. Người khác: Có nhân duyên riêng. Mình: Tiếp tục giữ hướng thiện. Câu nhớ:

NHIẾP NGƯỜI BẰNG LÒNG BI.

NHƯNG ĐỪNG LẤY SỰ GẦN GŨI

LÀM SỢI DÂY BUỘC NGƯỜI.

XI. KẾT

Một người đói: CHO. Một người tổn thương: NÓI TỬ TẾ. Một người cần giúp: LÀM ĐIỀU CÓ ÍCH. Một người đang học:

CÙNG SỐNG ĐIỀU ĐÚNG.

Đó là: BỐ THÍ. ÁI NGỮ. LỢI HÀNH. ĐỒNG SỰ. Nhưng phải nhớ: Cho mà không mua người. Nói dịu mà không nói dối. Giúp mà không áp đặt. Gần mà không hòa theo bất thiện. THẬT: Giữ động cơ sạch. THẤY: Soi cái tôi. TỈNH: Không phản ứng cũ. BỎ ÁC: Không thao túng. LÀM LÀNH: Làm việc thật. GIỚI:

Giữ ranh. ĐỊNH: Giữ tâm. TUỆ: Thấy căn cơ và duyên. KHÔNG DÍNH. KHÔNG CHẤP. BUÔNG KẾT QUẢ.

AN.

SÁNG. CÂU CUỐI: BỐ THÍ

ĐỂ NGƯỜI CÓ DUYÊN MỞ LÒNG.

ÁI NGỮ

ĐỂ SỰ THẬT CÓ ĐƯỜNG ĐI VÀO.

LỢI HÀNH

ĐỂ LỜI NÓI TRỞ THÀNH LỢI ÍCH THẬT.

ĐỒNG SỰ ĐỂ NGƯỜI TA THẤY

PHÁP KHÔNG CHỈ Ở TRÊN MIỆNG.

VÀ TẤT CẢ BỐN PHÁP

CHỈ THẬT SỰ LÀ BỒ-TÁT HẠNH

KHI NGƯỜI GIÚP

KHÔNG BIẾN NGƯỜI ĐƯỢC GIÚP

THÀNH TÀI SẢN CỦA MÌNH.

CHƯƠNG 46
PHƯƠNG TIỆN THIỆN XẢO – THÍCH ỨNG MÀ KHÔNG RỜI TRÍ, BI VÀ GIỚI

Sanskrit:

upāya-kauśalya. upāya: Phương tiện, cách thức. kauśalya: Thiện xảo, khéo léo. Tiếng Việt:

PHƯƠNG TIỆN THIỆN XẢO.

Một nguồn Đại thừa rất nổi bật trình bày sâu về phương tiện là: Saddharmapuṇḍarīka Sūtra – Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, thường gọi Kinh Pháp Hoa, đặc biệt phẩm Phương Tiện trong truyền thống dịch Đông Á. Phương tiện thiện xảo không có nghĩa: Muốn nói gì cũng được. Muốn làm gì cũng được.

Miễn tự giải thích: “Vì lợi ích chúng sinh.” Phương tiện phải đứng trên: CHÁNH KIẾN. GIỚI. BI. TUỆ.

CÂU NHỚ:

PHƯƠNG TIỆN CÓ THỂ THAY ĐỔI.

HƯỚNG ĐI

KHÔNG ĐƯỢC RỜI CHÁNH PHÁP.

I. CÙNG MỘT PHÁP – KHÔNG PHẢI AI CŨNG NGHE GIỐNG NHAU

Người mới tu: Cần nền căn bản. Người đang đau: Có thể cần được nghe và an trước. Người học sâu: Có thể đi vào giáo lý sâu hơn. Người hướng dẫn cần thấy: CĂN CƠ. HOÀN CẢNH. THỜI ĐIỂM.

KHẢ NĂNG TIẾP NHẬN.

Câu nhớ:

KHÔNG PHẢI NÓI HẾT ĐIỀU MÌNH BIẾT.

LÀ NÓI ĐIỀU

NGƯỜI KIA CÓ THỂ DÙNG ĐƯỢC

Ở ĐÚNG LÚC.

II. PHƯƠNG TIỆN KHÔNG THAY CHÁNH PHÁP

Có thể đổi: Cách nói. Ví dụ. Ngôn ngữ. Thời lượng. Thứ tự. Hình thức. Nhưng không được biến: Sai thành đúng. Bất thiện thành thiện. Tà kiến thành Chánh pháp. Không được bịa câu rồi gán cho Đức Phật. Đó không phải phương tiện. Đó là sai nguồn. Vì vậy: THẬT là nền đầu tiên.

III. PHƯƠNG TIỆN VÀ ÁI NGỮ

Một sự thật: Nói sai thời: Khó vào. Nói đúng thời: Có thể vào. Nội dung: Không đổi. Thời: Đổi. Thuật ngữ khó: Có thể giải bằng ví dụ đơn giản. Pháp: Không đổi. Cửa vào: Đổi. Câu nhớ:

THIỆN XẢO KHÔNG LÀM PHÁP KHÁC ĐI.

THIỆN XẢO LÀM CON ĐƯỜNG

ĐI TỚI PHÁP

PHÙ HỢP HƠN VỚI NGƯỜI ĐANG NGHE.

IV. BI PHẢI ĐI VỚI TUỆ

Thấy người khổ: BI. Nhưng phải hỏi:

CÁI GÌ THẬT SỰ GIÚP?

Đó là: TUỆ. Cách này có gây hại không? Đó là: GIỚI. Phần nào ngoài khả năng mình? Đó là: XẢ. Phương tiện thiện xảo là: BI + TUỆ + GIỚI + XẢ. Không chỉ làm người khác vui. Mà làm điều lợi ích theo cách họ có khả năng tiếp nhận.

V. PHƯƠNG TIỆN KHÔNG PHẢI THAO TÚNG

Không dùng: Sợ hãi. Quà cáp. Quyền lực. Lời ngọt. Tội lỗi. Sự lệ thuộc. để bắt người theo mình. THẬT: Tôi muốn lợi người hay muốn sở hữu người? THẤY: Có nhu cầu quyền lực? TỈNH: Không để nhu cầu kiểm soát dẫn đường. GIỚI: Không thao túng. TUỆ: Chọn cách phù hợp. KHÔNG CHẤP: Không sở hữu người.

BUÔNG: Kết quả. Câu nhớ:

PHƯƠNG TIỆN THIỆN XẢO

DẪN NGƯỜI TỚI TỰ DO.

THAO TÚNG

DẪN NGƯỜI TỚI LỆ THUỘC.

VI. PHƯƠNG TIỆN TRONG GIẢNG PHÁP

Người mới: Có thể bắt đầu từ Không hại. Làm thiện. Giữ giới. Nhìn tâm. Người có nền: Có thể đi sâu vào Giới – Định – Tuệ. Tứ Diệu Đế. Duyên khởi. Người học sâu hơn: Có thể học Vô ngã. Bát-nhã. Tánh Không. Vô trụ. Đây không phải ba Chánh pháp khác nhau. Mà:

BA CỬA VÀO KHÁC NHAU.

Câu nhớ: BÀI PHÁP SÂU

KHÔNG PHẢI BÀI CÓ NHIỀU CHỮ KHÓ.

SÂU LÀ NÓI TRÚNG CHỖ

NGƯỜI NGHE CÓ THỂ CHUYỂN ĐƯỢC TÂM.

VII. KHẾ LÝ – KHẾ CƠ

Trong truyền thống Phật giáo Đông Á thường nói: KHẾ LÝ: Hợp Chánh pháp. KHẾ CƠ: Hợp căn cơ người nghe. Chỉ khế lý mà không khế cơ: Người nghe có thể không vào. Chỉ khế cơ mà bỏ khế lý: Pháp bị méo. Có thể nhớ: ĐÚNG PHÁP + ĐÚNG NGƯỜI + ĐÚNG LÚC + ĐÚNG CÁCH.

VIII. PHƯƠNG TIỆN VÀ TỨ HOẰNG THỆ NGUYỆN

Muốn độ sinh: Không thể dùng một cách cho tất cả. Có người hợp: Niệm Phật. Niệm hơi thở. Giữ giới. Học nhân quả. Tứ Diệu Đế. Hoặc giáo lý Bát-nhã sâu hơn. Phương tiện khác nhau: Không có nghĩa: Mọi quan điểm đều đúng như nhau. Chánh kiến: Vẫn cần. Nguồn: Vẫn cần. Giới: Vẫn cần.

IX. PHƯƠNG TIỆN VÀ BÁT-NHÃ

Bát-nhã giúp thấy: Không có một công thức cứng phù hợp mọi duyên. Phương pháp giúp mình: Không nhất thiết giúp mọi người giống hệt. Câu nhớ:

CÓ PHÁP MÌNH ĐI RẤT TỐT

KHÔNG CÓ NGHĨA MỌI NGƯỜI PHẢI ĐI

BẰNG ĐÚNG ĐÔI DÉP CỦA MÌNH.

X. PHƯƠNG TIỆN VÀ ĐỊNH LỰC

Người ta thích: Không vì thích mà nói sai. Người ta không thích: Không vì thế mà sân. Cách: Có thể đổi. Nguyên tắc: Giữ. Câu nhớ: MỀM Ở PHƯƠNG TIỆN. VỮNG Ở NGUYÊN TẮC.

XI. MỘT NGƯỜI ĐANG ĐAU

Người vừa mất người thân. Nếu lập tức nói: “Vô thường, buông đi” có thể đúng lý nhưng chưa đúng lúc. Có thể: Nghe trước. Cho họ khóc. Ở yên. Sau khi tâm dịu: Nói về vô thường. Khi đủ duyên: Đi sâu hơn vào không chấp. Pháp: Không đổi. Thứ tự: Thay. Đây là: KHẾ CƠ MÀ KHÔNG BỎ KHẾ LÝ.

Công thức Buông cũng phải có liều lượng: NHẬN trước. SOI khi đủ sức. THẤY dần. KHÔNG DÍNH dần. BUÔNG khi duyên chín hơn.

XII. TRONG HOẰNG PHÁP

Người mới hỏi: “Con nên bắt đầu từ đâu?” Không nhất thiết phải đưa ngay giáo lý khó nhất. Có thể: Giữ giới căn bản. Làm thiện. Niệm Phật hoặc niệm hơi thở tùy căn cơ. Học nhân quả. Đọc một bài kinh nền. Sau khi có nền: Đi sâu hơn. Đây không phải giấu Pháp. Mà là: XẾP PHÁP

THEO KHẢ NĂNG TIẾP NHẬN.

Câu nhớ: DẠY ĐÚNG

KHÔNG CHỈ ĐÚNG NỘI DUNG.

CÒN PHẢI ĐÚNG LIỀU LƯỢNG.

XIII. KẾT

Phương tiện thiện xảo không phải: Khôn lỏi. Nói một đằng làm một nẻo. Mục đích tốt nên phương tiện nào cũng được. Nó là: TUỆ ĐI CÙNG BI. BI: Thấy người đang ở đâu. TUỆ: Thấy cửa nào có thể mở. GIỚI: Không dùng cách sai. ĐỊNH: Không chạy theo phản ứng. BÁT-NHÃ: Không chấp một phương pháp duy nhất.

BỒ-ĐỀ TÂM: Giữ mục tiêu lợi ích chúng sinh. Ngay đó: THẬT với động cơ. THẤY người và thấy mình. TỈNH trước nhu cầu kiểm soát. BỎ ÁC để không thao túng. LÀM LÀNH bằng cách phù hợp. ĐỊNH giữ nguyên tắc. TUỆ chọn phương tiện. KHÔNG DÍNH vào một cách duy nhất. KHÔNG CHẤP người phải theo mình.

BUÔNG kết quả.

AN.

SÁNG. CÂU CUỐI:

PHƯƠNG TIỆN CÓ THỂ THAY.

CHÁNH HƯỚNG KHÔNG ĐƯỢC LỆCH.

CÁCH NÓI CÓ THỂ MỀM.

SỰ THẬT KHÔNG ĐƯỢC BẺ CONG.

CĂN CƠ CÓ THỂ KHÁC.

GIỚI – BI – TUỆ KHÔNG ĐƯỢC BỎ.

PHƯƠNG TIỆN THIỆN XẢO

KHÔNG PHẢI LÀM CHO AI CŨNG THEO MÌNH.

LÀ BIẾT TẠO MỘT CÁNH CỬA ĐÚNG PHÁP

ĐỂ KHI NHÂN DUYÊN CHÍN,

NGƯỜI TA

CÓ THỂ TỰ BƯỚC VÀO.

CHƯƠNG 47
HỒI HƯỚNG – LÀM THIỆN MÀ KHÔNG ĐÓNG CÔNG ĐỨC VÀO BẢN NGÃ

Sanskrit:

pariṇāmanā. Trong truyền thống Đại thừa, hồi hướng là một nội dung rất quan trọng: Đem thiện căn, công đức và thiện hạnh quy hướng về giác ngộ và lợi ích chúng sinh. Hồi hướng không nên hiểu đơn giản như: Chuyển một “cục công đức” từ người này sang người khác. Điểm thực hành sâu hơn là:

KHÔNG GIỮ THIỆN PHÁP LẠI

CHO CÁI TÔI.

CÂU NHỚ:

HỒI HƯỚNG LÀ

SAU KHI LÀM ĐIỀU LÀNH,

ĐỪNG DỰNG MỘT CĂN NHÀ

CHO CÁI TÔI Ở TRONG CÔNG ĐỨC ẤY.

I. HỒI HƯỚNG KHÔNG LÀM THIỆN BỊ MẤT

Không nên hình dung công đức như tiền: Có 100. Cho 50. Còn 50. Thiện nghiệp vận hành theo nhân duyên. Hồi hướng là:

MỞ HƯỚNG CỦA THIỆN TÂM.

Không chỉ: “Tôi được phước.” Mà: “Nguyện thiện này trở thành duyên cho tỉnh thức, bớt khổ và giác ngộ.” Hồi hướng: Làm tâm rộng. Không làm thiện bị mất.

II. HỒI HƯỚNG VÀ BỒ-ĐỀ TÂM

BỒ-ĐỀ TÂM: Tu không chỉ vì riêng mình. HỒI HƯỚNG: Ngay cả việc thiện vừa làm cũng không thu lại chỉ cho riêng mình. Có thể nhớ: PHÁT NGUYỆN

→ HÀNH THIỆN

→ HỒI HƯỚNG.

Trước việc: Biết hướng. Trong việc: Làm đúng. Sau việc: Không giữ công.

III. HỒI HƯỚNG VÀ VÔ TRỤ

Làm thiện: Vẫn làm. Nhưng: Không trụ công. Bố thí xong: Hồi hướng. Giảng Pháp xong: Hồi hướng. Làm công trình xong: Hồi hướng. Không phải vì sợ công đức. Mà: KHÔNG ĐỂ CÔNG ĐỨC

TRỞ THÀNH NHIÊN LIỆU CHO NGÃ.

Câu nhớ:

HỒI HƯỚNG KHÔNG XÓA CÔNG ĐỨC.

HỒI HƯỚNG XÓA BỚT

CÁI Ý MUỐN SỞ HỮU CÔNG ĐỨC.

IV. HỒI HƯỚNG VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

Làm thiện. Được khen. NHẬN: Vui. SOI: Có muốn giữ danh? THẤY: Cái tôi đang bước vào. KHÔNG DÍNH: Không sống trong lời khen. KHÔNG CHẤP: Không nghĩ mình hơn vì làm thiện. BUÔNG: Công.

AN:

Tiếp tục việc đúng. Hồi hướng là: MỞ BÀN TAY

SAU KHI THIỆN SỰ ĐÃ HOÀN THÀNH.

V. HỒI HƯỚNG CHO NGƯỜI ĐÃ MẤT

Trong nhiều truyền thống Phật giáo, người sống làm thiện và hồi hướng tới: Cha mẹ. Người thân. Người đã mất. Chúng sinh. Trong kinh điển Pāli có những truyền thống liên hệ việc làm phước rồi dành thiện duyên cho thân nhân quá vãng, nổi tiếng như: Tirokuḍḍa Sutta – Kinh Ngoài Bức Tường, thuộc Khuddakapāṭha – Tiểu Tụng.

Các truyền thống Phật giáo giải thích cơ chế hồi hướng theo những cách khác nhau. Vì vậy nên nói thận trọng: LÀM THIỆN THẬT, RỒI PHÁT NGUYỆN THIỆN DUYÊN ẤY TRỞ THÀNH LỢI ÍCH

CHO NGƯỜI ĐƯỢC HỒI HƯỚNG

THEO NHÂN DUYÊN THÍCH HỢP.

Không nên bảo đảm: “Chắc chắn người kia sẽ được đúng như ý mình.”

VI. HỒI HƯỚNG KHÔNG THAY NGHIỆP CỦA NGƯỜI KHÁC

Không thể hoàn toàn: Tu thay. Chịu nghiệp thay. Xóa mọi hậu quả thay. Mỗi hữu tình có: Nghiệp. Duyên. Tác ý. Con đường riêng. Nhưng mình có thể: Làm thiện. Tạo duyên. Phát nguyện. Hỗ trợ. Cầu mong. Câu nhớ: HỒI HƯỚNG

LÀ TẠO VÀ MỞ THIỆN DUYÊN.

KHÔNG PHẢI

CHIẾM QUYỀN NHÂN QUẢ

CỦA NGƯỜI KHÁC.

VII. HỒI HƯỚNG VÀ PHÁP CÚ 183

Không thể làm điều bất thiện rồi đọc bài hồi hướng mà biến nó thành thiện. Nền vẫn là: BỎ ÁC. LÀM LÀNH. LÀM SẠCH TÂM. Hồi hướng đứng sau thiện hạnh và giúp làm sạch tâm bằng cách bớt giữ công. Câu nhớ:

KHÔNG CÓ THIỆN HẠNH THẬT

THÌ HỒI HƯỚNG CHỈ CÒN LỜI.

VIII. HỒI HƯỚNG VÀ CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC

THẬT: Động cơ của tôi là gì? THIỆN: Việc làm có thật sự lành? GIỚI: Phương tiện có sạch? ĐỊNH: Có bị khen chê kéo? TUỆ: Có thấy mọi việc do duyên? LỰC: Làm thiện và buông công nhiều lần. Câu nhớ: LÀM THIỆN MỘT LẦN TẠO THIỆN DUYÊN.

LÀM THIỆN MÀ KHÔNG GIỮ CÔNG NHIỀU LẦN

TẠO NỘI LỰC.

IX. HỒI HƯỚNG KHÔNG CHỈ Ở CUỐI THỜI KINH

Có thể hồi hướng sau: Một bữa cơm. Một thiện sự. Một thời Pháp. Một cuốn sách. Một lần chăm người bệnh. Một ngày lao động. Có thể nguyện rất ngắn: “Nguyện thiện duyên này không dừng ở lợi ích riêng mình; nguyện nó trở thành nhân cho bớt khổ, tăng thiện và đi về giác ngộ.” Điểm quan trọng:

HƯỚNG CỦA TÂM.

X. HỒI HƯỚNG VÀ ĐẠI NGUYỆN

Một đời gồm nhiều việc nhỏ. Nếu các việc nhỏ đều được đặt vào một đại nguyện: Đời có một dòng chảy. Một lần bố thí. Một lần nhẫn. Một bài Pháp. Một lần không trả sân. Một việc thiện. Tất cả có thể quy về: “Nguyện việc này làm tâm bớt mê, bớt hại, tăng Trí, tăng Bi và trở thành lợi ích cho chúng sinh.”

Câu nhớ: HỒI HƯỚNG

LÀ ĐẶT MỘT GIỌT THIỆN

VÀO DÒNG SÔNG ĐẠI NGUYỆN.

XI. HỒI HƯỚNG VÀ BÁT-NHÃ

Người làm thiện: Do duyên. Việc thiện: Do duyên. Người nhận lợi ích: Do duyên. Công đức: Không phải vật có tự tính độc lập để cái tôi sở hữu tuyệt đối. Nhưng: Thiện vẫn là thiện. Ác vẫn là ác. Nhân quả vẫn vận hành. Bát-nhã chỉ giúp:

KHÔNG TUYỆT ĐỐI HÓA

NGƯỜI LÀM VÀ CÔNG ĐÃ LÀM. Đây là: LÀM THIỆN NHƯNG VÔ TRỤ.

XII. KẾT

Một người làm thiện có thể dừng ở: “TÔI ĐƯỢC PHƯỚC.” Hoặc đi xa hơn: “NGUYỆN THIỆN NÀY

TRỞ THÀNH DUYÊN GIÁC NGỘ

VÀ LỢI ÍCH CHÚNG SINH.”

Đó là hồi hướng. Trước việc: BỒ-ĐỀ TÂM cho hướng. Trong việc: GIỚI – ĐỊNH – TUỆ giữ đường.

BỐ THÍ – NHẪN – TINH TẤN

đưa thiện thành hành. Sau việc: BÁT-NHÃ không cho cái tôi dựng nhà. HỒI HƯỚNG mở thiện duyên ra. THẬT: Soi động cơ. THẤY: Cái muốn giữ công. TỈNH: Không chạy theo danh. BỎ ÁC: Để việc sạch. LÀM LÀNH: Làm thật. KHÔNG DÍNH. KHÔNG CHẤP. BUÔNG.

AN.

SÁNG. Thiện sự không còn kết thúc ở: “TÔI ĐÃ LÀM.” Mà mở thành:

“NGUYỆN ĐIỀU LÀNH NÀY

TIẾP TỤC TẠO DUYÊN LÀNH.”

CÂU CUỐI:

LÀM THIỆN MÀ GIỮ CÔNG

TÂM VẪN CÒN MỘT CHỖ NẮM.

LÀM THIỆN RỒI HỒI HƯỚNG

TÂM HỌC CÁCH MỞ. HỒI HƯỚNG KHÔNG PHẢI

CHO ĐI MỘT “CỤC CÔNG ĐỨC.”

LÀ ĐƯA THIỆN HẠNH RA KHỎI CÁI KHUNG: “CHO RIÊNG TÔI”

ĐỂ NÓ ĐƯỢC ĐẶT VÀO HƯỚNG:

GIÁC NGỘ VÀ

LỢI ÍCH CHÚNG SINH.

CHƯƠNG 48
TỨ Y PHÁP – NƯƠNG PHÁP MÀ KHÔNG RƠI VÀO CHẤP NGƯỜI, CHẤP CHỮ

Trong truyền thống Đại thừa có bốn nguyên tắc quen thuộc: Y PHÁP BẤT Y NHÂN. Y NGHĨA BẤT Y NGỮ. Y TRÍ BẤT Y THỨC.

Y LIỄU NGHĨA KINH, BẤT Y BẤT LIỄU NGHĨA KINH.

Các công thức Tứ Y xuất hiện với những cách trình bày khác nhau trong nhiều nguồn Đại thừa và thường được truyền thống liên hệ tới các kinh như Đại Bát Niết-bàn. Cách giải thích chi tiết giữa các tông phái có thể khác nhau. Vì vậy Tứ Y trong chương này được dùng như nguyên tắc học Pháp:

KÍNH NGƯỜI,

NHƯNG LẤY PHÁP LÀM CHUẨN.

CÂU NHỚ:

NGƯỜI CÓ THỂ DẪN MÌNH ĐẾN CỬA.

CHÁNH PHÁP MỚI LÀ CÁI

PHẢI ĐƯỢC DÙNG ĐỂ KIỂM CON ĐƯỜNG.

I. Y PHÁP BẤT Y NHÂN

Y pháp không có nghĩa: Không cần thầy. Không kính người. Không tin ai. Mà: Khi một lời được trình bày là Phật pháp, phải có khả năng hỏi: Có hợp kinh không? Có hợp Giới không? Có hợp Chánh kiến không? Có dẫn tới giảm tham – sân – si không? Một người: Có danh. Có nhiều người theo.

Nói rất hay. Được tôn kính. không vì vậy mà mọi lời người ấy nói tự động trở thành lời Đức Phật. Ngược lại: Một người bình thường nói đúng Pháp, không nên bỏ lời đúng chỉ vì họ không nổi tiếng. Câu nhớ: TÔN KÍNH MỘT NGƯỜI KHÔNG ĐỒNG NGHĨA GIAO CHO NGƯỜI ẤY

QUYỀN ĐỊNH NGHĨA SỰ THẬT.

II. Y PHÁP KHÔNG PHẢI BẮT LỖI NGƯỜI

Tứ Y không phải công cụ để: Kiêu mạn. Soi lỗi. Tranh hơn. Nếu chưa rõ: Nói chưa rõ. Không biết: Nói chưa biết. Thấy một lời nghi: Kiểm nguồn. Không từ một câu chưa hiểu mà kết án cả con người. THẤY: Điểm nghi. TỈNH: Không phản ứng theo thích – ghét. SOI: Nguồn và ngữ cảnh. TUỆ: Phân biệt.

Nếu lời sai: BUÔNG LỜI SAI. Không nhất thiết: Ghét người nói. Đây là: PHÂN BIỆT PHÁP MÀ KHÔNG NUÔI SÂN.

III. Y NGHĨA BẤT Y NGỮ

Một giáo pháp có thể được dịch bằng những chữ khác nhau. Anicca có thể được dịch: Vô thường. Không thường còn. Biến đổi. Dukkha tùy ngữ cảnh có thể được dịch: Khổ. Bất toại nguyện. Những sắc thái diễn đạt khác. Không nên chỉ vì chữ khác nhau mà vội kết luận một bản sai. Điều phải thấy là:

Ý nghĩa trong ngữ cảnh. Nhưng: “Y nghĩa” không có nghĩa muốn giải thế nào cũng được. Nghĩa vẫn phải dựa: Văn cảnh. Thuật ngữ. Toàn bài kinh. Hệ giáo lý. Câu nhớ: KHÔNG CHẤP CHỮ KHÔNG CÓ NGHĨA

ĐƯỢC QUYỀN BẺ NGHĨA.

IV. Y TRÍ BẤT Y THỨC

Trong các hệ Đại thừa, trí và thức có những tầng nghĩa triết học sâu. Ở mức thực hành của chương này: Đừng chỉ dùng: Thích. Ghét. Ấn tượng. Thành kiến. Cảm xúc. để phán một giáo pháp. Một bài nghe rất thích: Không có nghĩa chắc chắn đúng. Một bài nghe khó chịu: Không có nghĩa chắc chắn sai.

Có lời khó nghe vì nó chạm đúng chấp. Có lời rất dễ nghe nhưng lại nuôi mê. Vì vậy: CẢM GIÁC DỄ CHỊU KHÔNG PHẢI

TIÊU CHUẨN TỐI HẬU CỦA CHÁNH PHÁP.

NHẬN: Tôi thích lời này. SOI: Thích vì đúng hay vì hợp ý? THẤY: Có thiên kiến? KHÔNG DÍNH: Chưa vội tin chỉ vì thích. TUỆ: Kiểm bằng Pháp.

V. Y LIỄU NGHĨA – BẤT Y BẤT LIỄU NGHĨA

Đây là phần phải dùng rất cẩn thận. Các truyền thống Đại thừa không phải lúc nào cũng phân loại “liễu nghĩa – bất liễu nghĩa” giống nhau. Không nên nói: “Kinh tôi theo là cao, kinh người khác là thấp” chỉ để bảo vệ tông phái. Khi một lời dạy có nhiều tầng nghĩa, cần xem:

BỐI CẢNH. ĐỐI TƯỢNG NGHE. MỤC ĐÍCH. TOÀN HỆ GIÁO LÝ. Một lời phương tiện cho người mới không nên bị tách ra rồi biến thành chân lý duy nhất phủ hết phần khác. Một câu kinh không nên bị cắt khỏi đoạn trước sau để chứng minh điều mình đã muốn tin sẵn. Câu nhớ: ĐỌC KINH ĐÚNG

KHÔNG CHỈ LÀ ĐỌC MỘT CÂU ĐÚNG.

CÒN PHẢI ĐẶT CÂU ĐÚNG VÀO ĐÚNG BỐI CẢNH.

VI. TỨ Y VÀ VIỆC HỌC NHIỀU TRUYỀN THỐNG

Khi học nhiều hệ Phật giáo: Không lấy lời Đại thừa gắn thành lời kinh Pāli. Không lấy cách giải Theravāda bảo đó là cách duy nhất Đại thừa phải dùng. Không lấy lời luận sư gọi thành kinh. Không lấy lời hệ thống hóa của người viết gọi thành lời Phật nguyên văn. Phải phân biệt:

KINH NÓI GÌ?

TRUYỀN THỐNG GIẢI THẾ NÀO?

NGƯỜI VIẾT HỆ THỐNG HÓA RA SAO?

THỰC HÀNH ĐƯỢC ỨNG DỤNG THẾ NÀO?

Câu nhớ:

NGUỒN CÀNG RÕ,

NGƯỜI HỌC CÀNG TỰ DO.

NGUỒN CÀNG MỜ,

NGƯỜI HỌC CÀNG PHẢI LỆ THUỘC NGƯỜI KỂ.

VII. TỨ Y KHÔNG PHẢI “TÔI TỰ HIỂU HẾT”

Y pháp bất y nhân không có nghĩa: Khỏi cần thiện tri thức.

Kinh khó.

Ngôn ngữ cổ. Bối cảnh xa. Pháp hành sâu. Người đi trước có thể: Chỉ lỗi. Gợi nguồn. Chỉnh cách hiểu. Chỉnh cách hành. Giúp tránh sai lầm. Thiện tri thức rất quý. Nhưng người hướng dẫn chân chính không cần biến học trò thành người không còn được phép suy xét. Người học chân chính cũng không lấy suy xét làm lý do kiêu mạn.

Hai bên gặp nhau ở: CHÁNH PHÁP. Câu nhớ: THIỆN TRI THỨC

GIÚP MÌNH HỌC CÁCH NHÌN PHÁP.

KHÔNG PHẢI

HỌC CÁCH NGỪNG NHÌN

VÌ ĐÃ CÓ MỘT NGƯỜI ĐỂ TIN.

VIII. TỨ Y VÀ BỐN CÔNG THỨC

Khi nghe một lời Pháp: THẬT: Nguồn ở đâu? THẤY: Tâm đang thích hay ghét? TỈNH: Chưa vội tin hoặc bác. SOI: Nghĩa, bối cảnh, hệ kinh. GIỚI: Lời này có dẫn tới gây hại không? THIỆN: Có nuôi thiện pháp không? ĐỊNH: Không chạy theo số đông. TUỆ: Phân biệt. Đúng: Học và hành. Sai: BUÔNG.

Người nói sai một phần: Không nhất thiết ghét toàn bộ người ấy. Mình hiểu sai: THẬT – SỬA. Tứ Y vì vậy vừa giúp: CHỐNG MÊ TÍN vừa giúp: CHỐNG NGÃ CHẤP.

IX. KẾT

Người tu cần: LÒNG TIN. Nhưng lòng tin không phải: ĐÓNG MẮT. Người tu cần: THẦY. Nhưng thầy không thay: CHÁNH PHÁP. Người tu cần: KINH. Nhưng không được: CHẤP MỘT CÂU MÀ BỎ BỐI CẢNH. Người tu cần: SUY XÉT. Nhưng không để: THÍCH – GHÉT quyết định sự thật. Vì vậy: Y PHÁP BẤT Y NHÂN:

Kính người nhưng lấy Pháp kiểm lời. Y NGHĨA BẤT Y NGỮ: Hiểu nghĩa, không mắc kẹt chữ. Y TRÍ BẤT Y THỨC: Dùng Tuệ, không để phản ứng thích – ghét dẫn hết.

Y LIỄU NGHĨA BẤT Y BẤT LIỄU NGHĨA:

Đọc giáo pháp trong chiều sâu, bối cảnh và mục đích của nó. Trong tất cả: THẬT để không bịa nguồn. THẤY để nhận thiên kiến. TỈNH để không chạy theo người. GIỚI để không dùng Pháp gây hại. ĐỊNH để đứng được trước đám đông. TUỆ để phân biệt. KHÔNG DÍNH vào người mình kính. KHÔNG CHẤP quan điểm mình đang có.

SAI: BUÔNG. ĐÚNG: HÀNH. Rồi: SÁNG. CÂU CUỐI: KÍNH THẦY

NHƯNG KHÔNG THAY CHÁNH PHÁP

BẰNG CON NGƯỜI. HỌC CHỮ NHƯNG KHÔNG ĐỂ CHỮ CHE MẤT NGHĨA. CÓ LÒNG TIN

NHƯNG KHÔNG GIAO TƯ DUY

CHO ĐÁM ĐÔNG. CÓ QUAN ĐIỂM

NHƯNG LUÔN SẴN SÀNG SỬA

KHI KINH – LÝ – THỰC HÀNH

CHO THẤY MÌNH ĐANG SAI.

ĐÓ KHÔNG PHẢI ÍT TIN.

ĐÓ LÀ: TIN MÀ CÓ TUỆ.

CHƯƠNG 49
NHỊ ĐẾ – SỰ THẬT QUY ƯỚC VÀ SỰ THẬT TỐI HẬU

Trong Trung quán Đại thừa có một nguyên tắc rất quan trọng:

NHỊ ĐẾ – HAI SỰ THẬT.

Sanskrit:

saṃvṛti-satya – chân lý quy ước, tục đế. paramārtha-satya – chân lý tối hậu, chân đế. Một nguồn rất nổi tiếng là: Mūlamadhyamakakārikā – Trung Luận của Nāgārjuna – Long Thọ, đặc biệt chương 24, nơi Nhị Đế được trình bày rất quan trọng trong hệ thống Trung quán. Đây là hệ tư tưởng Đại thừa được phát triển sâu về sau.

Không nên đồng nhất máy móc nó với mọi cách trình bày trong kinh Nikāya/Pāli.

CÂU NHỚ:

TỤC ĐẾ

GIÚP MÌNH SỐNG ĐÚNG TRONG CUỘC ĐỜI.

CHÂN ĐẾ

GIÚP MÌNH KHÔNG BỊ CUỘC ĐỜI

TRÓI BẰNG CÁI CHẤP TUYỆT ĐỐI.

I. TỤC ĐẾ

Trong đời sống quy ước: Có người. Có tên. Có tài sản. Có lời hứa. Có trách nhiệm. Có nhân quả. Có đúng – sai. Có việc cần làm. Nếu vay: Phải trả. Nếu hứa: Phải giữ. Nếu làm sai: Phải sửa. Nếu bệnh: Phải chữa. Không thể nói: “Tất cả là Không” rồi phủ nhận trách nhiệm. Câu nhớ: THẤY KHÔNG

MÀ KHÔNG SỐNG ĐƯỢC TRÁCH NHIỆM

THÌ CÁI THẤY ẤY CHƯA THÀNH TUỆ.

II. CHÂN ĐẾ

Nhìn sâu: Không có pháp nào tự đứng một mình bằng một tự tính độc lập và cố định. Cái gọi là: “TÔI” do vô số duyên. Một ngôi chùa: Do vô số duyên. Một cuốn sách: Do vô số duyên. Một danh tiếng: Do vô số duyên. Theo tục đế: Vẫn gọi tên. Theo chiều sâu của tánh Không: Không có thực thể ấy tự sinh và tự tồn tại độc lập.

Có thể nhớ: CÓ THEO QUY ƯỚC. KHÔNG VỀ TỰ TÍNH.

III. HAI SỰ THẬT KHÔNG PHẢI HAI THẾ GIỚI

Không phải: Tục đế ở một nơi. Chân đế ở một thế giới khác. Cùng một pháp: Có thể nhìn theo hai chiều. Ví dụ: Cái ly. TỤC ĐẾ: Đây là cái ly. Có công dụng uống nước. Đánh rơi có thể bể. CHÂN ĐẾ: “Cái ly” do: Nguyên liệu. Nhiệt. Người làm. Vận chuyển. Tên gọi. Công dụng. vô số duyên mà thành.

Không cần phá cái ly để tìm tánh Không. Ngay chính sự duyên sinh của cái ly đã cho thấy nó không tự có. Câu nhớ:

CHÂN ĐẾ KHÔNG NẰM PHÍA SAU TỤC ĐẾ.

CHIỀU SÂU CỦA TỤC ĐẾ

LÀ THẤY NÓ KHÔNG TỰ CÓ.

IV. CHẤP TỤC ĐẾ THÀNH TUYỆT ĐỐI

Tâm nói: “Tôi là như vậy.” “Người đó là kẻ xấu.” “Cái này phải là của tôi mãi.” “Quan điểm tôi là chân lý tuyệt đối.” Khi đó: Tên gọi trở thành nhà tù. Một lỗi: Thành cả con người. Một lời chê: Thành cả đời. Một tài sản: Thành bản thân. THẤY: Mình đang đóng cứng điều gì? TỈNH:

Không biến tên gọi thành bản chất. TUỆ: Thấy duyên. BUÔNG: Nới chấp. SÁNG: Nhìn linh động hơn. Câu nhớ:

TÊN GỌI CẦN CHO ĐỜI SỐNG.

KHỔ SINH

KHI MÌNH TƯỞNG CÁI TÊN

CHÍNH LÀ TOÀN BỘ THỰC TẠI.

V. CHẤP CHÂN ĐẾ THÀNH HƯ VÔ

Sai lầm ngược lại: “Không có ai.” “Không có nghiệp.” “Không có đúng sai.” “Không có gì để tu.” Đây không phải Trung đạo. Chính vì pháp do duyên: Nó có thể đổi. Nếu mọi pháp có tự tính cố định: Tu sẽ không thể chuyển hóa. Vì vậy: TÁNH KHÔNG

KHÔNG PHÁ CON ĐƯỜNG TU.

TÁNH KHÔNG CHO THẤY VÌ SAO

CHUYỂN HÓA CÓ THỂ XẢY RA.

VI. NHỊ ĐẾ VÀ NHÂN QUẢ

Theo tục đế: Hành động có hậu quả. Theo chân đế: Nhân – duyên – quả không có tự tính độc lập. Hai điều không chống nhau. Một hạt giống cần: Đất. Nước. Ánh sáng. Nhiệt độ. Thời gian. mới thành cây. Nghiệp cũng vận hành có điều kiện. Không nên hiểu như định mệnh tuyệt đối. Chính vì có duyên, người tu mới có thể:

Ngăn bất thiện. Bỏ bất thiện. Sinh thiện. Nuôi thiện. Thay thói quen. Chuyển tác ý. Câu nhớ:

NHÂN QUẢ KHÔNG PHẢI ĐỊNH MỆNH.

CHÍNH TÍNH DUYÊN SINH

LÀM CHO CON ĐƯỜNG TU

CÓ Ý NGHĨA.

VII. NHỊ ĐẾ VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

Một người làm mình đau. Theo tục đế: Hành vi có thể sai. Có thể: Nói rõ. Giữ ranh giới. Ngăn sai. Theo chân đế: Không đóng cứng người ấy thành:

“KẺ XẤU VĨNH VIỄN.”

NHẬN: Đau. SOI: Chuyện gì xảy ra? THẤY: Hành vi sai, nhưng con người do vô số duyên. KHÔNG DÍNH: Không để một sự kiện thành toàn bộ đời mình. KHÔNG CHẤP: Không dựng kẻ thù vĩnh viễn. BUÔNG: Hận.

AN:

Nhưng ranh giới vẫn giữ. Đây là: BUÔNG CHẤP

MÀ KHÔNG BỎ TRÁCH NHIỆM.

VIII. NHỊ ĐẾ VÀ GIỚI

Hiểu Không không phải lý do coi thường Giới. Tục đế: Thân khẩu có hậu quả. Chân đế: Người giữ giới cũng không có cái tôi cố định để kiêu. Vì vậy:

GIỮ GIỚI NGHIÊM TÚC.

NHƯNG KHÔNG DỰNG:

“TÔI THANH TỊNH HƠN.”

Câu nhớ: GIỚI GIỮ HÀNH VI. BÁT-NHÃ THÁO NGÃ

TRONG NGƯỜI GIỮ GIỚI.

IX. NHỊ ĐẾ VÀ BỒ-TÁT HẠNH

Theo tục đế: Chúng sinh đang khổ. Nên: Giúp. Theo chân đế: “Tôi.” “Người được giúp.” “Việc giúp.” đều do duyên. Nên: Không chấp công. Chỉ tục đế: Có thể giúp rồi sở hữu. Chỉ nói chân đế: Có thể trở thành lạnh. Bồ-tát đạo cần cả hai: BI KHÔNG BỎ TỤC ĐẾ. BÁT-NHÃ KHÔNG CHẤP TỤC ĐẾ. Câu nhớ:

BI

ĐƯA MÌNH TỚI NGƯỜI ĐANG KHỔ.

BÁT-NHÃ KHÔNG CHO CÁI TÔI

ĐI THEO ĐỂ CHIẾM NGƯỜI ẤY.

X. NHỊ ĐẾ VÀ PHÁP THÍ

Theo tục đế: Nguồn phải rõ. Tên kinh phải đúng. Dịch giả phải đúng. Thuật ngữ phải phân biệt. Theo chân đế: Không lấy kiến thức làm ngã. Có thể bảo vệ Chánh pháp mà không ghét người hiểu sai. THẬT: Nguồn rõ. GIỚI: Không xuyên tạc. ĐỊNH: Không bị tranh luận kéo. TUỆ: Thấy tầng nghĩa.

KHÔNG CHẤP: Không dựng “tôi là người biết.”

XI. NHỊ ĐẾ VÀ TỨ Y

Theo tục đế: Có thầy. Có học trò. Có kinh. Có truyền thống. Có bản dịch. Theo chân đế: Không thực thể nào đứng độc lập một mình. Vì vậy: Kính thầy nhưng không thần thánh hóa cá nhân. Học truyền thống nhưng không biến truyền thống thành bản ngã tập thể. Có quan điểm nhưng biết quan điểm là phương tiện diễn đạt, không phải toàn thể thực tại.

Câu nhớ:

CÓ THỂ ĐỨNG RẤT VỮNG

TRONG MỘT TRUYỀN THỐNG

MÀ KHÔNG CẦN

BIẾN TRUYỀN THỐNG ẤY

THÀNH VŨ KHÍ

CHỐNG TRUYỀN THỐNG KHÁC.

XII. HAI CÂU HỎI THỰC HÀNH

Khi một việc làm mình khổ: HỎI THEO TỤC ĐẾ: Chuyện gì thực sự xảy ra? Ai chịu trách nhiệm phần nào? Việc gì cần sửa? Ranh giới nào cần giữ? HỎI THEO CHÂN ĐẾ: Tôi đang biến điều gì thành cố định? Cái “tôi,” “người kia,” “mất mát,” “thất bại” do những duyên nào? Tôi đang đòi cái gì phải tồn tại mãi? Hai tầng đi cùng:

KHÔNG TRỐN ĐỜI. KHÔNG MẮC KẸT ĐỜI.

XIII. KẾT

Nhị Đế giải quyết một câu hỏi rất lớn:

LÀM SAO SỐNG NGHIÊM TÚC

MÀ KHÔNG CHẤP CỨNG?

Theo tục đế: Giữ lời. Trả nợ. Giữ giới. Chịu trách nhiệm. Chăm thân. Bảo vệ người bị hại. Học đúng nguồn. Làm thiện. Theo chân đế: Thấy mọi pháp do duyên. Không có: “TÔI” cố định. “NGƯỜI KIA” cố định. “CÔNG CỦA TÔI” cố định. “DANH CỦA TÔI” cố định. THẬT với sự việc. THẤY đúng điều đang xảy ra.

TỈNH trước câu chuyện của cái tôi. GIỚI giữ trách nhiệm. LÀM LÀNH trong đời sống quy ước. ĐỊNH không bị tên gọi kéo. TUỆ thấy duyên sinh. KHÔNG DÍNH vào nhãn. KHÔNG CHẤP bản chất cố định. BUÔNG.

AN.

SÁNG. CÂU CUỐI: TỤC ĐẾ DẠY MÌNH: VIỆC GÌ CẦN LÀM THÌ LÀM CHO ĐÚNG. CHÂN ĐẾ DẠY MÌNH: LÀM XONG ĐỪNG BIẾN

“TÔI – NGƯỜI – VIỆC”

THÀNH NHỮNG THỰC THỂ CỨNG

ĐỂ NẮM. KHÔNG PHẢI

VÌ TẤT CẢ LÀ DUYÊN SINH

MÀ KHÔNG CẦN SỐNG CÓ TRÁCH NHIỆM.

CHÍNH VÌ

TẤT CẢ LÀ DUYÊN SINH,

MỖI TÁC Ý, MỖI LỜI NÓI, MỖI HÀNH ĐỘNG

CÀNG ĐÁNG ĐƯỢC CHĂM SÓC,

VÌ NÓ ĐANG TRỞ THÀNH

MỘT PHẦN

CỦA DÒNG DUYÊN KẾ TIẾP.

CHƯƠNG 50
PHẬT TÁNH VÀ NHƯ LAI TẠNG – NGUỒN, Ý NGHĨA VÀ CÁC CÁCH GIẢI THÍCH

Các thuật ngữ Đại thừa quan trọng: Buddha-dhātu – Phật tánh / Phật giới, tùy văn cảnh. tathāgatagarbha – Như Lai tạng. Các tư tưởng này xuất hiện trong nhiều kinh Đại thừa như: Tathāgatagarbha Sūtra – Kinh Như Lai Tạng. Śrīmālādevī Siṃhanāda Sūtra – Kinh Thắng Man Sư Tử Hống.

Mahāparinirvāṇa Sūtra – Kinh Đại Bát Niết-bàn theo truyền thống Đại thừa. Cách giải thích Phật tánh và Như Lai tạng khác nhau giữa các kinh và các tông phái. Điểm cần giữ thật chắc: PHẬT TÁNH KHÔNG NÊN HIỂU

NHƯ MỘT LINH HỒN THƯỜNG HẰNG,

ĐỘC LẬP, BẤT BIẾN

NẰM BÊN TRONG CON NGƯỜI.

Một cách hiểu thực hành an toàn là: PHẬT TÁNH

CHỈ CHO KHẢ NĂNG GIÁC NGỘ,

KHẢ NĂNG HIỂN LỘ TRÍ VÀ BI

KHI VÔ MINH, PHIỀN NÃO VÀ CHẤP THỦ

ĐƯỢC CHUYỂN HÓA.

CÂU NHỚ:

PHẬT TÁNH

KHÔNG PHẢI MỘT CÁI TÔI ĐẸP HƠN

ĐỂ MÌNH NẮM.

PHẬT TÁNH LÀ LỜI NHẮC:

TÂM MÊ KHÔNG NHẤT THIẾT PHẢI MÊ MÃI.

I. TẠI SAO NÓI PHẬT TÁNH?

Một người đang: Tham. Sân. Si. Không có nghĩa: Người ấy phải tham – sân – si mãi mãi. Tâm có thể: Học. Tu. Chuyển. Thấy. Buông. Sáng. Giáo lý Phật tánh mở ra niềm tin vào:

KHẢ NĂNG CHUYỂN HÓA.

Nhưng không xóa:

TRÁCH NHIỆM HIỆN TẠI.

Câu nhớ:

TIN VÀO KHẢ NĂNG GIÁC NGỘ

KHÔNG PHẢI PHỦ NHẬN LỖI HIỆN TẠI.

LÀ KHÔNG ĐÓNG ĐINH MỘT CON NGƯỜI VÀO LỖI HIỆN TẠI.

II. PHẬT TÁNH KHÔNG PHẢI “CÁI TA THẬT”

Giáo lý sớm nhấn mạnh: anattā – vô ngã. Không nên nắm năm uẩn: “Cái này là của tôi.” “Cái này là tôi.” “Cái này là tự ngã của tôi.” Vì vậy không nên đơn giản hóa: PHẬT TÁNH =

MỘT TỰ NGÃ BẤT BIẾN.

Nhiều truyền thống Đại thừa giải thích Phật tánh trong liên hệ với tánh Không. Không phải: Một vật thể độc lập nằm trong tâm. Mà có thể chỉ: Khả năng giác ngộ. Tính không cố định của cấu trúc mê chấp. Khả năng hiển lộ trí giác khi che chướng được tháo. Cách giải chi tiết:

Tùy truyền thống.

III. NGÔN NGỮ TÍCH CỰC TRONG KINH NHƯ LAI TẠNG

Một số kinh Đại thừa dùng những chữ rất mạnh, có khi liên hệ tới: Thường. Lạc. Ngã. Tịnh. Nếu tách khỏi bối cảnh: Rất dễ hiểu lầm. Không nên từ vài chữ rồi kết luận: “Đức Phật xác nhận có linh hồn bất biến.” Phải đọc: Toàn kinh. Bối cảnh. Mục đích. Truyền thống giải thích. Và đặt trong quan hệ với:

Vô ngã. Tánh Không. Đây chính là: Y NGHĨA BẤT Y NGỮ.

IV. PHẬT TÁNH VÀ TÁNH KHÔNG

Nếu một người có bản chất cố định: “Tham mãi mãi.” “Sân mãi mãi.” “Si mãi mãi.” thì tu vô nghĩa. Nhưng vì phiền não: Do duyên. nên khi duyên đổi: phiền não có thể giảm. Có thể hệ thống: TÁNH KHÔNG THÁO CÁI KHÓA:

“TÔI PHẢI LÀ NHƯ THẾ NÀY MÃI.”

PHẬT TÁNH MỞ HƯỚNG: “TÔI CÓ THỂ TU ĐỂ SÁNG HƠN.” Không phải: Có một viên ngọc linh hồn nằm trong tâm.

V. PHẬT TÁNH VÀ CÔNG THỨC PHẬT

Công thức: THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG

không phải định nghĩa kinh điển của Phật tánh. Nó là cách hệ thống hóa thực hành. Tham sinh: THẤY. Không lập tức theo: TỈNH. Nới chấp: BUÔNG. Thấy duyên rõ hơn: SÁNG. Mỗi lần như vậy: Không phải: Thành Phật ngay. Mà: Vô minh bớt quyền điều khiển. Câu nhớ: PHẬT TÁNH KHÔNG PHẢI LÝ DO

ĐỂ TỰ NHẬN MÌNH ĐÃ LÀ PHẬT.

NÓ LÀ LÝ DO

ĐỂ KHÔNG TUYỆT VỌNG

TRƯỚC KHẢ NĂNG TU.

VI. “AI CŨNG CÓ PHẬT TÁNH”

KHÔNG CÓ NGHĨA

“AI LÀM GÌ CŨNG ĐÚNG”

Khả năng giác ngộ: Không biến hành vi sai thành đúng. Có Phật tánh: Không biến sân thành thiện. Không biến bạo lực thành đúng. Không biến dối trá thành Chánh pháp. Có thể: Tôn trọng khả năng giác ngộ của người. Đồng thời: Ngăn hành vi sai của người. Đây là: BI + GIỚI + TUỆ.

VII. PHẬT TÁNH VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

Một người từng làm mình đau. Theo tục đế: Hành vi có thể sai. Ranh giới: Vẫn cần. Nhưng không nhất thiết đóng: “NGƯỜI NÀY

VĨNH VIỄN CHỈ LÀ CÁI LỖI ẤY.”

NHẬN: Đau. SOI: Chuyện gì thực sự xảy ra? THẤY: Sai là sai, nhưng con người là dòng duyên. KHÔNG DÍNH: Không để lỗi người thành toàn bộ tâm mình. KHÔNG CHẤP: Không đóng đinh bản chất vĩnh viễn. BUÔNG: Hận.

AN:

Nhưng ranh giới vẫn giữ.

VIII. PHẬT TÁNH VÀ GIÁO DỤC

Nếu người dạy nghĩ: “Họ không bao giờ học được.” cửa đã đóng. Nếu nghĩ: “Họ có khả năng chuyển, nhưng duyên hiện tại chưa đủ,” cách dạy thay đổi. Có: Kiên nhẫn. Phương tiện. Không khinh. Nhưng: Vẫn giữ nguyên tắc. Câu nhớ:

TIN VÀO PHẬT TÁNH CỦA NGƯỜI KHÁC

KHÔNG PHẢI TIN

HỌ SẼ ĐỔI THEO Ý MÌNH.

LÀ KHÔNG PHỦ NHẬN

KHẢ NĂNG HỌ CÓ THỂ TỈNH

KHI ĐỦ DUYÊN.

IX. PHẬT TÁNH VÀ BỒ-ĐỀ TÂM

Bồ-tát không tạo Phật tánh cho chúng sinh. Bồ-tát: Học. Tu. Tạo thiện duyên. Chỉ đường. Giảm chướng. Nhưng mỗi người vẫn có: Duyên. Tác ý. Sự thực hành. Câu nhớ: BỒ-TÁT

KHÔNG TẠO PHẬT TÁNH

CHO CHÚNG SINH.

BỒ-TÁT GIÚP TẠO DUYÊN

ĐỂ KHẢ NĂNG GIÁC NGỘ

KHÔNG TIẾP TỤC BỊ CHE LẤP.

X. PHẬT TÁNH VÀ CON ĐƯỜNG TU

Nói: “Ai cũng có Phật tánh” không thay: BỎ ÁC. LÀM LÀNH. LÀM SẠCH TÂM. Khả năng: Không thay thực hành. Câu nhớ: PHẬT TÁNH NÓI KHẢ NĂNG. GIỚI – ĐỊNH – TUỆ BIẾN KHẢ NĂNG

THÀNH CON ĐƯỜNG TU.

XI. PHẬT TÁNH KHÔNG CHO PHÉP PHÓNG DẬT

Không được nói: “Tôi vốn là Phật rồi, khỏi tu.” Nếu vô minh vẫn: Dẫn lời nói. Dẫn hành vi. Dẫn tác ý. thì: Vẫn phải tu. Một danh từ đẹp: Không thay được thực hành. Câu nhớ: KHẢ NĂNG GIÁC NGỘ

KHÔNG MIỄN CHO MÌNH

KHỎI CÔNG VIỆC GIÁC NGỘ.

XII. PHẬT TÁNH VÀ KHIÊM HẠ

Nếu mọi chúng sinh đều có khả năng giác ngộ: Không có lý do để khinh người. Người hôm nay mê: Có thể ngày sau tỉnh. Mình hôm nay hiểu: Ngày mai vẫn có thể sai nếu phóng dật. Vì vậy: Không khinh người. Không tuyệt vọng về mình. Không thần thánh hóa mình. Câu nhớ: PHẬT TÁNH

KHÔNG ĐẶT MỘT CHIẾC VƯƠNG MIỆN

LÊN CÁI TÔI. NÓ THÁO LÝ DO ĐỂ CÁI TÔI KHINH NGƯỜI.

XIII. KẾT

Phật tánh không phải: Một vật nằm trong tâm. Một linh hồn. Một tự ngã thường hằng. Một danh xưng để tự tôn. Điều thực hành cần giữ: CON NGƯỜI KHÔNG NHẤT THIẾT BỊ ĐÓNG KÍN

TRONG THAM – SÂN – SI HIỆN TẠI.

Vô minh: Có duyên. Phiền não: Có duyên. Chấp: Có duyên. Và khi duyên tu được nuôi: GIỚI. ĐỊNH. TUỆ. NIỆM. TINH TẤN. BI. BÁT-NHÃ. thì tâm có thể: Thấy khác. Sống khác. Buông khác. THẬT: Nhận mình đang mê ở đâu. THẤY: Phiền não. TỈNH: Không theo phản ứng cũ. BỎ ÁC: Không nuôi che chướng.

LÀM LÀNH: Tạo duyên thiện. GIỚI: Làm nền. ĐỊNH: Làm tâm vững. TUỆ: Thấy vô ngã – duyên sinh. KHÔNG DÍNH. KHÔNG CHẤP. BUÔNG.

AN.

SÁNG. CÂU CUỐI:

PHẬT TÁNH KHÔNG NÓI:

“TÔI ĐÃ LÀ PHẬT NÊN KHỎI TU.” PHẬT TÁNH NÓI: “VÔ MINH KHÔNG CẦN PHẢI

LÀ SỐ PHẬN VĨNH VIỄN

CỦA TÂM.”

VÀ BỞI VÌ TÂM CÓ THỂ CHUYỂN,

NÊN MỖI LẦN

THẤY ĐƯỢC MỘT NIỆM,

DỪNG ĐƯỢC MỘT ĐIỀU ÁC,

LÀM ĐƯỢC MỘT ĐIỀU LÀNH,

BUÔNG ĐƯỢC MỘT CHẤP,

VÀ SÁNG THÊM MỘT PHẦN,

CON ĐƯỜNG GIÁC NGỘ ĐANG ĐƯỢC ĐI BẰNG VIỆC THẬT, KHÔNG PHẢI

BẰNG MỘT DANH XƯNG.

CHƯƠNG 51
NHƯ LAI TẠNG VÀ TÂM THANH TỊNH – “BỊ CHE” KHÔNG PHẢI MỘT CÁI NGÃ BẤT BIẾN

Sanskrit:

tathāgatagarbha – Như Lai tạng. Từ garbha có nhiều sắc thái nghĩa tùy văn cảnh và truyền thống dịch, có thể gợi: Tạng chứa. Thai tạng. Mầm. Cái được bao bọc. Vì vậy Như Lai tạng không nên bị vật thể hóa thành: “Một Đức Phật nhỏ đang nằm sẵn bên trong mỗi người.” Điểm thực hành cần giữ:

KHẢ NĂNG GIÁC NGỘ CÓ THỂ BỊ CHE BỞI

VÔ MINH VÀ PHIỀN NÃO,

NHƯNG TRẠNG THÁI MÊ HIỆN TẠI

KHÔNG NHẤT THIẾT

LÀ BẢN CHẤT BẤT BIẾN.

CÂU NHỚ:

BỊ CHE KHÔNG CÓ NGHĨA

BÊN TRONG CÓ MỘT VẬT THỂ BẤT BIẾN.

BỊ CHE CÓ NGHĨA: KHẢ NĂNG THẤY SÁNG CHƯA HIỂN LỘ

VÌ DUYÊN CHE CÒN MẠNH.

I. HÌNH ẢNH “BỊ CHE”

Trong truyền thống Đại thừa thường có các hình ảnh: Vàng bị bọc. Ngọc bị che. Hạt giống trong vỏ. Trăng bị mây phủ. Các hình ảnh này nói: Phiền não không phải toàn bộ khả năng của tâm. Nhưng không nên biến hình ảnh thành: “Một bản thể tinh khiết bất biến nằm sâu bên trong.”

Hình ảnh là: PHƯƠNG TIỆN. Phải: Y NGHĨA BẤT Y NGỮ.

II. “TÂM THANH TỊNH” PHẢI HIỂU CẨN THẬN

Trong nhiều truyền thống Phật giáo có những ngữ cảnh nói về: Tâm sáng. Tâm thanh tịnh. Tâm không nhiễm. Trong kinh Pāli cũng có mạch nói tới: pabhassara citta – tâm sáng chói / sáng tỏ, và việc tâm bị cấu uế che nhiễm, rồi có thể được giải thoát khỏi cấu uế. Cách giải thích khác nhau giữa các truyền thống.

Không nên từ đó suy diễn: “Có một linh hồn thanh tịnh thường hằng.” Cách hiểu an toàn: TÂM CÓ KHẢ NĂNG

KHÔNG BỊ PHIỀN NÃO CHI PHỐI

KHI CÁC CẤU UẾ ĐƯỢC ĐOẠN GIẢM.

III. NHƯ LAI TẠNG VÀ VÔ NGÃ

VÔ NGÃ: Đừng dựng một cái ta bất biến. NHƯ LAI TẠNG: Đừng dựng một cái mê bất biến. Có thể nhớ: VÔ NGÃ

→ ĐỪNG NÓI:

“TÔI MÃI MÃI LÀ THẾ NÀY.”

NHƯ LAI TẠNG

→ ĐỪNG NÓI:

“TÔI MÃI MÃI KHÔNG THỂ SÁNG.”

Hai điều phải đi cùng.

IV. “PHIỀN NÃO LÀ KHÁCH”

Trong nhiều truyền thống có cách nói: Phiền não là khách. Tâm sáng là chủ. Đây là hình ảnh thực hành. Không nên biến “chủ” thành: một tự ngã thường hằng. Lợi ích của hình ảnh: Sân sinh: Không nói: “Tôi chính là sân.” Mà: “Sân đang có mặt.” Tham sinh: Không nói: “Tôi là người tham vĩnh viễn.”

Mà: “Tham đang sinh do duyên.” Ngay đó: THẤY. TỈNH. KHÔNG DÍNH. BUÔNG.

V. NHƯ LAI TẠNG VÀ DUYÊN KHỞI

Phiền não: Có duyên. Định: Có duyên. Tuệ: Có duyên. Bi: Có duyên. Vì vậy con đường không phải: Đào trong tâm để tìm một vật bí mật. Mà: TẠO DUYÊN ĐỂ MÊ GIẢM VÀ SÁNG TĂNG. Các duyên quan trọng: GIỚI. NIỆM. TINH TẤN. ĐỊNH. TUỆ. THIỆN TRI THỨC. PHÁP HỌC ĐÚNG.

VI. NHƯ LAI TẠNG VÀ CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC

THẬT: Nhận đúng trạng thái hiện tại. Không nói: “Tôi vốn thanh tịnh” để che tham. Không nói: “Tôi có Phật tánh” để khỏi sửa sân. THẬT

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

Câu nhớ:

TIN MÌNH CÓ KHẢ NĂNG SÁNG

KHÔNG PHẢI

ĐỂ PHỦ NHẬN BÓNG TỐI.

LÀ ĐỂ ĐỦ CAN ĐẢM NHÌN BÓNG TỐI VÀ TU.

VII. NHƯ LAI TẠNG VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

Một người tự ghét mình: “Tôi xấu.” “Tôi hỏng.” Không nên chỉ nói: “Bạn có Phật tánh.” Phải giúp họ thấy: NHẬN: Đang đau. SOI: Lỗi nào? Duyên nào? THẤY: Hành vi sai không phải toàn bộ một bản chất cố định. KHÔNG DÍNH: Không đồng hóa cả người với lỗi. KHÔNG CHẤP: Không đóng bản án vĩnh viễn.

BUÔNG: Câu “tôi mãi mãi là như vậy.”

AN:

Rồi sửa điều cần sửa.

VIII. NHƯ LAI TẠNG VÀ BỒ-ĐỀ TÂM

Tin chúng sinh có khả năng giác ngộ: Không có nghĩa: Ngây thơ. Bỏ ranh giới. Không ngăn sai. Có người: Chưa đủ duyên. Có người: Đang tạo hại. Có người: Cần khoảng cách. BỒ-ĐỀ TÂM: Không phủ nhận khả năng giác ngộ của họ. GIỚI: Không để họ tiếp tục hại. TUỆ: Thấy đúng duyên. XẢ:

Không sở hữu tiến trình của họ.

IX. KHÔNG TỰ CHỨNG NHẬN MÌNH

Không nên nghe Phật tánh rồi nói: “Tôi vốn là Phật.” “Tôi thấy bản tâm.” “Tôi khỏi cần học.” Một trải nghiệm sáng: Không tự động là giác ngộ viên mãn. Một lúc tâm yên: Không tự động là giải thoát. Phải kiểm:

THAM CÓ GIẢM KHÔNG?

SÂN CÓ GIẢM KHÔNG? SI CÓ GIẢM KHÔNG?

CHẤP CÓ GIẢM KHÔNG?

BI CÓ TĂNG KHÔNG? TUỆ CÓ SÁNG KHÔNG? Câu nhớ:

CÁI THẤY CÀNG THẬT,

CÁI TÔI KHOE CÁI THẤY CÀNG PHẢI NHỎ.

X. NHƯ LAI TẠNG VÀ TỨ Y

Khi nghe: “Phật tánh là chân ngã tuyệt đối,” phải hỏi: Nguồn nào? Tông phái nào? Bối cảnh nào? Đang dùng ngôn ngữ phương tiện hay bản thể luận? Phải dùng: Y PHÁP. Y NGHĨA. Y TRÍ. Y LIỄU NGHĨA. Câu nhớ:

GIÁO LÝ CÀNG DỄ BỊ HIỂU

THÀNH “MỘT CÁI NGÃ ĐẸP,”

CÀNG CẦN ĐỌC BẰNG TỨ Y VÀ BÁT-NHÃ.

XI. KẾT

Như Lai tạng không cần làm người học có thêm một cái để nắm. Nó phải giúp: BỚT NẮM. Không nắm: “Tôi là kẻ xấu mãi.” Không nắm: “Tôi vốn thanh tịnh nên khỏi sửa.” Không nắm: “Trong tôi có một linh hồn giác ngộ.” Không nắm: “Người kia không bao giờ thay đổi.” Thay vào đó: THẬT với hiện tại.

THẤY phiền não. TỈNH không đồng hóa. BỎ ÁC để bớt che. LÀM LÀNH để tạo duyên sáng. GIỚI giữ đường. ĐỊNH làm tâm có gốc. TUỆ thấy vô ngã – duyên sinh. KHÔNG DÍNH. KHÔNG CHẤP. BUÔNG.

AN.

SÁNG. CÂU CUỐI: NHƯ LAI TẠNG KHÔNG PHẢI MỘT CÁI “TA THẬT” ĐỂ TÌM THẤY.

NÓ LÀ MỘT CÁCH NÓI ĐẠI THỪA

NHẮC RẰNG:

ĐỪNG LẤY VÔ MINH HIỆN TẠI

LÀM BẢN ÁN VĨNH VIỄN CHO TÂM.

VÀ NẾU THẬT SỰ TIN

TÂM CÓ KHẢ NĂNG GIÁC NGỘ,

THÌ VIỆC ĐÚNG NHẤT KHÔNG PHẢI

TỰ XƯNG MÌNH ĐÃ SÁNG,

MÀ LÀ: TIẾP TỤC GIỮ GIỚI. TU ĐỊNH. PHÁT TUỆ. BỎ ÁC. LÀM LÀNH. LÀM SẠCH TÂM. CHO ĐẾN KHI CÁI MÊ THẬT SỰ GIẢM.

PHẦN V
NHỮNG HƯỚNG SOI CHIẾU VÀ PHÁP HÀNH CHUYÊN BIỆT

CHƯƠNG 52
TAM GIẢI THOÁT MÔN – KHÔNG, VÔ TƯỚNG, VÔ NGUYỆN

Các thuật ngữ thường gặp:

Sanskrit:

śūnyatā – Không. animitta – Vô tướng. apraṇihita – Vô nguyện, tùy truyền thống cũng có cách dịch khác. Pāli có các thuật ngữ tương ứng: suññatā. animitta. appaṇihita. Ba pháp này xuất hiện dưới những cách trình bày khác nhau trong các truyền thống Phật giáo và được phát triển sâu trong Đại thừa.

Không nên giả định rằng mọi hệ phái giải thích chúng hoàn toàn giống nhau. Cách thực hành gọn: KHÔNG: Không chấp tự tính. VÔ TƯỚNG: Không bị dấu hiệu và nhãn hiệu trói. VÔ NGUYỆN: Không đặt sự an ổn của tâm vào việc phải đạt được một đối tượng để chiếm hữu.

CÂU NHỚ:

KHÔNG

THÁO CÁI MÌNH TƯỞNG LÀ THẬT CỨNG.

VÔ TƯỚNG

THÁO CÁI MÌNH ĐANG ĐÓNG NHÃN.

VÔ NGUYỆN THÁO CÁI TÂM

CỨ ĐÒI ĐỜI PHẢI HOÀN THÀNH MÌNH.

I. KHÔNG

Không không có nghĩa: Không có gì. Không nhân quả. Không trách nhiệm. Mà: Các pháp không có tự tính độc lập, cố định và tự tồn tại một mình. Thân: Do duyên. Tâm: Do duyên. Danh: Do duyên. Quan hệ: Do duyên. Thành công: Do duyên. Ngay cả cái “tôi” mình đang bảo vệ: Cũng do vô số duyên.

THẤY: Cái đang chấp. SOI: Các duyên. TUỆ: Thấy không tự tính. BUÔNG: Bớt nắm cứng.

II. VÔ TƯỚNG

“Tướng” không chỉ là hình dáng. Có thể là: Dấu hiệu. Nhãn. Đặc trưng. Hình ảnh mà tâm bám lấy. Thấy một người: Tâm lập tức nói: “Người tốt.” “Người xấu.” “Người của tôi.” “Người chống tôi.” Thấy danh hiệu: Tâm nghĩ: “Người này chắc đúng.” Thấy đông người: Tâm nghĩ: “Việc này chắc chắn có giá trị.”

Đó là:

NẮM TƯỚNG RỒI SUY DIỄN.

Vô tướng không phải: Không thấy hình. Mà: THẤY HÌNH

NHƯNG KHÔNG BỊ HÌNH LÀM MÊ.

III. VÔ TƯỚNG VÀ TỨ Y

Y PHÁP BẤT Y NHÂN. Danh. Áo. Chức vụ. Số người theo. Đều là những dấu hiệu quy ước. Pháp đúng hay không: Phải kiểm bằng Pháp. Câu nhớ:

TƯỚNG GIÚP MÌNH NHẬN DIỆN.

TUỆ GIÚP MÌNH

KHÔNG BIẾN NHẬN DIỆN

THÀNH PHÁN QUYẾT.

IV. VÔ TƯỚNG VÀ CÁI NHÃN “TÔI”

“Tôi giỏi.” “Tôi dở.” “Tôi nóng.” “Tôi không có căn.” “Tôi không thay được.” Một nhãn dùng lâu: Có thể thành nhà tù. Tâm sân: Biết sân. Nhưng không nhất thiết nói:

“TÔI CHÍNH LÀ SÂN.”

THẤY. TỈNH. KHÔNG DÍNH. Không biến trạng thái thành bản chất cố định.

V. VÔ NGUYỆN

Sanskrit:

apraṇihita.

Pāli:

appaṇihita. Không nên hiểu: Không phát đại nguyện. Không có mục tiêu tu. Không làm gì. Vô nguyện ở đây có thể hiểu:

KHÔNG ĐẶT SỰ AN ỔN TỐI HẬU

VÀO MỘT ĐỐI TƯỢNG

ĐỂ HAM MUỐN NẮM GIỮ.

Không biến đường tu thành: “Tôi phải đạt cái này để trở thành một cái tôi đặc biệt.” Câu nhớ: VÔ NGUYỆN KHÔNG PHẢI KHÔNG CÓ HƯỚNG. LÀ CÓ HƯỚNG

MÀ KHÔNG BIẾN HƯỚNG

THÀNH MỘT MÓN ĐỒ

CHO CÁI TÔI CHIẾM HỮU.

VI. ĐẠI NGUYỆN VÀ VÔ NGUYỆN

Bồ-đề tâm: Vẫn phát. Tứ Hoằng: Vẫn nguyện. Nhưng không biến đại nguyện thành: “Tôi phải là người cứu tất cả.” “Tôi phải được công nhận.” ĐẠI NGUYỆN: Cho hướng. VÔ NGUYỆN: Tháo sự chiếm hữu hướng ấy. Câu nhớ: NGUYỆN RẤT LỚN. CÁI TÔI

KHÔNG CẦN LỚN THEO.

VII. TAM GIẢI THOÁT MÔN VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

Một việc mình rất muốn thành. NHẬN: Đang mong. SOI: Mong thiện hay đang đòi? THẤY: Kết quả do nhiều duyên. Đó là: KHÔNG. Nếu đóng tướng: “Thành công = tôi tốt.” “Thất bại = tôi dở.” thì: Bỏ nhãn cứng. Đó là: VÔ TƯỚNG. Nếu tâm nói: “Việc phải thành tôi mới an.” thì: Nới cái cầu đắc.

Đó là: VÔ NGUYỆN. Rồi: KHÔNG DÍNH. KHÔNG CHẤP. BUÔNG.

AN.

Nhưng việc cần làm: Vẫn làm.

VIII. TAM GIẢI THOÁT MÔN VÀ BÁT PHONG

Được: Thấy do duyên. KHÔNG. Danh: Không lấy hình ảnh xã hội làm toàn bộ mình. VÔ TƯỚNG. Khen: Không cần khen để xác nhận bản thân. VÔ NGUYỆN. Đời vẫn có: Được. Mất. Khen. Chê. Nhưng tâm bớt dây để các pháp ấy kéo.

IX. TAM GIẢI THOÁT MÔN VÀ BỒ-TÁT HẠNH

Bồ-tát làm rất nhiều việc. Nếu thiếu ba cửa: Làm càng nhiều có thể chấp càng nhiều. KHÔNG: Người làm – người nhận – việc làm đều do duyên. VÔ TƯỚNG: Không đóng mình thành: “Người cứu.” “Người làm thiện.” “Bậc thầy.” VÔ NGUYỆN: Không biến công đức thành món phải đạt. Câu nhớ: BA CỬA GIẢI THOÁT KHÔNG LÀM BỒ-TÁT ÍT HÀNH ĐỘNG.

CHÚNG LÀM HÀNH ĐỘNG

BỚT CÁI TÔI.

X. KIỂM BẰNG ĐỜI SỐNG

Không thật: Cái tôi có nhẹ hơn không? Vô tướng thật: Có bớt phán người bằng danh và hình thức không? Vô nguyện thật: Có bớt câu: “PHẢI ĐƯỢC THÌ TÔI MỚI AN” không? Nếu có: Pháp đang sống. Nếu không: Mới đang nhớ thuật ngữ.

XI. KẾT

Tam Giải Thoát Môn không đưa mình ra khỏi đời. Nó tháo ba kiểu mắc vào đời. KHÔNG: Tháo: “CÁI NÀY TỰ CÓ, THẬT CỨNG,

VÀ PHẢI NHƯ VẬY MÃI.”

VÔ TƯỚNG: Tháo: “CÁI NHÃN NÀY

CHÍNH LÀ TOÀN BỘ SỰ THẬT.”

VÔ NGUYỆN: Tháo:

“PHẢI CÓ ĐƯỢC ĐIỀU NÀY

TÔI MỚI AN.” THẬT: Với sự ham cầu. THẤY: Cái đang nắm. TỈNH: Trước phản ứng. BỎ ÁC: Không dùng ham muốn làm điều sai. LÀM LÀNH: Vẫn tiếp tục. GIỚI: Giữ đường. ĐỊNH: Giữ tâm. TUỆ: Thấy duyên và không tự tính. KHÔNG DÍNH. KHÔNG CHẤP. BUÔNG.

AN.

SÁNG. CÂU CUỐI: KHÔNG ĐỂ KHÔNG CHẤP

MỘT BẢN CHẤT CỐ ĐỊNH.

VÔ TƯỚNG ĐỂ KHÔNG BIẾN

TÊN GỌI VÀ HÌNH TƯỚNG

THÀNH TOÀN BỘ SỰ THẬT.

VÔ NGUYỆN ĐỂ KHÔNG BIẾN CUỘC ĐỜI TU

THÀNH MỘT CUỘC SĂN ĐUỔI

THÀNH TỰU CHO CÁI TÔI.

VẪN NGUYỆN. VẪN TU. VẪN LÀM THIỆN. VẪN GIÚP NGƯỜI. NHƯNG NGÀY CÀNG ÍT CÓ MỘT CÁI TÔI ĐỨNG Ở GIỮA ĐỂ NẮM LẤY

TẤT CẢ NHỮNG ĐIỀU ẤY.

CHƯƠNG 53
TỨ VÔ ÚY – VÔ ÚY CỦA ĐỨC PHẬT VÀ TINH THẦN KHÔNG SỢ TRONG ĐỜI SỐNG

Trong Phật giáo thường nhắc tới: TỨ VÔ ÚY – bốn sự không sợ hãi. Các truyền thống có những cách trình bày chi tiết khác nhau. Trong kinh điển sớm, bốn vô úy của Như Lai gắn với sự không sợ hãi khi tuyên bố: Đã giác ngộ. Đã đoạn các lậu hoặc. Đã chỉ rõ các pháp chướng ngại.

Đã chỉ con đường đưa tới giải thoát. Trong Đại thừa, ý niệm vô úy còn được phát triển trong bối cảnh Bồ-tát đạo và thuyết pháp. Chương này dùng “vô úy” theo hướng thực hành: KHÔNG ĐỂ NỖI SỢ

LÀM MÌNH PHẢN BỘI ĐIỀU ĐÚNG.

Không phải: Không biết sợ. Không phải: Liều. Không phải: Gan lì.

CÂU NHỚ:

VÔ ÚY KHÔNG PHẢI KHÔNG BIẾT SỢ. LÀ KHÔNG ĐỂ NỖI SỢ LÀM MÌNH

PHẢN BỘI ĐIỀU ĐÚNG.

I. VÔ ÚY KHÔNG PHẢI GAN LÌ

Nói lớn: Chưa chắc vô úy. Tranh mạnh: Chưa chắc vô úy. Không chịu nhường: Có thể chỉ là ngã. Vô úy thật thường có: BÌNH TĨNH. RÕ. KHÔNG NÉ. KHÔNG KHOA TRƯƠNG. Câu nhớ: CÁI TÔI CẦN TIẾNG LỚN. TRÍ TUỆ CẦN SỰ RÕ.

II. VÔ ÚY VÀ SỰ THẬT

Nền của vô úy là: THẬT. Không biết: Nói không biết. Chưa chắc: Nói chưa chắc. Sai: Sửa. Không cần giả biết để giữ danh. Câu nhớ: NÓI: “TÔI CHƯA BIẾT” ĐÚNG LÚC MẠNH HƠN GIẢ BIẾT ĐỂ GIỮ HÌNH ẢNH.

III. VÔ ÚY VÀ GIỚI

Giới làm tâm: Ít phải che. Ít phải biện hộ. Ít hối hơn. Con đường: GIỚI

→ ÍT HỐI – TÂM NHẸ

→ ĐỊNH

→ TUỆ.

Vô úy được xây không chỉ lúc ngồi thiền, mà bằng: MỘT ĐỜI SỐNG

KHÔNG TỰ PHÁ TÂM MÌNH.

Câu nhớ: ĐỊNH LỰC SÂU KHÔNG CHỈ ĐƯỢC XÂY LÚC NGỒI YÊN. NÓ ĐƯỢC XÂY BẰNG NHỮNG VIỆC

MÌNH KHÔNG PHẢI TRỐN.

IV. VÔ ÚY KHI BỊ CHÊ

NHẬN: Khó chịu. SOI: Lời chê đúng phần nào? THẤY: Đúng thì sửa. Sai thì không nhận thêm. KHÔNG DÍNH: Không biến lời chê thành danh tính. KHÔNG CHẤP: Không cần thắng bằng mọi giá. BUÔNG: Phần thuộc người khác.

AN:

Làm việc phải làm. Vô úy không phải: “Ai nói gì cũng mặc.” Mà: NGHE ĐƯỢC MÀ KHÔNG ĐỔ.

V. VÔ ÚY KHI MÌNH SAI

Một người rất mạnh khi bảo vệ mình chưa chắc mạnh khi phải nói: “TÔI SAI.” Vô úy thật có khả năng: Nhìn lỗi. Thừa nhận. Sửa. Xin lỗi khi cần. Câu nhớ: NGƯỜI MẠNH KHÔNG PHẢI

NGƯỜI KHÔNG BAO GIỜ SAI.

LÀ NGƯỜI KHÔNG CẦN BẢO VỆ CÁI SAI

ĐỂ BẢO VỆ HÌNH ẢNH MÌNH.

VI. VÔ ÚY VÀ CHÁNH NGỮ

Có khi phải nói điều khó nghe. Nhưng lời cần: THẬT. CÓ ÍCH. ĐÚNG THỜI. KHÔNG MANG Ý HẠI. Vô úy không cho phép: Nói độc rồi gọi là “thẳng.” Có thể: Rõ mà không nhục. Mạnh mà không hạ. Từ chối mà không sân. Câu nhớ: VÔ ÚY CHO MÌNH SỨC NÓI ĐIỀU CẦN NÓI. TỪ BI DẠY CÁCH NÓI

MÀ KHÔNG LÀM TĂNG ĐỘC.

VII. VÔ ÚY VÀ PHÁP THÍ

Người giảng Pháp cần: DÁM NÓI ĐIỀU ĐÚNG. VÀ:

DÁM SỬA ĐIỀU MÌNH NÓI SAI.

Nguồn phải rõ. Phải phân biệt: Kinh. Luận. Giải thích. Hệ thống hóa. Câu nhớ:

THUYẾT PHÁP CÓ TRÁCH NHIỆM

LÀ: VỪA DÁM NÓI, VỪA DÁM KIỂM.

VIII. VÔ ÚY VÀ BÁT PHONG

Được: Không quá bay. Mất: Không gãy. Khen: Không say. Chê: Không sụp. Danh: Không trụ. Thất danh: Không tuyệt vọng. Đây là: ĐỘNG NHƯNG KHÔNG ĐỔ. Công thức: THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ TÂM NHẸ

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

Không phải cứng hơn. Mà: CÓ GỐC HƠN.

IX. VÔ ÚY VÀ BỒ-TÁT HẠNH

Làm lợi ích chúng sinh: Có lúc bị hiểu lầm. Bị chê. Bị từ chối. Kết quả không như ý. Nếu thiện hạnh sống nhờ khen: Sẽ dừng khi bị chê. Nếu dựa trên: BỒ-ĐỀ TÂM. GIỚI. TUỆ. thì vẫn tiếp tục phần đúng. Nhưng vô úy không có nghĩa: Lao vào mọi việc. Có lúc: Rút lui là Tuệ. Im là Tuệ.

Đặt ranh giới là Tuệ. Câu nhớ: KHÔNG SỢ KHÔNG CÓ NGHĨA KHÔNG BIẾT LÙI. CÓ KHI LÙI ĐÚNG LÀ SỨC MẠNH CỦA NGƯỜI KHÔNG BỊ CÁI TÔI

BẮT PHẢI CHỨNG MINH.

X. VÔ ÚY VÀ VÔ NGÃ

Tâm dễ sợ khi có quá nhiều thứ phải bảo vệ: “Tôi phải được kính.” “Tôi phải đúng.” “Tôi phải thắng.” “Tôi phải giữ hình ảnh.” Thấy vô ngã: Gánh nhẹ hơn. Không phải: Bỏ trách nhiệm. Mà: Không sống để canh giữ một pho tượng “tôi” trong mắt người khác. Câu nhớ: CÁI TÔI

CÀNG CẦN ĐƯỢC BẢO VỆ,

TÂM CÀNG DỄ SỢ. CHẤP NHẸ HƠN, VÔ ÚY TỰ NHIÊN LỚN HƠN.

XI. VÔ ÚY KHÔNG LOẠI BỎ PHẢN ỨNG SỢ CỦA THÂN

Thân có thể: Tim nhanh. Run. Căng. Phản xạ sợ. Điều đó không tự động có nghĩa: Tu kém. Điều cần nhìn: Sau khi sợ sinh, ai cầm tay lái? NỖI SỢ? Hay: GIỚI – ĐỊNH – TUỆ? Vô úy không nhất thiết là: Không có cảm giác sợ. Mà: KHÔNG GIAO QUYỀN QUYẾT ĐỊNH CHO NỖI SỢ.

XII. BỐN CÂU HỎI THỰC HÀNH

Khi sợ:

1. Tôi đang sợ cái gì?

2. Đây là nguy hiểm thật,

hay sợ mất hình ảnh?

3. Giới và sự thật yêu cầu tôi làm gì?

4. Phần nào tôi có thể làm

rồi buông? Sau đó: THẬT. THẤY. TỈNH. GIỚI. ĐỊNH. TUỆ. LÀM. BUÔNG.

XIII. KẾT

Vô úy không phải: Không sợ đau. Không sợ nguy hiểm. Không sợ hậu quả. Mà: KHÔNG ĐỂ SỢ DANH, SỢ CHÊ, SỢ MẤT MẶT, SỢ MẤT LỢI ÍCH KHIẾN MÌNH BỎ ĐIỀU ĐÚNG. THẬT: Để không phải che. BỎ ÁC: Để không tạo điều phải sợ. LÀM LÀNH: Để có nền thiện. GIỚI: Để ít hối. ĐỊNH: Để không bị xúc động kéo.

TUỆ: Để phân biệt nguy hiểm thật với cái tôi đang hoảng. THẤY: Nỗi sợ. TỈNH: Trước phản ứng. KHÔNG DÍNH: Vào hình ảnh. KHÔNG CHẤP: Phải thắng. BUÔNG: Phần ngoài quyền.

AN.

SÁNG. CÂU CUỐI: VÔ ÚY KHÔNG PHẢI ĐI QUA ĐỜI

MÀ KHÔNG CÓ NỖI SỢ.

VÔ ÚY LÀ: NỖI SỢ CÓ THỂ XUẤT HIỆN, NHƯNG: GIỚI, SỰ THẬT, VÀ TUỆ VẪN CẦM TAY LÁI. NGƯỜI THẬT SỰ VỮNG KHÔNG CẦN LUÔN CHỨNG MINH MÌNH MẠNH. ĐIỀU ĐÚNG: LÀM. ĐIỀU SAI: SỬA. CHƯA BIẾT: HỌC. BỊ CHÊ: SOI. ĐÚNG: GIỮ. SAI: BUÔNG.

CHƯƠNG 54
THẬP THIỆN NGHIỆP ĐẠO – MƯỜI CON ĐƯỜNG LÀM THÂN KHẨU Ý TRONG SẠCH

Sanskrit:

daśa-kuśala-karmapatha – mười nghiệp đạo thiện. Trong kinh điển sớm, mười hướng thiện của thân – khẩu – ý được trình bày rõ trong những bài kinh như:

MN 41 – Sāleyyaka Sutta,

thường dịch Kinh Người Sālā. Trong truyền thống Đại thừa,

Kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo

– Daśakuśalakarmapatha Sūtra cũng là một nguồn rất quen thuộc. Cách trình bày chi tiết có thể khác đôi chút giữa các truyền thống. MƯỜI THIỆN NGHIỆP: THÂN – BA:

1. KHÔNG SÁT SINH.

2. KHÔNG LẤY CỦA KHÔNG CHO.

3. KHÔNG TÀ HẠNH TRONG DỤC.

KHẨU – BỐN:

4. KHÔNG NÓI DỐI.

5. KHÔNG NÓI CHIA RẼ.

6. KHÔNG NÓI LỜI THÔ ÁC.

7. KHÔNG NÓI LỜI PHÙ PHIẾM BẤT THIỆN.

Ý – BA:

8. KHÔNG THAM MUỐN CHIẾM ĐOẠT.

9. KHÔNG NUÔI ÁC Ý.

10. KHÔNG GIỮ TÀ KIẾN CĂN BẢN.

CÂU NHỚ:

THẬP THIỆN

LÀM CHỮ “NGƯỜI TỐT”

BỚT MƠ HỒ. NHÌN: THÂN LÀM GÌ. MIỆNG NÓI GÌ. TÂM NUÔI GÌ. LÀ BIẾT

MÌNH ĐANG GIEO GIỐNG GÌ.

I. BA NGHIỆP CỦA THÂN

Ba nghiệp thân thiện: KHÔNG SÁT SINH.

KHÔNG LẤY CỦA KHÔNG CHO.

KHÔNG TÀ HẠNH TRONG DỤC.

Tinh thần chung: TÔN TRỌNG THÂN MẠNG, TÀI SẢN, VÀ RANH GIỚI CỦA NGƯỜI KHÁC. Giới không chỉ bảo vệ người khác khỏi mình. Giới còn bảo vệ mình khỏi hậu quả của chính hành vi mình. Khi sân sinh: THẤY: Sân. TỈNH: Không hành theo. GIỚI: Ngăn thân nghiệp hại. BUÔNG: Ý muốn trả đũa. SÁNG:

Làm việc cần làm mà không thêm nghiệp xấu. Câu nhớ: TU THÂN TRƯỚC HẾT

LÀ LÀM CHO NGƯỜI Ở GẦN MÌNH

BỚT PHẢI SỢ

THÂN NGHIỆP CỦA MÌNH.

II. BỐN NGHIỆP CỦA KHẨU

KHÔNG NÓI DỐI: Sống thật. KHÔNG NÓI CHIA RẼ: Không đem lời người này kích động người kia. Chiều thiện: Tạo hòa hợp khi có thể. KHÔNG NÓI THÔ ÁC: Không dùng sự thật làm dao. Chiều thiện: Nói rõ nhưng có từ.

KHÔNG NÓI PHÙ PHIẾM BẤT THIỆN:

Không để lời nói trở thành dòng: Vô ích. Kích động. Gây mê. Tốn thời gian. Hoặc kéo tâm mình và người khác vào bất thiện. Chánh ngữ không chỉ hỏi: “CÓ THẬT KHÔNG?” Còn phải hỏi: “CÓ ÍCH KHÔNG?” “ĐÚNG LÚC KHÔNG?” “TÂM GÌ ĐANG NÓI?” Câu nhớ: MIỆNG TU KHÔNG PHẢI CHỈ BỚT NÓI. LÀ BỚT LỜI LÀM TÂM MÌNH VÀ TÂM NGƯỜI KHÁC TỐI THÊM.

III. BA NGHIỆP CỦA Ý

KHÔNG THAM CHIẾM. KHÔNG ÁC Ý. KHÔNG TÀ KIẾN. Không tham chiếm không có nghĩa: Không được có chí hướng thiện. Phải phân biệt: taṇhā – tham ái, khát ái, với những dạng: chanda – ý muốn, chí hướng, có thể là thiện trong bối cảnh tu tập. Muốn học. Muốn tu. Muốn giúp người. không tự động là tham.

Điều phải bỏ: Ý MUỐN CHIẾM HỮU DO THAM. Không ác ý không có nghĩa: Không được biết hành vi người khác sai. Mà: Không nuôi tâm: “MONG HỌ KHỔ.” Có thể giữ ranh giới mà không nuôi độc. Không tà kiến: Nuôi Chánh kiến về đạo đức, nghiệp, trách nhiệm và con đường tu. Câu nhớ: THÂN NGHIỆP VÀ KHẨU NGHIỆP LÀ NHỮNG CÀNH.

NHƯNG RẤT NHIỀU CÀNH

MỌC TỪ

MỘT HẠT GIỐNG TRONG Ý.

IV. KHÔNG CHỈ LÀ “MƯỜI CÁI KHÔNG”

Không sát sinh:

→ TÔN TRỌNG VÀ BẢO HỘ SỰ SỐNG.

Không trộm:

→ SỐNG NGAY THẲNG VÀ BIẾT CHIA SẺ.

Không tà hạnh:

→ TÔN TRỌNG RANH GIỚI VÀ LÒNG TIN.

Không nói dối:

→ NÓI THẬT.

Không chia rẽ:

→ TẠO HÒA HỢP.

Không thô:

→ NÓI CÓ TỪ.

Không phù phiếm bất thiện:

→ NÓI ĐIỀU CÓ ÍCH.

Không tham chiếm:

→ BIẾT ĐỦ.

Không ác ý:

→ NUÔI TỪ.

Không tà kiến:

→ NUÔI CHÁNH KIẾN.

Đây chính là: BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

Công thức này của cuốn sách được dùng để ghi nhớ tinh thần cô đọng của Pháp Cú 183. Thập Thiện làm nguyên tắc đó cụ thể hơn trong thân – khẩu – ý. Câu nhớ: GIỚI KHÔNG CHỈ ĐÓNG CỬA CÁI XẤU. GIỚI CÒN MỞ CHỖ ĐỂ ĐIỀU LÀNH BƯỚC VÀO.

V. THẬP THIỆN VÀ TÁC Ý

Trong AN 6.63, Đức Phật nhấn mạnh: cetanā – tác ý là nghiệp; sau khi có tác ý, con người hành động qua thân, lời và ý. Vì vậy không chỉ hỏi: “TÔI ĐÃ LÀM GÌ?” Mà phải hỏi: “TÂM NÀO VỪA LÀM?” Một món quà: Có thể từ Bi. Cũng có thể để mua lòng. Một sự im lặng: Có thể do nhẫn. Cũng có thể do sân lạnh.

Cho nên phải: THẬT với động cơ. Công thức thực hành: THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ÍT HỐI – TÂM NHẸ

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

Đây là công thức hệ thống hóa thực hành, không phải chuỗi nguyên văn Đức Phật dạy.

VI. THẬP THIỆN KHÔNG PHẢI KÍNH LÚP SOI NGƯỜI

Học giới không phải để: Đếm lỗi người. Tự cho mình thanh tịnh hơn. Nuôi ngã mạn. Thập Thiện trước hết là: GƯƠNG SOI MÌNH. Không phải:

KÍNH LÚP SOI NGƯỜI.

Nếu thấy người khác sai: Có thể góp ý đúng duyên. Nhưng phải soi: Tâm mình có sân không? Có muốn thắng không? Có muốn chứng minh mình hơn không? NHẬN. SOI. THẤY. KHÔNG DÍNH. KHÔNG CHẤP. BUÔNG. Câu nhớ:

HỌC MƯỜI ĐIỀU THIỆN

MÀ MẮT NGÀY CÀNG

NHÌN LỖI NGƯỜI NHIỀU HƠN

NHÌN TÂM MÌNH, THÌ BẢNG GIỚI ĐÃ BỊ CÁI TÔI CẦM MẤT.

VII. KIỂM TÂM MỖI NGÀY

Cuối ngày, có thể hỏi ba cửa. THÂN: Hôm nay thân này có làm hại không? Có lấy gì không thuộc quyền mình không? Có vượt ranh giới không? KHẨU: Có nói sai sự thật không? Có chia rẽ không? Có thô độc không? Có nói vô ích theo hướng bất thiện không? Ý: Có nuôi tham chiếm không? Có nuôi ác ý không? Có nuôi cái thấy làm mình coi thường nhân quả và trách nhiệm không? Nếu thấy lỗi:

THẬT: Nhận. THẤY: Rõ. TỈNH: Không bào chữa. SỬA: Nếu cần. BỎ ÁC: Ngăn nhân lặp. LÀM LÀNH: Tạo pháp đối trị. BUÔNG: Không biến lỗi thành bản ngã. Câu nhớ: SÁM HỐI KHÔNG CHỈ LÀ BUỒN VÌ VIỆC CŨ. LÀ LÀM CHO NHÂN CỦA VIỆC CŨ KHÓ LẶP LẠI HƠN.

VIII. THẬP THIỆN TRONG TOÀN BỘ CON ĐƯỜNG

Thập Thiện không phải toàn bộ Phật đạo. Giữ mười thiện không đồng nghĩa: Đã giác ngộ. Nhưng nếu: Thân. Khẩu. Ý. liên tục đi ngược mười thiện, thì: Định khó vững. Tuệ khó trong. Bồ-đề tâm dễ thành lời. Bát-nhã dễ thành lý thuyết. Đạo lớn phải có chỗ đặt chân nhỏ. TỨ DIỆU ĐẾ: Cho cái thấy lớn.

DUYÊN KHỞI: Cho cái thấy về điều kiện. GIỚI – ĐỊNH – TUỆ: Cho xương sống. BỒ-ĐỀ TÂM: Cho đại hướng. BÁT-NHÃ: Tháo chấp. THẬP THIỆN: Hỏi mỗi ngày: THÂN LÀM GÌ? MIỆNG NÓI GÌ? TÂM NUÔI GÌ? CÂU CUỐI: ĐỪNG CHỜ MỘT ĐẠI NGỘ MỚI BẮT ĐẦU TU. KHI TAY ĐỊNH LÀM HẠI: DỪNG. KHI MIỆNG ĐỊNH NÓI DỐI:

DỪNG. KHI TÂM MUỐN CHIẾM: THẤY. KHI SÂN MUỐN NÓI: TỈNH. KHI THIỆN CÓ THỂ LÀM: LÀM. LẶP LÂU: GIỚI THÀNH NỀN. TÂM BỚT HỐI: ĐỊNH DỄ SINH. ĐỊNH CÓ GỐC: TUỆ DỄ THẤY. TUỆ THẤY: KHÔNG DÍNH. KHÔNG DÍNH: BUÔNG. BUÔNG:

AN.

THẤY RÕ HƠN: SÁNG. ĐÓ LÀ THẬP THIỆN ĐI VÀO

MỘT NGÀY BÌNH THƯỜNG.

CHƯƠNG 55
TÀM VÀ QUÝ – HAI SỨC MẠNH BẢO VỆ LƯƠNG TÂM ĐẠO ĐỨC

Pāli:

hiri – tàm. ottappa – quý. Trong kinh điển Pāli, đặc biệt trong Tăng Chi Bộ – Aṅguttara Nikāya, hiri và ottappa nhiều lần được ca ngợi như những phẩm chất bảo hộ đời sống đạo đức; truyền thống thường gọi đây là hai pháp sáng bảo hộ thế gian. TÀM: Biết hổ thẹn đối với điều bất thiện.

QUÝ: Biết e ngại, dè chừng hậu quả của điều bất thiện. Nhưng phải hiểu đúng: TÀM KHÔNG PHẢI TỰ GHÉT MÌNH. QUÝ KHÔNG PHẢI

SỐNG TRONG HOẢNG SỢ.

Tàm nói: “VIỆC NÀY KHÔNG XỨNG VỚI PHẨM HẠNH MÌNH MUỐN NUÔI.” Quý nói: “NẾU LÀM VIỆC NÀY, NÓ SẼ GÂY HẠI VÀ CÓ HẬU QUẢ.”

CÂU NHỚ:

GIỚI Ở BÊN NGOÀI

CÓ THỂ NHẮC MÌNH DỪNG.

TÀM VÀ QUÝ LÀM CHO

NGAY KHI KHÔNG AI NHÌN,

MÌNH VẪN BIẾT TỰ DỪNG.

I. TÀM – HIRI

Một người sắp nói dối. Không ai biết. Không ai kiểm. Nhưng trong tâm có tiếng: “KHÔNG NÊN.” Không phải chỉ vì: Sợ mất mặt. Mà vì:

BIẾT ĐÓ LÀ ĐIỀU BẤT THIỆN.

Đó là tinh thần của: HIRI – TÀM. Tàm có liên hệ tới: Lương tri đạo đức. Sự tự trọng lành mạnh. Sự kính trọng con đường tu. Một người giữ giới chỉ vì sợ người khác bắt gặp: Giới còn phụ thuộc bên ngoài. Một người không làm ác vì: “Đây không phải điều ta muốn nuôi trong tâm” thì Giới đã đi vào bên trong.

THẬT: Không ai thấy vẫn thật. Không ai khen vẫn giữ. Câu nhớ: TÀM LÀ LÚC KHÔNG CẦN AI ĐỨNG BÊN CẠNH MÀ GIỚI VẪN ĐỨNG BÊN TRONG.

II. QUÝ – OTTAPPA

Quý hỏi:

“NẾU TÔI LÀM VIỆC NÀY,

CHUYỆN GÌ SẼ XẢY RA?”

Một lời sân: Có thể làm người đau. Phá quan hệ. Nuôi sân trong chính mình. Một hành vi lấy của không cho: Gây tổn thất. Phá lòng tin. Nuôi thói quen bất thiện. Quý không phải: Sợ một vị thần trừng phạt. Mà:

BIẾT HÀNH ĐỘNG CÓ HỆ QUẢ

NÊN: KHÔNG COI THƯỜNG BẤT THIỆN. Câu nhớ: NGƯỜI CÓ QUÝ

KHÔNG PHẢI NGƯỜI NHÁT.

LÀ NGƯỜI THẤY CÁI GIÁ CỦA MỘT HÀNH ĐỘNG TRƯỚC KHI PHẢI TRẢ CÁI GIÁ ẤY.

III. TÀM QUÝ KHÁC MẶC CẢM TỘI LỖI

Tàm đúng nói:

“VIỆC TÔI LÀM SAI.”

Mặc cảm độc hại thường biến thành:

“TÔI LÀ MỘT CON NGƯỜI HỎNG.”

Hai điều khác nhau. Nếu phạm lỗi: THẬT: Nhận việc sai. THẤY: Tâm nào dẫn tới? TÀM: Không xem nhẹ lỗi. QUÝ: Thấy hậu quả. SÁM HỐI: Nhận và sửa. BỎ ÁC: Ngăn nhân cũ. LÀM LÀNH: Tạo nhân mới. BUÔNG: Không biến lỗi thành bản ngã vĩnh viễn. Đây là: TRÁCH NHIỆM MÀ KHÔNG TỰ HỦY. Câu nhớ: TÀM LÀ BIẾT HỔ THẸN VỀ ĐIỀU SAI.

TUỆ KHÔNG CHO SỰ HỔ THẸN BIẾN THÀNH BẢN ÁN: “TÔI MÃI MÃI LÀ NGƯỜI XẤU.”

IV. TÀM QUÝ LÀ CÁI PHANH TRƯỚC HÀNH ĐỘNG

Tác ý bất thiện vừa sinh. Thân chưa làm. Miệng chưa nói. Đó là một khe cửa rất quý. Sân sinh. Miệng chưa phóng lời. THẤY. TỈNH. Tàm nói: “ĐỪNG.” Quý nói: “ĐI TIẾP SẼ CÓ HẬU QUẢ.” GIỚI: Không hành. ĐỊNH: Chịu được cơn thúc đẩy. TUỆ: Thấy xung động sinh do duyên và có thể qua. Đó là Pháp đi vào đúng khoảnh khắc nghiệp đang chuẩn bị thành hình.

V. TRÍ THÔNG MINH KHÔNG THAY TÀM QUÝ

Người thông minh mà thiếu tàm quý: Có thể nói dối khéo hơn. Che lỗi tốt hơn. Thao túng tinh vi hơn. Phật pháp vì vậy không chỉ đào tạo: TRÍ NĂNG. Mà còn đào tạo: ĐẠO ĐỨC CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG TRÍ NĂNG. Tuệ thật không thể tách khỏi Giới. Câu nhớ: BIẾT NHIỀU LÀM KHẢ NĂNG CỦA CON NGƯỜI LỚN.

TÀM QUÝ GIÚP KHẢ NĂNG ẤY KHÔNG CHẠY NGƯỢC ĐẠO ĐỨC. Đây vẫn là: BỎ ÁC. LÀM LÀNH. LÀM SẠCH TÂM.

VI. TÀM QUÝ KHI KHÔNG AI BIẾT

Làm thiện trước đám đông: Chưa phải bài thi khó nhất. Bài thi khó hơn: Không ai thấy. Không ai kiểm. Không ai biết. Mình có thể làm sai mà rất khó bị phát hiện. Nhưng: VẪN KHÔNG LÀM. Đó là: NHÂN CÁCH KHÔNG PHỤ THUỘC KHÁN GIẢ. Công thức thực hành: THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ÍT HỐI – TÂM NHẸ

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

Đây là công thức hệ thống hóa để thực hành, không phải chuỗi nguyên văn trong kinh. Một đời sống nhất quán: Ít phải che. Ít phải dựng lời. Tâm nhẹ hơn. Câu nhớ: NHÂN CÁCH THẬT ĐƯỢC NHÌN RÕ NHẤT Ở NHỮNG VIỆC

MÌNH CÓ THỂ LÀM SAI

MÀ CHẲNG AI BIẾT, NHƯNG MÌNH VẪN KHÔNG LÀM.

VII. KHÔNG DÙNG TÀM QUÝ ĐỂ LÀM NHỤC NGƯỜI

Không nên dùng Phật pháp để nói:

“ANH PHẢI BIẾT NHỤC.”

“CHỊ ĐÁNG XẤU HỔ.” rồi nghiền phẩm giá người khác. Cách đó có thể tạo: Sợ. Giấu lỗi. Tự ghét. Chưa chắc tạo được: HIRI – TÀM. Người hướng dẫn có thể: Chỉ hành vi sai. Chỉ hậu quả. Nhắc Giới. Nhắc nhân quả. Nhưng phải phân biệt: “VIỆC NÀY SAI” với: “ANH LÀ NGƯỜI KHÔNG CÓ GIÁ TRỊ.”

Chánh pháp sửa hành vi mà không cần hủy phẩm giá. Đây là: BI ĐI CÙNG GIỚI.

VIII. TỪ TÀM QUÝ ĐẾN TỰ DO

Thoạt nhìn: Tàm quý giống như kìm mình. Nhưng sâu hơn: Chúng bảo vệ tự do. Không biết dừng tham: Bị tham sai khiến. Không biết dừng sân: Bị sân sai khiến. Không biết dừng dối: Phải tiếp tục sống để bảo vệ lời dối. Đó chưa phải tự do. Tàm quý nói: DỪNG Ở ĐÂY. Dừng một lần: Tâm bớt bị xung động điều khiển.

Dừng nhiều lần: GIỚI THÀNH LỰC. Ít hối: ĐỊNH LỚN. Định có nền: TUỆ THẤY. Tuệ thấy: Tham – sân – si không phải mệnh lệnh. Ngay đó: THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

Công thức Buông: NHẬN xung động. SOI động cơ. THẤY hậu quả. KHÔNG DÍNH vào lời mời của tham – sân. KHÔNG CHẤP rằng: “TÔI PHẢI LÀM

THEO CÁI TÔI ĐANG MUỐN.”

BUÔNG.

AN.

CÂU CUỐI: TÀM KHÔNG NÓI: “TÔI XẤU.” TÀM NÓI: “VIỆC NÀY KHÔNG XỨNG ĐỂ TÔI NUÔI.” QUÝ KHÔNG NÓI: “TÔI PHẢI SỐNG TRONG SỢ HÃI.” QUÝ NÓI: “MỖI TÁC Ý, MỖI LỜI NÓI, MỖI HÀNH ĐỘNG ĐỀU CÓ HỆ QUẢ, NÊN ĐỪNG COI THƯỜNG

MỘT NIỆM BẤT THIỆN.”

VÀ KHI: TÀM VÀ QUÝ ĐỨNG Ở CỬA, GIỚI KHÔNG CÒN CHỈ LÀ ĐIỀU NGƯỜI KHÁC BẮT MÌNH GIỮ. GIỚI TRỞ THÀNH: ĐIỀU CHÍNH MÌNH KHÔNG MUỐN PHẢN BỘI.

CHƯƠNG 56
THIỆN TRI THỨC – NGƯỜI BẠN LÀNH CỦA CẢ CON ĐƯỜNG

Pāli:

kalyāṇa-mitta – bạn lành, thiện hữu.

Sanskrit:

kalyāṇa-mitra – thiện tri thức. Một nguồn kinh điển sớm rất nổi tiếng là: Upaḍḍha Sutta – SN 45.2, thuộc Saṃyutta Nikāya – Tương Ưng Bộ. Trong bài kinh, Tôn giả Ānanda nói thiện hữu tri thức là một nửa đời sống phạm hạnh. Đức Phật chỉnh lại rằng thiện hữu tri thức không chỉ là một nửa, mà là toàn bộ đời sống phạm hạnh theo nghĩa đây là điều kiện rất quan trọng cho việc phát triển con đường.

Điều này không có nghĩa: Người khác tu thay mình. Mà: ĐÚNG NGƯỜI, ĐÚNG MÔI TRƯỜNG, ĐÚNG LỜI NHẮC

CÓ THỂ LÀM THIỆN PHÁP

DỄ SINH HƠN RẤT NHIỀU.

CÂU NHỚ:

THIỆN TRI THỨC KHÔNG ĐI THAY

CON ĐƯỜNG CỦA MÌNH.

HỌ GIÚP MÌNH: ĐỪNG QUÊN HƯỚNG. ĐỪNG GIẤU LỖI. ĐỪNG TƯỞNG MỘT MÌNH MÌNH

LÚC NÀO CŨNG THẤY ĐÚNG.

I. THIỆN TRI THỨC KHÔNG CHỈ LÀ NGƯỜI MÌNH THÍCH

Người làm mình vui: Chưa chắc là thiện tri thức. Người luôn khen: Chưa chắc. Người luôn đồng ý: Càng chưa chắc. Thiện tri thức là người giúp: Thiện tăng. Bất thiện giảm. Chánh kiến sáng hơn. Giới vững hơn. Tâm bớt mê hơn. Có khi lời họ nói: Không dễ nghe. Nhưng: ĐÚNG. CÓ ÍCH. ĐÚNG LÚC.

Đừng chỉ hỏi:

“TÔI CÓ THÍCH NGƯỜI NÀY KHÔNG?”

Hãy hỏi: “Ở GẦN NGƯỜI NÀY, TÂM TÔI ĐANG ĐI VỀ ĐÂU?” Câu nhớ: NGƯỜI LÀM MÌNH DỄ CHỊU CHƯA CHẮC LÀM MÌNH LỚN. NGƯỜI GIÚP MÌNH THẤY ĐÚNG ĐÔI KHI

MỚI LÀ THIỆN TRI THỨC.

II. THIỆN TRI THỨC CÓ NHIỀU HÌNH THỨC

Có thể là: Thầy. Bạn đồng tu. Một người trẻ hơn. Một người nhắc mình đúng một lỗi. Một dịch giả tốt. Một cộng đồng giữ giới. Một người dám nói: “CHỖ NÀY

NGUỒN CHƯA CHẮC.”

Không nên chỉ nhìn: Áo. Tuổi. Danh. Địa vị. Số người theo. Phải nhìn:

PHÁP CÓ ĐÚNG KHÔNG?

ĐỜI SỐNG

CÓ NHẤT QUÁN KHÔNG?

Ở GẦN NGƯỜI ẤY, THAM – SÂN – SI CỦA MÌNH TĂNG HAY GIẢM? Đây là: VÔ TƯỚNG ĐI VÀO THIỆN TRI THỨC.

III. NƯƠNG TỰA KHÔNG PHẢI LỆ THUỘC

Một quan hệ đạo đúng không nên biến thành: “THẦY NÓI GÌ CŨNG ĐÚNG.” “NGƯỜI NÀY

QUYẾT ĐỊNH THAY TÔI.”

“KHÔNG CÓ HỌ

TÔI KHÔNG BIẾT TU.”

Thiện tri thức chân chính có thể: Chỉ đường. Nhắc lỗi. Gợi nguồn. Khuyến khích. Nhưng: MÌNH VẪN PHẢI THẤY BẰNG TUỆ CỦA MÌNH VÀ: CHỊU TRÁCH NHIỆM

VỀ HÀNH VI CỦA MÌNH.

Đây là: Y PHÁP BẤT Y NHÂN. Kính người: Nhưng không giao hết lương tri. Nương người: Nhưng không bỏ tự chủ đạo đức. Câu nhớ: NƯƠNG ĐÚNG LÀM MÌNH ĐỨNG VỮNG HƠN. LỆ THUỘC SAI LÀM MÌNH

NGÀY CÀNG KHÔNG DÁM ĐỨNG

NẾU THIẾU NGƯỜI KIA.

IV. DẤU HIỆU CỦA MỐI QUAN HỆ NUÔI THIỆN

Sau một thời gian gần người ấy, hãy hỏi: Mình có:

GIỮ GIỚI TỐT HƠN KHÔNG?

NÓI THẬT HƠN KHÔNG?

BỚT SÂN KHÔNG?

BỚT THAM DANH KHÔNG?

BIẾT XIN LỖI HƠN KHÔNG?

BIẾT KIỂM NGUỒN HƠN KHÔNG?

BIẾT LẮNG NGHE HƠN KHÔNG?

BIẾT TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM HƠN KHÔNG?

Nếu có: Đó là dấu hiệu tốt. Nếu càng gần mà: Càng chia phe. Càng ghét người khác. Càng nghĩ nhóm mình là nhất. Càng phụ thuộc. Càng sợ chất vấn. Càng che lỗi. thì: PHẢI SOI. Câu nhớ: THIỆN TRI THỨC

KHÔNG CHỈ ĐƯỢC NHẬN RA

BẰNG LỜI HỌ NÓI. CÒN BẰNG: HƯỚNG TÂM CỦA MÌNH SAU KHI ĐI CÙNG HỌ MỘT THỜI GIAN.

V. THIỆN TRI THỨC VÀ TÀM – QUÝ

Tàm và Quý: Là người gác cửa bên trong. Thiện tri thức: Giống tấm gương bên ngoài. Có lỗi: Mình tự thấy. Có lỗi: Mình mù. Đặc biệt: Ngã mạn. Tham danh. Biện hộ. Khi được góp ý: TÀM: Không xem nhẹ. QUÝ: Thấy hậu quả. THẬT: Không chối. TỈNH: Không phản công ngay. TUỆ: Kiểm lời góp ý. Đúng:

SỬA. Sai: BUÔNG. Đây là: NGHE LỜI NHẮC MÀ KHÔNG MẤT TỰ CHỦ.

VI. THIỆN TRI THỨC KHÔNG TU THAY MÌNH

Thiện tri thức không thể: Giữ giới thay. Chịu nghiệp thay. Buông sân thay. Phát tuệ thay. Họ có thể: NÓI ĐƯỜNG. Nhưng: CHÂN MÌNH PHẢI ĐI. Không nên biến quan hệ đạo thành: “NGƯỜI NÀY

PHẢI LUÔN LÀM TÔI AN.”

Thiện tri thức không phải: Người làm mọi cảm xúc khó biến mất. Mà: NGƯỜI GIÚP MÌNH HỌC CÁCH ĐỐI DIỆN CHÚNG ĐÚNG PHÁP. Câu nhớ:

NGƯỜI TỐT TRÊN ĐƯỜNG

KHÔNG MANG MÌNH QUA NÚI. HỌ GIÚP MÌNH: BIẾT ĐƯỜNG VÀ

ĐỪNG TỰ ĐI VÀO VỰC.

VII. THIỆN TRI THỨC VÀ MÔI TRƯỜNG

Không chỉ người. Môi trường cũng tạo duyên. Môi trường luôn: Nói xấu. Tranh danh. Kích dục. Kích sân. có thể bào mòn tâm. Môi trường: Đọc kinh. Nhắc giới. Khuyến thiện. Tôn trọng nguồn. Giữ giờ tu. có thể giúp tâm dễ trở về. Đây là: DUYÊN KHỞI. Tâm chịu ảnh hưởng bởi: Người. Âm thanh.

Hình ảnh. Thói quen. Nội dung mình tiếp xúc. Vì vậy: TU KHÔNG CHỈ LÀ: “TÔI PHẢI MẠNH.” CÒN LÀ: BIẾT CHỌN DUYÊN. Câu nhớ: ĐỊNH LỰC KHÔNG CHỈ ĐƯỢC THỬ BẰNG VIỆC ĐỨNG TRONG GIÓ. NÓ CÒN ĐƯỢC NUÔI BẰNG TRÍ BIẾT LÚC NÀO CẦN RỜI NƠI ĐANG BÀO MÒN MÌNH.

VIII. THIỆN TRI THỨC VÀ BỐN CÔNG THỨC

Gặp người mình rất kính: THẬT: Mình kính Pháp hay đang thần tượng người? THẤY: Có lệ thuộc không? TỈNH: Không trao quyền phán đoán tuyệt đối. GIỚI: Không làm điều sai chỉ vì người mình kính bảo. THIỆN: Học điều lành. ĐỊNH: Không bị tâm lý nhóm kéo. TUỆ: Phân biệt Pháp và người.

Khi được góp ý: NHẬN. SOI. THẤY. Đúng: SỬA. Sai: KHÔNG DÍNH. KHÔNG CHẤP. BUÔNG. Nếu người mình kính có lỗi: Không phủ nhận. Cũng không cần từ một lỗi biến họ thành: “HOÀN TOÀN XẤU.” Đây là: TỨ Y. NHỊ ĐẾ. VÀ CÔNG THỨC BUÔNG ĐI CÙNG NHAU. KÍNH NHƯNG SÁNG. GẦN

NHƯNG KHÔNG LỆ THUỘC.

HỌC NHƯNG TỰ HÀNH. CÂU CUỐI: ĐƯỜNG TU RẤT CẦN THIỆN TRI THỨC. NHƯNG: THIỆN TRI THỨC KHÔNG THAY TỰ LỰC. HỌ GIÚP: TỰ LỰC ĐI ĐÚNG HƯỚNG. BỎ ÁC: TRÁNH DUYÊN XẤU. LÀM LÀNH: GẦN NGƯỜI LÀNH. LÀM SẠCH TÂM:

HỌC PHÁP VÀ TỰ SOI.

THẬT: KHI ĐƯỢC NHẮC LỖI. GIỚI: BIẾT GIỚI HẠN. ĐỊNH: KHÔNG BỊ NHÓM KÉO. TUỆ: KHÔNG THẦN TƯỢNG. THẤY. TỈNH. BUÔNG. SÁNG. THIỆN TRI THỨC KHÔNG PHẢI

NGƯỜI ĐỂ MÌNH DỰA VÀO

ĐẾN MỨC

KHÔNG CÒN ĐỨNG ĐƯỢC.

THIỆN TRI THỨC LÀ: NGƯỜI GIÚP MÌNH HỌC CÁCH ĐỨNG CHO ĐÚNG. GẦN HỌ, MÌNH KHÔNG CẦN NHỎ ĐI. CÁI NGÃ NHỎ ĐI. NHƯNG: GIỚI, TUỆ, TRÁCH NHIỆM, VÀ KHẢ NĂNG TỰ SOI PHẢI LỚN LÊN.

CHƯƠNG 57
CHÁNH TÍN VÀ SADDHĀ – TIN MÀ KHÔNG MÙ, XÉT MÀ KHÔNG NGÃ MẠN

Pāli:

saddhā.

Sanskrit:

śraddhā. Tiếng Việt thường dịch: Tín. Niềm tin. Đức tin. Tịnh tín, tùy ngữ cảnh. Nhưng phải phân biệt: SADDHĀ KHÔNG ĐỒNG NGHĨA VỚI “CHỮ TÍN”

TRONG CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC

CỦA CUỐN SÁCH. Công thức: THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC

là công thức hệ thống hóa thực hành. Trong đó: “TÍN” được dùng theo nghĩa: CHỮ TÍN. SỰ ĐÁNG TIN. GIỮ LỜI.

NGƯỜI KHÁC CÓ THỂ TIN CẬY.

Còn: SADDHĀ là: LÒNG TIN

ĐỐI VỚI PHẬT – PHÁP – CON ĐƯỜNG TU,

được nuôi bằng: NGHE PHÁP. SUY XÉT. THỰC HÀNH. KINH NGHIỆM.

CÂU NHỚ:

CHỮ TÍN LÀM NGƯỜI KHÁC CÓ THỂ TIN MÌNH. SADDHĀ LÀM TÂM MÌNH CÓ ĐỦ LÒNG TIN

ĐỂ BƯỚC VÀO CON ĐƯỜNG TU.

I. SADDHĀ KHÔNG PHẢI TIN MÙ

Phật giáo không dạy: “CỨ TIN, ĐỪNG HỎI.” Nhưng cũng không dạy: “KHÔNG ĐƯỢC TIN GÌ CHO TỚI KHI TỰ CHỨNG HẾT.” Nếu phải tự chứng hoàn toàn trước khi có lòng tin, người mới tu sẽ không bao giờ bắt đầu. Một tiến trình lành mạnh có thể là: NGHE

→ XÉT

→ THỬ

→ THẤY KẾT QUẢ

→ TÍN SÂU HƠN.

Không phải: TIN

→ CẤM HỎI.

Câu nhớ: CHÁNH TÍN

KHÔNG ĐÓNG CỬA CÂU HỎI.

NÓ CHO MÌNH ĐỦ LÒNG

ĐỂ BƯỚC VÀO THỰC HÀNH,

RỒI DÙNG TUỆ KIỂM CON ĐƯỜNG.

II. KINH KĀLĀMA KHÔNG DẠY “ĐỪNG TIN GÌ CẢ”

Nguồn: Kālāma Sutta – Kinh Kālāma,

AN 3.65

– Tăng Chi Bộ. Bài kinh thường bị rút gọn thành: “ĐỨC PHẬT BẢO ĐỪNG TIN GÌ CẢ.” Đó không phải ý đầy đủ. Mạch kinh khuyên: Không chỉ dựa vào truyền khẩu, truyền thống, tin đồn, uy tín người dạy, hay một số hình thức suy luận mà chưa xét hậu quả của các pháp. Đức Phật hướng người Kālāma nhận biết:

Các pháp bị: THAM. SÂN. SI. chi phối dẫn tới tổn hại. Các pháp không bị tham – sân – si chi phối và được người trí tán thán dẫn tới lợi ích. Vì vậy Kinh Kālāma không phá niềm tin. Nó phá: NIỀM TIN THIẾU PHÂN BIỆT. Câu nhớ: KHÔNG PHẢI TIN ÍT ĐI. LÀ: TIN CÓ MẮT.

III. SADDHĀ VÀ TỨ Y

Tứ Y dạy: Y PHÁP BẤT Y NHÂN. Nếu kính một vị thầy: Saddhā không bảo: “THẦY NÓI GÌ CŨNG ĐÚNG.” Mà: TÍN giúp mình học. TỨ Y giúp mình kiểm. TUỆ giúp mình hiểu. Có Tín mà không Tuệ: Dễ mê. Có chút hiểu nhưng khinh mọi lòng tin: Dễ thành ngã trí. Câu nhớ: TÍN MỞ CỬA. TUỆ KIỂM ĐƯỜNG. TÍN KHÔNG THAY TUỆ.

TÍN ĐƯA MÌNH TỚI CHỖ CÓ THỂ PHÁT TUỆ.

IV. SADDHĀ TRONG NGŨ CĂN – NGŨ LỰC

Năm căn: TÍN. TẤN. NIỆM. ĐỊNH. TUỆ. Khi trưởng thành thành sức mạnh: TÍN LỰC. TẤN LỰC. NIỆM LỰC. ĐỊNH LỰC. TUỆ LỰC. Saddhā không đứng một mình. Nó đi cùng: TUỆ. Một niềm tin không cho phép Tuệ kiểm: Dễ thành mê tín. Một loại “Tuệ” khinh mọi niềm tin: Dễ thành ngã trí. Câu nhớ: TÍN CHO CHÂN BƯỚC.

TUỆ CHO MẮT NHÌN. CHÂN CÓ MÀ MẮT KHÔNG NHÌN: DỄ ĐI LẠC. MẮT NHÌN

MÀ CHÂN KHÔNG BƯỚC:

KHÔNG TỚI ĐÂU.

V. CHỮ TÍN KHÁC SADDHĀ

Trong công thức: THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC,

“TÍN” có nghĩa: CHỮ TÍN. SỰ ĐÁNG TIN. GIỮ LỜI. SỐNG NHẤT QUÁN. Có thể ghi rõ: CHỮ TÍN = TRUSTWORTHINESS = SỰ ĐÁNG TIN. SADDHĀ = FAITH / CONFIDENCE = LÒNG TIN VÀ SỰ TIN CẬY VÀO CON ĐƯỜNG TU. Hai chữ: KHÔNG ĐỒNG NHẤT. Một người có thể: RẤT CÓ CHỮ TÍN nhưng chưa có: SADDHĀ. Ngược lại: Một người nói:

“TÔI RẤT CÓ NIỀM TIN”

nhưng: Thất tín. Nói dối. Không giữ lời. thì: NỀN ĐẠO ĐỨC VẪN CÓ VẤN ĐỀ.

VI. NIỀM TIN PHẢI ĐI VÀO THỰC HÀNH

Nói: “TÔI TIN NHÂN QUẢ” nhưng cố ý làm hại: Niềm tin chưa xuống hành vi. Nói: “TÔI TIN GIỚI” nhưng có lợi thì bỏ Giới: Tín chưa thành lực. Nói:

“TÔI TIN VÔ THƯỜNG”

nhưng tâm vẫn đòi mọi thứ phải tồn tại mãi: Mới hiểu bằng khái niệm. Saddhā đúng phải dần đưa tới: THỰC HÀNH. Thực hành: đưa tới kinh nghiệm.

Kinh nghiệm đúng:

làm niềm tin sâu hơn. Câu nhớ: NIỀM TIN

CHƯA ĐI QUA ĐỜI SỐNG

THÌ CÒN MỎNG. NIỀM TIN ĐI QUA: GIỚI – ĐỊNH – TUỆ MỚI DẦN THÀNH LỰC.

VII. SADDHĀ KHÔNG PHẢI THẦN TƯỢNG HÓA

Kính sâu: Có thể rất đẹp. Nhưng nếu vì kính mà: Không cho kiểm nguồn. Che lỗi. Tấn công người hỏi. Bỏ lương tri. thì: NIỀM TIN ĐÃ BỊ CHẤP CHIẾM. Công thức Buông: NHẬN: Mình rất kính người này. SOI: Kính Pháp hay cần họ hoàn hảo tuyệt đối? THẤY: Con người quy ước vẫn có thể sai. KHÔNG DÍNH:

Không lấy hình ảnh làm toàn bộ sự thật. KHÔNG CHẤP: Không biến niềm tin thành bản ngã phe nhóm. BUÔNG: Phần thần tượng hóa. GIỮ: Điều đúng. Câu nhớ: KÍNH SÂU KHÔNG BẮT BUỘC PHẢI MÙ. CÀNG KÍNH CHÁNH PHÁP, CÀNG PHẢI QUÝ SỰ THẬT.

VIII. TỪ CHÁNH TÍN ĐẾN TUỆ

Ban đầu: NGHE PHÁP. Có chút: TÍN. Nhờ Tín: THỬ GIỮ GIỚI. Nhờ Giới: TÂM NHẸ HƠN. Nhờ tâm nhẹ: DỄ ĐỊNH HƠN. Nhờ Định: THẤY RÕ HƠN. Nhờ thấy rõ: TUỆ TĂNG. Khi Tuệ tăng: Niềm tin không còn chỉ là: “NGƯỜI KHÁC NÓI.” Mà có thêm: “TÔI ĐÃ THẤY MỘT PHẦN

TRONG ĐỜI SỐNG NÀY.”

Nhưng: Thấy bao nhiêu nói bấy nhiêu. Chưa chứng: Không tự xưng chứng. Đây là: THẬT. Công thức Phật: THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

Mỗi lần thực hành đúng và thấy kết quả, lòng tin vào con đường sâu thêm. Không phải vì: BỊ BẮT TIN. Mà vì: PHÁP ĐƯỢC SỐNG. CÂU CUỐI: CON ĐƯỜNG TU CẦN TÍN. NHƯNG KHÔNG CẦN: TIN MÙ. CẦN: KÍNH THẦY. NHƯNG KHÔNG CẦN: THẦN TƯỢNG. CẦN: HỌC KINH. NHƯNG KHÔNG ĐƯỢC: BỎ TUỆ. CẦN: DÁM THỰC HÀNH TRƯỚC KHI CHỨNG HẾT.

NHƯNG CŨNG PHẢI: KIỂM KẾT QUẢ BẰNG THÂN – KHẨU – Ý. THẬT: ĐỂ KHÔNG GIẢ TIN. CHỮ TÍN: ĐỂ ĐỜI SỐNG ĐÁNG TIN. SADDHĀ: ĐỂ CÓ LÒNG

BƯỚC VÀO CHÁNH PHÁP.

BỎ ÁC. LÀM LÀNH. LÀM SẠCH TÂM. GIỚI: GIỮ ĐƯỜNG. ĐỊNH: LÀM TÂM VỮNG. TUỆ:

KIỂM ĐIỀU MÌNH TIN.

KHI MỘT ĐIỀU MÌNH ĐÃ TIN LÂU BỊ ĐẶT CÂU HỎI: NHẬN. SOI. THẤY. ĐÚNG: GIỮ. SAI: KHÔNG DÍNH. KHÔNG CHẤP. BUÔNG. KHÔNG CẦN BẢO VỆ MỘT NIỀM TIN SAI CHỈ VÌ: “TÔI ĐÃ TIN NÓ RẤT LÂU.” ĐÓ LÀ: TÍN ĐI VỀ TUỆ. CHÁNH TÍN KHÔNG BẮT TÂM NHẮM MẮT. CHÁNH TÍN CHO TÂM ĐỦ CAN ĐẢM BƯỚC ĐI, RỒI: MỞ MẮT CÀNG NGÀY CÀNG RÕ HƠN.

CHỮ TÍN LÀM MÌNH TRỞ THÀNH NGƯỜI ĐÁNG TIN. SADDHĀ GIÚP MÌNH TIN VÀO CON ĐƯỜNG ĐÁNG ĐI. TUỆ GIÚP MÌNH BIẾT: MÌNH ĐANG ĐI ĐÚNG HAY KHÔNG.

CHƯƠNG 58
NGŨ GIỚI VÀ NGUYÊN TẮC BẤT HẠI

Pāli:

pañca-sīla – năm giới. Năm giới căn bản của người tại gia thường được trình bày:

1. KHÔNG SÁT SINH.

2. KHÔNG LẤY CỦA KHÔNG CHO.

3. KHÔNG TÀ HẠNH TRONG DỤC.

4. KHÔNG NÓI DỐI.

5. KHÔNG DÙNG CÁC CHẤT SAY

DẪN TỚI PHÓNG DẬT. Nhưng Ngũ Giới không chỉ là năm câu: “KHÔNG ĐƯỢC LÀM.” Giới còn có chức năng: BẢO VỆ NGƯỜI KHÁC

KHỎI BẤT THIỆN CỦA MÌNH.

BẢO VỆ MÌNH

KHỎI HẬU QUẢ CỦA BẤT THIỆN.

LÀM TÂM BỚT HỐI ĐỂ: ĐỊNH CÓ CHỖ SINH.

CÂU NHỚ:

GIỚI KHÔNG PHẢI

HÀNG RÀO NHỐT ĐỜI SỐNG.

GIỚI LÀ HÀNG RÀO GIỮ TÂM KHỎI RƠI XUỐNG CHỖ CHÍNH MÌNH SAU ĐÓ PHẢI KHỔ.

I. GIỚI THỨ NHẤT

KHÔNG SÁT SINH

Pāli:

pāṇātipātā veramaṇī. Tinh thần: Không cố ý sát hại sinh mạng. Không nuôi tâm vui thích trước sự giết hại. Chiều thiện: TÔN TRỌNG SỰ SỐNG. BẢO HỘ KHI CÓ THỂ. NUÔI TỪ. Bất hại không có nghĩa: Không được giữ ranh giới. Không được tự bảo vệ. Mà: Không để sức mạnh biến thành quyền làm đau.

Khi sân: THẤY. TỈNH. GIỚI: Không hại. BUÔNG: Ý trả đũa. SÁNG: Chọn cách xử lý không nuôi thêm độc. Câu nhớ: BẤT HẠI KHÔNG PHẢI YẾU. BẤT HẠI LÀ:

KHÔNG ĐỂ SỨC MẠNH CỦA MÌNH

TRỞ THÀNH QUYỀN LÀM ĐAU.

II. GIỚI THỨ HAI

KHÔNG LẤY CỦA KHÔNG CHO

Pāli:

adinnādānā veramaṇī. Không: Trộm. Chiếm. Lừa để lấy. Ép lấy bằng quyền lực. Tinh thần sâu hơn: TÔN TRỌNG RANH GIỚI TÀI SẢN VÀ QUYỀN LỢI. Về đạo đức, cũng nên soi các dạng tinh vi như: Lấy công người. Lấy ý tưởng mà không ghi nguồn. Lợi dụng thời gian và sức người. Không phải mọi ví dụ trên đều đồng nhất kỹ thuật với phạm giới trộm theo Luật, nhưng đều giúp soi nguyên tắc:

ĐỪNG LẤY

CÁI KHÔNG THUỘC QUYỀN MÌNH.

Câu nhớ: KHÔNG TRỘM

BẮT ĐẦU TỪ BÀN TAY,

NHƯNG TRƯỞNG THÀNH

THÀNH MỘT CÁCH SỐNG

BIẾT TÔN TRỌNG

PHẦN KHÔNG THUỘC VỀ MÌNH.

III. GIỚI THỨ BA

KHÔNG TÀ HẠNH TRONG DỤC

Pāli:

kāmesu micchācāra. Đối với người tại gia, giới này liên hệ tới hành vi tình dục sai trái. Không nên hiểu: “TÌNH DỤC LÀ XẤU.” Điểm là: Không dùng dục để: Gây hại. Lừa dối. Phản bội. Xâm phạm ranh giới. Lợi dụng quyền lực. Cần soi: Có đồng thuận thật không? Có lừa dối không? Có phản bội không? Có lợi dụng chênh lệch quyền lực không? Có gây tổn thương nghiêm trọng không? Đối với người xuất gia:

Giới luật về dục nghiêm hơn nhiều và phải căn cứ Vinaya – Luật tạng. Không dùng Ngũ Giới tại gia để thay giới bổn xuất gia. Câu nhớ: GIỮ GIỚI DỤC KHÔNG PHẢI GHÉT THÂN. LÀ: KHÔNG ĐỂ HAM MUỐN BIẾN NGƯỜI KHÁC THÀNH ĐỐI TƯỢNG CHO MÌNH SỬ DỤNG.

IV. GIỚI THỨ TƯ

KHÔNG NÓI DỐI

Pāli:

musāvādā veramaṇī. Đây đi thẳng vào: THẬT. Nói dối: Tâm phải chia. Phải nhớ chuyện. Phải che. Định khó. Nhưng: Không nói dối không đồng nghĩa: Phải nói hết mọi điều bất kể thời điểm và hậu quả. Chánh ngữ vẫn cần: THẬT. CÓ ÍCH. ĐÚNG THỜI. KHÔNG MANG Ý HẠI. Có lúc: IM là đúng. Nhưng không được:

CỐ Ý LÀM NGƯỜI KHÁC TIN ĐIỀU MÌNH BIẾT LÀ SAI. Câu nhớ: SỰ THẬT LÀM TÂM ÍT PHẢI CHIA ĐÔI. TÂM ÍT CHIA: ĐỊNH DỄ CÓ GỐC.

V. GIỚI THỨ NĂM

KHÔNG SAY NGHIỆN VÀ PHÓNG DẬT

Pāli:

surā-meraya-majja-pamādaṭṭhānā veramaṇī. Điểm quan trọng: pamāda – phóng dật. Chất say làm giảm: Chánh niệm. Khả năng tự chủ. Khả năng phân biệt thiện – bất thiện. Khi say: Các giới khác dễ bị phá hơn. Vì vậy: GIỚI THỨ NĂM BẢO VỆ CÁI TAY LÁI CỦA TÂM. Không nên tùy tiện mở rộng giới này để gọi mọi thú vui là “phạm giới.”

Phải phân biệt: Nghĩa giới luật truyền thống và: Những ứng dụng đạo đức mở rộng.

VI. NGŨ GIỚI KHÔNG CHỈ LÀ NĂM CÁI KHÔNG

Không sát:

→ TỪ BI

VÀ BẢO HỘ SỰ SỐNG. Không trộm:

→ CHÍNH TRỰC

VÀ BỐ THÍ. Không tà hạnh:

→ TÔN TRỌNG

RANH GIỚI VÀ LÒNG TIN. Không dối:

→ CHÂN THẬT

VÀ CHÁNH NGỮ. Không say nghiện:

→ CHÁNH NIỆM

VÀ KHÔNG PHÓNG DẬT.

Đây là: BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

Giới không chỉ: CHẶN BẤT THIỆN. Mà còn: MỞ KHÔNG GIAN CHO THIỆN PHÁT TRIỂN. Câu nhớ: GIỮ GIỚI TỐT KHÔNG LÀM ĐỜI SỐNG NHỎ LẠI. NÓ LÀM ĐỜI SỐNG BỚT NHỮNG THỨ VỀ SAU PHẢI HỐI.

VII. GIỚI – ÍT HỐI – ĐỊNH

Trong một tiến trình nổi tiếng của Tăng Chi Bộ, đời sống đức hạnh làm điều kiện cho: Ít hối. Hân hoan. Hỷ. An tịnh. Lạc. Định. và tiếp tục đi về tri kiến sâu hơn. Cách dịch và phân đoạn có thể khác theo bản. Điểm thực hành: ÍT HỐI

→ TÂM NHẸ.

TÂM NHẸ

→ DỄ GOM.

ĐỊNH không chỉ do kỹ thuật. Nó còn được xây bằng: MỘT ĐỜI SỐNG KHÔNG LIÊN TỤC

TỰ LÀM RỐI TÂM MÌNH.

Công thức hệ thống hóa: THẬT

→ CHỮ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ÍT HỐI – TÂM NHẸ

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

Đây là công thức thực hành của cuốn sách, không phải chuỗi nguyên văn kinh. Câu nhớ: MUỐN TÂM YÊN KHI NGỒI, TRƯỚC HẾT

ĐỪNG LÀM QUÁ NHIỀU VIỆC

KHIẾN TÂM PHẢI ỒN KHI NHỚ LẠI.

VIII. NGŨ GIỚI VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

Một người xúc phạm mình. Sân sinh. NHẬN: Sân. SOI: Điều gì bị chạm? THẤY: Sân đang đòi trả. GIỚI: Không hại. KHÔNG DÍNH: Không theo xung động. KHÔNG CHẤP: Không nghĩ: “TÔI PHẢI THẮNG.” BUÔNG: Ý trả đũa.

AN:

Xử lý phần cần xử lý. Đó là: GIỚI SỐNG. Không phải: Chỉ nhớ giới khi sắp phạm. Mà: THẤY NGAY TỪ TÂM. CÂU CUỐI: NGŨ GIỚI KHÔNG PHẢI NĂM ĐIỀU ĐỂ KỂ MÌNH TỐT. MÀ LÀ NĂM NƠI

PHẢI THƯỜNG XUYÊN HỎI:

TÔI CÓ

ĐANG LÀM HẠI KHÔNG?

TÔI CÓ ĐANG LẤY CÁI

KHÔNG THUỘC MÌNH KHÔNG?

TÔI CÓ ĐANG DÙNG DỤC GÂY HẠI KHÔNG? TÔI CÓ ĐANG LÀM SAI SỰ THẬT KHÔNG? TÔI CÓ ĐANG TỰ LÀM MẤT

TAY LÁI CỦA TÂM KHÔNG?

NẾU THẤY: THẬT. NẾU SAI: DỪNG. NẾU ĐÃ SAI: SỬA. NẾU THIỆN CÓ THỂ LÀM: LÀM. RỒI: KHÔNG CHẤP CÔNG GIỮ GIỚI. KHÔNG NGHĨ: “TÔI CAO HƠN.” GIỚI PHẢI ĐI VỚI: TUỆ VÀ KHIÊM HẠ. GIỮ GIỚI KHÔNG PHẢI ĐỂ THÀNH NGƯỜI

“KHÔNG BAO GIỜ SAI.”

GIỮ GIỚI LÀ TẬP LÀM CHO: THÂN, KHẨU, ĐỜI SỐNG BỚT TRỞ THÀNH NGUYÊN NHÂN KHIẾN: MÌNH VÀ NGƯỜI KHÁC KHỔ. GIỚI GIỮ HÀNH VI. TÀM – QUÝ GIỮ LƯƠNG TÂM. NIỆM GIỮ KHOẢNH KHẮC. ĐỊNH GIỮ TÂM. TUỆ GIỮ CÁI THẤY. VÀ KHI

TẤT CẢ CÙNG ĐƯỢC NUÔI,

ĐỜI SỐNG TỰ NHIÊN BỚT PHẢI “CỨU HỎA” NHỮNG VIỆC CHÍNH MÌNH ĐÃ GÂY RA.

CHƯƠNG 59
TAM CĂN BẤT THIỆN VÀ TAM CĂN THIỆN – THAM, SÂN, SI / VÔ THAM, VÔ SÂN, VÔ SI

Nguồn nền:

MN 9 – Sammādiṭṭhi Sutta

– Kinh Chánh Tri Kiến, Trung Bộ Kinh. Trong bài kinh, Tôn giả Sāriputta – Xá-lợi-phất trình bày: Gốc của bất thiện: lobha – tham. dosa – sân. moha – si. Gốc của thiện: alobha – vô tham. adosa – vô sân. amoha – vô si. Đây là một bộ khung rất căn bản. Bởi người tu không chỉ hỏi:

“TÔI ĐANG LÀM GÌ?” Mà còn phải hỏi: “CÁI GÌ ĐANG LÀM VIỆC ẤY QUA TÔI?”

CÂU NHỚ:

MUỐN SỬA MỘT ĐỜI SỐNG,

ĐỪNG CHỈ CẮT

NHỮNG CHIẾC LÁ BẤT THIỆN.

PHẢI NHẬN RA CÁI RỄ ĐANG TIẾP TỤC NUÔI CHÚNG.

I. LOBHA – THAM

Tham không có nghĩa: Mọi mong muốn đều xấu. Một người có thể muốn: Học Pháp. Tu. Giữ giới. Giúp người. Làm một thiện sự. Những chí hướng thiện không tự động là lobha. Tham có tính chất: NẮM. CHIẾM. GIỮ. KHÔNG MUỐN MẤT. Tâm tham nói: “PHẢI LÀ CỦA TÔI.” “TÔI PHẢI ĐƯỢC.” “NGƯỜI NÀY

PHẢI THUỘC VỀ TÔI.”

“CÔNG NÀY

PHẢI ĐƯỢC GHI CHO TÔI.”

Công thức Buông: NHẬN: Tôi đang muốn. SOI: Đây là chí hướng thiện hay tham nắm? THẤY: Nếu không được, tâm phản ứng thế nào? Nếu sinh: Sân. Đố kỵ. Khổ dữ. Muốn chiếm. thì phần tham đã lộ. Câu nhớ: MUỐN KHÔNG PHẢI LÚC NÀO CŨNG LÀ THAM. THAM BẮT ĐẦU RÕ KHI TÂM KHÔNG CHỈ MUỐN, MÀ CÒN: ĐÒI NẮM.

II. DOSA – SÂN

Dosa – sân có nhiều mức: Khó chịu. Bực. Ghét. Ác ý. Muốn trả đũa. Muốn người kia khổ. Không phải mọi phản ứng mạnh đều là sân. Có thể: Nói “không.” Đặt ranh giới. Ngăn sai. Bảo vệ người yếu. mà không nuôi ác ý. Điểm của sân là: TÂM MUỐN ĐẨY, PHÁ, HOẶC LÀM ĐAU. Khi sân sinh: THẤY: “Sân đang có mặt.”

Không nói:

“TÔI CHÍNH LÀ SÂN.”

TỈNH: Chưa nói. Chưa đánh. Chưa nhắn. GIỚI: Không để tâm nóng thành nghiệp hại. ĐỊNH: Ở lại với sức nóng mà không làm theo. TUỆ: Thấy sân sinh do duyên, không phải: MỆNH LỆNH. Đây là: THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

Câu nhớ: SÂN LÀ MỘT TRẠNG THÁI ĐANG XẢY RA. ĐỪNG TRAO

CHO MỘT TRẠNG THÁI TẠM THỜI

QUYỀN QUYẾT ĐỊNH MỘT HẬU QUẢ LÂU DÀI.

III. MOHA – SI

Moha – si không chỉ nghĩa: Ít học. Người có bằng cấp cao vẫn có thể si. Si trong Phật pháp liên hệ tới: KHÔNG THẤY ĐÚNG THỰC TẠI VÀ NHÂN QUẢ. Không thấy: Vô thường. Duyên khởi. Nghiệp. Khổ. Vô ngã. Thiện – bất thiện. Vì không thấy: Ta nắm cái không giữ được. Đó là: THAM. Ta chống cái không thể bắt đời đừng đổi.

Đó là: SÂN. Câu nhớ: THAM MUỐN NẮM. SÂN MUỐN ĐẨY. SI LÀ CÁI TỐI KHIẾN MÌNH KHÔNG THẤY VÌ SAO CẢ NẮM LẪN ĐẨY ĐANG LÀM TÂM KHỔ. Vì vậy con đường phải đi tới: TUỆ.

IV. ALOBHA – VÔ THAM

Vô tham không có nghĩa: Không được có tài sản. Không được có mục tiêu. Không được làm công trình. Mà: KHÔNG ĐỂ TÂM CHIẾM HỮU THỐNG TRỊ. Có: Dùng đúng. Mất: Xử lý. Cho: Không dùng cái cho để dựng ngã. Một biểu hiện đẹp của vô tham: DĀNA – BỐ THÍ. Bàn tay học mở. Tâm cũng học mở. Nhưng bố thí vẫn phải có Tuệ.

Không cho sai. Không nuôi hại. Không mua lòng. Câu nhớ: VÔ THAM KHÔNG NHẤT THIẾT LÀ KHÔNG SỞ HỮU. LÀ: KHÔNG ĐỂ CÁI MÌNH SỞ HỮU TRỞ THÀNH CHỦ CỦA TÂM.

V. ADOSA – VÔ SÂN

Adosa – vô sân liên hệ tới: Không ác ý. Từ tâm. Thiện ý. Người vô sân vẫn có thể: Nói rõ. Từ chối. Đặt ranh giới. Rời nơi nguy hiểm. Ngăn hành vi hại. Điểm khác là: KHÔNG CẦN HẬN ĐỂ LÀM ĐIỀU ĐÚNG. Bi: Không xóa Giới. Từ: Không xóa ranh giới. Xả: Không phải thờ ơ. Câu nhớ: VÔ SÂN KHÔNG LẤY SỨC MẠNH RA KHỎI SỰ THẬT.

NÓ LẤY: CHẤT ĐỘC RA KHỎI NGƯỜI ĐANG NÓI SỰ THẬT.

VI. AMOHA – VÔ SI

Amoha – vô si liên hệ tới: TRÍ. TUỆ. CHÁNH KIẾN. Không phải: Nhớ thật nhiều kinh là hết si. Một người có thể học rất nhiều nhưng vẫn: Tham danh. Sân khi bị chê. Chấp ngã. Không thấy mình. Tuệ phải đi vào: CÁCH THẤY. Thấy: Cái này do duyên. Cảm thọ không phải mệnh lệnh. Cái đang có sẽ đổi.

Người mình ghét không phải bản chất cố định. Công mình làm không phải cái tôi. Pháp không phải để thắng tranh luận. Đây là: BỚT SI. Câu nhớ: HỌC NHIỀU LÀM KHO KIẾN THỨC LỚN. THẤY ĐÚNG MỚI LÀM BÓNG TỐI NHỎ.

VII. KHÔNG CHỈ NHỔ CỎ – PHẢI TRỒNG CÂY

Người tu thường nghĩ: “PHẢI HẾT THAM.” “PHẢI HẾT SÂN.” “PHẢI HẾT SI.” Đúng về hướng. Nhưng thực hành còn phải: NUÔI VÔ THAM. Bằng: Bố thí. Biết đủ. Chia sẻ. Vô trụ. NUÔI VÔ SÂN. Bằng: Từ tâm. Nhẫn. Chánh ngữ. Không nuôi trả đũa. NUÔI VÔ SI. Bằng: Nghe Chánh pháp. Tứ Y. Chánh niệm. Duyên khởi.

Tứ Diệu Đế. Giới – Định – Tuệ. Đây cũng là tinh thần: TỨ CHÁNH CẦN. Ngăn bất thiện chưa sinh. Bỏ bất thiện đã sinh. Làm thiện chưa sinh được sinh. Giữ và phát triển thiện đã sinh. Câu nhớ: TU KHÔNG CHỈ NHỔ CỎ. CÒN PHẢI: TRỒNG CÂY. Công thức Tam Tạng: BỎ ÁC: Bớt nuôi tham – sân – si.

LÀM LÀNH: Nuôi vô tham – vô sân – vô si. LÀM SẠCH TÂM: Thấy tận gốc, không để ba độc dễ dàng cầm lái.

VIII. SOI GỐC TRƯỚC KHI LÀM

Trước một việc quan trọng, hãy hỏi: VIỆC NÀY ĐANG MỌC TỪ GỐC NÀO? CÓ THAM KHÔNG? Tôi đang: CẦN hay: CHIẾM? CÓ SÂN KHÔNG? Tôi đang: SỬA VIỆC hay:

MUỐN LÀM ĐAU NGƯỜI?

CÓ SI KHÔNG? Tôi đã: THẤY ĐỦ SỰ THẬT hay chỉ đang tin: CÂU CHUYỆN TRONG ĐẦU MÌNH? Rồi hỏi: CÓ VÔ THAM KHÔNG? Có thể làm mà không giữ công không? CÓ VÔ SÂN KHÔNG? Có thể làm điều đúng mà không nuôi độc không? CÓ VÔ SI KHÔNG? Có dựa trên: Chánh kiến. Nguồn. Duyên. Sự thật. không? Nếu chưa rõ:

ĐỪNG VỘI. Định lực chính là: KHẢ NĂNG KHÔNG BỊ XUNG ĐỘNG

BẮT HÀNH ĐỘNG NGAY.

DỪNG ĐƯỢC: MỚI SOI ĐƯỢC. SOI ĐƯỢC: MỚI THẤY. THẤY: MỚI CÓ CƠ HỘI CHỌN MỘT GỐC KHÁC. CÂU CUỐI: MỘT HÀNH VI CÓ THỂ RẤT NHỎ. NHƯNG NẾU LẶP ĐI LẶP LẠI TỪ: THAM, SÂN, SI, THÌ: ĐANG TƯỚI CÁI GỐC TỐI.

MỘT HÀNH ĐỘNG THIỆN

CŨNG CÓ THỂ RẤT NHỎ.

NHƯNG NẾU LẶP TỪ: VÔ THAM, VÔ SÂN, VÔ SI, THÌ: ĐANG NUÔI MỘT HƯỚNG KHÁC CỦA TÂM. KHÔNG CẦN CHỜ VIỆC LỚN MỚI TU. KHI MUỐN CHIẾM: THẤY. KHI MUỐN TRẢ: TỈNH. KHI CHƯA RÕ: ĐỪNG VỘI. KHI CÓ THỂ CHO: MỞ. KHI CÓ THỂ THƯƠNG: ĐỪNG NUÔI ĐỘC. KHI CHƯA HIỂU: HỌC. ĐÓ LÀ: THẬT

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

ĐÓ CŨNG LÀ: NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

VÀ MỖI LẦN: THAM BỚT QUYỀN, SÂN BỚT QUYỀN, SI BỚT QUYỀN, THÌ: THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG

KHÔNG CÒN LÀ CÔNG THỨC TRÊN GIẤY. NÓ TRỞ THÀNH: CÁCH TÂM ĐANG SỐNG.

CHƯƠNG 60
BỐN LOẠI THỨC ĂN – ĐOÀN THỰC, XÚC THỰC, TƯ NIỆM THỰC, THỨC THỰC

Pāli:

āhāra – thức ăn, dưỡng chất, điều kiện nuôi dưỡng. Bốn loại thức ăn:

1. kabaḷīkārāhāra

– đoàn thực, thức ăn vật chất.

2. phassāhāra

– xúc thực, thức ăn là sự tiếp xúc.

3. manosañcetanāhāra

– tư niệm thực, thức ăn là ý hướng/tác ý của tâm.

4. viññāṇāhāra

– thức thực, thức như một điều kiện nuôi dưỡng trong tiến trình duyên sinh. Một nguồn quan trọng:

SN 12.63 – Puttamaṃsa Sutta

– Kinh Thịt Đứa Con, Tương Ưng Bộ. Bài kinh dùng những hình ảnh rất mạnh để dạy cách quán bốn loại thức ăn. Chương này giữ tầng thực hành: TÂM KHÔNG TỰ NHIÊN

THÀNH NHƯ NÓ ĐANG LÀ.

NÓ ĐƯỢC NUÔI MỖI NGÀY BỞI: NHỮNG GÌ MÌNH ĂN,

NHỮNG GÌ MÌNH NHÌN,

NHỮNG GÌ MÌNH NGHE,

NHỮNG GÌ MÌNH TIẾP XÚC,

NHỮNG Ý HƯỚNG MÌNH LẶP,

VÀ CÁCH MÌNH CHẤP

VÀO DÒNG NHẬN BIẾT.

CÂU NHỚ:

MUỐN BIẾT TÂM NGÀY MAI SẼ RA SAO, HÃY NHÌN: HÔM NAY MÌNH ĐANG CHO TÂM ĂN GÌ.

I. ĐOÀN THỰC

kabaḷīkārāhāra – thức ăn vật chất. Thân cần được nuôi. Nhưng: THAM

KHÔNG CẦN ĐƯỢC NUÔI.

Ăn quá thiếu: Thân yếu. Tâm khó định. Ăn quá mức: Thân nặng. Tâm dễ phóng. Điểm tu: ĂN ĐỂ NUÔI THÂN, KHÔNG PHẢI ĐỂ TOÀN BỘ TÂM CHẠY THEO VỊ. THẬT: Mình đang ăn vì nhu cầu hay vì tâm đang đòi? THẤY: Tham vị có mặt không? TỈNH: Đủ thì dừng. GIỚI: Không vì hưởng thụ mà làm điều sai. Câu nhớ:

THÂN CẦN ĐƯỢC NUÔI. THAM KHÔNG CẦN ĐƯỢC NUÔI.

II. XÚC THỰC

phassāhāra – xúc thực. Phassa – xúc là sự gặp nhau giữa: CĂN. CẢNH. THỨC TƯƠNG ỨNG. Mắt – hình – nhãn thức. Tai – tiếng – nhĩ thức. Và tương tự với các căn khác. Từ xúc: Thọ có thể sinh. Rồi theo duyên: Ái. Thủ. Phản ứng. có thể tiếp tục. Vì vậy: NHỮNG THỨ MÌNH NHÌN, NGHE, TIẾP XÚC ĐANG NUÔI TÂM.

Nếu mỗi ngày liên tục tiếp xúc với: Nội dung kích tham. Nội dung kích sân. Tranh chấp. Tin giật gân. Lời độc. thì: Tâm đang được cho ăn. Câu nhớ: CÓ NHỮNG THỨ CHƯA LÀM MÌNH PHẠM GIỚI NGAY, NHƯNG ĂN VÀO TÂM MỖI NGÀY THÌ ĐANG LÀM: THAM – SÂN – SI LỚN DẦN.

III. XÚC THỰC VÀ HỘ TRÌ SÁU CĂN

Hộ căn không phải: Bịt mắt. Bịt tai. Trốn đời. Mà: KHÔNG ĐỂ MỌI ĐỐI TƯỢNG CÓ QUYỀN ĐI VÀO TÂM KHÔNG KIỂM SOÁT. Biết một nội dung làm sân tăng: Có thể tắt. Biết một nội dung kích dục mạnh: Có thể tránh. Định lực không phải lúc nào cũng là: “XEM HẾT MÀ KHÔNG ĐỘNG.” Có khi Định lực là:

BIẾT TẮT. Câu nhớ: KHÔNG PHẢI THỨ GÌ MÌNH CÓ THỂ NHÌN CŨNG LÀ THỨ MÌNH NÊN TIẾP TỤC NHÌN.

IV. TƯ NIỆM THỰC

manosañcetanāhāra. Liên hệ tới: Ý HƯỚNG. TÁC Ý. CHỦ Ý CỦA TÂM. Một người lặp: “TÔI PHẢI THẮNG.” Tâm đang ăn: NGÃ TRANH. Một người lặp: “MONG HỌ KHỔ.” Tâm đang ăn: SÂN. Một người lặp: “LÀM SAO GIÚP VIỆC NÀY ĐÚNG HƠN?” Tâm đang nuôi: THIỆN Ý VÀ TUỆ. Điều này gặp với:

AN 6.63,

nơi cetanā – tác ý được nhấn mạnh là nghiệp. Một ý nghĩ thoáng qua: Chưa định nghĩa mình. Nhưng điều mình: CỐ Ý NHẮC, NHAI, LẶP, đang: HUẤN LUYỆN TÂM. Câu nhớ: ĐIỀU MÌNH NHẮC ĐI NHẮC LẠI ĐANG DẠY TÂM TRỞ THÀNH MỘT THÓI QUEN.

V. TƯ NIỆM THỰC VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

Một chuyện xảy ra: Một lần. Nhưng trong đầu: Lặp 50 lần. Tâm đang: TIẾP TỤC CHO CHUYỆN ẤY ĂN. NHẬN: Tâm đang nhai lại. SOI: Việc này còn giúp giải quyết gì không? THẤY: Đang học bài học hay: ĐANG NUÔI SÂN? Nếu chỉ nuôi độc: KHÔNG DÍNH. KHÔNG CHẤP. BUÔNG. Nếu có việc cần giải quyết:

GIẢI QUYẾT. Nhưng: ĐỪNG LẶP ĐAU CHỈ ĐỂ ĐAU THÊM. Câu nhớ: MỘT BIẾN CỐ CÓ THỂ XẢY RA MỘT LẦN. TÂM CÓ THỂ TỰ CHO NÓ XẢY RA THÊM MỘT TRĂM LẦN BẰNG CÁCH: NHAI LẠI.

VI. THỨC THỰC

viññāṇāhāra – thức thực. Viññāṇa – thức là thuật ngữ rất sâu. Trong Duyên khởi: Thức có vị trí quan trọng. Trong năm uẩn: Thức là một uẩn. Trong bốn thức ăn: Thức là một loại āhāra. Các truyền thống có những giải thích kỹ thuật khác nhau về tầng nghĩa sâu của thức thực. Không nên biến:

THỨC thành: MỘT LINH HỒN ĐI ĂN. Điểm thực hành cần giữ: DÒNG NHẬN BIẾT

CŨNG LÀ PHÁP DUYÊN SINH.

Thấy: Nhãn thức sinh theo duyên. Nghe: Nhĩ thức sinh theo duyên. Không có đúng duyên: Không có đúng tiến trình ấy. Vì vậy: CÁI BIẾT CŨNG KHÔNG NÊN BỊ DỰNG THÀNH: MỘT CÁI NGÃ THƯỜNG HẰNG. Câu nhớ: NGAY CÁI BIẾT

CŨNG LÀ DUYÊN SINH.

ĐỪNG LẤY

MỘT TRẠNG THÁI NHẬN BIẾT

RỒI DỰNG THÀNH: MỘT CÁI NGÃ TINH TẾ.

VII. BỐN THỨC ĂN VÀ THAM – SÂN – SI

Muốn biết: Vì sao tham mạnh? Hãy xem: ĐANG CHO THAM ĂN GÌ? Vì sao sân mạnh? Hãy xem: ĐANG CHO SÂN ĂN GÌ? Vì sao si dày? Hãy xem: ĐANG CHO SI ĂN GÌ? THAM có thể được nuôi bởi: Hình ảnh kích muốn. So sánh. Khoe khoang. Ý nghĩ chiếm hữu. SÂN có thể được nuôi bởi: Nội dung kích động.

Nhai lại lời chê. Tụ tập trong tâm lý cùng ghét một người. SI có thể được nuôi bởi: Tin sai không kiểm. Nghe một chiều. Phóng dật. Né Chánh pháp. Tu không chỉ là: ĐỢI THAM – SÂN – SI SINH RỒI CHỐNG. Tu còn là: ĐỪNG CHO CHÚNG ĂN QUÁ NHIỀU TỪ ĐẦU. Câu nhớ: BỎ ÁC ĐÔI KHI KHÔNG BẮT ĐẦU Ở LÚC HÀNH ĐỘNG.

NÓ BẮT ĐẦU Ở LÚC: MÌNH TỪ CHỐI NUÔI CÁI NHÂN SẼ ĐẨY MÌNH TỚI HÀNH ĐỘNG.

VIII. MỘT NGÀY TU QUA BỐN THỨC ĂN

BUỔI SÁNG: Ăn vừa đủ. Đó là: CHĂM ĐOÀN THỰC. MỞ ĐIỆN THOẠI: Chọn thứ xem. Đó là: CHĂM XÚC THỰC.

MỘT CHUYỆN LÀM MÌNH TỨC:

Không nhai cả ngày. Đó là: CHĂM TƯ NIỆM THỰC.

TRONG MỌI TRẢI NGHIỆM:

Nhớ: Cái biết này do duyên. Không phải một cái tôi bất biến. Đó là: SOI THỨC THỰC BẰNG TUỆ. Ngay đó: THẬT: Thứ này đang làm tâm mình thành gì? THẤY: Tham – sân – si có được nuôi không? TỈNH: Dừng trước khi tiếp tục ăn. BỎ ÁC: Cắt nguồn nuôi bất thiện. LÀM LÀNH: Chọn thức ăn lành cho thân và tâm.

GIỚI: Bảo vệ đường vào. ĐỊNH: Không bị kích thích bắt nhảy theo. TUỆ: Thấy các tiến trình đều duyên sinh. NHẬN. SOI. THẤY. KHÔNG DÍNH. KHÔNG CHẤP. BUÔNG.

AN.

SÁNG. CÂU CUỐI: TÂM KHÔNG CHỈ ĐƯỢC TẠO

BỞI NHỮNG VIỆC LỚN.

NÓ ĐƯỢC NUÔI TỪNG NGÀY BẰNG: MỘT BỮA ĂN, MỘT HÌNH ẢNH, MỘT LỜI NGHE, MỘT Ý NGHĨ MÌNH NHẮC LẠI, VÀ: MỘT CÁCH MÌNH CHẤP VÀO CÁI BIẾT. MUỐN: THAM – SÂN – SI YẾU ĐI, ĐỪNG CHỈ

ĐÁNH NHAU VỚI CHÚNG

KHI CHÚNG ĐÃ LỚN. HÃY HỌC CÁCH NHẬN RA: THỨC ĂN CỦA CHÚNG. VÀ: ĐỪNG TIẾP TỤC BƯNG CƠM CHO CHÚNG MỖI NGÀY.

CHƯƠNG 61
BẢY TÀI SẢN CỦA BẬC THÁNH – TÍN, GIỚI, TÀM, QUÝ, ĐA VĂN, XẢ, TUỆ

Nguồn chính:

AN 7.5 – Saṃkhittadhana Sutta

– bài kinh trình bày tóm lược bảy tài sản.

AN 7.6 – Vitthatadhana Sutta

– bài kinh trình bày chi tiết bảy tài sản. Nhóm bảy tài sản này cũng xuất hiện trong các bộ kinh khác, như DN 33 và DN 34. Bảy tài sản:

1. saddhā

– tín.

2. sīla

– giới.

3. hiri

– tàm.

4. ottappa

– quý.

5. suta

– đa văn, học nghe Chánh pháp.

6. cāga

– xả, rộng lòng, bố thí.

7. paññā

– trí tuệ. Đây không phải: BẢY MÓN ĐỂ KHOE MÌNH CÓ. Mà là: BẢY PHẨM CHẤT PHẢI NUÔI.

CÂU NHỚ:

CÓ TÀI SẢN LÀM ĐỜI SỐNG THUẬN HƠN. CÓ TÀI SẢN

LÀM CHÍNH CON NGƯỜI MÌNH

TRỞ NÊN KHÓ BỊ NGHỊCH CẢNH LẤY MẤT.

I. SADDHĀ – TÍN

Saddhā không đồng nghĩa với “chữ tín” trong công thức Định lực. Saddhā: Lòng tin nơi Phật, Pháp và con đường tu. Trong AN 7.6, tài sản Tín được trình bày qua lòng tin đối với sự giác ngộ của Như Lai. Tín không phải: TIN MÙ. Mà: Có đủ lòng để: HỌC. THỰC HÀNH. KIỂM CHỨNG. TÍN: Mở cửa.

TUỆ: Giữ mắt. THẬT: Biết bao nhiêu nói bấy nhiêu. Chưa chứng: Không giả chứng. Câu nhớ: TÍN LÀ TÀI SẢN KHI NÓ ĐƯA MÌNH VÀO THỰC HÀNH. TÍN TRỞ THÀNH GÁNH KHI NÓ BẮT MÌNH BẢO VỆ ĐIỀU SAI CHỈ VÌ MÌNH ĐÃ TIN LÂU.

II. SĪLA – GIỚI

AN 7.6 trình bày

tài sản Giới qua năm giới căn bản của người tại gia: Không sát sinh. Không lấy của không cho. Không tà hạnh. Không nói dối. Không dùng chất say dẫn tới phóng dật. Giới là tài sản vì: Nó trở thành: PHẨM CHẤT CỦA ĐỜI SỐNG. Không chỉ là: một thứ mình sở hữu. Giới giúp: Ít phải che.

Ít hối. Tâm nhẹ hơn. Định dễ có nền hơn. Công thức thực hành: GIỚI

→ ÍT HỐI – TÂM NHẸ

→ ĐỊNH

→ TUỆ.

Câu nhớ: CÓ THỨ MÌNH SỞ HỮU. CÓ THỨ TRỞ THÀNH PHẨM CHẤT CỦA CHÍNH MÌNH. GIỚI THUỘC LOẠI THỨ HAI.

III. HIRI – TÀM

VÀ OTTAPPA – QUÝ HIRI: Biết hổ thẹn đối với điều bất thiện. OTTAPPA: Biết dè chừng bất thiện và hậu quả của nó. Tàm không phải:

“TÔI LÀ NGƯỜI XẤU.”

Mà: “VIỆC NÀY KHÔNG XỨNG ĐỂ NUÔI.” Quý không phải: Sống trong sợ hãi. Mà: “VIỆC NÀY CÓ HẬU QUẢ, ĐỪNG COI THƯỜNG.” Giới là: HÀNG RÀO. Tàm – Quý là: NGƯỜI GÁC CỬA. Khi sân muốn bật ra: THẤY. TÀM: Dừng. QUÝ: Thấy hậu quả. GIỚI: Không hành hại. ĐỊNH: Không chạy theo cơn thúc. TUỆ: Thấy sân không phải mệnh lệnh.

IV. SUTA – ĐA VĂN

Suta không chỉ là: NGHE NHIỀU. Trong AN 7.6, người đa văn được mô tả là người: Nghe Chánh pháp. Ghi nhớ. Tích lũy. Xét bằng tâm. Thâm nhập ý nghĩa. Vì vậy đa văn cần:

NGUỒN.

NGHĨA. SUY XÉT. THỰC HÀNH. Nghe rất nhiều nhưng: Tham không giảm. Sân không giảm. Ngã tăng. thì: Kho chữ có thể lớn, nhưng: TUỆ CHƯA CHẮC LỚN. Tứ Y đi vào: Y PHÁP. Y NGHĨA. Không lấy: DANH NGƯỜI NÓI thay cho: CHẤT LƯỢNG PHÁP. Câu nhớ: ĐA VĂN LÀ TÀI SẢN KHI PHÁP ĐƯỢC TIÊU HÓA. NẾU CHỈ CHẤT CHỮ TRONG ĐẦU, ĐÓ MỚI LÀ:

KHO DỮ LIỆU.

V. CĀGA – XẢ, BỐ THÍ

Cāga có thể dịch: Xả. Rộng lòng. Bố thí. Buông tính keo kiệt.

AN 7.6 mô tả

người có tài sản này là người: Rộng tay. Thích cho. Thích chia sẻ. Không bị keo kiệt đóng chặt tâm. Nhưng: BỐ THÍ VẪN CẦN TUỆ. Không: Cho sai. Nuôi hại. Mua lòng. Cho rồi đòi nhớ ơn. Công thức Buông: NHẬN: Sự tiếc. SOI: Cái tôi đang giữ gì? THẤY: Mọi thứ do duyên. KHÔNG DÍNH: Vào sở hữu.

BUÔNG: Phần có thể buông. Câu nhớ: BỐ THÍ KHÔNG CHỈ CHUYỂN MỘT VẬT TỪ TAY NÀY SANG TAY KHÁC. NÓ CÒN HUẤN LUYỆN TÂM KHÔNG CO LẠI QUANH CHỮ: “CỦA TÔI.”

VI. PAÑÑĀ – TRÍ TUỆ

AN 7.6 mô tả

trí tuệ là trí: THẤY SINH. THẤY DIỆT. CÓ TÍNH THÂM NHẬP. HƯỚNG TỚI CHẤM DỨT KHỔ. Tuệ không chỉ là: Thông minh. Nói hay. Tranh luận giỏi. Tuệ phải giúp thấy: Cái gì sinh do duyên. Cái gì đang diệt. Cái gì đang bị chấp. Cái gì đang tạo khổ. Và: CHỖ NÀO CÓ THỂ BUÔNG. Công thức Phật:

THẤY. TỈNH. BUÔNG. SÁNG. Câu nhớ: TRÍ THỨC CHO MÌNH NHIỀU CÂU TRẢ LỜI. TUỆ LÀM MÌNH BỚT TẠO KHỔ BẰNG CÁCH: NẮM SAI.

VII. BẢY TÀI SẢN NÂNG NHAU

TÍN: Cho mình bước. GIỚI: Giữ thân khẩu. TÀM – QUÝ: Giữ cửa bên trong. ĐA VĂN: Cho bản đồ. XẢ: Làm tham sở hữu yếu. TUỆ: Thấy đường. Nếu: ĐA VĂN mà thiếu GIỚI: Biết nhiều nhưng chưa chắc sống đẹp. BỐ THÍ mà thiếu TUỆ: Có thể cho sai. TÍN mà thiếu ĐA VĂN: Dễ hiểu Pháp qua truyền miệng.

TÀM QUÝ mà thiếu TUỆ và TỪ: Có thể biến đạo đức thành tự hành hạ. Phật pháp không chỉ nuôi một phẩm chất. Nó xây: MỘT CON NGƯỜI CÂN BẰNG. Câu nhớ: MỘT PHÁP CÓ THỂ MỞ CỬA. NHIỀU THIỆN PHÁP NÂNG NHAU MỚI LÀM ĐƯỜNG TU CÓ CHIỀU SÂU.

VIII. TÀI SẢN NÀO ĐI THEO MÌNH KHI CẢNH ĐỔI?

Nhà: Có thể mất. Danh: Có thể đổi. Tiền: Có thể hết. Khen: Có thể thành chê. Thân: Cũng thay đổi. Nhưng mỗi lần: SỐNG THẬT. GIỮ GIỚI. BIẾT TÀM QUÝ. HỌC ĐÚNG PHÁP. BIẾT CHO. PHÁT TUỆ. thì: ĐỜI SỐNG NỘI TÂM

ĐANG ĐƯỢC HUẤN LUYỆN.

Không nên hiểu bảy tài sản như những vật chất vô hình được cất ở đâu đó. Chúng là: PHẨM CHẤT ĐANG ĐƯỢC TU TẬP. THẬT: Để Tín không giả. GIỚI: Để thiện có nền. TÀM – QUÝ: Để Bỏ ác từ trong tâm. ĐA VĂN: Để biết Pháp. BỐ THÍ: Để Làm lành và giảm tham. TUỆ: Để Làm sạch tâm. Khi tham nổi:

NHẬN. SOI. THẤY. KHÔNG DÍNH. KHÔNG CHẤP. BUÔNG.

AN.

Và: THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG

dần trở thành: MỘT NĂNG LỰC SỐNG. CÂU CUỐI: TÀI SẢN LỚN CỦA NGƯỜI TU KHÔNG CHỈ LÀ THỨ CÓ THỂ CHỈ RA BẰNG TAY. MÀ CÒN LÀ: NHỮNG PHẨM CHẤT KHIẾN DÙ HOÀN CẢNH ĐỔI, MÌNH VẪN CÒN: CON ĐƯỜNG ĐỂ TRỞ VỀ. CÓ TÍN MÀ KHÔNG MÙ. CÓ GIỚI MÀ KHÔNG NGÃ MẠN. CÓ TÀM QUÝ MÀ KHÔNG TỰ GHÉT. CÓ ĐA VĂN MÀ KHÔNG CHẤP CHỮ.

CÓ BỐ THÍ MÀ KHÔNG GIỮ CÔNG. CÓ TUỆ MÀ KHÔNG LẠNH. ĐÓ MỚI LÀ CỦA CẢI ĐANG ĐƯA CON NGƯỜI VỀ HƯỚNG: GIẢI THOÁT.

CHƯƠNG 62
THIỂU DỤC VÀ TRI TÚC – ÍT MUỐN KHÔNG PHẢI SỐNG NGHÈO, BIẾT ĐỦ KHÔNG PHẢI NGỪNG TIẾN

Pāli:

appicchatā – ít muốn, thiểu dục. santuṭṭhi – biết đủ, tri túc. Một câu nổi tiếng trong Pháp Cú 204: santuṭṭhi paramaṃ dhanaṃ thường được dịch theo nghĩa: TRI TÚC

LÀ TÀI SẢN TỐI THƯỢNG,

hoặc: BIẾT ĐỦ

LÀ TÀI SẢN LỚN NHẤT,

tùy bản dịch. Một nguồn quan trọng khác:

AN 4.28 – Ariyavaṃsa Sutta

– Kinh Truyền Thống Của Bậc Thánh. Bài kinh nhấn mạnh sự biết đủ đối với những vật dụng căn bản và niềm vui trong việc tu tập, đoạn trừ bất thiện. Thiểu dục – tri túc không có nghĩa: Phải sống thiếu thốn. Không được phát triển. Không được làm việc. Không được xây dựng điều có ích.

Điểm thực hành là: PHÂN BIỆT CÁI CẦN VỚI: CÁI TÂM CỨ MUỐN THÊM.

CÂU NHỚ:

CÓ CÁI THIẾU PHẢI BÙ. CÓ CÁI THIẾU CÀNG BÙ CÀNG THIẾU. TUỆ LÀ: BIẾT MÌNH ĐANG GẶP LOẠI NÀO.

I. THIỂU DỤC KHÔNG PHẢI DIỆT MỌI ƯỚC MUỐN

Không phải mọi ý muốn đều là tham. Phải phân biệt: taṇhā – tham ái, khát ái, với: chanda – ý muốn, chí hướng, có thể là thiện trong những bối cảnh tu tập. Muốn: Học Pháp. Giữ giới. Giúp người. Hoàn thành bổn phận. Làm thiện sự. không tự động là tham. Điểm phải soi: TÂM CÓ BỊ CÁI MUỐN TRÓI KHÔNG? Không đạt:

Có sân không? Có đố kỵ không? Có gian dối không? Có phá giới không? Nếu có: Cái muốn đã mang tính nắm. Câu nhớ: ÍT MUỐN KHÔNG PHẢI SỐNG KHÔNG CÓ CHÍ. LÀ: CÓ CHÍ MÀ KHÔNG ĐỂ CÁI TÔI BIẾN MỌI CHÍ HƯỚNG THÀNH: MỘT CƠN ĐÓI.

II. TRI TÚC KHÔNG PHẢI AN PHẬN VỚI CÁI SAI

Tri túc không có nghĩa: Chịu bất công. Chịu nguy hiểm. Chấp nhận thiếu thốn căn bản mà không tìm cách cải thiện. Việc cần sửa: Vẫn sửa. Quyền cần bảo vệ: Vẫn bảo vệ. Điều kiện cần cải thiện: Vẫn cải thiện. Tri túc nói về: QUAN HỆ CỦA TÂM VỚI: CÁI MÌNH CÓ VÀ: CÁI MÌNH CHƯA CÓ. Không để:

“TÔI CẦN ĐIỀU NÀY” biến thành: “TÔI PHẢI CÓ TẤT CẢ

THÌ MỚI SỐNG ĐƯỢC.”

Câu nhớ: TRI TÚC KHÔNG BẮT MÌNH Ở YÊN TRONG CHỖ SAI. NÓ NGĂN TÂM MANG MỘT CƠN ĐÓI VÔ TẬN ĐI THEO DÙ MÌNH ĐÃ RA KHỎI CHỖ SAI.

III. CÁI TÂM “THÊM MỘT CHÚT NỮA”

Tham thường nói: THÊM. Có một: Muốn hai. Có hai: Muốn năm. Được khen: Muốn khen thêm. Có danh: Muốn danh lớn hơn. Con số có thể tăng. Nhưng cảm giác: “CHƯA ĐỦ” vẫn nguyên. Vì vậy người ta có thể: CÓ NHIỀU HƠN nhưng:

AN ÍT HƠN.

THẤY: Cảm giác “chưa đủ.” TỈNH: Không lập tức chạy đi bù. SOI: Đây là nhu cầu thật hay tham đang đòi thức ăn? BUÔNG: Phần không cần. SÁNG: Biết điều gì đáng tiếp tục. Câu nhớ: KHÔNG CÓ TUỆ, CÁI: “THÊM MỘT CHÚT” RẤT DỄ TRỞ THÀNH: CẢ MỘT ĐỜI CHƯA BAO GIỜ THẤY ĐỦ.

IV. TRI TÚC KHÁC LƯỜI BIẾNG

Không chịu tinh tấn rồi nói: “TÔI TRI TÚC” là hiểu sai. Tri túc phải đi cùng: TINH TẤN. Tinh thần AN 4.28 không chỉ biết đủ với vật dụng, mà còn vui trong: TU TẬP VÀ:

ĐOẠN TRỪ BẤT THIỆN.

Có thể nhớ: BIẾT ĐỦ VỚI VẬT. KHÔNG BIẾT ĐỦ VỚI VIỆC SỬA TÂM. Nhưng Tinh tấn cũng không phải: Tự hành xác. Kiệt sức. Chạy thành tích. Câu nhớ: TRI TÚC KHÔNG LÀM SỰ TU TẬP DỪNG LẠI. NÓ LÀM CUỘC CHẠY ĐUA SỞ HỮU CHẬM LẠI ĐỂ SỨC ĐƯỢC DÀNH CHO: ĐIỀU ĐÁNG TU.

V. TRI TÚC VÀ BỐ THÍ

Người luôn nghĩ: “TÔI CHƯA ĐỦ” rất khó mở tay. Không phải mọi giữ lại đều là tham. Có trách nhiệm: Phải biết dự phòng. Nhưng cần soi: MÌNH THẬT SỰ THIẾU hay: SỢ THIẾU DÙ ĐÃ ĐỦ? Tri túc làm cơn đói nhỏ. Bố thí tập bàn tay mở. Vô tham dần lớn. Nhưng bố thí vẫn cần Tuệ: ĐÚNG NƠI. ĐÚNG CÁCH.

ĐÚNG KHẢ NĂNG. Câu nhớ: BIẾT ĐỦ KHÔNG LÀM MÌNH NGHÈO ĐI. NÓ LÀM PHẦN: “PHẢI GIỮ CHO TÔI” NHỎ ĐI.

VI. TRI TÚC VÀ ĐỊNH LỰC

Tâm có quá nhiều nhu cầu: Rất khó gom. Ngồi xuống: Nhớ thứ muốn mua. Nhớ việc muốn được. Nhớ điều muốn chứng minh. Mỗi cái muốn: KÉO MỘT HƯỚNG. Vì vậy thiểu dục – tri túc hỗ trợ Định. Nhưng: Ít đồ không tự động là ít tham. Có thể ít vật chất nhưng vẫn: Tham danh. Tham quyền. Tham công nhận.

Phải soi: ÍT MUỐN TRONG TÂM. THẬT: Đang thiếu hay đang tham? THIỆN: Dùng vật chất đúng. GIỚI: Không vì muốn mà làm sai. ÍT HỐI – TÂM NHẸ: Không sống bằng chiếm đoạt. ĐỊNH: Tâm bớt nhiều dây kéo. TUỆ: Biết điều gì thật cần. LỰC: Ngày càng có khả năng nói: “ĐỦ.” Câu nhớ: ĐỊNH LỰC ĐÔI KHI BẮT ĐẦU TỪ MỘT CHỮ RẤT NHỎ:

THÔI.

VII. TRI TÚC VỚI DANH VÀ SỰ CÔNG NHẬN

Có người đủ vật chất nhưng tâm vẫn đói: ĐƯỢC KÍNH. ĐƯỢC KHEN. ĐƯỢC NGHE LỜI. ĐƯỢC GHI CÔNG. Đó cũng là: KHÔNG BIẾT ĐỦ. Một lời khen: Có thể vui. Nhưng không cần: MƯỜI LỜI NỮA để xác nhận giá trị mình. Một việc thiện: LÀM. Nhưng không cần: AI CŨNG BIẾT. Một lời Pháp: CHIA SẺ. Nhưng không cần:

MỌI NGƯỜI PHẢI CÔNG NHẬN MÌNH GIỎI. Công thức Buông: NHẬN: Tâm muốn được thấy. SOI: Vì lợi ích việc hay vì cái tôi? THẤY: Danh do nhiều duyên. KHÔNG DÍNH: Vào khen. KHÔNG CHẤP: Vào hình ảnh. BUÔNG: Nhu cầu được xác nhận.

AN.

Câu nhớ: CÓ NGƯỜI ĐỦ VẬT CHẤT NHƯNG: ĐÓI DANH. TRI TÚC THẬT PHẢI ĐI SÂU TỚI CẢ NHỮNG THỨ KHÔNG NHÌN THẤY BẰNG MẮT.

VIII. CẦN – ĐỦ – DƯ – CHẤP

Trước một điều đang muốn, hãy hỏi bốn chữ: CẦN? Điều này có thật sự cần cho: Thân? Bổn phận? Sự an toàn? Thiện sự? Việc tu? ĐỦ? Bao nhiêu là đủ? Nếu không có chữ “đủ,” tham có thể tăng chuẩn mãi. DƯ? Nếu đã dư: Có thể chia? Có thể dừng tích? CHẤP? Nếu mất nó: Mình có nghĩ: “KHÔNG CÓ NÓ TÔI KHÔNG CÒN LÀ TÔI” không? Ngay đây:

THẬT: Tôi đang cần hay đang thèm? BỎ ÁC: Không vì tham mà phạm giới. LÀM LÀNH: Phần dư có thể chuyển thành lợi ích. LÀM SẠCH TÂM: Nhìn tận cái đói của ngã. THẤY: Cảm giác thiếu. TỈNH: Không chạy ngay. KHÔNG DÍNH: Vào đối tượng. KHÔNG CHẤP: “PHẢI CÓ.” BUÔNG: Phần thừa.

AN:

Với cái đủ. SÁNG: Tiếp tục làm điều cần làm. CÂU CUỐI: TRI TÚC KHÔNG PHẢI NÓI:

“TÔI KHÔNG CẦN GÌ.”

TRI TÚC LÀ: BIẾT RÕ CÁI GÌ CẦN, BAO NHIÊU LÀ ĐỦ, CÁI GÌ ĐÃ DƯ, VÀ: CHỖ NÀO CÁI TÔI ĐANG BIẾN MỘT NHU CẦU THÀNH: MỘT CƠN ĐÓI. NGƯỜI BIẾT ĐỦ VẪN: LÀM VIỆC. XÂY DỰNG. HỌC. PHỤNG SỰ. PHÁT ĐẠI NGUYỆN. NHƯNG HỌ KHÔNG BẮT CUỘC ĐỜI PHẢI LIÊN TỤC ĐỔ THÊM VÀO: MỘT CÁI TÔI CHƯA BAO GIỜ CHỊU NÓI: “ĐỦ RỒI.”

CHƯƠNG 63
NHƯ LÝ TÁC Ý – NHÌN MỘT VIỆC THEO CÁCH MỞ ĐƯỜNG CHO TUỆ

Pāli:

yoniso manasikāra – như lý tác ý, đặt tâm đúng cách, xem xét đúng lý, chú ý theo hướng đưa tới hiểu biết và đoạn khổ. Đối lại: ayoniso manasikāra – phi như lý tác ý, đặt tâm không đúng cách, khiến bất thiện dễ sinh và tăng trưởng. Nguồn quan trọng:

MN 2 – Sabbāsava Sutta

– Kinh Tất Cả Lậu Hoặc, Trung Bộ Kinh. Trong bài kinh, phi như lý tác ý được liên hệ với sự sinh trưởng của các lậu hoặc; như lý tác ý được liên hệ với việc ngăn và đoạn trừ lậu hoặc theo các phương pháp thích hợp. Như lý tác ý không phải: NGHĨ TÍCH CỰC. Không phải: BIẾN CHUYỆN XẤU THÀNH CHUYỆN ĐẸP BẰNG TƯỞNG TƯỢNG.

Không phải: TỰ NHỦ “MỌI THỨ ĐỀU TỐT.” Mà là: THẤY ĐÚNG

CÁI GÌ ĐANG XẢY RA,

NÓ DO ĐÂU, TÂM MÌNH ĐANG THÊM GÌ VÀO, VÀ: CÁCH NHÌN NÀO ĐƯA TỚI

BỚT THAM – SÂN – SI.

CÂU NHỚ:

KHÔNG PHẢI CHUYỆN GÌ XẢY RA CŨNG DO MÌNH CHỌN. NHƯNG SAU KHI CHUYỆN XẢY RA, CÁCH TÂM TIẾP TỤC NHÌN NÓ CÓ THỂ TRỞ THÀNH MỘT PHẦN RẤT LỚN CỦA: CON ĐƯỜNG KHỔ HOẶC: CON ĐƯỜNG RA KHỎI KHỔ.

I. CÙNG MỘT SỰ VIỆC – HAI HƯỚNG TÂM

Một người chê mình. SỰ KIỆN: Có một lời chê. Phi như lý tác ý có thể lập tức dựng: “HỌ KHINH TÔI.”

“AI CŨNG COI THƯỜNG TÔI.”

“TÔI PHẢI TRẢ.”

“NGƯỜI NÀY XẤU HOÀN TOÀN.”

Một lời chê thành:

MỘT CÂU CHUYỆN LỚN.

Như lý tác ý hỏi: HỌ NÓI GÌ? PHẦN NÀO ĐÚNG? PHẦN NÀO SAI? TÂM MÌNH

ĐANG BỊ CHẠM Ở ĐÂU?

CÓ SÂN KHÔNG? VIỆC NÀO CẦN SỬA? PHẦN NÀO

KHÔNG THUỘC TRÁCH NHIỆM MÌNH?

Sự kiện: VẪN VẬY. Nhưng: HƯỚNG TÂM KHÁC. Một hướng: NUÔI SÂN. Một hướng: NUÔI TUỆ. Câu nhớ: PHI NHƯ LÝ TÁC Ý BIẾN SỰ KIỆN THÀNH NHIÊN LIỆU CHO PHIỀN NÃO. NHƯ LÝ TÁC Ý

BIẾN CHÍNH SỰ KIỆN ẤY

THÀNH: VẬT LIỆU ĐỂ HỌC PHÁP.

II. NHƯ LÝ TÁC Ý KHÔNG PHỦ NHẬN SỰ THẬT

Mất người thân: Không nói: “ĐỪNG BUỒN, VÔ THƯỜNG MÀ.” Bị lừa: Không nói: “TẤT CẢ ĐỀU KHÔNG, THÔI BỎ.” Thân đau: Không nói: “ĐAU CHỈ DO TÂM.” Như lý tác ý bắt đầu bằng: THẬT. Đau: Biết đau. Mất: Biết mất. Sai: Biết sai. Nguy hiểm: Biết nguy hiểm. Rồi mới hỏi: TÂM CÓ CẦN TẠO THÊM

LỚP KHỔ NÀO NỮA KHÔNG?

Nguồn liên hệ:

SN 36.6 – Sallattha Sutta

– Kinh Mũi Tên. Hình ảnh hai mũi tên giúp thấy rằng: đau đã có, nhưng phản ứng tâm lý có thể làm khổ tăng thêm. Không được dùng giáo lý này để đổ lỗi cho người đang đau. Câu nhớ: NHƯ LÝ TÁC Ý KHÔNG LÀM SỰ THẬT NHẸ ĐI. NÓ LÀM: PHẦN MÊ THÊM VÀO SỰ THẬT NHẸ ĐI.

III. NHƯ LÝ TÁC Ý VÀ CHÁNH NIỆM

Sati – niệm: BIẾT CÁI GÌ ĐANG CÓ MẶT. Yoniso manasikāra – như lý tác ý: ĐẶT TÂM ĐÚNG CÁCH ĐỐI VỚI CÁI ĐANG CÓ. Niệm biết: “SÂN ĐANG CÓ.” Như lý tác ý hỏi: SÂN DO DUYÊN NÀO? NUÔI TIẾP SẼ CÓ HẬU QUẢ GÌ? CÁCH NÀO KHÔNG LÀM SÂN TĂNG? Niệm giống: BẬT ĐÈN. Như lý tác ý giống: BIẾT NÊN NHÌN CHỖ NÀO DƯỚI ÁNH ĐÈN.

THẤY. TỈNH. SOI ĐÚNG. BUÔNG. SÁNG.

IV. NHƯ LÝ TÁC Ý VÀ TỨ DIỆU ĐẾ

Khi khổ, có thể hỏi: ĐÂY LÀ KHỔ GÌ? Đó là hướng: KHỔ ĐẾ. TRONG TÂM ĐANG CÓ NHÂN NÀO NUÔI KHỔ? Tham? Ái? Chấp? Sân? Đó là hướng: TẬP ĐẾ. NẾU KHÔNG TIẾP TỤC NUÔI NHÂN ẤY THÌ SAO? Đó là hướng: DIỆT ĐẾ. TÔI PHẢI TU VÀ LÀM GÌ? Chánh kiến? Chánh ngữ? Chánh niệm? Chánh tinh tấn? Giữ giới? Buông? Đó là:

ĐẠO ĐẾ. Tứ Diệu Đế vì vậy không chỉ là: BỐN CÂU ĐỂ HỌC THUỘC. Mà là: MỘT CÁCH ĐẶT CÂU HỎI VỚI ĐỜI.

V. CÁCH NHÌN SAI NUÔI THAM – SÂN – SI

VỚI THAM: “CÓ NÓ TÔI MỚI ĐỦ.” “TÔI PHẢI HƠN.” “NGƯỜI NÀY

PHẢI THUỘC VỀ TÔI.”

Tham tăng. VỚI SÂN: “HỌ SAI MỘT VIỆC NÊN HỌ XẤU HOÀN TOÀN.” “MỘT LỜI CHÊ NGHĨA LÀ HỌ MUỐN HỦY TÔI.” Sân tăng. VỚI SI: Chỉ nhìn một phần. Không xét duyên. Không kiểm nguồn. Tin điều mình thích. Bỏ qua điều trái ý. Si tự bảo vệ si. Câu nhớ: PHIỀN NÃO KHÔNG CHỈ ĂN CẢNH. NÓ CÒN ĂN: CÁCH MÌNH DIỄN GIẢI CẢNH.

VI. NHƯ LÝ TÁC Ý KHÔNG PHẢI NGHĨ MÃI

“Soi” không có nghĩa: NGHĨ CẢ NGÀY. PHÂN TÍCH CẢ ĐÊM. NHAI CHUYỆN CŨ HÀNG TRĂM LẦN. Như lý tác ý đúng phải giúp: RÕ HƠN. ÍT THAM HƠN. ÍT SÂN HƠN. BIẾT VIỆC CẦN LÀM HƠN. Nếu càng nghĩ: Càng rối. Càng sân. Càng dựng thêm. thì: PHẢI DỪNG. Có khi cái thấy đúng là: “TÔI ĐÃ HIỂU ĐỦ ĐỂ XỬ LÝ.

PHẦN CÒN LẠI CHỈ LÀ TÂM ĐANG NHAI.” NHẬN. SOI. THẤY. KHÔNG DÍNH. KHÔNG CHẤP. BUÔNG. Câu nhớ: SOI ĐỂ THẤY ĐƯỜNG. KHÔNG PHẢI SOI ĐẾN MỨC BIẾN CÁI GƯƠNG THÀNH CĂN PHÒNG MÌNH Ở LUÔN TRONG ĐÓ.

VII. NĂM BƯỚC SOI TÂM

Một: SỰ KIỆN. Thực tế đã xảy ra gì? Chỉ nói phần mình biết. Không đoán ý. Hai: THỌ. Dễ chịu? Khó chịu? Trung tính? Thọ không phải toàn bộ câu chuyện cảm xúc. Ba: CÂU CHUYỆN. Tâm đang kể thêm gì? “TÔI VÔ GIÁ TRỊ.”

“HỌ LUÔN LUÔN NHƯ VẬY.”

“MỌI CHUYỆN HỎNG HẾT.”

Đó là: SỰ THẬT hay: DIỄN GIẢI? Bốn: NHÂN. Tham? Sân? Sợ? Chấp? Ngã? Cái gì đang nuôi phản ứng? Năm: VIỆC CẦN LÀM. Nói? Im? Sửa? Xin lỗi? Rời đi? Giữ ranh giới? Hay: KHÔNG CẦN LÀM GÌ THÊM VÀ: BUÔNG? Đây là: THẬT

→ THẤY

→ SOI

→ TUỆ

→ HÀNH

→ BUÔNG.

Câu nhớ: TÁCH SỰ KIỆN KHỎI: CÂU CHUYỆN LÀ MỘT TRONG NHỮNG CÁCH RẤT MẠNH ĐỂ TÂM LẤY LẠI QUYỀN NHÌN.

VIII. NHƯ LÝ TÁC Ý VÀ BỐN CÔNG THỨC

Khi một việc xảy ra: THẬT với sự kiện. Không bóp méo để bảo vệ mình. CHỮ TÍN: Không kể khác đi để giữ hình ảnh. THIỆN: Chọn phản ứng ít gây hại. GIỚI: Không để cách nhìn sai đẩy thân khẩu phạm. ĐỊNH: Không phản ứng ngay. TUỆ: Xét: DUYÊN. NHÂN. HẬU QUẢ. Đó là:

CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC.

Rồi: NHẬN. SOI. THẤY. KHÔNG DÍNH. KHÔNG CHẤP. BUÔNG.

AN.

Đó là:

CÔNG THỨC BUÔNG.

BỎ ÁC: Không nuôi cách nhìn dẫn tới bất thiện. LÀM LÀNH: Nuôi cách nhìn dẫn tới thiện. LÀM SẠCH TÂM: Dùng Tuệ thấy tham – sân – si tận gốc. Đó là:

CÔNG THỨC TAM TẠNG

CỦA CUỐN SÁCH, được dùng để ghi nhớ tinh thần cô đọng của Pháp Cú 183. Cuối cùng: THẤY. TỈNH. BUÔNG. SÁNG. Không phải vì: CẢNH BIẾN MẤT. Mà vì: TÂM ĐÃ BỚT NHÌN CẢNH QUA LỚP KÍNH DÀY CỦA: THAM, SÂN, SI. CÂU CUỐI: TÂM KHỔ KHÔNG CHỈ VÌ NHỮNG GÌ NÓ GẶP. NHIỀU KHI NÓ KHỔ THÊM VÌ: CÁCH NÓ ĐẶT MẮT VÀO NHỮNG GÌ NÓ GẶP.

NHƯ LÝ TÁC Ý KHÔNG DẠY MÌNH TỰ LỪA RẰNG: MỌI CHUYỆN ĐỀU TỐT. NÓ DẠY: CHUYỆN ĐÚNG THẾ NÀO THÌ: THẤY THẾ ẤY. NHÂN NÀO ĐANG NUÔI KHỔ: NHẬN RA. PHẦN NÀO CẦN SỬA: SỬA. PHẦN NÀO CHỈ LÀ TÂM ĐANG NHAI THÊM: BUÔNG.

CHƯƠNG 64
DUY THỨC – CÁCH TÂM NHẬN, GỌI TÊN, GHI NHỚ VÀ PHẢN ỨNG VỚI CẢNH

Yogācāra – Du-già hành tông, là một dòng tư tưởng lớn của Phật giáo Đại thừa Ấn Độ. Trong Đông Á, hệ thống này thường được biết nhiều qua tên: DUY THỨC. Một thuật ngữ then chốt: vijñapti-mātra. Có nhiều cách dịch như: Duy thức. Duy biểu. Chỉ là sự biểu hiện/nhận thức. Cách dịch và giải thích khác nhau theo học giả và truyền thống.

Các nguồn quan trọng gồm: Saṃdhinirmocana Sūtra – Kinh Giải Thâm Mật. Các trước tác liên hệ với: Asaṅga – Vô Trước. Vasubandhu – Thế Thân. Trong đó có: Triṃśikā – Tam Thập Tụng Duy Thức của Thế Thân. Cần phân biệt: VÔ TRƯỚC VÀ THẾ THÂN LÀ CÁC LUẬN SƯ. Không được gọi mọi câu trong luận của các ngài là nguyên văn lời Đức Phật.

Và Duy Thức không nên bị giản lược thành: “CHỈ CÓ TÂM, THẾ GIỚI BÊN NGOÀI KHÔNG TỒN TẠI.” Cách thực hành an toàn hơn: KINH NGHIỆM MÌNH ĐANG SỐNG LUÔN CÓ: CẢNH, VÀ: CÁCH TÂM ĐANG NHẬN, PHÂN LOẠI, GHI NHỚ, DIỄN GIẢI CẢNH ẤY.

CÂU NHỚ:

CẢNH LÀ MỘT CHUYỆN. CÂU CHUYỆN TÂM DỰNG QUANH CẢNH LẠI LÀ MỘT CHUYỆN KHÁC. NGƯỜI TU PHẢI THẤY CẢ HAI.

I. CÙNG MỘT CẢNH – NHIỀU THẾ GIỚI KINH NGHIỆM

Một người nói: “BÀI NÀY CÒN THIẾU.” Người thứ nhất nghe: “HỌ ĐANG GIÚP MÌNH SỬA.” Người thứ hai nghe:

“HỌ COI THƯỜNG TÔI.”

Người thứ ba nghe: “CHƯA BIẾT, ĐỂ KIỂM LẠI.” Âm thanh bên ngoài có thể giống nhau. Nhưng: KÝ ỨC KHÁC. TẬP KHÍ KHÁC. TỰ ÁI KHÁC. MONG ĐỢI KHÁC. nên: KINH NGHIỆM KHÁC. Điều này không có nghĩa: SỰ KIỆN BÊN NGOÀI KHÔNG TỒN TẠI. Mà: TÂM THAM GIA RẤT SÂU VÀO: CÁCH SỰ KIỆN ĐƯỢC KINH NGHIỆM.

Phật giáo sớm có những phân tích về: phassa – xúc, vedanā – thọ, saññā – tưởng, và các phản ứng có điều kiện. Duy Thức phát triển một hệ thống riêng về nhận thức và tập khí. Hai hệ thống có điểm có thể đối thoại, nhưng: KHÔNG ĐỒNG NHẤT. Câu nhớ: CẢNH

CẦN ĐƯỢC THẤY ĐÚNG.

CÁCH TÂM ĐANG KỂ VỀ CẢNH CŨNG CẦN ĐƯỢC THẤY ĐÚNG.

II. TÁM THỨC

Trong hệ Duy Thức Đông Á thường trình bày tám thức:

1. NHÃN THỨC.

2. NHĨ THỨC.

3. TỶ THỨC.

4. THIỆT THỨC.

5. THÂN THỨC.

6. Ý THỨC

– mano-vijñāna.

7. MẠT-NA THỨC

– manas.

8. A-LẠI-DA THỨC

– ālaya-vijñāna. Mạt-na thường được giải thích liên hệ tới sự chấp ngã tinh tế. A-lại-da thường dịch: TÀNG THỨC. THỨC CHỨA. Nhưng phải ghi rõ: ĐÂY LÀ HỆ THỐNG DUY THỨC. KHÔNG PHẢI

HỌC THUYẾT TÁM THỨC

CỦA KINH NIKĀYA. A-lại-da thức không phải: LINH HỒN. Không phải: MỘT CÁI TÔI THƯỜNG HẰNG. Trong hệ thống Duy Thức, nó vẫn là: PHÁP CÓ ĐIỀU KIỆN, BIẾN ĐỔI THEO DUYÊN. Câu nhớ: NẾU BIẾN A-LẠI-DA THÀNH: MỘT LINH HỒN TINH TẾ, THÌ: CÁI NGÃ ĐÃ QUAY TRỞ LẠI BẰNG: MỘT CÁI TÊN PHẬT HỌC.

III. CHỦNG TỬ – BĪJA

Bīja – chủng tử, hạt giống. Không phải: HẠT VẬT CHẤT NẰM TRONG ĐẦU. Đây là ngôn ngữ lý thuyết để nói tới: TIỀM NĂNG. TẬP KHÍ. KHUYNH HƯỚNG ĐƯỢC HUÂN TẬP. Nổi sân và làm theo sân nhiều lần: ĐƯỜNG SÂN DỄ LẶP. Sân sinh mà biết dừng nhiều lần: KHẢ NĂNG DỪNG CŨNG ĐƯỢC NUÔI. Câu hệ thống hóa của cuốn sách:

ĐỊNH LỰC LÀ LỊCH SỬ CỦA VÔ SỐ LẦN TÂM ĐÃ BIẾT TRỞ VỀ. THẤY. TỈNH. KHÔNG LÀM THEO. TRỞ VỀ. Lặp lại: TẠO MỘT HƯỚNG KHÁC CHO TÂM.

AN 6.63

của kinh điển sớm nhấn mạnh: cetanā – tác ý là nghiệp. Nhưng: KHÔNG DÙNG

AN 6.63

ĐỂ NÓI: KINH NIKĀYA ĐÃ DẠY A-LẠI-DA THỨC. Đây là hai hệ thống khác nhau. Điểm có thể nối ở thực hành: ĐỀU KHIẾN NGƯỜI TU CHÚ Ý SÂU TỚI: TÁC Ý VÀ: THÓI QUEN ĐANG ĐƯỢC TẠO. Câu nhớ: MỖI LẦN LẶP MỘT PHẢN ỨNG, MÌNH KHÔNG CHỈ GIẢI QUYẾT MỘT CHUYỆN. MÌNH CÒN ĐANG DẠY TÂM: LẦN SAU PHẢN ỨNG THẾ NÀO.

IV. TAM TÁNH

Sanskrit:

trisvabhāva – Tam Tánh.

1. parikalpita-svabhāva

– Biến kế sở chấp.

2. paratantra-svabhāva

– Y tha khởi.

3. pariniṣpanna-svabhāva

– Viên thành thật. BIẾN KẾ SỞ CHẤP: Tâm dựng, gán, rồi chấp phần mình dựng là thật cứng. Ví dụ: Người kia chưa trả lời tin nhắn. Sự kiện: CHƯA TRẢ LỜI. Tâm dựng: “HỌ GHÉT TÔI.”

“HỌ COI THƯỜNG TÔI.”

“TÔI KHÔNG ĐÁNG GIÁ.”

Phần dựng thêm không được tự động coi là sự thật. Y THA KHỞI: Các hiện tượng sinh do nhiều duyên. Người kia chưa trả lời có thể do: Bận. Không thấy. Không khỏe. Chưa muốn trả lời. Hoặc nhiều duyên khác.

Kinh nghiệm của mình

cũng do: Cảnh. Ký ức. Thọ. Tưởng. Tập khí. Tác ý. cùng góp phần. VIÊN THÀNH THẬT: Không phải: MỘT BẢN THỂ THƯỜNG HẰNG NẰM SAU THẾ GIỚI. Có thể hiểu thực hành:

THẤY DÒNG DUYÊN KHỞI

MÀ KHÔNG CHỒNG LÊN NÓ CÁI CHẤP

CHỦ THỂ – ĐỐI TƯỢNG

VÀ BẢN CHẤT DO TÂM TƯỞNG DỰNG. Câu nhớ: BIẾN KẾ: CÂU CHUYỆN MÌNH DỰNG. Y THA: DÒNG DUYÊN ĐANG VẬN HÀNH. VIÊN THÀNH: THẤY DÒNG DUYÊN MÀ BỚT CHẤP PHẦN MÌNH TỰ DỰNG LÀ: THẬT CỨNG.

V. MỘT LỜI CHÊ ĐI QUA TÂM NHƯ THẾ NÀO?

Có người nói: “ĐOẠN NÀY CHƯA CHÍNH XÁC.” Tai: Nghe. Ý thức: Hiểu câu. Ký ức: Có thể bật. Tập khí: Có thể khởi. Cái tôi: Có thể nói: “TÔI BỊ XÚC PHẠM.” Rồi: CÂU CHUYỆN LỚN DẦN. Ngay đây: THẬT: Họ thật sự đã nói gì? NHẬN: Khó chịu đang có. SOI: Đây là góp ý hay công kích? THẤY: Phần nào là sự kiện? Phần nào tâm đang dựng? Nếu đúng:

SỬA. Nếu sai: KHÔNG NHẬN ĐIỀU SAI. Nhưng: KHÔNG CẦN THÊM SÂN. KHÔNG DÍNH. KHÔNG CHẤP. BUÔNG.

AN.

THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

Câu nhớ: MỘT LỜI CHÊ LÀ MỘT SỰ KIỆN. “TÔI LÀ NGƯỜI VÔ GIÁ TRỊ” CÓ THỂ CHỈ LÀ: CÂU CHUYỆN TÂM DỰNG THÊM.

VI. DUY THỨC KHÔNG PHẢI “LUẬT HẤP DẪN”

Duy Thức không có nghĩa: NGHĨ GIÀU THÌ TIỀN TỰ TỚI. NGHĨ KHỎI BỆNH THÌ BỆNH TỰ HẾT.

NGHĨ NGƯỜI KHÁC TỐT

THÌ HỌ KHÔNG THỂ LÀM HẠI. Tâm ảnh hưởng rất lớn tới:

CÁCH MÌNH KINH NGHIỆM.

CÁCH MÌNH LỰA CHỌN.

CÁCH MÌNH HÀNH ĐỘNG.

THÓI QUEN MÌNH NUÔI. Nhưng: TÂM CÁ NHÂN KHÔNG PHẢI

NGUYÊN NHÂN DUY NHẤT

TẠO RA MỌI SỰ KIỆN BÊN NGOÀI. Còn có: Thân. Môi trường. Người khác. Điều kiện vật chất. Điều kiện xã hội. Và nhiều duyên khác. Không được nói với người đang chịu hại: “VÌ TÂM BẠN TẠO RA.” Câu nhớ: DUY THỨC BUỘC MÌNH CHỊU TRÁCH NHIỆM VỚI: CÁCH TÂM ĐANG NHẬN VÀ: HUÂN TẬP KINH NGHIỆM. NÓ KHÔNG TRAO CHO CÁI TÔI QUYỀN NĂNG TẠO TOÀN BỘ THẾ GIỚI THEO Ý MUỐN.

VII. DUY THỨC KHÔNG XÓA TRÁCH NHIỆM QUY ƯỚC

Nếu có người lừa: Lừa vẫn là lừa. Nếu có bạo lực: Vẫn phải bảo vệ. Nếu có bệnh: Vẫn cần chăm sóc thích hợp. Nếu tài liệu sai nguồn: Vẫn phải sửa nguồn. Không thể nói: “TẤT CẢ CHỈ LÀ THỨC” rồi: BỎ TRÁCH NHIỆM. Phải giữ đồng thời: SỰ KIỆN CẦN ĐƯỢC XỬ LÝ ĐÚNG. VÀ: TÂM KHÔNG CẦN DỰNG THÊM MỘT BẢN NGÃ KHỔ QUANH SỰ KIỆN.

Câu nhớ: KHÔNG PHẢI MỌI ĐAU KHỔ ĐỀU DO: MÌNH NGHĨ SAI. NHƯNG: CÁCH TÂM TIẾP NHẬN VÀ: NUÔI KINH NGHIỆM CÓ THỂ LÀM: KHỔ TĂNG HOẶC: KHỔ GIẢM.

VIII. DUY THỨC – TRUNG QUÁN – NHƯ LAI TẠNG

Ba dòng lớn không nên bị ép thành một câu. TRUNG QUÁN – Madhyamaka: Nhấn mạnh: DUYÊN KHỞI. TÁNH KHÔNG. KHÔNG TỰ TÍNH. DUY THỨC – Yogācāra: Phân tích sâu: NHẬN THỨC. TẬP KHÍ. HUÂN TẬP. CẤU TRÚC KINH NGHIỆM. NHƯ LAI TẠNG – tathāgatagarbha: Dùng hệ ngôn ngữ khác để nói tới khả năng giác ngộ và phiền não che phủ, tùy truyền thống giải thích.

Các truyền thống về sau có nhiều cách kết hợp ba dòng này. Không nên nói:

“HOÀN TOÀN GIỐNG NHAU.”

Cũng không cần biến chúng thành ba phe để tranh. Trong thực hành: TRUNG QUÁN HỎI: “CÁI TÔI ĐANG CHẤP CÓ TỰ TÍNH

ĐỘC LẬP THẬT KHÔNG?”

DUY THỨC HỎI: “TÂM ĐANG THÊM GÌ

VÀO KINH NGHIỆM NÀY?”

NHƯ LAI TẠNG HỎI: “CÓ CẦN ĐÓNG TRẠNG THÁI MÊ HIỆN TẠI THÀNH: BẢN ÁN VĨNH VIỄN CHO KHẢ NĂNG GIÁC NGỘ KHÔNG?” Rồi: THẬT: Phân biệt sự kiện và diễn giải. BỎ ÁC: Không tiếp tục huân tập phản ứng bất thiện. LÀM LÀNH: Lặp tác ý và hành vi thiện. GIỚI: Không cho tập khí xấu đi thành hành động.

ĐỊNH: Dừng được trước đường mòn cũ. TUỆ: Thấy: TÂM VÀ CẢNH ĐỀU NƯƠNG DUYÊN. NHẬN. SOI. THẤY. KHÔNG DÍNH. KHÔNG CHẤP. BUÔNG.

AN.

THẤY. TỈNH. BUÔNG. SÁNG. CÂU CUỐI: CẢNH ĐẾN, ĐỪNG VỘI TIN CÂU CHUYỆN ĐẦU TIÊN TÂM KỂ VỀ CẢNH. CẢNH CẦN ĐƯỢC THẤY ĐÚNG. TÂM KỂ CHUYỆN VỀ CẢNH CŨNG CẦN ĐƯỢC THẤY ĐÚNG. THÓI QUEN CẦN ĐƯỢC THẤY. TÁC Ý CẦN ĐƯỢC SỬA. GIỚI CẦN GIỮ. ĐỊNH CẦN NUÔI. TUỆ CẦN SÁNG. VÀ MỖI LẦN TÂM KHÔNG CHẠY LẠI ĐƯỜNG CŨ, MÌNH KHÔNG CHỈ BUÔNG MỘT PHẢN ỨNG.

MÌNH CÒN ĐANG DẠY TÂM: MỘT CON ĐƯỜNG MỚI.

CHƯƠNG 65
THIỀN TÔNG – TRỰC CHỈ NHÂN TÂM NHƯNG KHÔNG PHỦ NHẬN KINH ĐIỂN

Trong Thiền tông Đông Á thường truyền bốn câu: 教外別傳 Giáo ngoại biệt truyền. 不立文字 Bất lập văn tự. 直指人心 Trực chỉ nhân tâm. 見性成佛 Kiến tánh thành Phật. Cần ghi chú rõ: Đây là khẩu hiệu Thiền tông hình thành trong lịch sử truyền thống Đông Á, thường được gắn với tinh thần của Bồ-đề-đạt-ma.

Không nên gọi cả bốn câu này là nguyên văn lời Đức Phật. Cũng không nên khẳng định đây chắc chắn là một bài kệ do chính Bồ-đề-đạt-ma để lại nếu không có chứng cứ lịch sử tương ứng. Các nguồn Thiền tông về sau rất phong phú, như: Lục Tổ Đàn Kinh. Các ngữ lục Thiền sư. Lâm Tế Lục.

Các đăng lục. Các tập công án. Thiền tông không phải một con đường tách khỏi Phật pháp. Nếu bỏ: GIỚI. ĐỊNH. TUỆ. DUYÊN KHỞI. VÔ NGÃ. BÁT-NHÃ. thì cái gọi là “Thiền” rất dễ chỉ còn: CẢM GIÁC RIÊNG CỦA CHÍNH MÌNH.

CÂU NHỚ:

THIỀN KHÔNG PHẢI TIN MỌI THỨ VỪA LÓE LÊN TRONG ĐẦU. THIỀN LÀ THẤY TRỰC TIẾP ĐẾN MỨC: NHỮNG GÌ TÂM ĐANG DỰNG KHÔNG CÒN DỄ LỪA ĐƯỢC MÌNH.

I. TRỰC CHỈ NHÂN TÂM

“Trực chỉ nhân tâm” thường được hiểu: CHỈ THẲNG TÂM NGƯỜI. Nhưng không nên đi tìm một “cái tâm” như một vật bí mật. Tâm đang ở ngay: Khi tham sinh. Khi sân sinh. Khi sợ sinh. Khi muốn được khen. Khi khó chịu vì bị chê. Khi chữ: “TÔI” đang được bảo vệ. Người mắng: Sân bật lên. TÂM Ở ĐÂY.

Một món đẹp: Tham bật lên. TÂM Ở ĐÂY. Một người khen: Ngã vui lên. TÂM Ở ĐÂY. Trực chỉ trước hết là: KHÔNG CHẠY KHỎI CÁI ĐANG VẬN HÀNH. THẤY. TỈNH. BUÔNG. SÁNG. Câu nhớ: MUỐN THẤY TÂM KHÔNG NHẤT THIẾT PHẢI TÌM ĐIỀU BÍ MẬT. HÃY NHÌN: CHÍNH CÁI ĐANG THAM, ĐANG SÂN, ĐANG SỢ, ĐANG NẮM

TRONG GIÂY PHÚT NÀY.

II. BẤT LẬP VĂN TỰ KHÔNG PHẢI BỎ KINH

Nếu “bất lập văn tự” có nghĩa: Không cần kinh. Không cần học. Không cần nguồn. thì chính lịch sử Thiền tông đã không có: Đàn Kinh. Ngữ lục. Thi kệ. Chú giải. Công án.

Kinh luận

được Thiền sư sử dụng. Ý sâu hơn là: ĐỪNG LẤY CHỮ LÀM: THỰC TẠI. Đọc: “VÔ THƯỜNG.” Thuộc:

“CÁC HÀNH VÔ THƯỜNG.”

chưa đồng nghĩa đã thấy vô thường. Phải nhìn: Thân đang đổi. Thọ đang đổi. Tâm đang đổi. Hoàn cảnh đang đổi. VĂN TỰ: CHỈ ĐƯỜNG. KHÔNG PHẢI: ĐÍCH ĐẾN. Đây tương ứng đẹp với: Y NGHĨA BẤT Y NGỮ. Nhưng: Y NGHĨA không có nghĩa: “TÔI MUỐN HIỂU SAO CŨNG ĐƯỢC.” Nghĩa vẫn cần: PHÁP.

NGUỒN.

GIỚI. ĐỊNH. TUỆ. Câu nhớ: KHÔNG CHẤP CHỮ KHÔNG CÓ NGHĨA COI THƯỜNG CHỮ. LÀ: DÙNG CHỮ ĐỂ TỚI NGHĨA, RỒI: KHÔNG ĐỘI CHỮ LÊN ĐẦU THAY CHO: CÁI THẤY.

III. KIẾN TÁNH KHÔNG PHẢI MỘT CÁI NGÃ CAO CẤP

Thiền tông thường nói: KIẾN TÁNH – THẤY TÁNH. Nhưng phải cẩn thận. Không nên hiểu: Có một: BẢN NGÃ THẬT, THANH TỊNH, BẤT BIẾN nằm sâu bên trong. Các truyền thống Thiền giải thích chữ “tánh” qua nhiều hệ tư tưởng: BÁT-NHÃ. TÁNH KHÔNG. PHẬT TÁNH. NHƯ LAI TẠNG. và các cách giải riêng của từng tông phái.

Không được gộp tất cả thành: MỘT LINH HỒN PHẬT GIÁO. Nếu một cái thấy làm mình: NGÃ LỚN HƠN. KHINH NGƯỜI HƠN. TỰ THẤY ĐẶC BIỆT HƠN. thì: PHẢI SOI LẠI. Một cái thấy đúng phải đi cùng: THAM GIẢM. SÂN GIẢM. SI GIẢM. CHẤP NHẸ. GIỚI VỮNG. BI LỚN. Câu nhớ: NẾU “KIẾN TÁNH” LÀM CÁI TÔI LỚN LÊN, THÌ CÓ THỂ:

CÁI MÌNH VỪA THẤY RÕ NHẤT CHƯA PHẢI “TÁNH”, MÀ LÀ: CÁI NGÃ ĐANG MẶC ÁO THIỀN.

IV. ĐỐN NGỘ KHÔNG CÓ NGHĨA HẾT TẬP KHÍ TRONG MỘT GIÂY

Thiền tông nổi tiếng với ngôn ngữ: ĐỐN NGỘ. Tùy truyền thống, cách hiểu và nhấn mạnh khác nhau. Nhưng phải phân biệt: MỘT KHOẢNH KHẮC THẤY với: TOÀN BỘ QUÁ TRÌNH CHUYỂN HÓA TẬP KHÍ. Một người có thể thấy rất sâu trong một khoảnh khắc. Nhưng: Thói quen sân. Tham. Tự ái. Tập khí cũ.

vẫn có thể tiếp tục xuất hiện. Vì vậy, trong nhiều truyền thống Thiền vẫn có tinh thần: NGỘ RỒI CÒN TU, dù cách diễn đạt khác nhau. Không nên nghĩ: “TÔI CÓ

MỘT TRẢI NGHIỆM MẠNH,

NÊN: MỌI TẬP KHÍ ĐÃ HẾT.” Chương Duy Thức giúp hiểu: ĐƯỜNG MÒN ĐÃ ĐI NHIỀU NĂM CẦN: NHIỀU LẦN KHÔNG ĐI LẠI. Công thức hệ thống hóa: ĐỊNH LỰC LÀ LỊCH SỬ CỦA VÔ SỐ LẦN TÂM ĐÃ BIẾT TRỞ VỀ. Câu nhớ: THẤY CỬA CÓ THỂ RẤT NHANH. BƯỚC HẾT CON ĐƯỜNG BẰNG: THÂN – KHẨU – Ý VẪN CẦN: CÔNG PHU.

V. CÔNG ÁN KHÔNG PHẢI CÂU ĐỐ MẸO

Trong một số dòng Thiền, đặc biệt những truyền thống sử dụng công án, người học gặp: Những câu hỏi. Những đối đáp. Những câu chuyện khó giải bằng suy luận thông thường. Công án không nên hiểu là: CÂU ĐỐ IQ PHẬT GIÁO. Trong hệ thống tu tập sử dụng công án, nó có thể nhằm: ĐÁNH VÀO

THÓI QUEN KHÁI NIỆM.

CÁCH TÂM CHIA ĐÔI. CÁI MUỐN: “HIỂU” RỒI: SỞ HỮU ĐÁP ÁN. Nhưng: Không phải ai cũng phải tu công án. Không phải mọi trường phái Thiền sử dụng công án giống nhau. Không nên: TỰ ĐOÁN MỘT CÂU TRẢ LỜI LẠ rồi nghĩ: “TÔI NGỘ.” Trong truyền thống, công án thường nằm trong một hệ thống hướng dẫn thực hành.

Câu nhớ: CÔNG ÁN KHÔNG PHẢI ĐỂ CÁI ĐẦU THÔNG MINH THẮNG MỘT CÂU ĐỐ. NÓ DÙNG CHÍNH CHỖ CÁI ĐẦU BÍ ĐỂ SOI: GIỚI HẠN CỦA THÓI QUEN NẮM BẰNG KHÁI NIỆM.

VI. THIỀN KHÔNG CHỈ Ở TRÊN BỒ ĐOÀN

Nếu Thiền chỉ có lúc ngồi, thì đứng dậy: MẤT THIỀN. Trong đời sống Thiền có tinh thần rất mạnh: TU TRONG: ĐI. ĐỨNG. NẰM. NGỒI. ĂN. UỐNG. LÀM VIỆC. NÓI. IM. Điều này có thể đối thoại với nền: TỨ NIỆM XỨ. Biết: THÂN TRONG THÂN. THỌ TRONG THỌ. TÂM TRONG TÂM. PHÁP TRONG PHÁP. Không nên nói: Thiền tông và Tứ Niệm Xứ là:

MỘT HỆ THỐNG

HOÀN TOÀN GIỐNG NHAU.

Nhưng có điểm thực hành gặp: TRỞ VỀ CÁI ĐANG XẢY RA. Rửa chén: Biết đang rửa. Nghe chê: Biết tâm nóng. Nói: Biết tâm nào chuẩn bị nói. Làm việc: Biết thân mệt hay: CÁI NGÃ ĐANG ÉP. Câu nhớ: ĐỊNH TRONG KHI NGỒI: LÀ TẬP. ĐỊNH TRONG KHI SỐNG: LÀ THI. MỘT GIỜ NGỒI RẤT YÊN CHƯA ĐỦ NẾU: VỪA ĐỨNG DẬY MỘT LỜI CHÊ ĐÃ KÉO CẢ TÂM ĐI.

VII. THIỀN PHẢI ĐƯỢC KIỂM BẰNG GIỚI VÀ ĐỜI SỐNG

Có người nói:

“TÔI SỐNG TỰ NHIÊN.”

“TÔI VÔ PHÂN BIỆT.”

“TÔI KHÔNG CHẤP GIỚI.”

Rồi: Làm hại. Nói dối. Vượt ranh giới. Phóng túng. Không thể tự động gọi đó là: THIỀN. Một trải nghiệm phi nhị nguyên không xóa: NHÂN QUẢ QUY ƯỚC. Tánh Không không xóa: TRÁCH NHIỆM. Vô trụ không xóa: GIỚI. Bất lập văn tự không xóa: SỰ THẬT. Phải kiểm: THÂN

CÓ BỚT LÀM HẠI KHÔNG?

MIỆNG CÓ BỚT ĐỘC KHÔNG? TÂM CÓ BỚT

THAM – SÂN – SI KHÔNG?

GẶP NGHỊCH CÓ BỚT ĐỔ KHÔNG? SAI CÓ SỬA ĐƯỢC KHÔNG? Nếu chưa: TIẾP TỤC TU. Câu nhớ:

MỘT TRẠNG THÁI THIỀN

CÓ THỂ RẤT ĐẸP. NHƯNG: ĐỜI SỐNG SAU TRẠNG THÁI ẤY MỚI CHO BIẾT: PHÁP ĐÃ XUỐNG TỚI ĐÂU.

VIII. THIỀN TÔNG VÀ BỐN CÔNG THỨC

Một niệm sân sinh. THẬT: Sân đang có. Không che bằng câu: “TÔI ĐANG Ở BẢN TÂM.” THẤY: Sân. TỈNH: Không chạy theo. GIỚI: Không cho sân thành lời hại. ĐỊNH: Tâm biết trở về. TUỆ: Thấy sân do duyên, không phải: TÔI. NHẬN. SOI. THẤY. KHÔNG DÍNH: Vào sân. KHÔNG CHẤP: Vào một cái tôi bị xúc phạm.

BUÔNG: Ý trả đũa.

AN.

Ngay đó: BỎ ÁC: Không đi theo sân. LÀM LÀNH: Chọn lời đúng hơn. LÀM SẠCH TÂM: Thấy tận cái ngã đang bị chạm. Đó là: THIỀN ĐANG SỐNG. Không nhất thiết phải có: ÁNH SÁNG LẠ. TRẠNG THÁI LẠ. LỜI NÓI HUYỀN BÍ. CÂU CUỐI: TRỰC CHỈ NHÂN TÂM KHÔNG PHẢI: CHỈ THẲNG VÀO MỘT CÁI GÌ HUYỀN BÍ. MÀ LÀ:

KHÔNG TRỐN KHỎI CHÍNH TÂM ĐANG VẬN HÀNH. BẤT LẬP VĂN TỰ KHÔNG PHẢI: BỎ KINH. MÀ LÀ: KHÔNG DỪNG Ở CHỮ. KIẾN TÁNH KHÔNG PHẢI: DỰNG MỘT CÁI NGÃ THANH TỊNH. MÀ LÀ: CÁI THẤY PHẢI LÀM CHẤP NHẸ ĐI. ĐỐN NGỘ KHÔNG PHẢI: GIẤY MIỄN TU. THẤY RỒI: CÀNG PHẢI ĐEM CÁI THẤY VÀO: THÂN. KHẨU. Ý. THIỀN KHÔNG PHẢI MỘT TRẠNG THÁI ĐỂ SỞ HỮU.

THIỀN LÀ: KHẢ NĂNG TRỞ VỀ, THẤY ĐÚNG, KHÔNG BỊ NIỆM CŨ KÉO ĐI, RỒI: SỐNG SÁNG HƠN NGAY TRONG: ĐỜI THƯỜNG.

CHƯƠNG 66
TỊNH ĐỘ – TÍN, NGUYỆN, HẠNH, NIỆM PHẬT VÀ ĐẠI NGUYỆN KHÔNG RỜI NHÂN QUẢ

Trong Phật giáo Đại thừa Đông Á, Tịnh Độ là một pháp môn có ảnh hưởng rất rộng. Những kinh căn bản thường được nhắc tới gồm: KINH VÔ LƯỢNG THỌ – bản kinh lớn liên hệ tới Đức Phật A Di Đà, Pháp Tạng và các đại nguyện. KINH A DI ĐÀ – bản kinh ngắn nói về cõi Cực Lạc và pháp niệm Phật.

KINH QUÁN VÔ LƯỢNG THỌ

– trình bày những phép quán và các tầng thực hành Tịnh Độ theo truyền thống Đại thừa Đông Á. Trong quá trình phát triển, Tịnh Độ thường được cô đọng bằng: TÍN. NGUYỆN. HẠNH. Đây là cách hệ thống hóa rất quen thuộc của truyền thống Tịnh Độ Đông Á. Không nên gọi giản đơn “Tín – Nguyện – Hạnh” là một câu công thức nguyên văn duy nhất Đức Phật nói trong một chỗ kinh.

Tịnh Độ cũng không nên bị hiểu thành:

“CHỈ CẦN CẦU PHẬT CỨU,

CÒN ĐỜI NÀY

SỐNG THẾ NÀO CŨNG ĐƯỢC.”

Niệm Phật đúng phải đi cùng: HƯỚNG TÂM. ĐẠO ĐỨC. CHÁNH NIỆM. ĐẠI NGUYỆN. SỰ CHUYỂN HÓA THÂN – KHẨU – Ý.

CÂU NHỚ:

NIỆM PHẬT KHÔNG PHẢI XIN ĐỨC PHẬT ĐI THAY CON ĐƯỜNG CỦA MÌNH. MÀ LÀ: LÀM CHO TÂM NGÀY CÀNG BIẾT QUAY VỀ MỘT HƯỚNG: THANH TỊNH. CÓ NGUYỆN. CÓ HẠNH.

I. A DI ĐÀ

AMITĀBHA – AMITĀYUS

Sanskrit:

Amitābha – Vô Lượng Quang. Amitāyus – Vô Lượng Thọ. Các bản kinh và truyền thống dùng những danh hiệu này trong những ngữ cảnh khác nhau. Không nên hiểu: “VÔ LƯỢNG QUANG” chỉ là: ÁNH SÁNG VẬT LÝ. Trong truyền thống, ánh sáng còn gợi tới: TRÍ. CÔNG ĐỨC. SỰ NHIẾP HÓA. SỰ CHIẾU SOI.

Nhưng cũng không nên biến Đức Phật A Di Đà chỉ thành:

MỘT KHÁI NIỆM TÂM LÝ.

Tịnh Độ truyền thống thật sự quy hướng: ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ VÀ: CÕI CỰC LẠC. Ở tầng thực hành, mỗi câu Phật hiệu cũng cần hỏi: TÂM MÌNH ĐANG ĐI VỀ ĐÂU? Miệng niệm Phật mà đời sống đi ngược: SỰ THẬT. GIỚI. THIỆN. TỪ BI. thì: CẦN SOI LẠI. Câu nhớ: DANH HIỆU HƯỚNG TÂM VỀ PHẬT. ĐỜI SỐNG PHẢI TỪNG BƯỚC HỌC CÁCH KHÔNG ĐI NGƯỢC HƯỚNG ẤY.

II. TÍN

Tín trong Tịnh Độ không phải: TIN MÙ. Có thể hiểu gồm: Tin đủ vào kinh và pháp môn để bước vào thực hành. Tin vào đại nguyện của Đức Phật A Di Đà theo hệ kinh Tịnh Độ. Tin rằng một tâm đang mê vẫn có thể chuyển hướng. Tin rằng niệm Phật không phải việc vô nghĩa. Nhưng Tín phải đi cùng:

TUỆ. Không lấy: TIN ĐỒN. CHUYỆN LẠ. TRUYỀN MIỆNG. thay cho: KINH VÀ:

NGUỒN.

Tứ Y đi vào đây: Y PHÁP. Y NGHĨA. Câu nhớ: TÍN ĐÚNG KHÔNG LÀM MÌNH NHẮM MẮT. TÍN CHO MÌNH ĐỦ LÒNG ĐỂ BƯỚC. TUỆ GIÚP MÌNH KHÔNG BƯỚC SAI ĐƯỜNG.

III. NGUYỆN

Nguyện là: XÁC ĐỊNH HƯỚNG TÂM. Trong truyền thống Tịnh Độ: Nguyện sinh Cực Lạc. Nguyện gần Phật. Nguyện tiếp tục con đường giác ngộ. Nguyện không để đời sống này chỉ trôi theo: THAM. SÂN. SI. Nhưng phải phân biệt: NGUYỆN với: ĐÒI. Nguyện nói: “ĐÂY LÀ HƯỚNG TÔI MUỐN TU.” Đòi nói: “PHẬT PHẢI LÀM THEO Ý TÔI.”

Không biến pháp môn thành: MẶC CẢ. Không nghĩ: “NIỆM BAO NHIÊU THÌ PHẬT PHẢI CHO BẤY NHIÊU.” Câu nhớ: NGUYỆN CHO TÂM MỘT PHƯƠNG HƯỚNG. CHẤP

BIẾN PHƯƠNG HƯỚNG ẤY

THÀNH: MỘT HỢP ĐỒNG ĐÒI KẾT QUẢ.

IV. HẠNH

Hạnh không thể chỉ ở miệng. Niệm: NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT rất nhiều, nhưng: Nói dối. Mắng. Chia rẽ. Làm hại. thì phải hỏi: PHẬT HIỆU ĐÃ XUỐNG TỚI TÂM CHƯA? Các truyền thống Tịnh Độ có nhiều phương pháp: Xưng danh. Lễ Phật. Tụng kinh. Quán tưởng. Phát nguyện. Hồi hướng. Tu thiện. Nhưng một nguyên tắc quan trọng:

THÂN – KHẨU – Ý PHẢI DẦN: CHUYỂN. Khi sân: A DI ĐÀ PHẬT. Không phải: ĐÈ SÂN. Mà: NHỚ HƯỚNG CỦA TÂM. Khi tham: A DI ĐÀ PHẬT. Không phải: TRỐN THAM. Mà: THẤY THAM VÀ: KHÔNG GIAO TAY LÁI CHO THAM. Câu nhớ: PHẬT HIỆU KHÔNG PHẢI: CÁI NẮP ĐẬY PHIỀN NÃO. PHẬT HIỆU CÓ THỂ TRỞ THÀNH: TIẾNG CHUÔNG NHẮC MÌNH:

QUAY VỀ TRƯỚC KHI PHIỀN NÃO THÀNH: NGHIỆP.

V. NIỆM PHẬT VÀ ĐỊNH

Trong Kinh A Di Đà có cụm từ nổi tiếng: NHẤT TÂM BẤT LOẠN, tùy bản dịch và truyền thống giải thích. Không nên giản lược thành: “ĐẦU PHẢI HOÀN TOÀN KHÔNG CÓ Ý NGHĨ.” Trong thực hành: Tâm tán: BIẾT TÁN. Rồi: TRỞ VỀ PHẬT HIỆU. Lại tán: LẠI TRỞ VỀ. Đây là: ĐỊNH LỰC = KHẢ NĂNG TRỞ VỀ. Không cần ghét vọng niệm.

Mỗi lần biết mình đi và: TRỞ LẠI là một lần: NIỆM VÀ: ĐỊNH ĐƯỢC TẬP. THẬT: Tâm đang tán. GIỚI: Đời sống không tự phá tâm. ĐỊNH: Trở về danh hiệu. TUỆ: Biết vọng niệm sinh rồi diệt. LỰC: Ngày càng biết trở về. Câu nhớ: NIỆM PHẬT KHÔNG PHẢI CUỘC CHIẾN GIẾT MỌI VỌNG NIỆM. LÀ: HUẤN LUYỆN MỘT TÂM BIẾT:

MÌNH ĐI VÀ: BIẾT ĐƯỜNG QUAY VỀ.

VI. THA LỰC VÀ TỰ LỰC

Trong các truyền thống Tịnh Độ có những cách nhấn mạnh khác nhau về: THA LỰC – đại nguyện và sự nhiếp thọ của Đức Phật A Di Đà. TỰ LỰC – phần phát tâm, niệm Phật, giữ giới, tu tập của người hành trì. Các tông phái không giải thích hai khái niệm này hoàn toàn giống nhau. Không nên ép một cách hiểu cho mọi truyền thống.

Nhưng phải tránh: DÙNG THA LỰC ĐỂ: BỎ TRÁCH NHIỆM. Tin đại nguyện không có nghĩa: PHÁ GIỚI TÙY Ý. Niệm Phật không có nghĩa: KHỎI SỬA TÂM. Đồng thời cũng không nên: NGÃ MẠN rằng: “TẤT CẢ CHỈ DO SỨC TÔI.” Có thể nhớ: NƯƠNG MÀ: VẪN TU. TU MÀ: KHÔNG NGÃ MẠN. Câu nhớ: NƯƠNG PHẬT KHÔNG PHẢI: THÔI BƯỚC.

LÀ: BƯỚC VỚI MỘT HƯỚNG QUY Y, MỘT ĐẠI NGUYỆN, VÀ: MỘT NIỀM TIN LỚN HƠN CÁI TÔI TỰ XOAY SỞ.

VII. TỊNH ĐỘ KHÔNG CHỈ ĐỢI LÚC CHẾT

Không nên nghĩ: Tịnh Độ chỉ là pháp môn của giờ cuối đời. Ngay hôm nay: SÂN: NIỆM PHẬT VÀ TRỞ VỀ. THAM: NIỆM PHẬT VÀ TRỞ VỀ. LO: NIỆM PHẬT VÀ TRỞ VỀ. TRƯỚC MỘT LỜI ĐỘC: NIỆM PHẬT VÀ DỪNG. Nhưng Phật hiệu không thay: THUỐC KHI CÓ BỆNH. SỬA KHI CÓ SAI. TRÁCH NHIỆM KHI CÓ VIỆC. Câu Phật hiệu trở thành:

TRỤC TÂM. Nguyện về Cực Lạc không làm: HÔM NAY thành vô nghĩa. Chính hôm nay là nơi: MÌNH ĐANG HỌC CÁCH QUAY VỀ. Câu nhớ: NGUYỆN VỀ CỰC LẠC KHÔNG LÀM HÔM NAY TRỞ THÀNH: VÔ NGHĨA. CHÍNH HÔM NAY LÀ NƠI: MÌNH ĐANG HỌC CÁCH QUAY VỀ.

VIII. TỊNH ĐỘ VÀ BỐN CÔNG THỨC

Khi niệm: NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT. “Nam mô” thường được giải theo tinh thần: QUY MẠNG. QUY KÍNH. NƯƠNG VỀ. KÍNH LỄ. tùy truyền thống và cách dịch. Không nên chỉ biến danh hiệu thành: ÂM THANH CẦU MAY. Nếu đang sân: THẬT: Sân đang có. THẤY: Sân. TỈNH: Chưa nói theo sân. PHẬT HIỆU: NHẮC TÂM TRỞ VỀ.

GIỚI: Không hại. ĐỊNH: Ở lại với một hướng. TUỆ: Thấy sân do duyên. Rồi: NHẬN. SOI. THẤY. KHÔNG DÍNH: Vào câu: “TÔI PHẢI TRẢ.” KHÔNG CHẤP: “NGƯỜI KIA XẤU MÃI.” BUÔNG.

AN.

Ngay đó: BỎ ÁC: Không theo sân. LÀM LÀNH: Chọn hành động thiện hơn. LÀM SẠCH TÂM: Thấy cái chấp bên dưới. THẤY. TỈNH. BUÔNG. SÁNG. TÍN: Cho tâm một chỗ nương. NGUYỆN: Cho tâm một hướng. HẠNH: Làm hướng ấy THÀNH: ĐỜI SỐNG. CÂU CUỐI: TỊNH ĐỘ KHÔNG PHẢI MỘT CÁCH TRỐN KHỎI NHÂN QUẢ. TỊNH ĐỘ LÀ MỘT CON ĐƯỜNG QUY HƯỚNG:

LẤY PHẬT LÀM HƯỚNG. LẤY NGUYỆN LÀM TRỤC. LẤY HẠNH LÀM BƯỚC. TÍN MÀ KHÔNG HẠNH: DỄ THÀNH MONG CHỜ. HẠNH MÀ KHÔNG NGUYỆN: DỄ THÀNH THÓI QUEN KHÔNG HƯỚNG. NGUYỆN MÀ KHÔNG: GIỚI – ĐỊNH – TUỆ THÌ: DỄ THÀNH ƯỚC MUỐN. NIỆM PHẬT CHO ĐẾN CUỐI CÙNG KHÔNG PHẢI CHỈ ĐỂ: MIỆNG CÓ MỘT CÂU. MÀ ĐỂ: TÂM NGÀY CÀNG BIẾT ĐƯỜNG TRỞ VỀ, THÂN – KHẨU – Ý NGÀY CÀNG ÍT ĐI NGƯỢC HƯỚNG:

GIÁC NGỘ.

CHƯƠNG 67
NIẾT-BÀN – KHÔNG PHẢI CHẾT, KHÔNG PHẢI HƯ VÔ

CÁI KHỔ DO CHẤP THỦ NUÔI DƯỠNG

Pāli:

Nibbāna.

Sanskrit:

Nirvāṇa. Niết-bàn là một trong những thuật ngữ quan trọng nhất của Phật giáo và cũng là một trong những chữ dễ bị hiểu sai nhất. Có người nghĩ: NIẾT-BÀN = CHẾT. Có người nghĩ:

NIẾT-BÀN = BIẾN MẤT.

Có người nghĩ: NIẾT-BÀN = MỘT CÕI Ở ĐÂU ĐÓ. Không nên giản lược như vậy. Trong kinh điển sớm, Niết-bàn được mô tả bằng nhiều cách. Một mạch rất quan trọng trong Tương Ưng Bộ, Asaṅkhata Saṃyutta – Tương Ưng Vô Vi,

SN 43,

liên hệ pháp vô vi với sự đoạn tận: rāga – tham ái. dosa – sân. moha – si. Trong Tứ Diệu Đế, nirodha – Diệt đế liên hệ tới sự đoạn tận, ly tham, từ bỏ, giải thoát khỏi ái.

CÂU NHỚ:

NIẾT-BÀN KHÔNG BẮT ĐẦU TỪ VIỆC HỎI: “SAU KHI CHẾT TÔI ĐI ĐÂU?” MÀ BẮT ĐẦU TỪ VIỆC NHÌN: NGAY BÂY GIỜ, THAM CÓ THỂ TẮT KHÔNG? SÂN CÓ THỂ TẮT KHÔNG? SI CÓ THỂ ĐƯỢC THẤY XUYÊN QUA KHÔNG?

I. NIẾT-BÀN KHÔNG PHẢI CÁI CHẾT

Nếu Niết-bàn chỉ có nghĩa: CHẾT, thì không cần: GIỚI. ĐỊNH. TUỆ. BÁT CHÁNH ĐẠO. TỨ NIỆM XỨ. TỨ CHÁNH CẦN. Trong kinh, các bậc giải thoát vẫn có thể: Đi. Đứng. Ăn. Nói. Dạy. Sống. sau khi chứng ngộ. Vì vậy phải phân biệt: SỰ GIẢI THOÁT ĐƯỢC CHỨNG KHI CÒN SỐNG với: NHỮNG THẢO LUẬN VỀ TÌNH TRẠNG SAU KHI BẬC GIẢI THOÁT QUA ĐỜI.

Không nên gom hai vấn đề thành một. Ngay khi: SÂN KHÔNG CÒN BẮT MÌNH TRẢ ĐŨA, THAM KHÔNG CÒN BẮT MÌNH CHIẾM, SI KHÔNG CÒN DỄ BẮT MÌNH TIN SAI, mình có thể thấy: HƯỚNG CỦA TỊCH DIỆT. Nhưng không được nói: “MỘT LẦN HẾT SÂN VÀI PHÚT

LÀ ĐÃ CHỨNG NIẾT-BÀN.”

Câu nhớ: NIẾT-BÀN KHÔNG PHẢI ĐỢI THÂN DỪNG MỚI CÓ Ý NGHĨA. CON ĐƯỜNG NIẾT-BÀN PHẢI ĐƯỢC SỐNG NGAY KHI THÂN NÀY CÒN ĐANG THỞ.

II. HÌNH ẢNH “TẮT”

Nirvāṇa / Nibbāna thường được liên hệ với hình ảnh: NGỌN LỬA TẮT. Nhưng cần hỏi: TẮT CÁI GÌ? Trong thực hành: THAM TẮT. SÂN TẮT. SI TẮT. Lửa tham: Muốn nắm. Lửa sân: Muốn đẩy. Lửa si: Không thấy đúng. Ba lửa ấy làm tâm cháy. Một cách diễn giải thực hành: NIẾT-BÀN LÀ LỬA PHIỀN NÃO KHÔNG CÒN NHIÊN LIỆU ĐỂ TIẾP TỤC CHÁY.

Nhưng đây là: HÌNH ẢNH GIÚP THỰC HÀNH. Không nên dùng một hình ảnh duy nhất để đóng khung mọi cách kinh điển nói về Niết-bàn.

III. NIẾT-BÀN KHÔNG PHẢI HƯ VÔ

Không có một tự ngã thường hằng không đồng nghĩa: “GIẢI THOÁT LÀ KHÔNG CÒN GÌ.” Nếu nói: Có một cái ngã thật tồn tại mãi mãi, rơi vào một cực. Nếu nói: Có một cái ngã thật bị tiêu diệt thành hư vô, lại dựng chính cái ngã ấy rồi mới tiêu diệt nó. Nguồn quan trọng:

SN 12.15

– Kaccānagotta Sutta,

Kinh Ca-chiên-diên Thị.

Mạch duyên khởi tránh hai cực: “TẤT CẢ TỒN TẠI” và:

“TẤT CẢ KHÔNG TỒN TẠI.”

Vì vậy không nên hỏi: “CÁI TÔI ĐI ĐÂU?” như thể: một cái tôi độc lập, bất biến đã được xác nhận từ đầu. Câu nhớ: NIẾT-BÀN KHÔNG PHẢI

HỦY MỘT CÁI NGÃ THẬT.

PHẬT PHÁP TRƯỚC HẾT ĐÃ CHỈ RA: CÁI NGÃ ĐỘC LẬP, BẤT BIẾN LÀ ĐIỀU MÌNH ĐANG CHẤP.

IV. DIỆT ĐẾ

Nguồn nền:

SN 56.11

– Kinh Chuyển Pháp Luân. Tứ Diệu Đế: KHỔ. TẬP. DIỆT. ĐẠO. Diệt đế không có nghĩa: ĐÈ CẢM XÚC. KHÔNG ĐƯỢC BUỒN. KHÔNG ĐƯỢC ĐAU. KHÔNG CẢM THẤY GÌ. Diệt đế liên hệ tới: ĐOẠN TẬN ÁI. Có đau: Biết đau. Có mất: Biết mất. Thân bệnh: Biết cảm giác. Nhưng tâm không nhất thiết phải thêm: “CÁI NÀY PHẢI KHÁC.”

“TÔI PHẢI GIỮ MÃI.” “TÔI PHẢI TRẢ.” Điểm được nhổ: ÁI. CHẤP THỦ. Công thức Buông: NHẬN. SOI. THẤY. KHÔNG DÍNH. KHÔNG CHẤP. BUÔNG.

AN.

Đây là:

CÔNG THỨC

HỆ THỐNG HÓA ĐỂ THỰC HÀNH, không phải nguyên văn định nghĩa Niết-bàn trong kinh. Câu nhớ: DIỆT KHÔNG PHẢI LÀM CHO ĐỜI HẾT CẢM GIÁC. LÀ: LÀM CHO ÁI VÀ CHẤP KHÔNG CÒN BIẾN MỌI CẢM GIÁC THÀNH: DÂY TRÓI.

V. NIẾT-BÀN KHÔNG PHẢI MỘT TRẠNG THÁI DỄ CHỊU ĐỂ SỞ HỮU

Tâm có thể: RẤT YÊN. RẤT NHẸ. RẤT HỶ. RẤT LẠC. Nhưng không nên vội nói: “ĐÂY LÀ NIẾT-BÀN.” Những trạng thái thiền định có thể rất sâu. Nhưng: ĐỊNH CHƯA PHẢI: TUỆ. Cái gì sinh do điều kiện không nên lập tức bị đồng nhất với:

GIẢI THOÁT TỐI HẬU.

Nếu vừa có một trạng thái đặc biệt, cái tôi nói: “TÔI CHỨNG RỒI,” thì chính câu ấy cần: THẤY. TỈNH. SOI. Câu nhớ: ĐỪNG BIẾN MỘT TRẠNG THÁI KHÔNG CHẤP THÀNH: MỘT MÓN MỚI ĐỂ CHẤP.

VI. HỌC SỰ TẮT NGAY TRONG ĐỜI SỐNG

Muốn mua một thứ không cần. THẤY: Tham. TỈNH: Không mua ngay. SOI: Cần hay muốn? Không cần: BUÔNG. Một người làm mình giận. Sân sinh. Không trả lời ngay: ĐỊNH. Không nói độc: GIỚI. Soi lại: TUỆ. Mình sai: Sửa. Người kia sai: Đặt ranh giới. Không cần: NUÔI HẬN. Đây chưa phải: TUYÊN BỐ CHỨNG NIẾT-BÀN.

Nhưng mỗi lần như vậy đang đi: NGƯỢC HƯỚNG THAM – SÂN – SI và: THUẬN HƯỚNG LY THAM, ĐOẠN TẬN, GIẢI THOÁT. Câu nhớ: ĐƯỜNG TỚI SỰ TẮT LỬA ĐƯỢC TẬP BẰNG: TỪNG LẦN MÌNH THÔI CHÂM THÊM CỦI.

VII. NIẾT-BÀN TRONG ĐẠI THỪA VÀ BỒ-TÁT ĐẠO

Đại thừa nhấn mạnh: TRÍ TUỆ phải đi cùng: ĐẠI BI. Trong Trung Quán, Nāgārjuna – Long Thọ bàn sâu về quan hệ giữa: saṃsāra – luân hồi, và: nirvāṇa – Niết-bàn, đặc biệt trong Mūlamadhyamakakārikā – Trung Luận, phẩm 25. Không nên rút thành: “LUÂN HỒI CHÍNH LÀ NIẾT-BÀN, NÊN: KHỎI TU.” Đó là hiểu sai.

Điểm Trung Quán liên hệ tới: KHÔNG TỰ TÍNH. Không thiết lập luân hồi hay Niết-bàn như những thực thể độc lập, tự có. Khi vô minh và chấp thủ vận hành: KHỔ ĐƯỢC NUÔI. Khi chấp thủ được đoạn: quan hệ với thực tại không còn như cũ. Bồ-tát không tìm bình an riêng rồi bỏ chúng sinh. Nhưng cũng không cần:

NGẬP TRONG THAM – SÂN – SI để gọi là: CỨU NGƯỜI. Câu nhớ: ĐẠI BI KHÔNG KÉO NGƯỜI TU TRỞ LẠI CÁI CHẤP. ĐẠI BI LÀM TRÍ TUỆ KHÔNG TRỞ THÀNH: MỘT SỰ BÌNH AN CHỈ BIẾT RIÊNG MÌNH.

VIII. NIẾT-BÀN VÀ BỐN CÔNG THỨC

CÔNG THỨC PHẬT:

THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

THẤY: Tham đang cháy. TỈNH: Không thêm củi. BUÔNG: Không nắm. SÁNG: Thấy đúng hơn.

CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC:

THẬT

→ CHỮ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ÍT HỐI – TÂM NHẸ

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

Một đời sống không liên tục tạo bất thiện làm tâm: ÍT RỐI. DỄ ĐỊNH. DỄ THẤY. TUỆ CÓ NỀN ĐỂ ĐI TỚI: ĐOẠN THAM – SÂN – SI.

CÔNG THỨC BUÔNG:

NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

Mỗi lần chấp không được nuôi: LỬA THIẾU NHIÊN LIỆU.

CÔNG THỨC TAM TẠNG:

Theo tinh thần cô đọng của Pháp Cú 183: BỎ ÁC. LÀM LÀNH. LÀM SẠCH TÂM. “LÀM SẠCH TÂM” không chỉ có nghĩa: LÀM TÂM DỄ CHỊU HƠN. Mà hướng tới: THAM. SÂN. SI. NGÀY CÀNG MẤT QUYỀN, CHO ĐẾN: ĐOẠN TẬN. CÂU CUỐI: NIẾT-BÀN KHÔNG PHẢI MỘT NƠI ĐỂ CÁI TÔI ĐẾN: SỞ HỮU. NIẾT-BÀN LÀ CHỖ CƠ CHẾ: NẮM, ĐẨY, MÊ KHÔNG CÒN TIẾP TỤC ĐỐT TÂM.

KHÔNG PHẢI CHẾT MỚI HỌC NIẾT-BÀN. NGAY KHI: THAM SINH MÀ KHÔNG NUÔI, SÂN SINH

MÀ KHÔNG TRAO QUYỀN,

SI ĐƯỢC SOI BẰNG TUỆ, NGƯỜI TU ĐÃ ĐANG ĐI THEO HƯỚNG: TỊCH DIỆT. VÀ ĐẾN CUỐI CÙNG, GIẢI THOÁT KHÔNG PHẢI: CÓ THÊM MỘT THỨ. MÀ LÀ: NHỮNG GÌ TỪNG TRÓI TÂM KHÔNG CÒN TRÓI ĐƯỢC NỮA.

CHƯƠNG 68
NHẤT THỪA TRONG KINH PHÁP HOA – NHIỀU CỬA VÀO, KHÔNG BIẾN PHƯƠNG TIỆN THÀNH TRANH CHẤP

Nguồn nền: Saddharmapuṇḍarīka Sūtra – Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, thường gọi Kinh Pháp Hoa. Một tư tưởng nổi bật: ekayāna – Nhất thừa, một cỗ xe tối hậu hướng tới Phật quả. Một phẩm rất quan trọng: Upāyakauśalya – Phẩm Phương Tiện.

Kinh Pháp Hoa sử dụng nhiều dụ ngôn

để trình bày rằng Đức Phật tùy căn cơ mà nói pháp, nhưng hướng lớn là đưa chúng sinh tới giác ngộ. Dụ ngôn rất nổi tiếng: NHÀ LỬA VÀ BA XE. Không nên hiểu: “NHỮNG PHÁP KHÁC ĐỀU GIẢ NÊN CÓ THỂ BỎ.” Điểm sâu hơn: PHƯƠNG TIỆN CÓ THỂ KHÁC VÌ: CĂN CƠ KHÁC. NHƯNG: ĐỪNG CHẤP PHƯƠNG TIỆN LÀ ĐÍCH.

CÂU NHỚ:

PHÁP MÔN LÀ CHIẾC THUYỀN QUA SÔNG. KHÔNG PHẢI CÁI CỜ ĐỂ MÌNH CẮM LÊN ĐẦU RỒI ĐỨNG BÊN BỜ TRANH VỚI NGƯỜI KHÁC.

I. NHẤT THỪA KHÔNG PHẢI “CHỈ MỘT PHÁP MÔN”

Nhất thừa không nên hiểu: “CHỈ CÓ MỘT KỸ THUẬT TU.” Nếu vậy: Thiền. Tịnh Độ. Bát-nhã. Niệm Phật. Quán tâm. Bố thí. Trì giới. sẽ thành mâu thuẫn.

Kinh Pháp Hoa

dùng chính: PHƯƠNG TIỆN để chỉ ra rằng: CĂN CƠ KHÁC thì: CÁCH DẪN CÓ THỂ KHÁC. Có người hợp: NGHE KINH. Có người hợp: NIỆM PHẬT. Có người hợp: QUÁN TÂM. Có người cần: GIỚI THẬT CHẮC TRƯỚC. Có người cần: BI ĐỂ MỞ TÂM. Nhưng pháp môn đúng phải hướng tới: THAM GIẢM. SÂN GIẢM. SI GIẢM. GIỚI VỮNG.

TUỆ SÁNG. GIẢI THOÁT. Câu nhớ: NHẤT THỪA KHÔNG XÓA NHIỀU CỬA. NÓ NHẮC: ĐỪNG LẤY CÁI CỬA MÌNH BƯỚC VÀO LÀM: TOÀN BỘ NGÔI NHÀ.

II. PHƯƠNG TIỆN KHÔNG PHẢI “NÓI SAO CŨNG ĐƯỢC”

Sanskrit:

upāya-kauśalya – phương tiện thiện xảo. Không phải: “MIỄN ĐẠT MỤC ĐÍCH

THÌ LÀM GÌ CŨNG ĐƯỢC.”

Không phải:

“LÀM NGƯỜI KHÁC ĐAU

CŨNG LÀ PHƯƠNG TIỆN.”

Không phải:

“THẦY DÙNG CÁCH NÀO

CŨNG ĐÚNG.” Phương tiện phải được kiểm bằng: TRÍ. BI. GIỚI. MỤC ĐÍCH GIẢI THOÁT. Nếu phương tiện làm: THAM TĂNG. SÂN TĂNG. SỢ TĂNG. LỆ THUỘC TĂNG. NGÃ MẠN TĂNG. thì: PHẢI SOI LẠI. THẬT: Phương tiện này đang tạo kết quả gì? THIỆN: Thiện có tăng không? GIỚI: Có vượt ranh giới đạo đức không? TUỆ:

Có hợp căn cơ thật không? Câu nhớ: PHƯƠNG TIỆN THIỆN XẢO KHÔNG PHẢI: QUYỀN MIỄN ĐẠO ĐỨC. CÀNG GỌI LÀ PHƯƠNG TIỆN, CÀNG PHẢI CHỊU SỰ KIỂM CỦA: TRÍ – BI – GIỚI.

III. DỤ NGÔN NHÀ LỬA

Trong Kinh Pháp Hoa có dụ ngôn: NHÀ LỬA. Các con đang chơi trong nhà. Nguy hiểm đang tới. Người cha dùng phương tiện để đưa các con ra. Điểm thực hành: CHÚNG SINH CÓ KHI ĐANG Ở TRONG KHỔ MÀ VẪN: CHƠI VỚI KHỔ. Tham: Biết khổ nhưng vẫn nuôi. Sân: Biết cháy nhưng vẫn giữ. Danh: Biết mệt nhưng vẫn chạy.

Chấp: Biết đau nhưng vẫn ôm. Pháp phải giúp: RA KHỎI NHÀ LỬA. Không phải: ĐỔI TÊN NGỌN LỬA CHO ĐẸP. Nói sân là: “CÁ TÍNH MẠNH.” Nói tham danh là: “ĐẠI NGUYỆN.” Nói chấp là: “TRUNG THÀNH.” Nói lệ thuộc là: “NIỀM TIN.” có thể chỉ là: ĐỔI NHÃN CHO PHIỀN NÃO. Câu nhớ: PHÁP ĐÚNG KHÔNG CHỈ LÀM MÌNH HIỂU NGỌN LỬA.

PHÁP PHẢI GIÚP MÌNH: THÔI TIẾP TỤC NGỒI TRONG ĐÓ.

IV. THỌ KÝ KHÔNG PHẢI LỜI KHEN NUÔI NGÃ

Kinh Pháp Hoa

có nhiều đoạn: THỌ KÝ cho các vị đệ tử sẽ thành Phật trong tương lai. Đây là một chủ đề lớn của kinh. Không nên biến: “THỌ KÝ” thành: một nghi thức để xác nhận một cá nhân đặc biệt hơn người. Trong văn mạch Pháp Hoa, thọ ký gắn với: KHẢ NĂNG THÀNH PHẬT. CON ĐƯỜNG BỒ-TÁT. VIỄN CẢNH GIÁC NGỘ.

Nếu một lời gọi là “thọ ký” làm: NGÃ TĂNG. LỆ THUỘC TĂNG. TƯỞNG MÌNH ĐẶC BIỆT. thì: PHẢI CẨN THẬN. Câu nhớ: THỌ KÝ TRONG TINH THẦN ĐẠI THỪA PHẢI LÀM: ĐẠI NGUYỆN LỚN LÊN. KHÔNG PHẢI: CÁI TÔI PHÌNH LÊN. Khả năng giác ngộ: KHÔNG PHẢI GIẤY MIỄN TU. Mà là: LÝ DO ĐỂ TU SÂU HƠN.

V. NHẤT THỪA VÀ TỨ Y

Người học Pháp Hoa nói: “CHỈ PHÁP HOA LÀ ĐÚNG.” Người học Thiền nói: “CHỈ THIỀN LÀ TRỰC TIẾP.” Người học Tịnh Độ nói: “CHỈ NIỆM PHẬT MỚI ĐƯỢC.” Người học một hệ khác nói: “CHỈ HỆ CỦA TÔI CÓ GIÁ TRỊ.” Ngay đó: PHÁP MÔN ĐÃ BỊ: CÁI TÔI CẦM. Tứ Y nhắc: Y PHÁP BẤT Y NHÂN. Y NGHĨA BẤT Y NGỮ.

Mỗi truyền thống có:

NGUỒN.

LỊCH SỬ. NGÔN NGỮ. HỆ THỐNG HÓA. khác nhau. Không được: XÓA KHÁC BIỆT. Nhưng cũng không cần: BIẾN KHÁC BIỆT THÀNH: CHIẾN TUYẾN. Câu nhớ: BIẾT MÌNH ĐANG ĐỨNG Ở MỘT TRUYỀN THỐNG KHÔNG CÓ NGHĨA: PHẢI LÀM MÙ MẮT TRƯỚC: ÁNH SÁNG

Ở TRUYỀN THỐNG KHÁC.

VI. NHIỀU PHÁP MÔN – MỘT BỘ KIỂM

Tu Thiền: Hỏi:

THAM CÓ GIẢM KHÔNG?

SÂN CÓ GIẢM KHÔNG?

GIỚI CÓ VỮNG KHÔNG?

Tu Tịnh Độ: Cũng hỏi vậy. Học Bát-nhã: Cũng hỏi vậy. Trì tụng Pháp Hoa: Cũng hỏi vậy. Công thức Tam Tạng của cuốn sách: BỎ ÁC. LÀM LÀNH. LÀM SẠCH TÂM. BỎ ÁC: Bất thiện có giảm không? LÀM LÀNH: Thiện có tăng không? LÀM SẠCH TÂM: Tham – sân – si có bớt quyền không? Công thức Phật: THẤY.

Có thấy mình không? TỈNH. Có dừng đường cũ không? BUÔNG. Có bớt chấp không? SÁNG. Có thấy đúng hơn không? Nếu pháp môn làm mình: CÀNG NGÃ. CÀNG GHÉT NGƯỜI. CÀNG CHIA PHE. thì: PHẢI SOI CÁCH MÌNH ĐANG TU. Câu nhớ: TÊN PHÁP MÔN CÓ THỂ KHÁC. NHƯNG: NẾU THAM – SÂN – SI CỨ LỚN, THÌ: PHẢI KIỂM LẠI CÁCH MÌNH ĐANG HÀNH PHÁP MÔN ẤY.

VII. CÙNG HƯỚNG KHÔNG CÓ NGHĨA CÙNG NHỊP

Người mới tu: Có thể cần: NGŨ GIỚI. Người đang khủng hoảng: Có thể cần trước: ỔN ĐỊNH. THỞ. PHẬT HIỆU. THIỆN TRI THỨC. Người đã vững: Có thể đi sâu: VÔ NGÃ. TÁNH KHÔNG. DUY THỨC. THIỀN. Nếu ép: MỌI NGƯỜI CÙNG MỘT BÀI, CÙNG MỘT TẦNG, CÙNG MỘT CÁCH, thì: CHƯA BIẾT CĂN CƠ. Trong truyền thống Đông Á thường nói:

KHẾ LÝ. KHẾ CƠ. Đây là cách diễn đạt truyền thống. Không nên gọi là một câu nguyên văn duy nhất của Đức Phật. KHẾ LÝ: Không trái Chánh pháp. KHẾ CƠ: Phù hợp căn cơ. Khế cơ mà trái lý: SAI. Đúng lý mà không biết cơ: NGƯỜI NGHE CÓ THỂ

KHÔNG TIẾP NHẬN ĐƯỢC.

Câu nhớ: MỘT CON ĐƯỜNG LỚN CÓ THỂ CÓ: NHIỀU LÀN. CÙNG HƯỚNG KHÔNG CÓ NGHĨA: PHẢI ÉP MỌI NGƯỜI ĐỨNG CÙNG MỘT BƯỚC CHÂN.

VIII. NHẤT THỪA VÀ KHẢ NĂNG GIÁC NGỘ

Nhất thừa không chỉ là: MỘT HỌC THUYẾT. Nó còn mang một tinh thần: KHÔNG ĐÓNG CON NGƯỜI VÀO: MỘT BẢN ÁN THẤP HƠN VĨNH VIỄN. Hôm nay còn mê: Không có nghĩa mãi mê. Hôm nay tu yếu: Không có nghĩa không thể tiến. Từng sai: Không có nghĩa không thể sửa. Nhưng: KHẢ NĂNG GIÁC NGỘ KHÔNG XÓA:

TRÁCH NHIỆM HIỆN TẠI. Không miễn: GIỚI. Không miễn: NHÂN QUẢ. Không miễn: TU TẬP. Nó chỉ nhắc: ĐỪNG LẤY TÌNH TRẠNG HÔM NAY LÀM: GIỚI HẠN TỐI HẬU CỦA CON NGƯỜI. THẬT: Mình đang ở đâu trên đường? TÍN: Đủ lòng để không bỏ đường. THIỆN: Làm điều lành ở tầng mình đang đứng. GIỚI: Giữ không rơi.

ĐỊNH: Biết trở về. TUỆ: Biết phương tiện chỉ là phương tiện. NHẬN. SOI. THẤY: Khi mình đang chấp pháp môn. KHÔNG DÍNH: Vào tên tông. KHÔNG CHẤP: “CHỈ MÌNH ĐÚNG.” BUÔNG: NGÃ PHÁP.

AN.

THẤY. TỈNH. BUÔNG. SÁNG. CÂU CUỐI: NHẤT THỪA KHÔNG CÓ NGHĨA: MỌI PHÁP MÔN GIỐNG HỆT NHAU. NÓ NHẮC: PHÁP MÔN KHÔNG PHẢI NƠI CÁI TÔI DỰNG LỀU Ở LUÔN. THIỀN: LÀ CỬA. TỊNH ĐỘ: LÀ CỬA. BÁT-NHÃ: LÀ CỬA. TRÌ GIỚI: LÀ CỬA. BỐ THÍ: LÀ CỬA. NIỆM PHẬT: LÀ CỬA. QUÁN TÂM: LÀ CỬA. NHƯNG: ĐI QUA CỬA MÀ: THAM – SÂN – SI KHÔNG GIẢM THÌ:

PHẢI SOI CÁCH MÌNH ĐANG ĐI. PHÁP MÔN KHÔNG PHẢI: CÁI CỜ ĐỂ ĐÁNH NHAU. PHÁP MÔN LÀ: PHƯƠNG TIỆN ĐỂ ĐƯA TÂM: RA KHỎI NHÀ LỬA.

CHƯƠNG 69
DUY-MA-CẬT – NHẬP THẾ MÀ KHÔNG ĐỂ THẾ GIAN DẮT TÂM

Nguồn nền: Vimalakīrtinirdeśa Sūtra – Kinh Duy-ma-cật Sở Thuyết. Nhân vật trung tâm: Vimalakīrti – Duy-ma-cật, một cư sĩ được trình bày trong kinh như người có trí tuệ, phương tiện và Bồ-tát hạnh sâu sắc.

Kinh nổi bật với nhiều chủ đề:

BỒ-TÁT NHẬP THẾ. BỆNH. TÁNH KHÔNG. BẤT NHỊ. PHƯƠNG TIỆN. ĐẠI BI. Nhưng không nên hiểu: “NHẬP THẾ” = “Ở ĐỜI

THẾ NÀO CŨNG ĐƯỢC.”

Cũng không nên dùng kinh này để xóa khác biệt giữa: ĐỜI SỐNG CƯ SĨ và: GIỚI LUẬT, TRÁCH NHIỆM

CỦA NGƯỜI XUẤT GIA.

Điểm thực hành của chương: NHẬP THẾ MÀ: KHÔNG ĐỂ TÂM BỊ THẾ GIAN NUỐT MẤT.

CÂU NHỚ:

KHÔNG NHIỄM KHÔNG CÓ NGHĨA: KHÔNG GẶP BỤI. MÀ LÀ: ĐI QUA BỤI MÀ: KHÔNG ĐỂ BỤI TRỞ THÀNH CHỦ CỦA TÂM.

I. NHẬP THẾ KHÔNG PHẢI HÒA TAN VÀO THẾ GIAN

Có người nghe: “BỒ-TÁT NHẬP THẾ” rồi nghĩ: Phải sống giống đời. Ham giống đời. Tranh giống đời. Nói giống đời. thì mới: GẦN CHÚNG SINH. Không đúng. GẦN CHÚNG SINH không có nghĩa: GIỐNG PHIỀN NÃO CỦA CHÚNG SINH. Thầy thuốc bước vào phòng bệnh, nhưng không cần: MẮC BỆNH GIỐNG BỆNH NHÂN.

Người tu có thể: LÀM VIỆC. TIẾP XÚC. GIÚP NGƯỜI. ĐI VÀO HOÀN CẢNH KHÓ. Nhưng nếu vì “NHẬP THẾ” mà: THAM TĂNG. SÂN TĂNG. GIỚI LỎNG. thì: PHẢI SOI LẠI. Câu nhớ: NHẬP THẾ LÀ: ĐEM PHÁP VÀO ĐỜI. KHÔNG PHẢI: ĐEM TOÀN BỘ THẾ GIAN VÀO TÂM RỒI GỌI ĐÓ LÀ: PHƯƠNG TIỆN.

II. KHÔNG NHIỄM KHÔNG PHẢI KHÔNG CẢM XÚC

Không nhiễm không có nghĩa: KHÔNG THƯƠNG. KHÔNG BUỒN. KHÔNG ĐAU. KHÔNG XÚC ĐỘNG. Nếu vậy: ĐÓ CÓ THỂ LÀ: LẠNH. Không phải: GIẢI THOÁT. Người có từ bi vẫn có thể đau khi thấy người khác khổ. Người có tình thương vẫn có thể buồn khi chia lìa. Điểm tu là: KHÔNG ĐỂ CẢM XÚC THÀNH: CHẤP THỦ.

Buồn: BIẾT BUỒN. Thương: BIẾT THƯƠNG. Đau: BIẾT ĐAU. Nhưng không biến: “TÔI THƯƠNG” thành: “NGƯỜI NÀY

PHẢI THUỘC VỀ TÔI.”

Không biến: “TÔI ĐAU” thành: “ĐỜI PHẢI THEO Ý TÔI.” Công thức Buông: NHẬN. SOI. THẤY. KHÔNG DÍNH. KHÔNG CHẤP. BUÔNG.

AN.

Câu nhớ: KHÔNG NHIỄM KHÔNG PHẢI: LÀM TRÁI TIM HÓA ĐÁ. MÀ LÀ: ĐỂ TRÁI TIM VẪN MỀM NHƯNG: BÀN TAY CỦA CHẤP KHÔNG CÒN SIẾT CHẶT.

III. BỆNH VÀ CÁI TÔI

Một chủ đề nổi tiếng trong Kinh Duy-ma-cật là: BỆNH. Từ câu chuyện bệnh, kinh mở ra nhiều tầng: VÔ THƯỜNG. THÂN DUYÊN SINH. ĐẠI BI. TÁNH KHÔNG. Không nên nói: “TU CAO THÌ KHÔNG ĐAU.” Không nên nói: “BỆNH

CHỈ LÀ VỌNG TƯỞNG.”

Thân có thể: BỆNH THẬT

TRONG NGHĨA QUY ƯỚC.

Đau: CÓ THỂ ĐAU THẬT. Nhưng phải phân biệt: “ĐAU ĐANG CÓ” với: “TÔI CHÍNH LÀ CÁI ĐAU NÀY.” Thân bệnh: CHĂM THÂN. Cần điều trị: ĐIỀU TRỊ. Nhưng không cần dựng thêm: “TẠI SAO LÀ TÔI?” “ĐỜI BẤT CÔNG VỚI TÔI.” “TÔI HẾT GIÁ TRỊ RỒI.” Câu nhớ: BỆNH LÀ VIỆC CỦA THÂN VÀ DUYÊN. KHỔ TĂNG KHI TÂM:

LẤY BỆNH LÀM: CĂN CƯỚC CỦA CHÍNH MÌNH.

IV. BẤT NHỊ KHÔNG CÓ NGHĨA “MỌI THỨ GIỐNG NHAU”

Sanskrit:

advaya – bất nhị.

Kinh Duy-ma-cật

rất nổi tiếng với: BẤT NHỊ PHÁP MÔN. Nhưng bất nhị không có nghĩa: THIỆN = ÁC. ĐÚNG = SAI.

GIỮ GIỚI = PHÁ GIỚI.

Nếu hiểu như vậy: ĐẠO ĐỨC BỊ XÓA. Bất nhị đi sâu hơn: Tâm thường chia thực tại thành các cặp rồi: CHẤP HAI PHÍA CÓ TỰ TÍNH ĐỘC LẬP. Có – không. Ta – người. Thanh tịnh – ô nhiễm. Sinh tử – Niết-bàn. Trong duyên khởi và tánh Không, những khái niệm ấy không có tự tính như mình tưởng.

Nhưng ở tầng quy ước: THIỆN VẪN NÊN LÀM. ÁC VẪN NÊN BỎ. Đây là lý do: NHỊ ĐẾ rất quan trọng. Câu nhớ: BẤT NHỊ KHÔNG XÓA SỰ PHÂN BIỆT CẦN THIẾT CỦA ĐỜI SỐNG. NÓ XÓA: CÁI CHẤP RẰNG: NHỮNG GÌ MÌNH PHÂN BIỆT CÓ BẢN CHẤT CỐ ĐỊNH, ĐỘC LẬP, TUYỆT ĐỐI.

V. SỰ IM LẶNG CỦA DUY-MA-CẬT

Trong phần nói về bất nhị, nhiều vị Bồ-tát trình bày cách hiểu. Đến Duy-ma-cật: ÔNG IM LẶNG. Sự im lặng ấy trở thành hình ảnh rất nổi tiếng. Nhưng không nên hiểu: CỨ IM LÀ: TUỆ. Một người có thể im vì: KHÔNG BIẾT. SỢ. SÂN. KHINH. TRỐN. Sự im lặng trong văn mạch kinh mang ý: KHÔNG THỂ NẮM BẤT NHỊ BẰNG LỜI NHƯ MỘT KHÁI NIỆM.

Nhưng: KHÔNG PHẢI GIẤY PHÉP KHỎI HỌC. Không phải: “TÔI IM NÊN TÔI NGỘ.” Có lúc: PHẢI NÓI. Có lúc: NÊN IM. Tuệ là: BIẾT ĐÚNG LÚC. Câu nhớ: IM LẶNG CHỈ LÀ PHÁP KHI NÓ SINH TỪ: TUỆ. NẾU SINH TỪ: SÂN, SỢ, TRỐN TRÁNH, THÌ: NÓ VẪN CHỈ LÀ: MỘT PHẢN ỨNG.

VI. TÂM THANH TỊNH KHÔNG PHẢI PHÉP THUẬT ĐỔI MỌI HOÀN CẢNH

Kinh Duy-ma-cật

có những tư tưởng sâu về: PHẬT QUỐC VÀ: SỰ THANH TỊNH. Không nên biến thành: “TÂM THANH TỊNH THÌ: MỌI CẢNH BÊN NGOÀI TỰ ĐỘNG ĐẸP THEO Ý MÌNH.” Đó không phải cách hiểu an toàn. Tâm thanh tịnh hơn thì: CÁCH NHÌN khác. CÁCH NÓI khác. CÁCH HÀNH ĐỘNG khác. CÁCH TẠO QUAN HỆ khác. CÁCH THAM GIA VÀO THẾ GIỚI khác.

Người ít sân: TẠO ÍT CHIẾN TRANH NHỎ. Người ít tham: TẠO ÍT CHIẾM ĐOẠT. Người có Tuệ: ÍT LÀM RỐI NGƯỜI KHÁC HƠN. Câu nhớ: TÂM SẠCH KHÔNG PHẢI: PHÉP THUẬT ĐỔI MỌI HOÀN CẢNH. TÂM SẠCH TRƯỚC HẾT ĐỔI: CÁCH MÌNH ĐANG GÓP PHẦN VÀO: HOÀN CẢNH.

VII. BỒ-TÁT GIỮA ĐỜI PHẢI CÓ TRÍ

Giúp người cũng cần: TUỆ. Có người giúp bằng: KIỂM SOÁT. Có người cho bằng: MUỐN ĐƯỢC BIẾT ƠN. Có người cứu bằng: LÀM NGƯỜI KIA LỆ THUỘC. Có người hy sinh quá mức rồi: KIỆT SỨC. SÂN NGẦM. OÁN. Vì vậy Bồ-tát đạo phải đi cùng: PRAJÑĀ – BÁT-NHÃ. BI MÀ THIẾU TUỆ: DỄ CHÌM. TUỆ MÀ THIẾU BI: DỄ LẠNH.

Giúp: NHƯNG KHÔNG CHIẾM ĐỜI NGƯỜI KHÁC. Cho: NHƯNG KHÔNG MUA NGƯỜI. Chỉ đường: NHƯNG KHÔNG BẮT NGƯỜI PHẢI ĐI THEO MÌNH. Câu nhớ: BỒ-TÁT KHÔNG CỨU NGƯỜI ĐỂ: BIẾN NGƯỜI ẤY THÀNH: TÀI SẢN CỦA LÒNG TỐT MÌNH.

VIII. Ở GIỮA ĐỜI MÀ TÂM BIẾT ĐƯỜNG VỀ

Một người xúc phạm mình. THẬT: Họ thật sự đã nói gì? Không thêm. Không bớt. THẤY: Sân. Tự ái. TỈNH: Chưa phản ứng. GIỚI: Không nói lời độc. ĐỊNH: Đứng được trong cảm giác khó chịu. TUỆ: Thấy: LỜI NÓI LÀ MỘT DUYÊN. SÂN LÀ MỘT PHÁP SINH. CÁI: “TÔI BỊ XÚC PHẠM” CŨNG ĐANG ĐƯỢC TÂM DỰNG MẠNH. NHẬN.

SOI. THẤY. KHÔNG DÍNH: “TÔI PHẢI THẮNG.” KHÔNG CHẤP: “NGƯỜI NÀY LÀ KẺ THÙ.” BUÔNG. Nhưng nếu cần: VẪN NÓI RÕ. VẪN ĐẶT RANH GIỚI. VẪN SỬA VIỆC SAI. Đó là: NHẬP THẾ MÀ KHÔNG NHIỄM. BỎ ÁC: Không đáp sân bằng sân. LÀM LÀNH: Chọn hành động ít hại. LÀM SẠCH TÂM: Soi tận cái chấp ngã đang bị chạm.

THẤY. TỈNH. BUÔNG. SÁNG. CÂU CUỐI: NHẬP THẾ KHÔNG PHẢI ĐỂ: THẾ GIAN ĐI VÀO CHIẾM TÂM. NHẬP THẾ LÀ: ĐEM MỘT CÁI TÂM CÓ GIỚI, CÓ ĐỊNH, CÓ TUỆ, CÓ BI ĐI VÀO: GIỮA ĐỜI. BẤT NHỊ KHÔNG XÓA: THIỆN – ÁC. TÁNH KHÔNG KHÔNG XÓA: TRÁCH NHIỆM. ĐẠI BI KHÔNG XÓA: RANH GIỚI. NHẬP THẾ KHÔNG XÓA: GIỚI. ĐI GIỮA ĐỜI, GẶP ĐỦ BỤI, MÀ:

MỖI LẦN TÂM VẪN BIẾT ĐƯỜNG TRỞ VỀ, ĐÓ MỚI LÀ: CHỖ PHÁP ĐANG ĐI VÀO: ĐỜI SỐNG.

PHẦN VI
SỐNG PHÁP VỚI NGƯỜI KHÁC VÀ TRONG MỘT NGÀY BÌNH THƯỜNG

CHƯƠNG 70
LỤC HÒA KÍNH – SỐNG CHUNG MÀ KHÔNG NUÔI THÊM THAM, SÂN VÀ NGÃ CHẤP

Nguồn nền quan trọng:

MN 48 – Kosambiya Sutta

– Kinh Kosambiya, Trung Bộ Kinh. Bài kinh được nói trong bối cảnh có sự bất hòa giữa các vị Tỳ-kheo ở Kosambī. Đức Phật nêu sáu pháp đáng ghi nhớ, đưa đến: THƯƠNG KÍNH. HÒA HỢP. KHÔNG TRANH TỤNG. ĐỒNG THUẬN. NHẤT TRÍ. Trong truyền thống Việt Nam, sáu nguyên tắc này thường được hệ thống thành:

LỤC HÒA KÍNH.

1. THÂN HÒA ĐỒNG TRỤ.

2. KHẨU HÒA VÔ TRÁNH.

3. Ý HÒA ĐỒNG DUYỆT.

4. GIỚI HÒA ĐỒNG TU.

5. KIẾN HÒA ĐỒNG GIẢI.

6. LỢI HÒA ĐỒNG QUÂN.

Cần lưu ý: Sáu câu Hán-Việt trên là cách hệ thống hóa truyền thống rất tiện để ghi nhớ. Trong MN 48, sáu pháp được diễn đạt theo nội dung: THÂN HÀNH TỪ ÁI. KHẨU HÀNH TỪ ÁI. Ý HÀNH TỪ ÁI. CHIA SẺ LỢI DƯỠNG ĐÚNG PHÁP. GIỚI HẠNH TƯƠNG ĐỒNG, KHÔNG SỨT MẺ.

TRI KIẾN CAO THƯỢNG

ĐƯA TỚI ĐOẠN KHỔ ĐƯỢC CÙNG GÌN GIỮ.

CÂU NHỚ:

TU MỘT MÌNH CÓ THỂ THẤY MÌNH KHÁ YÊN. SỐNG CHUNG MỚI BIẾT: CÁI TÔI CÒN CẦN BAO NHIÊU CHỖ ĐỂ: ĐƯỢC CHIỀU.

I. THÂN HÒA ĐỒNG TRỤ

Trong MN 48, pháp đầu tiên là: mettā-kāyakamma – thân hành từ ái. Thân hòa không chỉ là: Ở CÙNG MỘT MÁI NHÀ. Có thể ở rất gần nhưng: CHEN LẤN. LÀM PHIỀN. ĐÙN VIỆC. KHÔNG TÔN TRỌNG KHÔNG GIAN CHUNG. DÙNG THÂN LÀM NGƯỜI KHÁC KHỔ. thì: CHƯA HÒA. Thân hòa là: THÂN MÌNH KHÔNG TRỞ THÀNH: CÔNG CỤ GÂY PHIỀN NÃO KHÔNG CẦN THIẾT.

Việc chung: LÀM PHẦN MÌNH. Đồ chung: GIỮ GÌN. Người cần giúp:

GIÚP TRONG KHẢ NĂNG.

Không gian chung: NHỚ RẰNG CÒN CÓ NGƯỜI KHÁC. Một cánh cửa đóng nhẹ. Một món đồ đặt đúng chỗ. Một việc tự làm được không đẩy sang người khác. Đều có thể là: PHÁP. Câu nhớ: HÒA HỢP KHÔNG CHỈ NẰM

TRONG NHỮNG LỜI LỚN.

NHIỀU KHI NÓ BẮT ĐẦU Ở: CÁCH MÌNH ĐẶT MỘT MÓN ĐỒ XUỐNG MÀ NHỚ: NƠI NÀY CÒN CÓ NGƯỜI KHÁC ĐANG SỐNG.

II. KHẨU HÒA VÔ TRÁNH

Khẩu hòa không có nghĩa: KHÔNG ĐƯỢC BẤT ĐỒNG. Có chuyện sai: VẪN NÓI. Có việc cần sửa: VẪN SỬA. Có giới cần nhắc: VẪN NHẮC. Nhưng: TÂM NÀO ĐANG NÓI?

MN 48 nhấn mạnh:

mettā-vacīkamma – khẩu hành từ ái.

MN 58

– Kinh Vương Tử Vô Úy cho một nguyên tắc quan trọng về lời nói: ĐIỀU KHÔNG THẬT, KHÔNG LỢI ÍCH: KHÔNG NÓI. Điều thật, có lợi ích, dù không dễ nghe: PHẢI BIẾT ĐÚNG THỜI. Vì vậy: KHẨU HÒA KHÔNG PHẢI: IM ĐỂ GIỮ MẶT NGOÀI YÊN. Mà là: NÓI SỰ THẬT MÀ: KHÔNG LẤY SÂN LÀM LƯỠI DAO. Trước khi nói, có thể hỏi:

ĐÚNG KHÔNG? CẦN KHÔNG? CÓ LỢI ÍCH KHÔNG? ĐÚNG LÚC KHÔNG? TÂM NÀO ĐANG NÓI? Câu nhớ: HÒA KHÔNG PHẢI: KHÔNG CÓ ĐIỀU TRÁI Ý. HÒA LÀ: ĐIỀU TRÁI Ý VẪN CÓ THỂ ĐƯỢC NÓI MÀ: KHÔNG BIẾN NGƯỜI ĐỐI DIỆN THÀNH: KẺ THÙ.

III. Ý HÒA ĐỒNG DUYỆT

MN 48 nhấn mạnh:

mettā-manokamma – ý hành từ ái. Thân không đánh. Miệng không nói. Nhưng trong tâm: “MONG HỌ THẤT BẠI.” “ĐỂ XEM HỌ ĐƯỢC BAO LÂU.” “CHO HỌ BỊ XẤU MẶT.” thì: CHƯA HÒA. Ý hòa không đòi hỏi: PHẢI THÍCH TẤT CẢ MỌI NGƯỜI. Không thể ép: CẢM TÌNH. Nhưng có thể tu: KHÔNG NUÔI ÁC Ý. Một người mình không hợp vẫn có thể mong:

HỌ KHÔNG LÀM ĐIỀU ÁC. HỌ BIẾT SỬA. HỌ ĐƯỢC

AN LÀNH.

Không nhất thiết: PHẢI THÂN. TỪ KHÔNG ĐỒNG NGHĨA: DÍNH. Công thức Buông: NHẬN: Khó chịu. SOI: Do việc thật hay: Cái tôi không được chiều? THẤY: Có sân không? KHÔNG DÍNH: Vào ghét. KHÔNG CHẤP: “NGƯỜI NÀY MÃI MÃI LÀ NHƯ VẬY.” BUÔNG: Ác ý. Nhưng vẫn: GIỮ RANH GIỚI KHI CẦN. Câu nhớ: KHÔNG CẦN BIẾN TẤT CẢ THÀNH:

NGƯỜI MÌNH THÍCH. CHỈ CẦN ĐỪNG BIẾN NGƯỜI MÌNH KHÔNG THÍCH THÀNH: NƠI MÌNH GỬI ĐỘC MỖI NGÀY.

IV. GIỚI HÒA ĐỒNG TU

MN 48

nêu việc cùng sống trong những giới hạnh: KHÔNG SỨT MẺ. KHÔNG BỊ PHÁ. ĐƯỢC NGƯỜI TRÍ TÁN THÁN. ĐƯA TỚI ĐỊNH. Đây là nền cho cách gọi truyền thống: GIỚI HÒA ĐỒNG TU. Một tập thể có thể: RẤT THÂN. RẤT VUI. RẤT ĐOÀN KẾT. Nhưng nếu cùng nhau: LÀM SAI. CHE SAI. BẢO VỆ SAI. thì: ĐÓ KHÔNG PHẢI:

HÒA HỢP TRONG CHÁNH PHÁP. Đó có thể là: ĐỒNG LÕA. Giới tạo: MỘT CHUẨN CHUNG. Điều sai: KHÔNG BIẾN THÀNH ĐÚNG CHỈ VÌ: NGƯỜI THÂN MÌNH LÀM. THẬT: Không đổi sự thật vì tình cảm. Không giữ: “ĐOÀN KẾT GIẢ” bằng cách: BỎ NGUYÊN TẮC. Câu nhớ: HÒA HỢP KHÔNG PHẢI: CÙNG NHAU ĐỨNG VỀ MỘT PHÍA. HÒA HỢP TRONG PHÁP LÀ:

CÙNG NHAU ĐỨNG VỀ PHÍA: ĐIỀU ĐÚNG.

V. KIẾN HÒA ĐỒNG GIẢI

Kiến hòa không có nghĩa: MỌI NGƯỜI PHẢI:

NGHĨ GIỐNG HỆT NHAU.

Cùng tính cách. Cùng sở thích. Cùng cách làm. Cùng quan điểm về mọi chi tiết. Trong MN 48, điều được nhấn mạnh là tri kiến: CAO THƯỢNG, ĐƯA ĐẾN ĐOẠN KHỔ, được cùng gìn giữ. Điều cần chung là: HƯỚNG CHÁNH KIẾN CĂN BẢN. Bất thiện: CẦN BỎ. Thiện: CẦN TU. Tham – sân – si: KHÔNG NÊN NUÔI.

Giới – Định – Tuệ: LÀ NỀN CON ĐƯỜNG. Khác nhau về: CÁCH LÀM. PHÁP MÔN. CÁCH NÓI. KHÔNG NHẤT THIẾT PHÁ HÒA. Nhưng nếu nói: “PHÁ GIỚI CŨNG ĐƯỢC.” “NHÂN QUẢ KHÔNG CẦN.” thì đó không còn: KHÁC BIỆT NHỎ. Câu nhớ: ĐỒNG KIẾN KHÔNG PHẢI: ĐỒNG Ý MỌI CHUYỆN. MÀ LÀ: CÙNG GIỮ MỘT PHƯƠNG HƯỚNG ĐỦ ĐÚNG ĐỂ:

NHỮNG KHÁC BIỆT CÒN LẠI KHÔNG KÉO CẢ ĐOÀN RA KHỎI ĐƯỜNG.

VI. LỢI HÒA ĐỒNG QUÂN

MN 48

nói tới: LỢI DƯỠNG NHẬN ĐƯỢC ĐÚNG PHÁP, cho đến phần trong bình bát, được chia sẻ với các vị đồng phạm hạnh có giới. Từ đó, truyền thống gọi: LỢI HÒA ĐỒNG QUÂN. Không nhất thiết nghĩa: MỌI THỨ LUÔN CHIA TOÁN HỌC BẰNG NHAU. Mà: KHÔNG ÍCH KỶ CHIẾM GIỮ PHẦN CHUNG. Trong đời sống: TÀI VẬT CHUNG:

MINH BẠCH. CÔNG VIỆC: PHÂN HỢP LÝ. CƠ HỘI: KHÔNG GIỮ HẾT. CÔNG LAO: KHÔNG GIÀNH. Khi thành công: KHÔNG NÓI: “NHỜ TÔI HẾT.” Khi thất bại: KHÔNG NÓI: “TẠI NGƯỜI KHÁC.” Cāga – xả đi vào đây. Cái gì thật sự chung: ĐỪNG BIẾN THÀNH: “CỦA TÔI.” Câu nhớ: TRANH CHẤP RẤT NHIỀU KHI KHÔNG BẮT ĐẦU TỪ GIÁO LÝ SÂU.

MÀ BẮT ĐẦU TỪ: MỘT PHẦN LỢI NHỎ MÀ CÁI TÔI NHẤT ĐỊNH PHẢI GIỮ LỚN HƠN NGƯỜI KHÁC.

VII. HÒA KHÔNG PHẢI NHẪN NHỊN VÔ GIỚI HẠN

Phật pháp dạy hòa hợp. Nhưng không có nghĩa: CHỊU BẠO LỰC. CHỊU LẠM DỤNG. CHỊU GIAN DỐI. CHỊU XÂM PHẠM. CHỊU PHÁ GIỚI để: “GIỮ HÒA KHÍ.” Nếu một môi trường: LIÊN TỤC NUÔI BẤT THIỆN VÀ: KHÔNG CHỊU SỬA, có lúc: PHẢI ĐẶT RANH GIỚI. PHẢI RỜI. PHẢI BÁO NGƯỜI CÓ TRÁCH NHIỆM. PHẢI NÓI RÕ. Khẩu hòa không phải:

IM TRƯỚC CÁI SAI. Ý hòa không phải: TIN NGƯỜI NGUY HIỂM. Thân hòa không phải: Ở CHUNG BẤT KỂ HẬU QUẢ. Lợi hòa không phải: ĐƯA TÀI VẬT CHO NGƯỜI SỬ DỤNG SAI. Giới hòa càng không phải: PHÁ GIỚI ĐỂ GIỮ NHÓM. Câu nhớ: HÒA HỢP KHÔNG CÓ NGHĨA: MỌI NGƯỜI PHẢI Ở SÁT NHAU. CÓ NHỮNG LÚC: GIỮ KHOẢNG CÁCH ĐÚNG LẠI LÀ CÁCH DUY NHẤT ĐỂ:

KHÔNG TIẾP TỤC TẠO THÊM SÂN VÀ: HẠI.

VIII. LỤC HÒA VÀ BỐN CÔNG THỨC

Một người làm việc không đúng ý mình. THẬT: HỌ ĐÃ LÀM SAI GÌ? Hay chỉ: KHÔNG LÀM THEO Ý TÔI? THẤY: Sân đang sinh. TỈNH: Chưa nói. SOI: Đây là: VẤN ĐỀ GIỚI hay: KHÁC SỞ THÍCH? Nếu cần nói: KHẨU HÒA: Nói đúng. Không độc. Nếu cần cùng làm: THÂN HÒA: Cùng làm. Nếu có ác ý: Ý HÒA: Không nuôi độc.

Nếu liên quan giới: GIỚI HÒA: Lấy Pháp làm chuẩn. Nếu khác cách hiểu: KIẾN HÒA: Trở về Chánh kiến. Không bắt: MỌI NGƯỜI PHẢI GIỐNG MÌNH Ở MỌI CHI TIẾT. Nếu liên quan lợi: LỢI HÒA: MINH BẠCH. CÔNG BẰNG. KHÔNG GIÀNH. BỎ ÁC: Không cho sân thành chia rẽ. LÀM LÀNH: Tạo điều kiện để cùng sống tốt.

LÀM SẠCH TÂM: Thấy tận cái tôi: “PHẢI THEO TÔI.” NHẬN. SOI. THẤY. KHÔNG DÍNH. KHÔNG CHẤP. BUÔNG.

AN.

THẤY. TỈNH. BUÔNG. SÁNG. CÂU CUỐI: LỤC HÒA KHÔNG PHẢI: SÁU KHẨU HIỆU ĐỂ TREO TRONG CHÙA. LỤC HÒA LÀ: SÁU CHỖ CÁI TÔI PHẢI HỌC NHỎ LẠI KHI: SỐNG CÙNG NGƯỜI KHÁC. THÂN: KHÔNG GÂY HẠI. MIỆNG: KHÔNG GÂY CHIẾN. Ý: KHÔNG NUÔI ĐỘC. GIỚI: KHÔNG VÌ TÌNH MÀ ĐỔI. KIẾN: KHÔNG VÌ NGÃ MÀ CHẤP. LỢI: KHÔNG VÌ THAM MÀ GIÀNH.

TU ĐẾN CUỐI CÙNG KHÔNG PHẢI CHỈ LÀ: MÌNH NGỒI YÊN ĐƯỢC BAO LÂU. MÀ CÒN LÀ: CÓ THỂ SỐNG GIỮA NHỮNG CON NGƯỜI KHÁC MÌNH MÀ VẪN: GIỮ ĐƯỢC GIỚI. GIỮ ĐƯỢC TỪ. GIỮ ĐƯỢC TUỆ. VÀ: KHÔNG BIẾN CÁI TÔI THÀNH: TRUNG TÂM CỦA CẢ MỘT TẬP THỂ.

CHƯƠNG 71
MỘT NGÀY TU TRỌN VẸN – TỪ LÚC MỞ MẮT ĐẾN KHI ĐẶT LƯNG

Nguồn nền: Dhammapada – Pháp Cú 21 nhấn mạnh: appamāda – không phóng dật, tỉnh thức, tinh cần.

MN 10 – Satipaṭṭhāna Sutta

– Kinh Tứ Niệm Xứ, Trung Bộ Kinh. Thực hành chánh niệm không chỉ ở lúc ngồi. Người tu biết rõ trong các tư thế và hoạt động thường nhật: ĐI. ĐỨNG. NGỒI. NẰM. CO. DUỖI. ĂN. UỐNG. NÓI. IM. Tu vì vậy không chỉ là: THÊM MỘT HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO VÀO: MỘT NGÀY. Mà là: ĐỔI CÁCH MÌNH ĐI QUA CẢ NGÀY.

CÂU NHỚ:

TU KHÔNG PHẢI LẤY MỘT GIỜ TRONG NGÀY ĐỂ: LÀM PHẬT TỬ. TU LÀ: LẤY CẢ NGÀY ĐỂ: BỚT LÀM NÔ LỆ CHO: THAM – SÂN – SI.

I. MỞ MẮT BUỔI SÁNG

Vừa thức dậy, nhiều người lập tức: CẦM ĐIỆN THOẠI. XEM TIN. XEM AI NÓI GÌ. XEM SỐ LIỆU. Tâm chưa kịp đứng đã bị: THẾ GIỚI KÉO ĐI. Một ngày có thể bắt đầu khác. Không cần nghi thức dài. Chỉ cần: BIẾT MÌNH ĐANG THỨC. BIẾT THÂN ĐANG NẰM. THỞ VÀI HƠI. NHỚ: HÔM NAY THÂN NÀY VẪN CÒN MỘT NGÀY.

Đây là: appamāda – không phóng dật. Có thể đặt hướng: HÔM NAY KHÔNG CỐ Ý LÀM ĐIỀU ÁC. HÔM NAY CỐ LÀM ĐIỀU LÀNH. HÔM NAY NHỚ NHÌN LẠI TÂM. Đó là: BỎ ÁC. LÀM LÀNH. LÀM SẠCH TÂM. THẬT: Tâm sáng nay đang thế nào? Mệt? Lo? Bình? Biết đúng. Không giả. Câu nhớ: BUỔI SÁNG KHÔNG CẦN BẮT ĐẦU BẰNG VIỆC:

TRỞ THÀNH MỘT CON NGƯỜI HOÀN HẢO. CHỈ CẦN BẮT ĐẦU BẰNG VIỆC: ĐỪNG ĐÁNH MẤT MÌNH TRƯỚC KHI NGÀY MỚI KỊP BẮT ĐẦU.

II. ĂN – MẶC – ĐI – LÀM

Ăn: BIẾT MÌNH ĐANG ĂN. Biết: ĐÓI. VỊ. ĐỦ. THAM THÊM. Mặc: Biết mục đích. Không biến hình thức thành: TOÀN BỘ GIÁ TRỊ BẢN THÂN. Đi: Biết thân đang đi. Làm: Biết mình đang làm gì. Tứ Niệm Xứ không đòi: MỘT ĐỜI SỐNG KỲ LẠ. Chính cái: BÌNH THƯỜNG là: ĐỐI TƯỢNG THỰC HÀNH. Khi tâm ép: “PHẢI XONG HẾT NGAY.”

THẤY. Khi căng: TỈNH. Khi cái tôi đang ép thân để bảo vệ hình ảnh: SOI. Không phải việc nào cũng cần làm chậm. Có lúc: PHẢI NHANH. Nhưng: NHANH KHÔNG ĐỒNG NGHĨA: LOẠN. Câu nhớ: CHÁNH NIỆM KHÔNG BẮT CUỘC ĐỜI ĐI CHẬM. CHÁNH NIỆM LÀM CHO: DÙ NHANH, MÌNH VẪN BIẾT: MÌNH ĐANG ĐI ĐÂU.

III. GẶP NGƯỜI

Một mình: RẤT DỄ THẤY MÌNH HIỀN. Gặp người trái ý: MỚI BIẾT. Một lời khó chịu: XÚC. Rồi: THỌ. Rồi có thể: ÁI. THỦ. PHẢN ỨNG. Nhưng không phải: CÓ THỌ THÌ: CHẮC CHẮN PHẢI ĐI TỚI THỦ. Có một cửa: CHÁNH NIỆM VÀ: TUỆ. Nghe lời khó chịu: NHẬN. Tâm nóng: SOI. Phần nào là sự kiện? Phần nào là tự ái? THẤY.

Chưa trả ngay: ĐỊNH. Không nói lời độc: GIỚI. Nếu cần nói: NÓI THẬT. CÓ LỢI ÍCH. ĐÚNG THỜI. Đó là: CHÁNH NGỮ. Câu nhớ: NGƯỜI TRÁI Ý MÌNH CÓ THỂ TRỞ THÀNH: MỘT TẤM GƯƠNG RẤT KHÓ CHỊU. NHƯNG CHÍNH NHỜ VẬY MÌNH THẤY RÕ: CÔNG PHU ĐANG Ở ĐÂU.

IV. GẶP VIỆC KHÔNG NHƯ Ý

Hỏng việc. Trễ. Mất. Đổi kế hoạch. Người khác không làm đúng. Tâm dễ nói: “TẠI SAO LẠI NHƯ VẬY?” Nhưng: VÔ THƯỜNG KHÔNG KÝ HỢP ĐỒNG VỚI MÌNH. Định lực không phải: ĐỜI KHÔNG ĐỔI. Định lực là: ĐỜI ĐỔI MÀ: TÂM VẪN BIẾT ĐƯỜNG TRỞ VỀ. Tu không phải: XIN ĐỜI HẾT GIÓ. Tu là: MỌC RỄ. Khi việc hỏng:

THẬT: Hỏng chỗ nào? Không phóng đại. SOI: Có sửa được không? Nếu được: LÀM. Nếu không: BUÔNG PHẦN KHÔNG THỂ ĐỔI. Không buông: TRÁCH NHIỆM. Chỉ buông: CUỘC CHIẾN VÔ ÍCH VỚI: ĐIỀU ĐÃ XẢY RA. Câu nhớ: VIỆC ĐÃ HỎNG: LÀ MỘT VIỆC. ĐỂ TÂM HỎNG THEO HAY KHÔNG: LÀ: VIỆC THỨ HAI.

V. KHI THUẬN CẢNH

Nhiều người chỉ nhớ tu khi: ĐAU. LO. MẤT. BỊ CHÊ. Nhưng khi: ĐƯỢC. KHEN. THÀNH CÔNG. VUI. thì: QUÊN. Bát phong nhắc: ĐƯỢC. MẤT. DANH. MẤT DANH. KHEN. CHÊ. VUI. KHỔ. Được: Biết được. Mất: Biết mất. Khen: Biết khen. Chê: Biết chê. Vui: Biết vui. Khổ: Biết khổ. Không phải: KHÔNG ĐƯỢC VUI. Mà: ĐỪNG NGỦ TRONG CÁI VUI.

Được khen: Có thể vui. Nhưng đừng lấy: LỜI KHEN LÀM: BẢN NGÃ. Thành công: DÙNG LÀM THIỆN. Không nói: “ĐÂY LÀ TÔI.” Câu nhớ: KHỔ LÀM MÌNH NHỚ TU. THUẬN CẢNH MỚI CHO BIẾT: MÌNH CÓ BIẾT TU KHI: KHÔNG BỊ ĐỜI ÉP PHẢI TỈNH HAY KHÔNG.

VI. KHI TÂM MỆT

Có ngày: THÂN MỆT. TÂM MỆT. Không phải lúc nào cũng phải: ÉP THÊM. NGỒI THÊM. ĐỌC THÊM. LÀM THÊM. Tuệ phải biết: ĐỦ. Có lúc việc đúng là: NGHỈ. ĂN. UỐNG NƯỚC. NGỦ. IM. GIẢM KÍCH THÍCH. Một tâm kiệt sức rất dễ: SÂN. LOẠN. PHÓNG. Tri túc đi vào đây. Không phóng dật không có nghĩa: KHÔNG ĐƯỢC NGHỈ.

Nghỉ có chánh niệm khác: BUÔNG XUÔI. Nếu thân cần nghỉ: CHO NGHỈ. Nhưng đừng dùng chữ: “MỆT” để nuôi: PHÓNG DẬT KHÔNG ĐÁY. Câu nhớ: TINH TẤN KHÔNG PHẢI LÚC NÀO CŨNG LÀ: TIẾN THÊM MỘT BƯỚC. CÓ KHI: LÀ BIẾT DỪNG ĐÚNG LÚC ĐỂ: NGÀY MAI CÒN ĐI ĐÚNG ĐƯỜNG.

VII. CUỐI NGÀY

Tối đến, hãy nhìn lại: HÔM NAY CÓ BẤT THIỆN NÀO MÌNH ĐÃ LÀM? Biết. Nếu cần: XIN LỖI. SỬA. NGĂN LẶP LẠI. Có điều lành nào? Biết. Không cần: GIỮ CÔNG. Chỉ: TIẾP TỤC NUÔI. Tâm vướng ở đâu? THAM? SÂN? SỢ? DANH? CÁI TÔI? Có gì cần mang sang ngày mai? VIỆC PHẢI LÀM: GHI LẠI. Có gì không cần mang? LỜI CHÊ CŨ.

TỨC GIẬN CŨ. CÂU CHUYỆN ĐÃ XỬ LÝ XONG. BUÔNG. Không tự nói: “TÔI TỆ.” Mà nói: “PHÁP NÀY BẤT THIỆN. LẦN SAU: ĐỪNG NUÔI.” Câu nhớ: SÁM HỐI ĐÚNG KHÔNG DÙNG LỖI HÔM NAY ĐỂ: ĐÁNH MÌNH. MÀ DÙNG LỖI HÔM NAY ĐỂ: BỚT LẶP LẠI VÀO: NGÀY MAI.

VIII. MỘT NGÀY – BỐN CÔNG THỨC – MỘT CON ĐƯỜNG

BUỔI SÁNG: THẬT VỚI TÂM. TRONG NGÀY: GIỚI GIỮ THÂN KHẨU. GẶP VIỆC: ĐỊNH GIỮ ĐƯỜNG VỀ. GẶP PHIỀN NÃO: TUỆ SOI. Khi bất thiện: BỎ ÁC. Khi có cơ hội: LÀM LÀNH. Trong từng phản ứng: LÀM SẠCH TÂM. Một cảnh tới: NHẬN. Tâm động: SOI. Biết đúng: THẤY. Không chạy theo: KHÔNG DÍNH. Không dựng ngã:

KHÔNG CHẤP. Thả được: BUÔNG. Tâm:

AN.

Rồi: THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

Bốn công thức không còn là: BỐN MẢNG. Mà đang thành: MỘT CHU TRÌNH SỐNG. CÂU CUỐI: MỘT NGÀY TU KHÔNG ĐƯỢC ĐO CHỈ BẰNG: BAO NHIÊU GIỜ MÌNH NGỒI YÊN. MÀ CÒN BẰNG: BAO NHIÊU LẦN TÂM ĐANG ĐI SAI MÀ: MÌNH BIẾT TRỞ VỀ. ĂN MÀ BIẾT ĐỦ: LÀ TU. NÓI MÀ KHÔNG ĐỘC: LÀ TU. BỊ CHÊ MÀ KHÔNG VỘI TRẢ: LÀ TU.

LÀM SAI MÀ BIẾT NHẬN: LÀ TU. LÀM ĐÚNG MÀ KHÔNG GIỮ CÔNG: LÀ TU. MỆT MÀ BIẾT NGHỈ: LÀ TU. ĐÊM ĐẾN MÀ BUÔNG ĐƯỢC CHUYỆN KHÔNG CẦN MANG SANG NGÀY MAI: CŨNG LÀ: TU. KHI: CẢ NGÀY BẮT ĐẦU TRỞ THÀNH: ĐẠO TRÀNG, NGƯỜI TU KHÔNG CÒN PHẢI CHỜ ĐẾN LÚC NGỒI TRƯỚC BÀN PHẬT MỚI NHỚ: MÌNH ĐANG ĐI TRÊN: CON ĐƯỜNG.

PHẦN VII
KHI ĐỜI BẮT ĐẦU LẤY ĐI

Nghịch duyên – Bệnh – Già – Chết và nghệ thuật không đánh mất đường về

CHƯƠNG 72
GẶP NGHỊCH DUYÊN – ĐỪNG HỎI “SAO LẠI LÀ TÔI?”, HÃY HỎI “PHÁP NÀO ĐANG ĐƯỢC KIỂM?”

Người ta thường thấy mình bình an khi: KHÔNG AI LÀM PHIỀN. KHÔNG AI CHÊ. KHÔNG AI LẤY MẤT GÌ. KHÔNG AI TRÁI Ý. Nhưng đó chưa chắc là: ĐỊNH LỰC. Định lực phải được kiểm khi: MẤT. BỊ CHÊ. BỊ HIỂU LẦM. BỊ PHẢN BỘI. VIỆC HỎNG. THÂN ĐAU. NGƯỜI KHÁC KHÔNG LÀM NHƯ MÌNH MUỐN. Trong Phật giáo thường nói tới tám pháp thế gian:

ĐƯỢC. MẤT. DANH. MẤT DANH. KHEN. CHÊ. VUI. KHỔ. Người chưa tu dễ bị chúng: KÉO LÊN. NÉM XUỐNG. Người có tu không phải: KHÔNG GẶP. Mà: GẶP RỒI: BIẾT MÌNH ĐANG BỊ KÉO.

CÂU NHỚ:

NGHỊCH DUYÊN KHÔNG TỰ ĐỘNG LÀM MÌNH TIẾN BỘ. NÓ CHỈ: LÀM LỘ RA CÁI GÌ ĐANG THẬT SỰ CÓ TRONG TÂM.

I. NGHỊCH DUYÊN KHÔNG PHẢI “TRỜI PHẠT”

Việc xấu xảy ra không nên lập tức nghĩ: “TÔI BỊ PHẠT.” “NGHIỆP TÔI NẶNG.” Không phải mọi biến cố đều có thể giải thích bằng một nhân duy nhất. Phật pháp dạy: DUYÊN KHỞI. Nhiều duyên có thể góp phần: THÂN. MÔI TRƯỜNG. NGƯỜI KHÁC. QUYẾT ĐỊNH CŨ.

ĐIỀU KIỆN VẬT CHẤT.

NGHIỆP THEO NGHĨA TÁC Ý VÀ HÀNH ĐỘNG.

VÀ NHỮNG DUYÊN KHÁC.

Không dùng chữ: “NGHIỆP” ĐỂ: BỊT MỌI CHỖ MÌNH CHƯA HIỂU.

AN 6.63

nhấn mạnh: cetanā – tác ý là nghiệp. Điều quan trọng: NGAY BÂY GIỜ MÌNH ĐANG GIEO THÊM GÌ? Câu nhớ: ĐỪNG DÙNG CHỮ NGHIỆP ĐỂ: KẾT ÁN MÌNH. HÃY DÙNG GIÁO LÝ NGHIỆP ĐỂ HỎI: NGAY LÚC NÀY, TÔI ĐANG GIEO THÊM GÌ?

II. HAI MŨI TÊN

Nguồn:

SN 36.6

– Sallattha Sutta,

Kinh Mũi Tên.

Mũi tên thứ nhất: ĐAU THỰC. MẤT THỰC. BỆNH THỰC. BỊ CHÊ THỰC. Mũi tên thứ hai có thể là: “ĐỜI TÔI XONG RỒI.” “TÔI KHÔNG CHỊU NỔI.” “TÔI PHẢI TRẢ.” “TẠI SAO CHỈ MÌNH TÔI?” Không được dùng bài kinh này để nói: MỌI ĐAU KHỔ ĐỀU DO NGƯỜI ĐAU TỰ GÂY. Điểm tu: ĐAU ĐÃ CÓ. ĐỪNG VÔ TÌNH TẠO THÊM:

LỚP KHỔ KHÔNG CẦN THIẾT. Câu nhớ: MŨI TÊN ĐẦU CÓ THỂ DO ĐỜI BẮN. MŨI TÊN THỨ HAI NHIỀU KHI LÀ: CÂU CHUYỆN TÂM TIẾP TỤC BẮN VÀO CHÍNH MÌNH.

III. KHI BỊ CHÊ

Ai đó nói: “VIỆC NÀY CHƯA TỐT.” Thọ khó chịu có thể sinh. Rồi cái tôi:

“HỌ COI THƯỜNG TÔI.”

Phải tách: LỜI HỌ NÓI khỏi: CÂU CHUYỆN MÌNH DỰNG. Hỏi: HỌ NÓI GÌ? CÓ ĐÚNG PHẦN NÀO KHÔNG? Nếu đúng: SỬA. Nếu sai: KHÔNG NHẬN ĐIỀU SAI. Nhưng không cần: THÊM SÂN. Nếu lời nói ác: VẪN CÓ THỂ ĐẶT RANH GIỚI. Không cần: THÙ. THẬT. THẤY. TỈNH. TUỆ. HÀNH. BUÔNG. Câu nhớ: BỊ CHÊ KHÔNG NGUY HIỂM BẰNG:

LẬP TỨC LẤY LỜI CHÊ LÀM: BẢN ÁN VỀ GIÁ TRỊ CỦA MÌNH.

IV. KHI BỊ PHẢN BỘI

Buông không có nghĩa: QUÊN SỰ THẬT. XÓA RANH GIỚI. TIN LẠI NGAY. ĐỂ NGƯỜI KIA LÀM HẠI TIẾP. Buông là: KHÔNG ĐỂ CHUYỆN ĐÓ TIẾP TỤC: CHIẾM TOÀN BỘ TÂM. Trí nhớ vẫn còn để: HỌC. Ranh giới vẫn còn để: BẢO VỆ. Tuệ vẫn phải phân biệt: NGƯỜI ẤY ĐÃ ĐÁNG TIN LẠI HAY CHƯA? Công thức Buông: NHẬN.

SOI. THẤY. KHÔNG DÍNH. KHÔNG CHẤP. BUÔNG.

AN.

Không phải: BỎ QUA. QUÊN HẾT. ĐỂ HẠI TIẾP. Câu nhớ: BUÔNG HẬN KHÔNG ĐỒNG NGHĨA: TRAO LẠI CHÌA KHÓA CHO NGƯỜI TỪNG PHÁ CỬA.

V. KHI VIỆC HỎNG

Một việc thất bại. Tâm dễ: ĐỔ LỖI. HOẶC: TỰ ĐÁNH MÌNH. Thay vào đó: THẬT: Hỏng ở đâu? NHÂN: Do đâu? Thiếu chuẩn bị? Sai quyết định? Duyên ngoài? SỬA: Phần nào còn sửa được? HỌC: Lần sau làm khác gì? BUÔNG: Phần đã qua thì: KHÔNG DÙNG NÓ LÀM: CÂY GẬY ĐÁNH TÂM MÃI. Câu nhớ: SÁM HỐI ĐỂ: SỬA NGHIỆP.

TỰ HÀNH HẠ CHỈ TẠO THÊM: MỘT NGHIỆP TÂM LÝ KHÁC.

VI. KHI NGƯỜI KHÁC KHÔNG THEO Ý

Có khi người khác: KHÔNG SAI. Họ chỉ: KHÔNG GIỐNG MÌNH. Không làm theo cách mình. Không thích điều mình thích. Tâm lại: SÂN. Phải hỏi: ĐÂY LÀ: VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC HAY: VẤN ĐỀ SỞ THÍCH? Nếu là Giới: CẦN NÓI. Nếu là việc chung: CẦN THỐNG NHẤT. Nếu chỉ là: “TÔI THÍCH KIỂU NÀY,” thì có thể: BUÔNG.

Rất nhiều xung đột không phải vì: ĐÚNG – SAI. Mà vì: HAI CÁI TÔI ĐỀU MUỐN LÀM: TIÊU CHUẨN. Câu nhớ: KHÔNG PHẢI MỌI ĐIỀU TRÁI Ý ĐỀU LÀ: ĐIỀU SAI.

VII. ĐỊNH LỰC – ĐỘNG NHƯNG KHÔNG ĐỔ

Người có Định không phải: KHÔNG BAO GIỜ RUNG. Có chuyện đau: VẪN RUNG. Nghe tin xấu: VẪN SỬNG SỐT. Mất người thương: VẪN ĐAU. Nhưng: KHÔNG ĐỔ TOÀN BỘ KHẢ NĂNG: THẤY VÀ: CHỌN. Đó là: ĐỊNH TRONG ĐỜI. Định trong khi ngồi: LÀ TẬP. Định trong khi sống: LÀ THI. Nghịch duyên tới: Tâm động. Nhưng còn biết:

THỞ. DỪNG. KHÔNG NÓI NGAY. KHÔNG QUYẾT NGAY.

KHÔNG TRẢ THÙ NGAY.

Đó là: LỰC. Câu nhớ: ĐỊNH LỰC KHÔNG PHẢI: KHÔNG RUNG. MÀ LÀ: RUNG MÀ: VẪN CÒN GỐC.

VIII. NGHỊCH DUYÊN VÀ BỐN CÔNG THỨC

Một việc trái ý tới. THẬT: Việc gì thực sự xảy ra? THẤY: Tâm đang phản ứng gì? TỈNH: Chưa chạy theo đường cũ. GIỚI: Không làm điều hại. ĐỊNH: Đứng lại. TUỆ: Xét: DUYÊN. NHÂN. HẬU QUẢ. NHẬN: Cảm xúc. SOI: Phần nào là sự kiện? Phần nào là chấp? THẤY: THAM. SÂN. SI. KHÔNG DÍNH: Vào câu chuyện. KHÔNG CHẤP:

Cái tôi phải thắng. BUÔNG: Phần không cần.

AN:

Trở lại. BỎ ÁC: Không cho nghịch duyên THÀNH: CỚ LÀM ÁC. LÀM LÀNH: Dùng nghịch duyên để chọn: ĐIỀU THIỆN HƠN. LÀM SẠCH TÂM: Thấy tận cái chấp bị lộ ra. THẤY. TỈNH. BUÔNG. SÁNG. CÂU CUỐI: ĐỜI KHÔNG CẦN ĐỢI MÌNH TU XONG MỚI GỬI NGHỊCH DUYÊN TỚI. CHÍNH TRONG LÚC: BỊ CHÊ. BỊ MẤT. BỊ HIỂU LẦM. BỊ TRÁI Ý.

BỊ HỎNG VIỆC. THÌ: GIỚI CÓ ĐỨNG KHÔNG? ĐỊNH CÓ TRỞ VỀ KHÔNG? TUỆ CÓ SOI ĐƯỢC KHÔNG? BUÔNG

CÓ BUÔNG ĐƯỢC KHÔNG?

ĐÓ MỚI LÀ: CHỖ PHÁP ĐƯỢC KIỂM. NGHỊCH DUYÊN KHÔNG NHẤT THIẾT LÀ: THẦY. NHƯNG NẾU BIẾT SOI, MỖI NGHỊCH DUYÊN ĐỀU CÓ THỂ TRỞ THÀNH: CHỖ MÌNH THẤY RÕ PHẦN NÀO TRONG TÂM VẪN CÒN: MUỐN NẮM. MUỐN ĐẨY. MUỐN ĐỜI PHẢI THEO MÌNH.

CHƯƠNG 73
BỆNH – THÂN CÓ THỂ ĐAU, NHƯNG ĐỪNG ĐỂ CÁI ĐAU TRỞ THÀNH TOÀN BỘ CON NGƯỜI MÌNH

Nguồn nền quan trọng:

AN 5.57 – Upajjhatthana Sutta

– Kinh Các Pháp Cần Phải Thường Xuyên Quán Sát, Tăng Chi Bộ. Năm điều thường quán gồm:

TA CÓ TÍNH CHẤT PHẢI GIÀ,

KHÔNG VƯỢT KHỎI GIÀ.

TA CÓ TÍNH CHẤT PHẢI BỆNH,

KHÔNG VƯỢT KHỎI BỆNH.

TA CÓ TÍNH CHẤT PHẢI CHẾT,

KHÔNG VƯỢT KHỎI CHẾT.

TA PHẢI CHIA LÌA VỚI NHỮNG GÌ MÌNH THƯƠNG THÍCH.

TA LÀ CHỦ NHÂN CỦA NGHIỆP,

THỪA TỰ NGHIỆP, theo cách dịch quen thuộc. Quán bệnh không phải để: SỢ BỆNH. ĐỢI BỆNH. NGHĨ TIÊU CỰC. Mà để: KHI BỆNH TỚI, TÂM KHÔNG KINH NGẠC NHƯ THỂ: “CHUYỆN NÀY KHÔNG ĐƯỢC PHÉP XẢY RA VỚI TÔI.” Thân có điều kiện: THÌ ĐỔI. Thân do duyên: THÌ CHỊU TÁC ĐỘNG CỦA DUYÊN. Việc tu không phải:

LÀM THÂN BẤT TỬ. Mà là: CHĂM THÂN ĐÚNG. CHỮA ĐIỀU CẦN CHỮA. VÀ: KHÔNG BIẾN BỆNH THÀNH: MỘT CÁI NGÃ MỚI ĐỂ ÔM SUỐT NGÀY.

CÂU NHỚ:

BỆNH LÀ MỘT TÌNH TRẠNG CỦA THÂN. ĐỪNG VỘI BIẾN NÓ THÀNH: ĐỊNH NGHĨA CỦA CẢ CON NGƯỜI MÌNH.

I. “TA PHẢI CHỊU BỆNH” KHÔNG PHẢI LỜI NGUYỀN

Khi khỏe, ta dễ sống như thể: THÂN SẼ NGHE LỜI MÃI. Muốn thức: THỨC. Muốn làm: LÀM. Muốn đi: ĐI. Rồi có ngày: THÂN KHÔNG HỢP TÁC. Tâm hỏi: “TẠI SAO?”

AN 5.57

nhắc trước: BỆNH THUỘC KHẢ NĂNG TỰ NHIÊN CỦA: ĐỜI SỐNG HỮU VI. Quán như vậy không nhằm: BI QUAN. Mà nhằm giảm: ẢO TƯỞNG KIỂM SOÁT. Nếu đã nhớ: THÂN NÀY CÓ THỂ BỆNH, thì khi bệnh tới: VẪN ĐAU, nhưng có thể bớt thêm lớp: “ĐIỀU NÀY KHÔNG THỂ CHẤP NHẬN.” Câu nhớ: QUÁN BỆNH KHÔNG LÀM BỆNH ĐẾN GẦN HƠN.

NÓ LÀM: TÂM BỚT XA: SỰ THẬT.

II. THÂN BỆNH KHÔNG CÓ NGHĨA TÂM PHẢI BỆNH THEO

Nguồn liên hệ:

SN 36.6 – Sallattha Sutta

– Kinh Mũi Tên. Bài kinh giúp phân biệt: CẢM THỌ ĐAU với: PHẢN ỨNG TÂM LÝ CHỒNG THÊM. Thân đau: LÀ MỘT CHUYỆN. Tâm nói: “TÔI CHỊU KHÔNG NỔI.” “TÔI XONG RỒI.” “SAO NGƯỜI KHÁC KHỎE CÒN TÔI BỆNH?” là: NHỮNG LỚP CÓ THỂ ĐƯỢC THÊM. Không được dùng giáo lý này để nói: “ĐAU LÀ DO NGHĨ.” Không được nói:

“TU TỐT THÌ KHÔNG ĐAU.” Thân vẫn có thể: ĐAU RẤT NHIỀU. Điểm tu là: ĐỪNG THÊM CÁI GÌ KHÔNG CẦN THÊM. NHẬN: Đau. SOI: Phần nào là cảm giác? Phần nào là sợ? Phần nào là tưởng? THẤY: Tâm đang thêm gì? Câu nhớ: ĐAU CẦN ĐƯỢC CHĂM. CÂU CHUYỆN QUANH CÁI ĐAU CẦN: ĐƯỢC SOI.

III. CHĂM THÂN KHÔNG PHẢI CHẤP THÂN

Không nên nghĩ: CHĂM THÂN LÀ: CHẤP THÂN. Khi bệnh: Cần bác sĩ: ĐI BÁC SĨ. Cần thuốc: DÙNG ĐÚNG THEO CHỈ DẪN THÍCH HỢP. Cần nghỉ: NGHỈ. Cần xét nghiệm: XÉT NGHIỆM. Cần dinh dưỡng phù hợp: CHĂM. Phật pháp không dạy: LẤY NIỀM TIN THAY THẾ: MỌI CHĂM SÓC Y KHOA. Niệm Phật có thể: GIÚP TÂM TRỞ VỀ.

Nhưng nếu bệnh cần điều trị: VẪN: ĐIỀU TRỊ. Không chấp thân không có nghĩa: BỎ MẶC THÂN. Mà là: CHĂM THÂN NHƯ MỘT TRÁCH NHIỆM, NHƯNG: KHÔNG DỰNG THÂN THÀNH: MỘT CÁI TÔI PHẢI TỒN TẠI ĐÚNG THEO Ý MÌNH. Câu nhớ: CHĂM THÂN: KHÔNG PHẢI NUÔNG CHIỀU. KHÔNG CHẤP THÂN: KHÔNG PHẢI BỎ MẶC. TRUNG ĐẠO:

CHĂM ĐÚNG.

IV. BỆNH – CHỖ VÔ THƯỜNG TRỞ THÀNH SỰ THẬT SỐNG

Khi khỏe, nói: “VÔ THƯỜNG” rất dễ. Khi bệnh: VÔ THƯỜNG TRỞ THÀNH: THỰC TẾ. Hôm qua: ĐI ĐƯỢC. Hôm nay: KHÓ ĐI. Hôm qua: ĂN NGON. Hôm nay: KHÔNG MUỐN ĂN. Hôm qua: ĐẦU SÁNG. Hôm nay: MỆT. Ngay đây thấy: THÂN KHÔNG THUỘC QUYỀN SỞ HỮU TUYỆT ĐỐI CỦA MÌNH. Mình có thể: CHĂM. Nhưng không thể ra lệnh:

“KHÔNG ĐƯỢC GIÀ.” “KHÔNG ĐƯỢC BỆNH.” “KHÔNG ĐƯỢC ĐỔI.” Đây là chỗ: VÔ NGÃ đi vào đời sống. Không có nghĩa: “THÂN KHÔNG TỒN TẠI.” Mà là: THÂN KHÔNG PHẢI MỘT THỰC THỂ HOÀN TOÀN NẰM DƯỚI QUYỀN CỦA: CÁI TÔI. Câu nhớ: KHI THÂN KHÔNG NGHE LỜI, VÔ THƯỜNG VÀ: VÔ NGÃ THÔI LÀ: LÝ THUYẾT.

V. BỆNH LÀM THAM – SÂN – SỢ LỘ RA

Khi bệnh, tham có thể nói: “TÔI PHẢI KHỎE NGAY.” “THUỐC NÀY PHẢI HIỆU QUẢ.” Sân có thể nói: “TÔI GHÉT CÁI THÂN NÀY.” “TẠI SAO LÀ TÔI?” Sợ có thể nói: “NẾU NẶNG HƠN THÌ SAO?” “NẾU CHẾT THÌ SAO?” Si có thể làm mình: TIN MỌI LỜI CHỮA BỆNH. CHẠY THEO PHƯƠNG PHÁP KHÔNG KIỂM CHỨNG. BỎ CHĂM SÓC THÍCH HỢP VÌ:

MÊ TÍN. Như lý tác ý rất cần ở đây. Hỏi: BÁC SĨ THẬT SỰ ĐÃ NÓI GÌ? KẾT QUẢ LÀ GÌ? ĐIỀU GÌ BIẾT CHẮC? ĐIỀU GÌ MỚI CHỈ LÀ DỰ ĐOÁN? HÔM NAY CÓ THỂ LÀM GÌ? Không để: MỘT TRIỆU KHẢ NĂNG TRONG ĐẦU TRỞ THÀNH: MỘT TRIỆU LẦN ĐAU. Câu nhớ: BỆNH CẦN: THÔNG TIN ĐÚNG. SỢ THƯỜNG SỐNG RẤT KHỎE TRONG: KHOẢNG TRỐNG MÌNH CHƯA BIẾT.

VI. BUÔNG BỆNH KHÔNG PHẢI BỎ CHỮA

Buông không có nghĩa: KHÔNG CHỮA. MẶC KỆ. Buông là: THÔI ĐÒI HIỆN TẠI PHẢI: KHÔNG PHẢI LÀ HIỆN TẠI. Hôm nay thân chỉ làm được: 50%. Nếu cứ bắt: 100%, tâm chiến đấu cả ngày. Buông đúng: NHẬN: Thân đang yếu. SOI: Việc nào thật sự cần? THẤY: Giới hạn hiện tại. KHÔNG DÍNH: Vào hình ảnh: “TÔI PHẢI KHỎE NHƯ TRƯỚC.”

KHÔNG CHẤP: Năng suất là giá trị của tôi. BUÔNG: Phần không thể làm hôm nay.

AN:

Trong giới hạn thật. Điều cần điều trị: VẪN ĐIỀU TRỊ. Câu nhớ: BUÔNG KHÔNG PHẢI: BỎ CHỮA BỆNH. BUÔNG LÀ: THÔI ĐÁNH NHAU VỚI SỰ THẬT: HÔM NAY THÂN ĐANG CẦN ĐƯỢC CHĂM THEO: MỘT CÁCH KHÁC.

VII. KHI BỆNH NẶNG

Có bệnh: CHỮA ĐƯỢC. Có bệnh: CHỈ KIỂM SOÁT ĐƯỢC. Có lúc: Y HỌC CŨNG CÓ GIỚI HẠN. Nếu đặt điều kiện: “CHỈ KHI KHỎE TÔI MỚI SỐNG ĐƯỢC,” thì: NHỮNG NGÀY BỆNH BỊ LOẠI KHỎI: CUỘC ĐỜI. Nhưng hôm nay vẫn có thể: BIẾT MỘT HƠI THỞ. NIỆM MỘT CÂU PHẬT HIỆU. NÓI MỘT LỜI XIN LỖI. THƯƠNG MỘT NGƯỜI. BUÔNG MỘT CHẤP.

KHỞI MỘT THIỆN NIỆM. Giá trị một ngày không chỉ được đo bằng: BAO NHIÊU VIỆC ĐÃ LÀM. Câu nhớ: KHI KHÔNG THỂ CHỌN: THÂN KHỎE HAY BỆNH, MÌNH VẪN CÒN CÓ THỂ TU: CÁCH SỐNG VỚI NGÀY ĐANG CÓ. Định lực không phải: TRỞ VỀ THÂN CŨ. Mà là: TRỞ VỀ: CHÁNH PHÁP NGAY TRONG: THÂN HIỆN TẠI.

VIII. BỆNH VÀ BỐN CÔNG THỨC

Khi bệnh: THẬT: Thân đang ở tình trạng nào? Không phủ nhận. Không phóng đại. CHỮ TÍN: Giữ trách nhiệm với việc chăm thân đúng. THIỆN: Không vì đau mà trút độc lên người khác. GIỚI: Thân bệnh nhưng thân khẩu vẫn cố: KHÔNG TẠO HẠI. ĐỊNH: Tâm sợ thì biết trở về: HƠI THỞ. PHẬT HIỆU. THÂN. HIỆN TẠI.

TUỆ: Thấy: THÂN DO DUYÊN. THỌ DO DUYÊN. SỢ CŨNG DO DUYÊN. Không pháp nào là: MỘT BẢN NGÃ CỐ ĐỊNH. NHẬN: Đau. SOI: Đau thật bao nhiêu? Tâm đang thêm bao nhiêu? THẤY: CHẤP VÀO KHỎE. CHẤP VÀO THÂN. CHẤP VÀO TƯƠNG LAI. KHÔNG DÍNH: Vào câu chuyện. KHÔNG CHẤP: “TÔI PHẢI KHÁC.” BUÔNG: Phần không kiểm soát.

AN:

Ở mức có thể. BỎ ÁC: Không vì bệnh mà tạo thêm hại. LÀM LÀNH: Giữ: LÒNG BIẾT ƠN. LỜI LÀNH. THIỆN NIỆM. trong khả năng. LÀM SẠCH TÂM: Lấy chính bệnh làm chỗ thấy: THAM. SÂN. SỢ. CHẤP. THẤY. TỈNH. BUÔNG. SÁNG. Không phải: THẤY RỒI BỆNH BIẾN MẤT. Mà là: THẤY RỒI TÂM KHÔNG HOÀN TOÀN BỊ BỆNH CHIẾM.

CÂU CUỐI: THÂN BỆNH KHÔNG PHẢI: THẤT BẠI CỦA NGƯỜI TU. THÂN HỮU VI THÌ: CÓ THỂ BỆNH. ĐIỀU PHẢI TU KHÔNG PHẢI: BẮT THÂN HỨA RẰNG NÓ SẼ KHÔNG ĐAU. MÀ LÀ: KHI THÂN ĐAU, TÂM CÒN BIẾT ĐƯỜNG TRỞ VỀ HAY KHÔNG. CẦN CHỮA: THÌ CHỮA. CẦN NGHỈ: THÌ NGHỈ. CẦN NHỜ GIÚP: THÌ NHỜ. CẦN KHÓC: THÌ CÓ THỂ KHÓC.

NHƯNG: TRONG TẤT CẢ NHỮNG ĐIỀU ẤY, ĐỪNG VỘI BIẾN: MỘT CƠN BỆNH THÀNH: TOÀN BỘ CON NGƯỜI MÌNH.

CHƯƠNG 74
GIÀ – MẤT DẦN SỨC KHÔNG CÓ NGHĨA MẤT DẦN GIÁ TRỊ

Nguồn nền:

AN 5.57 – Upajjhatthana Sutta

– Kinh Các Pháp Cần Phải Thường Xuyên Quán Sát, Tăng Chi Bộ. Một trong năm điều được khuyên thường quán: TA CÓ TÍNH CHẤT PHẢI GIÀ, KHÔNG VƯỢT KHỎI: GIÀ. Quán già không phải để: BI QUAN. SỢ TUỔI TÁC. CHỜ SỰ SUY YẾU. Mà để nhớ rằng: SỨC KHỎE. TỐC ĐỘ. KHẢ NĂNG. VAI TRÒ. SỰ TỰ CHỦ.

đều: KHÔNG PHẢI TÀI SẢN VĨNH VIỄN. Già không đến trong một ngày. Nó thường đến: TỪNG CHÚT. Mắt kém hơn. Chân chậm hơn. Sức giảm hơn. Trí nhớ thay đổi. Khả năng thích nghi có thể giảm. Điểm tu không phải: BẮT THÂN MÃI NHƯ CŨ. Mà là: HỌC SỐNG ĐÚNG VỚI: CÁI THÂN ĐANG THAY ĐỔI.

CÂU NHỚ:

GIÀ KHÔNG CHỈ LẤY BỚT SỨC CỦA THÂN. NÓ CÒN HỎI CÁI TÔI: NẾU KHÔNG CÒN LÀM ĐƯỢC NHƯ TRƯỚC, MÌNH CÒN BIẾT: MÌNH LÀ AI KHÔNG?

I. GIÀ KHÔNG PHẢI LỖI CỦA THÂN

Người già có thể bực: “SAO CHÂN YẾU THẾ?” “SAO MẮT MỜ THẾ?” “SAO NHỚ KÉM THẾ?” Nhưng: THÂN KHÔNG PHẠM LỖI. Nó đang: GIÀ. Hữu vi: THÌ ĐỔI. Có sinh: THÌ BIẾN ĐỔI. Vô thường không phải: MỘT TAI NẠN. Mà là: ĐẶC TÍNH CỦA PHÁP HỮU VI. Không cần ghét thân. Không cần bắt thân: “PHẢI NHƯ TRƯỚC.” Câu nhớ:

THÂN KHÔNG PHẢN BỘI MÌNH KHI NÓ: GIÀ. THÂN CHỈ ĐANG LÀM ĐÚNG ĐIỀU MỘT PHÁP HỮU VI PHẢI LÀM.

II. NỖI KHỔ CỦA “TÔI NGÀY XƯA”

Một người từng: ĐI NHANH. LÀM KHỎE. NHỚ GIỎI. ĐƯỢC NHIỀU NGƯỜI HỎI Ý. Rồi: THÂN ĐỔI. Khổ không chỉ vì: BÂY GIỜ YẾU. Mà vì: TÂM CỨ SO “TÔI BÂY GIỜ” VỚI: “TÔI NGÀY XƯA.” Rồi nói: “TÔI HẾT RỒI.” “TÔI VÔ DỤNG RỒI.” Đây là: CHẤP VÀO HÌNH ẢNH CŨ. NHẬN: Sự tiếc. SOI: Đang tiếc sức hay: Đang tiếc HÌNH ẢNH VỀ MÌNH? THẤY:

“TÔI NGÀY XƯA” CŨNG LÀ: MỘT PHÁP ĐÃ QUA. KHÔNG DÍNH: Vào vai trò cũ. KHÔNG CHẤP: GIÁ TRỊ CỦA TÔI = NĂNG LỰC CŨ. BUÔNG. Câu nhớ: TUỔI GIÀ TRỞ NÊN NẶNG HƠN KHI: THÂN ĐÃ ĐỔI MÀ: CÁI TÔI VẪN BẮT MÌNH PHẢI MẶC CHIẾC ÁO CỦA: NHIỀU NĂM TRƯỚC.

III. MẤT SỨC KHÔNG CÓ NGHĨA MẤT GIÁ TRỊ

Xã hội thường đo con người bằng: NĂNG SUẤT. THU NHẬP. TỐC ĐỘ. KHẢ NĂNG. VAI TRÒ. Nhưng Phật pháp không chỉ hỏi: “CÒN LÀM ĐƯỢC BAO NHIÊU?” Một người già vẫn có thể: GIỮ GIỚI. KHÔNG NÓI ÁC. BIẾT NHẪN. BIẾT CẢM ƠN. BIẾT BUÔNG. BIẾT THƯƠNG. NIỆM PHẬT. NHẮC MỘT CÂU

ĐÚNG CHO NGƯỜI SAU.

AN TRÚ

TRONG HIỆN TẠI. Một ngày làm ít việc vẫn có thể là: MỘT NGÀY CÓ PHẨM CHẤT RẤT LỚN. Câu nhớ: GIÁ TRỊ CỦA MỘT ĐỜI NGƯỜI KHÔNG GIẢM THEO: SỐ BƯỚC CHÂN HỌ CÒN ĐI ĐƯỢC.

IV. GIÀ VÀ SỰ PHỤ THUỘC

Người từng tự làm hết thường rất khó khi phải: NHỜ. Có lúc cần: NGƯỜI DÌU. NGƯỜI CHỞ. NGƯỜI NHẮC THUỐC. NGƯỜI GIÚP MỘT VIỆC NHỎ. Cái tôi có thể nói: “TÔI THÀNH GÁNH NẶNG.” Cần tránh hai cực: MỘT: KHÔNG CHỊU NHỜ DÙ: THẬT SỰ CẦN. HAI: Ỷ LẠI TOÀN BỘ DÙ: VẪN CÒN TỰ LÀM ĐƯỢC. Trung đạo: PHẦN NÀO LÀM ĐƯỢC:

TỰ LÀM. PHẦN NÀO CẦN GIÚP: NHẬN GIÚP ĐỠ. Nhận giúp đỡ cũng có thể là pháp tu. Nó chạm vào: NGÃ. TỰ ÁI. KIỂM SOÁT. Câu nhớ: CÓ LÚC TU KHÔNG PHẢI: HỌC CÁCH CHO. MÀ LÀ: HỌC CÁCH NHẬN MỘT SỰ GIÚP ĐỠ MÀ: KHÔNG THẤY MÌNH BỊ HẠ THẤP.

V. THẾ GIỚI ĐI NHANH HƠN MÌNH

Công nghệ đổi. Cách sống đổi. Ngôn ngữ đổi. Người trẻ khác. Người già dễ nói: “NGÀY XƯA TỐT HƠN.” Có khi: ĐÚNG MỘT PHẦN. Có khi: CHỈ LÀ KHÓ THÍCH NGHI. Không phải cái mới nào cũng tốt. Nhưng cũng không phải: KHÁC MÌNH = SAI. Như lý tác ý: ĐIỀU NÀY TRÁI GIỚI KHÔNG? Hay chỉ: KHÁC THỜI? THẬT SỰ NGUY HIỂM KHÔNG? Hay:

MÌNH CHƯA QUEN?

Kinh nghiệm

là tài sản. Nhưng nếu chấp: “TÔI SỐNG LÂU NÊN: TÔI LUÔN ĐÚNG,” thì kinh nghiệm đang nuôi: NGÃ. Câu nhớ: TUỔI GIÀ CẦN TUỆ ĐỂ: KHÔNG BIẾN KINH NGHIỆM THÀNH: THÀNH KIẾN.

VI. GIÀ VÀ MẤT VAI TRÒ

Từng là: NGƯỜI QUYẾT ĐỊNH. NGƯỜI CHĂM NGƯỜI KHÁC. NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU. NGƯỜI KIẾM TIỀN. NGƯỜI ĐƯỢC HỎI Ý. Rồi một ngày: NGƯỜI KHÁC LÀM THAY. Không còn nhiều người hỏi mình nữa. Cái tôi nói: “KHÔNG CÒN CẦN TÔI.” Đây là lúc: VÔ NGÃ ĐI VÀO ĐỜI SỐNG. VAI TRÒ: DO DUYÊN. CÓ. RỒI: ĐỔI. Mình không phải:

VAI TRÒ. Câu nhớ: VAI TRÒ LÀ: VIỆC MÌNH TỪNG LÀM. KHÔNG PHẢI: BẢN THỂ CỦA MÌNH. Khi vai trò nhỏ lại, vẫn còn: GIỚI. TỪ. TUỆ. LỜI LÀNH. SỰ HIỆN DIỆN KHÔNG GÂY ÁP LỰC. SỰ IM LẶNG ĐÚNG LÚC.

VII. TUỔI GIÀ LÀ THỜI ĐIỂM THU GỌN

Tuổi già có thể giúp thấy: CÁI GÌ THẬT SỰ CẦN. Không còn nhiều sức để: TRANH HẾT. GIỮ HẾT. ÔM HẾT. Có thể học: BỚT ĐỒ. BỚT VIỆC. BỚT MỐI QUAN HỆ ĐỘC. BỚT TRANH MÌNH ĐÚNG. BỚT GIỮ CÔNG. BỚT KIỂM SOÁT NGƯỜI SAU. Đây là: THIỂU DỤC. TRI TÚC. BUÔNG. Không phải: BỎ TRÁCH NHIỆM. Mà: THU GỌN PHẦN KHÔNG CẦN ĐỂ:

TÂM NHẸ HƠN. Câu nhớ: TUỔI TRẺ THƯỜNG HỌC: CÁCH XÂY. TUỔI GIÀ CẦN HỌC THÊM: NGHỆ THUẬT THU GỌN. Thu gọn bên ngoài để bên trong có chỗ cho: NIỆM. PHÁP. PHẬT HIỆU. TỪ TÂM. SỰ CHUẨN BỊ CHO: VÔ THƯỜNG LỚN HƠN.

VIII. GIÀ VÀ BỐN CÔNG THỨC

Khi thân già: THẬT: Mình còn làm được gì? Không giả mạnh. Không tự hạ thấp. CHỮ TÍN: Không hứa điều mình không còn đủ khả năng làm. THIỆN: Dùng phần sức còn lại đúng chỗ. GIỚI: Thân yếu nhưng: VẪN GIỮ KHÔNG TẠO HẠI. ĐỊNH: Không để bực vì yếu KÉO TÂM ĐI. TUỆ: Thấy: SỨC KHỎE. VAI TRÒ. HÌNH ẢNH.

KHẢ NĂNG. đều: DO DUYÊN. NHẬN: Tiếc tuổi trẻ. SOI: Đang tiếc điều gì? THẤY: Cái tôi đang bám hình ảnh cũ. KHÔNG DÍNH: Vào quá khứ. KHÔNG CHẤP: “TÔI PHẢI NHƯ XƯA.” BUÔNG: Vai trò không còn.

AN:

Với khả năng hiện tại. BỎ ÁC: Không lấy tuổi già làm lý do cho: SÂN. CAY NGHIỆT. KIỂM SOÁT. LÀM LÀNH: Dùng kinh nghiệm để: NÂNG NGƯỜI SAU, KHÔNG: ĐÈ NGƯỜI SAU. LÀM SẠCH TÂM: Thấy sâu cái chấp vào: THÂN. VAI TRÒ. CÁI TÔI LỊCH SỬ. THẤY. TỈNH. BUÔNG. SÁNG. CÂU CUỐI: GIÀ KHÔNG PHẢI CHỈ LÀ: THÂN ĐI CHẬM.

GIÀ LÀ MỘT THỜI KỲ MÀ: NHIỀU THỨ TỪNG DÙNG ĐỂ ĐỊNH NGHĨA: “TÔI” BẮT ĐẦU: RỜI KHỎI TAY. SỨC KHỎE: BỚT. VAI TRÒ: ĐỔI. NGƯỜI KHÁC: LÀM THAY. THẾ GIỚI: ĐI NHANH HƠN. KỶ NIỆM: NHIỀU HƠN TƯƠNG LAI. NHƯNG: NẾU MỖI THỨ RỜI ĐI LÀ: MỘT LẦN MÌNH HỌC KHÔNG NẮM, THÌ: TUỔI GIÀ KHÔNG CHỈ LÀ QUÁ TRÌNH MẤT DẦN.

NÓ CÒN CÓ THỂ LÀ: QUÁ TRÌNH NHẸ DẦN. THÂN CÓ THỂ CHẬM. NHƯNG: TÂM CÓ THỂ BỚT CHẤP. MẮT CÓ THỂ MỜ. NHƯNG: TUỆ CÓ THỂ SÁNG HƠN. VAI TRÒ CÓ THỂ NHỎ LẠI. NHƯNG: LÒNG TỪ KHÔNG CẦN NHỎ LẠI.

CHƯƠNG 75
CHẾT – KHÔNG ĐỢI ĐẾN HƠI THỞ CUỐI MỚI HỌC BUÔNG

Nguồn nền:

AN 5.57 – Upajjhatthana Sutta

– Kinh Các Pháp Cần Phải Thường Xuyên Quán Sát, Tăng Chi Bộ. Một trong năm điều được khuyên thường quán: TA CÓ TÍNH CHẤT PHẢI CHẾT, KHÔNG VƯỢT KHỎI: CHẾT. Quán chết không phải để: BI QUAN. SỢ HÃI. ÁM ẢNH. Mà để: KHÔNG PHÓNG DẬT.

Pāli:

appamāda – không phóng dật, tỉnh thức, không trì hoãn điều cần tu. Cái chết chắc chắn ở chỗ: ĐỜI SỐNG HỮU VI KHÔNG KÉO DÀI MÃI. Nhưng không chắc ở chỗ: KHI NÀO. Vì vậy: ĐỪNG SỐNG NHƯ THỂ: MÌNH CÓ VÔ HẠN THỜI GIAN ĐỂ: SỬA ĐIỀU CẦN SỬA.

CÂU NHỚ:

CÁI CHẾT KHÔNG CHỈ LÀ CHUYỆN CỦA NGÀY CUỐI. NÓ LÀM: MỖI NGÀY HÔM NAY TRỞ NÊN: CÓ GIÁ TRỊ HƠN.

I. QUÁN CHẾT KHÔNG PHẢI NGHĨ TIÊU CỰC

Trong truyền thống Phật giáo có pháp: maraṇasati – niệm chết, nhớ sự chết. Tinh thần không phải: “TÔI SẮP CHẾT, TÔI SỢ.” Mà là: THÂN NÀY KHÔNG CHẮC GIỮ ĐƯỢC LÂU. Vì vậy: VIỆC THIỆN NÊN LÀM: ĐỪNG TRÌ. LỜI XIN LỖI CẦN NÓI: ĐỪNG TRÌ. NGƯỜI CẦN THƯƠNG: ĐỪNG TRÌ. GIỚI CẦN SỬA: ĐỪNG TRÌ. PHÁP CẦN HỌC:

ĐỪNG TRÌ. Cái chết giúp phân biệt: VIỆC QUAN TRỌNG với: VIỆC CHỈ ĐANG NGỐN ĐỜI. Câu nhớ: NHỚ CHẾT ĐÚNG KHÔNG LÀM MÌNH SỐNG ÍT ĐI. NÓ LÀM MÌNH: BỚT PHÍ ĐỜI VÀO: NHỮNG CHUYỆN KHÔNG ĐÁNG MANG TỚI PHÚT CUỐI.

II. ĐỪNG CHỜ CẬN TỬ MỚI HỌC BUÔNG

Một người sống cả đời: NẮM. GIÀNH. HẬN. KIỂM SOÁT. Đến phút cuối mới nói: “BUÔNG.” Rất khó. Buông là: MỘT KỸ NĂNG ĐƯỢC TẬP. Hôm nay: BUÔNG MỘT LỜI CHÊ. Buông một việc không theo ý. Buông một món không cần. Buông một vai trò đã hết. Buông câu: “PHẢI LÀ CỦA TÔI.” Mỗi lần như vậy, tâm đang học:

RỜI TAY. Đến lúc thân phải buông lớn, tâm đã có: LỊCH SỬ BUÔNG. Công thức: NHẬN. SOI. THẤY. KHÔNG DÍNH. KHÔNG CHẤP. BUÔNG.

AN.

Câu nhớ: CẬN TỬ KHÔNG PHẢI LÚC TỐT NHẤT ĐỂ: BẮT ĐẦU HỌC MỘT NGÔN NGỮ HOÀN TOÀN MỚI. TỐT NHẤT LÀ: CẢ ĐỜI MÌNH ĐÃ NÓI: NGÔN NGỮ CỦA BUÔNG.

III. NGHIỆP VÀ CẬN TỬ

Nhiều truyền thống Phật giáo có các hệ giải thích về: NGHIỆP NẶNG. NGHIỆP THƯỜNG LÀM. CẬN TỬ NGHIỆP. TÁI SINH. Các hệ luận giải không hoàn toàn trình bày giống nhau. Điểm cần giữ chắc:

AN 6.63

nhấn mạnh: cetanā – tác ý là nghiệp. Không nên hiểu: “CHỈ CẦN PHÚT CUỐI CÓ MỘT NIỆM TỐT THÌ: CẢ ĐỜI TRƯỚC KHÔNG CÒN Ý NGHĨA.” Cũng không nên hiểu: “LỠ CÓ MỘT NIỆM LOẠN CUỐI ĐỜI THÌ: MỌI CÔNG PHU MẤT HẾT.” Đó là: CÁCH NÓI QUÁ ĐƠN GIẢN. Một đời sống lặp lại: GIỚI. THIỆN. NIỆM. ĐỊNH. TUỆ. TỪ.

NIỆM PHẬT. đang tạo: HƯỚNG TÂM VÀ: THÓI QUEN. Chuẩn bị tốt cho cận tử không phải: SĂN MỘT KỸ THUẬT PHÚT CHÓT. Mà là: SỐNG ĐÚNG TỪ: RẤT LÂU TRƯỚC PHÚT CHÓT. Câu nhớ: ĐỪNG ĐẶT TOÀN BỘ SỐ PHẬN CỦA MỘT ĐỜI VÀO: MỘT GIÂY CUỐI RỒI QUÊN: HÀNG TRIỆU TÁC Ý ĐÃ ĐƯỢC LẶP TRƯỚC ĐÓ.

IV. KHI GẦN CHẾT – ĐỪNG THÊM HOẢNG LOẠN

Khi một người đang rất yếu, không nên vây quanh bằng: KHÓC LỚN. TRANH CÃI. ÉP. DỌA. CHUYỆN TÀI SẢN CĂNG THẲNG. Làm vậy có thể khiến: TÂM LOẠN THÊM. Tùy hoàn cảnh và truyền thống, có thể hỗ trợ bằng: KHÔNG GIAN YÊN. LỜI NÓI NHẸ. NHẮC ĐIỀU THIỆN. NHẮC PHẬT. NIỆM PHẬT. ĐỌC MỘT ĐOẠN KINH QUEN THUỘC.

NHẮC BUÔNG ĐIỀU ĐANG LO. Nhưng phải: HỢP NGƯỜI. Không phải ai cũng có: CÙNG PHÁP MÔN. Không ép người đang đau phải: “CHẾT CHO THẬT ĐẸP.” Câu nhớ: HỘ NIỆM ĐÚNG KHÔNG PHẢI: LÀM NGƯỜI SẮP CHẾT CĂNG THÊM. Mà là: GIÚP HỌ: BỚT SỢ. BỚT VƯỚNG. CÓ MỘT HƯỚNG TÂM QUEN THUỘC ĐỂ: NƯƠNG.

V. NIỆM PHẬT LÚC CẬN TỬ

Trong nhiều truyền thống Tịnh Độ, cận tử niệm Phật có vị trí quan trọng. Nhưng: PHẬT HIỆU KHÔNG PHẢI: MỘT CÂU MẬT MÃ. Không phải: PHÁT ÂM ĐỦ THÌ: TỰ ĐỘNG XÓA HẾT MỌI ĐIỀU. Câu Phật hiệu nên là: CHỖ TÂM ĐÃ QUEN TRỞ VỀ. Nếu cả đời: NIỆM. GIỮ GIỚI. PHÁT NGUYỆN. LÀM LÀNH. TẬP TRỞ VỀ. thì phút cuối:

PHẬT HIỆU KHÔNG CÒN: XA LẠ. NÓ LÀ: CON ĐƯỜNG QUEN. Không dùng điều này để: PHÁN XÉT NGƯỜI KHÁC KHI CHẾT. Mình không biết đầy đủ nội tâm của họ. Câu nhớ: NIỆM PHẬT LÚC CUỐI ĐỜI MẠNH NHẤT KHI: PHẬT HIỆU ĐÃ LÀ ĐƯỜNG VỀ TỪ LÚC: CÒN KHỎE.

VI. CHẾT VÀ VÔ NGÃ

Khi nghĩ tới chết, tâm sợ mất: THÂN. NGƯỜI THÂN. TÀI SẢN. VAI TRÒ. DANH. KÝ ỨC. MỌI THỨ QUEN. Nỗi sợ lớn vì: CÁI TÔI THẤY: MỌI CHỖ BÁM ĐANG: RỜI. Đây là nơi vô ngã được quán sâu. Không phải: TỰ NHỦ: “KHÔNG CÓ TÔI NÊN KHỎI SỢ.” Mà là: SOI: CÁI GÌ MÌNH ĐANG GỌI: “TÔI”? THÂN? ĐỔI. THỌ? ĐỔI. TƯỞNG? ĐỔI.

HÀNH? ĐỔI. THỨC? DUYÊN SINH. Năm uẩn không cho một thực thể bất biến để: GIỮ MÃI. Câu nhớ: CÁI CHẾT LÀM NỖI SỢ LỚN VÌ NÓ CHẠM ĐÚNG VÀO ĐIỀU CÁI TÔI MUỐN NHẤT: MỌI THỨ PHẢI: TIẾP TỤC THUỘC VỀ: TÔI.

VII. TRƯỚC CÁI CHẾT – ĐIỀU GÌ CÒN QUAN TRỌNG?

Nếu biết còn: MỘT NĂM. MỘT THÁNG. MỘT NGÀY. MỘT GIỜ. Điều gì còn đáng? TRANH MỘT CÂU? GIỮ GIẬN? AI THẮNG? AI HƠN? Hay: XIN LỖI. THA THỨ. NÓI LỜI THẬT. NIỆM PHẬT. GIỮ TÂM LÀNH. DẶN ĐIỀU CẦN DẶN. BUÔNG ĐIỀU KHÔNG CẦN. HỒI HƯỚNG. PHÁT NGUYỆN. Cái chết là một phép thử về: THỨ TỰ GIÁ TRỊ. Câu nhớ:

RẤT NHIỀU CHUYỆN HÔM NAY LÀM MÌNH: MẤT NGỦ, NẾU ĐẶT CẠNH: CÁI CHẾT, TỰ NHIÊN: NHỎ LẠI.

VIII. CHẾT VÀ BỐN CÔNG THỨC

Biết cái chết chắc chắn: THẬT: Không giả rằng mình bất tử. CHỮ TÍN: Sống có trách nhiệm với lời đã nhận. THIỆN: Đừng trì thiện. GIỚI: Đừng đợi gần chết mới sửa. ĐỊNH: Tập một tâm biết trở về. TUỆ: Thấy: THÂN. VAI TRÒ. TÀI VẬT. CẢM THỌ. đều: KHÔNG GIỮ MÃI ĐƯỢC. NHẬN: Sợ. SOI: Sợ mất gì? THẤY:

Chỗ chấp. KHÔNG DÍNH: Vào câu chuyện hoảng loạn. KHÔNG CHẤP: “MỌI THỨ PHẢI Ở LẠI VỚI TÔI.” BUÔNG: Từng lớp.

AN:

Trong khả năng hiện tại. BỎ ÁC: Đừng để phút cuối CÒN BỊ: HẬN DẪN. LÀM LÀNH: Giữ: THIỆN TÂM. LỜI LÀNH. ĐẠI NGUYỆN. LÀM SẠCH TÂM: Thấy sâu: THAM. SÂN. SI. CHẤP THỦ. THẤY. TỈNH. BUÔNG. SÁNG. CÂU CUỐI: CHẾT KHÔNG PHẢI: BÀI HỌC CHỈ DÀNH CHO: NGƯỜI SẮP CHẾT. NGƯỜI ĐANG SỐNG MỚI LÀ: NGƯỜI CẦN HỌC CHẾT.

BẰNG CÁCH: MỖI NGÀY BỚT NẮM MỘT CHÚT. BỚT HẬN MỘT CHÚT. BỚT TRÌ HOÃN VIỆC THIỆN MỘT CHÚT. VÀ: BIẾT TRỞ VỀ MỘT CHÚT. ĐẾN HƠI THỞ CUỐI, KHÔNG AI MANG THEO ĐƯỢC: VAI TRÒ. DANH XƯNG. TÀI SẢN. LỜI KHEN. NHƯNG: CÁCH TÂM ĐÃ ĐƯỢC HUẤN LUYỆN SUỐT MỘT ĐỜI THÌ: KHÔNG PHẢI CHUYỆN CÓ THỂ COI NHẸ. VÌ VẬY:

CHUẨN BỊ CHO CÁI CHẾT TỐT NHẤT KHÔNG PHẢI: CHỜ NGÀY CHẾT. MÀ LÀ: SỐNG SAO CHO: MỖI NGÀY ĐỀU BỚT MỘT THỨ KHÔNG ĐÁNG PHẢI MANG.

PHẦN VIII
KHÔNG CÒN MANG PHÁP TRÊN LƯNG

Từ công thức đến nếp sống

CHƯƠNG 76
MỘT CON ĐƯỜNG DUY NHẤT – GIỚI, ĐỊNH, TUỆ, BỐN CÔNG THỨC VÀ ĐẠI NGUYỆN

KHÔNG CÒN TÁCH RỜI Sau rất nhiều giáo lý, người học rất dễ rơi vào một tình trạng: BIẾT NHIỀU NHƯNG: KHÔNG BIẾT LÚC TÂM ĐỘNG THÌ: DÙNG GÌ. Biết: TỨ DIỆU ĐẾ. DUYÊN KHỞI. TỨ NIỆM XỨ. NGŨ UẨN. VÔ THƯỜNG. VÔ NGÃ. GIỚI – ĐỊNH – TUỆ. BÁT-NHÃ. THIỀN. TỊNH ĐỘ. BỒ-TÁT ĐẠO. Nhưng gặp: MỘT LỜI TRÁI Ý thì:

SÂN. Gặp: MỘT VIỆC HỎNG thì: LOẠN. Gặp: MỘT MÓN LỢI thì: NẮM. Vậy vấn đề không còn là: THIẾU THÊM MỘT GIÁO LÝ. Mà là: CÁC GIÁO LÝ CHƯA NỐI THÀNH: ĐƯỜNG ĐI.

CÂU NHỚ:

PHÁP HỌC NHIỀU ĐẾN ĐÂU MÀ: LÚC TÂM ĐỘNG KHÔNG BIẾT: TRỞ VỀ ĐÂU, THÌ: KIẾN THỨC VẪN CÒN: ĐỨNG NGOÀI CỬA.

I. BẮT ĐẦU BẰNG THẬT

Người tu thường muốn: ĐỊNH SÂU. TUỆ SÁNG. VÔ NGÃ. TÁNH KHÔNG. Nhưng nếu đời sống còn: KHÔNG THẬT. NÓI MỘT ĐẰNG LÀM MỘT NẺO. HỨA RỒI BỎ. CHE LỖI. thì tâm rất khó có: NỀN. Vì vậy con đường bắt đầu bằng: THẬT. Thật không phải: NÓI HẾT MỌI ĐIỀU MÌNH NGHĨ. Mà là: KHÔNG TỰ LỪA MÌNH. Tâm sân: BIẾT SÂN.

Tâm tham: BIẾT THAM. Muốn danh: BIẾT MUỐN DANH. Mệt: BIẾT MỆT. Sai: BIẾT SAI. Từ thật mới có thể nuôi: CHỮ TÍN. Chữ tín ở đây là: SỰ ĐÁNG TIN TRONG ĐỜI SỐNG. Không đồng nhất với: saddhā – tín tâm Phật giáo. Người sống có tín bớt: CHE. BỚT HỐI. BỚT CHIA ĐÔI NỘI TÂM. Đó là nền rất thực cho:

ĐỊNH. Câu nhớ: TUỆ KHÔNG MỌC ĐẸP TRÊN: MỘT ĐỜI SỐNG LIÊN TỤC TỰ LỪA MÌNH.

II. TỪ THẬT ĐẾN GIỚI

Giới thường bị hiểu là: CẤM. Nhưng nhìn sâu: Giới là cách mình không liên tục tạo: HỐI HẬN. SỢ BỊ PHÁT HIỆN. XUNG ĐỘT. HẬU QUẢ. BẤT AN. Khi thân khẩu bớt tạo hại: TÂM NHẸ HƠN. Mạch thực hành của cuốn sách: THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ÍT HỐI – TÂM NHẸ.

Đây là: CÁCH HỆ THỐNG HÓA THỰC HÀNH. Không phải một chuỗi nguyên văn Đức Phật nói trong một câu kinh. Nhưng: GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ

là một xương sống căn bản của con đường tu. Giới không phải: PHẦN SƠ CẤP HỌC XONG RỒI BỎ. Càng tu sâu: CÀNG CẦN GIỚI. Câu nhớ: GIỚI KHÔNG LÀM TÂM NHỎ LẠI. GIỚI BỚT NHỮNG LỖ THỦNG QUA ĐÓ: TÂM TỰ MẤT LỰC.

III. TỪ GIỚI ĐẾN ĐỊNH

Định không chỉ là: NGỒI YÊN. Định lực trong đời sống là: KHẢ NĂNG TRỞ VỀ. Bị chê: TRỞ VỀ. Được khen: TRỞ VỀ. Mất: TRỞ VỀ. Được: TRỞ VỀ. Tâm tán: TRỞ VỀ. Niệm Phật: TRỞ VỀ DANH HIỆU. Theo hơi thở: TRỞ VỀ HƠI THỞ. Tứ Niệm Xứ: TRỞ VỀ: THÂN. THỌ. TÂM. PHÁP. Không cần biến các pháp môn thành một kỹ thuật.

Nhưng điểm chung: TÂM KHÔNG BỊ CUỐN MÃI MÀ: KHÔNG BIẾT. Một lần trở về: CHƯA THÀNH LỰC. Vô số lần trở về: TẠO LỊCH SỬ. Câu nhớ: ĐỊNH LỰC LÀ: LỊCH SỬ CỦA VÔ SỐ LẦN TÂM ĐÃ BIẾT: TRỞ VỀ. ĐỊNH TRONG KHI NGỒI: LÀ TẬP. ĐỊNH TRONG KHI SỐNG: LÀ THI.

IV. TỪ ĐỊNH ĐẾN TUỆ

Khi tâm: SÂN DỮ. SỢ DỮ. THAM DỮ. cái thấy rất dễ: MÉO. Định làm tâm bớt rung đủ để: NHÌN. Rồi Tuệ hỏi: ĐÂY LÀ GÌ? DO DUYÊN NÀO? CÓ BỀN KHÔNG? CÓ PHẢI “TÔI” KHÔNG? NẾU CHẠY THEO THÌ: HẬU QUẢ GÌ? CÓ CẦN NẮM KHÔNG? Ngay một cơn sân đã có thể thấy: KHỔ: Tâm đang cháy. TẬP: Có xúc, thọ, ái, chấp, tự ái.

DIỆT: Không nuôi thì sân có thể tắt. ĐẠO: Chánh niệm. Chánh kiến. Chánh ngữ. Định. Tuệ. Tứ Diệu Đế không chỉ nằm trong bốn chương. Nó có thể nằm: TRONG MỘT PHÚT SÂN. Câu nhớ: TUỆ KHÔNG PHẢI: BIẾT TÊN NHIỀU GIÁO LÝ. TUỆ LÀ: GẶP MỘT PHÁP ĐANG SINH MÀ: THẤY ĐƯỢC NÓ LÀ GÌ, DO ĐÂU, VÀ: CÓ CẦN ĐI THEO NÓ HAY KHÔNG.

V. TỪ TUỆ ĐẾN BUÔNG

Biết: VÔ THƯỜNG. Nhưng vẫn nói: “PHẢI Ở MÃI.” Biết: VÔ NGÃ. Nhưng vẫn nói: “PHẢI THEO TÔI.” Biết: CHẤP GÂY KHỔ. Nhưng vẫn: “NHẤT ĐỊNH KHÔNG BUÔNG.” Vậy: KIẾN THỨC CHƯA THÀNH: GIẢI THOÁT. Công thức Buông: NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

Không nhảy từ: ĐAU sang: “BUÔNG ĐI.” Phải: NHẬN. SOI. THẤY. Nếu chưa thấy, buông dễ biến thành: ĐÈ. TRỐN. PHỦ NHẬN. Buông đúng không xóa: TRÁCH NHIỆM. RANH GIỚI. TRÍ NHỚ. NHÂN QUẢ. Nó bớt: CÁI NẮM KHÔNG CẦN. Câu nhớ: BUÔNG KHÔNG PHẢI: QUĂNG SỰ VIỆC ĐI. MÀ LÀ: KHÔNG ĐỂ SỰ VIỆC TIẾP TỤC: CẦM CỔ TÂM MÌNH.

VI. TỪ BUÔNG ĐẾN SÁNG

Công thức Phật: THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

Ngắn. Nhưng không dễ. THẤY cần: CHÁNH NIỆM. TỈNH cần: ĐỊNH LỰC. BUÔNG cần: TUỆ. SÁNG là: CÁI THẤY BỚT BỊ: THAM. SÂN. SI. CHE. Công thức này không có nghĩa: MỖI LẦN BUÔNG MỘT VIỆC LÀ: THÀNH PHẬT. Mà là: MỖI LẦN THẤY ĐƯỢC MÌNH, TỈNH ĐƯỢC MỘT NIỆM, BUÔNG ĐƯỢC MỘT CHẤP, LÀ: ĐANG ĐI THÊM MỘT BƯỚC VỀ:

HƯỚNG GIÁC NGỘ. Câu nhớ: PHẬT KHÔNG ĐƯỢC ĐẶT VÀO CÔNG THỨC NHƯ: MỘT DANH HIỆU ĐỂ CÁI TÔI SỞ HỮU.

CÔNG THỨC

CHỈ DÙNG CHỮ “PHẬT” ĐỂ NHỚ: HƯỚNG CỦA GIÁC.

VII. ĐẠI NGUYỆN

Sau: GIỚI. ĐỊNH. TUỆ. BUÔNG.

AN.

có một nguy cơ: THÍCH SỰ YÊN CỦA MÌNH QUÁ. Đại thừa nhắc: TUỆ PHẢI ĐI VỚI: BI. Bồ-đề tâm không chỉ hỏi: “TÔI HẾT KHỔ CHƯA?” Mà còn hỏi: “TÔI SỐNG THẾ NÀO ĐỂ: BỚT LÀM NGƯỜI KHÁC KHỔ VÀ: GIÚP ĐƯỢC NGƯỜI KHÁC ĐI VỀ HƯỚNG SÁNG?” Đại nguyện không có nghĩa: ÔM HẾT THẾ GIAN. Không phải: CỨU TẤT CẢ BẰNG SỨC MÌNH.

Mà là: CHO VIỆC TU MỘT HƯỚNG LỚN HƠN: CÁI TÔI. Một lời Pháp đúng. Một việc thiện. Một người được nâng. Một câu đáng lẽ làm đau mà mình không nói. Một cuốn sách có ích. Đều có thể là: HẠNH. Câu nhớ: ĐẠI NGUYỆN KHÔNG NHẤT THIẾT LÀM ĐỜI MÌNH ỒN HƠN. NÓ LÀM: MỖI VIỆC NHỎ BỚT XOAY QUANH: RIÊNG MÌNH.

VIII. BỐN CÔNG THỨC NHẬP THÀNH MỘT DÒNG

Không cần nhớ: BỐN BẢNG RỜI NHAU. Chỉ cần nhớ: MỘT DÒNG SỐNG. THẬT. Biết đúng mình. TÍN. Sống đáng tin. THIỆN. Chọn điều lành. GIỚI. Không tự phá tâm. ÍT HỐI – TÂM NHẸ. Không phải chạy trốn chính mình. ĐỊNH. Biết trở về. TUỆ. Thấy: DUYÊN. VÔ THƯỜNG. VÔ NGÃ. HẬU QUẢ. THẤY. Nhận ra pháp đang sinh.

TỈNH. Không đi ngay đường cũ. NHẬN. Không phủ nhận. SOI. Nhìn sâu. KHÔNG DÍNH. Không bị kéo. KHÔNG CHẤP. Không dựng: “TÔI” VÀ: “CỦA TÔI.” BUÔNG. Thả cái không cần giữ.

AN.

Tâm bớt chiến. SÁNG. Thấy đúng hơn. RỒI: ĐEM CÁI SÁNG ẤY TRỞ LẠI ĐỜI SỐNG BẰNG: THIỆN VÀ: ĐẠI NGUYỆN. CÂU CUỐI: CON ĐƯỜNG KHÔNG PHẢI: BỐN CÔNG THỨC ĐỨNG CẠNH NHAU. CON ĐƯỜNG LÀ: MỘT ĐỜI SỐNG TRONG ĐÓ: SỰ THẬT NUÔI GIỚI. GIỚI NUÔI ĐỊNH. ĐỊNH NÂNG TUỆ. TUỆ GIÚP THẤY. THẤY GIÚP BUÔNG. BUÔNG LÀM TÂM SÁNG.

VÀ: CÁI SÁNG ẤY LẠI ĐI RA THÀNH: THIỆN HẠNH. TU KHÔNG PHẢI: ĐI MỘT ĐƯỜNG THẲNG RỒI: TỚI ĐÍCH. MỖI NGÀY: LẠI THẤY. LẠI TỈNH. LẠI TRỞ VỀ. LẠI SỬA. LẠI BUÔNG. CHO ĐẾN KHI: CÁI MÀ BAN ĐẦU MÌNH PHẢI NHỚ BẰNG:

CÔNG THỨC,

VỀ SAU TRỞ THÀNH: CÁCH TÂM TỰ NHIÊN BIẾT: SỐNG.

CHƯƠNG 77
GẶP MỘT VIỆC THÌ DÙNG PHÁP NÀO?

Một sự việc vừa xảy ra. Có người nói một câu làm mình khó chịu. Có một món lợi. Có một việc mất. Có một lỗi mình vừa gây ra. Có người không theo ý mình. Có một cơn lo. Có một cơn sân. Người học nhiều Phật pháp đôi khi lại rối: NÊN QUÁN VÔ THƯỜNG? NÊN QUÁN VÔ NGÃ? NÊN NIỆM PHẬT? NÊN NHÌN THỌ? NÊN XÉT NHÂN QUẢ? NÊN BUÔNG? NÊN NÓI? NÊN IM? Thật ra không cần lấy toàn bộ Tam tạng ra xử lý:

MỘT CÂU NÓI. Chỉ cần biết: PHÁP NÀO DÙNG TRƯỚC. PHÁP NÀO DÙNG SAU.

CÂU NHỚ:

GẶP VIỆC ĐỪNG VỘI HỎI: “PHÁP NÀO CAO NHẤT?” HÃY HỎI: “NGAY BƯỚC NÀY, TÂM CẦN PHÁP GÌ NHẤT ĐỂ: KHÔNG ĐI SAI THÊM?”

I. TRƯỚC HẾT – NHÌN ĐÚNG VIỆC ĐANG XẢY RA

Nếu chưa thấy sự việc đúng, mọi pháp phía sau dễ dùng sai. Có người nói: “HỌ XÚC PHẠM TÔI.” Nhưng soi kỹ: Họ chỉ: GÓP Ý. Có người nói: “TÔI ĐANG BUÔNG.” Nhưng thật ra: ĐANG TRỐN. Có người nói: “TÔI TỪ BI.” Nhưng thật ra: KHÔNG DÁM ĐẶT RANH GIỚI. Vậy bước đầu: THẬT. Hỏi: CHUYỆN GÌ THẬT SỰ XẢY RA? HỌ THẬT SỰ ĐÃ NÓI GÌ? MÌNH ĐÃ LÀM GÌ? ĐIỀU GÌ LÀ:

DỮ KIỆN? ĐIỀU GÌ LÀ: SUY DIỄN? Ngay đây dùng: yoniso manasikāra – như lý tác ý. Không hỏi: “LÀM SAO CHỨNG MINH TÔI ĐÚNG?” Mà hỏi: “GỐC CỦA VIỆC NÀY LÀ GÌ?” Câu nhớ: KHI SỰ THẬT CÒN CHƯA RÕ, ĐỪNG VỘI DÙNG GIÁO LÝ ĐỂ: BẢO VỆ CÂU CHUYỆN MÌNH ĐÃ DỰNG.

II. TÂM QUÁ MẠNH – DÙNG ĐỊNH TRƯỚC

Khi sân quá mạnh, không phải lúc để triết lý về: TÁNH KHÔNG. Khi sợ quá mạnh, không phải lúc để mổ xẻ: MƯỜI HAI NHÂN DUYÊN. Trước hết: ỔN ĐỊNH TÂM. Có thể: THỞ. IM. ĐI CHẬM. NIỆM PHẬT. TRỞ VỀ THÂN. UỐNG NƯỚC. RỜI CUỘC TRANH CÃI NẾU CẦN. Đó là: ĐỊNH LỰC = KHẢ NĂNG TRỞ VỀ. Tâm đang cháy: ĐỪNG ĐỔ THÊM DẦU.

Không nói ngay. Không nhắn ngay. Không quyết ngay. Không trả ngay. Câu nhớ: TÂM CHƯA ĐỨNG, TUỆ RẤT DỄ BIẾN THÀNH: LÝ LẼ PHỤC VỤ CHO: SÂN. Khi cảm xúc quá mạnh: ĐỊNH TRƯỚC. PHÂN TÍCH SAU.

III. LIÊN QUAN HÀNH ĐỘNG – HỎI GIỚI

Một việc có lợi cho mình nhưng: LÀM HẠI NGƯỜI KHÁC. Một lời giúp mình thắng nhưng: LÀ LỜI SAI. Một cơ hội rất hấp dẫn nhưng: CẦN GIAN DỐI. Ngay đó: KHÔNG CẦN QUÁN GÌ QUÁ CAO. Hỏi: CÓ TRÁI NGUYÊN TẮC ĐẠO ĐỨC KHÔNG? Nếu có: GIỚI ĐI TRƯỚC. Tuệ không dùng để: HỢP LÝ HÓA BẤT THIỆN. Không nói: “TẤT CẢ LÀ KHÔNG NÊN SAO CŨNG ĐƯỢC.”

Không nói: “ĐÓ LÀ PHƯƠNG TIỆN.” Không nói: “TÂM TÔI TỐT LÀ ĐỦ.” Thân – khẩu – ý đều: CÓ HẬU QUẢ. Câu nhớ: KHI ĐÚNG – SAI ĐẠO ĐỨC ĐÃ KHÁ RÕ, ĐỪNG DÙNG TRIẾT LÝ SÂU ĐỂ: LÀM MỜ MỘT ĐIỀU VỐN: ĐƠN GIẢN. BỎ ÁC. RỒI: LÀM LÀNH.

IV. CẢM XÚC – DÙNG TỨ NIỆM XỨ VÀ CÔNG THỨC BUÔNG

Có một cơn: BUỒN. GIẬN. SỢ. Đừng lập tức nói: “BUÔNG ĐI.” Hãy: NHẬN. Thân thế nào? NGỰC CĂNG? TIM NHANH? MẶT NÓNG? Đây là: THÂN. Cảm giác: DỄ CHỊU? KHÓ CHỊU? TRUNG TÍNH? Đây là: THỌ. Tâm: SÂN? SỢ? THAM? Đây là: TÂM. Pháp nào đang vận hành? TRIỀN CÁI? ÁI? CHẤP? Đây là: PHÁP. Tứ Niệm Xứ đưa mình từ:

“TÔI ĐANG KHỔ” sang: “ĐÂY LÀ NHỮNG PHÁP ĐANG ĐƯỢC BIẾT.” Rồi: NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

Câu nhớ: CẢM XÚC CẦN: ĐƯỢC BIẾT TRƯỚC KHI: ĐƯỢC BUÔNG. CÁI MÌNH KHÔNG CHỊU NHÌN THƯỜNG: RẤT KHÓ BUÔNG THẬT.

V. CỨ LẶP – DÙNG DUYÊN KHỞI

Một người cứ: GẶP CÙNG KIỂU VIỆC RỒI: SÂN. Cứ được khen: DÍNH. Cứ bị chê: MẤT NGỦ. Cứ có lợi: MUỐN THÊM. Đừng chỉ hỏi: “LÀM SAO DỪNG CẢM XÚC?” Hãy nhìn: CHUỖI. XÚC. THỌ. ÁI. THỦ. HÀNH ĐỘNG. HẬU QUẢ. Ví dụ: Nghe lời chê: XÚC. Khó chịu: THỌ. Muốn đẩy: ÁI. “NGƯỜI TA KHÔNG ĐƯỢC NÓI TÔI NHƯ VẬY.” THỦ.

Nói lời độc: HÀNH. Quan hệ xấu: HẬU QUẢ. Nếu thấy chuỗi, có thể ngắt: THỌ KHÔNG NHẤT THIẾT PHẢI THÀNH: ÁI. ÁI KHÔNG NHẤT THIẾT PHẢI THÀNH: THỦ. Câu nhớ: DUYÊN KHỞI KHÔNG CHỈ GIẢI THÍCH: VÌ SAO MÌNH KHỔ. NÓ CÒN CHỈ: CHỖ NÀO CHUỖI CÓ THỂ: ĐƯỢC NGẮT.

VI. CẦN NÓI HAY IM – DÙNG CHÁNH NGỮ

Có việc cần nói. Nhưng: SỢ MẤT LÒNG. Có việc nên im. Nhưng cái tôi: MUỐN THẮNG. Hỏi: LỜI NÀY ĐÚNG KHÔNG? CÓ LỢI ÍCH KHÔNG? ĐÚNG LÚC KHÔNG? TÂM GÌ ĐANG NÓI? Theo tinh thần:

MN 58

– Kinh Vương Tử Vô Úy, cần xét: THẬT. KHÔNG THẬT. LỢI ÍCH. KHÔNG LỢI ÍCH. ĐÚNG THỜI. Không phải cứ: “TÔI NÓI THẬT” LÀ: ĐỦ. Sự thật cũng có thể được dùng như: VŨ KHÍ. Cũng không phải: “TỪ BI” LÀ: IM MỌI CHUYỆN. Có khi từ bi phải: NÓI MỘT CÂU KHÓ NGHE. Câu nhớ: CHÁNH NGỮ KHÔNG CHỈ HỎI: “CÂU NÀY CÓ THẬT KHÔNG?”

MÀ CÒN HỎI: “TÔI NÓI NÓ ĐỂ: CHỮA HAY: ĐỂ ĐÂM?”

VII. KHÔNG THỂ ĐỔI – DÙNG VÔ THƯỜNG, VÔ NGÃ VÀ BUÔNG

Có việc: CÒN SỬA ĐƯỢC. Thì: SỬA. Có việc: ĐÃ QUA. Có người: ĐÃ ĐI. Có thân: ĐÃ ĐỔI. Có cơ hội: ĐÃ MẤT. Nếu cứ: “PHẢI KHÁC ĐI,” tâm đang: CHIẾN VỚI THỰC TẠI. Vô thường nhắc: CÁI ĐÃ ĐỔI KHÔNG THỂ BỊ ÉP THÀNH: CÁI CŨ. Vô ngã nhắc: KHÔNG PHẢI MỌI PHÁP ĐỀU NẰM DƯỚI QUYỀN: “TÔI.” Tánh Không nhắc:

ĐỪNG ĐÓNG SỰ VIỆC THÀNH: MỘT BẢN CHẤT BẤT BIẾN. Buông nhắc: ĐỪNG TIẾP TỤC NUÔI: CUỘC CHIẾN ĐÃ KHÔNG CÒN KHẢ NĂNG TẠO: LỢI ÍCH. Câu nhớ: BUÔNG SÂU CHỈ ĐÚNG KHI: VIỆC CẦN LÀM ĐÃ: LÀM. NẾU CÒN TRÁCH NHIỆM MÀ: GỌI BỎ MẶC LÀ: BUÔNG, THÌ: ĐÓ CHƯA PHẢI: TUỆ.

VIII. MỘT BẢN ĐỒ DUY NHẤT

MỘT VIỆC ĐI TỚI. BƯỚC 1: THẬT. Chuyện gì đang xảy ra? TÂM ĐỘNG MẠNH. BƯỚC 2: ĐỊNH. Dừng. Thở. Niệm Phật. Trở về. SẮP HÀNH ĐỘNG. BƯỚC 3: GIỚI. Điều này có gây hại không? CÓ CẢM XÚC. BƯỚC 4: TỨ NIỆM XỨ. THÂN. THỌ. TÂM. PHÁP. CỨ LẶP. BƯỚC 5: DUYÊN KHỞI. Chuỗi đang được nuôi ở đâu? CẦN NÓI. BƯỚC 6:

CHÁNH NGỮ. THẬT. LỢI ÍCH. ĐÚNG THỜI. TÂM LÀNH. KHÔNG ĐỔI ĐƯỢC. BƯỚC 7: VÔ THƯỜNG. VÔ NGÃ. BUÔNG. Đừng chiến với điều đã là sự thật. RỒI: BƯỚC 8: ĐẠI NGUYỆN. Sau việc này, mình muốn trở thành: THAM HƠN? SÂN HƠN? CHẤP HƠN? Hay: THIỆN HƠN? TỈNH HƠN? SÁNG HƠN? THẬT

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ.

NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

CÂU CUỐI: KHÔNG CẦN MANG: CẢ TỦ KINH VÀO: MỘT PHÚT RỐI. CHỈ CẦN: DÙNG ĐÚNG PHÁP Ở: ĐÚNG BƯỚC. TÂM LOẠN: TRỞ VỀ. SẮP LÀM SAI: GIỮ GIỚI. CẢM XÚC MẠNH: NHẬN VÀ SOI. CỨ LẶP: NHÌN DUYÊN. CẦN NÓI: DÙNG CHÁNH NGỮ. CÒN SỬA ĐƯỢC: SỬA. KHÔNG SỬA ĐƯỢC: BUÔNG. VÀ: TRONG MỌI TRƯỜNG HỢP, ĐỪNG ĐỂ: THAM. SÂN.

SI. CẦM: TAY LÁI. HỌC PHÁP ĐẾN MỨC THUẦN KHÔNG PHẢI: NHỚ ĐƯỢC NHIỀU TÊN. MÀ LÀ: KHI VIỆC TỚI, TÂM TỰ BIẾT: BÂY GIỜ PHẢI DỪNG Ở ĐÂU, THẤY GÌ, GIỮ GÌ, BUÔNG GÌ, VÀ: ĐI TIẾP THẾ NÀO.

CHƯƠNG 78
NHỮNG CHỖ DỄ HIỂU SAI NHẤT TRÊN ĐƯỜNG TU

Có những chữ trong Phật pháp rất đẹp: BUÔNG. KHÔNG. VÔ NGÃ. TỪ BI. CHÁNH NIỆM. ĐỊNH. THA LỰC. PHƯƠNG TIỆN. Nhưng chính vì nghe rất đẹp, chúng cũng có thể trở thành: CHỖ CÁI TÔI TRỐN VÀO. Không muốn chịu trách nhiệm: NÓI: “BUÔNG.” Không muốn phân biệt đúng sai: NÓI: “TẤT CẢ ĐỀU KHÔNG.” Không muốn bảo vệ ranh giới:

NÓI: “TỪ BI.” Không chịu nhìn cảm xúc: NÓI: “TU THÌ KHÔNG ĐƯỢC BUỒN.” Muốn người khác cứu hết: NÓI: “THA LỰC.” Muốn làm gì cũng được: NÓI: “PHƯƠNG TIỆN.” Vậy chương này không thêm một giáo lý mới. Nó chỉ: LÀM SẠCH CÁCH MÌNH ĐANG DÙNG: GIÁO LÝ.

CÂU NHỚ:

PHÁP DÙNG ĐÚNG: MỞ CHẤP. PHÁP DÙNG SAI: CÓ THỂ TRỞ THÀNH: MỘT LỚP CHẤP RẤT TINH VI KHOÁC ÁO: TU.

I. BUÔNG KHÔNG PHẢI BỎ MẶC

Có một trách nhiệm chưa làm. Một lời xin lỗi chưa nói. Một việc sai chưa sửa. Rồi nói: “THÔI BUÔNG.” Đó chưa chắc: LÀ BUÔNG. Buông đúng phải phân biệt: VIỆC CẦN LÀM và: PHẦN TÂM ĐANG NẮM. Nếu còn sửa được: SỬA. Còn trách nhiệm: LÀM. Cần ranh giới: ĐẶT. Cần nói rõ: NÓI. Sau đó: PHẦN KHÔNG CÒN CẦN GIỮ:

BUÔNG. Công thức Buông bắt đầu bằng: NHẬN. SOI. THẤY. Không bắt đầu bằng: “MẶC KỆ.” Câu nhớ: BUÔNG KHÔNG PHẢI: BỎ VIỆC. BUÔNG LÀ: LÀM VIỆC CẦN LÀM MÀ: KHÔNG ÔM THÊM CÁI CHẤP KHÔNG CẦN ÔM.

II. TÁNH KHÔNG KHÔNG PHẢI “KHÔNG CÓ GÌ”

Sanskrit:

śūnyatā – tánh Không. Tánh Không không có nghĩa: KHÔNG CÓ GÌ. KHÔNG NHÂN QUẢ. KHÔNG ĐAU. KHÔNG ĐẠO ĐỨC. KHÔNG TRÁCH NHIỆM. Tánh Không chỉ ra rằng: CÁC PHÁP KHÔNG CÓ TỰ TÍNH ĐỘC LẬP, CỐ ĐỊNH, TỰ TỒN TẠI. Chính vì: DUYÊN SINH, nên: CÓ THỂ THAY ĐỔI. CÓ TÁC ĐỘNG. CÓ HẬU QUẢ. Một lời nói không có tự tính bất biến, nhưng vẫn có thể:

LÀM NGƯỜI KHÁC ĐAU. Một hành động do duyên, nhưng vẫn: CÓ HẬU QUẢ. Vì vậy: KHÔNG KHÔNG XÓA: NHÂN QUẢ. Câu nhớ: TÁNH KHÔNG KHÔNG LÀM: ĐỜI VÔ NGHĨA. CHÍNH VÌ: KHÔNG CỐ ĐỊNH, NÊN: ĐỜI CÒN CÓ THỂ CHUYỂN.

III. VÔ NGÃ KHÔNG PHẢI PHỦ NHẬN CON NGƯỜI

Pāli:

anattā – vô ngã. Vô ngã không nói rằng: Ở ĐỜI KHÔNG CÓ CON NGƯỜI THEO NGHĨA QUY ƯỚC. Vẫn có: TÊN. TRÁCH NHIỆM. QUAN HỆ. VAI TRÒ. HẬU QUẢ. Điều bị phủ nhận là: MỘT CÁI NGÃ ĐỘC LẬP, THƯỜNG HẰNG, BẤT BIẾN, ĐỨNG NGOÀI DUYÊN. Không được nói: “KHÔNG CÓ TÔI NÊN: TÔI KHÔNG CHỊU TRÁCH NHIỆM.” Làm sai:

VẪN SỬA. Gây hại: VẪN CHỊU TRÁCH NHIỆM. Nhưng cũng không nói: “TÔI LÀ NGƯỜI XẤU VĨNH VIỄN.” Vì: CON NGƯỜI VẪN CÓ THỂ CHUYỂN. Câu nhớ: VÔ NGÃ KHÔNG LẤY CON NGƯỜI RA KHỎI: ĐỜI. NÓ LẤY: ẢO TƯỞNG VỀ MỘT CÁI TÔI ĐỘC LẬP, BẤT BIẾN RA KHỎI: CÁCH MÌNH NHÌN CON NGƯỜI.

IV. TỪ BI KHÔNG PHẢI CHỊU HẠI VÔ HẠN

Từ bi không có nghĩa: CHỊU MỌI THỨ. Không phải: BỊ LỢI DỤNG MÀ VẪN PHẢI Ở LẠI. BỊ XÂM PHẠM MÀ KHÔNG ĐƯỢC NÓI. BỊ LÀM HẠI LẶP LẠI MÀ VẪN PHẢI TIN. karuṇā – bi phải đi cùng: prajñā – Tuệ. Có người cần: GIÚP. Có người cần: NÓI RÕ. Có người cần: GIỮ KHOẢNG CÁCH. Có việc cần: GIAO NGƯỜI CÓ TRÁCH NHIỆM XỬ LÝ.

Ranh giới đúng không chống từ bi. Có khi nó còn ngăn: NGƯỜI KIA TIẾP TỤC: TẠO HẠI. Câu nhớ: TỪ BI KHÔNG PHẢI: ĐƯA TAY CHO NGƯỜI KHÁC TIẾP TỤC CẮT. CÓ KHI TỪ BI LÀ: RÚT TAY RA VÀ: KHÔNG ĐỂ HỌ TIẾP TỤC LÀM HẠI.

V. CHÁNH NIỆM KHÔNG PHẢI ÉP MÌNH KHÔNG CÓ CẢM XÚC

Chánh niệm không phải: KHÔNG BUỒN. KHÔNG GIẬN. KHÔNG SỢ. Chánh niệm là: BIẾT CÁI ĐANG CÓ. Buồn: BIẾT BUỒN. Sợ: BIẾT SỢ. Sân: BIẾT SÂN. Điểm tu: KHÔNG ĐỂ CẢM XÚC LẬP TỨC: CẦM TAY LÁI. Trong Tứ Niệm Xứ, tâm có tham: BIẾT TÂM CÓ THAM. Tâm không tham: BIẾT TÂM KHÔNG THAM. Không cần: LÀM TÂM THÀNH ĐẸP RỒI MỚI:

QUAN SÁT. Câu nhớ: CHÁNH NIỆM KHÔNG BẢO: CẢM XÚC BIẾN MẤT. CHÁNH NIỆM CHỈ: BẬT ĐÈN ĐỂ: MÌNH THẤY CẢM XÚC ĐANG Ở ĐÓ.

VI. ĐỊNH KHÔNG PHẢI “KHÔNG CÓ Ý NGHĨ”

Một ý nghĩ sinh không có nghĩa: THIỀN THẤT BẠI. Định không thể bị giản lược thành: “ĐẦU TRỐNG RỖNG.” Trong đời sống, có thể nhớ đơn giản: ĐỊNH LỰC = KHẢ NĂNG TRỞ VỀ. Niệm Phật: TÁN RỒI: TRỞ VỀ DANH HIỆU. Theo hơi thở: TÁN RỒI: TRỞ VỀ HƠI THỞ. Làm việc: ĐI RỒI: BIẾT VÀ: TRỞ LẠI VIỆC. Không cần ghét vọng niệm.

Ghét vọng: CŨNG LÀ: MỘT PHẢN ỨNG CẦN ĐƯỢC THẤY. Câu nhớ: ĐỊNH LỰC KHÔNG PHẢI: CHƯA TỪNG ĐI. MÀ LÀ: BIẾT MÌNH ĐÃ ĐI VÀ: CÒN ĐƯỜNG TRỞ VỀ.

VII. THA LỰC VÀ PHƯƠNG TIỆN KHÔNG XÓA TRÁCH NHIỆM

Trong Tịnh Độ, nhiều truyền thống nhấn mạnh: NƯƠNG ĐẠI NGUYỆN ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ. Nhưng không nên biến tha lực thành: “PHẬT LÀM HẾT, TÔI KHỎI SỬA.” Các truyền thống giải thích tự lực – tha lực không hoàn toàn giống nhau. Nhưng không nên: DÙNG THA LỰC ĐỂ: HỢP LÝ HÓA BẤT THIỆN. Tương tự:

upāya-kauśalya – phương tiện thiện xảo không có nghĩa: “MIỄN GỌI LÀ PHƯƠNG TIỆN THÌ: LÀM GÌ CŨNG ĐƯỢC.” Phương tiện phải chịu kiểm bằng: TRÍ. BI. GIỚI. HẬU QUẢ. Nếu “phương tiện” làm: LỆ THUỘC TĂNG. SỢ TĂNG. THAM TĂNG. SÂN TĂNG. NGÃ TĂNG. thì: PHẢI SOI RẤT KỸ. Câu nhớ: THA LỰC KHÔNG XÓA:

PHẦN MÌNH PHẢI TU. PHƯƠNG TIỆN KHÔNG XÓA: PHẦN MÌNH PHẢI CHỊU TRÁCH NHIỆM.

VIII. PHÁP ĐANG MỞ CHẤP HAY ĐANG BẢO VỆ CÁI TÔI?

Sau khi dùng một giáo lý, hãy hỏi: THAM: GIẢM HAY TĂNG? SÂN: GIẢM HAY TĂNG? SI: GIẢM HAY TĂNG? GIỚI: VỮNG HƠN HAY LỎNG HƠN? MÌNH: THẬT HƠN HAY: GIỎI BIỆN HỘ HƠN? MÌNH: TỰ DO HƠN HAY: LỆ THUỘC HƠN? MÌNH: TỪ BI HƠN HAY: CHỈ MỀM YẾU HƠN? MÌNH: SÁNG HƠN HAY: CHỈ THÍCH CẢM GIÁC MÌNH “CAO”? Nếu một giáo lý được dùng mà:

NGÃ TĂNG. CHIA PHE TĂNG. TRÁCH NHIỆM GIẢM. thì: PHẢI SOI LẠI CÁCH MÌNH ĐANG HIỂU. THẬT: Tôi đang dùng Pháp để làm gì? THẤY: Cái tôi có đang núp dưới chữ đẹp không? TỈNH: Dừng biện hộ. GIỚI: Trở lại cái không gây hại. TUỆ: Phân biệt nghĩa đúng. NHẬN. SOI. THẤY: CHẤP PHÁP. KHÔNG DÍNH. KHÔNG CHẤP.

BUÔNG: NGAY CẢ CÁI HIỂU MÌNH ĐANG TỰ HÀO. BỎ ÁC. LÀM LÀNH. LÀM SẠCH TÂM. CÂU CUỐI: PHÁP KHÔNG CHỈ DÙNG ĐỂ: SOI THẾ GIAN. PHÁP TRƯỚC HẾT PHẢI: SOI ĐƯỢC CÁI TÔI ĐANG: CẦM PHÁP. BUÔNG MÀ: TRÁCH NHIỆM MẤT: SOI LẠI. KHÔNG MÀ: NHÂN QUẢ MẤT: SOI LẠI. VÔ NGÃ MÀ: ĐẠO ĐỨC MẤT: SOI LẠI. TỪ BI MÀ: RANH GIỚI MẤT:

SOI LẠI. CHÁNH NIỆM MÀ: CẢM XÚC BỊ ĐÈ: SOI LẠI. ĐỊNH MÀ: TÂM THÀNH CUỘC CHIẾN: SOI LẠI. THA LỰC MÀ: TRÁCH NHIỆM MẤT: SOI LẠI. PHƯƠNG TIỆN MÀ: GIỚI MẤT: SOI LẠI. PHÁP ĐÚNG KHÔNG LÀM: CÁI TÔI CÓ THÊM: VŨ KHÍ. PHÁP ĐÚNG LÀM: CÁI TÔI BỚT CHỖ ĐỂ: TRỐN.

CHƯƠNG 79
LÀM SAO BIẾT MÌNH ĐANG TIẾN BỘ HAY CHỈ ĐỔI MỘT KIỂU CHẤP KHÁC?

Một trong những điều khó nhất trên đường tu là: TỰ BIẾT MÌNH THẬT SỰ ĐANG TIẾN HAY: CHỈ ĐANG ĐỔI HÌNH THỨC CỦA CÁI TÔI. Ngày trước: CHẤP VẬT CHẤT. Về sau: CHẤP PHÁP. Ngày trước: MUỐN NGƯỜI KHEN MÌNH THÀNH CÔNG. Về sau: MUỐN NGƯỜI KHEN MÌNH: TU SÂU. Ngày trước: TRANH PHẦN HƠN. Về sau: TRANH:

“AI HIỂU KINH ĐÚNG HƠN.” Cái tôi rất khéo. Nó có thể mặc: ÁO ĐỜI. Nó cũng có thể mặc: ÁO ĐẠO. Vậy tiêu chuẩn không phải: BAO NHIÊU TRẢI NGHIỆM ĐẶC BIỆT. BAO NHIÊU KINH ĐÃ THUỘC. BAO NHIÊU GIỜ NGỒI. MÀ HỎI: THAM CÓ BỚT KHÔNG? SÂN CÓ BỚT KHÔNG? SI CÓ BỚT KHÔNG? GIỚI CÓ VỮNG HƠN KHÔNG? TÂM CÓ DỄ TRỞ VỀ HƠN KHÔNG? MÌNH CÓ ÍT LÀM NGƯỜI KHÁC KHỔ HƠN KHÔNG?

CÂU NHỚ:

TIẾN BỘ TRÊN ĐƯỜNG TU KHÔNG PHẢI: CÁI TÔI CÓ THÊM MỘT DANH HIỆU. MÀ LÀ: THAM – SÂN – SI BỚT ĐI MỘT PHẦN: QUYỀN LỰC.

I. THẤY PHIỀN NÃO SỚM HƠN

Ngày trước: SÂN BA NGÀY MỚI BIẾT: MÌNH SÂN. Sau: MỘT GIỜ. Rồi: MƯỜI PHÚT. Rồi: VỪA NÓNG LÊN ĐÃ: THẤY. Đó là: TIẾN BỘ. Không cần lập tức: KHÔNG CÒN SÂN. Chánh niệm mạnh hơn nghĩa là: PHÁP VỪA SINH THÌ: ÁNH SÁNG BIẾT ĐÃ TỚI: GẦN HƠN. Công thức Phật: THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

Nếu trước đây phải gây hậu quả mới thấy, bây giờ thấy trước khi nói, thì: ĐƯỜNG ĐÃ ĐỔI. Câu nhớ: TIẾN BỘ KHÔNG PHẢI: PHIỀN NÃO KHÔNG BAO GIỜ GÕ CỬA. MÀ LÀ: MÌNH NHẬN RA TIẾNG GÕ SỚM HƠN.

II. KHOẢNG CÁCH GIỮA CẢM XÚC VÀ PHẢN ỨNG DÀI HƠN

Ngày trước: BỊ CHÊ

→ TRẢ NGAY.

BỊ XÚC PHẠM

→ NHẮN NGAY.

BỊ MẤT

→ ĐỔ LỖI NGAY.

Sau này: BỊ CHÊ

→ BIẾT NÓNG

→ DỪNG.

Đó là: ĐỊNH LỰC. Giữa: XÚC VÀ: PHẢN ỨNG bắt đầu có: KHOẢNG TRỐNG. Trong khoảng ấy: TUỆ CÓ THỂ: XUẤT HIỆN. Đây là: ĐỘNG NHƯNG: KHÔNG ĐỔ. Không phải: KHÔNG ĐAU. Mà là: ĐAU NHƯNG: CÒN KHẢ NĂNG CHỌN. Câu nhớ: KHI GIỮA CẢM XÚC VÀ HÀNH ĐỘNG XUẤT HIỆN: MỘT KHOẢNG DỪNG, TỰ DO ĐÃ BẮT ĐẦU CÓ: CHỖ ĐỨNG.

III. SỬA SAI NHANH HƠN – ÍT BIỆN HỘ HƠN

Người biết nhiều Pháp nhưng: KHÔNG BAO GIỜ NHẬN SAI, thì: PHẢI SOI. Tuệ thật không làm mình: GIỎI BẢO VỆ LỖI. Tuệ làm mình: THẤY LỖI SỚM HƠN. Bị góp ý: Hỏi: “PHẦN NÀO ĐÚNG?” Nếu đúng: SỬA. Không cần: TỰ NHỤC. Không cần: BẢO VỆ HÌNH ẢNH. Đây là: THẬT. hiri – tàm. ottappa – quý. Dùng đúng không phải:

TỰ GHÉT MÌNH. Mà là: BIẾT BẤT THIỆN LÀ BẤT THIỆN, VÀ: KHÔNG MUỐN NUÔI NÓ. Câu nhớ: NGƯỜI ĐANG TIẾN KHÔNG PHẢI: NGƯỜI KHÔNG CÒN LỖI. MÀ LÀ: NGƯỜI BỚT CẦN DỰNG CẢ MỘT CÂU CHUYỆN ĐỂ: BẢO VỆ LỖI.

IV. KHEN CHÊ BỚT QUYỀN LỰC

Được khen: CÓ THỂ VUI. Nhưng hỏi: CÓ NGHIỆN LỜI KHEN KHÔNG? Bị chê: CÓ THỂ KHÓ CHỊU. Nhưng hỏi: CÓ BIẾN LỜI CHÊ THÀNH: “TÔI VÔ GIÁ TRỊ” HAY: “NGƯỜI KIA LÀ KẺ THÙ” KHÔNG? Tiến bộ không có nghĩa: TÂM BẤT ĐỘNG NGAY LẬP TỨC. Mà là: BIÊN ĐỘ BỊ KÉO GIẢM DẦN. Được: BIẾT ĐƯỢC. Mất: BIẾT MẤT. Khen: BIẾT KHEN.

Chê: BIẾT CHÊ. Không đưa cái tôi: LÊN TRỜI. Rồi: NÉM XUỐNG ĐẤT. Câu nhớ: KHEN CHÊ VẪN CÓ: TIẾNG. NHƯNG: CÀNG TU ĐÚNG THÌ: NÓ CÀNG ÍT ĐƯỢC QUYỀN QUYẾT ĐỊNH: MÌNH LÀ AI.

V. BỚT MUỐN THẮNG NGƯỜI KHÁC – KỂ CẢ TRONG PHẬT PHÁP

Người tu có thể tranh: KINH. PHÁP MÔN. TÔNG. AI HIỂU ĐÚNG HƠN. AI TU SÂU HƠN. AI GIỮ GIỚI HƠN. Nếu càng học càng: KHINH NGƯỜI, thì: PHẢI SOI. Phân biệt đúng sai: CẦN. Giữ Chánh pháp: CẦN. Nhưng: ĐÚNG KHÔNG ĐỒNG NGHĨA: PHẢI THẮNG NGƯỜI. Có lúc: NÓI. Có lúc: ĐÍNH CHÍNH. Có lúc: KHÔNG CẦN TRANH THÊM.

Câu nhớ: TUỆ MUỐN: THẤY SỰ THẬT. NGÃ MUỐN: DÙNG SỰ THẬT ĐỂ: THẮNG.

VI. BUÔNG NHANH HƠN NHƯNG TRÁCH NHIỆM KHÔNG GIẢM

Người tiến bộ thật có thể: BUÔNG NHANH HƠN. Nhưng không phải: BỎ VIỆC NHANH HƠN. Làm sai: SỬA. Có trách nhiệm: LÀM. Bị phản bội: KHÔNG ÔM HẬN, NHƯNG: GIỮ RANH GIỚI. Việc đã qua: KHÔNG NHAI LẠI MÃI. Đó là: NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

Nếu càng “BUÔNG” càng: VÔ TRÁCH NHIỆM, thì: SAI. Câu nhớ: BUÔNG THẬT LÀM: TÂM NHẸ NHƯNG: TRÁCH NHIỆM SÁNG HƠN. BUÔNG GIẢ LÀM: VIỆC DANG DỞ RỒI GỌI: ĐÓ LÀ TỰ DO.

VII. TỪ BI HƠN NHƯNG ÍT LỆ THUỘC HƠN

Từ bi trưởng thành không làm: MÌNH DÍNH HẾT VÀO MỌI NGƯỜI. Nó làm: THƯƠNG RÕ HƠN. GIÚP ĐÚNG HƠN. BIẾT GIỚI HẠN HƠN. Không cần: AI CŨNG HIỂU MÌNH. Không cần: AI CŨNG BIẾT ƠN. Không cần: NGƯỜI ĐƯỢC GIÚP PHẢI: THUỘC VỀ MÌNH. cāga – xả. prajñā – Tuệ. Cho: RỒI KHÔNG GIỮ NGƯỜI. Giúp: RỒI KHÔNG MUA LÒNG.

Thương: NHƯNG KHÔNG BIẾN TÌNH THƯƠNG THÀNH: SỞ HỮU. Câu nhớ: LÒNG TỪ TRƯỞNG THÀNH KHÔNG HỎI: “NGƯỜI NÀY CÓ THUỘC VỀ TÔI KHÔNG?” MÀ HỎI: “VIỆC GÌ THẬT SỰ CÓ LỢI CHO NGƯỜI NÀY MÀ: KHÔNG NUÔI THÊM CHẤP CHO: CẢ HAI?”

VIII. BỘ KIỂM CUỐI

Sau nhiều năm tu, không cần trước hết hỏi: “TÔI CHỨNG GÌ?” Hãy hỏi: THẬT: Mình có bớt tự lừa không? CHỮ TÍN: Mình có đáng tin hơn không? THIỆN: Mình có chủ động làm lành hơn không? GIỚI: Mình có ít gây hại hơn không? ĐỊNH: Tâm đi rồi có biết trở về nhanh hơn không? TUỆ: Mình có thấy rõ hơn:

NHÂN. DUYÊN. VÔ THƯỜNG. CHẤP. không? BUÔNG: Mình có bớt giữ những thứ không cần giữ không? BI: Mình có thương mà bớt chiếm hữu không? NGÃ: Mình có bớt cần được công nhận LÀ: NGƯỜI TU GIỎI không? Nếu dần là: CÓ, thì: CON ĐƯỜNG ĐANG ĐI ĐÚNG HƯỚNG. Không cần: KHOE. Không cần: ĐÓNG DẤU. Không cần:

TỰ PHONG. Nếu: HỌC CÀNG NHIỀU, NGÃ CÀNG LỚN, SÂN CÀNG TINH, GIỚI CÀNG LỎNG, BIỆN HỘ CÀNG GIỎI, thì: TRỞ VỀ. THẬT

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ĐỊNH

→ TUỆ.

THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

CÂU CUỐI: ĐỪNG HỎI: MÌNH ĐÃ ĐI CAO BAO NHIÊU. HÃY HỎI: THAM – SÂN – SI CÒN KÉO MÌNH MẠNH BAO NHIÊU. ĐỪNG HỎI: MÌNH ĐÃ BIẾT BAO NHIÊU. HÃY HỎI: KHI BỊ CHẠM, MÌNH CÓ CÒN BIẾT: DỪNG KHÔNG. ĐỪNG HỎI: MÌNH CÓ ĐẶC BIỆT KHÔNG. HÃY HỎI: MÌNH CÓ: THẬT HƠN, LÀNH HƠN, ÍT HẠI HƠN, BIẾT BUÔNG HƠN, VÀ: CÓ TUỆ HƠN KHÔNG.

DẤU HIỆU ĐẸP NHẤT CỦA SỰ TU KHÔNG PHẢI: CÁI TÔI NGÀY CÀNG CÓ NHIỀU THỨ ĐỂ: KỂ. MÀ LÀ: CÁI TÔI NGÀY CÀNG BỚT CHỖ PHẢI: ĐỨNG GIỮA MỌI VIỆC.

CHƯƠNG 80
BẢN ĐỒ TOÀN BỘ CON ĐƯỜNG – TỪ NGƯỜI MỚI BẮT ĐẦU ĐẾN KHI PHÁP THÀNH NẾP SỐNG

Người mới bước vào đạo thường hỏi: “CON NÊN BẮT ĐẦU TỪ ĐÂU?” Người tu lâu lại hỏi: “CON HỌC NHIỀU QUÁ RỒI, BÂY GIỜ PHẢI GOM LẠI THẾ NÀO?” Hai câu hỏi ấy thật ra gặp nhau ở một chỗ. Không ai cần bắt đầu bằng: TÁNH KHÔNG. VÔ TRỤ. BẤT NHỊ. NHỮNG KHÁI NIỆM RẤT SÂU. Cũng không ai nên kết thúc bằng:

MỘT KHO KIẾN THỨC NẰM TRONG: ĐẦU. Con đường phải đi từ: ĐỜI SỐNG. Rồi trở lại: ĐỜI SỐNG.

CÂU NHỚ:

PHẬT PHÁP KHÔNG BẮT ĐẦU Ở CHỖ: MÌNH BIẾT BAO NHIÊU. NÓ BẮT ĐẦU Ở CHỖ: HÔM NAY MÌNH SỐNG NHƯ THẾ NÀO.

I. CHẶNG MỘT – SỐNG CHO NGAY

Người mới tu thường thích: THIỀN. NIỆM PHẬT. ĐỌC KINH. Những việc ấy đều tốt. Nhưng nếu: NÓI DỐI. LÀM HẠI. THẤT TÍN. THAM LỢI. ĐỂ SÂN DẪN. thì: NỀN TÂM LIÊN TỤC BỊ PHÁ. Vì vậy chặng đầu: THẬT. THIỆN. GIỚI. Đừng xem đây là phần thấp. Đây là: MÓNG. Một căn nhà càng cao, móng càng phải: CHẮC.

Chữ tín trong đời sống: Hứa gì: CỐ LÀM. Không làm được: NÓI THẬT. Sai: NHẬN. Không giả: THANH TỊNH. Câu nhớ: NGƯỜI MỚI TU CHƯA CẦN TRƯỚC HẾT HỎI: “TÂM TÔI CÓ SÂU KHÔNG?” HÃY HỎI: “ĐỜI SỐNG TÔI CÓ NGAY KHÔNG?”

II. CHẶNG HAI – HỌC TRỞ VỀ

Sau khi đời sống có nền, bắt đầu: ĐỊNH. Có thể dùng: HƠI THỞ. PHẬT HIỆU. THÂN. MỘT ĐỐI TƯỢNG THIỀN PHÙ HỢP. Điểm chính: ĐI RỒI: BIẾT TRỞ VỀ. Tán: BIẾT. TRỞ VỀ. Lại tán: LẠI TRỞ VỀ. Đó là: TẬP LỰC. Không ghét tâm. Không ép tâm. THẬT

→ THIỆN

→ GIỚI

→ TÂM NHẸ

→ ĐỊNH.

Câu nhớ: MỖI LẦN TRỞ VỀ LÀ: MỘT SỢI RỄ. RẤT NHIỀU LẦN TRỞ VỀ LÀM THÀNH: MỘT CÁI GỐC.

III. CHẶNG BA – HỌC NHÌN

Khi tâm đã có chút đứng, bắt đầu: TỨ NIỆM XỨ. THÂN: Biết thân. THỌ: Biết: DỄ CHỊU. KHÓ CHỊU. TRUNG TÍNH. TÂM: Biết: THAM. SÂN. TÁN. ĐỊNH. PHÁP: Biết: NHỮNG YẾU TỐ ĐANG VẬN HÀNH. “TÔI ĐANG GIẬN” rất dễ thành: “TÔI LÀ CƠN GIẬN.” Nhưng: “SÂN ĐANG CÓ” tạo ra: MỘT KHOẢNG SÁNG. Không phủ nhận. Không đồng nhất.

Đây là: THẤY. Từ đó: TỈNH mới có cơ hội. Câu nhớ: KHI MỘT PHÁP ĐƯỢC THẤY LÀ: PHÁP, NÓ BỚT KHẢ NĂNG GIẢ THÀNH: “TÔI.”

IV. CHẶNG BỐN – HỌC THẤY DUYÊN

Một cơn sân không tự nhiên từ hư không sinh ra. Có: XÚC. THỌ. KÝ ỨC. THÓI QUEN. ÁI. CHẤP. MÔI TRƯỜNG. ĐIỀU KIỆN. Đây là: DUYÊN KHỞI. Khi thấy duyên, mình bớt nói: “TÔI VỐN VẬY.” Có rất nhiều điều đã được: NUÔI. Mà cái được nuôi: CÓ THỂ NGỪNG NUÔI. Tứ Diệu Đế đi vào đây: KHỔ: Thấy. TẬP: Tìm duyên.

DIỆT: Biết có thể dừng. ĐẠO: Biết phải tu gì. Câu nhớ: DUYÊN KHỞI CHO NGƯỜI TU MỘT TIN RẤT LỚN: CÁI GÌ KHÔNG TỰ CÓ THÌ: KHÔNG BẮT BUỘC PHẢI: GIỮ NGUYÊN.

V. CHẶNG NĂM – HỌC KHÔNG NẮM

Đến đây, người tu bắt đầu thấy: MỌI PHÁP ĐỔI. KHÔNG NẰM HOÀN TOÀN DƯỚI QUYỀN: “TÔI.” KHÔNG CÓ TỰ TÍNH ĐỘC LẬP. Nhưng: VÔ THƯỜNG KHÔNG PHẢI: “KHÔNG CẦN LÀM GÌ.” VÔ NGÃ KHÔNG PHẢI: “KHÔNG AI CHỊU TRÁCH NHIỆM.” TÁNH KHÔNG KHÔNG PHẢI: “KHÔNG CÓ NHÂN QUẢ.” Tất cả phục vụ một việc: BỚT CHẤP. NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

Buông không phải: CHÁN ĐỜI. Mà: TUỆ THẤY NÊN: TAY BỚT SIẾT. Câu nhớ: TUỆ LÀM TAY MỞ RA KHÔNG PHẢI VÌ: CHÁN ĐỜI. MÀ VÌ: THẤY KHÔNG CÒN LÝ DO PHẢI: SIẾT CHẶT NHƯ TRƯỚC.

VI. CHẶNG SÁU – TỪ YÊN CHO MÌNH ĐẾN SỐNG CÓ ÍCH

Nếu tu đến:

AN.

NHẸ. rồi chỉ muốn: GIỮ SỰ YÊN CỦA MÌNH, thì: CON ĐƯỜNG VẪN CÒN: HẸP. Đại thừa mở thêm: BỒ-ĐỀ TÂM. BỒ-TÁT HẠNH. ĐẠI NGUYỆN. Không phải: CỨU HẾT MỌI NGƯỜI. Mà là: ĐEM: GIỚI. ĐỊNH. TUỆ. TỪ. BI. VÀO: ĐỜI. Một lời Pháp. Một việc thiện. Một sự im đúng lúc. Một ranh giới đúng. Một cuốn sách. Một việc chăm sóc.

Một câu không nói vì biết: NÓ SẼ LÀM NGƯỜI KHÁC ĐAU. Đều có thể là: HẠNH. Câu nhớ: TU CHO TỚI CHỖ CHỈ CÒN: YÊN CHO MÌNH THÌ: CHƯA ĐỦ RỘNG. TUỆ SÁNG PHẢI CÓ ĐƯỜNG ĐI RA THÀNH: THIỆN HẠNH.

VII. CHẶNG BẢY – NHIỀU CỬA, MỘT HƯỚNG KIỂM

THIỀN: Có cách của Thiền. TỊNH ĐỘ: Có cách của Tịnh Độ. BÁT-NHÃ: Có cách của Bát-nhã. DUY THỨC: Có hệ thống của Duy Thức. PHÁP HOA: Có Nhất thừa và phương tiện. DUY-MA-CẬT: Có nhập thế và bất nhị. Không cần: LÀM TẤT CẢ GIỐNG NHAU. Nhưng có thể kiểm: THAM CÓ GIẢM KHÔNG? SÂN CÓ GIẢM KHÔNG? SI CÓ GIẢM KHÔNG? GIỚI CÓ VỮNG KHÔNG? TÂM CÓ ĐƯỜNG TRỞ VỀ KHÔNG? TUỆ CÓ SÁNG KHÔNG? TỪ BI CÓ RỘNG KHÔNG? Nếu có:

ĐANG ĐI ĐÚNG HƯỚNG. Nếu không: SOI LẠI CÁCH THỰC HÀNH. Câu nhớ: PHÁP MÔN LÀ: CỬA. TIÊU CHUẨN CHUYỂN HÓA MỚI CHO BIẾT: MÌNH THẬT SỰ ĐANG ĐI VÀO NHÀ HAY: CHỈ ĐANG ĐỨNG GIỮ: CÁI CỬA.

VIII. CHẶNG TÁM – KHI PHÁP TRỞ THÀNH NẾP SỐNG

Ban đầu, phải nhớ: THẬT. GIỚI. ĐỊNH. TUỆ. Phải nhớ: NHẬN. SOI. THẤY. KHÔNG DÍNH. KHÔNG CHẤP. BUÔNG.

AN.

Phải nhớ: THẤY. TỈNH. BUÔNG. SÁNG. Phải nhớ: BỎ ÁC. LÀM LÀNH. LÀM SẠCH TÂM. Nhưng đến một ngày, GẶP CHUYỆN, TÂM TỰ: DỪNG. THẤY. GIỮ GIỚI. SOI DUYÊN. NÓI ĐÚNG. BUÔNG ĐÚNG. Không cần: ĐỌC

CÔNG THỨC

TRONG ĐẦU TỪNG CHỮ. Giống người học lái xe. Ban đầu: NHỚ TỪNG BƯỚC. Về sau: TAY BIẾT. MẮT BIẾT. CHÂN BIẾT. Pháp cũng vậy. Mục tiêu của công thức không phải: PHẢI NHỚ

CÔNG THỨC

SUỐT ĐỜI. Mà là: ĐỂ ĐẾN LÚC KHÔNG CẦN NHỚ NỮA, TÂM VẪN SỐNG ĐÚNG TINH THẦN ẤY. CÂU CUỐI: CON ĐƯỜNG BẮT ĐẦU TỪ VIỆC: MÌNH PHẢI NHỚ: PHÁP. NHƯNG NÓ TRƯỞNG THÀNH KHI: CHÍNH ĐỜI SỐNG BẮT ĐẦU NHỚ PHÁP THAY MÌNH. BAN ĐẦU: THẤY RỒI MỚI NHỚ: TỈNH. VỀ SAU: VỪA THẤY ĐÃ TỈNH. BAN ĐẦU: PHẢI CỐ: BUÔNG. VỀ SAU:

TUỆ THẤY RÕ NÊN: TAY TỰ NHẸ. BAN ĐẦU: GIỚI LÀ ĐIỀU PHẢI GIỮ. VỀ SAU: TÂM KHÔNG CÒN MUỐN LÀM NHIỀU ĐIỀU TỪNG PHẢI CẤM MÌNH. ĐẾN LÚC ẤY: PHÁP KHÔNG CÒN NẰM TRONG: SÁCH. PHÁP ĐÃ TRỞ THÀNH: CÁCH MÌNH NHÌN. CÁCH MÌNH NÓI. CÁCH MÌNH LÀM. CÁCH MÌNH YÊU THƯƠNG. CÁCH MÌNH MẤT. CÁCH MÌNH BỆNH. CÁCH MÌNH GIÀ.

VÀ: CẢ CÁCH MÌNH BUÔNG: MỘT ĐỜI.

CHƯƠNG 81
ĐẾN LÚC KHÔNG CÒN CHẤP CẢ CÔNG THỨC – PHÁP LÀ CHIẾC BÈ

Nguồn nền quan trọng:

MN 22 – Alagaddūpama Sutta

– Kinh Ví Dụ Con Rắn, Trung Bộ Kinh. Trong bài kinh này, Đức Phật dùng hình ảnh: CHIẾC BÈ. Tinh thần của dụ ngôn là: PHÁP ĐƯỢC DÙNG ĐỂ: VƯỢT QUA. KHÔNG PHẢI: ĐỂ CHẤP GIỮ NHƯ: MỘT VẬT SỞ HỮU. Câu chữ giữa các bản dịch có thể khác nhau. Nhưng nguyên tắc rất rõ: DÙNG PHÁP. ĐỪNG BIẾN PHÁP THÀNH:

MỘT CHỖ CÁI TÔI TIẾP TỤC NẮM.

CÂU NHỚ:

CÔNG THỨC

LÀ: CÂY GẬY GIÚP MÌNH: HỌC ĐI. ĐẾN LÚC CHÂN ĐÃ BIẾT ĐƯỜNG, ĐỪNG: ĐỘI CÂY GẬY LÊN ĐẦU RỒI GỌI: ĐÓ LÀ: GIÁC NGỘ.

I. BAN ĐẦU CẦN PHÁP ĐỂ GIỮ ĐƯỜNG

Người mới tu cần: QUY TẮC.

CÔNG THỨC.

THỨ TỰ. Giống như người mới học chữ phải biết: NÉT NÀO TRƯỚC. NÉT NÀO SAU. Nếu chưa có nền mà nói: “TỰ DO” thì: TỰ DO RẤT DỄ THÀNH: TÙY TIỆN. Vì vậy bốn công thức rất cần. Chúng giúp biết: KHI NÀO NHÌN. KHI NÀO DỪNG. KHI NÀO GIỮ GIỚI. KHI NÀO SOI. KHI NÀO BUÔNG. Nhưng công thức chỉ hoàn thành sứ mạng khi:

NÓ GIÚP MÌNH SỐNG: ĐÚNG HƠN. Không phải khi: MÌNH NHỚ

CÔNG THỨC

GIỎI HƠN NGƯỜI KHÁC. Câu nhớ: PHÁP LÀ: BẢN ĐỒ. BẢN ĐỒ TỐT VÌ: GIÚP MÌNH ĐI. KHÔNG PHẢI VÌ: MÌNH GẤP NÓ ĐẸP HƠN NGƯỜI KHÁC.

II. KHÔNG CHẤP PHÁP KHÔNG CÓ NGHĨA BỎ PHÁP

Nghe: “ĐỪNG CHẤP PHÁP” rồi nói: “KHỎI GIỮ GIỚI.” “KHỎI HỌC KINH.” “KHỎI TU.” thì: HIỂU SAI. KHÔNG CHẤP KHÁC: BỎ. Có thể: GIỮ GIỚI RẤT VỮNG MÀ: KHÔNG NGÃ MẠN VÌ GIỚI. Có thể: HỌC KINH RẤT SÂU MÀ: KHÔNG CHẤP CHỮ. Có thể: NIỆM PHẬT RẤT CHUYÊN MÀ: KHÔNG CHÊ NGƯỜI KHÁC. Câu nhớ: KHÔNG CHẤP PHÁP KHÔNG PHẢI:

KHÔNG DÙNG PHÁP. MÀ LÀ: DÙNG PHÁP MÀ: KHÔNG BIẾN PHÁP THÀNH: TÀI SẢN CỦA CÁI TÔI.

III. BUÔNG CẢ CÁI “TÔI ĐANG BUÔNG”

Một người nói: “TÔI BUÔNG GIỎI LẮM.” Ngay đó có thể xuất hiện: MỘT CÁI TÔI MỚI. Ngày trước: “TÔI GIÀU.” Sau: “TÔI GIỎI.” Rồi: “TÔI VÔ CHẤP.” Cái tôi chỉ: ĐỔI QUẦN ÁO. Công thức Phật: THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG

phải quay lại soi chính: NGƯỜI ĐANG DÙNG

CÔNG THỨC.

THẤY: Mình đang tự hào vì buông. TỈNH: Không nuôi. BUÔNG: Cả hình ảnh: “TÔI LÀ NGƯỜI BIẾT BUÔNG.” Câu nhớ: CÁI CHẤP CUỐI CÙNG CÓ KHI KHÔNG PHẢI: “CỦA TÔI.” MÀ LÀ: “TÔI LÀ NGƯỜI ĐÃ HẾT CHẤP.”

IV. TUỆ THẬT KHÔNG LÀM MÌNH KHINH NGƯỜI

Hiểu: VÔ THƯỜNG. VÔ NGÃ. TÁNH KHÔNG. rồi nhìn người khác: “HỌ CÒN MÊ QUÁ.” Nếu sinh: KHINH, thì: PHẢI SOI. Thấy người khác còn mê không đồng nghĩa: PHẢI KHINH HỌ. Duyên khởi giúp thấy: MỖI NGƯỜI ĐANG ĐI TRONG: RẤT NHIỀU ĐIỀU KIỆN. Điều đó không xóa: TRÁCH NHIỆM. Nhưng làm: BI CÓ THỂ LỚN HƠN.

Câu nhớ: THẤY NGƯỜI KHÁC CÒN MÊ MÀ: SINH KIÊU, THÌ: ÁNH SÁNG VỪA CÓ ĐÃ BỊ: CÁI TÔI ĐỨNG CHẮN PHÍA TRƯỚC.

V. KHÔNG CHẤP PHÁP MÔN NHƯNG VẪN CÓ THỂ ĐI RẤT SÂU

Không chấp Thiền không có nghĩa: KHÔNG THIỀN. Không chấp Tịnh Độ không có nghĩa: KHÔNG NIỆM PHẬT. Không chấp kinh không có nghĩa: KHÔNG HỌC KINH. Một người có thể: NIỆM PHẬT SUỐT ĐỜI RẤT CHUYÊN NHẤT MÀ: KHÔNG NÓI “CHỈ TÔI ĐÚNG.” Một người có thể: HÀNH THIỀN RẤT SÂU MÀ: KHÔNG CHÊ PHÁP MÔN KHÁC.

CHUYÊN NHẤT KHÁC: ĐỘC TÔN. Câu nhớ: ĐI SÂU MỘT GIẾNG ĐỂ: GẶP NƯỚC KHÔNG CÓ NGHĨA: PHẢI NÓI: CẢ TRÁI ĐẤT CHỈ CÓ: CÁI GIẾNG CỦA MÌNH.

VI. VÔ NGÃ KHÔNG XÓA TRÁCH NHIỆM

Có người nói: “KHÔNG CÓ TÔI.” Rồi: KHÔNG NHẬN LỖI. Có người nói: “TẤT CẢ DO DUYÊN.” Rồi: ĐỔ HẾT CHO DUYÊN. Không đúng. Ở tầng quy ước: MÌNH NÓI. MÌNH LÀM. MÌNH HỨA. MÌNH TẠO HẬU QUẢ. Vì vậy: VẪN PHẢI CHỊU TRÁCH NHIỆM. Vô ngã không biến lỗi thành: KHÔNG CÓ. Nó chỉ không đóng người sai thành:

MỘT BẢN CHẤT CỐ ĐỊNH VĨNH VIỄN. Sai: NHẬN. Cần sửa: SỬA. Rồi: ĐI TIẾP. Câu nhớ: KHÔNG CÓ MỘT CÁI TÔI BẤT BIẾN KHÔNG CÓ NGHĨA: KHÔNG CÓ MỘT NGƯỜI ĐANG: CHỊU TRÁCH NHIỆM CHO: ĐIỀU MÌNH VỪA LÀM.

VII. KHI CÔNG THỨC BIẾN MẤT, GIỚI – ĐỊNH – TUỆ PHẢI CÒN

Nếu một ngày: KHÔNG CÒN NHẮC CÔNG THỨC NHƯNG: THÂN KHẨU SẠCH HƠN. TÂM DỄ TRỞ VỀ HƠN. THẤY CHẤP SỚM HƠN. BUÔNG NHANH HƠN. BI RỘNG HƠN. TRÁCH NHIỆM RÕ HƠN. thì:

CÔNG THỨC

ĐÃ: HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ. Nhưng nếu nói: “TÔI VƯỢT CÔNG THỨC RỒI” mà: GIỚI LỎNG. SÂN MẠNH. NGÃ LỚN. LÀM NGƯỜI KHÁC KHỔ HƠN. thì: KHÔNG PHẢI: VƯỢT. Có thể chỉ là: BỎ. Câu nhớ: KHI CÁI THANG KHÔNG CÒN CẦN NHÌN, NGƯỜI TA PHẢI: ĐỨNG CAO HƠN. NẾU: VỨT THANG RỒI: RƠI XUỐNG ĐẤT, THÌ: CHƯA GỌI LÀ: VƯỢT THANG.

VIII. PHÁP TRỞ THÀNH CÁCH MÌNH SỐNG

Ban đầu: MÌNH TU. Về sau: MỖI VIỆC THÀNH: CHỖ TU. Ăn: BIẾT ĐỦ. Nói: BIẾT DỪNG. Bị chê: BIẾT SOI. Được khen: KHÔNG BAY. Mất: BIẾT ĐAU NHƯNG: KHÔNG THÊM ĐỘC. Yêu thương: KHÔNG SỞ HỮU. Giúp: KHÔNG GIỮ CÔNG. Sai: BIẾT NHẬN. Đúng: KHÔNG CẦN THẮNG. Bệnh: CHĂM THÂN. Già: NHẸ VAI. Chết: KHÔNG ĐỢI PHÚT CUỐI MỚI HỌC:

BUÔNG. Đến đây: BỐN CÔNG THỨC KHÔNG MẤT. CHÚNG: TAN VÀO: ĐỜI SỐNG. Không còn bốn bảng riêng. Chỉ còn một tâm biết: THẤY ĐIỀU ĐANG XẢY RA. KHÔNG VỘI ĐI THEO BẤT THIỆN. BIẾT: GIỮ GIỚI. TRỞ VỀ. SOI DUYÊN. BUÔNG CHẤP. LÀM LÀNH. VÀ: HƯỚNG PHẦN ĐỜI CÒN LẠI VỀ: GIÁC NGỘ. CÂU CUỐI:

CÔNG THỨC

KHÔNG PHẢI: ĐÍCH. PHÁP MÔN KHÔNG PHẢI: ĐÍCH. KIẾN THỨC KHÔNG PHẢI: ĐÍCH. TẤT CẢ CHỈ CÓ Ý NGHĨA KHI: THAM – SÂN – SI BỚT: QUYỀN. GIỚI – ĐỊNH – TUỆ LỚN: LÊN. VÀ: TÂM NGÀY CÀNG: TỰ DO HƠN. BAN ĐẦU: MÌNH MANG PHÁP. VỀ SAU: PHÁP NÂNG MÌNH. CUỐI CÙNG: KHÔNG CÒN CẦN ĐI KHOE: MÌNH ĐANG MANG PHÁP. BỞI:

NHÌN CÁCH MÌNH SỐNG, NGƯỜI TA ĐÃ CÓ THỂ THẤY: PHÁP ĐANG Ở ĐÓ. CÁI GÌ CẦN GIỮ: GIỮ. CÁI GÌ CẦN SỬA: SỬA. CÁI GÌ CẦN LÀM: LÀM. CÁI GÌ KHÔNG CÒN CẦN NẮM: BUÔNG. VÀ: NGAY CẢ CÁI TÔI ĐANG TỰ HÀO RẰNG: MÌNH ĐÃ BUÔNG, CŨNG: PHẢI ĐƯỢC THẤY.

CHƯƠNG 82
LỜI KẾT – ĐỪNG MANG CẢ CUỐN SÁCH TRÊN LƯNG; HÃY ĐỂ PHÁP ĐI VÀO CÁCH MÌNH SỐNG

Một cuốn sách Phật pháp dù dày đến đâu cũng không thể: TU THAY NGƯỜI ĐỌC. Một câu kinh dù hay đến đâu cũng không thể: BUÔNG THAY MỘT CÁI CHẤP. Một công thức dù dễ nhớ đến đâu cũng không thể: GIỮ GIỚI THAY MÌNH. Cuốn sách này đã đi qua: KHỔ. DUYÊN KHỞI. VÔ THƯỜNG. VÔ NGÃ. TỨ NIỆM XỨ.

BÁT CHÁNH ĐẠO. GIỚI – ĐỊNH – TUỆ. BÁT-NHÃ. TÁNH KHÔNG. THIỀN. TỊNH ĐỘ. BỒ-TÁT ĐẠO. ĐẠI NGUYỆN. BỆNH. GIÀ. CHẾT. Nhưng cuối cùng, tất cả phải trở về một câu hỏi: NGAY VIỆC ĐANG Ở TRƯỚC MẶT, MÌNH SẼ: SỐNG NHƯ THẾ NÀO?

CÂU NHỚ:

HỌC PHÁP KHÔNG PHẢI: ĐỂ CÓ THÊM MỘT THẾ GIỚI TRONG ĐẦU. HỌC PHÁP LÀ: ĐỂ THẾ GIỚI ĐANG ĐI QUA: MẮT. TAI. THÂN. TÂM. BỚT BỊ: THAM. SÂN. SI. BIẾN THÀNH: KHỔ.

I. GIỮ GỐC GIỚI – ĐỊNH – TUỆ

Có thể quên tên nhiều chương. Không sao. Có thể quên mã một bài kinh. Có thể: TRA LẠI. Nhưng đừng quên: GIỚI. ĐỊNH. TUỆ. GIỚI HỎI: VIỆC NÀY CÓ GÂY HẠI KHÔNG? ĐỊNH HỎI: TÂM ĐANG BỊ KÉO HAY: CÒN BIẾT TRỞ VỀ? TUỆ HỎI: MÌNH ĐANG THẤY SỰ VIỆC ĐÚNG NHƯ NÓ LÀ HAY: QUA: THAM. SÂN. CHẤP? Giới giúp: BỚT HỐI.

Tâm bớt rối: DỄ ĐỊNH. Định đủ: TUỆ DỄ THẤY. Tuệ thấy: GIỚI KHÔNG CÒN CHỈ LÀ: MỆNH LỆNH BÊN NGOÀI. Câu nhớ: GIỚI GIỮ CHÂN KHỎI: BƯỚC SAI. ĐỊNH GIỮ TÂM KHỎI: BỊ KÉO. TUỆ CHỈ CHO BIẾT: VÌ SAO KHÔNG CẦN BƯỚC CON ĐƯỜNG CŨ NỮA.

II. BỐN CÔNG THỨC VẪN Ở ĐÓ

CÔNG THỨC PHẬT:

THẤY

→ TỈNH

→ BUÔNG

→ SÁNG.

CÔNG THỨC ĐỊNH LỰC:

THẬT

→ TÍN

→ THIỆN

→ GIỚI

→ ÍT HỐI – TÂM NHẸ

→ ĐỊNH

→ TUỆ

→ LỰC.

CÔNG THỨC BUÔNG:

NHẬN

→ SOI

→ THẤY

→ KHÔNG DÍNH

→ KHÔNG CHẤP

→ BUÔNG

→ AN.

CÔNG THỨC TAM TẠNG:

Theo tinh thần cô đọng của Pháp Cú 183: BỎ ÁC

→ LÀM LÀNH

→ LÀM SẠCH TÂM.

Cần nhớ: Các công thức là: CÁCH HỆ THỐNG HÓA ĐỂ: DỄ NHỚ. DỄ HÀNH. Không được tùy tiện gọi: TOÀN BỘ LÀ NGUYÊN VĂN ĐỨC PHẬT NẾU: KINH KHÔNG NÓI ĐÚNG CẤU TRÚC ẤY. Câu nhớ:

CÔNG THỨC

CÀNG NGẮN, NGƯỜI DÙNG CÀNG PHẢI: HIỂU SÂU. NẾU CHỈ THUỘC CHỮ MÀ: KHÔNG HIỂU NGHĨA,

CÔNG THỨC

RẤT DỄ THÀNH: KHẨU HIỆU.

III. ĐỪNG TU CHỈ ĐỂ TRỞ THÀNH “MỘT NGƯỜI TU”

Ban đầu: MUỐN BỚT KHỔ. Sau: THÍCH PHÁP. Rồi có thể hình thành: MỘT HÌNH ẢNH MỚI: “TÔI LÀ NGƯỜI TU.” Nếu không thấy, cái danh ấy lại có thể trở thành: MỘT CÁI NGÃ. Muốn: ĐƯỢC KÍNH. ĐƯỢC NGHE. ĐƯỢC XEM LÀ HIỂU SÂU. ĐƯỢC CÔNG NHẬN. Cái tôi thế tục chỉ: ĐỔI ÁO. Tu không phải: TẠO MỘT CĂN CƯỚC ĐẸP HƠN.

Mà là: THAM BỚT. SÂN BỚT. SI BỚT. CHẤP BỚT. TỪ RỘNG HƠN. Câu nhớ: ĐỪNG DÙNG SỰ TU ĐỂ: XÂY THÊM MỘT NGƯỜI CẦN ĐƯỢC NGƯỜI KHÁC XÁC NHẬN: LÀ: ĐANG TU.

IV. ĐỪNG ĐỢI MỘT ĐỜI HOÀN HẢO RỒI MỚI TU

Có người nghĩ: HẾT VIỆC RỒI: TU. HẾT LO RỒI: TU. KHÔNG AI LÀM PHIỀN RỒI: TU. CÓ CHỖ THẬT YÊN RỒI: TU. Nhưng đời có thể không cho một khoảng: HOÀN HẢO NHƯ VẬY. Người làm mình khó chịu: LÀ NƠI HỌC SÂN. Việc không như ý: LÀ NƠI HỌC ĐỊNH. Mất mát: LÀ NƠI HỌC VÔ THƯỜNG. Thành công: LÀ NƠI HỌC KHÔNG SAY.

Bệnh: LÀ NƠI HỌC: CHĂM THÂN MÀ: KHÔNG CHẤP THÂN. Già: LÀ NƠI HỌC: RỜI VAI TRÒ. Chết: LÀ NƠI THẤY: MỌI THỨ PHẢI: BUÔNG. Câu nhớ: ĐỜI KHÔNG PHẢI: THỨ ĐỨNG NGOÀI PHÁP LÀM MÌNH: KHÓ TU. CHÍNH ĐỜI LÀ: NƠI PHÁP PHẢI ĐƯỢC CHỨNG MINH BẰNG: CÁCH SỐNG.

V. ĐẠI NGUYỆN KHÔNG PHẢI LÀM MÌNH KIỆT SỨC

Đại nguyện không phải: “TÔI PHẢI LO HẾT.” Không phải: “TÔI CỨU CHÚNG SINH.” Mà là: SỐNG SAO ĐỂ: PHẦN MÌNH CÓ THỂ LÀM TRỞ THÀNH: DUYÊN LÀNH. Có khi là: MỘT BÀI GIẢNG. MỘT BỮA ĂN. MỘT NGƯỜI ĐƯỢC LẮNG NGHE. MỘT CÂU KINH ĐƯỢC GIẢI ĐÚNG. MỘT LỜI KHÔNG NÓI VÌ BIẾT: NÓ SẼ LÀM NGƯỜI KHÁC ĐAU. Có khi là:

BIẾT RÚT LUI ĐỂ: NGƯỜI KHÁC TỰ TRƯỞNG THÀNH. Đại nguyện phải đi cùng: GIỚI. ĐỊNH. TUỆ. BI. Câu nhớ: ĐẠI NGUYỆN LỚN KHÔNG NHẤT THIẾT BẮT ĐẦU BẰNG: VIỆC LỚN. NÓ BẮT ĐẦU KHI: VIỆC NHỎ KHÔNG CÒN CHỈ LÀM VÌ: RIÊNG MÌNH.

VI. KHÁC PHÁP MÔN – ĐỪNG QUÊN GỐC

Người này: NIỆM PHẬT. Người kia: THIỀN. Người khác: HỌC NIKĀYA. Người khác nữa: HỌC: PHÁP HOA. BÁT-NHÃ. DUY THỨC. Không cần: XÓA KHÁC BIỆT. Cũng không cần: ĐÁNH NHAU VÌ KHÁC BIỆT. Hãy hỏi: BẤT THIỆN CÓ GIẢM KHÔNG? THIỆN CÓ TĂNG KHÔNG? GIỚI CÓ VỮNG KHÔNG? TÂM CÓ SÁNG HƠN KHÔNG? LÒNG TỪ CÓ RỘNG HƠN KHÔNG? Nếu pháp môn làm mình:

KHINH PHÁP MÔN KHÁC, hãy: SOI CÁI TÔI ĐANG: CHEN VÀO. Câu nhớ: MÌNH CÓ THỂ: ĐI MỘT CỬA SUỐT ĐỜI MÀ: KHÔNG CẦN DÙNG CÁI CỬA ẤY ĐỂ: ĐÓNG CỬA VỚI: NGƯỜI KHÁC.

VII. KHI BỆNH – GIÀ – CHẾT

Đến lúc thân yếu, có thể chỉ còn: THỞ. NIỆM PHẬT. BIẾT ĐAU. KHÔNG THÊM HOẢNG. NÓI LỜI CẦN NÓI. BUÔNG ĐIỀU CẦN BUÔNG. Đến tuổi già, có thể không đọc được nhiều. Nhưng vẫn có thể nhớ: ĐỪNG LÀM ÁC. LÀM ĐIỀU LÀNH. GIỮ TÂM. Đến phút cuối, có thể không nhớ: TÊN CHƯƠNG. Không sao. Nếu cả đời đã tập:

TRỞ VỀ, thì: KHẢ NĂNG TRỞ VỀ QUAN TRỌNG HƠN: THUỘC MỘT MỤC LỤC. Câu nhớ: ĐẾN CUỐI ĐỜI, ĐIỀU QUÝ KHÔNG PHẢI: CUỐN SÁCH MÌNH ĐỌC DÀY BAO NHIÊU. MÀ LÀ: TÂM ĐÃ QUEN QUAY VỀ ĐƯỢC: BAO NHIÊU.

VIII. ĐẶT CUỐN SÁCH XUỐNG – VÀ SỐNG

Đến đây: KHÔNG CẦN THÊM: MỘT CÔNG THỨC THỨ NĂM. Không cần: MỘT PHÁP MÔN MỚI. Không cần: MỘT DANH HIỆU MỚI. Chỉ cần: SÁNG THỨC: BIẾT TÂM. GẶP NGƯỜI: GIỮ LỜI. GẶP VIỆC: GIỮ GIỚI. TÂM ĐỘNG: TRỞ VỀ. PHIỀN NÃO SINH: THẤY. CÓ CHẤP: SOI. CÒN SỬA: SỬA. KHÔNG SỬA ĐƯỢC: BUÔNG. ĐƯỢC LỢI: KHÔNG SAY.

MẤT: KHÔNG TUYỆT VỌNG. LÀM LÀNH: KHÔNG GIỮ CÔNG. GIÚP NGƯỜI: KHÔNG SỞ HỮU. BỆNH: CHĂM. GIÀ: NHẸ. CHẾT: KHÔNG ĐỢI ĐẾN LÚC ẤY MỚI HỌC: RỜI TAY. Rồi ngày sau: LẠI SỐNG. Không cần: VĨ ĐẠI. Không cần: BIỂU DIỄN. Pháp lớn nhất cuối cùng phải sống được TRONG: MỘT VIỆC RẤT NHỎ. LỜI KHÉP: ĐỌC XONG CUỐN SÁCH NÀY, ĐỪNG:

MANG CẢ CUỐN SÁCH TRÊN: LƯNG. CHỈ CẦN MANG: MỘT CÁI TÂM BIẾT: THẤY. TỈNH. GIỮ GIỚI. TRỞ VỀ. SOI. LÀM LÀNH. VÀ: BUÔNG. KHI CÒN PHẢI NHỚ: HÃY NHỚ

CÔNG THỨC.

KHI ĐÃ THUẦN: HÃY ĐỂ

CÔNG THỨC

TAN VÀO: ĐỜI SỐNG. KHI CÒN PHẢI HỌC: HÃY HỌC KINH. KHI ĐÃ HIỂU: HÃY DÙNG KINH ĐỂ: SOI TÂM. KHI ĐÃ SOI THẤY: HÃY: SỬA. KHI ĐÃ SỬA: ĐỪNG: GIỮ CÔNG. KHI ĐÃ BUÔNG: ĐỪNG: CHẤP CẢ: CÁI BUÔNG. VÀ NẾU MỘT NGÀY NÀO ĐÓ, NGƯỜI ĐỌC KHÔNG CÒN NHỚ NỔI MỘT CHỮ TRONG: CUỐN SÁCH NÀY, NHƯNG HỌ: BIẾT DỪNG TRƯỚC MỘT ĐIỀU ÁC, BIẾT LÀM MỘT VIỆC LÀNH, BIẾT TRỞ VỀ KHI TÂM LOẠN, BIẾT BUÔNG MỘT CHẤP, VÀ:

BIẾT THƯƠNG MỘT NGƯỜI MÀ: KHÔNG SỞ HỮU, THÌ: CUỐN SÁCH ĐÃ LÀM ĐƯỢC: VIỆC CỦA NÓ.

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC A – NGUỒN KINH VÀ VĂN BẢN TRỤ CỘT

Dhammapada 183 – Pháp Cú 183: không làm các điều ác, thành tựu điều lành, làm thanh tịnh tâm.

SN 56.11 – Dhammacakkappavattana Sutta, Kinh Chuyển Pháp Luân: Tứ Diệu Đế và con đường.

MN 10 / DN 22 – Satipaṭṭhāna / Mahāsatipaṭṭhāna, Kinh Niệm Xứ / Đại Niệm Xứ.

SN 22.59 – Anattalakkhaṇa Sutta, Kinh Vô Ngã Tướng.

Dhammapada 277–279 – vô thường, khổ, vô ngã.

AN 6.63 – Nibbedhika Sutta: tác ý (cetanā) và nghiệp (kamma).

SN 36.6 – Sallattha Sutta, Kinh Mũi Tên: đau và lớp khổ được thêm vào.

MN 2 – Sabbāsava Sutta, Kinh Tất Cả Lậu Hoặc: như lý tác ý.

MN 58 – Abhayarājakumāra Sutta, Kinh Vương Tử Vô Úy: tiêu chuẩn lời nói.

MN 118 – Ānāpānasati Sutta, Kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm.

SN 45.2 – Upaḍḍha Sutta: thiện hữu tri thức.

AN 5.57 – những điều thường quán: già, bệnh, chết, chia lìa và nghiệp.

MN 22 – Alagaddūpama Sutta, Kinh Ví Dụ Con Rắn: dụ chiếc bè và không chấp pháp.

SN 12.63 – Puttamaṃsa Sutta, Kinh Thịt Đứa Con: bốn loại thức ăn.

Các kinh Duyên khởi trong Nidāna Saṃyutta – Tương Ưng Nhân Duyên.

Prajñāpāramitāhṛdaya – Bát-nhã Tâm Kinh; Vajracchedikā Prajñāpāramitā – Kinh Kim Cang.

Saddharmapuṇḍarīka Sūtra – Kinh Pháp Hoa; Vimalakīrtinirdeśa – Kinh Duy-ma-cật.

Larger/Smaller Sukhāvatīvyūha và Amitāyurdhyāna – các kinh nền của Tịnh Độ.

Tathāgatagarbha Sūtra, Śrīmālādevī Siṃhanāda Sūtra và Mahāyāna Mahāparinirvāṇa Sūtra – các nguồn Như Lai Tạng/Phật tánh.

Saṃdhinirmocana Sūtra, Yogācārabhūmi, Asaṅga và Vasubandhu – các nguồn quan trọng cho Duy Thức.

Nāgārjuna – Mūlamadhyamakakārikā (Trung Luận): luận thư, không phải lời kinh nguyên văn của Đức Phật.

Śāntideva – Bodhicaryāvatāra (Nhập Bồ-tát Hạnh): luận thư Đại thừa.

PHỤ LỤC B – THUẬT NGỮ CỐT LÕI

Dhamma/Dharma: Pháp; tùy ngữ cảnh có thể chỉ lời dạy, hiện tượng, nguyên lý.

Sīla: Giới, giới hạnh.

Samādhi: Định, sự gom/ổn định tâm; không tự động đồng nghĩa jhāna.

Paññā / Prajñā: Tuệ / Bát-nhã.

Sati: Niệm, chánh niệm.

Cetanā: Tác ý; yếu tố cốt lõi khi nói nghiệp theo AN 6.63.

Kamma: Nghiệp; không phải định mệnh.

Taṇhā: Ái/khát ái; không đồng nghĩa mọi mong muốn.

Chanda: Ý muốn/dục; có thể thiện tùy ngữ cảnh.

Upādāna: Chấp thủ.

Phassa: Xúc.

Vedanā: Thọ: dễ chịu, khó chịu, trung tính; không phải toàn bộ cảm xúc.

Anicca: Vô thường.

Dukkha: Khổ/bất toại nguyện.

Anattā: Vô ngã; không có nghĩa không có con người quy ước.

Paṭiccasamuppāda: Duyên khởi.

Nibbāna/Nirvāṇa: Niết-bàn; không đồng nghĩa chết hay hư vô.

Saddhā: Tín tâm; không đồng nghĩa “chữ tín” trong Công thức Định lực.

Jhāna/Dhyāna: Thiền-na; không đồng nhất với mọi dạng định lực đời thường.

Mettā, Karuṇā, Muditā, Upekkhā: Từ, Bi, Hỷ, Xả.

Śūnyatā/Suññatā: Tánh Không/Không; không đồng nghĩa hư vô.

Bodhicitta: Bồ-đề tâm; thuật ngữ trung tâm nổi bật trong Đại thừa.

Pāramitā: Ba-la-mật.

Tathāgatagarbha: Như Lai Tạng; không nên hiểu như linh hồn thường hằng.

Ālaya-vijñāna: A-lại-da thức trong Duy Thức; không phải linh hồn.

Upāya-kauśalya: Phương tiện thiện xảo; không phải mục đích tốt biện minh mọi phương tiện.

Ekayāna: Nhất Thừa trong bối cảnh Đại thừa, nổi bật trong Kinh Pháp Hoa.

PHỤ LỤC C – TRA NHANH THEO VẤN ĐỀ

Tình trạng / câu hỏi Chương nên mở
Tâm đang giận Chương 18, 22, 31, 72
Khó buông một người Chương 3, 19, 20, 72
Bị nói xấu / bị chê Chương 29, 72, 77
Làm sai rồi dằn vặt Chương 22, 35, 63, 77
Sợ bệnh Chương 20, 73
Sợ già Chương 20, 74
Sợ chết Chương 38, 67, 75
Niệm Phật mà tâm loạn Chương 2, 31, 37, 66
Gia đình làm mình phiền Chương 13, 29, 70, 72
Thương người quá rồi khổ Chương 3, 19, 33, 72
Tự ái Chương 21, 29, 63, 79
Muốn chứng minh mình đúng Chương 21, 43, 70, 79
Học nhiều nhưng thích tranh luận Chương 10, 48, 78, 81
Pháp môn mình mới đúng Chương 46, 65–68, 78, 81
Hôm nay nên tu gì Chương 71, 77